Cách mưu cầu lẽ thật (31)
Lần trước chúng ta đã thông công về nội dung buông bỏ quan niệm và tưởng tượng của người ta về Đức Chúa Trời nhập thể, liên quan đến chủ đề “Cách mưu cầu lẽ thật”, phải vậy không? (Thưa, phải.) Về phương diện này, chúng ta đã thông công về chủ đề “đừng đánh đồng Đức Chúa Trời nhập thể với nhân loại bại hoại”. Trong chủ đề này, chúng ta đã thông công về cách Đức Chúa Trời nhập thể nhìn nhận chuyện chịu khổ, trong đó liên quan đến một số tư tưởng, quan điểm và cách nhìn về chuyện chịu khổ. Thông công về cách nhìn nhận chuyện chịu khổ làm cho người ta có một tư tưởng và quan điểm đúng đắn về chuyện chịu khổ, có thể lĩnh hội chuyện chịu khổ một cách đúng đắn, cũng có thể tiếp cận với chuyện chịu khổ một cách đúng đắn. Nghĩa là cái khổ ngươi nên chịu thì ngươi phải chịu, còn ngươi chịu cái khổ không nên chịu hoặc cái khổ vô ích thì Đức Chúa Trời cũng không ghi nhớ. Nếu đó là cái khổ ngươi nên chịu, hoặc chịu cái khổ này là việc ngươi nên làm được, thì ngươi phải tiếp cận nó một cách đúng đắn, đón nhận nó từ Đức Chúa Trời và có tâm thái thuận phục, chứ đừng oán trách, cũng đừng từ chối hoặc trốn tránh nó, mà phải lĩnh hội nó một cách đúng đắn. Lĩnh hội nó một cách đúng đắn nghĩa là nhìn nhận đúng đắn ý nghĩa của chuyện chịu khổ, giá trị của chuyện chịu khổ, cũng như điều con người nên đạt được và nên thu hoạch được sau khi chịu khổ. Tóm lại, đối với mỗi một người, chịu khổ đều là một chuyện nhất định phải trải qua, người sống trong xác thịt thì đều phải chịu khổ. Bất kể ngươi mưu cầu cuộc sống tốt đẹp, mưu cầu lý tưởng, hay là ngươi tin Đức Chúa Trời và mưu cầu lẽ thật để đạt được sự cứu rỗi, thì chịu khổ đều là chuyện mà người ta nhất định phải trải qua và là chuyện mà người ta nên tiếp cận một cách đúng đắn. Đối với chuyện chịu khổ, người ta phải nhìn nhận một cách đúng đắn và tiếp nhận một cách đúng đắn. Nếu là cái khổ nên chịu thì người ta phải tiếp nhận và thuận phục, đừng oán trách, đừng từ chối, cũng đừng trốn tránh, đồng thời phải tìm kiếm lẽ thật và tìm kiếm tâm ý của Đức Chúa Trời trong khi chịu khổ. Đương nhiên, tốt hơn nữa là trong quá trình chịu khổ, ngươi có thể nhận biết sự bại hoại và sự phản nghịch của mình, nhận biết khuyết điểm và thiếu sót của mình, nhận biết những lẽ thật và nguyên tắc làm người nào Đức Chúa Trời để cho ngươi trải nghiệm, thể nghiệm và thu hoạch được trong hoàn cảnh hoặc sự kiện gian khổ này. Tóm lại, đối với mỗi người, chịu khổ đều là chuyện nên trải nghiệm, nên thể nghiệm và nên tiếp nhận. Đương nhiên, chúng ta cũng đã thông công rằng nếu cái khổ phải chịu là cần thiết và có giá trị, được Đức Chúa Trời khen ngợi và là cái khổ người ta nên chịu, thì đây là chuyện chịu khổ liên quan đến việc thực hành lẽ thật. Còn nếu cái khổ phải chịu không liên quan đến việc thực hành lẽ thật, nếu nó là chuyện chịu khổ do con người gây ra hoặc chuyện chịu khổ do con người mưu cầu theo ý mình, thì đây không phải điều mà chúng ta đề xướng. Người ta tự tạo ra một số khó khăn và phiền phức, tạo ra một số vấn đề, rồi lại tự mình nếm trải những chuyện đó, đây đều là chuyện không cần thiết, là làm chuyện thừa thãi. Ngoài ra, nếu người ta chịu khổ để thỏa mãn dã tâm và dục vọng của mình, thỏa mãn lòng tham địa vị của mình hoặc thỏa mãn dục vọng cá nhân, thì đây cũng là chuyện không cần thiết. Chuyện chịu khổ này khác biệt về tính chất với chuyện chịu khổ thực sự, tức là chịu khổ để có được lẽ thật và có được thu hoạch thực tế. Chúng ta đã thông công đến phương diện này rồi phải không? (Thưa, phải.) Bây giờ các ngươi nhìn nhận chuyện chịu khổ như thế nào? (Thưa, trước đây trong lòng con có rất nhiều quan điểm và lối nhận thức sai lầm về chuyện chịu khổ, cho rằng bất kể chịu khổ như thế nào hay chịu dạng khổ nào trong khi làm bổn phận thì Đức Chúa Trời đều chấp thuận và khen ngợi. Chỉ sau khi Đức Chúa Trời thông công về dạng chịu khổ nào được Ngài khen ngợi, dạng chịu khổ nào là chịu khổ để thực hành lẽ thật, con mới bắt đầu phân định những quan điểm nhìn nhận sai lầm của mình. Khi đó, con mới phản tỉnh xem mình tiếp cận với chuyện chịu khổ như thế nào, trong những cái khổ con đang chịu hiện nay, đâu là cái khổ thừa thãi do tự mình gây ra, đâu là cái khổ mình chịu vì dục vọng cá nhân, danh lợi và địa vị cá nhân hoặc dã tâm và dục vọng, đâu là cái khổ nên chịu và không nên từ chối. Chẳng hạn, cái khổ mình chịu để hiểu lẽ thật và thực hành lẽ thật, cái khổ mình chịu để làm chứng cho Đức Chúa Trời, cái khổ mình chịu để làm tốt bổn phận và thỏa mãn Đức Chúa Trời, cái khổ mình chịu để biến đổi tâm tính, những cái khổ này thì nhất định phải chịu, hơn nữa điều đạt được sau khi chịu những cái khổ này chính là lẽ thật. Sau khi Đức Chúa Trời thông công xong, con mới biết mình phải có sự lĩnh hội đúng đắn về chuyện chịu khổ này, đối với cái khổ nên chịu thì đừng chống đối, mà phải tiếp nhận và thuận phục, vươn tới từng chút một. Con hy vọng đến một ngày mình có thể đạt đến mức cầu nguyện với Đức Chúa Trời như Phi-e-rơ, nguyện xin hình phạt và sự phán xét của Đức Chúa Trời không rời khỏi mình, có thể tiếp nhận cái khổ do sự phán xét, hình phạt, sự thử luyện và tinh luyện mang đến, để khiến bản thân có được lối vào sự sống thực sự.) Đối với chuyện chịu khổ thì ngươi phải tiếp cận một cách đúng đắn và phải có sự lĩnh hội thuần khiết. Tóm lại, không phải là cái khổ ngươi nên chịu thì ngươi đừng tự mình tạo ra gian khổ, tạo ra đủ loại chướng ngại để làm khó mình. Tự làm khó mình thì vô nhân đạo, cũng là không có lý tính. Quan trọng nhất là bất kể ngươi làm khó mình như thế nào, dù là khắc phục một số vấn đề của mình hay là tạo ra một số phiền phức để làm khó mình, thì cuối cùng thứ ngươi thu hoạch được cùng lắm cũng chỉ là sự thỏa mãn về dã tâm và dục vọng cá nhân hoặc sự thỏa mãn về tình cảm, chứ ngươi sẽ không thực sự thu hoạch được thực tế lẽ thật. Nếu ngươi chịu khổ để bảo vệ sự tồn tại của những điều tích cực, để bảo vệ sự tồn tại của chính nghĩa, để bảo vệ lợi ích của nhà Đức Chúa Trời, để tận tụy và thực hiện trách nhiệm của ngươi, để đạt đến việc thuận phục Đức Chúa Trời và thỏa mãn Đức Chúa Trời, thì những cái khổ này có giá trị, có ý nghĩa, và là cái khổ người ta nên chịu. Nếu ngươi chịu khổ để bảo vệ thể diện, địa vị và danh tiếng của mình, để thỏa mãn dục vọng ích kỷ và thỏa mãn dã tâm của mình, để có được địa vị và uy thế giữa mọi người, chứ không đạt đến việc bảo vệ lợi ích của nhà Đức Chúa Trời và bảo vệ sự tồn tại của những điều tích cực, không phải để làm tròn trách nhiệm, càng không phải để tận tụy và đạt đến việc thỏa mãn Đức Chúa Trời, thì những cái khổ đó đều là cái khổ không cần thiết và cái khổ không có giá trị, ngươi chịu rồi thì cũng uổng công thôi. Đối với những cái khổ này, ngươi nên cố hết sức mà tránh đi. Làm thế nào thì có thể tránh những cái khổ này? Có dễ không? (Thưa, trước tiên chúng con phải tiếp nhận quan điểm đúng đắn về chuyện chịu khổ đến từ Đức Chúa Trời, sau đó trong quá trình trải nghiệm thì đối chiếu từng chút một. Khi nhận ra đây là chuyện chịu khổ không có giá trị thì chúng con sẽ không tiếp tục chịu những cái khổ vô nghĩa này nữa.)
Có những hội thánh ở nơi có điều kiện sinh hoạt gian khổ. Môi trường ăn ở của họ không tốt, muốn uống một ngụm nước sạch cũng không dễ, nhưng ngươi nhất định phải ở đây làm bổn phận, vậy trong trường hợp đó thì phải làm thế nào? Nếu trong lòng ngươi nghĩ: “Cái khổ của hoàn cảnh bên ngoài này không phải là cái khổ mình nên chịu. Mình bẩm sinh đã có khiếu làm công tác, mình là lãnh đạo và người làm công, đãi ngộ mình được hưởng nên cao hơn người bình thường. Điều kiện sinh hoạt ở nơi này quá gian khổ, ảnh hưởng đến tâm trạng của mình, khiến mình làm công tác không tốt. Như vậy thì không được, hoàn cảnh gian khổ này không thích hợp để mình làm bổn phận. Mình phải đổi đến một nơi sông núi hữu tình và môi trường dễ chịu để làm bổn phận. Ở đó còn phải có gia đình tiếp đãi tốt, ăn uống ngon miệng, ngủ nghỉ thoải mái, trong nhà có điều hòa, ngoài nhà có núi sông, còn có chỗ đi dạo. Như vậy mới là nơi thích hợp để mình làm bổn phận”. Thế là ngươi lựa chọn rời khỏi nơi gian khổ mà tìm một nơi có môi trường tốt để làm bổn phận. Thực hành như vậy thì thế nào? (Thưa, không tốt.) Có người nói: “Chẳng phải Ngài nói đừng tự tạo phiền phức cho mình sao? Vậy đến môi trường nghèo khó này thì ăn ở đều không tốt, đây chẳng phải là tự chuốc phiền phức, tự chuốc khổ sao? Nếu như vậy là tự chuốc khổ, tự chuốc phiền phức và gây trở ngại cho công tác, thì con sẽ tìm một nơi không có phiền phức”. Làm như vậy có được không? (Thưa, không được.) Các ngươi nói xem, có người nào lĩnh hội như vậy không? (Thưa, có.) Lĩnh hội như vậy thì có đúng không? (Thưa, không đúng, lĩnh hội như vậy thì hơi lệch lạc.) Nếu gặp hoàn cảnh gian khổ như vậy, môi trường ăn ở không tốt, ăn uống cũng không vệ sinh, xung quanh luôn có ruồi, muỗi và đủ loại côn trùng, phải ngủ trên giường ván cứng, chăn vừa ẩm vừa bẩn, ban đêm ngủ không ngon, cũng không có nơi yên tĩnh để nhóm họp, môi trường cũng không an toàn, ngoài ra còn có sự bách hại và truy bắt của chính quyền Sa-tan, vậy các ngươi nói xem, chẳng phải ở trong hoàn cảnh như vậy thì nhất định phải chịu khổ rất nhiều sao? (Thưa, phải.) Nhưng ở nơi này có hội thánh và có công tác phải làm, vậy ngươi phải làm thế nào? Ngươi có chịu cái khổ này không? (Thưa, phải chịu.) Người ta có thể thông suốt về mặt đạo lý và biết phải chịu cái khổ này, nhưng tại sao phải chịu cái khổ này? (Thưa, vì đây là nhu cầu của công tác hội thánh, là nhu cầu của việc làm bổn phận, cho nên nhất định phải chịu cái khổ này.) Đây là công tác ngươi nên làm và trách nhiệm ngươi nên thực hiện. Vậy thì chuyện này liên quan đến việc ngươi làm bổn phận có tận tụy hay không. Ngươi không được cân nhắc xem hoàn cảnh có thoải mái hay không, cũng không được hành động dựa trên chuyện xác thịt thoải mái hay đau khổ, ngươi không được dựa theo những cảm giác này, mà ngươi phải tìm mọi cách khắc phục đủ loại khó khăn để làm cho được trách nhiệm và bổn phận của mình. Có người nói: “Tôi không đi đâu. Tôi tìm một người thích hợp đi làm công tác này, đi chịu cái khổ này. Còn tôi sẽ giữ lại sức lực để làm một số công tác quan trọng khác, như vậy tôi sẽ không phải chịu cái khổ vô nghĩa đó nữa”. Lĩnh hội như vậy thì có đúng không? (Thưa, không đúng. Nếu xác định đây là nơi mình nên đến và có công tác mình nên làm, nhưng vì bản thân sợ chịu khổ mà sắp xếp người khác đi, thì đây là gian xảo và làm biếng.) Nếu xác định đây là nơi ngươi nên đến, ở đây có công tác ngươi nên làm, bổn phận ngươi nên thực hiện và vấn đề ngươi nên xử lý, vậy mà ngươi không đi, lại còn viện đủ cớ và lý do để bảo người khác đi, thì đây chính là không có sự tận tụy, là trốn tránh và từ chối gian khổ. Nguyên nhân căn bản nhất khiến ngươi để người khác đi không phải là vì ngươi đến đó không thuận tiện, cũng không phải vì ngươi đi hay không đi đều được, mà là vì môi trường ở đó không tốt, điều kiện sinh hoạt kém, và ngươi sợ chịu khổ, nên không sẵn lòng đi. Ngươi mà có tâm thái này, có dạng ý định này, thì đây chính là không có sự tận tụy, đây là trốn tránh chịu gian khổ và từ chối chịu gian khổ. Cái khổ ngươi nên chịu thì ngươi nhất định phải tiếp nhận, bất kể có bao nhiêu khó khăn, ngươi cũng không được thoái thác, bất kể có bao nhiêu nguy hiểm, ngươi cũng phải đối mặt, cho dù có tai họa gì, ngươi cũng phải đi, không được trốn tránh, mà phải tiến lên đương đầu với khó khăn, đây gọi là tận tụy. Mặc dù biết đi đến đó thì xác thịt sẽ chịu khổ và sẽ có nguy hiểm, nhưng vì công tác của hội thánh và để làm tốt bổn phận, ngươi không từ chối, không thoái thác, mà còn có thể bất chấp nguy hiểm và khắc phục khó khăn mà xông lên phía trước. Đây gọi là tận tụy, đây gọi là làm tròn trách nhiệm, và đây gọi là quan tâm đến tâm ý của Đức Chúa Trời. Có thể đứng vững làm chứng trong môi trường gian khổ là điều mà người ta nhất định phải làm được, cũng là việc thực hành mà người ta nên có, phải vậy không? (Thưa, phải.) Gặp phải tình huống như vậy thì ngươi phải lĩnh hội như vậy và thực hành như vậy.
Nếu ngươi đến một nơi nào đó để làm bổn phận, mà điều kiện sinh hoạt ở đó tốt, môi trường cũng tốt, ăn uống khá tốt, hầu như bữa nào cũng được ăn thịt, chỗ ở cũng khá thoải mái, mùa đông có lò sưởi, mùa hè có điều hòa, điều kiện về mọi mặt đều khá tốt, gặp môi trường công tác như vậy thì ngươi nên đối đãi thế nào? Có người nói: “Làm việc trong môi trường như vậy thì tâm trạng khá thoải mái. Nếu con làm công tác ở nơi này thì có phải là đang tham hưởng an nhàn không? Có phải là không tận tụy làm bổn phận không? Có phải như vậy là không đúng không?”. Nếu ngươi gặp môi trường có điều kiện sinh hoạt tốt như vậy, thì ngươi lĩnh hội thế nào? (Thưa, trước hết phải xem đây có phải là chuyện cần cho công tác của hội thánh hay không. Nếu công tác cần con làm bổn phận ở nơi này, thì con phải tiếp cận một cách đúng đắn với môi trường này. Nghĩa là con không tham hưởng an nhàn, không chú trọng ăn ngon, mặc đẹp, mà nên chú trọng làm tốt bổn phận, như vậy mới là người có lương tâm và lý trí. Nhưng nếu đây không phải là nhu cầu của công tác, mà là vì bản thân con muốn hưởng thụ xác thịt tốt hơn một chút, nên con cố ý chọn nơi có điều kiện sinh hoạt tốt, thì đó là tham hưởng an nhàn.) Ở trong môi trường có điều kiện sinh hoạt tốt cũng đâu có làm chậm trễ việc làm tốt bổn phận. Ngươi đừng tham hưởng môi trường sinh hoạt như vậy, ngươi nên làm gì thì cứ làm nấy, nên làm bổn phận thế nào thì vẫn làm bổn phận thế ấy. Nếu vì ngươi là lãnh đạo hoặc người làm công, mà gia đình tiếp đãi đặc biệt chăm sóc ngươi, cho ngươi ăn món ngon, dùng đồ tốt, dành cho ngươi một vài sự chăm sóc đặc biệt và đãi ngộ đặc biệt, và ngươi nghĩ: “Mình phải tiếp nhận chuyện này từ Đức Chúa Trời, đây là Đức Chúa Trời ân đãi mình, là điều mình đáng được hưởng, thì mình cứ vậy mà hưởng, không được từ chối”. Ngươi nghĩ như vậy là không đúng rồi. Thực ra, những sự chăm sóc và đãi ngộ mà gia đình tiếp đãi dành cho ngươi tốt hơn rất nhiều so với khi họ tiếp đãi các anh chị em bình thường, đã vượt xa tiêu chuẩn và nguyên tắc tiếp đãi rồi. Vậy trong tình huống này, ngươi tiếp cận thế nào? (Thưa, học cách từ chối.) Từ chối như thế nào? (Thưa, trước hết con phải thông công rõ ràng với gia đình tiếp đãi về nguyên tắc tiếp đãi. Bảo họ rằng không thể vì lãnh đạo và người làm công có địa vị mà được chăm sóc đặc biệt, làm vậy sẽ dễ khiến lãnh đạo và người làm công tham hưởng an nhàn. Ngoài ra, bản thân con cũng phải học cách từ chối, không hưởng những sự chăm sóc đặc biệt này. Nghĩa là con nên dùng biểu hiện thực tế và hành động để từ chối.) Vậy có cần đón nhận từ Đức Chúa Trời không? (Thưa, không cần.) Bản thân ngươi phải biết phân định, biết tiếp cận theo những cách khác nhau. Có những người nói: “Gia đình tiếp đãi vốn có điều kiện sinh hoạt như vậy, nếu con từ chối thì chẳng phải là từ chối sự ân đãi của Đức Chúa Trời sao? Chẳng phải là tự chuốc phiền phức cho mình sao? Lãnh đạo và người làm công đi làm công tác thì nên được hưởng điều kiện tiếp đãi tốt”. Cách lĩnh hội như vậy có đúng không? (Thưa, không đúng.) Cách lĩnh hội như vậy chắc chắn là không đúng. Nếu ngươi đến một nơi mà điều kiện sinh hoạt ở đó rất tốt, những gì gia đình tiếp đãi cung cấp cho ngươi cũng là những khoản chi tiêu và nhu cầu bình thường trong sinh hoạt thường ngày của họ, đây chính là trạng thái sinh hoạt thường ngày của họ, thì ngươi nên tôn trọng thói quen sinh hoạt của họ. Điều kiện sống ở địa phương đó là vậy, nếu ngươi từ chối thì có phần hơi lố, ngươi nên đón nhận từ Đức Chúa Trời và tiếp cận một cách đúng đắn, nên cảm tạ sự ân đãi của Đức Chúa Trời chứ đừng tự chuốc khổ. Nhưng nếu đãi ngộ mà gia đình tiếp đãi cung cấp cho ngươi vượt quá mức sống thường ngày của họ, tức là họ dành cho ngươi một số sự chăm sóc đặc biệt, thì trường hợp này không hợp nguyên tắc rồi. Ngươi nên từ chối, nên thông công về nguyên tắc với họ, không nên gây thêm phiền phức cho người ta. Có nên thực hành như vậy không? (Thưa, nên.) Nếu ngươi tìm cớ mà nói: “Sinh hoạt thường ngày của người ta vốn ở mức này, ngày nào cũng ăn thịt cá ê hề, lúc nào cũng có đủ loại hoa quả, vậy thì tôi cũng nên hưởng những thứ này chứ”, ngươi viện cớ như vậy thì có đúng không? (Thưa, không đúng.) Như vậy chính là tham hưởng an nhàn. Có người đến nơi có điều kiện sống tốt thì không muốn đi nữa, cứ ở lại nơi đó trong thời gian đặc biệt dài. Vì sợ đi nơi khác thì phải chịu khổ, nên họ viện đủ loại lý do và cái cớ để không đi. Ngay cả khi nơi khác có công tác hoặc vấn đề cần họ đi xử lý, thì họ cũng chỉ đi hai ngày, làm xong việc là vội vàng trở về chỗ tốt này. Đây chẳng phải là sợ chịu khổ sao? (Thưa, phải.) Đây chính là sợ chịu khổ và tham hưởng an nhàn. Họ nuôi thân thể mình trắng trẻo béo tốt, còn viện lý do và cái cớ mà nói: “Nếu tôi ăn uống không tốt, ở không tốt và cơ thể đổ bệnh, thì chẳng phải sẽ ảnh hưởng đến việc tôi làm bổn phận của lãnh đạo sao? Muốn làm tốt công tác thì tôi phải chăm cơ thể cho tốt, để cơ thể khỏe mạnh, sức lực dồi dào, như vậy làm bổn phận mới có hiệu suất”, đây có phải là viện cớ không? (Thưa, phải.) Đây là viện cớ để tham hưởng an nhàn. Tóm lại, bất kể là môi trường gian khổ hay môi trường an nhàn, ngươi đều có thể không bị nó ảnh hưởng hay kìm kẹp. Không có gian khổ thì ngươi đừng tự tạo ra gian khổ, nếu có gian khổ thì cũng đừng từ chối gian khổ. Nếu gặp phải hoàn cảnh cần chịu khổ thì ngươi phải chịu, bất kể gian khổ lớn đến đâu, ngươi cũng phải vượt qua. Mục đích ngươi vượt qua nó là để làm bổn phận tốt hơn, chứ không phải cố ý kiếm chuyện với xác thịt của mình. Bất kể khó khăn lớn đến đâu, ngươi cũng không nên từ chối hay né tránh, mà nên nghĩ đủ mọi cách để làm tốt công tác, làm tốt bổn phận mình nên làm, nói hết những lời mình nên nói, xử lý và giải quyết xong vấn đề, rồi mới rời đi, như vậy là thích hợp. Đến nơi có điều kiện sinh hoạt tốt, ngươi cũng có thể làm bổn phận và làm công tác một cách bình thường, không ham mê sự an nhàn và hưởng thụ của xác thịt, thay vào đó trong lòng ngươi chú trọng vào việc làm tốt công tác. Đương nhiên, ở trong môi trường như vậy, ngươi cũng không cần tạo ra gian khổ phụ thêm để làm khó mình, để bày tỏ lòng trung thành hay biểu lộ ý chí với Đức Chúa Trời. Thay vào đó, việc ngươi nên làm là đừng để mình bị môi trường này ảnh hưởng, đừng tham hưởng sự an nhàn và hưởng thụ của xác thịt, đừng sa ngã, đừng vì điều kiện sống tốt và môi trường thoải mái mà để ảnh hưởng đến tiến độ công tác, ảnh hưởng đến ý chí chịu khổ của ngươi và sự tận tụy với bổn phận của ngươi. Ở trong môi trường an nhàn, ngươi vẫn phải làm tròn trách nhiệm của mình và làm tốt bổn phận. Nếu nơi khác có công tác và ngươi nên đi thì ngươi phải đi. Ngươi không được vì ở đây xác thịt được an nhàn, thoải mái và cuộc sống được vừa lòng như ý mà vui quên lối về, chẳng muốn đi nơi nào khác. Như vậy là sai, đây chính là từ chối chịu khổ, là tham hưởng an nhàn và không tận tụy với bổn phận. Có phải là vậy không? (Thưa, phải.)
