56. Thức tỉnh khỏi giấc mộng được ban phước

Bởi Nhất Phàm, Trung Quốc

Năm 28 tuổi, tôi mắc bệnh hen suyễn dị ứng. Mỗi khi lên cơn là tôi lại khó thở, ngột ngạt đến mức đầu óc quay cuồng. Ban đêm, tôi không thể nằm được, cứ phải dựa vào thứ gì đó để ngồi, và cứ ngồi như vậy suốt cả đêm. Hồi đó, tôi thường xuyên phải nhập viện điều trị, bệnh tật giày vò khiến tôi mệt mỏi cả về thể chất lẫn tinh thần. Tôi nhớ có một lần bệnh tình trở nặng, tôi khó thở, nằm viện hơn mười ngày mà bệnh tình không thuyên giảm, dù phải truyền dịch và thở oxy, tôi vẫn ngột ngạt đến mức mồ hôi ướt đẫm. Bệnh viện không cứu chữa được nên đã sắp xếp cho tôi chuyển lên bệnh viện tuyến trên. Người nhà dùng cáng khiêng tôi đi, vừa đến cửa bệnh viện là tôi đã ngất lịm. Lúc đó, tôi nghĩ có lẽ mình thật sự không qua khỏi, nhưng sau mười ngày cấp cứu và điều trị, bệnh tình của tôi đã được kiểm soát. Sau khi xuất viện, tôi ở nhà dưỡng bệnh. Mỗi ngày tôi đều sống một cách dè dặt cẩn thận, chỉ sợ một chút sơ suất là bệnh lại tái phát. Một hôm, tôi đi khám, bác sĩ nói: “Bệnh của chị là một trong bốn căn bệnh nan y của thế giới. Triệu chứng có thể kiểm soát được đã là tốt lắm rồi, chứ không có khả năng chữa khỏi hoàn toàn. Chị nên luôn chuẩn bị sẵn thuốc cấp cứu bên mình, nếu không cấp cứu kịp thời sẽ nguy hiểm đến tính mạng”. Nghe ông ấy nói vậy, lòng tôi thấy thật đau xót, sao mình còn trẻ thế này mà lại mắc phải căn bệnh như vậy chứ? Mỗi khi nghĩ đến lần bệnh nặng thập tử nhất sinh đó, tôi lại không khỏi rùng mình sợ hãi. Hơn mười năm sau đó, tôi đi khắp nơi tìm thầy tìm thuốc, nhưng đều là chữa ngọn chứ không chữa được gốc, nhiều năm trôi qua, cơ thể tôi vô cùng yếu ớt. Sự giày vò của bệnh tật khiến tôi mất đi niềm tin vào cuộc sống. Năm 2009, mẹ tôi đã rao truyền phúc âm thời kỳ sau rốt của Đức Chúa Trời cho tôi. Qua việc đọc lời Đức Chúa Trời, tôi hiểu ra đây là giai đoạn công tác cuối cùng của Đức Chúa Trời để cứu rỗi nhân loại. Có thể tiếp nhận công tác thời kỳ sau rốt của Đức Chúa Trời trong đời này quả là một phước lành lớn lao! Tôi nghĩ: “Chỉ cần mình mưu cầu cho tốt, thì việc chữa bệnh cho mình chỉ là chuyện nhỏ đối với Đức Chúa Trời. Biết đâu mình còn có thể được thấy cảnh tượng tươi đẹp của vương quốc nữa!”. Giống như gặp được một ốc đảo giữa sa mạc, tôi đã nhen nhóm lại hy vọng sống. Sau đó, tôi bắt đầu thực hiện bổn phận trong hội thánh. Dần dần, tôi cảm thấy bệnh tình của mình không còn nghiêm trọng như trước. Mặc dù vẫn thường xuyên tái phát, nhưng chỉ cần uống chút thuốc là có thể kiểm soát được. Trong lòng tôi không ngừng tạ ơn Đức Chúa Trời, và càng có thêm động lực để thực hiện bổn phận. Có lần, tôi gặp một người chị em đã tin Đức Chúa Trời lâu năm. Chị ấy nói trước khi tin Đức Chúa Trời, chị cũng mắc căn bệnh giống tôi. Sau khi tin Đức Chúa Trời, chị cứ thực hiện bổn phận trong hội thánh, rồi bệnh tật tự khỏi lúc nào không hay. Tôi thầm nghĩ: “Đức Chúa Trời có thể chữa khỏi bệnh cho chị ấy, thì Ngài cũng sẽ chữa khỏi bệnh cho mình. Chỉ là hiện tại mình trả giá chưa đủ và chưa có tư cách. Đợi khi mình dâng mình nhiều hơn, Đức Chúa Trời sẽ không bạc đãi mình”.

