57. Tôi đã buông bỏ cảm giác mắc nợ con trai

Bởi Tô Lệ, Trung Quốc

Từ nhỏ, tôi đã rất khâm phục mẹ mình. Vì anh chị em chúng tôi, mẹ đã phải chịu biết bao khổ cực. Mỗi khi tỉnh giấc nửa đêm, tôi lại thấy mẹ ngồi dưới ngọn đèn dầu nhỏ may áo bông cho chúng tôi, vậy mà ngày hôm sau, mẹ vẫn phải lên nương làm rẫy. Để lo cho cả gia đình, mẹ đã làm việc đến sinh bệnh. Cha tôi là người không có trách nhiệm cho lắm, đến khi anh trai tôi tới tuổi lập gia đình, một tay mẹ tôi đã lo liệu tất cả. Dân làng ai cũng khen mẹ tôi là người vợ, người mẹ tốt. Trong lòng tôi, mẹ chính là tấm gương, tôi cảm thấy như vậy mới là một người mẹ đạt tiêu chuẩn. Sau khi kết hôn, tôi cũng giống hệt như mẹ, mọi việc đều đặt chồng con lên hàng đầu, tôi cảm thấy chỉ cần họ được sống thoải mái, thì bản thân mình chịu bao nhiêu cực khổ cũng đáng. Mùa đông, tôi luôn dậy sớm nhóm bếp nấu cơm, đợi nhà cửa ấm áp rồi mới gọi chồng con dậy ăn sáng. Nhìn họ được chăm sóc chu đáo, tôi cảm thấy rất mãn nguyện. Mẹ chồng và chị dâu cũng khen tôi là người vợ tốt, và tôi cũng cảm thấy đây là điều một người phụ nữ nên làm. Không ngờ sau này, chồng tôi đột nhiên lâm bệnh qua đời, gánh nặng cả gia đình đổ dồn lên vai tôi. Tôi tự nhủ: “Mình nhất định phải lo cho các con ăn học thành tài, thành gia lập thất”. Thế là tôi bắt đầu buôn bán nhỏ ở chợ để lo cho hai con ăn học.

Năm 1999, tôi đã tiếp nhận công tác thời kỳ sau rốt của Đức Chúa Trời Toàn Năng. Qua việc đọc lời Đức Chúa Trời, tôi đã hiểu ra nhiều lẽ thật, cũng như vượt qua được nỗi đau mất chồng. Sau đó, tôi đã cố gắng hết sức để thực hiện bổn phận trong hội thánh. Năm 2003, vì bị một kẻ ác bán đứng nên cảnh sát địa phương đã đến nhà bắt tôi. May mắn là lúc đó tôi không có ở nhà nên đã thoát được kiếp nạn này. Để trốn tránh sự truy bắt của ĐCSTQ, tôi đành phải rời nhà đi thực hiện bổn phận. Nghĩ đến việc phải xa các con, lòng tôi đau như cắt. Chồng tôi mất sớm, nếu tôi cũng đi rồi thì hai đứa con phải làm sao? Con trai tôi đã 18 tuổi, sắp đến tuổi cưới vợ, tôi mà đi rồi thì ai sẽ lo cho nó thành gia lập thất đây? Nhưng nếu không đi, tôi có thể bị bắt bất cứ lúc nào, đến lúc đó thì cũng chẳng thể chăm lo cho chúng được nữa. Con gái tôi cũng nói: “Mẹ ơi, con thà để mẹ rời xa chúng con còn hơn là thấy mẹ bị bắt”. Nhìn đứa con gái hiểu chuyện, lòng tôi càng thêm đau xót, cuối cùng tôi đã nuốt nước mắt rời nhà ra đi. Tuy đã rời nhà, nhưng lòng tôi lúc nào cũng nhung nhớ hai con, tôi tự hỏi: “Không biết các con sống có tốt không? Có đủ tiền tiêu không? Có tìm được việc làm không? Ai sẽ lo chuyện cưới xin cho con trai mình đây? Liệu các con có oán hận, nói mình bỏ rơi các con không?”. Mỗi lần nghĩ đến những điều này, lòng tôi lại đau nhói. Tôi cảm thấy mình chưa làm tròn trách nhiệm của một người mẹ, thấy mình thật có lỗi với các con. Tôi rất muốn quay về chăm sóc các con, nhưng lại sợ bị bắt. Lòng tôi vô cùng dằn vặt. Lúc đó, tôi đọc một đoạn lời của Đức Chúa Trời: “Ai thực sự có thể trọn vẹn dâng mình cho Ta và dâng hiến mọi thứ của họ vì Ta? Hết thảy các ngươi chỉ nửa vời; suy nghĩ của ngươi cứ luẩn quẩn, nghĩ về gia đình, về thế giới bên ngoài, về thức ăn và quần áo. Mặc dù thực tế là ngươi đang ở trước Ta mà làm việc cho Ta, nhưng trong lòng ngươi vẫn nghĩ về vợ con và cha mẹ ngươi ở nhà. Họ là tài sản của ngươi sao? Tại sao ngươi không giao phó họ vào tay Ta? Ngươi không tin Ta sao? Hay vì rằng ngươi sợ Ta sẽ sắp xếp những điều không phù hợp cho ngươi?(Những lời phán của Đấng Christ buổi ban đầu – Chương 59, Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). Đọc xong lời Đức Chúa Trời, lòng tôi cảm thấy sáng tỏ hơn nhiều. Giao các con cho Đức Chúa Trời chẳng phải tốt hơn là tự mình chăm sóc sao? Mọi sự đều nằm trong sự tể trị của Đức Chúa Trời, hai đứa con của tôi sống có tốt hay không cũng nằm trong tay Đức Chúa Trời. Nghĩ đến đây, tôi không còn buồn phiền nữa.

