7. Đi theo Đức Chúa Trời là lựa chọn tuyệt vời nhất đời tôi
Hồi còn đi học, mỗi khi tôi lơ là chuyện học hành là mẹ tôi lại càm ràm: “Con nhìn cô cả của con xem, cô ấy học đại học, có công việc ổn định, không phải lo chuyện cơm áo gạo tiền. Đi đến đâu cũng được mọi người tôn trọng và ngưỡng mộ. Nếu bây giờ con không cố gắng học, không thi đỗ đại học thì sau này sẽ giống như cô út, chỉ có thể vào nhà máy làm công nhân, rồi sẽ bị người ta coi thường đó!”. Tôi rất ngưỡng mộ cô cả, và hy vọng một ngày nào đó cũng được như cô, có được danh lợi, sống một cuộc sống khiến người khác phải ghen tị và coi trọng. Vì vậy, tôi đã rất nỗ lực học hành. Nhưng lần thi đại học đầu tiên, tôi đã bị trượt. Khi ấy, tôi cảm thấy cả thế giới đều trở nên u ám. Tôi không muốn cả đời bị người khác coi thường, nên đã bất chấp áp lực mà quyết định ôn thi lại. Thời gian đó, ngày nào tôi cũng học đến quá nửa đêm. Việc học hành căng thẳng, cộng với áp lực thi lại, đã khiến tôi kiệt quệ cả thể xác lẫn tinh thần, sức đề kháng cũng yếu đi, hầu như tháng nào cũng bị cảm. Nhưng dù bị bệnh, tôi cũng không dám xin nghỉ, chỉ sợ bỏ lỡ kiến thức trọng tâm, làm bài thi không tốt, rồi lại vuột mất cơ hội vào đại học lần nữa. Năm sau, tôi đã thi đỗ vào một trường đại học sư phạm. Họ hàng và bạn bè đều đến chúc mừng, nói rằng: “Sau này ra trường làm giáo viên thì vừa có địa vị xã hội, vừa được người khác tôn trọng, sống cả đời chẳng phải lo nghĩ gì!”. Nghe họ nói vậy, tôi vui lắm.
Sau khi tốt nghiệp, tôi bắt đầu dạy học tại một trường tiểu học trung tâm. Để khẳng định bản thân trong công việc, được ban lãnh đạo coi trọng và đồng nghiệp nể phục, tôi muốn mình phải thật nổi bật trong tiết dạy công khai đầu tiên. Tôi đã chuẩn bị trước cả tháng trời. Mỗi ngày, ngoài giờ lên lớp chính thức, toàn bộ thời gian còn lại tôi đều dùng để tìm tài liệu liên quan đến tiết dạy công khai, tham khảo ý kiến của các giáo viên có kinh nghiệm, rồi học thuộc giáo án. Ngày nào tôi cũng tập đi tập lại trước gương cho đến khi có thể giảng toàn bộ giáo án một cách hoàn chỉnh. Dù rất mệt mỏi, nhưng khi thấy ban lãnh đạo liên tục gật đầu khen ngợi trong buổi họp đánh giá, mọi mệt mỏi trong tôi đều tan biến ngay tức khắc. Tôi thầm nghĩ: “Giờ thì lãnh đạo đã thấy được tiềm lực của mình rồi. Học kỳ sau, biết đâu mình sẽ được đảm nhận tiết dạy công khai của cả khu. Khi đó mình sẽ có nhiều cơ hội để tỏa sáng hơn”. Nghĩ đến đây, tôi cảm thấy dù mệt mỏi đến đâu cũng đáng. Sang học kỳ thứ hai, tôi lại có cơ hội được giảng một tiết mẫu ở khu trung tâm, điều này khiến tôi vừa mừng vừa lo. Lo là vì nếu giảng không tốt, lãnh đạo chắc chắn sẽ nghĩ năng lực của tôi cũng chỉ thường thôi, và sau này sẽ khó có cơ hội như vậy nữa. Mừng là vì nếu giảng tốt, tôi sẽ có chỗ đứng vững chắc trong trường trung tâm, thậm chí còn có cơ hội đảm nhận các tiết dạy công khai cấp quận, hay cấp thành phố. Như vậy thì oai biết mấy! Vì vậy, tôi lại một lần nữa chuẩn bị tỉ mỉ, mỗi ngày chỉ ngủ ba bốn tiếng. Nhưng đến ngày giảng, vì quá căng thẳng nên phần thể hiện trên lớp không được như tôi mong đợi. Dù vậy, tôi vẫn nhận được sự đánh giá rất cao từ ban lãnh đạo và các giáo viên khác. Ngay lúc đó, tôi cảm thấy dù có vất vả, mệt mỏi đến đâu cũng đều xứng đáng. Tôi cảm thấy người ta sống thì nên như vậy. Nếu không nhận được sự đánh giá cao và khen ngợi của ban lãnh đạo và đồng nghiệp thì đi làm còn có ý nghĩa gì nữa chứ? Không lâu sau, ban lãnh đạo tìm gặp tôi, nói rằng nhà trường muốn trọng điểm bồi dưỡng tôi, và muốn tôi kiêm luôn chức vụ chuyên viên phụ trách an toàn của trường. Trong lòng tôi vui lắm, vì công tác an toàn không phải giáo viên nào cũng đảm nhận được. Nếu làm tốt, sau này cơ hội được công nhận là giáo viên ưu tú sẽ lớn hơn, đồng nghiệp cũng sẽ nhìn tôi bằng con mắt khác, nên tôi đã đồng ý. Nhưng nhận nhiệm vụ chưa đầy một tháng, tôi đã kiệt sức. Cứ vài ngày lại nhận được công văn về vấn đề an toàn, mà hầu hết đều phải truyền đạt, thực hiện rồi báo cáo lại. Tôi còn phải sắp xếp tài liệu của các trường cấp dưới. Thêm vào đó, tôi còn phải phụ trách lịch dạy học chuyên môn của mình. Mỗi ngày, khi đồng nghiệp đã về hết, tôi vẫn bận rộn trong văn phòng, ngay cả cuối tuần cũng không được nghỉ ngơi. Ban đầu, tôi định đề xuất thêm một giáo viên nữa làm cùng mình, nhưng khi nhớ lại lời hiệu trưởng từng nói rằng muốn được công nhận là giáo viên ưu tú cấp quận trở lên thì phải vừa giỏi chuyên môn vừa đa năng, tôi lại gạt đi ý nghĩ đó. Vài tháng sau, tôi cảm thấy công việc như vậy quá mệt mỏi, nhưng lại không muốn bỏ cuộc giữa chừng để người khác nói mình không có năng lực, nên tôi đành ép bản thân tiếp tục. Mỗi khi qua một đợt bận rộn, tôi luôn cảm thấy trống rỗng trong lòng. Tôi nghĩ do áp lực công việc quá lớn nên mình cần thư giãn, thế là cuối tuần tôi ra ngoài vui chơi, ăn món ngon, thậm chí còn đi du lịch đến miền tây Trung Quốc. Nhưng sau khi ăn chơi thỏa thích, lòng tôi vẫn thấy rất trống rỗng. Tôi tâm sự với vài người bạn về chuyện này, nhưng ai cũng nói tôi làm quá lên, rằng tôi có công việc và điều kiện sống tốt như vậy, sao lại cảm thấy trống rỗng được chứ. Mãi đến năm 2007, khi mẹ tôi rao truyền cho tôi phúc âm thời kỳ sau rốt của Đức Chúa Trời Toàn Năng, qua việc đọc lời Đức Chúa Trời và sống đời sống hội thánh, cảm giác trống rỗng trong lòng tôi mới dần biến mất.
