Chúng tôi chào đón tất cả những ai tìm kiếm lẽ thật liên hệ với chúng tôi.

Lời xuất hiện trong xác thịt

Màu Đồng nhất

Chủ đề

Phông

Kích cỡ Phông

Khoảng cách Dòng

Chiều rộng Trang

0 kết quả

Không tìm thấy kết quả nào

Công tác và sự bước vào (6)

Công tác và lối vào vốn thực tế; chúng ám chỉ công tác của Đức Chúa Trời và lối vào của con người. Việc con người hoàn toàn không có khả năng nhìn thấu khuôn mặt thật của Đức Chúa Trời và công tác của Đức Chúa Trời đã mang đến sự khó khăn tột bực cho lối vào của họ. Đến nay, nhiều người vẫn không biết Đức Chúa Trời sẽ hoàn thành công tác gì trong những ngày sau rốt, hoặc tại sao Đức Chúa Trời lại chịu sự sỉ nhục tột cùng để đến trong xác thịt mà đồng cam cộng khổ với con người. Từ mục tiêu công tác của Đức Chúa Trời cho đến mục đích kế hoạch của Đức Chúa Trời cho những ngày sau rốt, con người hoàn toàn mờ mịt về những việc này. Vì nhiều nguyên nhân khác nhau, con người luôn lãnh đạm và lập lờ[1] về lối vào mà Đức Chúa Trời yêu cầu ở họ, điều đã mang đến sự khó khăn tột bực cho công tác của Đức Chúa Trời trong xác thịt. Sẽ trông có vẻ như tất cả mọi người đều đã trở thành những chướng ngại, và đến nay họ vẫn không rõ ràng. Vì lý do này, Ta nghĩ chúng ta nên nói về công tác mà Đức Chúa Trời làm trên con người, và ý định khẩn thiết của Đức Chúa Trời, để làm cho tất cả các ngươi thành kẻ tôi tớ trung thành, những người mà, giống như Gióp, sẽ thà chết còn hơn loại bỏ Đức Chúa Trời, chịu mọi sự sỉ nhục; và những người mà, như Phi-e-rơ, sẽ dâng trọn mình cho Đức Chúa Trời và trở thành những người thân cận mà Đức Chúa Trời thu phục trong những ngày sau rốt. Giá như tất cả các anh chị em có thể hết mình và dâng trọn mình cho thiên ý của Đức Chúa Trời, trở thành những kẻ tôi tớ thánh khiết trong nhà Đức Chúa Trời, và vui hưởng lời hứa vô tận mà Đức Chúa Trời ban, để lòng Đức Chúa Cha có thể sớm vui hưởng sự an nghỉ bình yên. “Hoàn thành ý muốn của Đức Chúa Cha” nên là phương châm của tất cả những ai yêu Đức Chúa Trời. Những lời này nên được dùng như sự hướng dẫn cho lối vào của con người và là kim chỉ nam hướng dẫn những hành động của họ. Đây là quyết tâm mà con người nên có. Để đưa công tác của Đức Chúa Trời trên đất đạt đến sự trọn vẹn tuyệt đối và phối hợp với công tác của Đức Chúa Trời trong xác thịt – đây là bổn phận của con người, cho đến một ngày, khi công tác của Đức Chúa Trời hoàn tất, con người sẽ vui vẻ chia tay Ngài khi Ngài sớm trở về với Đức Chúa Cha trên trời. Chẳng phải đây là trách nhiệm mà con người nên làm tròn sao?