Bất kể môi trường làm bổn phận, môi trường công tác hay môi trường sống của ngươi có gian khổ hay không, tóm lại, đối với chuyện chịu khổ thì ngươi nên lĩnh hội một cách đúng đắn, cũng nên tiếp cận bằng lý tính và thái độ đúng đắn. Nếu là chuyện chịu khổ để làm tốt bổn phận, để đạt đến việc thực hành theo nguyên tắc lẽ thật, để dâng lên sự tận tụy, để có thể thuận phục sự sắp đặt và an bài của Đức Chúa Trời, thì ngươi nên tiếp nhận. Bất kể khó khăn lớn đến đâu, ngươi cũng phải vượt qua, cũng phải chịu đựng, không nên từ chối hay né tránh. Nhưng nếu không có gian khổ hay khó khăn gì, ngươi ăn ngon, ở tốt, trong thời gian dài không gặp hoàn cảnh khắc nghiệt nào, mọi mặt đều rất tốt, thì ngươi cũng đừng bất an trong lòng. Ở trong môi trường an nhàn như vậy thì ngươi càng nên an tĩnh lòng mình trước mặt Đức Chúa Trời, tĩnh nguyện cho tốt, trang bị lẽ thật và làm phong phú nhận thức của mình. Ngươi nên phản tỉnh xem trong khoảng thời gian này mình có thiếu sót gì hoặc đã bộc lộ những tâm tính bại hoại nào mà mình cần nhận biết và cần tìm kiếm lẽ thật để giải quyết. Rồi hãy xem mình còn tồn tại những vấn đề nào, và vấn đề nào mình chưa biết cách giải quyết, xem mình còn thiếu phương diện lẽ thật nào, có những phương diện nào mình cần bước vào và cần cải thiện. Đây chính là cách thực hành đúng đắn đối với chuyện chịu khổ và hoàn cảnh mà Đức Chúa Trời sắp đặt cho ngươi. Có cách thực hành như vậy thì về cơ bản ngươi sẽ không bị môi trường bên ngoài ảnh hưởng nữa. Bất kể môi trường bên ngoài có gian khổ đến đâu, chỉ cần trong lòng người ta có thể có mục tiêu đúng đắn và phương hướng mưu cầu đúng đắn, có thể giữ lòng an tĩnh trước mặt Đức Chúa Trời, khi gặp chuyện thì có thể nghĩ đến nguyên tắc lẽ thật là gì và nên thực hành thế nào, sau đó đưa ra phán đoán đúng đắn và thực hành một cách đúng đắn, thì như vậy, cuối cùng người ta sẽ luôn thu hoạch được một số điều tích cực mà mình nên thu hoạch. Ví dụ, có lúc khi làm bổn phận mà gặp phải vấn đề lớn cần gấp rút xử lý, như vậy thì cần ngươi dậy sớm ngủ muộn, bớt một bữa ăn, hoặc đi đường xa, vượt núi băng đèo. Nhất là ở một số nơi xa xôi không có đường xe chạy, ngay cả đường nhỏ để đi xe đạp cũng không có, nên ngươi phải đi bộ đến đó. Vậy đối mặt với hoàn cảnh gian khổ như thế thì ngươi nên làm thế nào? Đây là một số gian khổ đặc biệt, gặp phải những hoàn cảnh này thì ngươi cũng không thể từ chối hay né tránh. Đây là cái khổ ngươi phải chịu, muốn làm tốt bổn phận thì ngươi phải chịu những cái khổ này. Tuy nhiên, một số tình huống đặc biệt cần có cách tiếp cận khác biệt. Ví dụ, hoàn cảnh ở khu vực của một số hội thánh khá khắc nghiệt, Trung Cộng điên cuồng bắt bớ. Một số lãnh đạo và người làm công bị bắt, một số anh chị em còn bị Trung Cộng giám sát chặt chẽ, công tác của hội thánh bị ảnh hưởng nghiêm trọng và cần được xử lý. Nếu ngươi đi thì phải đối mặt với nguy cơ bị bắt, thậm chí gặp nguy hiểm đến tính mạng. Trong trường hợp này, ngươi phải vận dụng chút khôn ngoan. Hoặc ngươi trao đổi qua thư từ, hoặc ngươi điều người phụ trách địa phương đến nơi khác để nhóm họp và thông công, giúp họ giải quyết công tác khắc phục hậu quả, để công tác của hội thánh nhanh chóng đi vào quỹ đạo đúng. Tóm lại, trong môi trường nguy hiểm như vậy, ngươi phải đặc biệt thận trọng, không được hành động mạo hiểm. Có một số tình huống có thể thử mạo hiểm, nhưng có một số tình huống không thích hợp để mạo hiểm. Dù thế nào đi nữa, khi có sự lĩnh hội đúng đắn đối với chuyện chịu khổ, thì ngươi nên dựa theo những tư tưởng quan điểm đúng đắn này để phản tỉnh bản thân. Ngươi hãy nhìn xem trong cuộc sống và trong quá trình làm bổn phận có những cái khổ nào mình nên chịu và những cái khổ nào là hợp nguyên tắc lẽ thật, đây là những cái khổ ngươi phải chịu và phải đón nhận từ Đức Chúa Trời. Còn những cái khổ nào là không cần thiết, là phiền phức do ngươi tự tạo ra, thì ngươi có chịu những cái khổ đó nhiều đến đâu, Đức Chúa Trời cũng không ghi nhớ. Nếu người khác gây ra phiền phức làm ảnh hưởng đến công tác của hội thánh, và ngươi phải xử lý mớ hỗn độn đó, phải làm tròn trách nhiệm, thì ngươi cũng không thể oán trách, nên xử lý thì vẫn phải xử lý. Ví dụ, có người làm hỏng các thiết bị, dụng cụ và những vật phẩm khác của hội thánh, hoặc làm xằng làm bậy gây ra hậu quả, hoặc có người hồ đồ hay người có tố chất kém làm hỏng chuyện nào đó, thì lúc này cần ngươi xử lý. Lúc này ngươi không thể nói: “Người nào gây ra hậu quả thì người đó tự gánh chịu, không liên quan đến tôi. Đây không phải là cái khổ tôi nên chịu, tôi từ chối tiếp nhận bổn phận này!”. Nói như vậy có đúng không? (Thưa, không đúng, đây là không tận tụy, không có tinh thần trách nhiệm.) Điều này lại liên quan đến sự tận tụy. Chuyện ngươi nên làm thì ngươi phải làm, phải xử lý. Cho dù xử lý chuyện này nghĩa là phải thu dọn mớ hỗn độn thì ngươi cũng phải làm, không thể nói lý, không thể oán trách rằng: “Những người hồ đồ này, những người ngu muội có tố chất kém này để lại mớ hỗn độn như vậy, dựa vào đâu mà bắt tôi thu dọn? Đây chẳng phải là chịu cái khổ phụ thêm sao? Chuyện này là do con người gây ra, đâu phải đến từ Đức Chúa Trời”. Ngươi nói như vậy là không đúng. Có lẽ thu dọn mớ hỗn độn và giải quyết hậu quả không phải là bổn phận của ngươi, không phải công tác thuộc phận sự của ngươi, nhưng chuyện này liên quan đến lợi ích của nhà Đức Chúa Trời, vậy ngươi nên tiếp cận nó thế nào? Nếu ngươi không thu dọn mớ hỗn độn này thì công tác của hội thánh sẽ bị chậm trễ, lợi ích của nhà Đức Chúa Trời sẽ bị tổn hại. Nhưng để thu dọn mớ hỗn độn này, ngươi lại phải nói rất nhiều lời để thông công về lẽ thật và giải quyết vấn đề. Trong trường hợp này, ngươi có thể kiên trì giải quyết hết mọi vấn đề và làm tốt triệt để công tác hay không? Người khác không giải quyết được vấn đề và không làm tốt công tác, thì ngươi phải bỏ thêm chút công sức để giải quyết vấn đề và triệt để làm tốt công tác, như vậy ngươi mới đạt đến mức phù hợp để Đức Chúa Trời sử dụng. Chuyện cần ngươi chịu khổ thì ngươi nhất định phải chịu, bất kể có bao nhiêu vấn đề, ngươi đều phải giải quyết. Công tác gặp phải những khó khăn này, thì ngươi có làm không? (Thưa, vẫn phải làm.) Bất kể môi trường sống của ngươi tốt hay không, bất kể tâm trạng của ngươi thế nào, công tác Đức Chúa Trời giao phó cho ngươi, thì ngươi nhất định phải làm tốt, ngươi nhất định phải làm tốt bổn phận này. Nếu ngươi không muốn tiếp nhận bổn phận này thì ngươi có thể phủi tay không làm, nhà Đức Chúa Trời không ép buộc ngươi, nhưng một khi đã tiếp nhận thì ngươi nên làm tốt bổn phận này. Đặc biệt, công tác mở rộng phúc âm là chuyện mà dân được Đức Chúa Trời chọn đều có phần trách nhiệm, cho dù có khó khăn hay cái khổ lớn đến đâu, ngươi cũng phải kiên trì mà làm. Tại sao Ta nói như vậy? (Thưa, vì chuyện này liên quan đến bổn phận, và người ta nên bảo vệ lợi ích của nhà Đức Chúa Trời.) Chuyện liên quan đến việc làm bổn phận thì không phải là chuyện đơn giản. Một mặt, chúng liên quan đến lối vào sự sống của người ta, đồng thời cũng liên quan đến việc tiến hành ý chỉ của Đức Chúa Trời. Cho nên, đối với những vấn đề này, người ta nên tìm kiếm lẽ thật để giải quyết chúng, nên làm tốt bổn phận và bảo vệ lợi ích của nhà Đức Chúa Trời, không thể thoái thác! “Không thể thoái thác” nghĩa là tận tụy và làm tròn trách nhiệm, bất kể gặp phải vấn đề hay khó khăn gì cũng không oán trách, có tức giận thì cũng không trút giận lên công tác của hội thánh, nên làm thế nào thì cứ làm thế ấy, tổ chức cho mọi người nhóm họp và thông công nguyên tắc với mọi người, sau đó xử lý tốt mớ hỗn độn này, giúp công tác của hội thánh đi vào quỹ đạo đúng và làm cho công tác đã bị trì hoãn trở lại bình thường. Ví dụ, trước đây có một số người hồ đồ và kẻ ác nắm quyền làm lãnh đạo, khiến hiệu suất công tác của hội thánh bị giảm sút hoặc làm công tác bị tê liệt, dẫn đến công tác của nhà Đức Chúa Trời chịu tổn thất. Hiện giờ, ngươi nên nhanh chóng khắc phục, điều chỉnh nhân sự, điều chỉnh phương án và phương thức công tác, tìm mọi cách đẩy nhanh tiến độ. Trước đây có thể mỗi ngày ngươi làm việc tám tiếng, bây giờ mỗi ngày ngươi làm thêm hai tiếng để bắt kịp tiến độ công tác và bù đắp tổn thất lúc trước trong công tác, đây gọi là tận tụy. Cái khổ này, ngươi nhất định phải chịu, chịu cái khổ này thì có ý nghĩa và có giá trị, đây là việc lành và được Đức Chúa Trời ghi nhớ, đây là ngươi đang thực hành lẽ thật. Thực hành lẽ thật là nói đến điều gì? Chính là dâng lên sự tận tụy, bảo vệ lợi ích của nhà Đức Chúa Trời và bù đắp tổn thất trong công tác, đây chính là thực hành lẽ thật và đây gọi là việc lành. Cũng có lẽ trong thời gian làm công tác này ngươi rất bận rộn, tối hơn mười hai giờ mới có thể nghỉ ngơi, sáng sớm trời chưa sáng đã thức dậy, ăn cơm cũng vội vàng, ăn xong rồi lại nhanh chóng đi làm công tác. Như vậy là bởi công tác đang bày ra ngay trước mắt ngươi, có quá nhiều người cần điều chỉnh và quá nhiều chuyện cần xử lý. Ngươi ngủ sớm thì không được, vì có một số công tác vẫn chưa làm xong, ngươi dậy muộn cũng không được, vì mọi người đều đang chờ ngươi sắp xếp công tác, ngươi phải lên kế hoạch công tác hôm nay trước khi mọi người thức dậy, sau đó sắp xếp và bố trí. Tháng này, ngươi thực sự chịu khổ khá nhiều. Tuy thân thể hơi mệt mỏi, kiệt quệ, thời gian nghỉ ngơi ít hơn trước, người cũng gầy đi không ít, nhưng sau khi ngươi kiên trì một tháng, tiến độ mọi mặt công tác của hội thánh đều đã trở nên bình thường, cuối cùng mọi chuyện cũng đâu vào đấy. Đâu vào đấy nghĩa là gì? Nghĩa là người ở mọi vị trí đều thích hợp, không có người gây gián đoạn và nhiễu loạn, không có người bày trò phá phách, không có người hô khẩu hiệu hay là nói chuyện trên trời, cũng không có người luôn tiêu cực. Mọi người đều có thể bình thường làm bổn phận, hơn nữa người ở mọi vị trí đều có thể đảm nhiệm công tác, không có người nhàn rỗi, không có người ăn không ngồi rồi. Mọi công tác đều vận hành bình thường theo yêu cầu của sự sắp xếp công tác, đem lại kết quả và đã đi vào quỹ đạo đúng. Khi đó ngươi mới là người sống trước mặt Đức Chúa Trời. Khi gặp khó khăn, ngươi đều có thể tìm kiếm lẽ thật để giải quyết và làm tốt công tác thuộc phận sự của mình, vậy ngươi chịu những cái khổ này có đáng không? (Thưa, đáng.) Đáng quá đi chứ! Có người để làm tốt bổn phận mà chịu một số cái khổ, đến bốn, năm mươi tuổi thì thân thể có một số bệnh vặt, có người ong đầu, ù tai, có người mắc bệnh đốt sống cổ, đau thắt lưng, đau chân. Tuy chịu một số cái khổ, nhưng họ đã làm tròn trách nhiệm của mình và bảo vệ công tác của hội thánh. Những đau đớn và bệnh tật này đổi lấy lòng trung thành với Đức Chúa Trời, đổi lấy sự chấp thuận, khen ngợi và ghi nhớ của Đức Chúa Trời, thì các ngươi nói xem, có đáng không? (Thưa, đáng.) Mỗi một trải nghiệm chịu khổ, mỗi một trải nghiệm bảo vệ công tác của nhà Đức Chúa Trời, mỗi một trải nghiệm dâng lên lòng tận tụy, đây đều là những hồi ức tốt đẹp của ngươi, đều là những hồi ức tốt đẹp nhất mà ngươi lưu lại trong quá trình làm bổn phận của loài thọ tạo. Có lúc ngươi nếm trải một chút đau đớn và khó chịu trên thân thể, rồi ngẫm nghĩ về những cái khổ mình đã chịu trong quá trình làm bổn phận những năm qua, cùng những thành quả đã thu hoạch được về phương diện sự sống và phương diện công tác, thì ngươi cảm thấy như vậy là đáng, ngươi không hối hận và trong lòng có sự an ủi. Các ngươi nói xem, chịu những cái khổ này thì có đáng không? (Thưa, đáng.) Đáng quá đi chứ! Sự an ủi trong lòng ngươi từ đâu mà có? (Thưa, nhờ chịu khổ và trả giá để bảo vệ công tác của nhà Đức Chúa Trời mà có.) Sự an ủi ngươi có được từ việc chịu khổ này chính là bởi những việc ngươi làm và những công tác ngươi thực hiện đều là điều tích cực, đều là ngươi đang bảo vệ sự tồn tại của sự nghiệp chính nghĩa, bảo vệ lợi ích của Đức Chúa Trời và bảo vệ lợi ích của nhà Đức Chúa Trời, đều là đang thực hành lẽ thật và tuân theo con đường của Đức Chúa Trời. Lương tâm của ngươi không cáo trách, cho nên trong lòng ngươi cảm thấy được an ủi. Những cái khổ ngươi chịu đều là để bảo vệ sự tồn tại của những điều tích cực. Là những điều tích cực nào? (Thưa, ví dụ như sự tiến triển bình thường của công tác của hội thánh, sự tiến triển bình thường của công tác phúc âm, còn có lợi ích của nhà Đức Chúa Trời v.v., đây đều là những điều tích cực.) Đúng rồi. Bảo vệ sự tồn tại của những điều tích cực, giúp mỗi công tác của hội thánh đều có tiến độ bình thường và có hiệu suất, giúp mỗi người đều làm bổn phận phù hợp với mình, đều có thể thuận phục sự sắp xếp của nhà Đức Chúa Trời. Không có người gây nhiễu loạn, không có người bỏ bê việc chính đáng và ăn không ngồi rồi. Nhân sự và công tác đều được sắp xếp thích hợp và thỏa đáng. Hễ ai gây nhiễu loạn, ngươi đều có thể kịp thời phát hiện và ngăn chặn, có thể thông công lẽ thật để giải quyết vấn đề này. Nếu người gây gián đoạn và nhiễu loạn có thể tiếp nhận lẽ thật, sau khi nhiều lần được ngươi thông công, giúp đỡ và cho cơ hội ăn năn, cuối cùng họ thay đổi, vậy thì đây là thành quả công tác của ngươi, và đây là điều tích cực. Nếu qua nhiều lần được thông công, giúp đỡ và tỉa sửa, mà họ không tiếp nhận lẽ thật, vẫn ngoan cố không chịu thay đổi, tiếp tục gây nhiễu loạn, luôn phát tán sự tiêu cực, thì ngươi nên kịp thời thanh trừ và xử lý họ. Đây chẳng phải là bảo vệ sự tồn tại của điều tích cực sao? (Thưa, phải.) Ngoài ra, có khâu nào trong công tác xuất hiện sai sót, lỗ hổng gây tổn hại cho công tác, ngươi đều có thể phát hiện, sau đó kịp thời ngăn chặn, xử lý và giải quyết, đây chẳng phải là đang bảo vệ công tác của hội thánh sao? Chẳng phải là bảo vệ điều tích cực sao? (Thưa, phải.) Những việc này đều là bảo vệ sự tồn tại của những điều tích cực. Nếu những cái khổ ngươi chịu đều là để bảo vệ sự tồn tại của những điều tích cực cụ thể này, thì cuối cùng khi hồi tưởng lại những chuyện này, lẽ nào trong lòng ngươi không có một chút an ủi nào sao? Chắc chắn ngươi sẽ thấy hoàn toàn được an ủi. Nhưng nếu ngươi từng chút từng chút hồi tưởng lại, mà thấy động cơ sau mỗi lần chịu khổ của ngươi đều là để thỏa mãn sự hưởng thụ của xác thịt mình, hoặc để bảo vệ thể diện của mình, để giữ vững địa vị và củng cố quyền lực của mình, không thì cũng là để tranh giành một loại lợi ích cá nhân nào đó, bao gồm lợi ích vật chất, lợi ích tiền bạc hoặc lợi ích tinh thần, chứ không làm một điều tích cực nào. Mặc dù ngươi chịu khổ rất nhiều, nhưng mỗi lời ngươi nói, mỗi việc ngươi làm, mỗi hạng mục công tác ngươi làm, dù là trước mặt hay sau lưng mọi người, đều chỉ vì bản thân, vì thể diện, địa vị và danh tiếng của mình, nếu mọi điều ngươi bảo vệ toàn là điều tiêu cực, thì khi ngươi đối chiếu bản thân với lời Đức Chúa Trời và lẽ thật, trong lòng ngươi sẽ có cảm giác thế nào? Có dễ chịu không? (Thưa, không dễ chịu.) Lại xem hiệu quả công tác ngươi làm, khâu nào xảy ra vấn đề, ngươi cũng không kịp thời xử lý, càng không giải quyết. Bất kể ai gây gián đoạn và nhiễu loạn, chỉ cần không dính dáng đến địa vị và lợi ích của ngươi, thì bất luận họ gây tổn hại lợi ích của nhà Đức Chúa Trời đến mức nào, ngươi cũng không ngăn chặn, không hạn chế, mà thay vào đó ngươi nghe rồi mặc kệ, nhắm mắt làm ngơ, thờ ơ và không quan tâm. Sau đó Bề trên truy cứu, yêu cầu xử lý người chịu trách nhiệm và bắt họ bồi thường tổn thất, thì ngươi chỉ thực hiện và chấp hành một lần, làm cho có lệ là xong. Ngươi chưa bao giờ chủ động giải quyết những vấn đề phát sinh trong công tác của mình, hoàn toàn bị động. Có công tác nào ngươi làm một cách sẵn lòng và chủ động không? Ngươi toàn bảo vệ danh lợi và địa vị của mình, bảo vệ lợi ích của mình, thứ ngươi bảo vệ toàn là điều tiêu cực. Những chuyện này thì ngươi làm không biết mệt, còn những chuyện bảo vệ lợi ích của nhà Đức Chúa Trời và bảo vệ điều tích cực thì ngươi lại chẳng bao giờ chủ động làm. Đến một ngày ngươi hồi tưởng lại và kiểm điểm những việc mình đã làm, trong lòng ngươi không cảm thấy có lỗi sao? Khi đối chiếu với lời Đức Chúa Trời, bên trong ngươi sẽ toàn là cảm giác có lỗi! Ngươi mang cảm giác có lỗi thì trong lòng có thể có bình an không? Có thể có sự an ủi không? Ngươi sẽ không có sự an ủi, không có bình an. Ngươi chịu những cái khổ này mà trong lòng không có một chút an ủi nào, vậy cái khổ ngươi chịu chẳng phải là vô nghĩa sao? (Thưa, phải.) Ngươi chịu nhiều cái khổ như vậy, nhưng rốt cuộc trong mắt Đức Chúa Trời, những việc ngươi làm có phải là việc lành hay không, ngươi đã dâng lên lòng tận tụy hay chưa, những gì ngươi làm có được Đức Chúa Trời chấp thuận hay không, rốt cuộc ngươi có phải là người được cứu rỗi hay không. Những chuyện này, ngươi đều không biết, trong lòng không chắc chắn và nội tâm đặc biệt hoảng sợ, vậy ngươi còn có thể có sự an ủi sao? (Thưa, không thể.) Người ta tin Đức Chúa Trời đến cuối cùng mà nội tâm có thể có sự an ủi, thì đó đều là nhờ trong quá trình làm bổn phận, họ đi con đường đúng đắn, làm người được Đức Chúa Trời yêu thích và chuẩn bị nhiều việc lành, chứ không phải nhờ chịu bao nhiêu cái khổ mà có được. Nếu tính chất việc chịu khổ của ngươi là để bảo vệ lợi ích của nhà Đức Chúa Trời và bảo vệ những điều tích cực, thì cuối cùng ngươi có thể có được sự an ủi. Còn nếu tính chất việc chịu khổ của ngươi là để bảo vệ lợi ích cá nhân và bảo vệ điều tiêu cực, thì thứ cuối cùng ngươi có được chẳng những không phải là sự an ủi, mà còn là sự cáo trách và bất an trong lòng. Người trong lòng bất an thì luôn ngẫm nghĩ: “Tôi tin Đức Chúa Trời mà đã được gì chứ? Xem đi, kẻ địch lại Đấng Christ đã ăn bớt bao nhiêu của lễ, chiếm dụng bao nhiêu quần áo đẹp, đồ điện tốt và đồ dùng tốt. Người ta hưởng thụ những gì, tôi hưởng thụ những gì? Tôi chịu nhiều cái khổ như vậy, mà tôi được gì chứ?”. Ngươi xem, họ có thể nói ra những lời như vậy. Họ có thể hỏi: “Tôi tin Đức Chúa Trời mà đã được gì chứ?”, thì chứng tỏ trong lòng họ không có sự an ủi, trong lòng họ không được đủ đầy, vẫn trống rỗng. Người không có sự an ủi thì trong lòng không vững vàng. Còn người có sự an ủi, thì do đâu mà có? Không phải chỉ vì họ chịu khổ, mà chủ yếu là vì trong quá trình chịu khổ, họ hiểu được một số lẽ thật và có thu hoạch tích cực. Còn người không có thu hoạch trong quá trình chịu khổ thì cho rằng cuối cùng mình chẳng đạt được gì, cái khổ mình chịu thật oan uổng và không đáng, họ cảm thấy mình chịu thiệt. Trong trường hợp này, họ cảm thấy Đức Chúa Trời không công chính và Đức Chúa Trời đối xử bất công với họ. Người khác được nhà Đức Chúa Trời đề bạt làm lãnh đạo hoặc người làm công, có địa vị cao hơn họ, còn họ hiện giờ vẫn không bằng người khác, cũng chẳng được hưởng thụ gì, chịu khổ và tiêu hao bản thân bao nhiêu năm mà cuối cùng vẫn không thu hoạch được gì, nên trong lòng họ không phục. Họ có thể không phục, còn cảm thấy oan ức, vậy ngươi nói xem, họ có thu hoạch được lẽ thật không? (Thưa, không được.) Chắc chắn là họ không thu hoạch được lẽ thật. Nếu thu hoạch được lẽ thật thì đối với những thứ vật chất đủ loại, đối với địa vị và danh tiếng, đối với chuyện chịu khổ, đối với bổn phận v.v., trong lòng người ta sẽ có sự lĩnh hội đúng đắn, tư tưởng và quan điểm đúng đắn. Nhân sinh quan của họ và con đường đời mà họ lựa chọn đều sẽ có sự biến đổi, nghĩa là sự sống bên họ đã có sự biến đổi, vậy thì quan điểm mưu cầu về mọi phương diện của họ cũng sẽ có sự biến đổi. Khi có những sự biến đổi này và thu hoạch được những điều này, người ta sẽ cảm thấy được đủ đầy. Họ sẽ cảm thấy: “Những năm qua đi theo Đức Chúa Trời, tôi đã hiểu được rất nhiều lẽ thật, đã thu hoạch được rất nhiều. Thu hoạch của tôi tràn đầy và chén của tôi tràn trề”. Tuy thể xác họ mệt mỏi một chút, nhưng nội tâm họ lại cảm thấy đặc biệt bình an, thoải mái, hạnh phúc và có sự an ủi. Còn những người chịu khổ để mưu cầu địa vị và danh tiếng thì cuối cùng chẳng những không đạt được đủ lợi ích mà còn bị tỏ lộ và đào thải. Khi thấy không còn hy vọng được phúc, thì họ cảm thấy mình chịu thiệt, trong lòng càng chán ghét lẽ thật, cũng mất đi đức tin đối với Đức Chúa Trời, thậm chí có người không còn hứng thú với việc tin Đức Chúa Trời nữa. Giống như có một số người theo tôn giáo đã tin Chúa cả đời, cuối cùng cảm thấy mình chẳng được gì, lúc đó họ đã nói một câu gì nào? Họ nói: “Chúa Giê-su giống như một bức tường chắn trước mặt tôi, ngăn cản phương hướng tiến tới của tôi, làm tôi chẳng nhìn thấy chút ánh sáng nào”. Đây chính là điều một tín đồ tin Chúa cả đời cuối cùng thu hoạch được. Ngươi nói xem, họ nói ra một câu đại nghịch bất đạo như vậy thì nghe có đáng sợ không? (Thưa, đáng sợ.)