Một hôm trong buổi nhóm họp, tôi đọc được một đoạn lời Đức Chúa Trời và đã tìm ra gốc rễ của sự trống rỗng trong mình. Đức Chúa Trời Toàn Năng phán: “Không có chỗ cho Đức Chúa Trời trong lòng, thế giới nội tâm của con người thật tăm tối, vô vọng và trống rỗng. … Không ai có thể lấp đầy sự trống rỗng trong lòng con người, bởi vì không ai có thể làm sự sống của con người, bất kỳ luận điệu xã hội nào cũng không thể giải phóng con người khỏi sự quấy nhiễu của sự trống rỗng. Khoa học, kiến thức, tự do, dân chủ, sự hưởng thụ và an nhàn, những điều này chỉ mang lại cho con người sự an ủi nhất thời. Ngay cả khi có những điều này, nhân loại vẫn không khỏi phạm tội và than vãn về những bất công của xã hội. Có được những điều này cũng không thể ngăn cản khao khát và ham muốn khám phá của con người. Đó là bởi con người do Đức Chúa Trời tạo dựng, những sự hy sinh và khám phá vô nghĩa của con người chỉ có thể ngày càng đem lại khổ não cho họ, khiến họ kinh hãi mãi không thôi, không biết làm sao để đối mặt với tương lai của nhân loại hoặc làm sao để đối mặt với con đường sau này. Thậm chí nhân loại còn sợ khoa học và kiến thức, lại càng sợ cảm giác trống rỗng” (Phụ lục 2: Đức Chúa Trời tể trị số phận của cả nhân loại, Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). Tôi nhận ra mình cảm thấy trống rỗng là vì không biết Đức Chúa Trời, không thờ phượng Ngài, và trong lòng không có chỗ cho Ngài. Từ nhỏ, tôi đã được giáo dục theo chủ nghĩa vô thần, không biết rằng nhân loại do Đức Chúa Trời tạo ra, càng không hiểu rằng con người nên tin và thờ phượng Đức Chúa Trời. Tôi tin rằng có một công việc tốt, nhận được sự đánh giá cao và khen ngợi của người khác mới là hạnh phúc, và vì điều này, tôi đã làm việc một cách liều mạng. Sau này, tôi đã có được sự tán thưởng của ban lãnh đạo và sự coi trọng của đồng nghiệp, nhưng những điều đó chỉ mang lại cho tôi niềm vui nhất thời, còn lòng tôi vẫn trống rỗng. Tôi từng nghĩ ăn uống, vui chơi có thể xóa đi sự trống rỗng trong lòng, nhưng sau khi cuộc vui qua đi, tôi vẫn cảm thấy trống rỗng. Suy cho cùng, con người do Đức Chúa Trời tạo ra, và chúng ta cần sự cung ứng của Đức Chúa Trời cho sự sống của mình. Chỉ khi trở về với Đức Chúa Trời, chúng ta mới có thể tìm thấy sự bình an và vui vẻ. Sau đó, tôi thường xuyên tham dự các buổi nhóm họp và đọc lời Đức Chúa Trời, đồng thời cũng dùng thời gian rảnh rỗi để rao truyền phúc âm. Lòng tôi cảm thấy rất bình an. Nhưng một ngày kia, khi sự bắt bớ ập đến, cuộc sống bình yên của tôi đã bị phá vỡ.
Tháng 12 năm 2012, chuyện tôi tin Đức Chúa Trời đã bị ban lãnh đạo nhà trường phát hiện. Chuyện này thậm chí còn kinh động đến cả phòng giáo dục và cục an ninh quốc gia. Hiệu trưởng đã nói chuyện với tôi suốt ba ngày liền, dùng chủ nghĩa vô thần và chủ nghĩa duy vật để thuyết phục tôi từ bỏ đức tin. Tôi đã tranh luận với hiệu trưởng, làm chứng về công tác của Đức Chúa Trời cho ông ấy. Khi không tranh luận lại, ông ấy đã từ bỏ việc cố gắng chuyển hóa tư tưởng của tôi, nhưng cấm tôi không được rao truyền phúc âm trong trường. Sau đó, nhà trường không còn sắp xếp cho tôi đi dự giờ bên ngoài, cũng không cho tôi tham gia các hoạt động giảng dạy và nghiên cứu. Đồng nghiệp cũng xa lánh tôi. Tôi cảm thấy rất đau khổ và chán nản khi không còn được ban lãnh đạo coi trọng, và bị đồng nghiệp xem như kẻ lập dị. Sau đó, tôi nghĩ đến chuyện Nô-ê đã tuân theo ý chỉ của Đức Chúa Trời và đóng tàu. Khi đó, nhiều người đã gọi Nô-ê là kẻ điên, nhưng Nô-ê không quan tâm đến việc người xung quanh xét đoán và phỉ báng mình như thế nào. Với một tấm lòng đơn thuần, ông đã lắng nghe lời Đức Chúa Trời, vừa đóng tàu vừa rao truyền phúc âm. Cuối cùng, khi trận hồng thủy ập đến, gia đình tám người của Nô-ê đã sống sót. Rồi tôi lại nghĩ đến việc Đức Chúa Jêsus, để cứu chuộc nhân loại, đã bị chính quyền bách hại, bị người đời chối bỏ và phỉ báng, thậm chí còn bị đóng đinh trên thập tự giá. Đức Chúa Trời đã chịu quá nhiều khổ cực để cứu rỗi nhân loại. Chút khổ mà tôi phải chịu này có đáng là gì đâu? Tôi tin Đức Chúa Trời là đang đi trên con đường đúng đắn trong đời, đó là một chuyện chính nghĩa, không có gì phải xấu hổ cả. Tôi không thể để ánh mắt lạnh lùng của người khác ảnh hưởng đến mối quan hệ bình thường của mình với Đức Chúa Trời: Tôi vẫn phải tham dự các buổi nhóm họp và rao truyền phúc âm. Sau đó, tôi vẫn đi làm như bình thường, và sau giờ học, tôi lại đi nhóm họp.