Trong Thời đại Ân điển, khi Đức Chúa Trời trở lại tầng trời thứ ba, công tác cứu chuộc toàn thể nhân loại của Đức Chúa Trời thật ra đã chuyển sang phần cuối. Tất cả những gì còn lại trên đất là cây thập tự mà Jêsus đã vác trên lưng, tấm vải mịn bọc lấy Jêsus, mão gai và áo choàng đỏ mà Jêsus đã mặc (đây là những vật mà người Do Thái đã dùng để nhạo báng Ngài). Nghĩa là, sau khi công tác đóng đinh vào thập tự của Jêsus đã gây nên sự náo động lớn một thời gian, sự việc đã bình ổn lại. Từ đó trở đi, các môn đồ của Jêsus bắt đầu tiếp nối công tác của Ngài, chăn dắt và chăm tưới trong các hội thánh ở khắp nơi. Nội dung công tác của họ như sau: Họ đã yêu cầu mọi người ăn năn, xưng tội, và chịu phép báp-tem; và tất cả các sứ đồ đã đi loan tin nội tình câu chuyện, một câu chuyện không bị thêm thắt, về sự đóng đinh vào thập giá của Jêsus, và do đó mọi người không thể không phủ phục trước Jêsus để xưng tội; và hơn nữa, các sứ đồ đã đi khắp nơi để truyền đạt những lời Jêsus đã phán. Từ thời điểm đó, việc xây dựng các hội thánh trong Thời đại Ân điển đã bắt đầu. Những gì Jêsus đã làm trong thời đại đó cũng chỉ là nói về sự sống của con người và ý muốn của Đức Chúa Cha trên trời, bởi vì đó là một thời đại khác, nhiều lời phán và sự thực hành khi ấy khác rất nhiều so với những gì của ngày nay. Tuy nhiên, về thực chất thì chúng y như nhau: Chúng đều là công tác của Thần của Đức Chúa Trời trong xác thịt, đích thị và chính xác như vậy. Dạng công tác và lời phán này đã tiếp tục đến tận ngày nay, và do đó sự việc kiểu thế này vẫn cùng diễn ra trong các tổ chức tôn giáo ngày nay, và nó hoàn toàn không thay đổi. Khi công tác của Jêsus khép lại và các hội thánh đã đi đúng hướng của Jêsus Christ, Đức Chúa Trời tuy thế vẫn bắt đầu kế hoạch của Ngài cho một giai đoạn khác trong công tác của Ngài, là việc Ngài đến trong xác thịt vào những ngày sau rốt. Như con người thấy, sự chịu đóng đinh vào thập tự của Đức Chúa Trời đã khép lại công tác trong sự nhập thể của Đức Chúa Trời, cứu chuộc toàn thể nhân loại, và cho phép Ngài tịch thu chìa khóa vào âm phủ. Mọi người nghĩ công tác của Đức Chúa Trời đã được hoàn tất toàn bộ. Thực ra, từ lập trường của Đức Chúa Trời, chỉ một phần nhỏ công tác của Ngài đã được hoàn thành. Tất cả những gì Ngài đã làm là cứu chuộc nhân loại; Ngài đã không chinh phục nhân loại, huống chi thay đổi diện mạo xấu xa của con người. Đó là lý do tại sao Đức Chúa Trời phán: “Mặc dù xác thịt nhập thể của Ta đã trải qua sự đau đớn của cái chết, điều đó không phải là toàn bộ mục tiêu sự nhập thể của Ta. Jêsus là Con Trai yêu dấu của Ta và đã bị đóng đinh vào thập tự vì Ta, nhưng Ngài đã không khép lại toàn bộ công tác của Ta. Ngài chỉ làm một phần của nó”. Do vậy Đức Chúa Trời đã bắt đầu vòng thứ hai của những kế hoạch để tiếp tục công tác nhập thể. Ý định sau cùng của Đức Chúa Trời là hoàn thiện và thu phục tất cả những người được cứu rỗi khỏi nanh vuốt của Sa-tan, là lý do Đức Chúa Trời