Sau đó, tôi đảm nhận công tác văn tự. Tôi nghĩ bụng: “Mình có thể thực hiện công tác văn tự, đây là ân điển và sự đề cao của Đức Chúa Trời, mình phải dốc hết lòng làm bổn phận này. Có lẽ Đức Chúa Trời thấy mình sẵn lòng trả giá mà sẽ giúp mình giảm bớt đau khổ. Đức Chúa Trời là Đấng Toàn Năng, biết đâu Ngài còn có thể chữa khỏi bệnh cho mình hoàn toàn”. Với tâm thái đó, mỗi ngày tôi đều bận rộn từ sáng sớm đến tối mịt, và bổn phận của tôi cũng đạt được một số kết quả. Đến năm 2017, vì một số loại thuốc giảm tác dụng khi dùng lâu dài, còn thuốc tốt thì lại quá đắt, nên tôi chỉ có thể dựa vào thuốc hormone để kiểm soát bệnh tình và tiếp tục thực hiện bổn phận. Tôi thầm nghĩ: “Bao năm nay, mình không bị bệnh tật kìm kẹp và vẫn tiếp tục thực hiện bổn phận. Có lẽ Đức Chúa Trời sẽ thấy sự dâng mình này mà một ngày nào đó sẽ chữa khỏi bệnh cho mình. Lúc đó mình sẽ có thể thực hiện bổn phận như người bình thường, vậy thì tốt biết bao!”. Ngay khi tôi đang mơ mộng như vậy, bệnh tình của tôi chẳng những không thuyên giảm mà còn trở nên tồi tệ hơn. Vì đã dùng thuốc hormone một thời gian nên bắt đầu xuất hiện tác dụng phụ, cơ thể tôi bắt đầu sưng phù. Thấy tình trạng của tôi như vậy, người phụ trách đành phải sắp xếp cho tôi về nhà chữa bệnh. Tôi cảm thấy vô cùng tiêu cực và đau khổ, nghĩ rằng: “Bệnh của mình đã nặng đến thế này rồi, hôm nay còn sống cũng không biết có thấy được ngày mai không, nói gì đến cảnh tượng tươi đẹp của vương quốc trong tương lai”. Nghĩ đến đây, nước mắt tôi bất giác tuôn rơi, trong lòng bắt đầu oán trách: “Lạy Đức Chúa Trời! Bao năm nay, con đã dãi nắng dầm mưa để thực hiện bổn phận, chịu không ít khổ cực và trả giá, bổn phận của con cũng đạt được kết quả, vậy mà tại sao Ngài không bảo vệ con? Nếu con chết như thế này, chẳng phải mọi sự dâng mình của con trước đây đều trở nên vô nghĩa sao? Lạy Đức Chúa Trời, có phải Ngài đang dùng căn bệnh này để tỏ lộ và đào thải con không? Nếu biết sẽ có kết cục thế này, thì trước đây con đã tập trung chữa bệnh và chăm sóc bản thân, vậy thì đâu đến nông nỗi này”. Càng nghĩ tôi càng cảm thấy uất ức. Sau đó, tôi không ăn uống lời Đức Chúa Trời và cũng không cầu nguyện, mỗi ngày sống trong mơ hồ như một cái xác không hồn. Tôi cảm thấy thật xa cách Đức Chúa Trời, như thể Ngài đã bỏ rơi tôi. Tôi khá sợ hãi, nên đã cầu nguyện với Đức Chúa Trời: “Lạy Đức Chúa Trời, con biết tình trạng của mình không đúng, nhưng con không biết mình nên học bài học gì. Xin Ngài khai sáng và dẫn dắt để con hiểu ra vấn đề của mình”.