Thời gian xa nhà ngày một dài, con trai tôi cũng đã ngoài hai mươi, đến tuổi lập gia đình, tôi lại lo không biết nó có lấy được vợ không. Các con tôi đã mất cha, nay lại không có mẹ ở bên chăm sóc, tôi cảm thấy rất có lỗi với chúng. Năm 2007, khi đang là lãnh đạo tiểu khu, tôi đã bị cách chức vì không có gánh nặng trong bổn phận. Nghe tin các con đã đến thành phố nơi anh chị em tôi ở để làm việc, tôi bèn quay về ở cùng các con. Khi con trai nhìn thấy tôi, nó tỏ ra rất lạnh lùng, không thèm nói chuyện. Nó nói tôi chỉ lo tin Đức Chúa Trời mà bỏ rơi anh em nó. Tôi cảm thấy rất tự trách, và thấy nó oán hận mình cũng là phải. Các em tôi cũng đến thăm. Em trai tôi mắng tôi: “Bao năm nay chị đi vắng, các con của chị đã phải chịu khổ nhiều rồi. Lần này về thì đừng đi nữa. Các cháu lớn cả rồi, chị phải mau lo cho con trai chị lấy vợ đi, đó mới là chuyện quan trọng”. Em gái tôi nói: “Mấy năm chị đi vắng, chúng em vẫn luôn lo cho con trai chị, còn giúp nó tìm việc làm nữa”. Nghe vậy, lòng tôi càng thêm tự trách và đau lòng. Tôi cảm thấy mình không phải là một người mẹ tốt, chưa làm tròn trách nhiệm của mình. Con trai tôi mới mười bảy, mười tám tuổi đã phải tự bươn chải kiếm sống, còn con gái tôi tuy nhỏ bé, gầy gò nhưng cũng phải làm việc nặng nhọc. Nếu tôi ở nhà, các con đã không phải đi làm sớm như thế. Để bù đắp cho các con, tôi cố gắng hết sức nấu những món các con thích ăn, giặt giũ quần áo, hễ làm được gì cho các con là tôi đều cố gắng hết sức mà làm. Để dành tiền cho con trai cưới vợ, tôi nhận đồ về nhà may gia công. Tôi làm việc buổi tối, đến sáng thì đi giao hàng, để ban ngày vẫn có thể chăm tưới người mới, đi nhóm họp và thực hiện bổn phận mà không bị gián đoạn. Năm 2008, tôi được bầu làm lãnh đạo hội thánh, nhưng lúc đó, tôi cảm thấy rất phân vân. Tôi biết mình nên quan tâm đến tâm ý của Đức Chúa Trời và thuận phục, nhưng tôi lại lo làm lãnh đạo sẽ tốn quá nhiều thời gian, không còn lúc nào để kiếm tiền, mà không tiền không nhà thì ai chịu lấy con trai mình? Chồng tôi mất sớm, nên với tư cách là một người mẹ, tôi càng phải làm tròn trách nhiệm của mình hơn. Nếu tôi không giúp con trai dành dụm tiền, nó sẽ không thể lấy vợ – vậy chẳng phải người khác sẽ nói tôi là một người mẹ vô trách nhiệm sao? Nghĩ đến đây, tôi đã từ chối bổn phận lãnh đạo và tiếp tục chăm tưới người mới.

Chớp mắt đã đến năm 2010. Con trai tôi lúc này đã 25 tuổi, bạn bè cùng trang lứa đều đã lập gia đình, nhưng nó thì vẫn chưa. Tôi rất sốt ruột. Mặc dù vừa thực hiện bổn phận vừa đi làm kiếm tiền, nhưng số tiền tôi dành dụm cho nó cưới vợ vẫn còn thiếu rất nhiều. Để dành dụm được nhiều hơn, tôi nhận thêm nhiều việc. Khi ngày càng có nhiều người mới tiếp nhận công tác của Đức Chúa Trời, ban ngày tôi làm bổn phận, đêm lại thức khuya làm việc, thành ra tôi không còn bao nhiêu thời gian và tâm trí để chăm tưới người mới nữa. Tôi hiếm khi suy xét xem phải thông công thế nào để giúp họ bén rễ trên con đường thật, và cũng chẳng có gánh nặng trong việc giải quyết những khó khăn hay vấn đề của họ. Vì 5 giờ chiều mới bắt đầu làm, nên có khi tôi làm đến nửa đêm, thậm chí 1 giờ sáng, rồi 4 giờ sáng lại phải đi giao hàng. Hôm sau khi làm bổn phận, đầu óc tôi cứ mụ mị, quay cuồng. Một thời gian sau, vài người mới do tôi chăm tưới thậm chí không đi nhóm họp đều đặn nữa. Vì cứ mãi không có gánh nặng trong bổn phận, cuối cùng tôi đã bị cách chức. Lòng tôi vô cùng buồn bã. Nghĩ lại việc trước đây mình từng từ chối bổn phận lãnh đạo, giờ đến việc chăm tưới người mới cũng làm không tốt, tôi thấy hổ thẹn đến mức chẳng còn mặt mũi nào để cầu nguyện nữa. Dù bây giờ không còn bổn phận, có thể làm việc toàn thời gian để kiếm tiền cho con trai, nhưng lòng tôi lại thấy tăm tối, một cảm giác rất khó tả.