Tôi không bao giờ ngờ rằng, một tuần trước khi khai giảng vào tháng 8 năm 2013, tôi nhận được điện thoại của hiệu trưởng, yêu cầu tôi dạy toán cho hai lớp và kiêm luôn chủ nhiệm một lớp. Tôi thầm nghĩ: “Vậy thì mình còn thời gian đâu để nhóm họp và thực hiện bổn phận nữa?”. Tôi hỏi một cách khó hiểu: “Tại sao năm nay lại có sự sắp xếp này ạ?”. Hiệu trưởng nói: “Như vậy thì cô sẽ không có thời gian để tin Đức Chúa Trời và đi nhóm họp nữa!”. Ông ta còn đe dọa tôi: “Nếu cô không muốn nhận công việc ở trường trung tâm, thì tôi sẽ điều cô đến một trường cấp dưới!”. Tôi thầm nghĩ: “Các giáo viên ở trường trung tâm tham gia các hoạt động thường xuyên hơn các trường cấp dưới, nên có nhiều cơ hội để tỏa sáng hơn. Nếu mình đến trường cấp dưới, mình sẽ không còn được đãi ngộ này nữa, và sẽ cảm thấy thua kém các giáo viên trường trung tâm khi gặp họ. Hơn nữa, các giáo viên ở trường cấp dưới sẽ nghĩ gì về mình? Liệu họ có nghĩ mình bị giáng chức vì năng lực quá kém không? Nhưng nếu ở lại trường trung tâm, thì làm sao mình có thời gian để tin Đức Chúa Trời và thực hiện bổn phận đây?”. Tôi liền thầm cầu nguyện với Đức Chúa Trời: “Lạy Đức Chúa Trời, con nên chọn thế nào đây?”. Ngay lúc đó, tôi nhớ lại một đoạn lời của Đức Chúa Trời: “Trong mọi cuộc đấu tranh giữa tích cực và tiêu cực, trắng và đen – giữa gia đình và Đức Chúa Trời, con cái và Đức Chúa Trời, giữa hòa thuận và chia rẽ, giữa giàu có và nghèo khổ, giữa địa vị và bình phàm, được ủng hộ và bị loại bỏ, v.v., các ngươi lựa chọn cái gì, chắc chắn không phải là các ngươi không biết! Giữa một gia đình hòa thuận và một gia đình tan vỡ, các ngươi chọn vế trước, và các ngươi chọn như vậy mà không chút lưỡng lự; giữa của cải và bổn phận, các ngươi lại chọn vế trước, thậm chí còn không có ý chí quay đầu lại bờ; giữa xa hoa và nghèo khó, các ngươi chọn vế trước; khi lựa chọn giữa con cái, vợ, chồng, hoặc Ta, các ngươi chọn vế trước; và giữa các quan niệm và lẽ thật, các ngươi vẫn chọn vế trước. Đối diện với đủ cách hành ác của các ngươi, Ta chỉ đơn giản là đã mất niềm tin vào các ngươi. Đơn giản là Ta ngỡ ngàng. Không ngờ lòng các ngươi lại không chịu mềm đi như thế. Tâm huyết bao nhiêu năm của Ta hóa ra chẳng đem lại gì cho Ta ngoài sự bỏ mặc và bó tay của các ngươi, nhưng niềm hi vọng của Ta cho các ngươi lớn dần lên từng ngày, vì ngày của Ta đã được trải bày hoàn toàn trước mọi người. Thế mà bây giờ các ngươi vẫn tiếp tục mưu cầu những thứ tăm tối và tà ác, và không chịu buông bỏ chúng. Như vậy thì, kết cục của các ngươi sẽ là gì?” (Ngươi trung thành với ai? Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). Trong thời kỳ sau rốt, Đức Chúa Trời chủ yếu bày tỏ lời để làm tinh sạch và cứu rỗi con người. Đức Chúa Trời hy vọng chúng ta có thể dành nhiều thời gian hơn để đọc lời Ngài, để hiểu lẽ thật, làm tốt bổn phận của mình, và thoát khỏi tâm tính bại hoại để đạt được sự cứu rỗi. Nhưng khi đối mặt với sự lựa chọn, điều tôi quan tâm vẫn là danh lợi của bản thân, chứ không phải là sự sống của mình hay làm thế nào để làm tốt bổn phận. Tôi đã khiến Đức Chúa Trời quá thất vọng! Nếu tiếp tục ở lại trường trung tâm, tôi chắc chắn sẽ vẫn tranh giành các loại danh hiệu. Với khối lượng công việc nặng nề như vậy, ngay cả việc nhóm họp và đọc lời Đức Chúa Trời cũng sẽ bị ảnh hưởng, chứ đừng nói đến việc thực hiện bổn phận. Vậy thì làm sao tôi còn tin Đức Chúa Trời được nữa? Nếu đến trường cấp dưới, công việc sẽ nhẹ nhàng hơn, tôi có thể nhóm họp và thực hiện bổn phận một cách bình thường. Dù có ít danh hiệu cá nhân hơn và bị đồng nghiệp coi thường, thì cũng chỉ là mất mặt thôi, còn sự sống của tôi sẽ không bị tổn thất, và đó mới là điều quan trọng nhất. Hiểu ra điều này, tôi nói với hiệu trưởng: “Tôi chọn đến trường cấp dưới”. Hiệu trưởng tức giận đến mức cúp máy ngay lập tức.