Những người tin Đức Chúa Trời nhưng không tiếp nhận lẽ thật thì luôn mưu tính vì lợi ích của xác thịt, họ đều sẵn lòng chịu khổ vì danh lợi và địa vị của mình, chỉ cần hưởng được lợi ích của địa vị thì trong lòng họ thỏa mãn rồi. Mọi việc họ làm đều là vì sự hưởng thụ của xác thịt mình, họ chẳng bao giờ tiếp nhận lẽ thật, chẳng bao giờ bảo vệ công tác của hội thánh, cũng chẳng bao giờ bảo vệ lợi ích của nhà Đức Chúa Trời. Mọi công tác họ làm cũng không phải để bảo vệ sự tồn tại của sự nghiệp chính nghĩa, mà là để bảo vệ danh lợi và địa vị của mình, bảo vệ lợi ích của mình. Họ chỉ chịu khổ vì lợi ích của mình thì có thể đạt được gì chứ? Chẳng đạt được gì cả, nói thẳng ra là khổ tâm uổng công và nhọc nhằn vô ích. Có người giống như thầy tu khổ hạnh, bắt mình sống những tháng ngày rất khổ cực, không ăn ngon cũng không hưởng thụ bất kỳ đồ tốt nào, chỉ chú trọng bôn ba nhiều hơn, trả giá nhiều hơn. Họ tự đặt ra cho mình rất nhiều quy củ, khiến mình chịu đủ mọi khổ sở, có người thậm chí khiến thân thể mệt đến đổ bệnh. Nhưng cuối cùng, họ không thu hoạch được lẽ thật, cũng không chuẩn bị được bao nhiêu việc lành, đây là một chuyện đáng buồn. Đáng buồn ở chỗ nào? Căn nguyên của vấn đề nằm ở đâu? Là họ chỉ chịu khổ vì danh lợi và địa vị, chỉ mưu cầu lợi ích cá nhân. Họ đặt chữ “lợi” lên đầu và xem lợi ích cao hơn hết thảy. Trong lòng họ chưa bao giờ yêu thích lẽ thật, cho nên họ chỉ bận rộn và chịu khổ vì lợi ích xác thịt của mình, chưa bao giờ chịu một chút khổ nào để bảo vệ sự tồn tại của những điều tích cực. Khi kẻ ác gây gián đoạn và nhiễu loạn công tác của hội thánh, thì họ ở đâu? Khi con rồng lớn sắc đỏ bắt bớ dân được Đức Chúa Trời chọn và có Giu-đa bán đứng hội thánh, thì họ ở đâu? Họ thấy mà giả vờ như không thấy, biết mà giả vờ như không biết, đợi đến khi chuyện được xử lý xong, họ mới xuất hiện và nói: “Tôi không biết chuyện này, nếu biết thì tôi đã xử lý rồi, tôi chưa làm tròn trách nhiệm, tôi phải ăn năn trước Đức Chúa Trời, phải xin lỗi các anh chị em”. Chuyện đã xử lý xong, họ mới nhảy ra như một tên hề, một khi xảy ra vấn đề thì họ lại như con chuột chui vào hang, lặn mất tăm. Khi thực sự cần họ đứng ra bảo vệ chính nghĩa, bảo vệ lợi ích của nhà Đức Chúa Trời, bảo vệ những điều tích cực thì họ chẳng bao giờ xuất đầu lộ diện. Họ không đắc tội với bất kỳ ai, chỉ làm người dễ dãi, giả câm giả điếc, giả vờ không nhìn thấy, không nghe thấy. Khi có kẻ ác gây gián đoạn và nhiễu loạn công tác của hội thánh, họ biết rõ là ai đang quấy nhiễu, nhưng nhất quyết không vạch rõ, không nói rốt cuộc là ai làm. Có người khuyên họ: “Anh đừng làm người dễ dãi, anh hãy vạch trần kẻ ác và thanh lọc họ khỏi hội thánh, như vậy thì ngay cả khi đắc tội với họ, bị họ lạnh nhạt, nhưng cuối cùng anh đã bảo vệ được lợi ích của nhà Đức Chúa Trời và dâng lên lòng tận tụy của mình”. Nhưng họ vẫn tìm cớ thoái thác, nói rằng: “Tôi không biết chi tiết, tôi phải tìm hiểu thêm”, nói xong liền chạy mất. Nếu có ai có chút phàn nàn, chút ý kiến về họ, hoặc công tác họ làm xảy ra vấn đề, ảnh hưởng đến địa vị và uy tín của họ trong lòng mọi người, thì họ thấy như thể trời sập, ăn không ngon ngủ không yên, đến một giờ sáng vẫn còn ngẫm nghĩ xem làm thế nào để vãn hồi hình tượng của mình. Sáng sớm chưa ăn cơm, mà họ đã bắt đầu triệu tập mọi người nhóm họp để phân bua, biện bạch cho mình, nói tại sao mình lại làm như vậy, cái sai của mình nằm ở đâu. Họ còn xin lỗi mọi người và hy vọng mọi người đừng hiểu lầm, không phải bản thân họ không sẵn lòng làm tốt công tác, mà là vì bận chuyện khác nên không lo liệu được, cũng không hiểu rõ tình hình thực tế, cho nên công tác mới xảy ra sai sót. Đợi đến khi nhận được thiện cảm của mọi người, lừa được sự đồng cảm và công nhận của mọi người rồi, thì trong lòng họ mới yên ổn: “Được rồi, công tác đã làm đến nơi đến chốn. Giờ mình có thể ngủ một giấc yên ổn và thoải mái, có thể vui vẻ ăn một bữa cơm rồi. Dạo này, cứ điều chỉnh nhân sự không ổn thỏa suốt, công tác thì luôn có việc làm mãi không hết, vấn đề cũng giải quyết mãi không xong, xem mình bị mệt đến mức nào rồi này!”. Khi công tác của hội thánh xuất hiện vấn đề, các anh chị em hỏi họ nên xử lý thế nào, thì họ nói: “Không cần vội, chỉ cần công tác đó có người làm là được, chỉ cần mỗi vị trí công tác đều có người, và người nào cũng đang bận rộn là được. Công tác của nhà Đức Chúa Trời cũng đâu phải một hai ngày là có thể kết thúc. Làm công tác thì phải có tâm thế sống qua ngày, mỗi ngày mặt trời mọc thì làm, mặt trời lặn thì nghỉ, không cần vội, không cần cuống. Làm ít một chút cũng chẳng tệ đi mấy, làm nhiều một chút cũng chẳng tốt hơn được bao nhiêu, không cần thiết phải mệt như vậy. Nếu mệt đến đổ bệnh thì sau này ai làm công tác của nhà Đức Chúa Trời? Chẳng phải vẫn là chúng ta làm sao? Chúng ta mệt đến gục thì chẳng phải nhà Đức Chúa Trời còn phải chi tiền chữa trị cho chúng ta sao? Không thể để mệt đến vậy, phải chừa lại một chút”. Quan điểm này của họ thế nào? (Thưa, không đúng.) Khi công tác của hội thánh xuất hiện vấn đề, khi có người gây gián đoạn và nhiễu loạn, thì cần ngươi đứng ra giải quyết vấn đề và xử lý những người chịu trách nhiệm. Có người phải bị cách chức, có người phải bị điều đến hội thánh bình thường, thậm chí đến nhóm B. Ngươi khó tránh khỏi phải đắc tội với người ta, phải bị người ta ghét, bị người ta chửi, bị người ta xét đoán và bài xích, thậm chí còn bị kẻ tiểu nhân tính kế. Trong lòng ngươi ngẫm nghĩ: “Bảo tôi xử lý kẻ ác à? Nhưng đây là chuyện đắc tội với người ta. Tôi đâu có ngốc như vậy, tôi không xử lý đâu! Công tác của nhà Đức Chúa Trời có bị quấy nhiễu hay không, lợi ích của nhà Đức Chúa Trời có bị tổn hại hay không, thì liên quan gì đến tôi? Một vài cá nhân bày trò phá phách, gây gián đoạn và nhiễu loạn cũng đâu có ảnh hưởng đến toàn cục, công tác vẫn đang được thực hiện, tại sao phải xử lý họ? Hơn nữa, tôi xử lý họ thì chẳng phải họ sẽ ghét tôi sao? Công tác làm tốt, cũng đâu có ai nói tốt cho tôi, Bề trên cũng đâu biết. Còn tôi đắc tội với người ta, thì sẽ bị người ta tẩy chay, bị người ta lạnh nhạt. Tôi chẳng chịu khổ như vậy đâu!”. Khi gặp kẻ ác gây gián đoạn và nhiễu loạn, họ chẳng bao giờ đứng ra, chẳng bao giờ bảo vệ lợi ích của nhà Đức Chúa Trời hoặc làm công tác bảo vệ chính nghĩa. Ngay cả một câu vạch rõ và ngăn chặn mà cũng không nói, họ chỉ sợ đắc tội với người ta, rồi bị xét đoán, bị trả thù. Để người ta khỏi hiểu lầm mình, để bảo vệ địa vị và hình tượng của mình giữa mọi người, họ cứ liên tục nhóm họp, nói hết nước bọt để phân bua biện bạch cho mình, nói mãi không thôi. Nhưng khi liên quan đến chuyện bảo vệ công tác của hội thánh thì họ không nói một câu, cũng chẳng lao tâm chút nào. Người như vậy thì có việc lành không? Việc lành của họ ở đâu? Cuối cùng, khi đến trước mặt Đức Chúa Trời, họ có thể giải trình được không? (Thưa, không thể.) Họ còn cảm thấy mình đã chịu không ít khổ khi làm công tác của hội thánh. Nhưng thực ra, họ chịu khổ vì cái gì? Họ chịu khổ vì sự nghiệp chính nghĩa, vì công tác của nhà Đức Chúa Trời sao? (Thưa, không phải, họ chịu khổ vì lợi ích cá nhân.) Để bảo vệ lợi ích cá nhân, cái khổ nào họ cũng chịu được, nhưng để bảo vệ lợi ích của nhà Đức Chúa Trời thì một chút khổ họ cũng không chịu. Người như vậy thì quá ích kỷ, cũng không đi con đường đúng đắn, phải vậy không? (Thưa, phải.) Việc có lợi cho công tác của hội thánh thì họ chẳng làm chút nào, còn việc có lợi cho danh tiếng và địa vị của mình thì họ làm hết, chẳng bỏ sót việc nào, họ chỉ biết bảo vệ lợi ích của mình, người như vậy thật đáng xấu hổ! Họ chịu khổ đều là để bảo vệ lợi ích của mình, vậy mà còn khoe công với Đức Chúa Trời, còn muốn đòi Đức Chúa Trời ban thưởng, như vậy chẳng phải là đê tiện sao? (Thưa, phải.) Người như vậy là quá ích kỷ và đê tiện, không có lương tâm, không có lý trí, gọi chung là không có nhân tính, loại người này không đi con đường đúng đắn. Ai không hài lòng với họ, ở sau lưng họ mà phân định họ, thậm chí báo cáo và vạch trần với cấp trên rằng họ không làm công tác thực tế, còn làm một số chuyện gây gián đoạn và nhiễu loạn, nếu để họ nghe được thì họ sẽ ôm hận người vạch trần mình, còn muốn trừng trị người ta. Họ không biết kiểm điểm bản thân, không biết đối đãi đúng đắn với người khác, mà cứ đối đầu với người ta, nắm nhược điểm và tìm cớ gây chuyện với người ta, còn lợi dụng lời Đức Chúa Trời để đả kích người ta. Đây chẳng phải là báng bổ lời Đức Chúa Trời, báng bổ lẽ thật sao? Đây là lợi dụng lẽ thật để đả kích và trả thù người khác, nhằm bảo vệ địa vị của mình. Có một số kẻ ác ở sau lưng mà xét đoán Đức Chúa Trời, báng bổ Đức Chúa Trời, xét đoán sự sắp xếp công tác của nhà Đức Chúa Trời, bất mãn với một phương diện nào đó trong sự sắp xếp công tác của nhà Đức Chúa Trời, bất mãn với một cấp lãnh đạo và người làm công nào đó của nhà Đức Chúa Trời. Loại người chúng ta đang nói đến mà nghe được những chuyện này thì cũng mặc kệ, cứ coi như không nghe thấy. Họ chẳng bao giờ đứng ra bảo vệ danh của Đức Chúa Trời hay bảo vệ công tác của nhà Đức Chúa Trời, cũng không vạch trần kẻ ác. Ngươi muốn làm người dễ dãi, không dám vạch trần kẻ ác, thì ngươi báo cáo lên cấp trên cũng được, như vậy cũng coi như ngươi làm tròn một phần trách nhiệm. Nhưng ngay cả chút trách nhiệm này mà loại người này cũng không làm được. Để bảo vệ lợi ích xác thịt, danh tiếng và địa vị của mình thì họ không tiếc bất kỳ giá nào, lên núi đao xuống biển lửa, cái khổ nào họ cũng chịu được. Nhưng họ chẳng bao giờ trả bất kỳ giá nào hay chịu bất kỳ khổ nào để bảo vệ sự tồn tại của điều tích cực, để bảo vệ cho lẽ thật được thuận lợi thông suốt. Mỗi khi xuất hiện những chuyện gây gián đoạn và nhiễu loạn công tác của hội thánh, cần có người đứng ra bảo vệ sự tồn tại của điều tích cực, thì chẳng bao giờ thấy bóng dáng những người này, cũng chẳng bao giờ nghe thấy bất kỳ ý kiến hay quan điểm nào của họ. Họ không có quan điểm, chỉ ở đó giả câm giả điếc, không lên tiếng, không tỏ thái độ, không đắc tội với bất kỳ ai. Họ rất sợ đắc tội với người ta, nhưng lại không sợ đắc tội với Đức Chúa Trời. Họ đối đãi với lẽ thật, với sự ủy thác Đức Chúa Trời, với bổn phận của mình, với những điều tích cực như vậy đó. Đối với loại người này, việc bảo vệ sự tồn tại của những điều tích cực và bảo vệ sự tồn tại của sự nghiệp chính nghĩa chẳng liên quan gì đến họ. Họ cho rằng ai làm những việc này thì người đó là kẻ ngốc, và đằng nào họ cũng không làm. Họ chưa bao giờ nói một câu nào để bảo vệ những điều tích cực, chưa bao giờ làm một việc nào để bảo vệ công tác của Đức Chúa Trời. Hễ xuất hiện vấn đề thì họ lập tức làm con rùa rụt đầu, mà cuối cùng họ còn muốn đòi Đức Chúa Trời ban thưởng. Đức Chúa Trời nói: “Ngươi cũng đâu có chịu khổ vì lẽ thật”, thì họ còn oán trách rằng: “Tôi đã chịu biết bao nhiêu cái khổ, đi biết bao nhiêu nẻo đường, tôi đã từ bỏ và tiêu hao bản thân biết bao nhiêu, mà tôi đã được hưởng thụ những gì? Tôi đã đạt được cái gì?”. Chỉ một câu này thôi đã làm lộ ra ý định của họ khi tin Đức Chúa Trời, và chứng minh rằng việc chịu khổ và tiêu hao bản thân của họ chỉ là để được phúc, chứ không phải để đạt được lẽ thật. Họ không tiếp nhận lẽ thật, không đi lên con đường đúng đắn, cho nên cuối cùng họ chẳng đạt được lẽ thật nào, đây là chuyện tất nhiên, gieo nhân nào thì gặt quả ấy. Cho nên, khi nhìn nhận chuyện chịu khổ, một mặt, ngươi phải có tư tưởng và quan điểm đúng đắn, mặt khác, quan trọng nhất là ngươi phải kiểm điểm xem cái khổ mình chịu có tính chất là gì, cái khổ mình chịu có giá trị và ý nghĩa hay không, đây có phải là cái khổ mình nên chịu hay không. Nếu là cái khổ ngươi nên chịu, là cái khổ ngươi chịu để bảo vệ điều tích cực, là cái khổ ngươi chịu để làm chứng cho Đức Chúa Trời, thì chịu cái khổ này là việc ngươi không thể thoái thác, ngươi nên đón nhận nó từ Đức Chúa Trời, không nên né tránh.