Một hôm, tôi đọc được lời Đức Chúa Trời: “Khi con người bắt đầu tin vào Đức Chúa Trời, ai trong số họ không có mục đích, động cơ, và tham vọng riêng? Mặc dù một phần trong họ tin vào sự hiện hữu của Đức Chúa Trời và đã nhìn thấy sự hiện hữu của Đức Chúa Trời, nhưng đức tin của họ nơi Đức Chúa Trời vẫn chứa đựng những động cơ đó, và mục tiêu sau cùng của họ trong việc tin vào Đức Chúa Trời là nhận những phúc lành của Ngài và những điều họ muốn. Trong những trải nghiệm sự sống của con người, họ thường tự hỏi rằng: ‘Tôi đã từ bỏ gia đình và sự nghiệp vì Đức Chúa Trời, và Ngài đã cho tôi được gì? Tôi phải tổng lại, và xác nhận rằng – tôi đã nhận được bất kỳ phúc lành nào gần đây chưa? Tôi đã dâng mình rất nhiều trong thời gian này, tôi đã bôn ba và chịu khổ rất nhiều – đổi lại Đức Chúa Trời đã cho tôi bất kỳ lời hứa nào chưa? Ngài có nhớ những việc lành của tôi chưa? Kết cục của tôi sẽ là gì? Tôi có thể nhận những phúc lành của Đức Chúa Trời không? …’. Mỗi người đều liên tục thực hiện những sự tính toán như thế trong lòng họ, và họ đưa ra những yêu cầu đối với Đức Chúa Trời, những yêu cầu mang động cơ, tham vọng, và tâm lý đổi chác của họ. Nói vậy nghĩa là, trong lòng mình, con người liên tục thử thách Đức Chúa Trời, liên tục tính kế Đức Chúa Trời, liên tục tranh luận về kết cục cá nhân của riêng mình với Đức Chúa Trời, và cố gắng moi ra một câu tuyên bố từ Đức Chúa Trời, và xem liệu Đức Chúa Trời có thể ban cho họ điều họ muốn hay không. Cùng với việc mưu cầu Đức Chúa Trời, con người không đối đãi với Đức Chúa Trời như một Đức Chúa Trời. Con người luôn cố gắng giao dịch với Đức Chúa Trời, không ngừng đòi hỏi ở Ngài, và thậm chí thúc ép Ngài trong mọi bước, được đằng chân lân đằng đầu. Cùng với việc cố gắng giao dịch với Đức Chúa Trời, con người cũng tranh luận với Ngài, và thậm chí có những người mà khi những thử luyện xảy đến với họ hay họ thấy mình trong những tình huống nhất định, thường trở nên yếu đuối, tiêu cực, bê trễ trong công việc, và đầy than oán về Đức Chúa Trời. Từ khi con người mới bắt đầu tin Đức Chúa Trời, họ đã xem Đức Chúa Trời là một nguồn cung dồi dào, là một con dao gấp đa năng, và họ coi chính mình là chủ nợ lớn nhất của Đức Chúa Trời, như thể việc cố gắng lấy được những phúc lành và lời hứa từ Đức Chúa Trời là quyền lợi và nghĩa vụ vốn có của họ, trong khi việc bảo vệ, chăm sóc cho con người và chu cấp cho họ lại là trách nhiệm mà Đức Chúa Trời nên làm. Đó là sự lĩnh hội cơ bản về ‘đức tin nơi Đức Chúa Trời’ của tất cả những ai tin Đức Chúa Trời, và đó là sự hiểu biết sâu sắc nhất của họ về khái niệm đức tin nơi Đức Chúa Trời(Công tác của Đức Chúa Trời, tâm tính của Đức Chúa Trời, và chính Đức Chúa Trời II, Lời, Quyển 2 – Về việc biết Đức Chúa Trời). “Mối quan hệ của con người với Đức Chúa Trời chỉ là quan hệ lợi ích trần trụi. Đó là mối quan hệ giữa người nhận phúc và người ban phúc. Nói thẳng ra, nó là quan hệ giữa người làm công và người chủ. Người làm công chăm chỉ làm việc chỉ để nhận tiền thưởng của người chủ. Trong mối quan hệ lợi ích như thế thì chẳng có tình thân, mà chỉ có giao dịch. Chẳng có yêu mến hay được yêu mến, chỉ có sự bố thí và thương xót. Chẳng có thấu hiểu, chỉ có bất lực bấm bụng nuốt giận và lừa dối. Chẳng có sự thân tình, chỉ có một hố sâu ngăn cách không thể vượt qua. Bây giờ mọi thứ đã đến mức này, ai có thể đảo ngược được chiều hướng như thế? Và mấy ai có khả năng thực sự hiểu rằng mối quan hệ này đã trở nên nguy cấp như thế nào? Ta tin rằng khi người ta chìm đắm trong niềm vui sướng được phước, chẳng ai có thể tưởng tượng mối quan hệ như vậy với Đức Chúa Trời lại ngượng ngùng và khó coi thế nào(Phụ lục 3: Con người chỉ có thể được cứu rỗi giữa sự quản lý của Đức Chúa Trời, Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). Những gì Đức Chúa Trời vạch rõ chính là tình trạng thực sự của tôi. Tôi cảm thấy đau nhói trong lòng, khó chịu, xấu hổ và nhục nhã. Bao năm tin Đức Chúa Trời, bề ngoài, dù đang phải chịu đựng bệnh tật, tôi vẫn thức khuya dậy sớm để thực hiện bổn phận, có vẻ như tôi đang trung thành với Đức Chúa Trời, quan tâm đến tâm ý của Ngài và làm thỏa lòng Ngài, nhưng ý định thực sự của tôi là dùng sự vứt bỏ, dâng mình và thành quả công tác của mình làm vốn để mặc cả, đòi hỏi Đức Chúa Trời chữa bệnh cho tôi. Tôi xem những điều đó như con bài mặc cả để được cứu rỗi và vào vương quốc của Đức Chúa Trời. Mọi việc tôi làm đều vì phúc lành và lợi ích của bản thân, tôi đang cố gắng giao dịch với Đức Chúa Trời, chứ không thực sự làm tốt bổn phận để làm thỏa lòng Ngài. Tôi nghĩ đến căn bệnh nan y của mình, và nghĩ về việc những năm tháng đau đớn đã khiến tôi mất đi ý chí sống, nhưng trong nỗi đau và tuyệt vọng, phúc âm của Đức Chúa Trời đã đến với tôi, và khi thấy thẩm quyền cũng như quyền năng của Ngài, tôi đã đặt hy vọng nơi Ngài. Đặc biệt khi thấy một người chị em được khỏi bệnh sau khi tin Đức Chúa Trời, tôi nghĩ rằng chỉ cần mình sẵn lòng chịu khổ trong bổn phận, Đức Chúa Trời sẽ không bạc đãi mình. Tôi tin rằng Ngài sẽ không chỉ chữa bệnh cho tôi mà còn đưa tôi vào vương quốc của Ngài để hưởng sự sống đời đời. Vì vậy, bất kể hội thánh sắp xếp cho tôi bổn phận gì, tôi đều chấp nhận và thuận phục, tôi uống thuốc để kiểm soát bệnh tình và không bao giờ trì hoãn bổn phận. Nhưng khi bệnh tình của tôi không thuyên giảm mà ngày càng nặng thêm, thậm chí phải đối mặt với cái chết, tôi lập tức trở mặt với Đức Chúa Trời, cảm thấy Ngài không công chính với tôi. Tôi sống trong tình trạng tiêu cực, oán trách và hiểu lầm Đức Chúa Trời. Tôi không đọc lời Đức Chúa Trời và cũng không cầu nguyện, thậm chí còn hối tiếc về sự dâng mình trước đây của mình. Đối chiếu bản thân với sự vạch rõ của lời Đức Chúa Trời, tôi nhận ra mối quan hệ của mình với Ngài chỉ là một mối quan hệ lợi ích trần trụi, giống như giữa người làm công và người chủ. Mọi sự lao khổ và hy sinh của tôi đều nhằm mục đích nhận được lợi ích từ Đức Chúa Trời, tôi đang lợi dụng và lừa dối Ngài. Tôi chưa bao giờ thực sự đối đãi với Đức Chúa Trời như Đức Chúa Trời. Tôi nhớ lại căn bệnh nặng mà mình đã mắc phải những năm 20 tuổi, và tôi biết rằng nếu không có sự bảo vệ của Đức Chúa Trời, tôi đã chết từ lâu rồi, làm sao có thể sống đến ngày hôm nay? Chính Đức Chúa Trời đã ban cho tôi cuộc sống thứ hai và cho phép tôi sống đến tận bây giờ. Nhưng thay vì biết ơn, tôi lại dùng sự vứt bỏ và dâng mình để đòi hỏi phúc lành và ân điển từ Đức Chúa Trời. Tôi thực sự thiếu nhân tính và không xứng đáng với sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Tôi nghĩ đến Phao-lô. Mặc dù vẫn luôn làm việc khổ nhọc, vứt bỏ và dâng mình, nhưng ông làm vậy không phải vì bổn phận, mà là để được ban phước và mão triều thiên. Cuối cùng, trong ông đã phản nghịch mà nói rằng: “Ta đã đánh trận tốt lành, đã xong sự chạy, đã giữ được đức tin: Hiện nay mão triều thiên của sự công bình đã để dành cho ta” (2 Ti-mô-thê 4:7-8). Ông đã xúc phạm tâm tính của Đức Chúa Trời. Nếu tôi không ăn năn và thay đổi, mà cứ đòi hỏi phước lành và ân điển từ Đức Chúa Trời, thì cuối cùng tôi cũng sẽ bị Đức Chúa Trời ghét bỏ và đào thải như Phao-lô. Nhận ra điều này, tôi càng thêm hối hận, và căm ghét bản thân vì đã tin Đức Chúa Trời bao nhiêu năm mà không mưu cầu lẽ thật. Tôi đã đi vào con đường sai lầm là mưu cầu phúc lành. Tôi cầu nguyện với Đức Chúa Trời: “Lạy Đức Chúa Trời, bao nhiêu năm tin Ngài, con không hề có chút tình yêu thương hay lòng báo đáp nào dành cho Ngài. Con chỉ luôn lợi dụng Ngài. Con thật vô nhân tính! Lạy Đức Chúa Trời, con nguyện chống lại chính mình và ngừng giao dịch với Ngài”.