đã chuẩn bị để bất chấp nguy hiểm đến trong xác thịt một lần nữa. Ý nghĩa của “sự nhập thể” đề cập đến Đấng không mang vinh quang (bởi vì công tác của Đức Chúa Trời chưa hoàn tất), mà là Đấng xuất hiện trong thân phận Con Trai yêu dấu, và là Đấng Christ, Đấng mà Đức Chúa Trời rất hài lòng. Đó là lý do tại sao nói rằng “bất chấp nguy hiểm”. Xác thịt nhập thể có rất ít quyền năng và phải hết sức cẩn trọng[2], quyền năng của Ngài kém xa thẩm quyền của Đức Chúa Cha trên trời; Ngài chỉ làm tròn chức vụ của xác thịt, hoàn thành công tác của Đức Chúa Cha và sự ủy nhiệm của Ngài mà không tham gia vào công việc khác, và Ngài chỉ hoàn thành một phần của công tác. Đây là lý do tại sao Đức Chúa Trời được gọi là “Đấng Christ” ngay khi Ngài đến thế gian – đó là ý nghĩa ẩn sâu của tên gọi. Lý do nói rằng sự đến đi cùng với những cám dỗ là vì chỉ một phần công tác được hoàn thành. Hơn nữa, lý do Đức Chúa Cha chỉ gọi Ngài là “Đấng Christ” và “Con Trai yêu dấu”, nhưng đã không ban cho Ngài mọi vinh quang chính là vì xác thịt nhập thể đến để làm một phần công tác, chứ không đại diện cho Đức Chúa Cha trên trời, mà đúng hơn là làm tròn chức vụ của Con Trai yêu dấu. Khi Con Trai yêu dấu hoàn thành toàn bộ sự ủy nhiệm mà Ngài đã nhận lãnh trên vai Ngài, Cha khi ấy sẽ ban cho Ngài đầy sự vinh quang với thân phận là Cha. Người ta có thể nói rằng đây là “qui tắc của trời”. Bởi vì Đấng đã đến trong xác thịt và Cha trên trời đang ở hai cõi khác nhau, hai Ngài chỉ nhìn nhau trong Thần, Cha dõi mắt theo Con Trai yêu dấu nhưng Con Trai không thể thấy Cha từ xa. Đó là vì những chức năng mà xác thịt có khả năng làm thì quá nhỏ và Ngài có khả năng bị giết vào bất cứ lúc nào, do đó người ta có thể nói sự đến này đầy nguy hiểm tột bực. Điều này cũng giống như Đức Chúa Trời một lần nữa để Con Trai yêu dấu của Ngài vào nanh cọp, khi mạng sống của Ngài bị nguy hiểm, đặt Ngài vào nơi mà Sa-tan chú trọng nhất. Ngay cả trong những hoàn cảnh kinh khủng này, Đức Chúa Trời vẫn giao Con Trai yêu dấu của Ngài cho những người ở một nơi đầy sự nhơ bẩn và bừa bãi để họ “nuôi dạy Ngài trưởng thành”. Điều này là bởi làm như vậy là cách duy nhất để khiến cho công tác của Đức Chúa Trời trông có vẻ phù hợp và tự nhiên, và đó là cách duy nhất để làm tròn tất cả những mong muốn của Đức Chúa Cha và hoàn thành phần cuối của công tác của Ngài giữa nhân loại. Jêsus đã không làm gì hơn là hoàn thành một giai đoạn công tác của Đức Chúa Cha. Bởi vì rào cản của xác thịt nhập thể và những sự khác biệt trong công tác phải được hoàn thành, chính Jêsus đã không biết rằng sẽ có một sự trở lại lần thứ hai trong xác thịt. Do đó, không có một nhà giải thích Kinh Thánh hay nhà tiên tri nào dám tiên báo rõ ràng rằng Đức Chúa Trời sẽ nhập thể lần nữa trong những ngày sau rốt, nghĩa là, Ngài sẽ đến trong xác thịt lần nữa để thực hiện phần hai của công tác của Ngài trong xác thịt. Vì lẽ ấy, không ai nhận ra rằng Đức Chúa Trời từ lâu đã ẩn giấu chính