Cách mưu cầu lẽ thật (30)

Lần trước chúng ta đã thông công về vấn đề con người có quan niệm và tưởng tượng về Đức Chúa Trời nhập thể, liên quan đến việc “buông bỏ những rào cản giữa bản thân với Đức Chúa Trời và sự thù địch đối với Ngài”, một trong những phương diện thực hành “buông bỏ” nằm trong chủ đề “Cách mưu cầu lẽ thật”, phải vậy không? (Thưa, phải.) Chúng ta đã thông công về cách con người nên đối đãi với Đức Chúa Trời nhập thể. Vậy lần trước chúng ta đã thông công về những lẽ thật nào liên quan đến sự nhập thể của Đức Chúa Trời? (Thưa, lần trước chúng ta đã thông công về phương diện Đức Chúa Trời không nói chuyện mập mờ, nằm trong phần Đức Chúa Trời “không dụ dỗ”, còn thông công về thái độ của Đức Chúa Trời đối với địa vị.) Chúng ta đã thông công về chủ đề đừng đánh đồng Đức Chúa Trời nhập thể với nhân loại bại hoại, trong đó có nội dung liên quan đến chuyện Đức Chúa Trời “không dụ dỗ”, chúng ta còn thông công về cách Đức Chúa Trời nhập thể tiếp cận với địa vị. Vậy chúng ta đã thông công những gì về chủ đề này? Hãy nói xem, các ngươi đã nhận biết được những gì. (Thưa, trước đây chúng con cảm thấy Đức Chúa Trời có thân phận là Đấng Tạo Hóa, có địa vị rất cao. Thông qua mối thông công của Đức Chúa Trời, chúng con mới thấy được rằng Đức Chúa Trời chưa bao giờ tự cho mình có địa vị cao, cũng chưa bao giờ hưởng thụ địa vị này. Đức Chúa Trời trả giá để cứu rỗi nhân loại cũng không phải vì Ngài có địa vị này, mà là vì Ngài thực hiện trách nhiệm của mình đối với nhân loại. Ngoài ra, trước đây con cho rằng một người có địa vị cao thì có quyền lực, giờ thông qua mối thông công của Đức Chúa Trời con mới nhận ra rằng thực ra địa vị chỉ đại diện cho một chức danh, làm lãnh đạo và người làm công trong nhà Đức Chúa Trời thì tương đương với việc Đức Chúa Trời giao cho người đó một sự ủy thác và trách nhiệm. Sau khi Đức Chúa Trời thông công xong, con đã có được những nhận thức này.) Bất kể Ta thông công về nội dung nào, thì một mặt là để người ta nhận biết rõ ràng và chính xác hơn về quan điểm và nguyên tắc của Đức Chúa Trời đối với đủ mọi loại sự vật là gì, cũng như thực chất tâm tính của Đức Chúa Trời có những biểu hiện và sự bộc lộ chân thực nào, đây là điều người ta cần nhận biết. Mặt khác, thông qua việc thông công những nội dung này, Ta cho người ta một số quan điểm đúng đắn về cách tiếp cận với các loại sự vật, để cho họ hiểu nguyên tắc tiếp cận và xử lý chúng. Ví dụ như cách Đức Chúa Trời tiếp cận với địa vị. Thông công chuyện này, một mặt là để ngươi hiểu rõ khi Đức Chúa Trời nhập thể và đến trên đất để trở thành một thành viên trong nhân loại, tức là khi Ngài sống trong nhân tính bình thường, thì tư tưởng và quan điểm của Ngài về địa vị là thế nào, nguyên tắc Ngài xử lý địa vị là thế nào, đây là điều con người cần hiểu rõ. Mặt khác, thông công về cách Đức Chúa Trời tiếp cận với địa vị thì không chỉ để người ta hiểu rõ những lẽ thật nên nhận biết này, mà quan trọng hơn là để người ta sau khi hiểu lẽ thật thì có những tư tưởng và quan điểm đúng đắn, cùng với nguyên tắc thực hành để tiếp cận và xử lý những vấn đề về phương diện này. Tóm lại, bất kể thông công về vấn đề nào, một mặt là để ngươi biết quan điểm đúng đắn về cách tiếp cận với vấn đề này, mặt khác cũng là để ngươi biết nguyên tắc thực hành và con đường thực hành để xử lý loại vấn đề này.