Tại trường cấp dưới, ban ngày tôi đi dạy, tối đến thì đi nhóm họp và thực hiện bổn phận. Một năm sau, vì điểm thi cuối kỳ của lớp tôi dạy cao hơn trường trung tâm, nên hiệu trưởng lại điều tôi về lại trường trung tâm. Nhưng chuỗi ngày tốt đẹp không kéo dài được bao lâu. Đội trưởng Đội An ninh Quốc gia lại đến nhà tôi để hỏi về đức tin của tôi. Để ngăn cảnh sát theo dõi và làm liên lụy đến các anh chị em, tôi không còn cách nào khác ngoài việc tạm dừng nhóm họp một thời gian. Không có đời sống hội thánh, không có bổn phận, dần dần lòng tôi ngày càng xa cách Đức Chúa Trời, và tôi bất giác bị cuốn trở lại vào cuộc cạnh tranh khốc liệt. Học sinh tôi dạy hầu như năm nào cũng giành hết giải nhất và giải nhì trong các cuộc thi, và điểm thi cuối kỳ của lớp chúng tôi luôn đứng trong top đầu. Hiệu trưởng cũng công nhận thành tích của tôi trong các cuộc họp. Lớp tôi dạy không chỉ có không khí học tập tốt mà còn có tinh thần lớp tốt, và phụ huynh cũng rất ủng hộ công việc của tôi. Trong hai năm sau khi trở về trường trung tâm, mặc dù tôi nhận được nhiều hoa và tiếng vỗ tay hơn trước, nhưng lòng tôi thường cảm thấy nặng trĩu và ngột ngạt. Tôi biết đó là vì công việc chiếm quá nhiều thời gian và sức lực của tôi, nên tôi có quá ít thời gian để đọc lời Đức Chúa Trời và lòng tôi đã xa cách Ngài. Khi đó, tôi thấy nhiều anh chị em đã từ bỏ công việc, buông bỏ gia đình để toàn tâm toàn ý thực hiện bổn phận. Tôi rất ngưỡng mộ, và cũng muốn từ bỏ công việc để hết lòng hết dạ thực hiện bổn phận. Nhưng ngay khi tôi định viết đơn xin nghỉ việc, tôi nhận được nhiều lời hỏi thăm từ phụ huynh học sinh, họ hy vọng tôi sẽ tiếp tục dạy dỗ con cái họ. Thấy vậy, lòng tôi lại dao động. “Nếu mình nghỉ, chẳng phải học sinh và phụ huynh sẽ thất vọng sao? Ban lãnh đạo và đồng nghiệp sẽ nghĩ gì về mình? Cha mình luôn ngăn cản mẹ và mình tin Đức Chúa Trời, thậm chí còn ly hôn với mẹ. Nếu ông biết mình nghỉ việc để làm bổn phận toàn thời gian, ông chắc chắn sẽ ngăn cản, và có lẽ mình cũng phải bỏ nhà ra đi. Mình đã vất vả mười chín năm mới có được công việc mà người khác ao ước, và có được thành tựu như hôm nay. Họ hàng, bạn bè và đồng nghiệp đều ngưỡng mộ mình. Một khi nghỉ việc, công việc sẽ mất, danh lợi cũng không còn, và mình sẽ phải từ bỏ điều kiện sống thoải mái. Khi đó mọi người sẽ nói gì về mình chứ?” Lòng tôi như bị giằng co qua lại. Vô cùng đau khổ. Tôi thầm cầu nguyện với Đức Chúa Trời: “Lạy Đức Chúa Trời, con biết rằng thực hiện bổn phận toàn thời gian là một điều tốt, nhưng con không thể buông bỏ công việc này. Nếu không có sự đánh giá cao và khen ngợi của mọi người, liệu cuộc sống của con có thể hạnh phúc không? Lạy Đức Chúa Trời, xin hãy giúp con nhìn thấu vấn đề này”. Không lâu sau, hiệu trưởng đề bạt tôi làm trưởng phòng tài vụ. Vị trí này có nhiều cuộc họp và công việc vụn vặt. Ban ngày, tôi phải chạy đến nhiều phòng ban, còn buổi tối hoặc cuối tuần, tôi thường nhận được điện thoại yêu cầu đi giao tài liệu, nên công việc và bổn phận thường xuyên bị trùng giờ. Trong các buổi nhóm họp, tôi không bao giờ có thể tĩnh tâm được, luôn sợ rằng ban lãnh đạo sẽ gọi tôi có việc. Đôi khi tôi đang ở nhà đọc lời Đức Chúa Trời, thì một cuộc gọi từ ban lãnh đạo có nghĩa là tôi phải ra ngoài và xử lý việc gì đó ngay lập tức. Tôi cảm thấy lòng mình rất xa cách Đức Chúa Trời, và cuộc sống rất mệt mỏi, nhưng tôi lại không nỡ buông bỏ công việc. Tôi thường xuyên cầu nguyện, xin Đức Chúa Trời giúp đỡ.