Ngài trong xác thịt. Không mấy ngạc nhiên, bởi vì chỉ sau khi Jêsus phục sinh và lên trời, Ngài mới chấp nhận sự ủy nhiệm này, vì lẽ ấy không có lời tiên tri rõ ràng về sự nhập thể lần hai của Đức Chúa Trời, và điều đó là không thể lường được đối với tâm trí con người. Trong tất cả các sách tiên tri trong Kinh Thánh, không có lời nào đề cập rõ điều này. Nhưng khi Jêsus đến để làm công tác, đã có một lời tiên tri rõ ràng, nói rằng một nữ đồng trinh sẽ ở cùng đứa trẻ, và sẽ hạ sinh một con trai, nghĩa là Ngài được thai dựng thông qua Đức Thánh Linh. Mặc dù vậy, Đức Chúa Trời vẫn nói điều này đã xảy ra với nguy cơ là sự chết, vậy thì nguy cơ đó càng cao đến mức nào đối với trường hợp ngày nay? Thảo nào Đức Chúa Trời nói sự nhập thể này có nguy cơ gặp nguy hiểm lớn hơn hàng ngàn lần so với những gì xảy ra trong Thời đại Ân điển. Ở nhiều nơi, Đức Chúa Trời đã tiên tri rằng Ngài sẽ thu phục một nhóm những người đắc thắng ở xứ Si-ni. Bởi vì những người đắc thắng được thu phục ở phương Đông của thế giới, do đó nơi Đức Chúa Trời đặt chân đến trong lần nhập thể thứ hai của Ngài chắc chắn là xứ Si-ni, vị trí chính xác nơi con rồng lớn sắc đỏ nằm cuộn mình. Ở đó, Đức Chúa Trời sẽ thu phục các con cháu của con rồng lớn sắc đỏ để nó bị đánh bại hoàn toàn và bị hổ thẹn. Đức Chúa Trời sẽ đánh thức những người này, những người nặng gánh đau khổ, để khuấy động họ cho đến khi họ hoàn toàn tỉnh thức, và để làm cho họ bước ra khỏi sương mù và chối bỏ con rồng lớn sắc đỏ. Họ sẽ thức dậy sau cơn mê của mình, nhận ra con rồng lớn sắc đỏ thật sự là gì, trở nên có thể dâng trọn lòng mình cho Đức Chúa Trời, vươn lên khỏi sự đàn áp của các thế lực bóng tối, đứng dậy nơi phương Đông của thế giới, và trở thành bằng chứng cho chiến thắng của Đức Chúa Trời. Chỉ theo cách này Đức Chúa Trời mới đạt được sự vinh quang. Chỉ vì lý do này mà Đức Chúa Trời đưa công tác đã kết thúc ở Y-sơ-ra-ên sang vùng đất nơi con rồng lớn sắc đỏ nằm cuộn mình, và gần hai ngàn năm sau khi rời đi, Ngài đã đến một lần nữa trong xác thịt để tiếp tục công tác của Thời đại Ân điển. Đối với mắt trần của con người, Đức Chúa Trời đang khai triển công tác mới trong xác thịt. Nhưng theo góc nhìn của Đức Chúa Trời, thì Ngài đang tiếp tục công tác của Thời đại Ân điển, nhưng chỉ sau một khoảng tạm ngừng vài ngàn năm, và chỉ với sự thay đổi về địa điểm và chương trình công tác của Ngài. Mặc dù hình tượng mà thân thể xác thịt mặc lấy trong công tác của ngày nay có vẻ hoàn toàn khác với Jêsus, nhưng các Ngài đều đến từ cùng một thực chất và cội rễ, và các Ngài đến từ cùng một nguồn gốc. Có thể các Ngài có nhiều điểm khác nhau ở bề ngoài, nhưng những lẽ thật bên trong của công tác của các Ngài là hoàn toàn giống nhau. Suy cho cùng, các thời đại cũng khác nhau như ngày với đêm. Vậy làm sao công tác của Đức Chúa Trời có thể theo một khuôn mẫu không đổi? Hoặc làm sao những giai đoạn khác nhau của công tác của Ngài có thể gây trở ngại cho nhau?