Mặc dù Đức Chúa Trời nhập thể có thân phận của Đức Chúa Trời, cũng có địa vị giữa dân được Đức Chúa Trời chọn, nhưng địa vị này hoàn toàn khác với địa vị mà nhân loại bại hoại nói đến. Với Đức Chúa Trời, địa vị này, một mặt chỉ là một cách nói liên quan đến lẽ thật, mặt khác, xét về sự sống và thực chất của Đức Chúa Trời nhập thể, thì địa vị này không phải là một chức vị, mà là được nói đến xét theo sự sống và thực chất mà Đức Chúa Trời nhập thể có. Vậy xét về thực chất, địa vị mà nhân loại bại hoại nói đến thực ra có sự khác biệt với địa vị của Đức Chúa Trời nhập thể. Trong nhân loại bại hoại thì địa vị là gì? (Thưa, là biểu tượng của quyền lực.) Địa vị trong nhân loại bại hoại thì chẳng liên quan gì đến thân phận và thực chất của người ta, nó chỉ là một chức danh. Ví dụ, trong nhân loại bại hoại, có người là tổng giám đốc, giám đốc hoặc có một địa vị xã hội nào đó, đây chỉ là một dạng chức danh hoặc là sự phân chia về tầng lớp và cấp bậc giữa con người với nhau, chứ không liên quan đến thân phận và thực chất thực sự của họ. Cho nên, cái gọi là “địa vị” của Đức Chúa Trời nhập thể giữa con người thì không giống với địa vị của người thống trị trong xã hội loài người, Ngài không phải là người thống trị, cũng không phải là người hưởng lợi ích sẵn có. Địa vị này của Đức Chúa Trời giữa con người chỉ được nói đến khi xét theo thực chất và thân phận của Ngài, thân phận và thực chất của Đức Chúa Trời chỉ được nói đến vì sự sống, thẩm quyền, quyền năng và tâm tính của Đức Chúa Trời. Địa vị này của Đức Chúa Trời không phải là một dạng chức danh giữa con người, cho nên người ta không được đánh đồng Đức Chúa Trời nhập thể với những người có địa vị trong các tầng lớp khác nhau của nhân loại. Những người có địa vị trong các tầng lớp khác nhau của nhân loại, bất kể thuộc tầng lớp nào, đều được gọi chung là tầng lớp thống trị. Thực chất của tầng lớp thống trị, một mặt là họ có công việc tương xứng với địa vị của mình, mặt khác, bất kể ở thời kỳ nào hoặc trong hoàn cảnh xã hội nào, tầng lớp thống trị này về cơ bản đều là những nhà lãnh đạo, người ưu tú, người hưởng lợi ích sẵn có, v.v. giữa mọi người. Nhất là tại thời điểm hơn một trăm năm trước, đại đa số tầng lớp thống trị có địa vị và thân phận trong xã hội đều là những người hưởng lợi ích sẵn có. Vậy người hưởng lợi ích sẵn có này nghĩa là gì? Nghĩa là những người dùng quyền lực và địa vị để kiếm lợi ích cho mình. Biện pháp kiếm lợi ích của họ là gì? Chính là thông qua chính quyền và quyền lực của mình, họ đạt đến việc thống trị những người bị trị, và dưới sự thống trị, quản lý của họ, những người bị trị phải cống nạp cho họ, hay nói cụ thể hơn thì chính là nộp thuế. Còn địa vị của Đức Chúa Trời nhập thể thì có sự khác biệt về thực chất so với địa vị của tầng lớp thống trị. Bất kể là người thống trị hay