8. Một trải nghiệm đặc biệt khi chăm tưới người mới
Tháng 8 năm 2021, tôi đang làm bổn phận chăm tưới người mới trong hội thánh. Có một khoảng thời gian, tôi chăm tưới ba người mới qua mạng. Ba người mới này rất sốt sắng nhóm họp. Làng của họ không có mạng nên phải đi rất xa lên núi mới kết nối được, dù vậy họ vẫn tham gia đầy đủ mỗi buổi nhóm họp. Khi trò chuyện với họ, tôi được biết ở hai ngôi làng lân cận, mỗi làng có hơn một trăm người vẫn chưa được nghe phúc âm thời kỳ sau rốt của Đức Chúa Trời. Tôi cảm thấy mình có trách nhiệm phải làm chứng về công tác của Đức Chúa Trời cho họ và đưa họ đến trước mặt Ngài.
Trong buổi nhóm họp, tôi đã thông công với ba người mới về tâm ý cứu rỗi nhân loại của Đức Chúa Trời, và đọc cho họ nghe một đoạn lời của Ngài: “Tất cả mọi thảm họa liên tục giáng xuống; mọi nước và mọi nơi đều sẽ phải chịu thiên tai, dịch bệnh, nạn đói, lũ lụt, hạn hán, động đất ở khắp mọi nơi. Những thiên tai này không chỉ xảy ra ở một hoặc hai nơi, cũng sẽ không kết thúc trong một hoặc hai ngày, mà chúng sẽ lan ra mỗi lúc một rộng hơn, và thảm họa sẽ ngày càng nghiêm trọng hơn. Trong khi đó, các loại vấn nạn côn trùng cũng sẽ liên tục xuất hiện, hiện tượng người ăn thịt người cũng sẽ xảy ra ở khắp mọi nơi. Đó đều là sự phán xét của Ta dành cho mọi nước và mọi dân” (Những lời của Đấng Christ buổi ban đầu – Chương 65, Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). Đọc xong lời Đức Chúa Trời, tôi thông công: “Lời của Đức Chúa Trời đang dần ứng nghiệm, các thảm họa ngày càng lớn. Không chỉ các quốc gia khác đang phải đối mặt với thảm họa, mà ngay cả bang Wa của chúng ta (ở Myanmar) cũng đang phải chịu đựng một đại dịch nghiêm trọng. Các thành phố và làng mạc hiện đang bị phong tỏa, nhiều người phải cách ly. Trong thời gian cách ly, có người vì không có thức ăn, nước uống mà đã nhảy lầu tự tử, có người vì không đủ tiền trả chi phí cách ly sau khi nhiễm bệnh mà đã treo cổ tự vẫn. Một số người đi làm ăn xa không thể về nhà do lệnh phong tỏa, người thân qua đời mà cũng không thể nhìn mặt lần cuối. Mỗi ngày, số người nhiễm bệnh không đếm xuể, và số người chết cũng không kể xiết. Hôm nay chúng ta có thể bình an, nhưng không ai biết ngày mai sẽ ra sao. Chúng ta thật may mắn khi đã tiếp nhận công tác của Đức Chúa Trời và nghe được lời Ngài, có sự bảo vệ của Đức Chúa Trời giữa các thảm họa. Chúng ta phải nhanh chóng rao truyền phúc âm của Đức Chúa Trời cho gia đình, hàng xóm và bạn bè, để họ cũng có thể nghe được tiếng Đức Chúa Trời, đến trước mặt Ngài, đạt được lẽ thật và nhận được sự cứu rỗi của Ngài. Nếu bây giờ chúng ta không rao truyền phúc âm cho họ, và một ngày nào đó họ bị nhiễm bệnh rồi qua đời, chẳng phải chúng ta sẽ hối hận sao? Nhưng đến lúc đó, dù có khóc đến chết cũng vô ích. Các anh chị có bằng lòng rao truyền phúc âm cho dân làng của mình không?”. Nghe xong, tất cả họ đều đồng ý. Tối hôm sau, họ đã đưa đến vài đối tượng phúc âm. Trong số đó có con trai của trưởng làng và một kế toán có uy tín trong làng. Người rao truyền phúc âm đã thông công với họ về lẽ thật trong việc phân định giữa Đức Chúa Trời thật và các thần giả, rằng chỉ khi tin vào Đức Chúa Trời thật thì mới có thể được bảo vệ trong thảm họa, còn tin vào các thần giả thì sẽ chỉ rơi vào thảm họa và cuối cùng sẽ xuống hồ lửa và diêm sinh. Một số người trong họ, sau khi nghe lời Đức Chúa Trời, đã hiểu rằng chỉ có Đức Chúa Trời Toàn Năng là Đức Chúa Trời thật duy nhất có thể cứu rỗi toàn nhân loại. Họ nghĩ đến những đau khổ đã phải chịu đựng khi bị Sa-tan lừa dối trong lúc thờ lạy các thần giả, họ rất vui mừng khi được nghe lời Đức Chúa Trời và đã cảm động đến rơi nước mắt. Sau đó, họ đã đưa những người thân và bạn bè có nhân tính tốt đến nghe lời Đức Chúa Trời. Cứ như vậy, chỉ trong hơn hai mươi ngày, hơn một trăm người từ hai ngôi làng đã đến nghe phúc âm và tìm hiểu công tác của Đức Chúa Trời, và tôi chịu trách nhiệm chăm tưới cho hơn sáu mươi người trong số họ. Tôi chưa bao giờ tưởng tượng rằng lại có nhiều người tiếp nhận công tác thời kỳ sau rốt của Đức Chúa Trời cùng một lúc như vậy.