Trong thời gian đó, tôi vừa làm việc vừa nghe thánh ca. Có một bài thánh ca lời Đức Chúa Trời mang tên “Thời Gian Đã Mất Sẽ Không Bao Giờ Trở Lại”, trong đó có đoạn: “Hãy tỉnh thức! Hãy tỉnh thức! Thời gian đã mất sẽ không bao giờ trở lại nữa – hãy nhớ điều này! Không có thuốc nào trên đời chữa được sự hối tiếc! Thế nên, Ta phải nói sao với các ngươi đây? Lời Ta không xứng đáng để các ngươi cân nhắc cẩn thận, lặp đi lặp lại à?(Những lời phán của Đấng Christ buổi ban đầu – Chương 30, Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). Lời Đức Chúa Trời thực sự đã chạm đến trái tim tôi. Đức Chúa Trời đã phán rất nhiều và rất tha thiết, vậy tại sao tôi vẫn cứ cương ngạnh và không chịu quay đầu? Trong lòng, tôi đã cầu nguyện với Đức Chúa Trời, xin Ngài dẫn dắt tôi thoát khỏi tình trạng này. Tôi không ngừng tự hỏi: “Chẳng lẽ mình phải từ bỏ việc mưu cầu lẽ thật chỉ để kiếm tiền cho con trai cưới vợ sao?”. Tôi nghĩ đến một vài lời của Đức Chúa Trời: “Cuộc đời của ngươi sẽ trôi đi mà ngươi không hề nhận ra; rồi liệu ngươi sẽ còn có cơ hội như thế để yêu kính Đức Chúa Trời không?” “Nếu trong đời ngươi không chịu khổ vì lẽ thật và không cố tìm cách đạt được nó, có lẽ nào ngươi lại muốn cảm thấy hối tiếc vào lúc lâm chung? Nếu thế ngươi tin vào Đức Chúa Trời để làm gì?” Sau đó, tôi tìm hai đoạn lời này của Đức Chúa Trời để đọc. Đức Chúa Trời phán: “Với những ai có ý chí và yêu kính Đức Chúa Trời, không có lẽ thật nào mà không thể có được, không có chính nghĩa nào mà không thể trụ vững. Ngươi nên sống đời mình như thế nào? Ngươi nên yêu kính Đức Chúa Trời, và sử dụng tình yêu này để thỏa mãn tâm ý của Ngài như thế nào? Chẳng có điều gì lớn lao hơn thế trong cuộc đời ngươi. Trên hết, ngươi phải có ý chí và nghị lực này, và đừng giống như những kẻ yếu đuối, nhu nhược. Ngươi phải học cách trải nghiệm một cuộc đời có ý nghĩa, và trải nghiệm những lẽ thật có ý nghĩa, và đừng qua loa với bản thân như vậy. Cuộc đời của ngươi sẽ trôi đi mà ngươi không hề nhận ra; rồi liệu ngươi sẽ còn có cơ hội như thế để yêu kính Đức Chúa Trời không? Sau khi chết, con người còn có thể yêu kính Đức Chúa Trời được không? Ngươi phải có ý chí và lương tâm như Phi-e-rơ; cuộc sống của ngươi phải có ý nghĩa và ngươi đừng đùa giỡn với chính bản thân mình. Là một con người, và là người mưu cầu Đức Chúa Trời, ngươi phải có khả năng cân nhắc và đối xử với cuộc đời của mình một cách cẩn thận – cân nhắc cách ngươi nên dâng mình cho Đức Chúa Trời, cách ngươi nên có đức tin ý nghĩa hơn vào Đức Chúa Trời, và vì ngươi yêu kính Đức Chúa Trời, ngươi phải yêu kính Ngài như thế nào sao cho thuần khiết hơn, đẹp hơn, và tốt hơn. … Ngươi đừng vứt bỏ lẽ thật để hưởng thụ gia đình hòa thuận, và ngươi không được mất đi một đời tôn nghiêm và nhân cách vì sự hưởng thụ nhất thời. Ngươi nên theo đuổi tất cả những gì đẹp đẽ và tốt lành, và nên theo đuổi con đường nhân sinh có ý nghĩa hơn. Nếu ngươi sống một cuộc đời dung tục như vậy và chẳng hề có mục tiêu mưu cầu nào, chẳng phải ngươi đang lãng phí cuộc đời mình sao? Ngươi có được gì từ việc sống như vậy? Ngươi nên từ bỏ tất cả những sự hưởng thụ xác thịt để có được một lẽ thật, và đừng nên vứt bỏ tất cả lẽ thật chỉ vì một chút hưởng thụ. Những người như vậy không có nhân cách hay tôn nghiêm; chẳng có ý nghĩa gì cho sự tồn tại của họ!(Trải nghiệm của Phi-e-rơ: Nhận thức của ông về hình phạt và sự phán xét, Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). “Trên con đường này, nhiều người có thể nói ra nhiều nhận thức, nhưng đến lúc chết, thì nước mắt chảy rưng rưng, hận mình đã sống uổng phí một đời, sống đến trăm tuổi một cách vô nghĩa. Họ chỉ hiểu đạo lý mà không thể đưa lẽ thật vào thực hành hay làm chứng cho Đức Chúa Trời; thay vào đó, chỉ chạy đông chạy tây bên ngoài, bận rộn như một con ong, và chỉ khi ở trên bờ vực cái chết họ mới nhận ra rằng mình thiếu những chứng ngôn chân thật, rằng họ chẳng hề biết gì về Đức Chúa Trời. Thế có phải đã trễ quá rồi không? Tại sao không nắm lấy ngày hôm nay mà mưu cầu lẽ thật ngươi yêu thích? Tại sao phải đợi tới ngày mai? Nếu trong đời ngươi không chịu khổ vì lẽ thật và không cố tìm cách đạt được nó, có lẽ nào ngươi lại muốn cảm thấy hối tiếc vào lúc lâm chung? Nếu thế ngươi tin vào Đức Chúa Trời để làm gì?(Ngươi phải sống vì lẽ thật khi ngươi tin ở Đức Chúa Trời, Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). Giai đoạn công tác này của Đức Chúa Trời là công tác cuối cùng để cứu rỗi nhân loại. Tôi đã may mắn theo kịp, nhưng lại không biết trân trọng, đợi đến ngày công tác của Đức Chúa Trời kết thúc, nếu lúc đó tôi muốn làm tốt bổn phận thì cũng không còn cơ hội nữa, vậy chẳng phải cuối cùng tôi vẫn sẽ bị đào thải sao? Lời Đức Chúa Trời phán rất rõ ràng. Tin Đức Chúa Trời, mưu cầu lẽ thật và đạt được lẽ thật là điều vĩ đại nhất, và cũng là điều ý nghĩa nhất trong đời. Nhưng tôi lại thoái thác bổn phận lãnh đạo vì muốn làm một người mẹ tốt, vì sợ rằng việc làm bổn phận lãnh đạo sẽ trì hoãn việc kiếm tiền cho con trai. Những người mới vừa tiếp nhận công tác của Đức Chúa Trời có rất nhiều quan niệm cần được thông công và giải quyết, nhưng tôi lại chỉ nghĩ đến việc làm thế nào để bù đắp cho con trai. Tôi không muốn dành thêm thời gian để giải quyết vấn đề của người mới, và chỉ làm cho có lệ trong các buổi nhóm họp. Điều này đã dẫn đến việc người mới không đi nhóm họp đều đặn. Tôi đã hưởng thụ biết bao sự chăm tưới và cung ứng từ lời Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời cũng đã cho tôi cơ hội được cứu rỗi – nhưng tôi đã báo đáp lại Đức Chúa Trời điều gì? Ngoài việc từ chối bổn phận, tôi còn qua loa và vô trách nhiệm nữa. Như vậy thì tôi còn chút nhân tính nào chứ! Bây giờ ngay cả bổn phận duy nhất mà tôi có cũng đã mất, sống như thế này thì còn có ý nghĩa gì nữa? Cứ sống như thế này – vừa thực hiện bổn phận vừa cố gắng làm hài lòng con cái, không trung thành với bổn phận và muốn vẹn cả đôi đường – cuối cùng, tôi sẽ đạt được gì? Công tác của Đức Chúa Trời không chờ đợi một ai, nếu bây giờ tôi không mưu cầu thì sẽ không còn cơ hội nữa. Tôi phải gạt bỏ tình cảm sang một bên và mưu cầu lẽ thật. Không lâu sau, tôi lại tiếp tục thực hiện bổn phận.