Sau đó, nhờ thuốc men và thuốc hít điều trị, bệnh tình của tôi đã được kiểm soát tương đối tốt. Vào tháng 4 năm 2022, tôi lại tiếp tục thực hiện bổn phận văn tự. Tôi rất trân trọng cơ hội này. Trong thời gian đó, tôi đã hết sức hết lòng thực hiện bổn phận, và kết quả cũng khá tốt. Tôi biết đây là ân đãi và sự bảo vệ của Đức Chúa Trời. Chớp mắt đã đến tháng 9 năm 2023, bệnh hen suyễn của tôi đột nhiên trở nặng. Thuốc men và tiêm chích đều không có tác dụng, tôi đành phải đến bệnh viện tỉnh để điều trị. Sau bao khó khăn, bệnh tình của tôi cuối cùng cũng ổn định. Nhưng không lâu sau, bệnh hen suyễn của tôi lại tái phát. Tôi chỉ có thể hít vào mà không thở ra được, nên bị chóng mặt, choáng váng, và cảm thấy mình có thể mất mạng bất cứ lúc nào. Tôi đành phải trở về nhà để dưỡng bệnh. Nghĩ đến việc phải về nhà, tôi cảm thấy bị quan và thất vọng cực độ, không kìm được nước mắt. Tôi thầm nghĩ: “Mình đã cố gắng nhiều như vậy, chịu bao khổ cực và trả giá không ít trong bổn phận, vậy tại sao bệnh tình của mình cứ tái phát? Tại sao nó cứ ngày một nặng hơn! Tại sao Đức Chúa Trời không xem xét việc mình sẵn lòng thực hiện bổn phận mà bảo vệ và chữa lành cho mình? Chẳng lẽ Đức Chúa Trời không thấy được tấm lòng của mình sao?”. Càng nghĩ tôi càng cảm thấy uất ức, và tin rằng Đức Chúa Trời đối xử không công chính với mình. Tôi cảm thấy hoàn toàn vô vọng về tương lai. Bệnh tình của tôi chẳng những không có khả năng chữa khỏi, mà bản thân thôi cũng không còn hy vọng được cứu rỗi và vào vương quốc nữa. Lúc đó, một người chị em đã tìm được một đoạn lời Đức Chúa Trời dựa trên tình trạng của tôi: “Khi Đức Chúa Trời an bài cho ai đó mắc bệnh, dù là bệnh nặng hay nhẹ, thì mục đích của Ngài khi làm vậy không phải là để khiến ngươi lĩnh hội ngóc ngách ngọn nguồn của bệnh tật, tổn hại mà bệnh tật gây ra cho ngươi, những khó khăn và bất tiện mà bệnh tật gây ra cho ngươi, cùng vô số những cảm xúc mà bệnh tật mang đến cho ngươi – mục đích của Ngài không phải là để ngươi lĩnh hội về bệnh tật thông qua việc bị bệnh, mà đúng hơn, mục đích của Ngài là để ngươi rút ra được những bài học từ bệnh tật, học cách cảm nhận tâm ý Đức Chúa Trời, biết những tâm tính bại hoại mà mình bộc lộ cũng như những thái độ sai lầm của ngươi đối với Đức Chúa Trời khi bị bệnh, học cách thuận phục quyền tối thượng và sự an bài của Đức Chúa Trời, để ngươi có thể đạt được sự thuận phục thực sự đối với Đức Chúa Trời cũng như có thể đứng vững trong chứng ngôn của mình – đây mới chính là điều then chốt. Thông qua bệnh tật, Đức Chúa Trời muốn cứu rỗi và làm cho ngươi tinh sạch. Ngài muốn làm tinh sạch điều gì nơi ngươi? Ngài muốn làm tinh sạch mọi ham muốn và yêu cầu ngông cuồng của ngươi đối với Đức Chúa Trời, thậm chí là làm tinh sạch cả những tính toán, phán đoán và kế hoạch khác nhau mà ngươi làm bằng mọi giá để sống và tồn tại. Đức Chúa Trời không yêu cầu ngươi lập kế hoạch, Ngài không yêu cầu ngươi phán đoán, và Ngài không cho phép ngươi có bất kỳ mong muốn ngông cuồng nào đối với Ngài; Ngài chỉ yêu cầu ngươi thuận phục Ngài, và trong quá trình ngươi thực hành và trải nghiệm sự thuận phục, ngươi phải nhận biết thái độ của mình đối với bệnh tật, biết thái độ của mình đối với những tình trạng thân thể mà Ngài ban cho ngươi, cũng như những mong muốn cá nhân của ngươi. Khi nhận ra được những điều này, ngươi mới có thể lĩnh hội được việc Đức Chúa Trời sắp đặt hoàn cảnh bệnh tật cho ngươi hay Ngài ban cho ngươi những tình trạng thân thể này mới có lợi cho ngươi làm sao; và ngươi mới lĩnh hội được sự hỗ trợ rất lớn của chúng trong việc thay đổi tâm tính của ngươi, việc ngươi đạt được sự cứu rỗi cũng như lối vào sự sống của ngươi. Chính vì thế, khi bệnh tật ập đến, ngươi không được lúc nào cũng tự hỏi làm sao để có thể thoát khỏi, trốn tránh hay cự tuyệt nó. … Ngươi không thể nói: ‘Nếu khỏi bệnh thì con tin đó là quyền năng vĩ đại của Đức Chúa Trời, nhưng nếu không khỏi bệnh thì con sẽ bất mãn với Đức Chúa Trời. Tại sao Ngài lại để con mắc căn bệnh này? Tại sao Ngài không chữa khỏi bệnh này? Tại sao con lại mắc bệnh này mà không phải người khác chứ? Con không cam tâm! Tại sao con phải chết sớm ở độ tuổi trẻ như vậy chứ? Tại sao những người khác lại được tiếp tục sống chứ? Tại sao vậy?’