Sau đó, ngày càng có nhiều người từ hai ngôi làng đến tìm hiểu con đường thật. Bí thư quận ủy ở ngôi làng lân cận biết được dân làng đang nghe các bài giảng của chúng tôi, nên đã huy động dân quân trong làng tiến hành kiểm tra và tuần tra. Mười sáu người mới vừa bắt đầu tìm hiểu con đường thật đã bị bắt, họ còn bị phạt tiền. Vì dân quân tuần tra cả ngày lẫn đêm, những dân làng khác không dám đến nghe giảng trong làng nữa, một số người thậm chí còn không dám lên núi để nhóm họp. Vì trong làng không có mạng, nên việc liên lạc với người mới rất khó khăn, trừ khi họ tự tìm cách kết nối mạng và liên lạc với tôi. Lúc đó, tôi cảm thấy mọi chuyện thế là hết. Đừng nói đến việc rao truyền phúc âm cho người khác, ngay cả những người mới vừa tiếp nhận công tác của Đức Chúa Trời trong hai ngày qua cũng có thể không đứng vững được. Đúng lúc đó, một trưởng nhóm nhóm họp đã lên núi tìm mạng và liên lạc được với tôi. Anh ấy nói: “Tình hình hiện tại rất tồi tệ, cảnh sát và dân quân tuần tra khắp nơi mỗi ngày. Chúng ta có thể nhóm họp mỗi tháng một lần được không?”. Tôi nghĩ bụng: “Như vậy không được. Người mới vóc giạc còn non yếu, họ chưa hiểu nhiều lẽ thật và cần được chăm tưới liên tục. Dù thế nào đi nữa, chúng ta phải đảm bảo rằng người mới có thể tham dự nhóm họp”. Tôi và trưởng nhóm đã cùng nhau xem bộ phim tài liệu “Đấng nắm giữ quyền tối thượng trên vạn vật”. Tôi thông công với anh ấy: “Khi Môi-se dẫn dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập, trước mặt họ là Biển Đỏ, sau lưng là quân truy đuổi. Không còn đường nào để đi, nhưng họ đã tĩnh tâm lại, cầu nguyện với Đức Chúa Trời, cậy dựa vào Ngài, và Đức Chúa Trời đã mở ra một con đường cho họ. Họ đã chứng kiến thẩm quyền của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời rẽ Biển Đỏ, để lộ ra đất khô ở giữa. Dân Y-sơ-ra-ên đã băng qua Biển Đỏ, trong khi quân truy đuổi bị nhấn chìm trong biển nước. Điều này cho thấy những người mà Đức Chúa Trời đã định cứu rỗi thì Ngài chắc chắn sẽ dẫn dắt”. Sau đó, tôi đọc cho anh ấy nghe một đoạn lời của Đức Chúa Trời Toàn Năng: “Trong mỗi bước công tác mà Đức Chúa Trời thực hiện trên con người, bên ngoài dường như là những tương tác giữa con người với nhau, như thể được sinh ra từ sự sắp đặt của con người hoặc từ sự quấy nhiễu của con người. Nhưng ẩn ở phía sau, mỗi bước công tác và mọi thứ xảy ra, là một cuộc đánh cược do Sa-tan đặt ra trước Đức Chúa Trời, đòi hỏi mọi người đứng vững làm chứng cho Đức Chúa Trời. Lấy ví dụ khi Gióp bị thử luyện: Ở phía sau, Sa-tan đang đặt cược với Đức Chúa Trời, và điều đã xảy ra với Gióp là những việc làm của con người và sự quấy nhiễu của con người. Đằng sau mỗi bước công tác mà Đức Chúa Trời thực hiện trong các ngươi là cuộc đánh cược của Sa-tan với Đức Chúa Trời – đằng sau tất cả chính là một trận chiến” (Chỉ yêu kính Đức Chúa Trời mới thực sự là tin vào Đức Chúa Trời, Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). Tôi thông công rằng: “Bề ngoài thì có vẻ viên bí thư đó đang chống đối và cản trở đức tin của chúng ta nơi Đức Chúa Trời, nhưng đằng sau đó là sự nhiễu loạn của Sa-tan. Sa-tan không muốn chúng ta nghe lời Đức Chúa Trời, nên nó đang lợi dụng viên bí thư đó để bách hại và bắt bớ chúng ta, buộc chúng ta từ bỏ đức tin của mình. Giống như khi Gióp bị thử luyện và mất hết gia tài bạc vạn, bề ngoài có vẻ là do bọn cướp gây ra, nhưng thực tế, đó là Sa-tan đang thử thách và tấn công Gióp. Khi Gióp đối mặt với tất cả những thử luyện này, ông đã không oán trách Đức Chúa Trời mà thay vào đó ca ngợi danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời. Sa-tan thấy rằng dù nó nhiễu loạn Gióp thế nào, ông cũng không từ bỏ Đức Chúa Trời, nên cuối cùng nó đã phải xấu hổ mà rút lui. Bây giờ, đối mặt với sự nhiễu loạn và bách hại của viên bí thư đó, nếu chúng ta bị kìm kẹp đến mức chỉ có thể nghe lời Đức Chúa Trời mỗi tháng một lần, chẳng phải là mưu kế của Sa-tan đã thành công sao? Nếu chúng ta có thể kiên trì nhóm họp trong hoàn cảnh này, Sa-tan sẽ bị hạ nhục”. Sau khi nghe tôi thông công, trưởng nhóm nói anh ấy sẵn lòng quay về và mời những người mới này đến nhóm họp. Qua lời thông công của trưởng nhóm, những người mới lần lượt nói: “Nghe lời Đức Chúa Trời không phải là phạm pháp”. “Nếu Đức Chúa Trời không cho phép thì không có chuyện gì xảy ra được”. “Chúng ta có bị bắt hay không đều nằm trong tay Đức Chúa Trời”. “Sa-tan muốn lợi dụng sự nhiễu loạn của chính quyền để khiến chúng ta từ bỏ đức tin và kéo chúng ta xuống địa ngục. Bất kể họ làm gì chúng ta, chúng ta nhất định sẽ theo Đức Chúa Trời, không bao giờ từ bỏ đức tin của mình”. Mặc dù tình hình rất căng thẳng, một số người mới sốt sắng hơn vẫn tìm cách có được mạng để tham dự nhóm họp. Tuy nhiên, vì địa điểm nhóm họp của họ đã bị lộ, nên họ không thể nhóm họp thành nhóm sáu mươi hay bảy mươi người như trước nữa, và mỗi địa điểm nhóm họp chỉ có thể có tối đa khoảng hai mươi người. Ngay khi chúng tôi chuẩn bị sắp xếp các buổi nhóm họp nhỏ hơn, chúng tôi lại gặp phải một khó khăn khác. Vì những người mới chỉ có hai thẻ SIM có thể truy cập mạng, nếu họ chia nhỏ ra để nhóm họp, thì sẽ không đủ dùng, nên một số dân làng vẫn không thể nghe được lời Đức Chúa Trời. Hơn nữa, với hai mươi người dùng chung một điện thoại để nhóm họp, khi kết nối kém, một số người chắc chắn sẽ không thể nghe rõ nội dung thông công. Làm như vậy sẽ chẳng có hiệu quả tốt. Tôi bắt đầu cảm thấy nản lòng, thấy mọi việc thật khó khăn. Lúc đó, tôi nghĩ: “Giá như mình có thể tự mình đến đó, thì mình có thể chăm tưới họ trực tiếp, và họ sẽ không bị hạn chế vì thiếu thẻ SIM”. Thế là tôi cầu nguyện với Đức Chúa Trời: “Lạy Đức Chúa Trời, vì những người mới mà con đang chăm tưới đang phải đối mặt với hoàn cảnh nguy hiểm và không có thẻ SIM, nên nhiều người trong số họ không thể nghe được lời Ngài. Lạy Đức Chúa Trời, con muốn đến đó để chăm tưới họ – xin chuẩn bị cơ hội này cho con”.