Jêsus đã mang diện mạo của một người Do Thái, theo cách ăn mặc của người Do Thái, và ăn thức ăn Do Thái mà lớn lên. Đây là phương diện con người bình thường của Ngài. Nhưng ngày nay, xác thịt nhập thể mang hình hài một công dân châu Á và lớn lên trong quốc gia của con rồng lớn sắc đỏ. Những điều này không hề mâu thuẫn với mục tiêu sự nhập thể của Đức Chúa Trời. Đúng hơn, chúng bổ sung cho nhau, mang đến sự trọn vẹn đầy đủ hơn cho ý nghĩa thật của sự nhập thể của Đức Chúa Trời. Bởi xác thịt nhập thể được gọi là “Con người” hay “Đấng Christ”, vẻ ngoài của Đấng Christ ngày nay không thể được so sánh tương đồng với Jêsus Christ. Suy cho cùng, xác thịt này được gọi là “Con người” và trong hình tượng của một thân thể xác thịt. Mỗi giai đoạn công tác của Đức Chúa Trời chứa đựng ý nghĩa sâu sắc đáng kể. Lý do Jêsus được thai dựng bởi Đức Thánh Linh là vì Ngài phải cứu chuộc những kẻ tội lỗi. Ngài phải không có tội. Nhưng chỉ đến cuối cùng, khi Ngài buộc phải trở nên hình tượng giống xác thịt tội lỗi và mang lấy tội lỗi của những tội nhân, Ngài mới giải thoát họ khỏi cây thập tự bị rủa sả, cây thập tự mà Đức Chúa Trời đã dùng để hành phạt nhân loại. (Cây thập tự là công cụ của Đức Chúa Trời để rủa sả và hành phạt nhân loại; bất cứ khi nào đề cập đến sự rủa sả và hành phạt thì đều ám chỉ cụ thể những kẻ tội lỗi.) Mục tiêu là để làm cho tất cả những kẻ tội lỗi ăn năn và, bằng phương tiện là sự đóng đinh vào thập tự, khiến họ phải xưng tội của mình. Nghĩa là, vì việc cứu chuộc toàn thể nhân loại mà Đức Chúa Trời đã nhập thể trong một thân thể xác thịt bởi Đức Thánh Linh thai dựng và nhận lấy vào chính Ngài tội lỗi của toàn thể nhân loại. Miêu tả điều này bằng ngôn ngữ thường ngày là, Ngài đã dâng thân thể xác thịt thánh khiết để đổi lấy tất cả tội nhân, tương đương với việc Jêsus bị đưa ra như một “của lễ chuộc tội” trước Sa-tan để “cầu khẩn” Sa-tan lấy toàn thể nhân loại vô tội mà hắn đã giày xéo và giao họ lại cho Đức Chúa Trời. Đó là lý do tại sao sự thai dựng bởi Đức Thánh Linh là cần thiết để hoàn thành giai đoạn này của công tác cứu chuộc. Đây là một điều kiện cần, một “hiệp ước hòa bình” trong trận chiến giữa Đức Chúa Cha và Sa-tan. Đó là lý do tại sao chỉ sau khi Jêsus bị giao cho Sa-tan, giai đoạn công tác này mới kết thúc. Tuy nhiên, công tác cứu chuộc của Đức Chúa Trời ngày nay đã đạt được một mức độ trọng đại mà trước kia chưa từng có, và Sa-tan không có thêm cớ để đưa ra những yêu cầu nữa, do vậy Đức Chúa Trời không còn cần được thai dựng bởi Đức Thánh Linh để nhập thể. Bởi vì Đức Chúa Trời vốn thánh khiết và vô tội, Đức Chúa Trời trong sự nhập thể này không còn là Jêsus của Thời đại Ân điển. Tuy nhiên, Ngài vẫn được nhập thể vì ý muốn của Đức Chúa Cha và vì việc hoàn thành những mong muốn của Đức Chúa Cha. Chắc chắn đây không phải là một cách giải thích vô lý về các sự việc chứ? Sự nhập thể của Đức Chúa Trời có phải tuân theo một bộ quy tắc nhất định không?