. Không có tại sao gì hết, đó là sự sắp đặt của Đức Chúa Trời. Ngài đã sắp xếp và lên kế hoạch như vậy. Không có lý do gì cả và ngươi cũng không nên hỏi tại sao. Hỏi tại sao là ăn nói phản nghịch, và đây không phải là câu hỏi mà một loài thọ tạo nên hỏi. Nếu ngươi hỏi tại sao thì chỉ có thể nói là ngươi đã quá phản nghịch, quá cương ngạnh. Khi có điều gì không hợp ý ngươi, khi Đức Chúa Trời không làm theo ý ngươi hoặc không để ngươi làm theo ý mình, thì ngươi không vui, bất bình và luôn hỏi tại sao. Vậy, Đức Chúa Trời hỏi ngươi: ‘Là một loài thọ tạo, tại sao ngươi chưa làm tốt bổn phận của mình? Tại sao ngươi không trung thành thực hiện bổn phận của mình?’. Và ngươi sẽ trả lời như thế nào? Ngươi nói: ‘Không có lý do gì cả, đơn giản con là thế này thôi’. Câu trả lời này có được không? (Thưa không.) Đức Chúa Trời nói với ngươi theo cách đó thì được, nhưng ngươi nói với Đức Chúa Trời theo cách đó thì không thể chấp nhận được. Ngươi đã đứng sai vị trí rồi và ngươi quá không có lý trí(Cách mưu cầu lẽ thật (3), Lời, Quyển 6 – Về việc mưu cầu lẽ thật). Đọc xong lời Đức Chúa Trời, tôi đã hiểu được phần nào tâm ý của Ngài. Đức Chúa Trời không muốn tôi sống trong bệnh tật và suy ngẫm về những thăng trầm của nó, cũng không muốn tôi lo lắng tìm cách thoát khỏi bệnh tật. Bệnh tật có thể được chữa trị, nhưng có chữa khỏi được hay không, có nguy hiểm đến tính mạng hay không thì không phải do con người quyết định. Tất cả đều nằm dưới sự tể trị và tiền định của Đức Chúa Trời. Điều tôi phải làm là thuận phục sự tể trị và sắp đặt của Đức Chúa Trời, phản tỉnh xem mình đã bộc lộ những tâm tính bại hoại và quan điểm sai lầm nào trong bệnh tật, và tìm kiếm lẽ thật để giải quyết những điều đó. Đây là lý trí mà tôi nên có. Tôi nghĩ về việc mình đã không thuận phục Đức Chúa Trời trong bệnh tật. Khi bệnh tình trở nặng và không thể thực hiện bổn phận, thậm chí tính mạng bị đe dọa, tôi không tìm kiếm lẽ thật mà lại oán thán. Tôi oán trách Đức Chúa Trời vì không xét đến sự chịu khổ và dâng mình của tôi mà bảo vệ tôi, và tôi tin rằng Đức Chúa Trời không công chính. Mặc dù qua những trải nghiệm trước đây, tôi đã phần nào có được nhận thức về quan điểm sai lầm của mình khi cố gắng giao dịch với Đức Chúa Trời, nhưng vẫn chưa có sự biến đổi thực sự. Đức Chúa Trời biết những thiếu sót và khuyết điểm của tôi, và qua sự tái phát của bệnh tật, một lần nữa Ngài đã vạch trần những ý định đê tiện của tôi trong việc tin Ngài. Chỉ đến lúc đó tôi mới nhận ra ý định được ban phước của mình đã ăn sâu bén rễ đến mức nào. Sự tái phát của bệnh tật chứa đựng ý tốt của Đức Chúa Trời, và đã xảy ra để làm tinh sạch những sự bại hoại và tạp chất trong tôi. Nhưng tôi không hiểu công tác của Đức Chúa Trời và còn oán trách rằng Đức Chúa Trời không công chính. Tôi đã hiểu lầm Đức Chúa Trời, nghĩ rằng Ngài định đào thải tôi qua bệnh tật, và tôi thấy rằng sau bao nhiêu năm tin Ngài, tôi vẫn không biết gì về Ngài cả. Tôi thật đáng thương, khốn khổ và mù quáng làm sao! Bây giờ tôi hiểu rằng mặc dù bề ngoài tôi đã phải chịu nhiều đau khổ vì căn bệnh này, nhưng đằng sau tất cả là sự lao tâm khổ tứ của Đức Chúa Trời, là sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời dành cho tôi, và rằng điều này là để tôi phản tỉnh và biết mình trong bệnh tật. Nếu không có chuyện này xảy ra, tôi sẽ tiếp tục với quan điểm sai lầm đằng sau sự mưu cầu của mình, và tôi sẽ chỉ ngày càng xa rời những yêu cầu của Đức Chúa Trời và cuối cùng đi vào con đường không lối thoát. Nhận ra điều này, lòng tôi cảm thấy sáng tỏ hơn, và tôi không còn oán trách hay hiểu lầm Đức Chúa Trời nữa.

