Công tác và sự bước vào (7)

Con người phải đến tận ngày nay mới nhận ra rằng những gì con người thiếu không chỉ là sự cung cấp cho đời sống thuộc linh và kinh nghiệm biết Đức Chúa Trời, mà – điều còn quan trọng hơn cả – là những thay đổi trong tâm tính của họ. Do con người hoàn toàn không biết gì về lịch sử và văn hóa cổ đại của chính giống nòi mình, nên kết quả là con người không biết chút gì về công tác của Đức Chúa Trời. Tất cả mọi người đều hy vọng rằng con người có thể được gắn kết với Đức Chúa Trời sâu thẳm trong lòng mình, nhưng bởi vì xác thịt của con người quá bại hoại, vừa tê liệt vừa đần độn, nên điều này đã khiến cho họ không biết chút gì về Đức Chúa Trời. Đến giữa con người ngày nay, mục đích của Đức Chúa Trời không gì khác hơn là chuyển hóa tư tưởng và tâm linh của con người, cũng như hình tượng của Đức Chúa Trời trong lòng họ mà họ đã có trong hàng triệu năm. Ngài sẽ nhân cơ hội này làm cho con người hoàn thiện. Nghĩa là, thông qua kiến thức của con người, Ngài sẽ thay đổi cách con người biết đến Ngài và thái độ của họ đối với Ngài, cho phép con người có một khởi đầu mới thắng lợi trong việc biết đến Đức Chúa Trời, và nhờ đó, đạt được sự đổi mới và chuyển hóa tâm linh con người. Xử lý và sửa dạy là phương tiện, trong khi chinh phục và đổi mới là mục tiêu. Xua tan những tư tưởng mê tín mà con người nắm giữ về Đức Chúa Trời mơ hồ đã mãi là ý định của Đức Chúa Trời, và gần đây, điều này cũng đã trở thành một vấn đề cấp bách đối với Ngài. Giá mà hết thảy mọi người đều có thể nhìn xa khi xem xét tình huống này. Hãy thay đổi cách mỗi người trải nghiệm để ý định cấp bách này của Đức Chúa Trời có thể sớm thành hiện thực và để giai đoạn công tác cuối cùng của Đức Chúa Trời trên đất có thể được hoàn thành mỹ mãn. Hãy dâng lên Đức Chúa Trời lòng trung thành mà các ngươi cần phải dâng lên Ngài, và lần cuối cùng, hãy khiến cho lòng Đức Chúa Trời được an ủi. Trong số các anh chị em, mong rằng sẽ không có ai trốn tránh trách nhiệm này, hoặc chỉ giả vờ làm cho có lệ. Đức Chúa Trời đến trong xác thịt lần này để đáp lại một lời thỉnh cầu, và để đáp thẳng lại tình trạng của con người. Nghĩa là, Ngài đến để cung cấp cho con người những gì con người cần. Bất kể con người có tố chất gì hay được giáo dục như thế nào, tóm lại, Ngài sẽ làm cho họ nhìn thấy lời Đức Chúa Trời, và từ lời Ngài, thấy được sự hiện hữu và xuất hiện của Đức Chúa Trời, và chấp nhận để Ngài làm cho họ hoàn thiện, thay đổi những tư tưởng và quan niệm của con người để diện mạo ban đầu của Đức Chúa Trời ăn sâu vào thâm tâm con người. Đây là mong muốn duy nhất của Đức Chúa Trời trên đất. Cho dù bản tính bẩm sinh của con người có vĩ đại cỡ nào, hay bản chất của con người có kém cỏi cỡ nào, hay hành vi của con người trong quá khứ thực sự ra sao, Đức Chúa Trời cũng không quan tâm đến những điều này. Ngài chỉ hy vọng con người có một hình tượng hoàn toàn mới về Đức Chúa Trời mà họ có trong thâm tâm và biết đến bản chất của loài người, từ đó, đi đến sự chuyển hóa quan điểm ý thức hệ của con người, và có thể mong mỏi Đức Chúa Trời từ trong sâu thẳm cũng như đánh thức một sự gắn kết đời đời với Ngài: Đây là yêu cầu duy nhất mà Đức Chúa Trời đòi hỏi ở con người.