Có những người luôn kêu rằng: “Tôi tin Đức Chúa Trời thì chịu sự bách hại và hoạn nạn, tôi đã đạt được gì chứ?”. Nói như vậy có đúng không? (Thưa, không đúng.) Không đúng ở chỗ nào? (Thưa, họ có thể nói như vậy thì chứng tỏ họ chẳng đạt được lẽ thật nào và con đường họ đi không phải là con đường mưu cầu lẽ thật.) Có rất nhiều cái khổ mà người ta nên chịu, vậy chịu khổ thì nhất định phải đạt được gì đó sao? Chuyện này liên quan đến nhận thức và quan điểm của người ta về chuyện chịu khổ. Nếu đây là cái khổ ngươi nên chịu, cái khổ ngươi nhất định phải chịu, và là chuyện do Đức Chúa Trời tiền định, vậy ngươi chịu cái khổ này thì rốt cuộc có thể đạt được gì? Giống như cái khổ khi nuôi dạy con cái hoặc cái khổ bị bách hại khi tin Đức Chúa Trời chẳng hạn, người ta chịu những cái khổ này thì cũng không nhất định sẽ đạt được gì, vậy ngươi có chịu cái khổ này không? Chuyện này phải xem con đường người ta đi có đúng hay không, và họ có phải là người mưu cầu lẽ thật hay không. Nếu lúc trải nghiệm công tác của Đức Chúa Trời, mà trong mọi chuyện người ta đều có thể tìm kiếm lẽ thật và có sự thuận phục thực sự đối với Đức Chúa Trời, thì khi chịu cái khổ này, họ sẽ có thu hoạch. Chuyện này đòi hỏi người ta phải có ý chí thuận phục, phải thuận phục sự sắp đặt của Đức Chúa Trời, và không được dùng tâm thái giao dịch để tiếp cận với chuyện chịu khổ. Có người nói: “Tôi gieo một phần công sức thì phải có một phần thu hoạch, tôi chịu một phần khổ thì phải thu hoạch được một phần ngọt ngào. Chịu khổ như vậy mới đáng, đây mới là giá trị của việc tôi chịu khổ”. Quan điểm này có đúng không? (Thưa, không đúng.) Vậy nên nhận thức và lĩnh hội chuyện chịu khổ như thế nào mới đúng? (Thưa, nếu cái khổ mình chịu là do Đức Chúa Trời tiền định và là cái khổ mình nên chịu, thì chúng con nên tiếp nhận không chút thoái thác. Ngay cả khi cuối cùng chẳng đạt được gì, thì chúng con cũng không nên oán trách, mà nên có tâm thái thuận phục, thuận phục sự sắp đặt và an bài của Đấng Tạo Hóa. Đồng thời trong quá trình chịu khổ, chúng con nên chú trọng tìm kiếm lẽ thật và đạt được lẽ thật. Như vậy thì cái khổ chúng con chịu mới có giá trị, có ý nghĩa.) Nhiều khi mục đích tích cực của việc chịu khổ là để bảo vệ sự tồn tại của những điều tích cực, để cuối cùng có thể có thu hoạch, đạt được lẽ thật và có nhận thức về lẽ thật, mục tiêu như vậy thì rất tốt. Nhưng trên thực tế, nhiều khi chuyện chịu khổ chỉ là những cái khổ ngươi trải nghiệm và trải qua trong một quá trình bình thường. Trong thời gian ngắn mà ngươi tổng kết lại thì phát hiện mình chẳng thu hoạch được gì, thân thể còn khá mệt mỏi, thậm chí còn phải chịu một số bệnh tật, mà cũng chẳng tiến bộ về lẽ thật, chẳng bước vào sâu hơn trong phương diện sự sống, cũng chẳng hiểu rõ hơn về ý chỉ của Đức Chúa Trời. Vậy ngươi chịu cái khổ này là uổng công sao? Có người nghĩ: “Trong trường hợp này, mình có thể cầu xin Đức Chúa Trời dẹp bỏ hoàn cảnh gian khổ như vậy không? Mình có lý do để né tránh và từ chối hoàn cảnh gian khổ như vậy không?”. Suy nghĩ này có đúng không? (Thưa, không đúng.) Ngươi phải nhận thức chuyện này như thế này: Chịu khổ thì có thể đạt được một số thu hoạch tích cực và tốt đẹp, đây là chuyện cầu còn không được, đây là kết quả tốt nhất cuối cùng có thể đạt được nhờ việc chịu khổ. Nhưng nếu những cái khổ thường ngày là do Đức Chúa Trời an bài, do Đức Chúa Trời tiền định, là cái khổ ngươi phải trải nghiệm để đạt được sự cứu rỗi, thì ngươi phải đón nhận nó từ Đức Chúa Trời và tiếp cận nó một cách đúng đắn. Làm thế nào mới có thể tiếp cận một cách đúng đắn? Ngươi phải có một tư tưởng và quan điểm đúng đắn, phải hiểu rằng chịu khổ là một phần của cuộc sống con người, là một khâu mà con người sống trên đời nhất định phải trải qua, không ai trốn tránh được, đương nhiên cũng là một khâu mà mỗi người nhất định phải trải qua để được cứu rỗi. Có lẽ cuối cùng ngươi không đạt được sự an ủi, nhưng mỗi lần chịu khổ, ngươi đều có thể cam tâm tình nguyện, đều có thể đón nhận từ Đức Chúa Trời và có tâm thái thuận phục, chưa bao giờ mặc cả với Đức Chúa Trời. Đi con đường như vậy và có lựa chọn như vậy chính là trách nhiệm mà loài thọ tạo nên thực hiện, cũng là thái độ ngươi nên có đối với hành trình cuộc đời mà Đấng Tạo Hóa an bài, đây là thái độ người ta nên có đối với những gian khổ trong cuộc đời. Tiếp nhận gian khổ và có thể chịu khổ, đây cũng là một phần trách nhiệm ngươi thực hiện, do đó ngươi không nên né tránh, cũng không nên lựa chọn. Trong cuộc sống, trong quá trình tin Đức Chúa Trời để đạt được sự cứu rỗi, thì mỗi một người đều phải chịu một số cái khổ. Đương nhiên cái khổ chúng ta nói đây không phải là cái khổ người ta chịu để mưu cầu danh lợi và địa vị, mưu cầu lợi ích xác thịt cá nhân, mà là một số cái khổ mỗi người đều phải chịu trong quá trình đi con đường nhân sinh đúng đắn và mưu cầu sự cứu rỗi. Những cái khổ này là một phần của cuộc sống, cũng là một phần của quá trình sinh tồn, càng là một khâu mà người ta nhất định phải trải qua để cuối cùng đạt được sự cứu rỗi. Ngươi nên tiếp cận chuyện này một cách đúng đắn, đây là thái độ ngươi nên có đối với hoàn cảnh gian khổ, cũng là một trách nhiệm ngươi nên làm tròn. Nghĩa là chịu khổ cũng là một phần bổn phận và trách nhiệm của loài thọ tạo mà ngươi nên làm, nó không phải là chuyện phụ thêm. Nó là điều mà Đấng Tạo Hóa an bài cho mỗi loài thọ tạo. Mức độ, thời điểm và khoảng thời gian chịu khổ của mỗi người đều không giống nhau, mỗi người đều phải trải qua nó, mỗi người đều phải đi qua cửa ải này, đây là một trách nhiệm mà người ta nên làm tròn. Nếu ngươi muốn làm tốt bổn phận của loài thọ tạo, thì ngươi nên tiếp cận đúng đắn với chuyện chịu khổ, cũng nên đón nhận phần gian khổ này từ Đức Chúa Trời, không nên từ chối, cũng không nên chống đối. Đương nhiên, ngươi càng không nên dùng việc chịu khổ để kể công hay mặc cả với Đức Chúa Trời, mà phải đón nhận chuyện chịu khổ như một phần trách nhiệm mà bản thân nên thực hiện. Các ngươi thấy sự lĩnh hội như vậy có thuần khiết không? Có hợp lẽ thật không? (Thưa, có.) Ngươi lĩnh hội như vậy, thì chẳng phải ngươi đã có nhận thức sâu sắc hơn và thực tế hơn về chuyện chịu khổ, cũng có tâm thái đúng đắn về chuyện chịu khổ rồi hay sao? (Thưa, phải, như vậy thì con sẽ không chống đối chuyện chịu khổ nữa, khi gặp hoàn cảnh nào đó thì con cũng dễ thuận phục.) Có thể thuận phục và không chống đối, đây chính là thái độ mà loài thọ tạo nên có đối với chuyện chịu khổ. Ngay cả khi ngươi chịu rất nhiều cái khổ và trả giá rất nhiều trong quá trình mưu cầu lẽ thật và làm tốt bổn phận của loài thọ tạo, ngay cả khi vì tin Đức Chúa Trời mà ngươi chịu một số sự bách hại và hoạn nạn, thì một khi đã có sự lĩnh hội đúng đắn về chuyện chịu khổ và trả giá này, ngươi sẽ không cảm thấy việc chịu những cái khổ này là một loại vốn liếng của bản thân. Ngươi sẽ không vì chịu khổ mà coi mình là người có công lao, sẽ không khoe khoang trước đây mình đã chịu bao nhiêu cái khổ nhằm làm chứng cho sự lao khổ và có công trạng cao của bản thân, hầu khiến người khác coi trọng mình. Ngươi cũng sẽ không cậy tư cách và bám vào vốn liếng cũ, hoặc mặc cả với Đức Chúa Trời, càng không vì mình đã chịu rất nhiều cái khổ mà yêu cầu được đãi ngộ đặc biệt trong nhà Đức Chúa Trời hoặc kể công với ai. Nếu ngươi cho rằng chịu khổ là trách nhiệm mà loài thọ tạo như ngươi nên làm được và nên thực hiện trước mặt Đấng Tạo Hóa, thì ngươi không nên dùng chuyện chịu khổ làm vốn liếng để đòi Đức Chúa Trời ban thưởng, để khiến Đức Chúa Trời cứu rỗi ngươi, phải vậy không? (Thưa, phải.) Nếu ngươi làm như vậy thì có thể khơi dậy ý chí mưu cầu lẽ thật của ngươi không? (Thưa, không thể.) Làm như vậy rõ ràng là đang giao dịch với Đức Chúa Trời, là điều bị Đức Chúa Trời ghê tởm.
Trước đây có nhiều lãnh đạo và người làm công từng chịu một số cái khổ, những ngày tháng đó đương nhiên cũng rất khó khăn. Do sự truy bắt và bách hại của con rồng lớn sắc đỏ mà hoàn cảnh vô cùng ác liệt. Lãnh đạo và người làm công mà làm công tác của hội thánh thì đều có nguy cơ bị bắt và ngồi tù, còn có một số người bị truy nã và chỉ có thể chạy trốn, có nhà mà không thể về, một thân một mình thì cảm thấy cô độc và bất lực, nên họ thường khóc lóc mà cầu nguyện trước mặt Đức Chúa Trời. Bất kể là về điều kiện sinh hoạt hay hoàn cảnh bị truy bắt, họ đều đã chịu một số cái khổ. Sau đó, họ luôn cảm thấy mình có công lao to lớn đối với nhà Đức Chúa Trời và công tác của nhà Đức Chúa Trời, thấy mình là công thần trong nhà Đức Chúa Trời, và khi Đức Chúa Trời được vinh hiển lớn thì mình nên có phần trong sự vinh hiển của Ngài. Họ có cách nhìn và thái độ như vậy, cho nên trong các dịp khác nhau, họ thường xuyên làm chứng mình đã chịu bao nhiêu cái khổ, năm nào tháng nào là thời điểm mình đau khổ nhất, lúc đó mình bị giày vò đến mức ban ngày không ăn nổi cơm, ban đêm thường tỉnh giấc vì ác mộng, chịu khổ sở đến mức sắc mặt vàng vọt, người gầy hẳn đi. Những người nghe họ kể đều cảm thấy khâm phục và ngưỡng mộ, đương nhiên cũng có một số ít người đố kỵ. Còn có những người bị những trải nghiệm gian khổ mà họ kể lại làm cảm động đến rơi lệ, nói rằng: “Anh đã chịu nhiều cái khổ như vậy thật khiến người ta khâm phục! Anh khiến mọi người cảm động đến mức này rồi, vậy Đức Chúa Trời chắc chắn cũng rất cảm động. Anh chịu cái khổ này thật quá đáng giá, anh quá vĩ đại!”. Họ không chỉ nhân một dịp nào đó mà làm chứng về chuyện mình chịu khổ, thay vào đó, trong nhiều dịp khác nhau, họ thường xuyên làm chứng rằng mình đã chịu bao nhiêu cái khổ, thông qua việc chịu khổ mình đã đạt được bao nhiêu thành tựu và có bao nhiêu đóng góp cho nhà Đức Chúa Trời. Chứ họ chẳng nói thông qua việc chịu khổ mình đã hiểu được bao nhiêu lẽ thật, đã thoát khỏi những tâm tính bại hoại nào, sự sống đã tiến bộ bao nhiêu, đã làm chứng những gì cho Đức Chúa Trời, đã đạt được những kết quả nào khi làm công tác của hội thánh, đã bảo vệ sự tồn tại của những sự nghiệp chính nghĩa nào, họ chẳng có lời chứng nào như vậy. Điều họ nói toàn là mình đã chịu khổ như thế nào, đã chịu cái khổ lớn đến mức nào. Mục đích cuối cùng của họ chính là để cho người ta biết họ đã lao khổ và có công trạng cao, có công lao to lớn, cho người ta biết họ là trụ cột, là rường cột trong nhà Đức Chúa Trời, nên được hưởng đãi ngộ đặc biệt, nên được người khác cung phụng, và người khác chẳng những nên ngưỡng mộ, khâm phục họ, mà còn nên đề cao họ và làm chứng về chuyện chịu khổ của họ. Các ngươi xem, cái khổ họ chịu “vĩ đại biết bao”, “đáng giá biết bao”! Họ đã nhận được lời khen ngợi của mọi người, tiếng khen ngợi liên tiếp không dứt bên tai. Các ngươi nói xem, cái khổ này họ chịu có đáng không? Những người này có vĩ đại không? Họ có thể cùng Đức Chúa Trời chia sẻ sự vinh hiển của Ngài không? (Thưa, không thể.) Vậy họ làm chứng về chuyện mình chịu khổ như vậy là có mục đích gì? (Thưa, để cho người ta thấy họ đã chịu rất nhiều cái khổ, có thể ngưỡng vọng và coi trọng họ.) Có phải họ muốn được vinh hiển không? (Thưa, phải.) Họ dùng việc chịu khổ để đổi lấy vinh hiển. Không thể nào họ làm vậy hoàn toàn chỉ là để đổi lấy mão triều thiên và phần thưởng, mà quan trọng nhất là họ muốn được vinh hiển giữa mọi người, muốn có được sự sùng bái của mọi người, khiến cho mọi người đều ngưỡng vọng họ và ghi nhớ họ. Yêu cầu của họ có cao không? Dã tâm của họ có lớn không? (Thưa, lớn.) Ta chưa bao giờ dám đề cập chuyện muốn được vinh hiển giữa các ngươi, Ta luôn nói gì nào? Đưa các ngươi đến trước mặt Đức Chúa Trời, đưa các ngươi vào thực tế lẽ thật, làm cho các ngươi hiểu lẽ thật, có con đường để đi và biết cách thực hành hợp nguyên tắc, đưa các ngươi lên con đường dẫn đến sự cứu rỗi, để tất cả các ngươi đều có thể được cứu rỗi, chứ Ta chẳng đề cập đến chuyện được vinh hiển. Còn loại người này chuyên làm chứng mình đã chịu khổ thế nào và trả giá thế nào, nói rằng vì tin Đức Chúa Trời và làm bổn phận mà bị chính phủ truy bắt và bách hại, bị người đời phỉ báng và xét đoán, chịu bao nhiêu sự bài xích, uất ức, lẫn bao nhiêu đau đớn về xác thịt, và mình đã vượt qua những chuyện đó như thế nào. Họ chẳng những muốn làm chứng về chuyện mình chịu khổ, mà còn muốn làm chứng rằng trong quá trình chịu khổ mình vĩ đại biết bao, có cảnh giới cao biết bao, khác biệt với mọi người biết bao, siêu thoát xác thịt biết bao. Có phải họ muốn được vinh hiển không? (Thưa, phải.) Các ngươi nói xem, những người luôn làm chứng về chuyện mình chịu khổ là đang muốn phổ biến cách nhìn đúng đắn về chuyện chịu khổ hay là muốn làm chứng và loan truyền những giai thoại chịu khổ của mình? (Thưa, họ làm chứng và loan truyền những giai thoại chịu khổ của mình.) Họ đề xướng dùng cách chịu khổ để mặc cả với Đức Chúa Trời, để cùng Đức Chúa Trời chia sẻ sự vinh hiển của Ngài, họ đề xướng điều này. Họ đi khắp nơi làm chứng rằng khi mình rao truyền phúc âm thì đã bị người trong tôn giáo đánh mắng, xua đuổi và bách hại bao nhiêu lần, đã chịu bao nhiêu cái khổ, đã chịu khổ bao nhiêu vì bị người thân, bạn bè và người đời ruồng bỏ, phỉ báng và mắng chửi, đã chịu khổ bao nhiêu vì bị chính phủ truy bắt nên phải trốn chạy khắp nơi, không nhà không cửa, thậm chí không có chỗ gối đầu giống như Con người. Còn có người làm chứng rằng trong quá trình làm bổn phận mình đã vượt qua bao nhiêu khó khăn, đã chịu bao nhiêu cái khổ để vượt qua bệnh tật của xác thịt. Họ thường xuyên công bố những chuyện này trước mặt mọi người, chứ chẳng bao giờ chia sẻ về trải nghiệm sự sống, họ chỉ rao giảng và làm chứng về những giai thoại chịu khổ của mình, mục đích là để người ta coi trọng mình. Ngươi nói xem, họ muốn được mọi người coi trọng, vậy họ muốn gì từ Đức Chúa Trời? Họ chỉ muốn Đức Chúa Trời coi trọng thôi sao? Đâu phải chỉ như vậy, đúng không? Vậy thì họ có quan điểm giống với Phao-lô rồi, “Ta đã đánh trận tốt lành, đã chạy xong đường đua, đã giữ vững đức tin. Từ nay về sau, mão triều thiên công chính đã dành sẵn cho ta” (2 Ti-mô-thê 4:7-8). Cuối cùng, họ còn mặc cả với Đức Chúa Trời: “Đức Chúa Trời đã được vinh hiển, thì tôi cũng nên được vinh hiển cùng Đức Chúa Trời! Vì tôi đã chịu khổ cùng Đức Chúa Trời, thì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời cũng phải có phần của tôi! Đức Chúa Trời đội mão triều thiên bằng vàng, thì cũng nên chia cho tôi một viên ngọc. Chẳng phải tôi cũng nên giống hệt Đức Chúa Trời mà hưởng sự thờ phượng và cung phụng của loài người sao?”. Có phải họ có ý này không? (Thưa, phải.) Vậy họ làm chứng về chuyện mình chịu khổ như vậy có tốt không? (Thưa, không tốt.) Tại sao không tốt? (Thưa, đây là họ muốn ngồi ngang hàng với Đức Chúa Trời, là điều khiến Đức Chúa Trời ghê tởm. Hơn nữa, đây còn là đang tranh giành con người với Đức Chúa Trời.) Chúng ta không nói quan điểm và xuất phát điểm cá nhân của họ là gì, chỉ riêng chuyện họ thông công như vậy là đã khiến bao nhiêu người không hiểu lẽ thật bị mê hoặc rồi? Người ta vốn dĩ đã không có sự lĩnh hội thuần khiết về chuyện chịu khổ này, không hiểu lẽ thật về phương diện này. Hơn nữa xét từ thực chất tâm tính bại hoại của xác thịt con người, thì ai cũng thích được phúc, được thưởng. Vậy mà những người này lại luôn làm chứng về chuyện mình chịu khổ, ý định của họ cùng những lời nói và cách làm này của họ tự thân đã chiều theo dục vọng và đòi hỏi của nhân loại bại hoại. Họ nói như vậy và làm như vậy là đang tiếp sức cho dã tâm và dục vọng của con người, tiếp sức cho dục vọng dùng việc chịu khổ để đổi lấy phúc lành của con người, cũng tiếp sức cho ý nghĩ và cách làm dùng việc chịu khổ để đổi lấy phần thưởng từ Đức Chúa Trời và mặc cả với Đức Chúa Trời. Như vậy, thì người ta sẽ thêm thuận phục hay bớt thuận phục Đức Chúa Trời? (Thưa, sẽ bớt thuận phục.) Vì sao lại bớt thuận phục? (Thưa, vì bản thân con người đã có tâm tính bại hoại, chịu một chút khổ là dễ coi đó như vốn liếng mà giao dịch với Đức Chúa Trời. Giờ lại bị những lời nói và cách làm này của họ mê hoặc, thì người ta càng cảm thấy việc dùng chuyện chịu khổ để đổi lấy phúc lành là chính đáng, càng không nhận ra ý định đê tiện của mình khi giao dịch với Đức Chúa Trời. Cho nên, người ta càng không thể thuận phục Đức Chúa Trời.) Người ta cảm thấy mình làm như vậy là có căn cứ, cảm thấy mình có chỗ dựa rồi. Khi mọi người tập hợp lại thành một đoàn thể, thì họ cảm thấy thế lực của mình càng lớn: “Chúng ta người đông thế mạnh. Tội ai cũng phạm thì luật pháp không xét. Mọi người đều nghĩ như vậy, đều lĩnh hội như vậy, đều mưu cầu như vậy. Nếu mọi người đều mặc cả với Đức Chúa Trời và uy hiếp Đức Chúa Trời, thì Đức Chúa Trời cũng chẳng làm gì được chúng ta”. Đây rõ ràng là tụ tập gây rối, hợp nhau lại mà dùng tà thuyết và luận điệu sai lầm để đối đầu với Đức Chúa Trời. Khi luôn làm chứng về chuyện mình chịu khổ, chẳng phải là họ đang mê hoặc người ta, đang khiến người ta càng thêm bại hoại sao? (Thưa, phải.) Cho nên, họ luôn làm chứng về chuyện mình chịu khổ thì chẳng những không đem lại sự gây dựng và kết quả tích cực gì cho người khác, ngược lại còn mê hoặc và làm bại hoại người khác. Vậy họ đang đóng vai trò gì? (Thưa, vai trò của Sa-tan.) Họ đang đóng vai trò của Sa-tan. Vậy thì cũng giống như việc Sa-tan mê hoặc con người. Sa-tan nói: “Con người không phải do Đức Chúa Trời tạo dựng. Trên thế gian căn bản không có Đức Chúa Trời. Con người tiến hóa từ khỉ, khỉ từng bước đứng thẳng để đi lại, dần dần tiến hóa thành loài người hiện nay!”. Người ta nghe xong liền tiếp nhận, “Con người không phải do Đức Chúa Trời tạo dựng. Trên thế gian căn bản không có Đức Chúa Trời. Chúng ta không nhìn thấy Đức Chúa Trời ở đâu, chỉ có thể nhìn thấy khỉ và con người có một số điểm giống nhau, nên chúng ta chắc chắn rằng con người tiến hóa từ khỉ”. Khi người ta tiếp nhận tà thuyết và luận điệu sai lầm của Sa-tan, đây là một sự tiếp nhận đơn giản thôi sao? Chuyện này đâu giống như ăn một miếng cơm vào bụng rồi sau đó không có phản ứng gì, mà đây là một tư tưởng và quan điểm của Sa-tan đi vào lòng người, thấm vào máu và xương tủy của con người. Từ đó, tư tưởng và quan điểm của con người cũng bị thay đổi, bản tính Sa-tan của con người cũng từ đó mà nảy sinh. Sau đó con người nảy sinh sự nghi ngờ và chống đối với lời Đức Chúa Trời phán, không chịu tiếp nhận. Họ phủ nhận chuyện Đức Chúa Trời sáng tạo vạn vật và tể trị vạn vật, họ nói “Con người tiến hóa từ khỉ, không phải do Đức Chúa Trời tạo dựng”. Đối với chuyện Đức Chúa Trời tể trị vạn vật, sắp đặt vạn vật, và số phận của con người nằm trong tay Đức Chúa Trời – người ta không còn tin những sự thật này nữa. Sa-tan lại làm bại hoại ngươi thêm một bước nữa, nói với ngươi rằng “Nhân định thắng thiên”, “Đấu trời, đấu đất, đấu người. Cả ba thú ấy đều vui vô cùng”. Ngươi nghe xong thì tiếp nhận lời Sa-tan, đi ngược quy luật tự nhiên mà làm chuyện này chuyện kia. Ngươi nghe quen tai, nhìn quen mắt, rồi những tư tưởng và quan điểm thuộc về Sa-tan này từng chút một đồng hóa ngươi, đến khi lại nghe câu “Đức Chúa Trời tể trị vạn vật, tể trị số phận của ngươi”, thì ngươi liền cảm thấy: “Mình cũng đâu nhìn thấy Đức Chúa Trời tể trị hết thảy mọi sự thế nào, làm gì có Đức Chúa Trời!”. Sao nào? Người ta hoàn toàn bị Sa-tan bắt đi rồi phải không? (Thưa, phải.) Chuyện người ta bị Sa-tan bắt đi bắt đầu từ việc họ tiếp nhận một tư tưởng và quan điểm sai lầm.