Sau đó, tôi chia sẻ suy nghĩ của mình với người phụ trách. Người phụ trách đồng ý để tôi đến địa phương đó. Tối hôm đó, tôi đến một gia đình tiếp đãi. Đúng lúc đó, các trưởng nhóm người mới nhắn tin cho tôi, nên tôi bảo họ mời các anh chị em đến nhóm họp vào trưa hôm sau, dặn họ mời càng nhiều người càng tốt và tìm một nơi kín đáo. Ngày hôm sau, chúng tôi đến địa điểm đã hẹn, và tôi đã sững sờ. Thật đáng kinh ngạc, nhóm hơn sáu mươi người mới đều có mặt, và từng người một, họ đến bắt tay và ôm tôi, ai nấy đều háo hức tự giới thiệu. Họ giống như một đàn chim líu lo, một cảnh tượng mà tôi chưa từng thấy bao giờ. Sau buổi nhóm họp hôm đó, họ đã giúp chúng tôi mời những người mới từ một ngôi làng khác đến nhóm họp. Vào ngày thứ ba, trưởng nhóm địa phương dẫn chúng tôi đi theo một con đường núi dài, và chúng tôi tìm thấy một nơi yên tĩnh, kín đáo. Khoảng năm mươi người mới đã đến. Nhưng trong lúc chúng tôi đang nhóm họp, một người ngoại đạo đang chăn bò đã nhìn thấy chúng tôi. Tôi nghĩ thầm: “Lỡ ông ta thấy mình thì sao? Ông ta có tố cáo mình không? Viên bí thư hay cảnh sát có bắt mình không?”. Nghĩ đến sự an toàn của bản thân, tôi định bỏ chạy. Nhưng ngay lúc đó, tôi nhớ lại một đoạn lời của Đức Chúa Trời mà tôi đã đọc trước đây: “Kẻ địch lại Đấng Christ cố gắng hết sức để bảo vệ sự an toàn của chính mình, ý nghĩ của họ là, ‘Tôi phải đảm bảo sự an toàn tuyệt đối, dù ai bị bắt thì tôi cũng không thể bị bắt’. … Nếu nơi nào an toàn, kẻ địch lại Đấng Christ sẽ chọn nơi đó để làm việc, bề ngoài trông họ cũng rất tích cực, chủ động, biểu hiện của họ cũng rất có ‘ý thức trách nhiệm’ và ‘lòng trung thành’. Nếu công tác nào đó kèm theo rủi ro và dễ xảy ra chuyện, dễ bị con rồng lớn sắc đỏ phát hiện, thì họ viện cớ và từ chối, tìm cơ hội chuồn mất. Ngay khi thấy có nguy hiểm, hoặc ngay khi có dấu hiệu nguy hiểm, là họ nghĩ đủ mọi cách để thoát thân, bỏ ngang bổn phận, không quan tâm gì đến các anh chị em. Họ chỉ quan tâm đến việc bản thân thoát khỏi nguy hiểm. Trong lòng họ có lẽ đã chuẩn bị sẵn sàng. Ngay khi nguy hiểm xuất hiện, họ bỏ công tác đang làm ngay lập tức, không quan tâm công tác của hội thánh diễn ra như thế nào, lợi ích của nhà Đức Chúa Trời bị tổn hại ra sao, cũng không quan tâm đến sự an nguy của anh chị em. Điều quan trọng đối với họ là chạy thoát nạn đã. Họ thậm chí còn có ‘bảo bối lận lưng’, một kế hoạch để bảo vệ bản thân tốt nhất: ngay khi gặp nguy hiểm hoặc bị bắt, họ khai ra hết những gì mình biết, tẩy trắng lý lịch và rũ bỏ mọi trách nhiệm để bảo đảm sự an toàn cho bản thân. Trong lòng họ có sẵn kế hoạch này” (Lời, Quyển 4 – Vạch rõ kẻ địch lại Đấng Christ. Mục 9 (Phần 2)). Tôi nghĩ đến việc những kẻ địch lại Đấng Christ có thể thực hiện bổn phận và công tác một cách bình thường khi không có nguy hiểm, bề ngoài thì bảo vệ lợi ích của hội thánh, nhưng khi nguy hiểm ập đến, điều đầu tiên họ nghĩ đến là sự an toàn của bản thân, chứ không hề suy xét đến lợi ích của nhà Đức Chúa Trời. Thay vào đó, họ xem sự an toàn của mình là điều quan trọng nhất. Những kẻ địch lại Đấng Christ hoàn toàn không có lương tâm hay lý trí. Phản tỉnh lại, tôi thấy hành vi của mình cũng chẳng khác gì một kẻ địch lại Đấng Christ. Lúc đầu, tôi có thể đưa những người mới lên núi nhóm họp, bề ngoài có vẻ như đang làm chút công tác và chịu chút khổ cực, nhưng khi liên quan đến sự an toàn của bản thân, tôi lại muốn từ bỏ bổn phận và trốn thoát. Tôi đã đặt sự an toàn của mình lên trên hết. Tôi chưa bao giờ nghĩ đến việc cần phải thu xếp ổn thỏa cho những người mới này trước. Tôi chỉ lo làm sao để mình thoát khỏi nguy hiểm. Tôi thật ích kỷ! Có biết bao nhiêu người mới, nếu bị bắt, rất có thể họ sẽ rút lui vì vóc giạc nhỏ bé. Tôi chỉ có một mình, thà một mình tôi bị bắt còn hơn để nhiều người khác bị bắt. Chỉ cần các anh chị em được an toàn là đủ rồi. Nghĩ đến đây, tôi nhanh chóng đưa những người mới đến nơi an toàn. Một số người trốn trong mương, một số trong bụi cỏ, và một số trong rừng. Sau khi người chăn bò rời đi, chúng tôi tiếp tục nhóm họp, và sắp xếp vài anh em đi canh gác. Sau buổi nhóm họp, chúng tôi định thời gian cho buổi tiếp theo.