Một ngày tháng 6 năm 2018, tôi đi thang máy lên cùng hơn hai mươi đồng nghiệp. Sau khi bắt đầu di chuyển, thang máy đột ngột rơi xuống. Điều đó khiến tất cả chúng tôi sợ hãi. Thang máy bị kẹt, và tất cả chúng tôi bị mắc kẹt bên trong. Vì không có không khí lưu thông trong thang máy, một lúc sau, chúng tôi bắt đầu khó thở. Tôi không khỏi lo lắng. “Nếu nhân viên bảo trì không đến thì sao? Mình sẽ chết ngạt ở đây sao?” Ngay lúc đó, vầng hào quang và tiền bạc mà công việc giảng dạy đã mang lại cho tôi không còn quan trọng nữa. Tất cả những gì tôi có thể nghĩ đến là làm thế nào để sống sót. Tôi không khỏi nhớ lại, trong những năm tin Đức Chúa Trời này, mỗi khi tôi gặp khó khăn, bất lực và lạc lối, chính Đức Chúa Trời đã luôn mở ra một lối thoát cho tôi, và dẫn dắt tôi bằng lời Ngài, cho tôi một con đường để đi theo. Tin Đức Chúa Trời, tôi có thể trải nghiệm công tác của Đức Chúa Trời, biết thẩm quyền của Đức Chúa Trời, và cảm nhận được những việc làm kỳ diệu của Đấng Tạo Hóa. Đây là phước lành của tôi. Lẽ ra tôi nên từ bỏ công việc và thực hiện bổn phận toàn thời gian, nhưng tôi đã không làm vậy vì muốn hưởng thụ danh lợi. Bây giờ, đối mặt với cái chết, cuối cùng tôi đã thấy rằng danh lợi và địa vị đều là mây khói qua đường, và hoàn toàn vô nghĩa. Ngay lúc đó, tôi muốn cầu xin Đức Chúa Trời giúp đỡ, nhưng tôi quá xấu hổ để mở lời. “Liệu Đức Chúa Trời có còn thương xót mình không? Mình có còn cơ hội để mưu cầu một cuộc đời ý nghĩa không?” Tôi chỉ có thể nói vài lời từ đáy lòng với Đức Chúa Trời: “Lạy Đức Chúa Trời, sau khi tin Ngài, con đã không mưu cầu lẽ thật một cách đàng hoàng. Chỉ khi sự việc hôm nay xảy ra, con mới đột nhiên hiểu ra: Không có lẽ thật, khi cái chết cận kề, con mới sợ hãi và bất lực làm sao! Lạy Đức Chúa Trời, dù hôm nay con có chết ở đây, con vẫn sẽ thuận phục sự sắp đặt của Ngài. Nếu con có thể sống sót ra ngoài, con nhất định sẽ suy nghĩ lại về cuộc đời sau này của mình”. Ngay lúc đó, tôi thấy các đồng nghiệp đều đang ngồi xổm xuống vì thiếu oxy, nhưng tôi đột nhiên cảm thấy một luồng không khí trong lành thoảng qua mũi. Tôi vừa ngạc nhiên vừa vui mừng, biết rằng đó là Đức Chúa Trời đang thương xót mình. Khoảnh khắc cửa thang máy mở ra, các đồng nghiệp đều reo hò, nhưng lòng tôi lại tràn ngập lòng biết ơn đối với Đức Chúa Trời. Tôi biết Đức Chúa Trời đã dùng sự cố thang máy để khiến tôi suy ngẫm về ý nghĩa và giá trị của sự sống.
Sau đó, tôi đọc được hai đoạn lời Đức Chúa Trời, và càng hiểu rõ hơn về thực chất của danh lợi: Đức Chúa Trời Toàn Năng phán: “Sự mưu cầu một đời của bất kỳ vĩ nhân, danh nhân, hay bất kỳ con người nào, chỉ liên quan đến hai từ này: ‘danh’ và ‘lợi’. Trong mắt con người, một khi họ có được danh lợi, thì họ có vốn liếng để hưởng thụ vinh hoa phú quý, hưởng thụ cuộc đời. Trong mắt con người, có danh và lợi thì họ có vốn liếng để vui chơi phè phỡn, hưởng thụ xác thịt không chút kiêng dè. Vì danh và lợi mà con người rất thèm khát này, người ta vui vẻ và bất tri bất giác đem thân xác và tâm hồn mình, đem hết mọi sự của mình, cả tiền đồ và số phận của mình mà giao cho Sa-tan. Họ làm vậy không chút do dự, không chút nghi hoặc, càng không hề biết lấy lại tất cả những gì là của mình. Con người đã giao mình cho Sa-tan và trung thành với nó như vậy rồi, thì còn có thể khống chế bản thân hay không? Chắc chắn là không. Họ bị Sa-tan kiểm soát triệt để rồi. Họ cũng triệt để chìm trong vũng lầy này, và không thể tự mình thoát ra. Một khi con người bị sa lầy trong danh và lợi, thì họ không còn tìm kiếm những gì là sự sáng, những gì là chính nghĩa, hoặc những gì là đẹp đẽ và tốt lành. Đó là vì sức dụ dỗ của danh và lợi đối với con người quá lớn; chúng trở thành những thứ mà con người theo đuổi suốt đời, thậm chí là vĩnh viễn mãi không có hồi kết. Chẳng lẽ tình hình thực sự không phải vậy sao?” (Chính Đức Chúa Trời, Đấng độc nhất VI, Lời, Quyển 2 – Về việc biết Đức Chúa Trời). “Chúng ta hãy ôn lại những gì chúng ta đã thảo luận cho đến nay: Sa-tan sử dụng gì để kiểm soát con người một cách chặt chẽ? (Danh vọng và lợi lộc.) Sa-tan sử dụng danh và lợi để khống chế suy nghĩ của người ta, khiến tất cả những gì người ta có thể nghĩ đến chỉ là danh và lợi, khiến người ta phấn đấu vì danh lợi, chịu khổ vì danh lợi, chịu đựng sự sỉ nhục và mang gánh nặng vì danh lợi, hy sinh mọi thứ họ có vì danh lợi, và sẽ đưa ra mọi phán đoán hoặc quyết định cũng vì danh lợi. Bằng cách này, Sa-tan đã đeo lên cho con người những xiềng xích vô hình, và với những xiềng xích này trên mình, họ không có năng lực cũng như không có can đảm để thoát ra. Họ không hay không biết mà mang những xiềng xích này khi nặng