Có những người luôn làm chứng về chuyện mình chịu khổ, truyền bá những quan điểm sai lầm về chuyện chịu khổ. Một khi người ta tiếp nhận dạng tư tưởng và quan điểm này, cộng thêm chuyện con người có dã tâm và dục vọng, có tâm tính bại hoại, thế là người ta xác định chắc chắn rằng mình có thể dùng việc chịu khổ để đổi lấy phúc lành, để cùng Đức Chúa Trời chia sẻ sự vinh hiển của Ngài. Thế là họ đều đi chịu khổ, đều chú trọng chuyện chịu khổ. Chẳng có ai thực hành lẽ thật, chẳng có ai chú trọng nghe lời Đức Chúa Trời, cũng chẳng có ai dốc công sức vào lẽ thật. Thay vào đó, họ so xem ai có thể chịu khổ hơn, ai chịu nhiều cái khổ hơn, ai ăn uống kham khổ hơn, ai mặc đồ rách nát hơn, ai dậy sớm hơn, ngủ muộn hơn, họ cứ so sánh những chuyện này. Có những người đến giờ ăn cũng không đi ăn, còn nói vì làm bổn phận quá bận, không ăn được, nên đã bỏ một bữa. Có người nghe xong liền nói: “Thỉnh thoảng bỏ một bữa thì có là gì chứ? Tôi còn bị bệnh dạ dày, mà nó đâu có làm chậm trễ việc làm bổn phận của tôi”. Còn có người nói: “Anh bị bệnh dạ dày, tôi còn bị loét dạ dày đây này”. Các ngươi nghe những người này nói xem, họ có thực tế lẽ thật không? Họ chỉ so xem ai chịu nhiều cái khổ hơn, ai mắc bệnh nặng hơn, cho rằng ai chịu khổ nhiều nhất thì làm Đức Chúa Trời vui lòng nhất. Họ có thể nói ra những lời như vậy thì có lý trí không? Chẳng phải thần kinh của họ có vấn đề sao? Những biểu hiện thần kinh có vấn đề này do đâu mà có? Chính là do họ tiếp nhận đủ loại tà thuyết và luận điệu sai lầm mà ra. Họ không hiểu lẽ thật. Lời Đức Chúa Trời đã thông công rõ ràng về mọi phương diện lẽ thật, thế mà họ không ăn uống lời Đức Chúa Trời, cũng không tìm kiếm lẽ thật. Khi gặp chuyện thì họ hành động theo quan niệm và tưởng tượng, hành động theo đủ loại tư tưởng và quan điểm sai lầm do Sa-tan tiêm nhiễm. Càng ngày họ càng xa Đức Chúa Trời, cuối cùng dẫn đến thần kinh không bình thường. Cho nên, Ta thấy luôn làm chứng về việc mình chịu khổ thì không thích hợp, các ngươi thì thấy thế nào? (Thưa, không thích hợp, tính chất còn đặc biệt nghiêm trọng.) Tính chất và hậu quả của chuyện này nghiêm trọng. Nếu ngươi cho rằng chịu khổ là có thể đổi lấy phần thưởng và phúc lành, thì ngươi nên tìm kiếm lẽ thật về chuyện này mới phải. Nếu ngươi luôn nói lý lẽ với Đức Chúa Trời, còn cầu nguyện rằng: “Lạy Đức Chúa Trời, Ngài xem đi, con tin Ngài bao nhiêu năm nay, đã bỏ cả gia đình và sự nghiệp để làm bổn phận, còn chịu sự bách hại của Trung Cộng và chịu nhiều cái khổ đến vậy. Thân thể con vì mệt mỏi mà sinh bệnh, bây giờ con cũng bước vào tuổi trung niên rồi, sức khỏe không tốt. Xét đến chuyện con đã chịu nhiều cái khổ đến vậy, cuối cùng Ngài có thể ban cho con chút phần thưởng hoặc mão triều thiên nào không? Sau này trong vương quốc, Ngài cho con quản trăm người thôi cũng được”. Sau khi ngươi cầu nguyện như vậy, hãy xem trong lòng mình cảm thấy thế nào. Nếu ngươi không nhận ra lời cầu nguyện của mình có sự pha tạp, có ý đồ, thì ngươi gặp rắc rối rồi, Ta e rằng tâm tính bại hoại của ngươi vô phương giải quyết. Do đó, nếu có lý trí, thì ngươi nên đem quan điểm và ý định của mình đến trước mặt Đức Chúa Trời mà cầu nguyện, cầu xin Đức Thánh Linh khai sáng và soi sáng, để Đức Chúa Trời giúp ngươi kiểm duyệt. Khi chưa xác định được quan điểm của mình có đúng hay không, thì ngươi tuyệt đối không được rêu rao hay làm chứng về tư tưởng và quan điểm của mình giữa các anh chị em, càng không được làm chứng về chuyện mình đã chịu khổ thế nào, trả giá thế nào. Ngươi làm như vậy là không có lý trí, như vậy thì giống với sự mưu cầu của Phao-lô. Ngươi rêu rao và làm chứng về chuyện mình chịu khổ như vậy, thì một mặt, sẽ ảnh hưởng đến người khác. Mặt khác, một khi ngươi mê hoặc người ta và mọi người đều sùng bái ngươi, đi theo ngươi, thì tính chất của chuyện này trở nên nghiêm trọng rồi, chẳng những ngươi chịu những cái khổ đó đều uổng công, mà ngươi còn phải chịu sự trừng phạt của Đức Chúa Trời. Cho nên, ngươi làm chứng về chuyện mình chịu khổ và trả giá, thì tính chất chuyện này là gì? Ngươi làm chứng về chuyện mình chịu khổ như vậy chính là mê hoặc người ta, là cách làm của Phao-lô, ngươi đang truyền bá tà thuyết và luận điệu sai lầm, đang làm chứng cho bản thân mình. Ngươi chịu bao nhiêu cái khổ đều không cần khoe khoang, nếu ngươi sẵn lòng chịu khổ thì cứ một mực chịu khổ. Nếu ngươi cảm thấy mình chịu khổ đủ nhiều và có tư cách mặc cả với Đức Chúa Trời rồi, thì ngươi hãy đến trước mặt Đức Chúa Trời mà cầu nguyện với Ngài. Nếu Đức Chúa Trời không khen ngợi ngươi, thì ngươi phải phản tỉnh xem cách làm dùng chuyện chịu khổ để đổi lấy phần thưởng này có khả thi hay không, nếu không khả thi thì ngươi phải lựa chọn con đường đúng đắn để đạt được sự khen ngợi của Đức Chúa Trời. Nếu ngươi cứ khư khư cố chấp, cho rằng: “Tôi chịu khổ là chuyện tích cực, tôi chịu nhiều cái khổ như vậy thì tôi được ban thưởng là chính đáng. Tôi cứ phải lãnh những cái khổ người khác không lãnh, chịu những cái khổ người khác không chịu được, vì tục ngữ có câu ‘Chịu được cái khổ nhất thiên hạ, mới đứng được trên thiên hạ’. Quan điểm này chẳng phải khá tốt sao? Đây là quan điểm vĩ đại, đúng đắn biết bao! Tôi phải giữ lấy nó, không bao giờ từ bỏ, đây là bí kíp để được ban thưởng, được phúc lành!”. Đây là bí kíp sao? Đây chẳng phải là đang giao dịch với Đức Chúa Trời sao? Có lẽ Đức Chúa Trời xét thấy ngươi đã chịu khổ nhiều năm, lao khổ và có công trạng cao mà ban cho ngươi chút ân điển, cho ngươi một thân thể khỏe mạnh, chữa khỏi mọi bệnh tật của ngươi, hoặc ban cho ngươi chút trí thông minh và sự khôn ngoan, khiến ngươi không còn ngu muội lắm nữa. Đây đều là chuyện dễ như trở bàn tay, chẳng phải ngươi chịu khổ là vì muốn đạt được những thứ này sao? Đức Chúa Trời ban cho con người những thứ này là chuyện quá dễ dàng. Nhưng chịu khổ để đổi lấy những thứ này thì có giá trị không? (Thưa, không có giá trị.)
Các ngươi tin Đức Chúa Trời thì muốn đạt được gì? Có mục tiêu không? (Thưa, có.) Hiện giờ mục tiêu trong việc tin Đức Chúa Trời của các ngươi có rõ ràng không? (Thưa, hiện giờ rõ ràng rồi.) Tin Đức Chúa Trời thì nên làm gì và không nên làm gì, nên đi con đường nào và nên từ bỏ con đường nào, nên lĩnh hội và nhận thức những vấn đề và những phương diện nào đó như thế nào, những tư tưởng và quan điểm nào là đúng đắn, tích cực và là điều người ta nên có, những tư tưởng và quan điểm nào là lệch lạc, là xa rời con đường đúng đắn, là điều tiêu cực, là điều mà người ta nên phân định và từ bỏ, những điều này các ngươi có biết không? (Thưa, biết một chút.) Bất kể người ta có thể chịu cái khổ nào, thì trong chuyện đó họ đều chịu sự chi phối của tư tưởng và quan điểm. Đương nhiên nói sâu hơn một chút, hễ liên quan đến tư tưởng và quan điểm của người ta thì liên quan đến lựa chọn của người ta. Nói chính xác hơn, hễ liên quan đến lựa chọn của người ta thì cũng liên quan đến con đường người ta đi. Mà hễ liên quan đến con đường người ta đi thì liên quan đến chuyện người ta có được cứu rỗi hay không. Cho nên, nhìn bề ngoài thì chuyện chịu khổ là một vấn đề rất thường thấy, nhưng nếu ngươi có tư tưởng, quan điểm và sự mưu cầu không đúng đắn về chuyện này, thì rất có thể nó sẽ khiến ngươi đi ngược lại con đường Đức Chúa Trời đã chỉ rõ cho ngươi. Kết quả cuối cùng của chuyện này sẽ là: khi công tác của Đức Chúa Trời kết thúc, ngươi chẳng những không đạt được phần thưởng, chẳng những không được cứu rỗi, mà ngược lại còn trở thành đối tượng bị đào thải, đây là một chuyện rất đáng sợ. Để tránh hậu quả đáng sợ này cuối cùng xảy ra, thì ngươi nhất định phải có tư tưởng và quan điểm đúng đắn, cùng sự lĩnh hội đúng đắn về chuyện chịu khổ, sau đó xác định nguyên tắc thực hành đúng đắn. Nếu tư tưởng, quan điểm và nguyên tắc thực hành của ngươi là con đường dẫn đến được cứu rỗi, thì tư tưởng và quan điểm ngươi có, cùng con đường thực hành ngươi chọn là đúng đắn, tích cực và phù hợp với lẽ thật. Nếu tư tưởng và quan điểm ngươi có, cùng nguyên tắc thực hành ngươi chọn không phải là con đường hướng đến sự cứu rỗi, không thể khiến ngươi đạt được sự cứu rỗi, thì tư tưởng và quan điểm ngươi có, cùng nguyên tắc thực hành ngươi chọn là sai lầm, chắc chắn là vậy. Nghĩa là nếu tư tưởng và quan điểm ngươi chọn, cùng con đường thực hành ngươi xác định đã khiến ngươi lạc lối, đi ngược lại con đường dẫn đến sự cứu rỗi mà Đức Chúa Trời dạy cho ngươi, vậy thì con đường ngươi chọn là con đường sai lầm. Ngươi nên từ bỏ nó, nên thay đổi tư tưởng và quan điểm của mình, thay đổi nguyên tắc thực hành và phương thức thực hành của mình, như vậy sẽ có lợi cho chuyện ngươi đạt được sự cứu rỗi. Hiểu chưa? (Thưa, đã hiểu.) Chuyện liên quan đến việc được cứu rỗi thì không có chuyện nào là nhỏ. Ngay cả khi đó là những vấn đề không đáng chú ý mà người ta rất dễ bỏ qua, thì ngươi cũng phải tiếp cận một cách thận trọng và suy ngẫm một cách nghiêm túc, sau đó xác lập tư tưởng và quan điểm đúng đắn cùng con đường thực hành đúng đắn. Đây mới là việc thực hành mà người ta nên có để đạt được sự cứu rỗi. Trong chuyện này, ngươi chớ hồ đồ.
Những điều chúng ta vừa thông công liên quan đến một số quan điểm sai lầm và biểu hiện lệch lạc của người ta về phương diện chịu khổ, cũng như những tư tưởng và quan điểm đúng đắn mà người ta nên có và những nguyên tắc họ nên thực hành. Đã nói đến việc Đức Chúa Trời nhập thể nhìn nhận chuyện chịu khổ thế nào, vậy những nội dung chúng ta vừa thông công, một mặt đại diện cho một số cách nhìn và đánh giá của Ta đối với chuyện chịu khổ, mặt khác cũng đại diện cho một số tư tưởng, quan điểm và nguyên tắc thực hành của Ta đối với chuyện chịu khổ. Bất kể là tư tưởng và quan điểm hay nguyên tắc thực hành, những điều Ta vừa thông công đều liên quan đến những sự bộc lộ và biểu hiện của các ngươi trong cuộc sống thường nhật hoặc trong quá trình làm bổn phận. Vậy chúng ta hãy xem tiếp Đức Chúa Trời nhập thể tiếp cận với chuyện chịu khổ thế nào. Vừa rồi Ta cũng đã thông công với các ngươi về cách tiếp cận với chuyện chịu khổ. Chịu khổ là một phần của cuộc sống và sự sinh tồn của con người. Xét từ góc độ nhân tính bình thường, thì chịu khổ là chuyện tất nhiên phải xảy ra. Con người sống trong nhân thế, sống trong thế giới vật chất, thì mỗi người từ khi sinh ra cho đến khi qua đời đều phải chịu rất nhiều cái khổ, trong đó bao gồm cảm giác không thoải mái, không vui vẻ, không hạnh phúc của xác thịt. Tương tự, Ta sống trong môi trường xã hội hiện thực này, thì Ta cũng đã cảm nhận những cái khổ này, Ta đã trải qua và chịu đựng rất nhiều đau khổ, hiện giờ cũng đang trải qua một số cái khổ. Đây là một quá trình tất nhiên, cho nên xét từ góc độ nhân tính bình thường, Ta tiếp nhận những cái khổ này hoặc trải qua những cái khổ này một cách rất tự nhiên. Xác thịt Ta có cảm giác khổ, nhưng trong lòng Ta không chống đối, không từ chối. Sự tồn tại của những cái khổ này cũng tự nhiên như không khí con người hít thở hoặc ánh nắng con người cảm nhận. Ta không cảm thấy đây là chuyện phụ thêm, cũng không cảm thấy là dư thừa, càng không cảm thấy đây là chuyện tự Ta chuốc lấy. Cảm giác của Ta là vậy. Nghĩa là bất kể chịu khổ vì chuyện gì, hoặc chịu khổ ở giai đoạn nào, hoặc là cái khổ trong cuộc sống, hoặc là cái khổ nên chịu trong công tác, Ta cũng chỉ cảm thấy đó là một chuyện đang xảy ra. Người ta phải dùng một dạng nguyên tắc, nghĩ ra một cách để xử lý và giải quyết chuyện này. Mặc dù xử lý và giải quyết những chuyện này có lúc cần phải chịu một số cái khổ, nhưng bất kể là chịu khổ lớn hay chịu chút khổ nhỏ, Ta đều cảm thấy đó là một quá trình, không cảm thấy đó là một gánh nặng phụ thêm. Cảm giác của Ta đơn giản chỉ như vậy. Đối với chuyện chịu khổ, ngoài cảm giác đơn giản này ra, Ta chưa bao giờ rêu rao mình đã chịu cái khổ nào. Ví dụ, khi đến một số nơi có điều kiện tương đối kém để tiếp xúc và thông công với mọi người, thì Ta cũng không cảm thấy mình đã chịu khổ to lớn gì. Ta chưa bao giờ cảm thấy cái khổ Ta chịu là sự cống hiến cho con người, mà Ta cảm thấy đó là chuyện rất bình thường, không đáng nhắc đến. Ta chưa bao giờ coi chịu khổ là một chuyện lớn để khoe khoang, rêu rao hoặc làm quá lên, nhằm được mọi người coi trọng, Ta chưa bao giờ làm những chuyện như vậy. Rêu rao rằng Ta đã chịu những cái khổ nào là việc mà các ngươi làm và các ngươi làm không ít, Ta thì chưa bao giờ làm việc đó.
Có một lần, Ta đến một nơi, tán gẫu và nói chuyện với mọi người, thông công với họ một số chuyện. Thông công xong thì đã quá giờ ăn, Ta không ăn cơm mà đi luôn. Sau đó có người lan truyền rằng: “Đức Chúa Trời thông công với chúng tôi đến tận trưa, đến một ngụm nước cũng không uống, cơm cũng không ăn mà đã đi rồi”. Một người nói xong, rồi từ một đồn mười, từ mười đồn trăm, và rất nhiều người đều biết chuyện đó. Mọi người biết rồi thì thế nào? Những người đó lại xem chút chuyện này là một chủ đề để thông công chính thức trong các buổi nhóm họp, lấy đó mà thông công như là lẽ thật. Ta thấy khó hiểu: Chuyện này có gì đáng nói đâu? Nói chuyện này thì có giá trị gì? Thông công chuyện này thì có ích gì? Có lúc Ta tán gẫu với các ngươi, nói về những chuyện trong cuộc sống thường nhật hoặc những chuyện trong công tác. Đây là chuyện rất bình thường, cũng bình thường như cuộc đối thoại giữa các ngươi với nhau vậy, chẳng có gì đáng khoe khoang, cũng chẳng có gì đáng tuyên truyền, tại sao các ngươi lại ở sau lưng Ta mà tuyên truyền chuyện này? Ta thấy rất khó hiểu. Sau đó do họ lan truyền chuyện này nhiều quá, nên Ta hiểu ra: Họ cho rằng đây là làm chứng về trải nghiệm chịu khổ của Đức Chúa Trời nhập thể, là đang loan truyền lẽ thật, chứ không phải lan truyền chuyện nào đó. Ta nói, nếu ngươi muốn làm chứng về trải nghiệm chịu khổ của Đức Chúa Trời nhập thể thì hoàn toàn không cần thiết. Ta gặp mặt, tán gẫu và nói chuyện với các ngươi là tự nguyện, Ta không làm cho ai xem, không phải để lấy lòng các ngươi, cũng không phải để làm bộ làm tịch. Còn có lúc Ta thông công lâu giờ, không ăn cơm, không uống nước, thì đó cũng không phải Ta cố ý, mà là vì Ta không khát, cũng không quá đói. Nếu đói đến mức khó chịu, Ta sẽ bảo ngươi lấy cho Ta chút lương khô hoặc bảo ngươi nấu bữa cơm đơn giản cho Ta ăn, Ta tuyệt đối sẽ không nhịn, cũng sẽ không khách sáo với ngươi. Đến giờ ăn mà chưa ăn cơm đã đi rồi, chuyện này tính là chịu khổ sao? Theo cách các ngươi tuyên truyền thì dường như Ta đang làm chuyện đó để lấy tiếng, Ta nghe thì thấy sao mà khó chịu đến vậy? Cứ như thể Ta làm vậy là để các ngươi thấy Ta chịu khổ nhiều đến mức nào, có thể nhẫn nại đến mức nào, có lòng yêu thương các ngươi đến mức nào, đã có biết bao cống hiến cho các ngươi, sau khi đi còn để các ngươi rêu rao giùm Ta, tuyên truyền Ta đã chịu bao nhiêu cái khổ, đã làm bao nhiêu chuyện cho các ngươi, như thể Ta dùng cách này để mua chuộc lòng các ngươi, mục đích của Ta là như vậy sao? (Thưa, không phải.) Ta không có mục đích này. Ta đến chỗ các ngươi tán gẫu và nói chuyện với các ngươi, có lúc đến giờ ăn thì Ta chưa ăn cơm mà đã quay về, đây là chuyện rất bình thường. Thế mà các ngươi lại coi đó là chuyện lớn, cho rằng Ta đã chịu khổ, cho rằng trong chuyện này có lẽ thật để tìm kiếm, có điều mà các ngươi nên noi theo, nên đi theo, còn coi chuyện này là lẽ thật mà truyền bá. Truyền bá chuyện này là lan truyền chuyện phiếm. Ta không thích các ngươi lan truyền chuyện phiếm, nghe được chuyện này là Ta thấy ác cảm và ghê tởm, ai lan truyền chuyện phiếm thì Ta ghê tởm người đó. Nếu Ta thông công với các ngươi một số nội dung liên quan đến lẽ thật hoặc liên quan đến công tác của hội thánh, thì đây là điều các ngươi cần, các ngươi có thể ghi chép lại rồi chia sẻ và thông công cùng mọi người. Nhưng các ngươi lan truyền rằng Ta bị đói, bị rét ở đâu đó, các ngươi mà lan truyền những chuyện này thì Ta ghê tởm, Ta cực kỳ thấy ác cảm với việc lan truyền chuyện phiếm. Tại sao các ngươi lại tích cực làm những chuyện kiểu này đến vậy? Các ngươi cho rằng làm vậy thì Ta sẽ vui sao? Ta không giống các ngươi, Ta chẳng vui chút nào, chuyện này Ta đã nhẫn nhịn bao nhiêu năm rồi. Nếu Ta biết ai là người đầu tiên lan truyền chuyện này, Ta phải hỏi người đó: “Tại sao ngươi lại lan truyền lời này? Mục đích của ngươi là gì, ý định của ngươi là gì? Ngươi có ý đồ xấu! Ngươi làm vậy là đang quấy nhiễu! Ngươi làm ảnh hưởng đến tâm trạng của Ta, ngươi có biết không? Ngươi lan truyền chuyện phiếm như vậy chính là đang trá hình hạn chế tự do của Ta. Tính chất việc đó chính là vậy”. Ta thấy ác cảm với những người lan truyền chuyện phiếm, nhất là có những người chẳng bao giờ thông công lẽ thật, cũng chẳng bao giờ thông công chuyện gì liên quan đến việc thực hành lẽ thật hoặc liên quan đến công tác của hội thánh, mà chỉ nói những chuyện vô nghĩa này, lan truyền những chuyện phiếm này, thậm chí còn lan truyền rất chi tiết. Ví dụ, khi đang tán gẫu với các ngươi mà Ta ho vài tiếng, thế là có những người lại ở sau lưng Ta lan truyền chuyện này. Đây là chuyện ngươi nên lan truyền sao? Đây là bổn phận của ngươi sao? Ta đã ghê tởm việc lan truyền chuyện phiếm này biết bao nhiêu năm rồi. Có những người cứ lan truyền chuyện phiếm như vậy, truyền đi truyền lại, làm cho không ít người biết đến, thậm chí có kẻ hồ đồ còn bắt chước Ta ho. Ngươi bắt chước cái đó thì có ích gì? Nếu ngươi bắt chước cách Ta thông công lẽ thật để giải quyết vấn đề, thì còn có chút ích lợi cho công tác của nhà Đức Chúa Trời. Nếu ngươi bắt chước cách Ta bảo vệ lợi ích của nhà Đức Chúa Trời và nghĩ mọi cách để các ngươi được ích lợi, bắt chước cách Ta thông công lẽ thật thì có thể không ngại phiền hà mà nêu ví dụ và các sự thật để các ngươi đều có thu hoạch và tiến bộ, ngươi mà làm những chuyện tích cực này thì Ta nhìn thấy sẽ vui. Tại sao ngươi không bắt chước những chuyện tích cực này? Tại sao cứ bắt chước những chuyện vô nghĩa đó? Điều này chứng tỏ tâm thái của ngươi có vấn đề. Nếu thực sự nhàn rỗi đến mức buồn chán, thì ngươi nên tìm chút chuyện chính đáng mà làm, như vậy sẽ có ích cho mọi người. Tại sao lại không làm chút chuyện chính đáng chứ? Dạng người này không làm việc chính đáng, thật khiến người ta chán ghét!