Kiến thức về văn hóa và lịch sử cổ đại kéo dài vài ngàn năm đã khép chặt những tư tưởng, quan niệm của con người và quan điểm tinh thần của họ đến mức làm cho chúng trơ lì và không thể phân hủy.[1] Con người sống trong tầng thứ mười tám của địa ngục, nơi không bao giờ có thể nhìn thấy ánh sáng, như thể họ đã bị Đức Chúa Trời đày vào ngục tối. Tư duy phong kiến đã đè nén con người đến mức khó thở và ngột ngạt. Họ không có một chút sức mạnh nào để kháng cự; tất cả những gì họ làm là chịu đựng và chịu đựng trong im lặng… Chưa bao giờ có ai dám đấu tranh hoặc đứng lên vì sự công chính và công bằng; con người chỉ sống một cuộc sống còn tệ hơn thú vật, dưới những đòn giáng và sự ngược đãi của đạo đức phong kiến, hết ngày này qua ngày nọ, hết năm này qua năm nọ. Họ chưa bao giờ nghĩ đến việc tìm kiếm Đức Chúa Trời để tận hưởng hạnh phúc nơi trần thế. Con người như thể đã bị đánh gục đến mức như những chiếc lá rụng mùa thu, khô héo và vàng úa. Con người từ lâu đã mất trí nhớ; họ sống bất lực trong địa ngục gọi là trần gian, chờ đợi ngày cuối cùng đến để họ có thể diệt vong cùng với địa ngục này, như thể ngày sau rốt mà họ mong mỏi là ngày con người sẽ tận hưởng sự yên nghỉ. Đạo đức phong kiến đã đưa đời sống con người vào “âm phủ”, càng làm suy yếu hơn sức kháng cự của con người. Đủ kiểu áp bức đẩy con người từng bước một rơi sâu xuống âm phủ, càng ngày càng xa cách Đức Chúa Trời, cho đến ngày nay, họ đã trở thành người hoàn toàn xa lạ với Đức Chúa Trời và vội vã tránh Ngài khi gặp. Con người không chú ý đến Ngài và bỏ mặc Ngài đứng một mình một bên, như thể con người trước đây chưa bao giờ biết Ngài, chưa bao giờ thấy Ngài. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời đã và đang chờ đợi con người trong suốt hành trình dài của kiếp người, chưa bao giờ trút cơn thịnh nộ không thể kìm nén của Ngài về phía họ, chỉ lặng lẽ chờ đợi, không một lời, chờ con người ăn năn và làm lại từ đầu. Từ lâu, Đức Chúa Trời đã đến nhân gian để chia sẻ với con người những đau khổ của nhân gian. Trong suốt những năm Ngài sống với con người, chưa ai từng phát hiện ra sự hiện hữu của Ngài. Đức Chúa Trời chỉ âm thầm chịu đựng nỗi khốn khổ bởi sự điêu tàn trong nhân gian khi đang thực hiện công tác Ngài đã đích thân mang lại. Ngài tiếp tục chịu đựng vì ý muốn của Đức Chúa Cha và vì nhu cầu của nhân loại, trải qua những đau khổ mà chưa ai từng trải qua trước đây. Trước con người, Ngài đã lặng lẽ chờ đợi họ, và trước con người, Ngài đã hạ mình, vì ý muốn của Đức Chúa Cha và cũng vì nhu cầu của nhân loại. Kiến thức về văn hóa cổ đại đã lén đánh cắp con người khỏi sự hiện diện của Đức Chúa