Năm 2011, tôi được chọn làm chấp sự chăm tưới. Lúc đó, tôi vẫn cảm thấy có chút phân vân. Làm chấp sự chăm tưới là một trách nhiệm lớn, và tôi sẽ có ít thời gian hơn để kiếm tiền cho con trai. Tuy nhiên, tôi cũng nghĩ lại mấy năm qua mình đã liều mạng kiếm tiền cho con trai cưới vợ – tôi không có gánh nặng cho bổn phận, đã làm trì hoãn công tác của hội thánh, và sự sống của chính mình cũng bị tổn thất – vậy mà hội thánh vẫn sắp đặt cho tôi làm một bổn phận quan trọng như vậy. Tôi không thể phản nghịch Đức Chúa Trời thêm nữa, và phải cố gắng làm hết khả năng của mình. Vì vậy, tôi đã tiếp nhận. Nhưng trong lòng, tôi vẫn lo rằng con trai mình có thể không lấy được vợ vì nhà không có tiền. Năm 2014, tôi đọc một đoạn lời của Đức Chúa Trời, đoạn lời này đã giúp tôi phần nào buông bỏ được nỗi lo đó. Đức Chúa Trời Toàn Năng phán: “Khi con người đến tuổi trưởng thành, họ có thể rời cha mẹ mình và tự dấn bước vào đời, và chính tại thời điểm này con người thực sự bắt đầu đóng vai của chính mình, sương mù tan đi và sứ mệnh cuộc đời của con người dần dần trở nên rõ ràng. Trên danh nghĩa, con người vẫn gắn bó chặt chẽ với cha mẹ của mình, nhưng bởi vì sứ mệnh của con người và vai trò của họ trong cuộc đời không liên quan gì đến cha mẹ họ, trong thực chất sự gắn bó mật thiết này dần bị rạn nứt khi con người dần dần trở nên độc lập. Từ góc độ sinh học, con người không thể không còn phụ thuộc vào cha mẹ theo những cách trong tiềm thức, nhưng sự thật khách quan, một khi họ đã đủ lớn, họ có cuộc sống hoàn toàn tách khỏi cha mẹ mình và sẽ thực hiện các vai trò mà họ đảm nhận một cách độc lập. Ngoài việc sinh con và nuôi dạy chúng, trách nhiệm mà cha mẹ gánh vác trong cuộc đời một người chỉ là cung cấp theo hình thức cho chúng một môi trường để lớn lên, và chỉ có vậy, bởi vì chỉ có sự tiền định của Đấng Tạo Hóa mới có ảnh hưởng đến số phận của bất kỳ người nào. Tương lai của một người sẽ ra sao không phải là điều có thể bị bất kỳ người nào kiểm soát; nó đã được tiền định từ rất lâu, và ngay cả cha mẹ của một người cũng không thể thay đổi số phận của họ. Xét về phương diện số phận, mọi người đều độc lập, và mọi người đều có số phận của riêng mình. Vì vậy, không cha mẹ nào có thể cản trở chút gì trong số phận một đời của con mình, cũng không cha mẹ nào có thể thúc đẩy thêm chút gì vai trò mà con mình đảm nhận trong cuộc đời. Có thể nói rằng gia đình mà con người được định sẵn để sinh ra và môi trường con người lớn lên không gì khác hơn là những tiền đề cho việc hoàn thành sứ mệnh của họ trong đời. Chúng không quyết định chút nào số phận của một người trong cuộc đời hoặc kiểu vận mệnh mà trong đó con người sẽ hoàn thành sứ mệnh của mình. Và vì thế, không cha mẹ nào có thể giúp con mình hoàn thành sứ mệnh của chúng trong cuộc đời, và tương tự, không người thân nào có thể giúp một người đảm nhận tốt vai trò của người đó trong cuộc đời. Một người hoàn thành sứ mệnh của mình như thế nào và trong loại môi trường nào, một người thực hiện vai trò của mình hoàn toàn được quyết định bởi số phận của người đó trong cuộc đời. Nói cách khác, không có điều kiện khách quan nào có thể ảnh hưởng đến sứ mệnh của một con người, điều được định trước bởi Đấng Tạo Hóa. Tất cả mọi người đều trở nên trưởng thành trong những môi trường cụ thể mà họ lớn lên; sau đó dần dần, từng bước một, họ bắt đầu khởi hành trên con đường riêng của mình trong cuộc đời và hoàn thành những vận mệnh mà Đấng Tạo Hóa đã vạch ra cho họ. Đương nhiên, một cách vô tình, họ bước vào biển người rộng lớn và đảm nhận những vị trí của riêng mình trong cuộc đời, nơi họ bắt đầu thực hiện chức trách của mình như những loài thọ tạo vì sự định trước của Đấng Tạo Hóa, vì sự tể trị của Ngài(Chính Đức Chúa Trời, Đấng độc nhất III, Lời, Quyển 2 – Về việc biết Đức Chúa Trời). Lời Đức Chúa Trời khiến lòng tôi vô cùng sáng tỏ. Tôi hiểu ra rằng trách nhiệm của mình chỉ là sinh các con ra, cho các con một môi trường để khôn lớn, và nuôi dưỡng các con trưởng thành. Nhưng khi các con đã trưởng thành, chúng không còn liên hệ gì với cha mẹ nữa. Mỗi chúng ta đều có sứ mạng của riêng mình. Tôi là một loài thọ tạo, và nghĩa vụ của tôi là làm tốt bổn phận của một loài thọ tạo, chứ không phải lúc nào cũng sống vì con cái. Suốt những năm qua, tôi đã vất vả kiếm tiền để xóa đi cảm giác mắc nợ con trai, hy vọng giúp nó thành gia lập thất, cảm thấy chỉ có làm vậy mới bù đắp được cho nó. Để kiếm tiền, tôi thậm chí đã từ chối bổn phận lãnh đạo và vô trách nhiệm trong việc chăm tưới người mới. Điều này đã dẫn đến tổn thất trong lối vào sự sống của tôi và trong công tác của hội thánh. Giờ tôi đã hiểu, việc con trai tôi có lấy được vợ hay không chẳng phụ thuộc vào tôi. Việc kiếm tiền mua xe hay mua nhà cho nó cũng chẳng bảo đảm được điều gì, bởi hôn nhân của con trai tôi đã được Đức Chúa Trời tiền định cả rồi. Tôi không thể thay đổi được điều này. Tôi nghĩ đến một người hàng xóm: cả hai vợ chồng đều bị tàn tật, không có nhà cũng không có xe, vậy mà con trai họ đã cưới vợ và lập gia đình từ rất sớm. Tôi cũng có một người họ hàng, gia đình có hàng triệu tệ tiền tiết kiệm, có cả xe lẫn nhà, nhưng con của họ đã hơn 30 tuổi mà vẫn chưa kết hôn. Qua việc này, tôi nhận ra rằng hôn nhân không do tiền tài quyết định, và mọi sự đều nằm trong tay Đức Chúa Trời. Hiểu ra điều này khiến lòng tôi nhẹ nhõm hơn hẳn, tôi quyết định sẽ làm bổn phận của mình cho đàng hoàng, hoàn toàn phó thác chuyện hôn nhân của con trai cho Đức Chúa Trời, thuận phục sự tể trị và sắp đặt của Ngài.