Sau đó, hơn một trăm người đã tiếp nhận công tác thời kỳ sau rốt của Đức Chúa Trời. Lúc đó, số người mới từ hai ngôi làng đã lên đến gần hai trăm người. Việc có quá nhiều người đến nghe lời Đức Chúa Trời lại một lần nữa thu hút sự chú ý của viên bí thư đó, và ông ta đã ra lệnh cho những người không tin trong làng và cả học sinh tiểu học đi tuần tra trên núi. Viên bí thư đó còn nói rằng nếu họ tìm thấy địa điểm nhóm họp của chúng tôi, mỗi người sẽ được thưởng một trăm nhân dân tệ. Lúc đó, không chỉ trong làng mà cả trên núi cũng có rất nhiều người tuần tra. Tình hình ngày càng tồi tệ, nhưng mỗi ngày, những người mới vẫn tiếp tục đưa người thân và bạn bè đến nghe lời Đức Chúa Trời, ngay cả trưởng làng và phó trưởng làng của cả hai làng cũng đến nghe lời Đức Chúa Trời. Vì sự bách hại của viên bí thư đó, chúng tôi phải thay đổi địa điểm nhóm họp mỗi ngày. Đôi khi chúng tôi nhóm họp ngoài đồng, đôi khi trong khu đất cát, đôi khi trong rừng, và đôi khi phải đi rất xa vào trong núi để nhóm họp. Lúc đó, mỗi ngày khi đi chăm tưới người mới, tôi đều phải đi ngang qua nhà của viên bí thư đó. Đó là con đường tôi không thể tránh, và tôi lo lắng viên bí thư đó và cảnh sát sẽ phát hiện ra mình, rồi đột ngột chặn đường và bắt tôi ngay trước cổng nhà ông ta. Nếu tôi bị bắt, và họ báo cho gia đình tôi thì phải làm sao? Vốn dĩ họ đã không ủng hộ đức tin của tôi, nếu biết tôi bị bắt, chẳng phải họ sẽ bách hại tôi nhiều hơn sao? Cảnh tượng này cứ hiện lên trong đầu tôi mỗi ngày, và chỉ nghĩ đến thôi cũng đủ khiến tôi rất sợ hãi. Mỗi ngày khi đi chăm tưới người mới, tôi thực sự rất căng thẳng. Khi đi ngang qua nhà viên bí thư đó, tôi gần như không dám thở, và tôi sẽ tăng tốc xe máy chạy qua, không dám ngoảnh lại nhìn. Tôi sống trong sợ hãi, thầm kêu cầu Đức Chúa Trời trong lòng. Tôi nghĩ đến một bài thánh ca lời Đức Chúa Trời, “Điều Đức Chúa Trời làm cho hoàn thiện là đức tin”: “Trong công tác của thời kỳ sau rốt, cần đức tin và lòng yêu kính cực đại của các ngươi, chỉ cần một chút bất cẩn cũng có thể vấp ngã, bởi giai đoạn công tác này khác với tất cả các giai đoạn trước đây: Điều mà Đức Chúa Trời đang hoàn thiện là đức tin của con người, điều vừa vô hình vừa không chạm được. Điều Đức Chúa Trời làm là chuyển đổi lời thành đức tin, thành tình yêu và thành sự sống. Con người phải trải qua hàng trăm sự tinh luyện, đến khi có đức tin mạnh hơn Gióp, và như vậy thì con người phải chịu đựng sự đau khổ và mọi kiểu hành hạ cực độ mà không bao giờ rời xa Đức Chúa Trời. Khi họ thuận phục cho đến chết và có đức tin cực lớn nơi Đức Chúa Trời, thì khi ấy giai đoạn công tác này của Đức Chúa Trời hoàn thành” (Con đường… (8), Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). Khi hát bài thánh ca này, tôi cảm thấy bên trong mình được thêm sức mạnh. Tôi hiểu rằng Đức Chúa Trời cho phép hoàn cảnh này xảy đến để tôi có thể trải nghiệm lời Ngài qua đó và củng cố đức tin của mình nơi Ngài. Trước khi đến ngôi làng này, tôi cảm thấy mình có đức tin rất lớn nơi Đức Chúa Trời, nhưng bây giờ vóc giạc thật sự của tôi đã bị tỏ lộ. Tôi tự hỏi mình: “Tại sao mình lại sợ hãi đến vậy?”. Sự thật là vì tôi sợ rằng nếu gia đình biết tôi bị bắt vì tin Đức Chúa Trời, họ sẽ bách hại tôi nhiều hơn. Tôi không tin tất cả con người, sự việc và sự vật đều nằm trong tay Đức Chúa Trời. Đức tin của tôi nơi Đức Chúa Trời quá nhỏ bé. Đức Chúa Trời đang dùng sự bách hại của viên bí thư đó để hoàn thiện đức tin của tôi. Hiểu được tâm ý của Đức Chúa Trời, tôi sẵn lòng trải nghiệm hoàn cảnh này. Sau đó, khi đi chăm tưới người mới, tôi vẫn đi ngang qua cổng nhà viên bí thư đó, và trong lòng vẫn cảm thấy có chút sợ hãi, nhưng tôi đã thầm cầu nguyện với Đức Chúa Trời, xin Ngài để tôi không bị ảnh hưởng và có thể tiếp tục thực hiện bổn phận của mình. Nhưng sự bách hại của viên bí thư đó ngày càng nghiêm trọng hơn. Ông ta nói rằng bất cứ ai thấy có người nhóm họp thì nên tố cáo – tố cáo một người tin thì được 500 nhân dân tệ, hai người thì được 1.000 nhân dân tệ. Tôi nghĩ rằng những người này thật quá tà ác, cũng giống như Đảng Cộng sản Trung Quốc bách hại những người tin vào Đức Chúa Trời Toàn Năng. Chúng tôi tin Đức Chúa Trời chứ không phạm tội gì, vậy mà họ lại tìm mọi cách để bắt chúng tôi. Trong lòng tôi thực sự căm ghét họ. Để tránh bị họ phát hiện, chúng tôi đã dời buổi nhóm họp từ 10 giờ sáng sang 6 giờ sáng. Lúc đó là tháng 12, mùa đông rất lạnh, chân tôi thậm chí còn bị bỏng lạnh, nhưng những người mới vẫn hăng hái đến nhóm họp. Có người đã ngoài 60 tuổi, có người đi cả gia đình, có người còn bế theo con nhỏ mới đầy tháng lên núi để nhóm họp. Thấy họ không bị ảnh hưởng và tích cực tham gia nhóm họp, tôi vô cùng cảm động và cũng cảm thấy xấu hổ, nghĩ rằng đức tin của mình không bằng họ. Tôi cũng căm ghét những chế độ Sa-tan này, vì để ngăn cản người ta nghe lời Đức Chúa Trời, chúng đã huy động cả làng đi tuần tra và tố cáo những người tin. Mặc dù vậy, công tác phúc âm không hề bị ảnh hưởng chút nào, và phúc âm vẫn tiếp tục lan truyền trong khu vực này. Hơn nữa, những người tuần tra cũng không phát hiện chúng tôi lần nào. Chúng tôi thực sự biết ơn Đức Chúa Trời vì sự bảo vệ của Ngài!