Nhiều người tìm kiếm bằng chứng trong Kinh Thánh, hy vọng tìm được một lời tiên tri về sự nhập thể của Đức Chúa Trời. Làm sao con người, với những ý nghĩ rối rắm và rời rạc của mình, có thể biết được rằng Đức Chúa Trời từ lâu đã ngừng “hoạt động” trong Kinh Thánh và đã “nhảy vọt” khỏi những phạm vi của nó để đảm nhận, với sự say mê và khao khát, công tác mà Ngài đã lên kế hoạch từ lâu nhưng chưa bao giờ nói với con người? Con người quá thiếu ý thức. Sau khi nếm trải một chút ít ỏi tâm tính của Đức Chúa Trời, họ dựng một cái bục và ngồi trên “chiếc xe lăn” cao cấp với vẻ lãnh đạm tuyệt đối để thẩm xét công tác của Đức Chúa Trời, thậm chí đi xa đến mức bắt đầu dạy dỗ Đức Chúa Trời bằng lời lẽ khoa trương và dông dài về mọi thứ dưới mặt trời. Nhiều “ông cụ” đeo kính lão và vuốt râu, lần giở những trang ố vàng của cuốn “niên giám cũ” (Kinh Thánh) mà ông ta đã đọc cả đời. Với những lời lẩm bẩm và mắt dường như ánh lên khí thế, lúc thì ông ta mở Sách Khải Huyền, lúc thì sách Đa-ni-ên, còn lúc thì sách I-sai-a, những sách quá nổi tiếng với mọi người. Nhìn chằm chằm vào từng trang giấy đầy những con chữ li ti, ông đọc thầm, trí óc ông lật giở không ngừng. Bất chợt bàn tay đang vuốt râu dừng lại và bắt đầu giật mạnh. Thỉnh thoảng người ta nghe tiếng râu bị đứt. Hành vi bất thường như thế khiến người ta sửng sốt. “Tại sao lại dùng lực như thế? Ông ta giận dữ như vậy vì điều gì?” Nhìn ông cụ một lần nữa, chúng ta thấy lông mày ông đang dựng cả lên. Những sợi lông mày bạc đã xụ xuống, giống như lông ngỗng, chính xác là cách hai xentimet từ mi mắt của ông cụ này, như thể tình cờ nhưng lại thật hoàn hảo, vì ông cụ cứ dán mắt vào những trang giấy trông như thể bị nấm mốc. Sau khi đọc lại đúng những trang đó vài lần, ông không thể không bật dậy và bắt đầu huyên thuyên như thể đang nói chuyện phiếm[3] với ai đó, mặc dù tia nhìn phát ra từ đôi mắt ông vẫn chưa rời cuốn niên giám. Bất chợi ông đóng trang sách hiện tại lại và chuyển sang một “thế giới khác”. Những động tác của ông rất hấp tấp[4] và đáng sợ, gần như khiến mọi người bất ngờ. Ngay lúc đó, con chuột mà trước đó đã chui ra từ trong hang, và trong sự im lặng của ông, nó đã bắt đầu cảm thấy đủ thư giãn để di chuyển tự do, giờ đây lại trở nên hoảng hốt bởi những động tác bất ngờ của ông đến nỗi nó chạy ngược lại vào hang và biến mất trong đó như một làn khói, không bao giờ xuất hiện trở lại. Và bây giờ tay trái của ông cụ trở lại với động tác vuốt râu đã bị tạm dừng, lên lên xuống xuống. Ông di chuyển khỏi chỗ ngồi, bỏ lại cuốn sách trên bàn. Cơn gió đến qua khe cửa chính và cửa sổ để mở, vô tình thổi cuốn sách đóng lại, và rồi