Năm 2017, con trai tôi kết hôn và về ở rể. Con dâu tôi không đòi hỏi sính lễ hay đưa ra bất kỳ yêu cầu gì. Tôi chỉ cho hai đứa 30.000 tệ, và cũng không tổ chức lễ cưới chính thức. Họ hàng, bạn bè chỉ quây quần ăn một bữa cơm, hôn lễ diễn ra hết sức giản dị. Đáng lẽ tôi phải vui, nhưng trong lòng vẫn có một cảm giác áy náy, thấy mình đã không tổ chức được một đám cưới đàng hoàng cho con trai, chỉ cho một số tiền ít ỏi và chưa làm tròn trách nhiệm của một người mẹ, điều này khiến tôi vô cùng tiếc nuối. Năm 2019, con dâu tôi mang thai và nhờ tôi chăm sóc. Lúc đó, tôi đang phụ trách công tác văn tự của một vài hội thánh, nên nếu tôi đi chăm sóc con dâu, sẽ làm trì hoãn bổn phận của mình. Nhưng rồi tôi lại nghĩ, bao năm qua mình đã không lo liệu được gì nhiều cho con. Bây giờ con trai tôi phải ra ngoài làm việc kiếm tiền, nên tôi thấy việc chăm sóc con dâu đang mang thai là điều mình nên làm. Nếu lần này tôi không thể giúp con san sẻ gánh nặng, tôi sẽ có lỗi với con lắm. Vậy chẳng phải họ hàng sẽ nói tôi là một người mẹ vô trách nhiệm sao? Lòng tôi chẳng thể tĩnh lặng được, tôi không thể đặt tâm trí vào bổn phận, dẫn đến hiệu quả thực hiện bổn phận có phần sa sút. Người phụ trách biết được chuyện này và sau đó đã tìm cho tôi một vài đoạn lời Đức Chúa Trời liên quan đến tình trạng của tôi. Đức Chúa Trời Toàn Năng phán: “Con người sống trong xã hội hiện thực này đều bị Sa-tan làm bại hoại sâu sắc. Bất kể người ta có học vấn hay không, rất nhiều thứ trong văn hóa truyền thống đã thâm căn cố đế trong tư tưởng, quan điểm của họ. Nhất là yêu cầu của văn hóa truyền thống rằng phụ nữ thì phải chăm chồng, nuôi con, là người vợ tốt, mẹ hiền, hy sinh cả cuộc đời vì chồng con, sống vì chồng con, đảm bảo cơm ngon canh ngọt ba bữa mỗi ngày, và đảm đang việc giặt giũ, dọn dẹp cùng mọi công việc nội trợ khác. Đây là tiêu chuẩn được công nhận của một người vợ tốt, mẹ hiền. Phụ nữ ai cũng cho rằng nên làm như vậy, nếu không thì họ không phải là người phụ nữ tốt, và đã làm trái lương tâm cũng như tiêu chuẩn đạo đức. Việc làm trái những tiêu chuẩn đạo đức này sẽ đè nặng lên lương tâm của một số người; họ sẽ cảm thấy mình đã khiến chồng con thất vọng, mình không phải là người phụ nữ tốt. Nhưng sau khi ngươi tin Đức Chúa Trời, đọc nhiều lời Ngài, hiểu một số lẽ thật và nhìn thấu một số vấn đề, ngươi sẽ suy nghĩ: ‘Mình là một con người thọ tạo, mình nên thực hiện bổn phận của con người thọ tạo, nên dâng mình cho Đức Chúa Trời’. Lúc này sẽ có sự mâu thuẫn giữa việc làm người vợ tốt, mẹ hiền và việc thực hiện bổn phận của con người thọ tạo, phải không? Nếu muốn làm người vợ tốt, mẹ hiền, thì ngươi không thể thực hiện bổn phận toàn thời gian được, nhưng nếu muốn thực hiện bổn phận toàn thời gian, thì ngươi không thể làm người vợ tốt, mẹ hiền. Ngươi làm gì bây giờ? Nếu chọn làm tốt bổn phận của mình và chịu trách nhiệm về công tác của hội thánh, tận tụy với Đức Chúa Trời, thì ngươi phải từ bỏ việc làm người vợ tốt, mẹ hiền. Bây giờ ngươi nghĩ sao? Trong tư tưởng của ngươi sẽ diễn ra kiểu đấu tranh nào? Có phải ngươi sẽ cảm thấy mình đã làm chồng con thất vọng không? Cảm giác tội lỗi và bất an này phát xuất từ đâu? Khi ngươi không thực hiện bổn phận của con người thọ tạo, ngươi có cảm thấy mình đã làm Đức Chúa Trời thất vọng không? Ngươi không có cảm giác tội lỗi hoặc tự trách mình bởi vì trong lòng và tư tưởng ngươi không hề có một chút lẽ thật nào. Vậy ngươi hiểu điều gì? Hiểu về văn hóa truyền thống và việc làm người vợ tốt, mẹ hiền. Vì thế, trong tư tưởng ngươi mới nảy sinh quan niệm ‘Nếu tôi không phải là người vợ tốt, mẹ hiền, thì tôi không phải là người phụ nữ tốt hoặc đứng đắn’. Từ đó trở đi, ngươi sẽ bị ràng buộc và trói buộc bởi quan niệm này, ngay cả sau khi tin Đức Chúa Trời và thực hiện bổn phận của mình, ngươi vẫn bị những kiểu quan niệm này ràng buộc và trói buộc. Khi có sự mâu thuẫn giữa việc thực hiện bổn phận của ngươi và việc làm người vợ tốt, mẹ hiền, dù ngươi có thể miễn cưỡng chọn thực hiện bổn phận, hoặc giả có một chút lòng tận tụy với Đức Chúa Trời, nhưng trong lòng ngươi vẫn phần nào bất an và có chút cảm giác tự trách. Thế là khi có chút thời gian rảnh trong lúc thực hiện bổn phận, ngươi sẽ tìm cơ hội để chăm sóc chồng con, mong bù đắp cho họ nhiều hơn nữa, và nghĩ rằng dù mình có phải chịu khổ nhiều hơn, chỉ cần trong lòng cảm thấy bình an là được. Chẳng phải đó là do ảnh hưởng từ những tư tưởng, lý luận của văn hóa truyền thống về việc làm người vợ tốt, mẹ hiền sao?(Nhận thức được quan điểm sai lầm của mình thì mới có thể thật sự thay đổi, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt). “Sa-tan sử dụng loại văn hóa và quan niệm truyền thống về đạo đức này để ràng buộc những suy nghĩ của ngươi, tâm tư ngươi, và tâm linh ngươi, khiến ngươi không thể tiếp nhận lời Đức Chúa Trời; ngươi đã bị những điều này của Sa-tan chiếm hữu, và không có khả năng tiếp nhận lời Đức Chúa Trời. Nếu ngươi muốn thực hành lời Đức Chúa Trời thì những điều này cũng sẽ gây nhiễu loạn trong ngươi, khiến ngươi chống đối lẽ thật và những yêu cầu của Đức Chúa Trời, và khiến ngươi bất lực không thể thoát khỏi cái ách của văn hóa truyền thống. Sau một thời gian tranh đấu, ngươi thỏa hiệp: ngươi chọn tin rằng các quan niệm truyền thống về đạo đức là đúng và phù hợp với lẽ thật, và vì vậy ngươi bài trừ hoặc từ bỏ lời Đức Chúa Trời. Ngươi không chấp nhận lời Đức Chúa Trời là lẽ thật và ngươi không nghĩ gì về việc được cứu rỗi, cảm thấy rằng ngươi vẫn sống trên thế giới này và chỉ có thể sinh tồn bằng cách dựa vào những người này. Không thể chịu đựng khiển trách của xã hội, ngươi thà chọn từ bỏ lẽ thật và lời Đức Chúa Trời, buông xuôi bản thân theo quan niệm đạo đức truyền thống và quyền thế của Sa-tan, chọn đắc tội với Đức Chúa Trời và không thực hành lẽ thật. Chẳng phải con người thật đáng thương sao? Chẳng phải họ cần sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời sao?(Nhận thức được quan điểm sai lầm của mình thì mới có thể thật sự thay đổi, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt). Từ lời Đức Chúa Trời, tôi nhận ra rằng quan niệm văn hóa truyền thống về “vợ hiền mẹ tốt” là gông cùm mà Sa-tan dùng để trói buộc phụ nữ, khiến người ta tin rằng một người phụ nữ tốt phải sống vì chồng con, luôn đặt chồng con lên hàng đầu. Chỉ cần làm hài lòng chồng con, thì dù vất vả mệt nhọc đến đâu cũng là điều nên làm, còn nếu không làm được thì sẽ không phải là vợ hiền mẹ tốt, và sẽ bị người đời chê cười. Đây chính là tình trạng của tôi. Từ nhỏ, tôi đã thấy mẹ tôi đầu tắt mặt tối làm việc để gia đình được sống thoải mái, mẹ cũng một tay lo liệu đám cưới cho anh trai tôi. Dân làng ai cũng khen mẹ tôi là người vợ, người mẹ tốt. Bị ảnh hưởng bởi mẹ, sau khi kết hôn, tôi đã chăm sóc chồng con rất chu đáo. Chồng khen tôi là vợ đảm, các con nói tôi là một người mẹ tốt thương yêu chúng. Sau khi chồng qua đời, tôi vừa làm cha vừa làm mẹ, cật lực kiếm tiền cho các con ăn học, dù gian khổ đến đâu tôi cũng một mình gánh chịu. Sau khi tin Đức Chúa Trời, do sự bách hại của ĐCSTQ, tôi buộc phải rời nhà. Mặc dù đang thực hiện bổn phận, nhưng lòng tôi luôn nhung nhớ các con, và sống trong tình trạng cảm thấy mắc nợ các con. Nhất là khi thấy con trai đến tuổi kết hôn mà tôi không thể hỗ trợ tài chính cho con, tôi càng cảm thấy mình không làm tròn trách nhiệm của người mẹ. Sau khi được chọn làm lãnh đạo hội thánh, tôi biết mình nên quan tâm đến tâm ý của Đức Chúa Trời, nhưng lại sợ làm lỡ việc kiếm tiền cho con trai cưới vợ, nên tôi đã từ chối bổn phận này. Ngay cả khi chăm tưới người mới, tâm trí tôi cũng không đặt vào đó, vì mọi sự tập trung đều dồn vào việc kiếm tiền cho con trai, khiến người mới không được chăm tưới kịp thời. Bây giờ, khi đối mặt với việc chăm sóc con dâu, dù tôi chưa đi, nhưng lòng tôi đã rời xa Đức Chúa Trời. Sống trong tình trạng cảm thấy mắc nợ con trai, tôi chẳng còn tâm trí đâu mà thực hiện bổn phận. Điều này làm hiệu quả thực hiện bổn phận của tôi sa sút. Tôi bị trói buộc bởi quan niệm truyền thống về “vợ hiền mẹ tốt”, nên mỗi khi bổn phận xung đột với điều này, tôi luôn nghĩ không thể có lỗi với các con, mà hoàn toàn không quan tâm đến lợi ích của hội thánh. Tôi tin Đức Chúa Trời nhiều năm, được hưởng thụ biết bao sự chăm tưới và cung ứng từ lời Ngài, vậy mà tôi lại làm những việc phản nghịch và chống đối Ngài. Tôi thực sự không có chút nhân tính nào! Giờ tôi đã hiểu, những quan niệm văn hóa truyền thống này là công cụ Sa-tan dùng để trói buộc con người, khiến tôi chỉ sống để giữ cái tiếng thơm làm một người mẹ tốt, và cuối cùng sẽ bị đào thải vì không làm tròn bổn phận của loài thọ tạo. Lời Đức Chúa Trời đã giúp tôi phân định được phần nào những ý đồ nham hiểm của Sa-tan. Tôi không thể bị trói buộc và kìm kẹp bởi văn hóa truyền thống nữa, tôi phải thực hành theo lời Đức Chúa Trời.