Đúng lúc này, một hoàn cảnh khác lại ập đến với tôi. Người chồng ngoại đạo của tôi đột nhiên từ quân đội trở về nhà. Lẽ ra anh ấy phải đến Tết mới về, nhưng không ngờ lại về sớm. Anh ấy thấy tôi không có nhà liền gọi điện hỏi tôi đã đi đâu, bảo tôi sáng mai phải về nhà ngay lập tức. Ngày hôm sau, thấy tôi vẫn chưa về, anh ấy liền nhắn tin cho tôi, nhưng vì tôi đang nhóm họp và không có mạng nên không trả lời. Anh ấy liền gọi cho cậu tôi. Cậu tôi mắng tôi là người đàn bà không lo cho gia đình, còn chồng tôi thì liên tục gọi điện, thúc giục tôi về nhà, thậm chí dọa sẽ ly hôn nếu tôi không mau về. Tôi cảm thấy yếu đuối. Gia đình tôi vốn đã không ủng hộ đức tin của tôi, mẹ chồng cũng thường xuyên xúi giục chồng tôi ly hôn. Nếu tôi không về nhà, liệu chồng tôi có thực sự ly hôn không? Tôi vừa bị viên bí thư đó bách hại, vừa bị chồng dọa ly hôn. Lòng tôi đau như cắt, và tôi tự hỏi liệu mình có nên về nhà vài ngày không. Nhưng tôi biết rằng một khi đã về, sẽ rất khó để đi lại. Sẽ không có ai chăm tưới cho những người mới này. Tôi không biết nên về hay không. Lòng tôi vô cùng dằn vặt và đau đớn, và lúc đó, tôi bắt đầu nảy sinh oán trách. Tại sao Đức Chúa Trời lại cho phép hoàn cảnh này xảy đến với tôi? Bây giờ chồng tôi đã về, làm sao tôi có thể tiếp tục thực hiện bổn phận của mình? Tại sao Đức Chúa Trời không bảo vệ tôi? Trong lòng, tôi cứ suy ngẫm mãi câu hỏi này: “Tâm ý của Đức Chúa Trời trong chuyện này là gì?”. Trong lúc đang suy ngẫm, tôi chợt nghĩ đến lời Đức Chúa Trời: “Khi đo lường xem liệu mọi người có thể thuận phục Đức Chúa Trời hay không, điều quan trọng là liệu họ có ham muốn ngông cuồng và động cơ thầm kín nào với Đức Chúa Trời hay không. Nếu mọi người luôn đòi hỏi Đức Chúa Trời, thì điều đó chứng tỏ rằng họ không thuận phục Ngài. Bất kể chuyện gì xảy ra với ngươi, nếu ngươi không thể tiếp nhận nó từ Đức Chúa Trời, không tìm kiếm lẽ thật, luôn nói lý lẽ biện hộ cho bản thân và luôn cảm thấy rằng chỉ có ngươi là đúng, và nếu như ngươi thậm chí có khả năng nghi ngờ việc Đức Chúa Trời là lẽ thật và sự công chính, thì ngươi sẽ gặp rắc rối. Những người như vậy là những người kiêu ngạo và dấy loạn nhất với Đức Chúa Trời. Những người luôn đòi hỏi Đức Chúa Trời không bao giờ có thể thực sự thuận phục Ngài. Nếu ngươi đòi hỏi Đức Chúa Trời, thì điều này chứng tỏ rằng ngươi đang cố giao dịch với Đức Chúa Trời, rằng ngươi đang chọn ý riêng của mình và hành động theo nó. Trong trường hợp này, ngươi đang phản bội Đức Chúa Trời, và không thuận phục. Đưa ra yêu cầu đối với Đức Chúa Trời tự nó là không có lý trí rồi; nếu ngươi thực sự tin rằng Ngài là Đức Chúa Trời, thì ngươi sẽ không dám đưa ra yêu cầu đối với Ngài, ngươi cũng cảm thấy không đủ tư cách để đưa ra yêu cầu đối với Ngài, cho dù ngươi nghĩ chúng có hợp lý hay không. Nếu ngươi có đức tin thật sự nơi Đức Chúa Trời và tin rằng Ngài là Đức Chúa Trời, thì ngươi sẽ chỉ thờ phụng và thuận phục Ngài, ngoài ra không còn cách nào khác” (Mọi người đòi hỏi Đức Chúa Trời quá nhiều, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt). Đọc xong lời Đức Chúa Trời, tôi nhận ra mình cũng giống như những gì Ngài đã vạch rõ. Khi Đức Chúa Trời sắp đặt những hoàn cảnh hợp với ý muốn của tôi, tôi sẵn lòng thuận phục, nhưng khi chúng không hợp với ý muốn của tôi, tôi lại không muốn thuận phục và liên tục đưa ra những yêu cầu vô lý với Đức Chúa Trời. Tôi nghĩ rằng vì tôi đang thực hiện bổn phận, nên Đức Chúa Trời phải giữ cho mọi việc của tôi được suôn sẻ, và vì tôi đang thực hiện bổn phận và rao truyền phúc âm, nên Đức Chúa Trời phải trông nom và bảo vệ tôi khỏi sự bách hại và nhiễu loạn của chồng, không để anh ấy về nhà sớm, vì nếu anh ấy về nhà, tôi sẽ không thể rao truyền phúc âm được nữa. Tôi đã phân bua với Đức Chúa Trời trong lòng, muốn Ngài làm theo yêu cầu của tôi, và khi Ngài không làm vậy, tôi cảm thấy sự sắp đặt của Ngài thật không phù hợp. Trước khi tôi rời nhà để rao truyền phúc âm, mặc dù chồng tôi cản trở tôi tin Đức Chúa Trời, nhưng tôi không thực sự bị anh ấy kìm kẹp, và tôi vẫn có thể tham dự nhóm họp và thực hiện bổn phận một cách bình thường. Khi thấy người khác bị người nhà nhiễu loạn, không thể thực hiện bổn phận hoặc không dám nhóm họp, tôi cảm thấy vóc giạc của mình đã lớn lên và đã có thể thuận phục Đức Chúa Trời. Bây giờ, cuối cùng tôi đã thấy rõ vóc giạc thật sự của mình. Mặc dù hoàn cảnh này không hợp với quan niệm của tôi, nhưng đó là một cơ hội tốt để tôi hiểu rõ bản thân. Thường thì, khi hoàn cảnh thoải mái, tôi không bao giờ đến trước Đức Chúa Trời để tìm kiếm lẽ thật, cũng không phản tỉnh hay nhận ra sự bại hoại của mình. Qua sự tỏ lộ của hoàn cảnh này, tôi thấy rằng mình vẫn có thể lý luận với Đức Chúa Trời và hành động tùy tiện. Điều này thật sự quá vô lý!