Ta thông công lẽ thật nhiều năm như vậy, mà chưa bao giờ thấy các ngươi bỏ ra bao nhiêu công sức trong lẽ thật, cũng chưa thấy các ngươi bỏ công sức vào lẽ thật như cách các ngươi lan truyền chuyện phiếm. Sao những người này lại thích lan truyền chuyện phiếm đến vậy? Lan truyền những chuyện đó thì có ích gì? Những người không có hiểu biết thuộc linh này đúng là không chuyên tâm vào chuyện chính đáng! Nếu ngươi thực sự thông công rõ một phương diện lẽ thật, đem lại chút ích lợi và sự gây dựng cho anh chị em, thì đây là chuyện tốt, Ta còn phải cảm ơn ngươi. Nhưng ngươi cứ lan truyền rằng ngày nào Ta đã làm việc gì, đã ở đâu bao lâu, đã đi đường xa chừng nào, mấy giờ mới quay về, các ngươi cứ lan truyền những chuyện này thì Ta đặc biệt thấy ghê tởm. Có người nói: “Ngài ghê tởm gì chứ? Chúng con đều có ý tốt, chẳng phải chúng con đang làm chứng về chuyện chịu khổ của Đức Chúa Trời nhập thể sao?”. Quan điểm này có đúng không? (Thưa, không đúng.) Không đúng ở chỗ nào? (Thưa, Đức Chúa Trời đã phán nhiều lời như vậy, bày tỏ nhiều lẽ thật như vậy mà họ không đem ra thông công, họ cũng không nói mình có những trải nghiệm thực hành lẽ thật nào. Họ làm chứng cho Đức Chúa Trời mà không nói những chuyện này, thay vào đó cứ lấy một số chuyện trong cuộc sống của Đấng Christ rồi làm quá lên. Con cảm thấy lòng của người này có vấn đề.) Các ngươi cảm thấy Ta làm những chuyện này là chịu khổ, vậy các ngươi có hiểu được cái khổ mà Ta thực sự chịu không? Các ngươi có biết không? (Thưa, không biết.) Các ngươi không biết, cũng không hiểu, không lý giải được, vậy mà các ngươi lại lấy những chuyện nhỏ nhặt trong cuộc sống thường nhật này ra làm quá lên, rồi đi tuyên truyền khắp nơi. Ví dụ, Ta gặp một người, thuận miệng nói một câu: “Hôm nay cánh tay Ta có hơi khó chịu”. Người nói vô tâm nhưng người nghe lại hữu ý, người này nghe xong liền cho rằng Ta viết quá nhiều nên cánh tay khó chịu, ba ngày sau câu chuyện này đã được truyền ra ngoài và mọi người nói rằng Ta chịu khổ. Cánh tay Ta hơi khó chịu mà tính là chịu khổ sao? Chẳng lẽ trong mắt các ngươi đây chính là chịu khổ sao? Ta nói chuyện này trước mặt các ngươi là để khoe rằng Ta đang chịu khổ sao? Ta đâu có ý đó. Ngoài ra, Ta chịu khổ thì liên quan gì đến ngươi? Ta bảo ngươi lan truyền chuyện này sao? Chuyện Ta muốn ngươi làm, thì Ta sẽ trực tiếp nói cho ngươi biết. Ngươi nên làm công tác nào, nên nói lời nào, Ta đều đã dặn dò và nói rõ với các ngươi trong mọi lần Ta giảng đạo và thông công. Các nguyên tắc lẽ thật và con đường thực hành đều được Ta thông công rõ ràng. Đây là những điều các ngươi nên chú trọng và nên làm được. Điều Ta bảo thì ngươi không chú trọng, điều Ta không bảo thì ngươi lại đặc biệt chú trọng và làm rất nhiều. Ta nhìn thấy vậy là thấy ác cảm, Ta tuyệt đối sẽ không biểu dương ngươi, nói rằng chuyện này ngươi làm tốt và ghi công cho ngươi, Ta không bao giờ làm những chuyện như vậy, chưa từng nói những lời như vậy. Ta yêu cầu các ngươi làm gì thì sẽ nói rõ. Chuyện này Ta không yêu cầu mà các ngươi lại làm, thì trong lòng Ta thấy rất ác cảm, rất ghê tởm, không phải là ác cảm bình thường đâu. Vậy mà các ngươi còn cảm thấy mình giỏi lắm, cảm thấy mình rất biết đồng cảm, rất có lòng yêu kính đối với Ta, cảm thấy mình đặc biệt biết thấu hiểu, biết quan tâm, biết chăm sóc. Ta nói các ngươi còn kém xa lắm. Cho dù có một số chuyện cá biệt ngươi làm thích hợp, nhưng giữa chúng ta vẫn có khoảng cách, huống chi việc ngươi lan truyền chuyện phiếm này là không thích hợp, Ta chẳng thích. Trước đây Ta chưa bao giờ nói với các ngươi chuyện này cũng không có nghĩa là Ta ngầm cho phép. Hiện giờ Ta nói rõ với các ngươi một lời: Ta đặc biệt ghê tởm những người lan truyền chuyện phiếm. Nhất là có những người thấy Ta chịu chút khổ nhỏ liền lấy danh nghĩa làm chứng về sự chịu khổ của Đức Chúa Trời nhập thể mà cố ý lan truyền chuyện phiếm. Ta nói rõ với các ngươi: Đối với những chuyện thế này, Ta phản đối, trong lòng đặc biệt thấy ác cảm và hoàn toàn không thích. Đây không phải làm chứng cho Đức Chúa Trời, mà là lan truyền chuyện phiếm. Vậy các ngươi làm như thế thì có thích hợp không? (Thưa, không thích hợp.) Đã không thích hợp thì các ngươi nên làm thế nào? (Thưa, không lan truyền chuyện phiếm, không làm những chuyện như vậy.)
Về chuyện chịu khổ, giữa chúng ta có bất đồng không? Có khác biệt về quan điểm không? (Thưa, có.) Vậy quan điểm của các ngươi về chuyện chịu khổ từ đâu mà ra? (Thưa, quan điểm của chúng con về chuyện chịu khổ được sinh ra từ tâm tính bại hoại sau khi bị Sa-tan làm bại hoại.) Quan điểm của con người đối với các loại sự vật, một mặt đến từ Sa-tan, bao gồm quan niệm và tưởng tượng của con người. Mặt khác, nói một cách thực tế hơn là do chịu ảnh hưởng của trào lưu và bầu không khí của xã hội này, ảnh hưởng trực tiếp nhất khi người ta tiếp nhận những tư tưởng sai lầm này chính là sự nảy sinh của một số tư tưởng và quan điểm sai lầm. Người ta mang theo những tư tưởng và quan điểm này đến nhà Đức Chúa Trời, sau đó nảy sinh đủ loại cách làm sai lầm. Cho nên đối với chuyện Đức Chúa Trời nhập thể chịu khổ, một số cách tiếp cận của con người cũng là do bị một số tư tưởng và quan điểm sai lầm xui khiến mà ra. Trong thế giới ngoại đạo, khi những người có địa vị, có danh vọng xuất hiện ở nơi công cộng, họ thường làm một số chuyện để lấy tiếng, gọi tắt là diễn trò. Sau khi diễn trò, họ lại thông qua truyền thông để tuyên truyền, nhằm đạt được mục đích duy trì hình tượng và củng cố địa vị của mình giữa mọi người, khiến hình tượng của họ trong mắt công chúng càng tốt hơn, khiến người khác càng sùng bái họ, và khiến họ càng có chỗ đứng vững chắc trong lòng mọi người. Cách tiếp cận của người ta trong việc lan truyền chuyện về sự chịu khổ của Đức Chúa Trời nhập thể cũng chịu ảnh hưởng ở mức độ rất lớn từ lề thói này trong thế giới ngoại đạo. Đối với chuyện ăn, mặc, ở, đi lại của Đức Chúa Trời nhập thể, hoặc một số hành tung và hành động của Ngài trong cuộc sống thường nhật, thì tư tưởng và quan điểm của con người cũng như vậy. Mặc dù người ta không trực tiếp nói Đức Chúa Trời nhập thể làm chuyện này là vì mục đích gì, nhưng cách thức người ta lan truyền chuyện này sẽ gây ra hậu quả là khiến mọi người không chú trọng mưu cầu lẽ thật mà chỉ chú trọng những hình thức bên ngoài này, không chú trọng bước vào lẽ thật mà chỉ chú trọng chịu khổ và làm một số chuyện mà con người dễ đạt đến, dễ noi theo. Người ta cho rằng làm như vậy là đang làm chứng cho Đức Chúa Trời, cho rằng làm như vậy là đang thực hành lẽ thật, cũng là đang bảo vệ hình tượng của Đức Chúa Trời. Thực ra, hình tượng của Đức Chúa Trời cần ngươi bảo vệ sao? Đức Chúa Trời bảo ngươi làm chứng cho Đức Chúa Trời là làm chứng những chuyện này sao? (Thưa, không phải.) Hình tượng của Đức Chúa Trời nhập thể không cần ngươi bảo vệ, càng không cần ngươi dùng cách này để bảo vệ. Cũng có lẽ ngươi có ý định tốt, nhưng cách làm của ngươi lại gây ra một dạng hậu quả xấu, nghiêm trọng hơn thì còn cấu thành việc gây gián đoạn và nhiễu loạn. Con người xưa nay đều cho rằng làm như vậy là thích hợp và hợp lý, là việc lành và là việc mà loài thọ tạo nên làm. Ta nói: “Sai rồi! Đây không phải là chuyện ngươi nên làm, ngươi không nên làm chuyện này”. Ngươi là loài thọ tạo thì nên đứng đúng vị trí của loài thọ tạo và làm tốt bổn phận của mình, ngươi không nên ở trong nhà Đức Chúa Trời mà đóng vai trò truyền thông xã hội và làm những chuyện truyền thông làm. Ta nói những lời nào, Ta chịu cái khổ nào, Ta đi đâu làm gì, lịch trình hằng ngày của Ta thế nào, Ta không cần ngươi tuyên truyền những chuyện này. Ta không thích ngươi tuyên truyền và Ta thấy ác cảm với việc ngươi tuyên truyền. Cho nên phiền ngươi dừng kiểu tuyên truyền này lại, bởi vì kiểu tuyên truyền này là lan truyền chuyện phiếm và không hợp lẽ thật. Hiểu chưa? (Thưa, đã hiểu.) Tốt nhất là ngươi đừng tuyên truyền, lan truyền những chuyện phiếm này thì chẳng có ích gì. Nếu ngươi thực sự muốn làm chứng cho Đức Chúa Trời, thì hãy loan truyền thêm nhiều lời Đức Chúa Trời, chia sẻ nhận thức trải nghiệm của ngươi về lẽ thật cùng những thể nghiệm của ngươi về lẽ thật. Nếu ngươi thực sự có lòng tốt và muốn làm chút chuyện tốt để chuẩn bị một số việc lành, vậy ngươi xem trong công tác nhà Đức Chúa Trời có phương diện nào hoặc khâu nào cần được cải thiện, rồi ngươi bỏ công sức và trả giá một chút để làm tốt chuyện đó, từ đó có thể nâng cao hiệu suất công tác, đẩy nhanh tiến độ công tác, còn có thể tiết kiệm nhân lực và vật lực. Ngươi làm chút công tác như vậy thì đây là việc lành, là việc mà loài thọ tạo nên làm. Còn chuyện cá nhân Ta ăn gì, mặc gì và chịu những cái khổ nào, thì không cần ngươi lan truyền. Ngươi nên có thái độ thế nào đối với Ta, chuyện này Ta đã nói cho ngươi từ lâu rồi, chính là ba nguyên tắc: thành thật, tôn trọng và nghe lời, đơn giản như vậy thôi, còn những chuyện phụ thêm thì Ta không cần ngươi làm. Nếu chuyện phụ thêm ngươi làm mà thích hợp, thì Ta coi ngươi là anh chị em và Ta ghi nhớ tình cảm này của ngươi. Nhưng xét về mối quan hệ giữa chúng ta, thì nguyên tắc về cách ngươi đối đãi với Ta, Ta đã nói cho ngươi từ lâu rồi, là ba nguyên tắc nào? (Thưa, là thành thật, tôn trọng và nghe lời.) Chỉ ba nguyên tắc này thôi, ngươi mà đạt được ba điều này thì thích hợp, là giữ vững vị trí vốn có mà loài thọ tạo như ngươi nên giữ và làm tròn trách nhiệm của ngươi rồi. Ngươi lan truyền chuyện phiếm là việc chẳng đáng một xu, cuối cùng Ta còn thấy ác cảm với ngươi. Nhưng nếu Ta căn dặn ngươi một nguyên tắc, giao cho ngươi một công tác hoặc thông công một phương diện lẽ thật, mà ngươi làm theo và thực hành, thì tốt hơn nhiều so với việc ngươi lan truyền chuyện phiếm. Thực hành lẽ thật mới có giá trị, mới được ghi nhớ. Ngươi lan truyền chuyện phiếm về Ta, nói Ta đi nhóm họp ở đâu đó thì đi đường mệt đến mức nào, ngươi lan truyền những chuyện phiếm này để khơi dậy sự đồng cảm, thương hại của người ta. Ta không vui chút nào, Ta không thích ngươi làm như vậy. Ta còn phải hỏi ngươi: “Lan truyền chuyện này thì có ích gì? Tại sao ngươi phải lan truyền những lời này? Rốt cuộc ngươi có hiểu thế nào gọi là làm chứng cho Đức Chúa Trời không?”. Nếu ngươi không nói ra được lý do hợp lẽ thật, thì mục đích đằng sau những lời ngươi nói và những việc ngươi làm không hợp lẽ thật chút nào, chỉ là để thỏa mãn dã tâm và dục vọng cá nhân của ngươi, vì muốn lấy lòng Ta mà thôi. Vậy thì Ta nói cho ngươi biết, Ta không thích ngươi làm như vậy, chuyện này ngươi tuyệt đối đừng làm, chỉ lần này thôi, sau này đừng bao giờ làm nữa! Các ngươi giao tiếp và qua lại với Ta, thì phải suy đi ngẫm lại những nguyên tắc Ta nói với các ngươi. Giữ vững vị trí mình nên giữ, làm tròn trách nhiệm mình nên làm và giữ vững nguyên tắc mình nên giữ, đây đều là chuyện ngươi nên làm. Ngươi đừng luôn ngẫm nghĩ cách lấy lòng và bợ đỡ Ta, vừa muốn đồng cảm và thương hại Ta, vừa muốn khiến Ta vui, những chuyện này ngươi đừng làm, có làm cũng uổng công thôi. Ta không thích ngươi làm những chuyện này, Ta thấy ác cảm với cách làm này của ngươi. Nếu ngươi không làm như vậy, thì chúng ta công tư phân minh, Ta có thể qua lại bình thường với ngươi. Nếu ngươi làm những chuyện này, luôn để tâm đến những chuyện Ta làm rồi ở sau lưng Ta mà thêm mắm dặm muối và làm quá lên, nhằm lấy lòng Ta và khiến Ta có thiện cảm với ngươi, thì Ta nói ngươi sai rồi, ngươi làm như vậy chỉ khiến Ta thấy ác cảm với ngươi. Bất kể ngươi làm thế nào, Ta đều sẽ đối đãi với ngươi và đánh giá ngươi theo nguyên tắc lẽ thật, Ta sẽ nhìn nhận ngươi như vậy. Nếu ngươi giao tiếp và qua lại với Ta một cách công bằng và thích hợp, thì chúng ta có thể qua lại bình thường. Nếu ngươi luôn lan truyền chuyện phiếm ở sau lưng Ta, thì trong mắt Ta thấy nhân tính của ngươi không tốt, ít nhất Ta nói rằng ngươi không có nhân cách và tôn nghiêm, ngươi quá hèn hạ. Có người nói: “Con nói tốt cho Ngài, vậy cũng không được sao?”. Ta nói: “Không cần”. Ta là người thế nào, thì mọi người sẽ nhìn nhận và nhận biết thông qua những lời Ta thông công và thông qua những lẽ thật Ta dạy cho con người, chứ không phải thông qua những chuyện phiếm ngươi lan truyền. Cho nên ngươi lan truyền chuyện phiếm là đang làm chuyện thừa thãi, dư thừa. Có lẽ mọi người không thấy ác cảm, có lẽ mọi người thích, nhưng ít nhất là Ta không thích và Ta thấy ác cảm. Ngươi lan truyền chuyện phiếm về Ta, thì ngay cả khi chúng rất hợp thị hiếu của mọi người, rất hợp với cách nhìn của mọi người, khiến mọi người cảm thấy tốt, nhưng ít nhất ngươi cũng phải hỏi Ta. Ta là đương sự, ngươi phải hỏi Ta có đồng ý không, có thích không. Ta ủy quyền cho ngươi chưa? Nếu Ta chưa ủy quyền cho ngươi, vậy mà ngươi lan truyền chuyện phiếm về Ta, ăn nói lung tung, còn nói như thể là lẽ thật, thì chẳng phải ngươi có dụng tâm khác sao? Vậy Ta phải xác định tính chất ngươi thế nào? Ta nói ngươi đang gây nhiễu loạn và gián đoạn. Bất kể Ta đi đâu, nói những lời nào và làm những việc gì, có một số người chuyên chú trọng lan truyền những chuyện này, như thể lan truyền những chuyện này xong thì mọi người có thể xem trọng Ta, có thể đánh giá cao về Ta. Đây là tôn cao Đức Chúa Trời và làm chứng cho Đức Chúa Trời sao? (Thưa, không phải.) Vậy mỗi khi Ta đến nơi nào đó để làm một số chuyện, bất kể là chuyện trong cuộc sống thường nhật hay chuyện trong công tác, nhất là một số chuyện mà trong mắt người ta được xem là chịu khổ, thì Ta làm những chuyện đó là đang diễn trò sao? (Thưa, không phải.) Đã biết đây không phải là diễn trò, vậy ngươi đừng truyền bá những chuyện này, đừng làm loa phát thanh, đừng vào vai truyền thông. Nhà Đức Chúa Trời không có cơ cấu như vậy, ngươi đừng tự mình lập một cơ quan truyền thông và làm loa phát thanh để truyền bá những chuyện này. Bởi vì ngươi truyền bá những chuyện này thì khiến Ta ghê tởm quá đỗi và ngươi gây ra ảnh hưởng tiêu cực rồi. Cho nên ngươi tuyệt đối đừng lan truyền chuyện phiếm, đừng lan truyền những chuyện kiểu này. Đây là một yêu cầu của Ta đối với các ngươi.
Đức Chúa Trời trở nên xác thịt để đến làm công tác, đây là một bước trong kế hoạch quản lý của Đức Chúa Trời, là một hạng mục trong đó, hạng mục này có hình thức phần nào đặc biệt, cần Đức Chúa Trời phải đến phán lời và công tác giữa con người. Nghĩa là Đức Chúa Trời mang lấy hình tượng của một xác thịt, trở thành một người thông thường để đến làm công tác giữa con người. Ngoài công tác thuộc chức phận là phán lời, thì điều quan trọng nhất là cái khổ mà xác thịt Ngài phải chịu. Đây cũng là một hạng mục của công tác, là điều Ngài nhất định phải trải qua, nhất định phải chịu đựng. Trong thời gian phán lời và công tác, ngoài phán lời và công tác ra, xác thịt Ngài còn phải chịu một số cái khổ, sống giữa con người thì chịu khổ là điều tất nhiên. Đức Chúa Trời ở trong xác thịt mà đến sống giữa con người để cứu rỗi con người, cung ứng lẽ thật cho con người, chỉ đường cho con người và ban sự sống cho con người. Nhưng đối mặt với Ngài là nhân loại đã bị Sa-tan làm bại hoại sâu sắc cùng cực, vậy Đức Chúa Trời phải chịu đựng điều gì? Chịu đựng sự xét đoán, báng bổ, phản nghịch và phản bội của con người, còn phải chịu đựng sự hiểu lầm, đề phòng và oán trách của con người, cùng đủ kiểu qua loa chiếu lệ của con người đối với Đức Chúa Trời, Ngài phải chịu đựng những chuyện này. Có người nói: “Chúng tôi đâu có thấy Ngài chịu đựng những chuyện này”. Khi Đức Chúa Trời đến trong xác thịt, Ngài không sống giữa người ngoại đạo, mà sống giữa dân được Đức Chúa Trời chọn, sống giữa nhân loại mà Ngài muốn cứu rỗi. Vậy khi sống cùng nhân loại này, xác thịt Ngài tất nhiên phải tiếp xúc, qua lại và trao đổi với những người này, cùng chung sống với họ, tất nhiên phải xử lý rất nhiều chuyện. Khi Ngài xử lý những chuyện này, người ta sẽ bộc lộ tâm tính bại hoại của Sa-tan một cách rất tự nhiên. Ngươi nói xem, khi Đức Chúa Trời nhập thể nhìn thấy người ta bộc lộ tâm tính bại hoại thì Ngài được hưởng thụ hay là thấy khó chịu? (Thưa, khó chịu.) Khó chịu có tính là chịu khổ không? (Thưa, có.) Khó chịu thì không cứu rỗi con người nữa sao? Khó chịu thì từ bỏ việc làm công tác sao? Hay là trực tiếp tiêu diệt con người? Không thể, đối tượng Ngài cứu rỗi chính là nhân loại đã bị bại hoại sâu sắc cùng cực. Khó chịu là vấn đề thực tế, đối với Đức Chúa Trời nhập thể, muốn cứu rỗi nhân loại thì Ngài phải đối mặt với mọi chuyện này và chịu đựng mọi chuyện này. Đồng thời với việc đối mặt và chịu đựng mọi chuyện này, Ngài còn phải tiếp tục làm công tác, tiếp tục bày tỏ lời để cung ứng lẽ thật, kiên nhẫn hết lòng mà phán với con người và làm công tác giữa con người. Không thể vì nhìn thấy con người bại hoại quá sâu sắc, phản nghịch quá đỗi, làm những chuyện hoang đường và đáng ghê tởm, mà Ngài từ bỏ việc cứu rỗi con người. Bởi vì đây là công tác, cho nên chịu đựng và nhẫn nại là một phần trong công tác, đây cũng là một phần trong việc Đức Chúa Trời nhập thể thực hiện chức vụ và trách nhiệm của Ngài. Nghĩa là đối với nhân loại, Đức Chúa Trời có trách nhiệm, có sự bận lòng, có công tác, và có cả kỳ vọng. Đức Chúa Trời muốn cứu rỗi nhân loại, muốn làm trọn vẹn một nhóm người để họ bước vào thời đại tiếp theo, làm trọn vẹn một nhóm người để họ đạt được sự cứu rỗi và trở thành nhân loại mới, để đại công Đức Chúa Trời được cáo thành và Đức Chúa Trời có thể thu phục được một số người. Đây là công tác của Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời nhập thể đến là để làm tròn chức vụ này. Cho nên trước khi Đức Chúa Trời nhập thể đến làm công tác, không phải là Ngài không biết Ngài sẽ đối mặt với một nhân loại đã bị bại hoại sâu sắc cùng cực, mà là Ngài biết rõ Ngài sẽ cứu rỗi một nhân loại đã bị Sa-tan làm bại hoại sâu sắc cùng cực. Do đó, xét về thực chất tâm tính của Đức Chúa Trời, mọi chuyện Ngài phải đối mặt và gặp phải đều là gian khổ. Những gian khổ này bao gồm một số gian khổ do môi trường bên ngoài, nhưng gian khổ do môi trường thì không đáng kể, vậy gian khổ thực sự là gì? Vừa rồi Ta hỏi các ngươi, các ngươi nói không biết, thế thì Ta phải nói cho các ngươi nghe, như vậy các ngươi sẽ biết, và biết rồi thì các ngươi sẽ có thể hiểu được.