nhọc lê từng bước khó khăn về phía trước. … Có thể ngày hôm nay các ngươi vẫn chưa thể nhìn thấu dụng tâm hiểm ác của Sa-tan bởi vì các ngươi nghĩ rằng không có danh và lợi thì đời người sẽ không còn ý nghĩa và con người sẽ không còn có thể nhìn thấy con đường phía trước, không còn có thể nhìn thấy mục tiêu của mình, và tương lai của họ sẽ trở nên tối tăm, mờ mịt và ảm đạm” (Chính Đức Chúa Trời, Đấng độc nhất VI, Lời, Quyển 2 – Về việc biết Đức Chúa Trời). Từ sự vạch rõ của lời Đức Chúa Trời, tôi nhận ra rằng danh lợi không thể mang lại hạnh phúc; ngược lại, chúng là công cụ mà Sa-tan dùng để làm bại hoại, trói buộc và kiểm soát con người. Sa-tan gieo rắc những tư tưởng sai lầm vào chúng ta, khiến chúng ta lầm tưởng rằng có danh lợi là có tất cả – không chỉ có thể hưởng thụ một cuộc sống chất lượng cao, mà còn được người khác coi trọng. Nó khiến chúng ta cảm thấy cuộc sống như vậy mới có giá trị, và sống như vậy mới mang lại hạnh phúc. Kết quả là, cả xã hội đều lấy danh lợi làm tiêu chuẩn. Nhưng chúng ta không biết những ý đồ nham hiểm của Sa-tan ẩn sau danh lợi. Trong quá trình mưu cầu danh lợi, chúng ta cần phải dành rất nhiều thời gian và sức lực, tham gia vào những cuộc đấu đá công khai và ngấm ngầm, sử dụng nhiều thủ đoạn, và không chỉ hy sinh sức khỏe mà còn từ bỏ cả lương tâm, nhân cách và tôn nghiêm. Sau khi có được danh lợi, chúng ta quả thực có được một khoảnh khắc thỏa mãn, nhưng nó chỉ là thoáng qua. Điều còn lại phần lớn là sự trống rỗng, đau khổ và cay đắng vô tận. Khi Đức Chúa Trời đến để cứu rỗi chúng ta và yêu cầu chúng ta mưu cầu lẽ thật và đi trên con đường đúng đắn của cuộc đời, chúng ta lại từ chối lẽ thật vì sự quyến luyến với danh lợi và hư danh, bỏ lỡ cơ hội được Đức Chúa Trời cứu rỗi, và cuối cùng bị diệt vong cùng với Sa-tan. Đây chính là ý đồ nham hiểm của Sa-tan khi khiến chúng ta mưu cầu danh lợi. Từ nhỏ, cha mẹ đã kể cho tôi nghe về hoàn cảnh khác nhau của hai người cô, gieo vào lòng tôi những tư tưởng như “Chim đi để tiếng, người đi để danh” và “Cây sống nhờ vỏ, người sống nhờ thể diện”. Tôi dần tin rằng chỉ khi thi đỗ đại học và có một công việc ổn định khiến người khác phải coi trọng thì tôi mới có một cuộc đời hạnh phúc. Vì điều này, tôi đã học hành chăm chỉ. Lần đầu tiên thi trượt đại học, tôi cảm thấy như thế giới của mình sụp đổ. Để thi đỗ, tôi đã quyết định ôn thi lại bất chấp áp lực to lớn, ngày nào thần kinh cũng căng như dây đàn. Cơ thể tôi kiệt quệ quá sức chịu đựng, và tôi vô cùng đau khổ. Sau khi tốt nghiệp đại học và đi làm, tôi đã chuẩn bị tỉ mỉ cho mỗi tiết dạy công khai và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà ban lãnh đạo giao, thường xuyên làm thêm giờ để nổi bật giữa hơn một trăm giáo viên, để được ban lãnh đạo và đồng nghiệp khen ngợi và chú ý. Sau khi nhận được sự khen ngợi của ban lãnh đạo và đồng nghiệp, mặc dù tôi đã có được danh tiếng, nhưng tôi lại kiệt quệ cả thể xác lẫn tinh thần, và tâm hồn tôi cảm thấy trống rỗng. Sau khi tiếp nhận công tác thời kỳ sau rốt của Đức Chúa Trời, tôi biết rằng thời gian cho công tác cứu rỗi của Đức Chúa Trời trong thời kỳ sau rốt là ngắn ngủi, và tôi nên mưu cầu lẽ thật và thực hiện bổn phận toàn thời gian. Đây là điều có lợi nhất cho sự sống của tôi. Nhưng những chất độc của Sa-tan như “Chim đi để tiếng, người đi để danh” và “Cây sống nhờ vỏ, người sống nhờ thể diện” đã ăn sâu vào lòng tôi, khiến tôi không muốn từ bỏ công việc, danh lợi để hết lòng mưu cầu lẽ thật, và giày vò tôi đến mức kiệt quệ hoàn toàn. Thực ra, dù bạn có bao nhiêu danh lợi, chúng cũng chỉ là mây khói qua đường. Không đạt được lẽ thật, con người sẽ chết khi tai họa ập đến. Giống như trận sóng thần ở Ấn Độ Dương năm 2004 – biết bao nhiêu người đã mất mạng tại các thiên đường nghỉ dưỡng? Trong số đó có nhiều người có danh tiếng và địa vị. Khi thảm họa ập đến, tiền bạc, danh lợi không thể cứu được họ. Quá nhiều sự thật chứng minh rằng dù một người có bao nhiêu danh lợi, tất cả cũng đều trống rỗng, và mạng sống có thể mất đi bất cứ lúc nào. Nếu tôi vẫn cương ngạnh và không tỉnh ngộ, nếu tôi không nắm bắt thời gian để mưu cầu lẽ thật, và đến khi công tác của Đức Chúa Trời kết thúc mà tôi vẫn chưa trang bị đủ lẽ thật và tâm tính của tôi chưa thay đổi, tôi sẽ rơi vào thảm họa, và đến lúc đó hối hận cũng đã muộn. Sự cố thang máy này đã làm tôi tỉnh ngộ. Khi nguy nan ập đến, không ai ngoài Đức Chúa Trời có thể cứu tôi. Sự cố này không phải là Đức Chúa Trời muốn lấy mạng tôi, mà là để nhắc nhở tôi suy ngẫm về cuộc đời và thấy rõ tác hại mà danh lợi đã gây ra cho tôi, để tôi có thể kịp thời tỉnh ngộ và đi trên con đường đúng đắn của cuộc đời.