Tôi nghĩ đến việc những người mới này khao khát lời Đức Chúa Trời biết bao. Bất kể thời tiết lạnh giá, đường xá xa xôi, hay hoàn cảnh tồi tệ đến đâu, họ vẫn kiên trì tham dự nhóm họp. Nếu tôi về nhà, ai sẽ chăm tưới họ? Nhưng nếu không về, tôi lại phải đối mặt với việc ly hôn. Ngay lúc tôi đang đấu tranh để quyết định, tôi nhớ lại một đoạn lời của Đức Chúa Trời mà người phụ trách đã chia sẻ trước đây: “Ngươi có ý thức được trọng trách mình mang trên vai, có ý thức được việc mình được ủy nhiệm và trách nhiệm của ngươi không? Ý thức về sứ mạng lịch sử của ngươi đâu rồi? Làm sao để ngươi làm tốt vai trò chủ nhân của thời đại mới? Ngươi có ý thức rõ về vai trò chủ nhân không? Ngươi giải thích thế nào về chủ nhân của vạn vật? Có thật đấy là chủ nhân của mọi sinh vật sống và của mọi thứ vật chất trên đời này không? Ngươi có kế hoạch gì cho sự tiến triển trong giai đoạn tiếp theo của công tác? Bao nhiêu người đang chờ đợi ngươi chăn dắt họ? Nhiệm vụ của ngươi có nặng nề không? Họ là những người tội nghiệp, đáng thương, mù quáng, và hoang mang, đang kêu gào trong bóng tối rằng: ‘Con đường ở đâu?’ Họ mới trông ngóng ánh sáng làm sao, ánh sáng mà bất thần lao xuống như một ngôi sao băng và xua tan các thế lực của bóng tối đã đè nén con người biết bao năm. Họ khắc khoải trông ngóng, ngày đêm mong nhớ – nào ai biết hết? Thậm chí vào ngày sự sáng lóe qua, những người chịu đau khổ ghê gớm này vẫn bị cầm tù trong ngục tối, chẳng có hy vọng được phóng thích; khi nào họ mới hết khóc than? Thật bất hạnh ghê gớm cho những linh hồn yếu đuối chưa từng được ban cho sự nghỉ ngơi này, và từ lâu họ đã bị giam chặt trong tình trạng này bởi những gông cùm tàn nhẫn và lịch sử ngưng đọng. Ai đã nghe tiếng kêu gào của họ? Ai đã chứng kiến tình trạng thảm thương của họ? Ngươi có bao giờ thoáng nghĩ lòng Đức Chúa Trời lo lắng và đau buồn đến thế nào không? Làm sao Ngài có thể chịu nổi khi thấy nhân loại vô tội do chính tay Ngài tạo dựng lại phải chịu sự dằn vặt như vậy? Xét cho cùng, loài người là những nạn nhân đã bị đầu độc. Và mặc dù con người đã sống sót đến ngày nay, nhưng có ai biết được rằng nhân loại từ lâu nay đã bị kẻ ác đầu độc không? Ngươi đã quên mất rằng ngươi là một trong số những nạn nhân sao? Chẳng lẽ ngươi không sẵn lòng đấu tranh, vì tình yêu của ngươi dành cho Đức Chúa Trời, để cứu rỗi tất cả những người sống sót này sao? Chẳng lẽ ngươi không sẵn lòng dốc hết mọi sức lực để đền đáp Đức Chúa Trời, Đấng yêu thương nhân loại như máu thịt của chính Ngài sao? Sau tất cả những gì xảy ra, thì ngươi diễn giải việc được Đức Chúa Trời dùng đến để sống cuộc đời phi thường như thế nào? Ngươi có thật sự có quyết tâm và tự tin để sống một cuộc đời đầy ý nghĩa của một người ngoan đạo, hầu việc Đức Chúa Trời không?” (Ngươi nên chú tâm đến sứ mạng tương lai của ngươi như thế nào? Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). Đức Chúa Trời đã xuất hiện và công tác bao nhiêu năm nay, nhưng vẫn còn nhiều người không biết, vẫn đang thờ lạy các thần giả, sống trong sự lừa dối của Sa-tan. Chúng ta đã tiếp nhận phúc âm của Đức Chúa Trời trước, nên có trách nhiệm làm chứng về công tác của Ngài cho họ, để họ có thể sớm ngày nghe được tiếng của Ngài và đến trước mặt Ngài. Nghĩ lại những buổi nhóm họp với những người mới này, khi chúng tôi đọc lời Đức Chúa Trời cho họ nghe, bất kể già trẻ, trai gái, ai nấy đều ánh lên vẻ khao khát, giống như vừa nhìn thấy ánh sáng trong một thế giới tăm tối, như thể đã chờ đợi ánh sáng từ rất lâu và cuối cùng đã tìm thấy hy vọng. Dù bị viên bí thư đó bách hại hay phạt tiền, dù con mới đầy tháng, đường sá xa xôi, họ cũng không muốn bỏ lỡ bất kỳ buổi nhóm họp nào để nghe lời Đức Chúa Trời, và họ ước ao được nhóm họp cả ngày để nghe lời Ngài. Họ không sợ sự bách hại của chính quyền, mà chỉ sợ không được nghe lời Đức Chúa Trời và không được nhóm họp. Một số người mới nói: “Chị đừng sợ. Chúng ta có thể đánh du kích với Sa-tan. Họ lên núi thì chúng ta xuống núi, chúng ta luôn có cách để nhóm họp”. Nghe vậy thật sự rất cảm động. Nếu tôi cứ bỏ mặc họ như vậy, khiến họ không thể nghe lời Đức Chúa Trời, lương tâm tôi sẽ cắn rứt không yên. Tôi nghĩ đến việc Đức Chúa Trời đã bày tỏ tất cả lẽ thật để làm tinh sạch và cứu rỗi nhân loại, và tôi đã được hưởng sự chăm tưới và cung ứng của lời Đức Chúa Trời, hiểu