Sau khi Đức Chúa Trời trở nên xác thịt, tâm tính và thực chất của Ngài không thay đổi. Ngài có sự sống thần tính, cũng có tâm tính của chính Đức Chúa Trời, cho nên xét về thực chất và sự sống của Ngài, thì nhân loại bại hoại không có cách nào tương hợp với Ngài. Chuyện không có cách nào tương hợp này không phải là nói đến sự không hợp nhau về thói quen sinh hoạt hoặc tính cách, mà là nói đến chuyện con người không có cách nào tương hợp với Đức Chúa Trời về các loại tư tưởng và quan điểm cũng như nguyên tắc và phương thức đối đãi với các loại con người, sự vật, sự việc. Đây có phải là sự thật không? (Thưa, phải.) Nguyên nhân dẫn đến chuyện không có cách nào tương hợp là vì nhân loại bại hoại đã bị Sa-tan ảnh hưởng và tiêm nhiễm sâu sắc, đã tiếp nhận sự dụ dỗ của Sa-tan, họ làm bất kỳ chuyện gì cũng dựa trên tư tưởng và quan điểm của Sa-tan. Những tư tưởng và quan điểm của Sa-tan này đều sai lầm và đều là điều tiêu cực, cho nên mỗi một người đều dùng những quan điểm và phương thức sai lầm này để nhìn nhận công tác của Đức Chúa Trời và nhìn nhận chính Đức Chúa Trời. Thực chất của Đức Chúa Trời, tâm tính của Đức Chúa Trời, cả sự lao tâm khổ tứ của Đức Chúa Trời trong việc cứu rỗi nhân loại là điều mà trong nhân loại không một ai hiểu được, cũng không một ai lĩnh hội được. Đương nhiên cũng không một ai có thể tiếp cận và tiếp nhận những điều này một cách đúng đắn, càng không một ai có thể thực sự quan tâm đến Ngài. Nhưng Đức Chúa Trời nhập thể vẫn phải hoàn thành công tác cứu rỗi nhân loại, ban lẽ thật, đường đi và sự sống cho con người. Trong quá trình ban lẽ thật, đường đi và sự sống cho con người, Ngài còn phải chịu đựng sự hiểu lầm, oán trách, xét đoán, thậm chí là sự cự tuyệt và né tránh của con người, nghĩa là Ngài phải đối mặt với đủ loại phản nghịch của con người. Bất kể Đức Chúa Trời tận tình kiên nhẫn đến thế nào để thông công lẽ thật, lao tâm khổ tứ đến thế nào để cứu rỗi nhân loại, hầu đưa con người lên con đường đúng đắn, lên con đường dẫn đến sự cứu rỗi, thì đều rất khó để khiến con người hiểu được Ngài một trăm phần trăm. Về điểm này, Đức Chúa Trời nhập thể phải không ngừng nhẫn nại, không ngừng bao dung, cũng phải không ngại phiền hà mà phán lời và công tác, dùng đủ loại phương thức và đứng từ các góc độ khác nhau để khiến con người từ bỏ những quan điểm sai lầm, có thể đạt đến mức thấy hứng thú với những điều tích cực và nguyên tắc lẽ thật mà Đức Chúa Trời dạy cho con người, khiến con người có thể bước lên con đường mưu cầu lẽ thật. Chịu đựng những chuyện này là một nỗi đau khổ lớn. Bất kể Đức Chúa Trời nhập thể thông công bao nhiêu lẽ thật, Ngài vẫn phải đối mặt với sự hiểu lầm và oán trách, thậm chí sự phân bua và biện bạch của con người. Bất kể Ngài lao tâm khổ tứ và vô tư dâng hiến cho con người thế nào, Ngài vẫn phải chịu đựng sự phản nghịch của con người, thậm chí cả ánh mắt lạnh nhạt của con người, còn bị một số người cá biệt bóp nặn. Nhưng trong quá trình này, công tác của Đức Chúa Trời không hề dừng lại, tiến độ làm công tác của Đức Chúa Trời không hề chậm lại, bước tiến của Đức Chúa Trời dẫn dắt nhân loại tiến về phía trước không chậm lại, công tác vẫn được làm như trước, lời Đức Chúa Trời và tiếng Đức Chúa Trời vẫn được bày tỏ như trước. Trong quá trình này, một mặt vì Ngài là Đức Chúa Trời nhập thể, cho nên Ngài có tri giác của lương tâm và tình cảm của con người. Nghĩa là xét từ góc độ nhân tính, thì Ngài cũng có cảm giác, Ngài có cảm xúc, có tình cảm, có tri giác, chứ không phải không có tri giác. Xét về nhân tính, thì nhân tính của Ngài không vượt khỏi tình cảm của xác thịt và vượt khỏi lương tâm của xác thịt giống như Linh của Đức Chúa Trời. Cho nên đối với Đức Chúa Trời nhập thể, khi chịu đựng sự phản nghịch của nhân loại, cái khổ của Ngài sẽ lớn hơn một chút, và những đau khổ Ngài chịu sẽ nhiều hơn. Đây là một trong những nỗi khổ lớn nhất mà Đức Chúa Trời chịu. Ngoài việc nhẫn nại và chịu đựng lâu dài đủ loại phản nghịch của con người ra, còn có một cái khổ nữa mà Đức Chúa Trời nhập thể buộc phải chịu khi làm công tác và thực hiện chức vụ, chính là Đức Chúa Trời sống giữa nhân loại nhưng lại không phải là một phần tử trong nhân loại, điều này có nghĩa là gì? Đức Chúa Trời có thực chất sự sống khác với nhân loại, có tư tưởng và quan điểm về cách đối đãi với muôn sự muôn vật khác với nhân loại. Đương nhiên vì hai sự khác biệt này, cho nên trước khi công tác của Đức Chúa Trời thu phục được một nhóm người được cứu rỗi, thì khi sống giữa con người, Đức Chúa Trời nhập thể phải đối mặt với một thực tế khách quan là gì? Chính là không một ai thực sự có sự sống của lẽ thật mà Ngài có, cũng không một ai thực sự có sự hiểu biết của Ngài về kế hoạch quản lý của Đức Chúa Trời. Cho nên khi đối mặt với nhân loại bại hoại hoặc sống giữa nhân loại bại hoại, mặc dù trong hội thánh có không ít người đi theo Đức Chúa Trời, nhưng bản thân Đức Chúa Trời nhập thể lại cô độc. Đây có phải là sự thật không? (Thưa, phải.) Ta không thể nói rằng mọi lẽ thật Ta thông công đều vượt trên tất cả mọi người, nhưng ít nhất cho đến hiện tại không có một người nào có thể hoàn toàn hiểu được mọi phương diện lẽ thật. Có lẽ trải nghiệm thêm mười năm, hai mươi năm nữa, làm bổn phận thêm mười năm, hai mươi năm nữa, thì các ngươi sẽ có nhận thức và trải nghiệm về một số nguyên tắc lẽ thật, cũng có một số thu hoạch, sẽ biết cách làm công tác, biết khi gặp đủ mọi loại chuyện khác nhau thì nên tiếp cận với tư tưởng và quan điểm đúng đắn nào. Nhưng thực ra lẽ thật các ngươi hiểu cũng rất có hạn, cho nên khi xử lý một số vấn đề hoặc tiếp cận với các loại sự vật, giữa chúng ta luôn không thể đạt đến sự nhất trí hoàn toàn về quan điểm. Căn nguyên của chuyện này chính là do sự khác biệt về mức độ hiểu lẽ thật. Một mặt, Đức Chúa Trời nhập thể phải chịu đựng đủ loại đối xử bất công của nhân loại, còn phải chịu đựng đủ loại quan niệm, tưởng tượng và yêu cầu vô lý không phù hợp lẽ thật của nhân loại. Mặt khác, Đức Chúa Trời nhập thể còn phải chịu đựng một chuyện đau khổ nhất, đây cũng là một cái khổ mà Đức Chúa Trời nhập thể tất nhiên phải chịu: Bởi vì thực chất của con người và thực chất của Đức Chúa Trời nhập thể có sự khác biệt, cho nên bất kể Đức Chúa Trời nhập thể đã làm công tác giữa con người bao nhiêu năm, Ngài vẫn cô độc. Các ngươi nói xem, cô độc thì có khổ không? (Thưa, có.) Cô độc là chịu khổ. Bất kể Ta thông công lẽ thật rõ ràng đến đâu, sáng tỏ đến đâu, thì nhân loại vẫn bước vào một cách chậm chạp. Cùng một sai lầm, cùng một sự bại hoại cứ diễn ra không ngừng, lặp đi lặp lại. Đức Chúa Trời nhập thể không ngừng tận tình kiên nhẫn mà thông công lẽ thật và cung ứng cho con người, không ngừng nhẫn nại và bao dung với con người, mãi cho đến ngày công tác của Đức Chúa Trời kết thúc thì Ngài mới không phải chịu nỗi khổ này nữa, tất cả đều là vì công tác. Ngoài ra, rất nhiều mặt trong cuộc sống thường nhật của bản thân Ta, Đức Chúa Trời nhập thể, thực ra đều rất chính đáng, nhưng vẫn phải chịu sự trách cứ và xét đoán của con người, chịu sự hiểu lầm của con người, thậm chí có người cá biệt còn lấy những chuyện này ra làm quá lên. Con người không có cách nào tương hợp với Đức Chúa Trời, một mặt là vì con người có thực chất của tâm tính bại hoại. Mặt khác, xét về vóc giạc của con người, xét về mức độ con người yêu thích lẽ thật và thái độ của con người đối với những điều tích cực, thì ở mức độ hiện tại này của mình, con người không có cách nào tương hợp với Đức Chúa Trời. Ngay cả khi người ta có thể mưu cầu lẽ thật hết mức, hoặc Ta có thể bao dung cho các ngươi hết mức, thì con người và Đức Chúa Trời cũng không thể đạt đến sự tương hợp. Trong bối cảnh như vậy, nếu Ta yêu cầu các ngươi quá nghiêm khắc, quá gấp gáp, thì các ngươi cũng không với tới và không đạt đến được, một số người có vóc giạc nhỏ thì còn dễ rơi vào tiêu cực và yếu đuối. Vì nguyên nhân này và trong bối cảnh này, Ta chỉ có thể nhượng bộ, chỉ có thể nhẫn nại và chờ đợi. Ta chờ đợi có nghĩa là gì? Nghĩa là dự kiến điều tốt đẹp, nhìn nhận các ngươi với kỳ vọng và nguyện vọng tốt đẹp, dùng cái nhìn như vậy và tâm thái như vậy mà nhìn nhận các ngươi. Ta hy vọng đến một ngày nào đó trong các ngươi sẽ có một số người bước lên con đường mưu cầu lẽ thật, hoặc sẽ có một số người giống như Phi-e-rơ, giống như Gióp, giống như Áp-ra-ham mà trở thành người thuận phục Đức Chúa Trời và thờ phượng Đức Chúa Trời, Ta mong đợi ngày này. Những năm qua, khi nói chuyện và giảng đạo với các ngươi, thông công về công tác với các ngươi, hoặc nói về một số chuyện trong cuộc sống thường nhật, thì Ta đều mang tâm thái này. Bất kể là ở một mình hay sống giữa các ngươi, tâm tình này của Ta không thay đổi, tâm thái này của Ta không thay đổi và cảm nhận này của Ta luôn còn mãi. Cho nên Ta nói, cái khổ về môi trường hoặc cái khổ trong chuyện ăn, mặc, ở, đi lại mà Đức Chúa Trời nhập thể chịu vì công tác đều chẳng là gì, đều chẳng đáng nhắc đến. Cái khổ Ta thực sự chịu thì các ngươi không nhìn thấy cũng không lĩnh hội được. Những năm qua Ta đã sống như vậy, chẳng có ai quan tâm đến những chuyện này, những cái khổ Ta chịu trong nội tâm cũng không có cách nào truyền đạt cho người ta. Nhìn bên ngoài, người ta cũng không thấy ra được. Cảm xúc của Ta chẳng thay đổi gì, tính cách của Ta cũng chẳng thay đổi gì, quy luật cuộc sống thường nhật của Ta không chịu ảnh hưởng gì, công tác cũng không chịu ảnh hưởng gì. Nhưng trong sâu thẳm nội tâm, Ta phải chịu đựng sự cô độc, và sự cô độc này cứ còn mãi. Các ngươi nói xem, cái khổ này có lớn không? Đây có phải là cái khổ thực sự không? (Thưa, phải.) Cho nên Ta cho các ngươi hay, đừng lan truyền những chuyện vô ích đó, cái khổ Ta thực sự chịu thì các ngươi không biết cũng không lĩnh hội được. Tại sao Ta chưa bao giờ nói với các ngươi về những cái khổ Ta chịu? Các ngươi không hiểu, Ta nói với các ngươi thì có ích lợi gì chứ? Nói rồi cũng đâu thể thay thế việc làm công tác, đâu thể thay thế việc thông công lẽ thật, cũng đâu thể thay thế sự phán xét và hình phạt của lời Đức Chúa Trời.
Cái khổ mà Đức Chúa Trời nhập thể chịu, ngoài hai điều vừa nói là chịu đựng đủ loại sự bại hoại cùng phản nghịch của nhân loại và chịu đựng sự cô độc, còn có một cái khổ nữa. Cái khổ này có lẽ các ngươi mãi mãi cũng không lĩnh hội được, nhưng đã nói đến chủ đề chịu khổ, thì chúng ta hãy thông công một chút. Đức Chúa Trời làm công tác cứu rỗi nhân loại suốt sáu nghìn năm, từ khi Ngài bắt đầu lên kế hoạch muốn thu phục được một nhóm người, thì bất kể là phán lời hay dùng hình thức nào, Ngài đã bắt đầu triển khai công tác này rồi. Vậy chuyện triển khai công tác này có ý nghĩa gì đối với Đức Chúa Trời? Có ý nghĩa gì đối với nhân loại? Nó có nghĩa là Đức Chúa Trời sắp thu phục được một nhóm người, tâm ý và kế hoạch của Đức Chúa Trời đã định, Ngài muốn thu phục một nhóm người, và cuối cùng nhóm người này sẽ là thành quả của công tác trong kế hoạch quản lý sáu nghìn năm của Ngài. Đức Chúa Trời đã lên kế hoạch, cũng đã ấn định, thì Ngài có kỳ vọng đối với thành quả này. Kỳ vọng này luôn đi cùng với công tác của Ngài. Từ Thời đại Luật pháp đến Thời đại Ân điển, Đức Chúa Trời luôn có kỳ vọng đối với thành quả này, và kỳ vọng này vẫn được nối tiếp liên tục đến tận Đức Chúa Trời nhập thể trong giai đoạn công tác thứ ba. Khi Đức Chúa Trời lại nhập thể, bất kể Ngài mang giới tính nào, có điều kiện thế nào, sống trong hoàn cảnh xã hội ra sao, thì kỳ vọng này đều đi cùng với công tác của Đức Chúa Trời. Cho nên đối với Đức Chúa Trời nhập thể lần này, Ngài cũng phải gánh chịu kỳ vọng này, cũng có thể nói là Ngài đón nhận từ Đức Chúa Trời một trách nhiệm và gánh nặng, mang theo kỳ vọng này mà làm công tác. Cũng mang theo một kỳ vọng như nhau, nhưng Đức Chúa Trời nhập thể lần này làm công tác lâu hơn Đức Chúa Trời nhập thể lần đầu tiên rất nhiều. Bởi vì Ngài phải cung ứng cho con người mọi lẽ thật mà con người nên hiểu, tính chất của công tác như vậy đòi hỏi Ngài phải sống lâu dài giữa con người. Không phải Ngài làm xong công tác và có một lời giải trình là đã làm xong chức vụ của mình, mà là trong thời gian làm công tác này, Ngài mang theo kỳ vọng muốn nhìn thấy thành quả. Thành quả này không phải chuyện một sớm một chiều, cũng không phải chuyện một năm hai năm. Mà thay vào đó, Ngài phải canh giữ, chăm nom và chờ đợi kết quả này lâu dài, như vậy Ngài sẽ phải mất rất nhiều thời gian để trông chờ thành quả này, và mong đợi nhìn thấy một thành quả như vậy. Đối với Đức Chúa Trời nhập thể, việc trông chờ này là một trách nhiệm, một gánh nặng, đương nhiên cũng là một phần đau khổ. Đây đều là những chuyện trong phạm vi trách nhiệm thuộc chức vụ của Ngài, cũng là chuyện thuộc phạm vi của giai đoạn công tác này, là một phần của giai đoạn công tác này. Trước hết, Ngài phải nhẫn nại, còn phải chịu đựng sự cô độc, sau đó Ngài phải trông chờ, không thể thiếu khía cạnh nào. Ba khía cạnh này chính là nỗi khổ cực lớn đối với Đức Chúa Trời nhập thể, Ngài không thể thoát được bất kỳ nỗi khổ nào, cũng không một ai có thể chịu thay Ngài, không có phương thức tốt nào để giải quyết và thoát khỏi ba nỗi khổ này, đây chính là nỗi khổ lớn nhất của Đức Chúa Trời. Cho nên, những chuyện Đức Chúa Trời nhập thể đã chịu những cái khổ nào, đã bỏ ra bao nhiêu, đã trả giá bao nhiêu trong cuộc sống thường nhật, đều không đáng kể. Bởi vì có chịu những nỗi khổ bên ngoài nhiều đến đâu cũng không giải quyết được nỗi khổ mà Đức Chúa Trời nhập thể chịu đựng do đủ loại sự bại hoại và phản nghịch của nhân loại, cũng không thể giúp xác thịt nhập thể thoát khỏi sự cô độc, đương nhiên càng không thể thay thế kết quả mà Đức Chúa Trời nhập thể hoặc chính Đức Chúa Trời kỳ vọng. Ba chuyện này là một phần trách nhiệm mà Đức Chúa Trời nhập thể phải thực hiện khi đến giữa con người để làm giai đoạn công tác cuối cùng, đây là một thực tế khách quan mà Ngài buộc phải đối mặt. Hơn ba mươi năm từ khi chính thức thực hiện chức vụ đến nay, Ta vẫn luôn sống trong trạng thái như vậy. Có lẽ mười năm trước mà Ta nói với các ngươi đây là một phần nỗi khổ Đức Chúa Trời nhập thể chịu, thì các ngươi sẽ nghe mà không hiểu và không có cảm giác gì, nói rằng: “Cái Ngài chịu mà tính là khổ sao? Địa vị của ngài cao như vậy, thì chắc chắn Ngài ăn ngon, hưởng thụ tốt, chẳng thiếu thứ gì, còn có nhiều người đi theo Ngài và lao khổ làm công tác vì Ngài. Ngài chịu khổ gì chứ? Như vậy mà cũng tính là khổ sao?”. Nhưng bây giờ có lẽ các ngươi hiểu được một chút rồi. Nếu hồi đó Ta kể rằng trong thời gian làm công tác, Ta không có nhà để về và không có chỗ gối đầu, kể rằng chuyện ăn mặc của Ta không được tốt, môi trường nơi ở cũng tệ, thậm chí từng ở trong hang núi để trốn tránh sự truy bắt của Trung Cộng, Ta mà kể thì các ngươi sẽ sẵn lòng nghe và có thể tiếp nhận. Nhưng Ta chưa bao giờ kể những chuyện đó, chúng chẳng tính là cái khổ gì, cái khổ thực sự là cái khổ trong lòng Ta. Những điều hôm nay Ta nói với các ngươi chính là cái khổ thực sự mà Đức Chúa Trời nhập thể chịu, Ta nói những điều này là hy vọng các ngươi biết một sự thật: Đức Chúa Trời nhập thể đến giữa con người để làm công tác thì cũng cần trả giá, cũng cần nhẫn nại, cũng cần nếm trải thực tế những nỗi khổ này. Bởi vì Ngài phải thực hiện chức vụ, cho nên những cái khổ Ngài nên chịu thì Ngài phải tự mình đối mặt, tự mình chịu đựng. Những cái khổ này là điều mà cá nhân Đức Chúa Trời nhập thể nhất định phải gánh vác để làm công tác, hoàn thành kế hoạch quản lý của Đức Chúa Trời và hoàn thành sự ủy thác của Đức Chúa Trời. Ta chưa bao giờ làm chứng về những chuyện này, cũng không cần các ngươi làm chứng, càng không cần các ngươi truyền bá, đương nhiên càng không phải Ta làm vậy để các ngươi ghi công cho Ta và không cần các ngươi mang ơn đội nghĩa, lý do là vì Đức Chúa Trời nhập thể đến nhân gian làm công tác vốn đã là một công việc khổ cực. Đây là công tác của Ngài, cũng là trách nhiệm của Ngài, nên Ngài cần chịu đựng, cần trông chờ. Ta nói với các ngươi những lời này chỉ là để các ngươi biết thái độ của Đức Chúa Trời nhập thể đối với những gian khổ này, và nói cho các ngươi biết những tư tưởng, quan điểm đúng đắn, chứ không phải để các ngươi lĩnh hội sâu sắc hơn thế nào là chịu khổ và Đức Chúa Trời nhập thể đã chịu những cái khổ nào. Ta không cảm thấy chịu khổ là bị oan ức gì, cũng không cảm thấy chịu những cái khổ này là lao khổ và công trạng cao gì. Ta không biện bạch với các ngươi, càng không phải đang đòi vốn liếng gì từ các ngươi. Ta có cái khổ Ta nên chịu, bởi vì Ta có trách nhiệm đối với các ngươi. Đương nhiên xét về chức vụ mà Ta thực hiện, thì Ta phải có thể giải trình với Đức Chúa Trời. Ta chẳng cần phải đòi hỏi các ngươi ghi công cho Ta hay có thiện cảm gì với Ta. Cho nên, nói thẳng ra, những cái khổ Ta thực sự chịu này là điều các ngươi không chịu thay được, cũng không một ai trong các ngươi có thể giúp Ta được giải thoát. Việc duy nhất các ngươi có thể làm, có thể phối hợp và có thể giúp cái khổ Ta chịu được giảm nhẹ phần nào, chính là việc các ngươi có lối vào lẽ thật, học được cách nghe lời, có lời chứng như Gióp và có trải nghiệm như Phi-e-rơ, có việc lành, tận tụy làm bổn phận, thuận phục Đức Chúa Trời, yêu thích và mưu cầu lẽ thật, chính là khi những bài viết lời chứng trải nghiệm mà các ngươi viết ra đều có một số trải nghiệm và nhận thức chân thực về lẽ thật, cũng có thể đạt được một số kết quả trong việc thuận phục Đức Chúa Trời. Đối với cá nhân Ta, những thu hoạch này của các ngươi chính là sự báo đáp lớn nhất và sự an ủi lớn nhất. Ta không có yêu cầu phụ thêm nào khác đối với các ngươi.