Sau đó, đội trưởng Đội An ninh Quốc gia lại gọi điện để kiểm tra hành tung của tôi, và còn nói tôi đã có hồ sơ cảnh sát, nên mỗi khi đi xa tôi đều phải báo cáo cho ông ta. Nếu họ phát hiện tôi vẫn còn tin Đức Chúa Trời, họ sẽ bắt tôi. Tôi vô cùng phẫn nộ, và cũng thấy rằng chừng nào tôi còn làm việc trong hệ thống của ĐCSTQ, tôi sẽ bị họ trói buộc chặt chẽ, hoàn toàn không thể thực hiện bổn phận. Điều này càng củng cố quyết tâm từ bỏ công việc của tôi. Trong kỳ nghỉ hè, tôi thực hiện bổn phận cùng các anh chị em. Không bị công việc ràng buộc, lòng tôi tĩnh lặng hơn nhiều, và tôi cũng đọc lời Đức Chúa Trời và nhóm họp bình thường. Một hôm, người phụ trách hỏi tôi có sẵn lòng thực hiện bổn phận toàn thời gian không, và còn đọc cho tôi nghe một đoạn lời của Đức Chúa Trời: “Khi các ngươi theo Đức Chúa Trời, tránh xa những nơi tội lỗi và tránh xa những nhóm người độc ác, thì ít nhất suy nghĩ và tâm hồn của các ngươi sẽ không tiếp tục chịu cảnh bị Sa-tan làm bại hoại và chà đạp. Các ngươi đã đến một vườn cực lạc, đến trước Đức Chúa Trời. Đây chẳng phải là vận may vô cùng lớn lao sao? Con người luân hồi hết kiếp này đến kiếp khác cho đến nay, họ có bao nhiêu cơ hội như vậy? Chẳng phải chỉ có những người sinh vào thời kỳ sau rốt mới có cơ hội này sao? Đây là chuyện tốt biết bao! Đây không phải là vấn đề mất mát, nó là vận may lớn nhất. Ngươi phải rất vui mừng mới phải! Là những loài thọ tạo, giữa muôn loài, giữa vài tỷ người trên trái đất, có bao nhiêu người có cơ hội làm chứng về những việc làm của Đấng Tạo Hóa với thân phận của loài thọ tạo, có cơ hội thực hiện bổn phận và trách nhiệm của mình trong công tác của Đức Chúa Trời? Ai có cơ hội như vậy? Có nhiều người như vậy không? Rất ít! Tỷ lệ là bao nhiêu? Một trên một vạn? Không, thậm chí còn ít hơn! Đặc biệt là các ngươi có thể sử dụng sở trường và kiến thức mình đã học để thực hiện bổn phận, chẳng phải các ngươi vô cùng có phước sao? Ngươi không làm chứng cho một con người, và những gì ngươi làm không phải là sự nghiệp – Đấng ngươi phục vụ là Đấng Tạo Hóa. Đây là điều đẹp đẽ nhất và có giá trị nhất! Chẳng phải các ngươi nên cảm thấy tự hào sao? (Thưa, phải.) Khi thực hiện bổn phận của mình, các ngươi sẽ nhận được sự chăm tưới và chu cấp của Đức Chúa Trời. Với một môi trường và cơ hội tốt như vậy, nếu các ngươi không đạt được một chút lợi ích thiết thực gì, không đạt được lẽ thật, thì chẳng phải các ngươi sẽ thấy ân hận cả đời sao? Vì vậy, các ngươi phải nắm bắt cơ hội để thực hiện bổn phận của mình và đừng để nó vuột mất; hãy mưu cầu lẽ thật một cách nghiêm túc khi ngươi thực hiện bổn phận và đạt được nó. Đây là điều có giá trị nhất mà ngươi có thể làm, là cuộc sống có ý nghĩa nhất! Không có người nào hay nhóm người nào trong số muôn loài thọ tạo may mắn hơn các ngươi. Những người ngoại đạo sống để làm gì? Họ sống để được luân hồi, và vì sự nhộn nhịp của thế gian. Các ngươi sống để làm gì? Các ngươi sống để thực hiện bổn phận của một loài thọ tạo. Giá trị của một cuộc sống như vậy thật lớn lao!” (Dâng lòng mình cho Đức Chúa Trời thì có thể đạt được lẽ thật, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt). Suy ngẫm lời Đức Chúa Trời, tôi hiểu ra rằng nếu chúng ta muốn sống một cuộc đời có giá trị và ý nghĩa, chúng ta phải mưu cầu lẽ thật, thực hiện bổn phận, và đọc thêm lời Đức Chúa Trời để hiểu thêm về lẽ thật. Chỉ bằng cách này, chúng ta mới có thể phân định được các tà thuyết, ngụy biện và các loại quỷ kế của Sa-tan, mới có thể thoát khỏi sự trói buộc và kiểm soát của Sa-tan để sống trong ánh sáng. Tôi cũng vậy. Tôi không chỉ có khao khát mãnh liệt về danh vọng và địa vị, mà còn có nhiều tâm tính bại hoại như ích kỷ, cương ngạnh và kiêu ngạo. Nếu tôi không nghiêm túc đọc lời Đức Chúa Trời, không trải nghiệm sự phán xét và hình phạt của lời Ngài, thì những tâm tính bại hoại này không thể được giải quyết, và tôi sẽ vẫn sống trong đau khổ và bóng tối. Từ bỏ công việc sẽ cho tôi nhiều thời gian hơn để thực hiện bổn phận, mưu cầu lẽ thật để giải quyết sự bại hoại của mình, và sống trước mặt Đức Chúa Trời. Một cuộc đời như vậy mới là hạnh phúc nhất. Giống như lời Đức Chúa Trời phán: “Khi các ngươi theo Đức Chúa Trời, tránh xa những nơi tội lỗi và tránh xa những nhóm người độc ác, thì ít nhất suy nghĩ và tâm hồn của các ngươi sẽ không tiếp tục chịu cảnh bị Sa-tan làm bại hoại và chà đạp. Các ngươi đã đến một vườn cực lạc, đến trước Đức Chúa Trời. Đây chẳng phải là vận may vô cùng lớn lao sao?”. Sau đó tôi nghĩ đến Phi-e-rơ. Ông đã vứt bỏ mọi thứ để đi theo Đức Chúa Jêsus, và cả đời mưu cầu lẽ thật và thuận phục Đức Chúa Trời. Sau khi trải qua hàng trăm sự thử luyện, cuối cùng ông đã được hoàn thiện. Một cuộc đời như vậy là có ý nghĩa và giá trị nhất. Hiểu ra điều này, tôi đã có đức tin và bắt đầu chuẩn bị rời nhà để thực hiện bổn phận.