Trời và giao họ cho quỷ vương và con cháu của nó. Tứ Thư và Ngũ Kinh[a] đã đưa những tư tưởng và quan niệm của con người vào trong một thời đại nổi loạn khác, khiến cho họ còn tâng bốc hơn trước những người biên soạn Sách/ Kinh thư, và kết quả là những quan niệm của họ về Đức Chúa Trời càng trầm trọng thêm. Con người không hề biết, quỷ vương đã nhẫn tâm đuổi Đức Chúa Trời ra khỏi lòng họ và sau đó chính nó chiếm giữ với niềm sung sướng đắc thắng. Kể từ đó, con người đã trở nên có một tâm hồn xấu xa, độc ác và mang vẻ mặt của quỷ vương. Lòng căm ghét Đức Chúa Trời tràn đầy lồng ngực họ, và sự hiểm độc đầy thù hận của quỷ vương đã lan tràn trong con người ngày ngày cho đến khi họ hoàn toàn héo hon. Con người không còn có chút tự do nào và không có cách nào thoát khỏi những cạm bẫy của quỷ vương. Họ không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc bị bắt tại trận, đầu hàng và sụp xuống đầu phục trước nó. Xưa kia, khi tấm lòng và tâm hồn của con người vẫn còn non nớt, quỷ vương đã gieo rắc vào đó mầm mống của khối u vô thần, dạy cho họ những ngụy lý như “nghiên cứu khoa học và kỹ thuật; thực hiện Bốn Hiện đại hóa; và không có thứ gì như là Đức Chúa Trời trên đời”. Không chỉ vậy, nó còn hô to mỗi khi có cơ hội rằng: “Chúng ta hãy dựa vào sức lao động cần cù của mình để xây dựng một quê hương tươi đẹp”, yêu cầu mỗi một người phải sẵn sàng từ thời thơ ấu để trung thành phục vụ Tổ quốc. Vô tình, con người đã bị đem đến trước nó, nơi mà nó không ngần ngại nhận vơ tất cả công trạng về mình (nghĩa là những công trạng thuộc về Đức Chúa Trời bởi vì Ngài nắm giữ toàn thể nhân loại trong tay Ngài). Chưa bao giờ nó có bất kỳ cảm giác xấu hổ nào. Hơn nữa, nó đã trơ trẽn bắt dân sự của Đức Chúa Trời và lôi họ trở lại nhà của nó, nơi mà nó như một con chuột nhảy phóc lên bàn và bắt con người thờ phượng nó như Đức Chúa Trời. Thật là một kẻ liều mạng! Nó kêu gào những điều gây sốc, kích động như: “Không có thứ gì như là Đức Chúa Trời trên đời. Gió có từ sự biến đổi theo những quy luật tự nhiên; mưa có khi nước bốc hơi, gặp nhiệt độ lạnh, ngưng tụ thành giọt rơi xuống đất; động đất là sự rung chuyển bề mặt trái đất do những thay đổi địa chất; hạn hán là do sự khô hạn trong không khí gây ra bởi sự phá vỡ hạt nhân trên bề mặt mặt trời. Đây là những hiện tượng tự nhiên. Trong tất cả những điều này, chỗ nào có hành động của Đức Chúa Trời?” Thậm chí có những kẻ còn hét toáng lên những tuyên bố như sau, những tuyên bố không nên nói: “Con người đã tiến hóa từ vượn người trong thời cổ đại, và thế giới ngày nay bắt nguồn từ sự nối tiếp các xã hội nguyên thủy bắt đầu từ khoảng hàng