được nhiều điều mầu nhiệm trong lẽ thật, và đạt được con đường để thoát khỏi tâm tính bại hoại của mình. Đức Chúa Trời đã ban cho tôi quá nhiều, tình yêu của Ngài dành cho tôi quá lớn! Tôi đã luôn miệng nói rằng mình sẽ làm tốt bổn phận để báo đáp tình yêu của Đức Chúa Trời, rằng sẽ không làm Ngài thất vọng hay phụ lòng yêu thương của Ngài, nhưng vì sợ chồng ly hôn, tôi lại muốn từ bỏ bổn phận và bỏ rơi những người mới. Điều tôi không nghĩ đến là: Nếu tôi thực sự về nhà, và viên bí thư đó tiếp tục bách hại họ, nói rằng nếu bị bắt sẽ bị phạt tiền hoặc bỏ tù, liệu họ có trở nên yếu đuối, sợ hãi và không dám nhóm họp không? Không có ai chăm tưới, liệu họ có trở nên tiêu cực và thoái lui không? Lòng họ khao khát đến nỗi, để được nghe lời Đức Chúa Trời, họ đã đến địa điểm nhóm họp từ trước lúc bình minh để đợi tôi. Nếu không được nghe lời Đức Chúa Trời, lòng họ có dằn vặt và đau đớn không? Nếu tôi cứ thế mà đi, liệu tôi có thể sống thanh thản với lương tâm và xứng đáng với họ không? Nếu tôi vì sợ ly hôn mà bỏ rơi những người mới này, khiến họ trở nên yếu đuối và rút lui, tôi sẽ không còn mặt mũi nào đối diện với Đức Chúa Trời nữa! Càng nghĩ, tôi càng cảm thấy mắc nợ Đức Chúa Trời.
Sau đó, tôi nghĩ đến một đoạn lời của Đức Chúa Trời Toàn Năng: “Khi Đức Chúa Trời làm công tác, quan tâm đến một người, và dò xét người này, và khi Ngài ưu ái cũng như khen ngợi người này, Sa-tan cũng theo sát sao phía sau, cố gắng mê hoặc người đó và tàn hại họ. Nếu Đức Chúa Trời muốn thu phục người này, Sa-tan sẽ làm mọi thứ trong khả năng của nó để cản trở Đức Chúa Trời, dùng mọi thủ đoạn tà ác khác nhau để cám dỗ, làm nhiễu loạn và phá hoại công tác của Đức Chúa Trời, hầu để đạt được mục đích ngầm của nó. Mục đích này là gì? Nó không muốn Đức Chúa Trời thu phục được bất cứ ai; nó muốn đoạt lấy những người mà Ngài muốn thu phục, để sở hữu họ, kiểm soát họ, chưởng quản họ để họ thờ phượng nó, hầu để họ nhập bọn với nó trong việc hành ác, và chống đối Đức Chúa Trời. Chẳng phải đây là động cơ nham hiểm của Sa-tan sao? … Trong khi chiến đấu với Đức Chúa Trời, và lê bước theo Ngài, mục đích của Sa-tan là phá hủy toàn bộ công tác Đức Chúa Trời muốn làm, chiếm hữu và kiểm soát những ai mà Đức Chúa Trời muốn thu phục, hủy diệt hoàn toàn những ai mà Đức Chúa Trời muốn thu phục. Nếu họ không bị hủy diệt, thì họ cũng rơi vào sự chiếm hữu của Sa-tan, bị nó sử dụng – đây là mục đích của nó” (Chính Đức Chúa Trời, Đấng độc nhất IV, Lời, Quyển 2 – Về việc biết Đức Chúa Trời). Suy ngẫm lời Đức Chúa Trời, tôi nhận ra rằng công tác của Đức Chúa Trời đến đâu thì Sa-tan nhiễu loạn đến đó. Đức Chúa Trời muốn thu phục những người thật lòng tin Ngài, nhưng Sa-tan lại lợi dụng chính quyền và viên bí thư đó để bách hại những người tin. Sa-tan không từ thủ đoạn, dùng cả nhân lực và tài lực để ngăn cản người ta tin Đức Chúa Trời. Khi Sa-tan thấy sự bách hại như vậy không đạt được mục đích, nó liền thay đổi chiến thuật, khiến chồng tôi dùng chuyện ly hôn để đe dọa tôi, ép tôi rời khỏi làng, như vậy sẽ không có ai chăm tưới những người mới này, khiến họ không thể nghe lời Đức Chúa Trời và dần dần rút lui. Sa-tan thật quá đê tiện và vô liêm sỉ! Nếu tôi về nhà, chẳng phải là đã trúng mưu kế của Sa-tan sao? Nhìn thấu dụng tâm hiểm ác của Sa-tan, tôi quyết tâm phải chăm tưới tốt cho những người mới này. Tôi liền cầu nguyện với Đức Chúa Trời: “Lạy Đức Chúa Trời, con sẽ không về nữa. Con sẽ phối hợp với Ngài để chăm tưới tốt cho những người mới ở hai ngôi làng này. Dù chồng con có ly hôn, con cũng sẽ không về nhà”. Khi tôi đã chuẩn bị tinh thần cho việc ly hôn, điều khiến tôi không tài nào ngờ được là ngày hôm sau, chồng tôi lại nhắn tin bảo tôi hãy chăm sóc bản thân, nói rằng trời lạnh rồi phải mặc thêm áo, ra ngoài rao truyền phúc âm phải cẩn thận hơn. Anh ấy còn nói tôi muốn về lúc nào cũng được và thậm chí còn gửi cho tôi 4.000 nhân dân tệ để mua quần áo mùa đông. Tôi thực sự biết ơn Đức Chúa Trời!
Trong những ngày sau đó, mặc dù tôi không còn bị chồng kìm kẹp, nhưng sự bách hại của viên bí thư đó không những không dừng lại, mà còn ngày càng nghiêm trọng hơn. Sau đó, tôi nghe được một bài thánh ca trải nghiệm “Theo Đấng Christ, thề chết không quay đầu”, và trong lòng cảm thấy được khích lệ vô cùng. Tôi đã có được đức tin cần thiết để trải nghiệm hoàn cảnh này.