người có quyền lực, có địa vị thuộc bất kỳ tầng lớp nào trong xã hội hay trong tập thể, thì địa vị của họ chỉ là một chức vị và chức danh. Họ chỉ quản lý một cách đơn giản những người mà mình thống trị hoặc những người nằm trong phạm vi mình quản lý và cai quản, nói rộng ra thì gọi là thống trị, nói hẹp lại thì gọi là quản lý và cai quản. Thông qua việc thống trị, quản lý và cai quản mà họ có được quyền lực và đủ loại lợi ích do địa vị mang lại. Còn Đức Chúa Trời nhập thể mặc dù có thân phận và thực chất của Đức Chúa Trời, có địa vị của Đức Chúa Trời, nhưng công tác Ngài làm, thực chất công tác của Ngài và thực chất bản thân địa vị của Ngài vẫn có sự khác biệt với các tầng lớp thống trị trong xã hội và giữa nhân loại. Công tác Đức Chúa Trời nhập thể làm trên con người không phải là thống trị hay cai quản họ, mà là dẫn dắt, cung ứng, hướng dẫn, nâng đỡ, giúp đỡ, tỉa sửa, phán xét và hành phạt họ. Ngài làm mọi công tác này là để người ta thoát khỏi tâm tính bại hoại và được giải thoát khỏi tâm tính bại hoại. Tính chất cơ bản nhất trong mọi công tác Ngài làm đối với con người chính là cung ứng lẽ thật và sự sống để đưa con người đến trước mặt Đức Chúa Trời. Đây là công tác Ngài làm. Ngài đem công tác Đức Chúa Trời muốn làm trên đất và những lời Đức Chúa Trời muốn phán trên đất mà làm trên con người và nói cho con người nghe, để họ nghe hiểu, có con đường thực hành, cuối cùng có thể đạt đến việc thoát khỏi tâm tính bại hoại, có sự thuận phục đối với Đức Chúa Trời và trở thành người thực sự thờ phượng Đức Chúa Trời. Trong quá trình này, điều mà nhân loại bại hoại đạt được từ Đức Chúa Trời nhập thể chủ yếu là sự cung ứng lẽ thật, sự cung ứng sự sống và sự cung ứng con đường, để cuối cùng, họ có thể thực sự thuận phục Đức Chúa Trời, trở thành một loài thọ tạo chân chính và đạt tiêu chuẩn, đạt đến mức khiến Đức Chúa Trời hài lòng, được Đức Chúa Trời công nhận và chấp nhận, trở thành nhân loại thờ phượng Đức Chúa Trời. Đây chính là những gì nhân loại nhận được từ Đức Chúa Trời nhập thể. Mặc dù Đức Chúa Trời nhập thể có địa vị này và làm những công tác này, nhưng Ngài không hưởng thụ sự cung phụng của nhân loại. Mặc dù Đức Chúa Trời nhập thể có địa vị, nhưng Ngài không hưởng thụ lợi ích của địa vị mà bất kỳ thành viên nào trong tầng lớp thống trị hưởng thụ, Ngài cũng không hưởng thụ các loại đãi ngộ hậu hĩnh mà địa vị mang lại cho Ngài. Cho nên, tuy Đức Chúa Trời nhập thể có địa vị của Đức Chúa Trời nhập thể, nhưng Ngài không phải là người hưởng lợi ích sẵn có, cũng không phải là giai cấp bóc lột. Khi làm công tác, thì cũng giống như Đức Chúa Trời trên trời, Thần của Đức Chúa Trời dẫn dắt toàn thể nhân loại, Đức Chúa Trời nhập thể cung ứng, hướng dẫn, nâng đỡ và giúp đỡ nhân loại, không hề đòi hỏi nhân loại bất kỳ thứ vật chất hay phi vật chất nào. Cho