Sau đó, tôi đọc thêm lời Đức Chúa Trời và lòng tôi cảm thấy sáng tỏ hơn nhiều. Đức Chúa Trời Toàn Năng phán: “Đức Chúa Trời từng nói: ‘Đức Chúa Trời là nguồn sự sống của con người’, Ngài phán như vậy là có ý gì? Chính là để mỗi một con người đều nhận biết rằng: sự sống và linh hồn của chúng ta đều đến từ Đức Chúa Trời và đều do Ngài tạo ra, chứ không phải đến từ cha mẹ, càng không phải đến từ tự nhiên, mà là do Đức Chúa Trời ban cho chúng ta, chẳng qua là xác thịt của chúng ta được sinh ra nhờ cha mẹ và con cái chúng ta được sinh ra nhờ chúng ta vậy. Tuy nhiên, số phận của họ như thế nào đều do Đức Chúa Trời nắm giữ. Chuyện chúng ta có thể tin Đức Chúa Trời là cơ hội mà Ngài ban cho, do Ngài tiền định và cũng là sự gia ân của Ngài. Do đó, ngươi không buộc phải thực hiện nghĩa vụ hoặc trách nhiệm của mình với bất kỳ con người nào, mà chỉ nên làm bổn phận mà loài thọ tạo nên làm đối với Đức Chúa Trời. Đây là việc con người nên làm nhất. Đây là đại sự hàng đầu và đại sự cả đời mà con người nên hoàn thành nhất trong cuộc đời mình. Nếu không làm tốt bổn phận của mình, ngươi sẽ không phải là một loài thọ tạo đạt tiêu chuẩn. Trong mắt người khác, ngươi có thể là một người vợ tốt, mẹ hiền, một bà nội trợ xứng danh, một người con hiếu thảo, một công dân tốt của xã hội, nhưng trước mặt Đức Chúa Trời, ngươi là một kẻ phản nghịch Ngài, một kẻ tin Ngài mà không làm tốt bổn phận và nghĩa vụ của một loài thọ tạo, một kẻ tin Ngài mà không mưu cầu lẽ thật và không thực sự thuận phục Ngài, bị tỏ lộ và đào thải. Một người như vậy có thể được Đức Chúa Trời khen ngợi không? Những người như vậy là thứ chẳng đáng một xu(Nhận thức được quan điểm sai lầm của mình thì mới có thể thật sự thay đổi, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt). Tôi là một loài thọ tạo, và làm tốt bổn phận là trách nhiệm của tôi. Nếu không thể làm tốt bổn phận của mình, tôi không xứng đáng nhận được sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Ngay cả khi tôi là “vợ hiền mẹ tốt”, điều đó không có nghĩa là tôi đang thực hành lẽ thật, và cũng không được Đức Chúa Trời khen ngợi. Trước đây, tôi vẫn luôn sống theo văn hóa truyền thống, luôn giằng xé giữa việc làm “vợ hiền mẹ tốt” và việc thực hiện bổn phận. Điều này làm tôi kiệt sức cả về thể chất lẫn tinh thần, vô cùng đau khổ. Bây giờ tôi đã hiểu được tâm ý của Đức Chúa Trời. Mọi thứ trong đời người đều đến từ Đức Chúa Trời, tôi không nợ bất cứ ai, món nợ lớn nhất của tôi là với Đức Chúa Trời. Chỉ có mưu cầu lẽ thật và làm tốt bổn phận mới là điều ý nghĩa nhất. Vì vậy, tôi đã cầu nguyện, phó thác con dâu vào tay Đức Chúa Trời, và ưu tiên chọn làm tốt bổn phận của mình. Về sau, tôi biết được con dâu tôi sinh nở mẹ tròn con vuông, con trai và con dâu cũng không trách tôi chuyện không đến chăm sóc hai đứa. Trong lòng tôi thầm tạ ơn Đức Chúa Trời.