Con người của thời kỳ sau rốt bày tỏ lẽ thật, đánh thức vô số tâm hồn. Tôi thấy lời Đức Chúa Trời đều là lẽ thật, nên tôi đi theo Ngài. Sa-tan, con rồng lớn sắc đỏ, điên cuồng đàn áp và bắt bớ dân được Đức Chúa Trời chọn. Những người đi theo Đấng Christ và làm bổn phận đều liều cả mạng sống. Có lẽ một ngày nào đó, tôi sẽ bị bắt bớ và bách hại vì làm chứng cho Đức Chúa Trời. Trong lòng tôi hiểu rõ rằng đây là chịu bách hại vì sự công chính. Có lẽ một ngày nào đó, tôi sẽ bị bắt và bỏ tù vì rao truyền phúc âm. Đây cũng là nỗi khổ mà Đức Chúa Trời đã ấn định cho những người đi theo Ngài. Tôi không biết mình còn có thể đi được bao xa trên con đường rao truyền phúc âm này, nhưng chỉ cần còn sống, tôi sẽ loan truyền lời Đức Chúa Trời và làm chứng cho Đấng Christ. Tôi chỉ dâng mình để mưu cầu lẽ thật và hoàn thành sự ủy thác của Đức Chúa Trời. Đời này có thể đi theo và làm chứng cho Đấng Christ khiến lòng tôi vô cùng tự hào. Ngay cả khi không thể nhìn thấy ngày vương quốc thành hiện thực, hôm nay tôi có thể làm chứng và hạ nhục Sa-tan là đủ rồi. Trong bách hại và hoạn nạn có Đức Chúa Trời ở cùng, Ngài là hậu thuẫn của tôi. Có lẽ sự sống tôi sẽ tan biến như pháo hoa thoáng qua, nhưng được tử vì đạo cho Đức Chúa Trời cũng là mang một lời chứng vang dội. Tôi đã dâng hiến sức mọn của mình cho việc mở rộng của phúc âm vương quốc. Tôi không oán trách, không hối tiếc. Có thể làm chứng cho Đức Chúa Trời thì đời này tôi không sống uổng phí. Đây là sự ấn định của Đức Chúa Trời, và tôi dâng lên Ngài lời ngợi khen và cảm tạ.
Lời Đức Chúa Trời lan khắp thế gian; vương quốc của Đấng Christ đã xuất hiện nơi nhân gian. Trong thảm họa, Đức Chúa Trời đã tạo thành một nhóm người đắc thắng, tất cả đều đang làm chứng cho Ngài. Bóng tối sắp qua đi, và bình minh của sự công chính đã xuất hiện. Đức Chúa Trời đã đánh bại Sa-tan, con rồng lớn sắc đỏ. Ngợi khen Đức Chúa Trời, Đấng đã đạt được vinh hiển!
– Theo Chiên Con và hát những bài ca mới
Nghe xong bài thánh ca này, lòng tôi vô cùng cảm động và được khích lệ rất nhiều. Dù cho tôi có bị bắt bớ và bách hại vì chăm tưới người mới ở hai ngôi làng này, và bị bắt bớ bách hại đến chết trước khi nhìn thấy ngày Đức Chúa Trời được vinh hiển, tôi cũng sẽ không hối hận. Hôm nay, tôi thật vinh dự khi có thể tiếp nhận công tác thời kỳ sau rốt của Đức Chúa Trời và loan truyền phúc âm vương quốc của Ngài. Nhận ra điều này, tôi càng có thêm đức tin để trải nghiệm hoàn cảnh này.
Viên bí thư đó biết chúng tôi nhóm họp lúc 6 giờ mỗi sáng, nên ông ta đốt lửa trong sân nhà mình từ lúc 5 giờ để đợi chúng tôi. Khi tôi đi xe máy ngang qua nhà ông ta, tôi sẽ tắt đèn hoặc tắt máy rồi lẳng lặng dắt bộ qua, vì sợ bị ông ta nhìn thấy. Chúng tôi không dám bật đèn pin khi lên núi, và đôi khi, trời mưa, chúng tôi sẽ nhóm họp tại những ngôi nhà hẻo lánh của các anh chị em trong làng. Để không bị phát hiện, khi nhóm họp xong, một số anh chị em sẽ gánh củi về nhà, một số khác thì lùa bò về, còn một số thì hái rau dại mang về. Mặc dù viên bí thư đó đốt lửa trong sân nhà mình để đợi chúng tôi, nhưng ông ta chưa một lần nào phát hiện ra tôi. Tôi biết rằng tất cả những điều này đều nằm trong tay Đức Chúa Trời, và chính Ngài đã che mắt ông ta. Nếu Đức Chúa Trời không cho phép nguy hiểm xảy đến, ông ta sẽ không phát hiện ra chúng tôi. Trải nghiệm hoàn cảnh như vậy đã giúp tôi có được chút hiểu biết về sự toàn năng và tể trị của Đức Chúa Trời. Sau đó, người dân ở hai ngôi làng này, ngoại trừ viên bí thư đó, vợ ông ta và một vài người có nhân tính xấu, tất cả đều đã tiếp nhận công tác thời kỳ sau rốt của Đức Chúa Trời Toàn Năng. Ngay cả em trai, em gái, em dâu và bố vợ của viên bí thư đó cũng đều đã tiếp nhận. Cuối cùng, chúng tôi đã thông qua họ để rao truyền phúc âm cho người dân ở một ngôi làng khác, và lúc đó, khoảng bảy mươi đến tám mươi người đã tiếp nhận công tác của Đức Chúa Trời. Bất kể viên bí thư đó bách hại chúng tôi thế nào, những người mới này vẫn tích cực đến nhóm họp, và số người mới tiếp tục tăng lên. Đây thực sự là kết quả của công tác của Đức Thánh Linh. Tôi thấy rằng dù Sa-tan có dùng phương pháp nào đi nữa, nó cũng không thể cản trở sự mở rộng của công tác phúc âm.
Trong suốt thời gian này, mặc dù tôi phải chịu một số khổ cực về thể xác, và cũng trải qua sự bách hại của chính quyền và sự nhiễu loạn từ chồng, lúc đó cảm thấy khá đau khổ, nhưng tôi đã thu hoạch được rất nhiều. Tạ ơn Đức Chúa Trời!