Sau đó, tôi nghĩ đến lời Đức Chúa Trời: “Công chính không có nghĩa là công bằng hoặc hợp lý; đó không phải là chủ nghĩa quân bình, hay vấn đề phân bổ cho ngươi những gì ngươi xứng đáng tương ứng với lượng công việc ngươi đã hoàn thành, hoặc trả cho ngươi vì bất cứ công việc nào ngươi đã làm, hoặc ghi nhận về những nỗ lực ngươi bỏ ra. Đây không phải là sự công chính, nó chỉ đơn thuần là công bằng và hợp lý. Rất ít người có khả năng biết được tâm tính công chính của Đức Chúa Trời. Giả sử Đức Chúa Trời đã hủy diệt Gióp sau khi Gióp làm chứng cho Ngài: Việc đó có công chính không? Thực ra là có. Tại sao gọi đây là sự công chính? Con người nhìn nhận sự công chính như thế nào? Nếu điều gì đó phù hợp với quan niệm của mọi người, thì rất dễ dàng để họ nói rằng Đức Chúa Trời là công chính; tuy nhiên, nếu họ không thấy điều đó phù hợp với quan niệm của họ – nếu đó là điều mà họ không thể hiểu được – thì sẽ khó để họ nói rằng Đức Chúa Trời là công chính. Nếu Đức Chúa Trời hủy diệt Gióp vào lúc ấy, con người sẽ không nói Ngài công chính. Tuy nhiên, thật ra thì dù con người có bị bại hoại hay không, và dù họ có bị bại hoại sâu sắc hay không thì Đức Chúa Trời có phải biện minh cho Ngài khi Ngài hủy diệt họ không? Ngài có phải giải thích cho con người là Ngài làm như vậy dựa trên cơ sở nào không? Đức Chúa Trời có phải nói cho con người biết những quy luật Ngài ấn định không? Không cần. Trong mắt Đức Chúa Trời, ai đó bại hoại và ai đó có thể chống đối Đức Chúa Trời thì đều không có giá trị; dù Đức Chúa Trời có xử lý họ như thế nào thì cũng sẽ là thích hợp, và tất cả đều là những sự an bài của Đức Chúa Trời. Nếu ngươi chướng mắt đối với Đức Chúa Trời, và nếu Ngài nói rằng Ngài không cần tới ngươi sau chứng ngôn của ngươi và do đó hủy diệt ngươi thì điều này cũng là sự công chính của Ngài chứ? Đúng vậy. Có lẽ ngươi không thể nhận ra điều này ngay bây giờ từ thực tế, nhưng ngươi phải hiểu đạo lý. Các ngươi nói xem – việc Đức Chúa Trời hủy diệt Sa-tan có phải là biểu hiện của sự công chính của Ngài không? (Phải.) Sẽ thế nào nếu Ngài cho phép Sa-tan tồn tại? Ngươi không dám nói phải không? Thực chất của Đức Chúa Trời là sự công chính. Mặc dù không dễ dàng hiểu được những gì Ngài làm, nhưng tất thảy những gì Ngài làm là công chính; chỉ đơn giản là mọi người không hiểu. Khi Đức Chúa Trời giao Phi-e-rơ cho Sa-tan, Phi-e-rơ đã đáp lại thế nào? ‘Nhân loại không thể hiểu được những gì Ngài làm, nhưng tất thảy những gì Ngài làm đều chứa đựng ý tốt của Ngài; tất thảy đều có sự công chính trong đó. Làm sao tôi có thể không thốt lên lời khen ngợi sự khôn ngoan và những việc làm của Ngài?’. Giờ ngươi nên hiểu lý do Đức Chúa Trời không tiêu diệt Sa-tan trong thời kỳ Ngài cứu rỗi con người là để con người có thể thấy rõ Sa-tan đã làm họ bại hoại ra sao và nó đã làm họ bại hoại đến mức nào, cũng như cách Đức Chúa Trời làm tinh sạch và cứu rỗi họ. Cuối cùng, khi con người đã hiểu được lẽ thật và thấy rõ được bộ mặt ghê tởm của Sa-tan, thấy được tội lỗi khủng khiếp của việc Sa-tan làm họ bại hoại, thì Đức Chúa Trời sẽ tiêu diệt Sa-tan, cho họ thấy sự công chính của Ngài. Thời điểm mà Đức Chúa Trời tiêu diệt Sa-tan chứa đầy tâm tính và sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời. Mọi việc Đức Chúa Trời làm đều công chính. Mặc dù có thể con người không thể nhận ra được sự công chính của Đức Chúa Trời, nhưng họ không nên tùy ý phán xét. Nếu điều gì đó mà Ngài làm đối với con người có vẻ là không hợp lý, hoặc nếu họ có bất kỳ quan niệm nào về điều đó, và nó khiến họ cho rằng Ngài không công chính, thì họ đang là kẻ vô lý nhất(Phần 3, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt). Từ lời Đức Chúa Trời, tôi nhận ra mình không hiểu tâm tính công chính của Ngài. Tôi đã xem sự công chính của Đức Chúa Trời như là sự công bằng hợp lý theo cách nhìn của nhân loại bại hoại. Tôi nghĩ rằng mình đã tin Đức Chúa Trời, đã trả giá và dâng mình, thì Ngài nên chữa bệnh cho tôi, ban cho tôi ân điển và phước lành. Khi mọi việc hợp với quan niệm của mình, tôi cho rằng Đức Chúa Trời là công chính, nhưng khi Đức Chúa Trời không ban phước cho tôi, và mọi việc không hợp với quan niệm, tưởng tượng của mình, thì tôi lại cho rằng Đức Chúa Trời không công chính. Tôi hoàn toàn đo lường tâm tính công chính của Đức Chúa Trời dựa trên việc mình có được ban phước và được lợi hay không, điều này hoàn toàn không phù hợp với lẽ thật. Những quan điểm này thật quá lệch lạc! Thực tế, bất kể một người sau khi tin Đức Chúa Trời đã vứt bỏ hay dâng mình bao nhiêu, chịu bao nhiêu khổ cực hay trả giá bao nhiêu, thì đó đều là những gì một loài thọ tạo nên làm. Còn về cách Đức Chúa Trời đối xử với chúng ta – dù Ngài có ban ân điển và phước lành, hay có chữa lành bệnh tật cho con người hay không – đó là quyền của Đức Chúa Trời, và nhân loại bại hoại không có quyền đòi hỏi Đức Chúa Trời làm thế này hay thế khác. Điều con người nên làm là chấp nhận và thuận phục, vì đây là lý trí mà họ nên có. Nhưng tôi lại tự nên công chính mà yêu cầu Đức Chúa Trời chữa bệnh cho tôi vì sự dâng mình của tôi. Chẳng phải tôi đang cố đưa ra những yêu cầu vô lý với Đức Chúa Trời sao? Cái ý nghĩ rằng tôi đã vứt bỏ và dâng mình, và do đó Đức Chúa Trời phải đảm bảo mọi việc suôn sẻ cho tôi và chữa lành bệnh cho tôi, và nếu Ngài không làm vậy thì Ngài không công chính – chẳng phải đây chỉ là những quan niệm và suy nghĩ viển vông của riêng tôi sao? Nếu Đức Chúa Trời chữa lành cho tôi, thì đó là sự công chính của Ngài, và nếu Ngài không chữa lành cho tôi, thì đó cũng là sự công chính của Ngài. Bất kể bệnh tình của tôi có trở nên nghiêm trọng đến đâu, ngay cả khi Đức Chúa Trời để tôi chết, đó cũng là sự công chính của Đức Chúa Trời. Tôi không thể nhìn nhận tâm tính công chính của Đức Chúa Trời từ góc độ lợi ích cá nhân, mà phải từ góc độ thực chất của Ngài. Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa, và cách chúng ta được đối xử là điều chúng ta đáng phải nhận và là công chính. Tôi nghĩ đến việc Đức Chúa Trời đã giao Phi-e-rơ cho Sa-tan. Phi-e-rơ đã có thể chấp nhận mà không oán trách hay hiểu lầm Đức Chúa Trời, và ông thậm chí còn nói: “Nhân loại không thể hiểu được những gì Ngài làm, nhưng tất thảy những gì Ngài làm đều chứa đựng ý tốt của Ngài; tất thảy đều có sự công chính trong đó. Làm sao tôi có thể không thốt lên lời khen ngợi sự khôn ngoan và những việc làm của Ngài?”. Tôi chỉ là một loài thọ tạo nhỏ bé, và bất cứ điều gì Đức Chúa Trời làm với tôi đều là phù hợp. Dù Ngài có chữa lành cho tôi hay không, dù Ngài có cho tôi một kết cục hay đích đến tốt đẹp hay không, tôi đều nên chấp nhận và thuận phục, vì điều này thể hiện việc sở hữu nhân tính và lý trí. Nhận ra điều này, tôi đã cầu nguyện với Đức Chúa Trời: “Lạy Đức Chúa Trời, trước đây con không hiểu tâm tính công chính của Ngài, và con đã đo lường nó bằng những quan niệm và tưởng tượng của riêng mình. Bây giờ con hiểu rằng bất cứ điều gì Ngài làm đều là công chính. Ngay cả khi bệnh của con không được chữa khỏi và con chết đi, Ngài vẫn là công chính, con vẫn sẽ cảm tạ và ngợi ca Ngài!”.