tỷ năm trước. Một đất nước hưng thịnh hay suy tàn hoàn toàn nằm trong tay người dân.” Ở vị trí nền, nó buộc con người treo nó lên tường hay đặt nó lên bàn để tỏ lòng kính trọng và dâng của lễ cho nó. Đồng thời với việc kêu lên: “Không có Đức Chúa Trời”, nó tự lập mình lên làm Đức Chúa Trời, lỗ mãng đẩy Đức Chúa Trời ra khỏi địa phận trái đất, trong khi đứng vào vị trí của Đức Chúa Trời và giữ vai trò quỷ vương. Hoàn toàn mất lý trí! Nó khiến con người ghét nó đến tận xương tủy. Dường như Đức Chúa Trời và nó là kẻ thù không đội trời chung, cả hai không thể cùng tồn tại. Nó âm mưu đuổi Đức Chúa Trời đi trong khi nó tự do tung hoành, ngoài vòng pháp luật.[2] Đúng là đồ quỷ vương! Làm sao có thể dung thứ cho sự tồn tại của nó? Nó sẽ chưa chịu yên cho đến khi nó đã tạo ra mớ hỗn độn trong công tác của Đức Chúa Trời và bỏ lại tất cả trong một bãi chiến trường,[3] như thể nó muốn chống đối Đức Chúa Trời đến tận cùng, cho đến khi một mất một còn, cố tình đặt mình đối nghịch với Đức Chúa Trời và ngày càng dồn ép hơn. Bộ mặt gớm ghiếc của nó từ lâu đã bị lột trần, giờ đây nó bầm tím, méo mó[4] và trong một tình trạng thiểu não, vậy mà nó vẫn không nguôi căm ghét Đức Chúa Trời, như thể chỉ bằng cách phát một nuốt chửng Đức Chúa Trời vào miệng thì nó mới có thể hả hận thù dồn nén trong lòng. Làm sao chúng ta có thể bỏ qua cho nó, kẻ thù này của Đức Chúa Trời! Chỉ có nhổ rễ và tiêu diệt nó hoàn toàn thì mong ước của cuộc đời chúng ta mới trở thành hiện thực. Làm sao có thể cho phép nó tiếp tục lộng hành? Nó đã làm cho con người bại hoại đến nỗi không biết mặt trời thiên đàng, đã trở nên u mê và vô cảm. Con người đã đánh mất lý trí của con người bình thường. Tại sao không dâng hiến cả con người mình để tiêu diệt nó và thiêu cháy nó để loại bỏ mọi lo lắng cho tương lai và để công tác của Đức Chúa Trời sớm đạt được sự huy hoàng chưa từng thấy hơn. Băng nhóm của những kẻ vô lại này đã đi vào thế giới con người và khiến cho nó hỗn loạn. Chúng đã đưa cả nhân loại đến bờ vực thẳm, bí mật lên kế hoạch đẩy họ xuống cho tan xương nát thịt hầu cho sau đó, chúng có thể nuốt chửng những xác chết của họ. Chúng hy vọng hão huyền sẽ phá vỡ kế hoạch của Đức Chúa Trời và bước vào một trận đấu với Ngài, đặt cược mọi thứ vào một lần đổ súc sắc.[5] Điều đó không dễ dàng chút nào! Xét cho cùng, thập tự giá đã được chuẩn bị cho quỷ vương, kẻ phạm những tội ác tày trời nhất. Đức Chúa Trời không thuộc về thập tự giá. Ngài đã ném nó sang một bên cho ma quỷ. Đức Chúa Trời từ lâu đã xuất hiện khải hoàn và không còn cảm thấy đau buồn vì tội lỗi của nhân loại, mà sẽ mang lại sự cứu rỗi cho cả nhân loại.