Cái khổ mà Đức Chúa Trời nhập thể chịu đựng này không phải là chuyện ngẫu nhiên. Xét một cách thực tế, thì người mà Đức Chúa Trời cứu rỗi chính là nhân loại bại hoại, mà sự bại hoại của nhân loại bại hoại chính là một nỗi khổ đối với Đức Chúa Trời. Sống cùng, giao tiếp và qua lại với nhân loại bại hoại, còn phải cứu rỗi nhân loại bại hoại, còn phải có kỳ vọng đối với nhân loại bại hoại, thì Ngài không thể tránh khỏi phải chịu khổ, cũng không thể tránh khỏi phải trả giá. Cái giá này không đơn giản chỉ là nói thêm vài lời, Đức Chúa Trời trả giá gì để cứu rỗi nhân loại? Là sức lực, là tâm huyết, là sự sống của Ngài. Linh của Đức Chúa Trời bỏ ra cái giá tâm huyết để làm công tác, vậy thì Đức Chúa Trời nhập thể cũng bỏ ra cái giá tâm huyết và sức lực để đổi lấy chuyện con người được cứu, với Ngài chuyện cũng là vậy. Từ khi Đức Chúa Trời bắt đầu tạo dựng nhân loại và nhân loại đã tồn tại rồi, Đức Chúa Trời đã tiếp xúc, qua lại với nhân loại, và công tác trên con người. Từ đầu đến cuối, thực ra, Đức Chúa Trời đã bỏ ra vô số cái giá tâm huyết và làm vô số công tác trên con người. Nhưng Đức Chúa Trời chưa bao giờ nhắc đến với nhân loại rằng Ngài đã chịu bao nhiêu cái khổ và đã trả giá bao nhiêu. Ngài chỉ nói chung chung rằng Ngài đã bỏ ra cái giá tâm huyết, dùng sự sống làm cái giá để cung ứng cho con người và ban lẽ thật cho con người làm sự sống. Nhưng Đức Chúa Trời chưa bao giờ nói Ngài đã chịu những cái khổ nào, đã chịu những sự phỉ báng và sỉ nhục nào, hoặc đã chịu bao nhiêu mệt nhọc, trả giá bao nhiêu và chịu bao nhiêu vất vả, Ngài chưa bao giờ nói những chuyện này. Không nói những chuyện này là có nguyên nhân cả, và nếu Ta không nói cho các ngươi thì các ngươi sẽ mãi mãi không biết. Nguyên nhân chính là Đức Chúa Trời làm công tác trên con người thì chẳng bao giờ có mưu đồ gì đối với con người, Ngài chỉ sẵn lòng vô tư cung ứng cho con người đến vậy, vô tư dâng hiến cho con người đến vậy. Nếu dùng ngôn ngữ của con người để nói về điều Ngài muốn đạt được khi làm vậy, thì chính là Ngài muốn nhân loại đi con đường đúng đắn, muốn nhân loại có thể sống tốt và sống cho ra hình tượng con người, có thể sống theo phương thức mà Đức Chúa Trời dạy cho con người, không còn bị Sa-tan chà đạp, làm bại hoại và mê hoặc, có thể thực sự thuận phục Đức Chúa Trời, được như vậy thì Đức Chúa Trời yên lòng rồi. Nếu nói Đức Chúa Trời muốn đạt được điều gì đó, thì chính là muốn được yên lòng, nghĩa là khi con người có thể dựa vào lời Đức Chúa Trời mà sống tốt và làm người cho tốt, thì những cái giá Đức Chúa Trời trả và những công tác Đức Chúa Trời làm đều không uổng công, đều đã có được thành quả nơi con người. Đức Chúa Trời đã chịu khổ biết bao nhiêu và trả giá biết bao nhiêu, đã chờ đợi biết bao nhiêu năm và nhẫn nại với con người biết bao nhiêu năm, thì đều là Ngài cam tâm tình nguyện. Để đạt được sự yên lòng này, Đức Chúa Trời sẵn lòng trả giá cho con người như vậy. Đã chịu bao nhiêu cái khổ, Ngài cũng chưa bao giờ hối hận, nói theo ngôn ngữ của con người thì Ngài chưa bao giờ đổi ý. Dùng những lời đơn giản nhất, những lời các ngươi dễ hiểu nhất, thì Đức Chúa Trời làm như vậy chính là để chấm hết mối bận lòng này, đây là một tâm nguyện của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời tạo dựng con người, và Đức Chúa Trời có một tâm nguyện là muốn thu phục một nhân loại thọ tạo có thể sống, sinh tồn và quản lý vạn vật theo cách Ngài dạy, không còn chịu cảnh bị Sa-tan làm cho bại hoại, cũng không còn tự chà đạp mình. Đức Chúa Trời muốn thu phục một nhóm người như vậy. Sau đó Đức Chúa Trời bắt đầu khởi động công tác này và làm mãi cho đến hiện nay, sự bận lòng này của Đức Chúa Trời đối với con người không thay đổi, mục tiêu này không thay đổi. Bất kể chịu bao nhiêu cái khổ, bất kể bỏ ra bao nhiêu, Đức Chúa Trời vẫn luôn làm như vậy. Trong khi làm như vậy, thực ra Đức Chúa Trời đã chịu rất nhiều cái khổ và trả giá rất nhiều, nhưng Ngài chưa bao giờ biện bạch với nhân loại, chưa bao giờ nói rõ hay nhắc đến những chuyện này với nhân loại. Điều này có quan hệ trực tiếp với thực chất của Đức Chúa Trời. Bất kể Đức Chúa Trời làm những việc lớn đến đâu, làm bao nhiêu công tác trên nhân loại, bỏ ra bao nhiêu và cung ứng cho con người bao nhiêu, nghĩa là bất kể đã cho con người bao nhiêu và ban xuống cho con người bao nhiêu, Đức Chúa Trời cũng chưa bao giờ cảm thấy đây là công lao, cũng không cần nhân loại mang ơn đội nghĩa. Trong khi đó, trong tư tưởng và quan điểm của nhân loại ở bất kỳ thời kỳ nào, bất kể người ta trả giá lớn đến đâu, bất kể người ta muốn làm gì, thì đều phải mong được chút gì đó, đều phải có chút tính toán cho bản thân. Nhưng Đức Chúa Trời chưa bao giờ có những ý nghĩ này, chỉ có Đức Chúa Trời mới thực sự vô tư. Vô tư có nghĩa là gì? Lời giải thích đơn giản nhất chính là chưa bao giờ nghĩ cho bản thân. Ngươi xem con người nuôi dạy con cái và nuôi con cái trưởng thành, họ bỏ ra bao nhiêu tiền và trả giá bao nhiêu cho con cái, thì mục đích là để con cái có thể lên như diều gặp gió, làm rạng rỡ gia môn, và sau này họ có thể hưởng nhờ con cái. Đức Chúa Trời thì không có những ý nghĩ này, mỗi một cử chỉ và hành động, mỗi một tâm tư và ý niệm của Ngài, mọi điều Ngài bỏ ra cho nhân loại, mọi điều Ngài ban cho nhân loại chẳng những là điều quý giá nhất, mà còn không kèm theo bất kỳ mưu đồ nào đối với nhân loại. Ngài chỉ vô tư dâng hiến, vô tư cung cấp và không ngừng cung cấp như vậy, đây mới là sự vô tư thực sự. Mọi chuyện này đều do Đức Chúa Trời làm. Đức Chúa Trời chưa bao giờ đòi nhân loại ghi công cho Ngài. Khi ở giữa nhân loại, bất kể đã chịu bao nhiêu sự hiểu lầm và oán trách của con người, hoặc đã chịu bao nhiêu oan ức, Ngài cũng chưa bao giờ biện bạch, phân bua gì. Mọi việc Ngài làm cho nhân loại đều là cam tâm tình nguyện, không oán trách, không hối hận, cũng chưa bao giờ cảm thấy đây là việc phụ thêm. Nghĩa là trong sự vô tư của Đức Chúa Trời không có quan điểm giao dịch của con người, cũng không có ý nghĩ mặc cả của con người. Ngươi có thể thực hành lẽ thật thì cuối cùng ngươi có thể được sống sót, Đức Chúa Trời ban miễn phí cho ngươi chút ân điển thì chẳng là gì đối với Ngài. Ngài để ngươi sống sót, tiếp tục sống, sống một cách hạnh phúc, sống giữa vạn vật mà Đức Chúa Trời ban cho nhân loại. Ngươi hưởng bao nhiêu phúc lành, Đức Chúa Trời cũng không đố kỵ, cũng không tranh giành với ngươi. Chỉ cần ngươi có thể nhận biết sự sắp đặt và an bài của Đấng Tạo Hóa, có thể thuận phục sự sắp đặt và an bài của Đấng Tạo Hóa, sống theo phương thức mà Đấng Tạo Hóa yêu cầu, như vậy là đủ rồi. Đức Chúa Trời không bảo ngươi luôn mang ơn đội nghĩa Ngài, không cần ngươi thờ cúng Ngài. Đức Chúa Trời chưa bao giờ bảo con người lập đền để thờ Ngài, ngày ngày dâng ba nén hương. Đức Chúa Trời không hưởng thụ những thứ này. Ngươi thấy đấy, khi Gióp nhìn thấy bóng lưng của Đức Chúa Trời, thì Đức Chúa Trời có yêu cầu gì đối với ông không? (Thưa, không có.) Đức Chúa Trời chỉ ban cho ông một phần thưởng lớn nhất, đó là cho ông nhìn thấy bóng lưng của Ngài từ đó gia tăng đức tin của ông đối với Ngài, đây chính là phần thưởng Ngài ban cho ông. Sau đó Đức Chúa Trời rời đi, hy vọng ông có thể sống hạnh phúc, sống giữa vạn vật do Đấng Tạo Hóa tạo dựng và sống dưới sự tể trị của Đấng Tạo Hóa. Đối với Đức Chúa Trời, đây chính là sự báo đáp lớn nhất. Gióp có thể kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác, đối với Đấng Tạo Hóa đây là sự thờ phượng thực sự, cũng là sự báo đáp lớn nhất. Ngươi thấy đấy, yêu cầu của Đức Chúa Trời đối với nhân loại cũng là để tốt cho con người. Thực ra cuối cùng vẫn là con người được hưởng thụ nhiều nhất, con người được sống hạnh phúc. Yêu cầu của Đức Chúa Trời đối với con người có cao không? Yêu cầu của Đức Chúa Trời đối với con người không cao, nhưng nhìn từ yêu cầu này thì thấy Đức Chúa Trời thực sự vô tư, Ngài liên tục dâng hiến và dâng hiến miễn phí. Bất kể trả giá bao nhiêu hoặc chịu bao nhiêu cái khổ, Đức Chúa Trời đều một mình chịu đựng, không biện bạch với nhân loại bại hoại. Ngươi nói xem, Sa-tan có những điều này không? (Thưa, không có.) Bất kỳ điều gì Đức Chúa Trời có, dù là những điều Ngài có và là nhỏ bé nhất, bị người ta coi thường nhất, thì Sa-tan đều không có, nhân loại cũng không có. Những gì Đức Chúa Trời có và là thì đều tích cực, đều tốt đẹp, đều cao thượng, đều thuần khiết nhất và thánh khiết nhất. Thực chất của Đức Chúa Trời, tâm tính của Đức Chúa Trời, những gì Đức Chúa Trời có và là có thể được gọi là không có khuyết điểm, không tì vết. Không tỳ vết thì gọi là thánh khiết, phải vậy không? (Thưa, phải.) Nguyên tắc của Đức Chúa Trời khi đối đãi với vạn vật, bao gồm đối đãi với nhân loại, thì hoàn toàn dựa trên lẽ thật, đây chính là điều công chính nhất. Ngươi thấy đấy, bất kể xét từ phương diện nào, thì thực chất tâm tính của Đức Chúa Trời đều đáng để nhân loại chúc tụng. Nhưng Đức Chúa Trời đã chịu nhiều cái khổ như vậy mà chưa bao giờ đòi hỏi gì ở nhân loại. Ngài chưa bao giờ yêu cầu con người: “Các ngươi phải ngày ngày ca hát nhảy múa chúc tụng Ta. Mỗi ngày các ngươi đều phải ngợi khen danh Ta. Mỗi lần nhóm họp, mỗi lần làm chương trình, các ngươi đều nhất định phải chúc tụng danh Ta”. Đức Chúa Trời có yêu cầu con người làm như vậy không? (Thưa, chưa bao giờ.) Bất kể chịu bao nhiêu cái khổ, làm bao nhiêu công tác và ban cho nhân loại bao nhiêu, từ trước đến nay Đức Chúa Trời chưa bao giờ yêu cầu con người mang ơn đội nghĩa Ngài và thờ cúng Ngài giống như người ngoại đạo thờ cúng thần tượng, Đức Chúa Trời chưa từng làm chuyện như vậy. Ngài chưa bao giờ nói lời nào và làm việc gì vì địa vị của mình và danh tiếng của mình trong lòng nhân loại, Ngài chưa bao giờ làm những chuyện này. Linh của Đức Chúa Trời không làm những chuyện này, chưa bao giờ phán lời như vậy hoặc có lời nhắn gửi như vậy với nhân loại. Thế thì Đức Chúa Trời nhập thể có từng làm những chuyện như vậy và nói những lời như vậy không? (Thưa, cũng không.) Khi làm công tác và chịu khổ giữa con người trong những năm qua, Ngài liên tục cung ứng lẽ thật và sự sống cho con người, nâng đỡ và dẫn dắt con người đi con đường đúng đắn, chỉ hy vọng con người có thể mưu cầu lẽ thật để được sống sót. Ngoài chuyện này ra, Ngài có yêu cầu phụ thêm nào đối với các ngươi không? (Thưa, không có.) Ngài chẳng có yêu cầu phụ thêm nào đối với các ngươi.
Xét về tính chất thì cái khổ mà Đức Chúa Trời nhập thể chịu thực ra có sự khác biệt với chuyện chịu khổ mà nhân loại nói đến. Chuyện chịu khổ của nhân loại, xét về mặt tích cực, hoàn toàn là để thoát khỏi tâm tính bại hoại và đạt được sự cứu rỗi. Xét về mặt tiêu cực, thì họ chịu khổ hoàn toàn là vì tâm tính bại hoại, vì họ hành ác và chống đối Đức Chúa Trời nên phải chịu sự phán xét và hình phạt. Xét như vậy thì chuyện chịu khổ của nhân loại là điều cần thiết, cũng là điều tất nhiên. Còn Đức Chúa Trời nhập thể chịu khổ là để làm công tác, để cung ứng lẽ thật cho nhân loại, để nhân loại có thể thoát khỏi sự khổ hại và làm bại hoại của Sa-tan, bước lên con đường dẫn đến sự cứu rỗi. Đức Chúa Trời phải chịu đựng những gian khổ này trong thời gian dài, đây cũng là một phần công tác của Ngài. Những cái khổ này, Ngài cần một mình chịu đựng, cũng cần một mình gánh vác. Vì Đức Chúa Trời nhập thể làm công tác và thực hiện chức vụ, mà chuyện chịu khổ là một phần của công tác, cho nên Đức Chúa Trời chịu những cái khổ này thì không cần con người mang ơn đội nghĩa, cũng không cần con người lan truyền, càng không cần con người nhận biết. Ngươi muốn nhận biết Đức Chúa Trời thì nên nhận biết từ việc nhận biết thực chất của Đức Chúa Trời, nhận biết tư tưởng và quan điểm của Đức Chúa Trời khi đối đãi với muôn sự muôn vật, nhận biết nguyên tắc của Đức Chúa Trời khi xử lý các loại con người, sự vật, sự việc. Ngươi nhận biết Ngài như vậy là tốt nhất và thích hợp nhất. Còn nhận biết chuyện Đức Chúa Trời chịu khổ thì thôi, ngươi không cần nhận biết phương diện này. Cho dù ngươi nhận biết được thì ngươi cũng không thể đồng cảm, không thể quan tâm, cũng không thể chịu thay Ngài được. Cho nên khỏi cần thông công về chuyện này. Các ngươi biết chuyện Đức Chúa Trời nhập thể chịu khổ là một phần của công tác, cũng là một quá trình tất nhiên mà Đức Chúa Trời nhập thể phải trải qua khi đến giữa nhân loại, các ngươi hiểu được như vậy là được rồi. Không cần làm quá lên, cũng không cần các ngươi báo đáp gì. Nếu các ngươi mưu cầu lẽ thật, thì đến một ngày có lẽ các ngươi sẽ hiểu được. Nhưng nếu ngươi không phải là người mưu cầu lẽ thật, thì có lẽ đến cuối cùng ngươi cũng không hiểu được.
Thông công về chủ đề chuyện chịu khổ đến đây cũng gần như đủ rồi. Nếu các ngươi hiểu được thái độ của Đức Chúa Trời nhập thể đối với chuyện chịu khổ, hoặc hiểu được Ngài chịu những cái khổ nào, thì các ngươi muốn làm chút việc gì nào? Tốt nhất là các ngươi có thể thực hành lẽ thật, tận tụy, làm một loài thọ tạo đạt tiêu chuẩn, để tâm nguyện của Đức Chúa Trời được thỏa mãn. Đây là sự báo đáp lớn nhất đối với Đức Chúa Trời, nếu ngươi làm được như vậy thì Đức Chúa Trời sẽ ghi nhớ. Sự báo đáp lớn nhất đối với Đức Chúa Trời chính là các ngươi có thể mưu cầu việc thực hành lẽ thật và cuối cùng có thể đạt được sự cứu rỗi, không để kế hoạch của Đức Chúa Trời thành con số không, không để lời Đức Chúa Trời thành công cốc, mà để lời Đức Chúa Trời được thành tựu trên các ngươi, để lời Đức Chúa Trời trở thành sự sống của các ngươi. Đến một ngày các ngươi được sống sót và trở thành một thành viên trong nhân loại mới, có thể trở thành chủ nhân của vạn vật mà sống hạnh phúc, thỏa mãn ý nguyện ban đầu của Đức Chúa Trời khi tạo dựng nhân loại, thì đây là sự báo đáp lớn nhất đối với Đức Chúa Trời. Đến ngày đó, các ngươi được cứu rỗi và trở thành những người còn sót lại, thì các ngươi đã hoàn thành tâm nguyện của Đức Chúa Trời là tái tạo một nhân loại mới. Đức Chúa Trời sẽ thu phục được trên đất một nhóm người có thể thờ phượng Ngài, có thể kính sợ Ngài và lánh khỏi điều ác, thế là tâm nguyện này của Đức Chúa Trời đã được nên trọn. Khi Đức Chúa Trời được trọn tâm nguyện, cũng có thể đến ngày đó Đức Chúa Trời sẽ nói ngươi đã giúp Ngài làm trọn tâm nguyện của Ngài, cũng giúp Ngài kết thúc quãng đời chịu khổ của Ngài, đây là sự báo đáp lớn nhất đối với Đức Chúa Trời. Tâm nguyện của Đức Chúa Trời đã được nên trọn thì Đức Chúa Trời không còn bỏ ra gì cho nhân loại nữa, kỳ vọng của Đức Chúa Trời cũng thành hiện thực rồi, Ngài không cần làm công tác nữa. Đức Chúa Trời đã nhìn thấy thành quả và đạt được thành quả, công tác của Ngài đã kết thúc, và Ngài có thể nghỉ ngơi, không còn vướng bận gì với nhân loại nữa. Như vậy đồng nghĩa với chuyện thông qua việc đạt được sự cứu rỗi bằng cách mưu cầu lẽ thật, ngươi đã giúp Đức Chúa Trời được giải thoát khỏi cảm nhận về gian khổ, khỏi hành trình sáu nghìn năm gian khổ. Đức Chúa Trời sẽ cảm ơn ngươi. Bởi vì chuyện này đã được chờ đợi quá lâu, nhưng may là cuối cùng Đức Chúa Trời đã nhìn thấy thành quả, đã được như ý nguyện, và Ngài sẽ thu phục được một nhân loại mới, ngươi nên mừng cho Đức Chúa Trời. Nếu ngươi thực sự có lòng quan tâm Đức Chúa Trời, thực sự muốn hiểu và quan tâm tấm lòng Đức Chúa Trời, muốn báo đáp Đức Chúa Trời, thì ngươi hãy nghe lời và thuận phục, đi con đường dẫn đến sự cứu rỗi, đi con đường kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác, làm một người có thể thờ phượng Đức Chúa Trời, đây là sự báo đáp lớn nhất đối với Đức Chúa Trời. Đương nhiên đây cũng là phương thức duy nhất có thể giúp Đức Chúa Trời được an ủi, được trọn tâm nguyện, buông bỏ mọi sự vướng bận và kỳ vọng đối với con người. Đương nhiên, đây cũng là phương thức tốt nhất để giúp Đức Chúa Trời thoát khỏi hành trình gian khổ sáu nghìn năm chờ đợi. Trong mắt Đức Chúa Trời, đây là sự báo đáp tốt nhất có thể dành cho Đức Chúa Trời, là lễ vật tốt nhất có thể dâng lên Đức Chúa Trời. Lễ vật này thì Đức Chúa Trời chấp thuận và đón nhận, ngươi dâng bao nhiêu của lễ phần mười cũng không quý giá bằng.
Thông công về chủ đề này đến đây là được rồi phải không? (Thưa, phải.) Vậy hôm nay chúng ta thông công đến đây thôi. Tạm biệt!
Ngày 23 tháng 11 năm 2024