Sau đó, tôi đọc một đoạn lời khác của Đức Chúa Trời và hiểu ra chúng ta nên đối xử với con cái đã trưởng thành như thế nào. Đức Chúa Trời Toàn Năng phán: “Với tư cách là một người tin Đức Chúa Trời, nếu ngươi muốn mưu cầu lẽ thật và đạt được sự cứu rỗi, thì sinh lực và thời gian còn lại trong đời ngươi nên được dành cho những bổn phận ngươi thực hiện và những sự ủy thác của Đức Chúa Trời dành cho ngươi, chứ không phải là dành thời gian và năm tháng cho con cái. Sự sống của ngươi không thuộc về con cái của ngươi, không cần tiêu hao sự sống vì cuộc sống hoặc sự sinh tồn của con cái ngươi, cũng không cần tiêu hao sự sống để thỏa mãn kỳ vọng của ngươi đối với con cái, mà nên tiêu tốn sự sống vì bổn phận và sự giao phó Đức Chúa Trời dành cho ngươi, vì sứ mạng mà một loài thọ tạo như ngươi nên hoàn thành, giá trị và ý nghĩa sự sống của ngươi nằm ở đó. Nếu để thỏa mãn kỳ vọng của mình đối với con cái mà ngươi bằng lòng đánh mất tôn nghiêm để làm nô lệ cho chúng, lo lắng cho chúng, làm bất kỳ điều gì vì chúng, thì đều không có ý nghĩa, không có giá trị, không được ghi nhớ. Nếu ngươi cứ một mực làm như vậy, không buông bỏ những suy nghĩ và cách làm này, vậy thì chỉ có thể chứng tỏ rằng người như ngươi không phải là người mưu cầu lẽ thật, không phải là một loài thọ tạo đạt tiêu chuẩn, cũng chứng tỏ rằng con người ngươi rất phản nghịch, không quý trọng sự sống mà Đức Chúa Trời ban cho ngươi, cũng không quý trọng thời gian mà Đức Chúa Trời ban cho ngươi. Nếu sự sống và thời gian của ngươi chỉ được bỏ ra vì xác thịt, vì tình cảm của ngươi, chứ không phải vì bổn phận mà Đức Chúa Trời đã giao cho ngươi, thì ngươi sống thật thừa thãi, không có giá trị, ngươi không xứng đáng được sống, ngươi không xứng đáng hưởng thụ sự sống mà Đức Chúa Trời đã ban cho ngươi, cũng không xứng đáng hưởng thụ tất cả những gì Đức Chúa Trời đã ban cho ngươi. Đức Chúa Trời ban con cái cho ngươi chỉ là để cho ngươi được vui hưởng quá trình nuôi dạy con cái, từ đó có được một dạng trải nghiệm và từng trải trong cuộc đời về việc nuôi dạy con cái với tư cách là cha mẹ, để cho ngươi cảm nhận được một giai đoạn trải nghiệm đặc biệt và phi thường của việc sinh sôi thế hệ sau cho nhân loại. Đương nhiên, chuyện này cũng là để cho ngươi làm tròn trách nhiệm của một loài thọ tạo với thân phận là cha mẹ. Đây là trách nhiệm đối với thế hệ sau mà Đức Chúa Trời đã tiền định cho ngươi, cũng là vai trò của ngươi với tư cách là cha mẹ đối với thế hệ sau. Đức Chúa Trời ban con cái cho ngươi, một mặt là để ngươi trải nghiệm quá trình nuôi dạy con cái phi thường này, mặt khác là để ngươi đóng vai trò duy trì nòi giống. Nghĩa vụ này đã làm xong, con cái trưởng thành rồi, hoặc chúng lên như diều gặp gió, hoặc chỉ là một người bình thường và phổ thông, thì đều không liên quan đến ngươi, bởi vì số phận của chúng không phải là điều ngươi có thể quyết định, cũng không phải là điều do ngươi lựa chọn, càng không phải là điều ngươi cho chúng, mà là điều được Đức Chúa Trời tiền định sẵn. Nếu đã do Đức Chúa Trời tiền định sẵn, thì ngươi không nên can dự vào hoặc can thiệp vào cuộc sống và sự sinh tồn của chúng. Chúng có thói quen sinh hoạt, quy luật cuộc sống và thái độ sống như thế nào, chúng có phương thức sinh tồn như thế nào, có nhân sinh quan như thế nào, thái độ của chúng đối với thế giới như thế nào, và con đường chúng mưu cầu là gì, những chuyện đó không liên quan gì đến ngươi. Ngươi không có nghĩa vụ chịu khổ vì gánh vác những chuyện đó, ngươi cũng không có cách nào bảo đảm mỗi ngày sống của chúng đều được hạnh phúc. Ngươi mà nỗ lực làm những việc này thì đều là việc dư thừa. … Cho nên, sau khi con cái trưởng thành, thái độ có lý tính nhất của cha mẹ chính là buông tay, để cho chúng tự mình thể nghiệm cuộc đời, để cho chúng tự mình sống độc lập, đối mặt, xử lý, giải quyết các loại vấn đề gặp phải trong cuộc đời một cách độc lập. Nếu như chúng có cầu xin ngươi, mà ngươi có khả năng, có điều kiện, đương nhiên cũng có thể dang tay cho chúng sự giúp đỡ cần thiết. Nhưng ngươi phải hiểu một sự thật rằng: bất kể ngươi cho chúng bất kỳ sự giúp đỡ nào, dù là về mặt tiền bạc hay là về mặt tư tưởng, thì cũng chỉ là tạm thời, không có khả năng thay đổi bất kỳ vấn đề mang tính thực chất nào. Con đường cuộc đời của chúng vẫn phải dựa vào chính chúng mà đi, ngươi không có nghĩa vụ thay chúng gánh vác bất kỳ chuyện gì, cũng không có nghĩa vụ thay chúng gánh chịu bất kỳ hậu quả gì. Đây là thái độ mà cha mẹ nên có đối với con cái đã trưởng thành(Cách mưu cầu lẽ thật (19), Lời, Quyển 6 – Về việc mưu cầu lẽ thật). Lời Đức Chúa Trời giúp tôi hiểu rằng với tư cách là một loài thọ tạo, chỉ khi làm tốt bổn phận thì tôi sống mới có giá trị và ý nghĩa. Tôi không nên sống chỉ để làm hài lòng các con, chỉ trả giá và dâng mình cho chúng. Khi các con còn nhỏ, tôi đã chăm sóc các con chu đáo; khi chúng khôn lớn, trách nhiệm làm cha mẹ của tôi đã hoàn thành, tôi nên buông tay để các con tự trải nghiệm cuộc đời. Sau đó, chúng sống ra sao hay cuộc đời chúng thế nào không còn liên quan đến tôi nữa. Tôi nên giúp đỡ nếu có khả năng, còn nếu không thể thì cũng không nên thấy mắc nợ. Vì số phận của một người đã được Đức Chúa Trời tiền định, cha mẹ không thể thay đổi được số phận của con cái. Bây giờ, tôi nên tập trung toàn bộ tâm sức vào bổn phận, trang bị thêm các nguyên tắc lẽ thật để bù đắp những thiếu sót, mưu cầu lẽ thật để giải quyết các tâm tính bại hoại của mình, thực hành lẽ thật và làm việc theo nguyên tắc. Đây mới là điều làm hài lòng Đức Chúa Trời.

Sau trải nghiệm này, tôi hiểu rằng nếu người ta tin Đức Chúa Trời nhưng không nhìn nhận mọi việc theo lời Ngài, và không dùng lẽ thật để thoát khỏi những tư tưởng văn hóa truyền thống của Sa-tan, những triết lý xử thế, và những nọc độc của Sa-tan, thì họ sẽ không bao giờ được giải phóng. Chỉ khi sống theo lời Đức Chúa Trời mới có thể thoát khỏi sự trói buộc, kìm kẹp của Sa-tan, đạt được sự giải phóng và tự do thực sự. Tạ ơn Đức Chúa Trời vì sự cứu rỗi của Ngài!

Trước: 56. Thức tỉnh khỏi giấc mộng được ban phước

Tiếp theo: 58. Những băn khoăn khi viết lời đánh giá

Hồi chuông thời sau hết báo động đã vang lên, đại thảm họa đã ập xuống, bạn có muốn cùng gia đình nghênh đón được Thiên Chúa, và có cơ hội nhận được sự che chở của Thiên Chúa không?

Nội dung liên quan

29. Sự ăn năn của một sĩ quan

Bởi Chân Tâm, Trung QuốcĐức Chúa Trời Toàn Năng phán: “Từ lúc sáng thế cho đến nay, tất cả những gì Đức Chúa Trời đã làm trong công tác của...

53. Tháo gỡ những nút thắt

Bởi Thúy Bách, ÝĐức Chúa Trời phán: “Vì số phận của các ngươi, các ngươi nên tìm kiếm sự chấp thuận của Đức Chúa Trời. Điều này có nghĩa...

Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời Về việc biết Đức Chúa Trời Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt Vạch rõ kẻ địch lại Đấng Christ Chức trách của lãnh đạo và người làm công Về việc mưu cầu lẽ thật Về việc mưu cầu lẽ thật Sự phán xét khởi từ nhà Đức Chúa Trời Những lời trọng yếu từ Đức Chúa Trời Toàn Năng, Đấng Christ của thời kỳ sau rốt Lời Đức Chúa Trời Hằng Ngày Các thực tế lẽ thật mà người tin Đức Chúa Trời phải bước vào Theo Chiên Con Và Hát Những Bài Ca Mới Những chỉ dẫn cho việc truyền bá phúc âm của vương quốc Chiên của Đức Chúa Trời nghe tiếng của Đức Chúa Trời Lắng nghe tiếng Đức Chúa Trời thấy được sự xuất hiện của Đức Chúa Trời Những câu hỏi và câu trả lời thiết yếu về Phúc Âm của Vương quốc Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 1) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 2) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 3) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 4) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 5) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 6) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 7) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 8) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 9) Tôi Đã Quay Về Với Đức Chúa Trời Toàn Năng Như Thế Nào

Cài đặt

  • Văn bản
  • Chủ đề

Màu Đồng nhất

Chủ đề

Phông

Kích cỡ Phông

Khoảng cách Dòng

Khoảng cách Dòng

Chiều rộng Trang

Mục lục

Tìm kiếm

  • Tìm kiếm văn bản này
  • Tìm kiếm cuốn sách này

Liên hệ với chúng tôi qua Messenger