Từ trên xuống dưới và từ đầu đến cuối, Sa-tan đã và đang làm gián đoạn công tác của Đức Chúa Trời và hành động chống đối Ngài. Toàn bộ sự rao giảng về “di sản văn hóa cổ đại”, “kiến thức văn hóa cổ đại” quý giá, “những giáo lý của Đạo giáo và Nho giáo”, và “Nho giáo kinh điển và những nghi thức phong kiến” đã đưa con người xuống địa ngục. Khoa học kỹ thuật hiện đại tiên tiến, cũng như ngành công nghiệp, nông nghiệp và thương mại phát triển mạnh ở đâu không thấy. Thay vào đó, tất cả những gì nó làm là nhấn mạnh những nghi thức phong kiến được truyền bá bởi “những con vượn người” thời cổ đại để cố tình làm gián đoạn, chống đối và phá hủy công tác của Đức Chúa Trời. Nó không những tiếp tục làm khổ con người cho đến ngày nay, mà thậm chí còn muốn nuốt trọn[6] con người. Sự lan truyền những giáo huấn về đạo đức và luân thường của chủ nghĩa phong kiến và việc truyền lại những kiến thức văn hóa cổ đại từ lâu đã tiêm nhiễm vào loài người, biến họ thành những con ma quỷ lớn nhỏ. Hiếm ai sẽ vui mừng tiếp nhận Đức Chúa Trời, hiếm ai sẽ hân hoan chào đón Ngài đến. Gương mặt của cả loài người đều đằng đằng sát khí, và ở mọi nơi, hơi thở giết chóc tràn ngập không gian. Họ cố tìm cách đuổi Đức Chúa Trời ra khỏi mảnh đất này; với dao kiếm trong tay, họ dàn trận để “tiêu diệt” Đức Chúa Trời. Khắp mảnh đất của quỷ này, nơi con người luôn được dạy rằng không có Đức Chúa Trời, các thần tượng được lan truyền, và bầu không khí bên trên tràn ngập mùi buồn nôn của vàng mã và nhang cháy, dày đặc đến mức nghẹt thở. Nó giống như mùi hôi thối của cống rãnh bốc lên cùng với sự quằn quại của con rắn độc, nồng nặc đến mức người ta không khỏi nôn mửa. Bên cạnh đó, có thể nghe thấy âm thanh yếu ớt của những con ác quỷ đang tụng kinh, một âm thanh dường như đến từ địa ngục xa xăm, nhiều đến nỗi người ta không khỏi rùng mình. Những tượng thần đủ màu sắc cầu vồng được đặt khắp nơi trên mảnh đất này, biến mảnh đất thành một thế giới của những thú vui nhục dục, trong khi quỷ vương cười tinh quái không ngớt, như thể âm mưu đê tiện của nó đã thành công. Trong khi đó, con người vẫn hoàn toàn không biết gì, và họ cũng không có bất kỳ quan niệm mơ hồ nào về việc con quỷ đã làm họ bại hoại đến mức họ đã trở nên vô tri và gục đầu trong thất bại. Nó mong sẽ một phát xóa sổ mọi thứ về Đức Chúa Trời, và một lần nữa làm nhục và ám sát Ngài; đó là ý đồ phá hủy và phá vỡ công tác của Ngài. Làm sao nó có thể để Đức Chúa Trời có địa vị ngang hàng với nó? Làm sao nó có thể bỏ qua việc Đức Chúa Trời “gây cản trở” công việc nó làm giữa con người trên đất? Làm sao nó có thể để Đức Chúa Trời lột trần bộ mặt gớm ghiếc của nó? Làm sao nó có thể để Đức Chúa Trời làm xáo trộn công việc của nó? Làm sao con quỷ này, trong cơn cuồng nộ, có thể để Đức Chúa Trời có quyền kiểm soát triều đình của nó trên đất? Làm sao nó có thể tự nguyện cúi đầu trước quyền năng siêu việt hơn của Ngài? Bộ mặt gớm ghiếc của nó đã được vạch trần cho thấy nó là gì, để người ta không biết nên cười hay khóc, và điều đó thực sự khó nói. Chẳng phải đây là bản chất của nó sao? Với một tâm hồn xấu xa, nó vẫn tin rằng mình đẹp không thể tin được. Băng đảng tòng phạm này![7] Chúng xuống cõi phàm trần để thỏa thích trong những thú vui và gây náo loạn, khuấy động mọi thứ đến nỗi thế gian trở thành một nơi hay thay đổi thất thường, và lòng người đầy hoảng loạn, bất an, và chúng đã đùa giỡn với con người nhiều đến mức ngoại hình của họ đã trở thành những con thú vô nhân tính ngoài đồng, cực kỳ xấu xa, và từ đó, dấu vết cuối cùng của con người thánh khiết ban đầu đã không còn. Hơn nữa, chúng còn muốn nắm quyền tối thượng trên đất. Chúng cản trở công tác của Đức Chúa Trời đến mức hầu như không thể nhích lên được, và chúng giam hãm con người chặt như tường đồng vách thép. Sau khi đã phạm quá nhiều trọng tội và gây ra quá nhiều tai họa, chúng vẫn đang mong đợi điều gì khác ngoài hình phạt sao? Ma quỷ và quỷ dữ đang lộng hành trên đất trong một thời gian, và đã niêm chặt cả ý muốn lẫn sự cố gắng cật lực của Đức Chúa Trời đến mức không thể xuyên qua. Quả thật, đây là một trọng tội! Làm sao Đức Chúa Trời không cảm thấy lo lắng cho được? Làm sao Đức Chúa Trời không cảm thấy phẫn nộ cho được? Chúng đã cản trở và chống đối công tác của Đức Chúa Trời một cách nghiêm trọng: Thật là phản nghịch! Thậm chí những con quỷ lớn nhỏ đó còn hành xử như những con chó rừng quấn gót chân sư tử, theo dòng tà ác, bày ra những trò nhiễu loạn khi chúng đi. Biết lẽ thật, chúng cố tình chống đối lẽ thật, lũ con cái phản nghịch! Cứ như thể giờ đây diêm vương của chúng đã lên ngôi vua, chúng trở nên dương dương tự đắc, đối xử khinh thường tất cả những người khác. Có bao nhiêu trong số chúng tìm kiếm lẽ thật và đi theo công chính? Hết thảy chúng là những con thú, không hơn gì con heo con chó, cầm đầu một lũ ruồi hôi thối, lúc lắc đầu dương dương tự đắc và kích động đủ thứ rắc rối,[8] ở giữa đống phân. Chúng tin rằng diêm vương của chúng là vị vua vĩ đại nhất trong tất cả, chẳng hề biết bản thân chúng không hơn gì những con ruồi hôi thối. Chưa hết, chúng lợi dụng sức mạnh của con heo chó mà chúng cho là cha mẹ để phỉ báng sự hiện hữu của Đức Chúa Trời. Là những con ruồi nhỏ bé, chúng tin rằng cha mẹ chúng to như những con cá voi có răng.[9] Chúng ít biết rằng, trong khi bản thân chúng nhỏ xíu, thì cha mẹ của chúng là những con heo con chó dơ dáy, lớn hơn chúng gấp hàng trăm triệu lần. Không nhận thức được sự thấp hèn của bản thân, chúng dựa vào mùi hôi thối tiết ra từ những con heo con chó đó để lộng hành, suy nghĩ viễn vông đến việc tạo ra những thế hệ tương lai, thật không biết xấu hổ! Với những đôi cánh màu xanh trên lưng (điều này ám chỉ việc chúng tuyên bố tin vào Đức Chúa Trời), chúng đầy tự phụ và khoe khoang khắp mọi nơi về vẻ đẹp và sự quyến rũ của bản thân mình, trong khi chúng lén lút tống những ô uế trên chính cơ thể mình lên con người. Hơn nữa, chúng vô cùng hài lòng với chính mình, như thể chúng có thể dùng đôi cánh có màu sắc sặc sỡ để che giấu những ô uế của bản thân, và bằng cách này, chúng đàn áp sự hiện hữu của Đức Chúa Trời thật (điều này ám chỉ những gì đang diễn ra bên trong giới tôn giáo). Làm sao con người biết được rằng, đôi cánh của một con ruồi dù có thể đẹp mê hồn, thì xét cho cùng, bản thân con ruồi không hơn gì một sinh vật nhỏ bé, với cái bụng đầy chất bẩn và thân thể phủ đầy vi trùng? Dựa vào sức mạnh của những con heo con chó mà chúng cho là cha mẹ, chúng lộng hành khắp nơi (điều này ám chỉ cách mà những quan chức tôn giáo bắt bớ Đức Chúa Trời dựa vào sự chống lưng mạnh mẽ của chính quyền nhà nước để dấy loạn chống lại Đức Chúa Trời thật và lẽ thật), trong sự tàn bạo vô độ của chúng. Điều đó như thể bóng ma của những người Pha-ri-si Do Thái đã trở lại cùng với Đức Chúa Trời trên đất nước của con rồng lớn sắc đỏ, trở về hang ổ cũ của chúng. Chúng lại bắt đầu một vòng bức hại khác, tiếp tục công việc của chúng vài ngàn năm trước đây. Nhóm những kẻ suy đồi này chắc chắn cuối cùng sẽ bị diệt vong trên đất! Có vẻ như, sau vài thiên niên kỷ, những con quỷ ô uế đã trở nên thậm chí còn xảo quyệt và ranh ma hơn. Chúng thường xuyên nghĩ cách ngầm phá hoại công tác của Đức Chúa Trời. Với đầy những mánh khóe và mưu mẹo, chúng mong muốn tái hiện lại trên quê hương mình thảm kịch của vài nghìn năm trước đây, trêu tức Đức Chúa Trời gần đến mức phải thét lên. Ngài khó lòng kiềm chế việc trở về tầng trời thứ ba để tiêu diệt chúng. Để yêu mến Đức Chúa Trời, con người phải nắm bắt ý muốn của Ngài, biết niềm vui và nỗi buồn của Ngài, và hiểu Ngài ghê tởm điều gì. Làm như vậy sẽ càng thúc đẩy sự bước vào của con người. Con người càng bước vào nhanh hơn, thì họ càng sớm thỏa mãn được ý muốn của Đức Chúa Trời, càng nhìn thấu quỷ vương, và càng đến gần Đức Chúa Trời, để mong muốn của Ngài có thể trở thành hiện thực.