Sau đó, tôi đọc thêm lời Đức Chúa Trời: “Gióp đã không nói chuyện đổi chác với Đức Chúa Trời, và đã không yêu cầu hay đòi hỏi gì ở Đức Chúa Trời. Sự ngợi khen danh Đức Chúa Trời của ông là vì quyền năng và thẩm quyền vĩ đại của Đức Chúa Trời trong việc tể trị muôn vật, và nó không lệ thuộc vào việc ông đạt được những phúc lành hay bị tai họa giáng xuống. Ông đã cho rằng bất kể Đức Chúa Trời ban phúc cho con người hay giáng thảm họa xuống họ, thì quyền năng và thẩm quyền của Đức Chúa Trời sẽ không thay đổi, do đó, bất kể hoàn cảnh của người ta thế nào, thì danh Đức Chúa Trời đều nên được ngợi khen. Việc con người được Đức Chúa Trời ban phúc lành là bởi sự tể trị của Đức Chúa Trời, và khi tai họa xảy đến với con người, đó cũng là vì sự tể trị của Đức Chúa Trời. Quyền năng và thẩm quyền của Đức Chúa Trời tể trị và sắp đặt mọi thứ của con người; họa phúc nay mai của con người là biểu hiện cho quyền năng và thẩm quyền của Đức Chúa Trời, và bất kể ngươi nhìn nhận chuyện này từ góc độ nào, danh Đức Chúa Trời phải được ngợi khen. Đây là điều Gióp đã trải nghiệm và bắt đầu biết đến trong những năm tháng của cuộc đời ông. Tất cả những ý nghĩ và hành vi của Gióp đều đến tai Đức Chúa Trời và đến trước Đức Chúa Trời, cũng như được Đức Chúa Trời xem trọng. Đức Chúa Trời trân trọng nhận thức này của Gióp, và trân quý Gióp vì có tấm lòng như vậy. Tấm lòng này luôn chờ đợi lệnh truyền của Đức Chúa Trời, ở mọi nơi, và bất kể thời gian hay nơi chốn, nó cũng chào đón bất cứ điều gì xảy đến với ông. Gióp đã không yêu cầu gì ở Đức Chúa Trời. Điều ông yêu cầu chính mình là chờ đợi, chấp nhận, đối diện, và thuận phục tất cả những sự sắp đặt đến từ Đức Chúa Trời; Gióp tin đây là chức trách của ông, và đó chính là điều Đức Chúa Trời muốn(Công tác của Đức Chúa Trời, tâm tính của Đức Chúa Trời, và chính Đức Chúa Trời II, Lời, Quyển 2 – Về việc biết Đức Chúa Trời). Đọc xong lời Đức Chúa Trời, lòng tôi trở nên sáng tỏ, và tôi đã tìm thấy một con đường thực hành. Gióp tin Đức Chúa Trời mà không cố gắng giao dịch với Ngài, và dù ông nhận được phước lành hay phải chịu tai họa, ông đều có thể ngợi ca Đức Chúa Trời. Đó là vì ông đã nhận ra thẩm quyền của Đức Chúa Trời từ vạn vật và từ những trải nghiệm của chính mình, và ông biết rằng chính quyền năng vĩ đại của Đức Chúa Trời đang sắp đặt và tể trị mọi thứ. Bất kể một người cuối cùng nhận được phước lành hay phải chịu đau khổ, họ đều nên thuận phục vô điều kiện sự tể trị và sắp đặt của Đấng Tạo Hóa. Gióp có nhân tính và lý trí; ông không yêu cầu Đức Chúa Trời làm bất cứ điều gì. Thay vào đó, ông yêu cầu bản thân phải luôn chờ đợi, chấp nhận và thuận phục mọi điều đến từ Đức Chúa Trời. Gióp là người trung thực, tốt bụng và có đức tin thật nơi Đức Chúa Trời; cuối cùng, ông đã đứng vững làm chứng trong sự thử luyện và nhận được sự khen ngợi của Đức Chúa Trời. Tôi cũng muốn noi gương Gióp, và dù bệnh tình của tôi có thuyên giảm hay không, hay kết cục của tôi có ra sao, tôi cũng sẽ thuận phục sự sắp đặt và an bài của Đức Chúa Trời và không còn đưa ra lựa chọn của riêng mình nữa. Tôi cầu nguyện với Đức Chúa Trời: “Lạy Đức Chúa Trời, trước đây con không hiểu lẽ thật. Con luôn lo lắng về việc bệnh của mình có được chữa khỏi hay không, hay mình có được một kết cục và đích đến tốt đẹp hay không, và con đã sống trong đau khổ vô cùng. Hôm nay, con sẵn sàng giao phó bản thân vào tay Ngài, và dù nhận được phước lành hay phải chịu đau khổ, con cũng sẽ thuận phục sự tể trị và sắp đặt của Ngài”. Sau khi quan điểm của tôi được xoay chuyển phần nào, tôi đã có được cảm giác nhẹ nhõm và giải thoát rất nhiều. Sau đó, tôi thử một vài bài thuốc dân gian, và không ngờ, bệnh tình của tôi thực sự đã được kiểm soát, và tôi đã có thể thực hiện bổn phận của mình một cách bình thường. Qua trải nghiệm này, tôi nhận ra rằng nếu không bị bệnh tật tỏ lộ, tôi đã không thể nhận ra ý định đê tiện là mưu cầu phước lành của mình. Mặc dù thể xác phải chịu một chút đau đớn, nhưng tôi đã có được một chút hiểu biết về những quan điểm sai lầm đằng sau sự mưu cầu của mình, và bản thân đã có chút thay đổi. Đây là tình yêu và sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời dành cho tôi! Tạ ơn Đức Chúa Trời!