Ngay khi tôi đang chuẩn bị viết đơn xin nghỉ việc, tôi nhận được giấy chứng nhận bổ nhiệm chức danh chuyên môn cao cấp từ cục giáo dục thành phố. Với giấy chứng nhận này, tôi có thể hưởng lương và phúc lợi của một giáo viên cao cấp. Tôi không chỉ được tôn trọng trong công việc, mà lương hàng năm của tôi cũng sẽ tăng hơn mười nghìn nhân dân tệ. Không lâu sau, trưởng phòng chuyên môn của trường yêu cầu tôi điền vào một biểu mẫu để nhận giải thưởng giáo viên ưu tú cấp quận. Tôi gần như không thể tin được. Trong số hơn một trăm giáo viên của trường, mỗi năm chỉ có hai suất. Đây là một vinh dự mà tất cả các giáo viên đều mơ ước! Nếu tôi không nghỉ việc, vài ngày nữa vào Ngày Nhà giáo, tôi có thể đến khán phòng của chính quyền quận để nhận khen thưởng. Tên tôi sẽ được đăng trên báo giáo dục thành phố, và tôi cũng sẽ nhận được tiền thưởng từ nhà trường. Với hai vinh dự này trong tay, học kỳ sau chắc chắn sẽ mang lại cho tôi danh tiếng, và không biết sẽ có thêm bao nhiêu đồng nghiệp phải ghen tị với tôi. Nhưng tôi nhanh chóng nhận ra đây là sự cám dỗ của Sa-tan. Tôi nhớ lại lời Đức Chúa Trời: “Nếu ngươi đứng lên và chiến đấu với Sa-tan, dùng đức tin nơi Đức Chúa Trời và sự thuận phục, kính sợ Đức Chúa Trời của ngươi làm vũ khí để chiến đấu cuộc chiến sinh tử với Sa-tan, như thế ngươi mới hoàn toàn đánh bại Sa-tan, khiến nó thấy ngươi là trốn tránh, thấy ngươi là mất hết hồn vía, như vậy thì nó mới hoàn toàn từ bỏ những cuộc tấn công và cáo buộc ngươi – lúc đó, ngươi mới được cứu rỗi và trở nên tự do” (Công tác của Đức Chúa Trời, tâm tính của Đức Chúa Trời, và chính Đức Chúa Trời II, Lời, Quyển 2 – Về việc biết Đức Chúa Trời). Sa-tan biết tôi quan tâm đến danh lợi, nên nó đã dùng hai vinh dự này để cám dỗ tôi, hòng khiến tôi ở lại nơi làm việc để tranh giành danh lợi, để bị nó tàn hại và kiểm soát. Sa-tan đã luôn dùng danh lợi để trói buộc lòng tôi và cản trở tôi mưu cầu lẽ thật. Tôi không thể rơi vào bẫy của nó một lần nữa. Quan trọng nhất, tôi không muốn bỏ lỡ cơ hội ngàn năm có một này để Đức Chúa Trời cứu rỗi con người. Tôi phải hoàn thành bổn phận của một loài thọ tạo, phó thác cuộc đời tương lai của mình cho Đức Chúa Trời, và mưu cầu sống thể hiện ra một cuộc đời ý nghĩa. Giống như lời Đức Chúa Trời phán: “Nếu ngươi ở địa vị cao, có tiếng tăm, sở hữu kiến thức phong phú, làm chủ nhiều của cải và được nhiều người ủng hộ, nhưng những điều này không ngăn cản ngươi đến trước mặt Đức Chúa Trời chấp nhận sự kêu gọi của Ngài cùng sự ủy nhiệm của Ngài và làm những gì Đức Chúa Trời yêu cầu ở ngươi, thì mọi thứ ngươi làm sẽ là chính nghĩa ý nghĩa nhất trên đất và là sự nghiệp chính nghĩa nhất của nhân loại” (Phụ lục 2: Đức Chúa Trời tể trị số phận của cả nhân loại, Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). Trên đời này, không có gì ý nghĩa hay giá trị hơn việc làm tốt bổn phận của một loài thọ tạo. Nhìn lại quá khứ, tôi đã làm việc chăm chỉ và nhận được sự đánh giá cao của ban lãnh đạo và phụ huynh, nhưng tôi đã không làm tốt bổn phận của mình, không nhận được sự khen ngợi của Đức Chúa Trời, và lòng tôi vẫn trống rỗng. Bây giờ đại thảm họa đã bắt đầu, và thời gian không chờ đợi ai. Nhiều người vẫn chưa nghe được phúc âm thời kỳ sau rốt của Đức Chúa Trời và không có phương hướng đúng đắn trong cuộc đời. Tôi phải nhanh chóng rao truyền phúc âm để nhiều người hơn nữa có thể tiếp nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Đây là tâm ý cấp bách của Đức Chúa Trời. Hiểu ra điều này, tôi đã nộp đơn xin nghỉ việc cho hiệu trưởng. Hiệu trưởng rất ngạc nhiên và nói: “Nhiều người đang tranh giành nhau đến sứt đầu mẻ trán vì danh hiệu này, vậy mà cô lại muốn từ bỏ. Cô nên suy nghĩ kỹ đi! Nếu từ bỏ một công việc tốt như vậy, sau này cô sẽ sống thế nào? Nếu là vì khối lượng công việc, thì năm nay chúng tôi sẽ giảm bớt công việc cho cô. Tôi sẽ sửa sang lại văn phòng của mình và biến nó thành phòng tài vụ cho cô. Tôi hy vọng cô sẽ ở lại và tiếp tục làm việc”. Nghe những lời của hiệu trưởng, tôi không còn do dự nữa và kiên quyết chọn ra đi. Sau khi về nhà, tôi để lại một lá thư cho cha, rồi xách hành lý rời nhà để thực hiện bổn phận.
Tôi nghĩ lại, trong những năm qua, tôi đã mưu cầu danh lợi, và chỉ hài lòng với việc tin Đức Chúa Trời trong thời gian rảnh rỗi, không thực hiện được bao nhiêu bổn phận, và chỉ biết hưởng thụ ân điển của Đức Chúa Trời. Tôi không có sự phân định về tâm tính bại hoại, các quan điểm sai lầm, và các chất độc khác nhau của Sa-tan, và tâm tính sự sống của tôi không hề thay đổi chút nào. Bây giờ, tôi đang thực hiện bổn phận trong hội thánh, và việc thường xuyên đọc lời Đức Chúa Trời đã giúp tôi hiểu ra nhiều lẽ thật. Thường ngày, khi tôi bộc lộ bất kỳ tâm tính bại hoại nào, các anh chị em đều chỉ ra khi họ thấy, và họ thông công với tôi và giúp đỡ tôi bằng lời Đức Chúa Trời. Tôi đã có một số nhận thức về bản thân, và sự sống của tôi cũng đã có một số tiến bộ. Từ tận đáy lòng, tôi cảm thấy rằng đi theo Đức Chúa Trời là lựa chọn tuyệt vời nhất mà tôi đã đưa ra trong cuộc đời này. Tạ ơn Đức Chúa Trời!