Chú thích:

1. “Không thể phân hủy” có ý châm biếm ở đây, nghĩa là con người cứng nhắc trong kiến thức, văn hóa và quan điểm tâm linh của mình.

2. “Tự do tung hoành, ngoài vòng pháp luật” ám chỉ con quỷ điên cuồng và lộng hành.

3. “Một bãi chiến trường” ám chỉ hành vi bạo lực của con quỷ không thể nhìn nổi.

4. “Bầm tím và méo mó” ám chỉ bộ mặt xấu xí của quỷ vương.

5. “Đặt cược mọi thứ vào một lần đổ súc sắc” nghĩa là đặt toàn bộ số tiền của một người vào một lần cược với hy vọng cuối cùng sẽ chiến thắng. Đây là một ẩn dụ về âm mưu hiểm độc và bất chính của con quỷ. Cụm từ này được sử dụng một cách mỉa mai.

6. “Nuốt trọn” ám chỉ hành vi xấu xa của quỷ vương, nó cưỡng đoạt toàn bộ con người.

7. “Tòng phạm” cũng giống như “một băng côn đồ”.

8. “Kích động đủ thứ rắc rối” ám chỉ những kẻ quỷ quái lộng hành, cản trở và chống đối công tác của Đức Chúa Trời như thế nào.

9. “Những con cá voi có răng” được dùng một cách mỉa mai. Đó là một phép ẩn dụ về việc những con ruồi nhỏ bé đến nỗi đối với chúng, những con heo con chó nhìn to như cá voi.

a. Tứ Thư và Ngũ Kinh là những cuốn sách chính thức của Nho giáo ở Trung Quốc.

Trước: Công tác và sự bước vào (6)

Tiếp theo: Công tác và sự bước vào (8)

Tại sao tội lỗi được tha thứ còn có thể thường xuyên phạm tội? Những người thường xuyên phạm tội có thể vào vương quốc thiên đàng không? Hoan nghênh bạn đến liên hệ với chúng tôi và thảo luận trực tuyến.

Nội dung liên quan

Chương 17

Trên thực tế, tất cả những lời phán thốt ra từ miệng Đức Chúa Trời con người đều không được biết đến; chúng đều là thứ ngôn ngữ mà mọi...

Công tác và sự bước vào (1)

Kể từ khi con người bắt đầu đi đúng hướng trong việc tin vào Đức Chúa Trời, có nhiều điều họ vẫn còn chưa rõ. Họ vẫn hoàn toàn mù mờ về...

Cài đặt

  • Văn bản
  • Chủ đề

Màu Đồng nhất

Chủ đề

Phông

Kích cỡ Phông

Khoảng cách Dòng

Khoảng cách Dòng

Chiều rộng Trang

Mục lục

Tìm kiếm

  • Tìm kiếm văn bản này
  • Tìm kiếm cuốn sách này