Trước: 55. Chỉ ra vấn đề không phải là vạch trần khuyết điểm

Tiếp theo: 60. Lựa chọn trong hoàn cảnh nguy hiểm

Hồi chuông thời sau hết báo động đã vang lên, đại thảm họa đã ập xuống, bạn có muốn cùng gia đình nghênh đón được Thiên Chúa, và có cơ hội nhận được sự che chở của Thiên Chúa không?

Nội dung liên quan

52. Vĩnh biệt người dễ dãi!

Bởi Lý Phi, Tây Ban NhaVề những người dua nịnh, tôi từng nghĩ họ thật tuyệt vời, trước khi tin vào Đức Chúa Trời. Họ có tâm tính hòa...

53. Tháo gỡ những nút thắt

Bởi Thúy Bách, ÝĐức Chúa Trời phán: “Vì số phận của các ngươi, các ngươi nên tìm kiếm sự chấp thuận của Đức Chúa Trời. Điều này có nghĩa...

Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời Về việc biết Đức Chúa Trời Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt Vạch rõ kẻ địch lại Đấng Christ Chức trách của lãnh đạo và người làm công Về việc mưu cầu lẽ thật Về việc mưu cầu lẽ thật Sự phán xét khởi từ nhà Đức Chúa Trời Những lời trọng yếu từ Đức Chúa Trời Toàn Năng, Đấng Christ của thời kỳ sau rốt Lời Đức Chúa Trời Hằng Ngày Các thực tế lẽ thật mà người tin Đức Chúa Trời phải bước vào Theo Chiên Con Và Hát Những Bài Ca Mới Những chỉ dẫn cho việc truyền bá phúc âm của vương quốc Chiên của Đức Chúa Trời nghe tiếng của Đức Chúa Trời Lắng nghe tiếng Đức Chúa Trời thấy được sự xuất hiện của Đức Chúa Trời Những câu hỏi và câu trả lời thiết yếu về Phúc Âm của Vương quốc Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 1) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 2) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 3) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 4) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 5) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 6) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 7) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 8) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 9) Tôi Đã Quay Về Với Đức Chúa Trời Toàn Năng Như Thế Nào

Cài đặt

  • Văn bản
  • Chủ đề

Màu Đồng nhất

Chủ đề

Phông

Kích cỡ Phông

Khoảng cách Dòng

Khoảng cách Dòng

Chiều rộng Trang

Mục lục

Tìm kiếm

  • Tìm kiếm văn bản này
  • Tìm kiếm cuốn sách này

Liên hệ với chúng tôi qua Messenger