lại mở ra. Có một sự đìu hiu khôn tả của cảnh tượng này, và ngoại trừ âm thanh của những trang sách bị gió thổi kêu sột soạt, mọi tạo vật dường như đã chìm vào im lặng. Ông cụ, với hai tay chắp sau lưng, đi lui tới trong phòng, lúc dừng, lúc đi, thỉnh thoảng lại lắc đầu, và miệng ông có vẻ lặp lại những từ: “Ôi! Lạy Đức Chúa Trời! Ngài sẽ thật sự làm điều đó sao?” Thỉnh thoảng ông cũng vừa nói vừa gật gù: “Lạy Đức Chúa Trời! Ai có thể dò lường công tác của Ngài? Việc tìm kiếm dấu chân của Ngài chẳng phải khó khăn sao? Con tin Ngài không làm những việc để gây khó mà không có lý do chính đáng”. Ngay lúc đó, ông cụ nhíu chặt mày và nhắm nghiền hai mắt, tỏ vẻ bối rối, và cũng là một biểu hiện đau đớn tột bực, như thể ông ta sắp thực hiện một bài tính chậm rãi và thận trọng. Ông cụ đáng thương! Đã sống cả đời và rồi “không may” tiếp cận vấn đề này quá muộn. Có thể làm được gì với việc này chứ? Ta cũng bối rối và bất lực không thể làm bất cứ điều gì. Ai làm cho cuốn niên giám cũ của ông ngả vàng theo thời gian? Ai làm cho râu và lông mày ông phủ không ngớt như tuyết trắng, ở những phần khác nhau trên mặt ông? Như thể râu đại diện cho tuổi tác của ông. Ấy thế mà ai biết được con người có thể trở nên ngu ngốc đến mức tìm sự hiện diện của Đức Chúa Trời trong một cuốn niên giám cũ? Một cuốn niên giám cũ có được bao nhiêu trang giấy? Nó có thể thật sự ghi lại tất cả những việc làm của Đức Chúa Trời với độ chính xác tuyệt đối không? Ai dám đảm bảo điều đó? Ấy thế mà con người thật sự nghĩ đến việc tìm kiếm sự xuất hiện của Đức Chúa Trời và đáp ứng ý muốn của Đức Chúa Trời thông qua việc chẻ nhỏ câu từ và những sự phân tích tủn mủn,[5] hy vọng rằng nhờ đó mà bước vào sự sống. Liệu việc bước vào sự sống theo cách này có dễ dàng như nó tỏ vẻ không? Chẳng phải đây là dạng lý luận sai lầm phi lý ngớ ngẩn nhất sao? Ngươi không thấy điều này nực cười sao?

Chú thích:

1. “Lập lờ” ám chỉ rằng con người không có sự thông sáng về công tác của Đức Chúa Trời.

2. “Có rất ít quyền năng và phải hết sức cẩn trọng” ám chỉ những khó khăn của xác thịt là quá nhiều, và công tác được thực hiện thì quá hạn chế.

3. “Nói chuyện phiếm” là phép ẩn dụ cho bộ mặt xấu xa của con người khi họ nghiên cứu công tác của Đức Chúa Trời.

4. “Hấp tấp” ám chỉ những động tác hăm hở, vội vàng của “ông cụ” khi ông tham khảo Kinh Thánh.

5. “Chẻ nhỏ câu từ và những sự phân tích tủn mủn” được dùng để chế nhạo các chuyên gia ngụy biện, những người phân tích quá tỉ mỉ lời lẽ nhưng không tìm kiếm lẽ thật hay biết về công tác của Đức Thánh Linh.

Trước:Xét về Kinh Thánh (2)

Tiếp theo:Xét về Kinh Thánh (3)

Nội dung liên quan