nên, lúc Đức Chúa Trời nhập thể đến giữa con người và làm công tác, ngay cả khi trong mắt nhân loại thấy Ngài có địa vị hoặc trong quan niệm và tưởng tượng của nhân loại cho rằng Ngài có địa vị, thì Ngài cũng không hưởng thụ sự cung phụng của con người. Công tác Ngài làm và sự cung ứng Ngài dành cho nhân loại đều miễn phí, không đòi hỏi nhân loại trả bất kỳ khoản phí, thuế hay thù lao nào. Cho đến hiện tại các ngươi đã từng đóng một đồng nào chưa? (Thưa, chưa.) Các ngươi đã từng đóng tiền để nghe giảng đạo chưa? (Thưa, chưa.) Nơi nhóm họp của chúng ta cũng không dựng cổng soát vé, tham gia nhóm họp cũng không cần mua vé vào cửa, không cần đóng một đồng nào. Ngoài ra, những quyển sách các ngươi đọc, những video các ngươi xem, những bản ghi âm bài giảng các ngươi nghe, đều miễn phí cả, chẳng bao giờ thu của các ngươi một đồng nào, có phải là vậy không? (Thưa, phải.) Chưa bao giờ thu một đồng nào, tất cả đều miễn phí. Có những người nói: “Cá nhân dâng hiến thì có phải tính tỷ lệ theo thu nhập không?”. Cũng không phải, dâng hiến đều là việc tự nguyện. Đơn giản là người tin Đức Chúa Trời thì nên dâng một phần mười, nhưng bất kể người ta dâng một phần mười hay dâng một phần năm thu nhập của mình, thì đó đều là việc làm tự nguyện. Ngoài ra, có rất nhiều người tin Đức Chúa Trời mà chưa từng dâng điều mình nên dâng, nhưng họ vẫn nhóm họp, vẫn có thể đọc lời Đức Chúa Trời và nghe giảng đạo. Không có một người nào vì chưa từng dâng hiến mà bị tước mất quyền nghe giảng đạo, quyền nhóm họp hay quyền làm bổn phận. Chẳng có một người nào như vậy, phải không? (Thưa, phải.)

Từ Thời đại Luật pháp cho đến Thời đại Vương quốc ngày nay, Đức Chúa Trời vẫn luôn cung ứng cho nhân loại trước sau như một. Từ khi Thần của Đức Chúa Trời bắt đầu phán lời với nhân loại, cho đến lần thứ nhất Đức Chúa Trời nhập thể, rồi đến lần thứ hai Đức Chúa Trời nhập thể, những lời Đức Chúa Trời đã phán nhiều không kể xiết, công tác Đức Chúa Trời đã làm trên nhân loại cũng nhiều không kể xiết. Đức Chúa Trời đã phán không biết bao nhiêu lời, cũng đã cung ứng không biết bao nhiêu cho nhân loại, đã đến mức không thể tính được nữa rồi. Mà Đức Chúa Trời đã từng đòi hỏi nhân loại một đồng nào chưa? Chưa bao giờ, ngay cả một bao lương thực Ngài cũng chưa từng đòi hỏi nhân loại. Ngài chỉ một mực cung ứng cho con người một cách miễn phí như vậy. Bất kể là Đức Chúa Trời nhập thể hay là chính Đức Chúa Trời, mặc dù có địa vị chí cao vô thượng, nhưng phương thức Ngài cung ứng cho nhân loại lại là miễn phí. Hơn nữa Ngài còn qua lại bình đẳng với con người, lòng kề lòng và mặt đối mặt mà cung ứng cho nhân loại, phương thức Ngài dẫn dắt nhân loại càng là nắm tay mà dẫn dắt. Mỗi bước đi đều do Ngài dẫn dắt, mỗi hạng mục công tác đều do Ngài đích thân dẫn dắt, hơn nữa Đức Chúa Trời làm công tác còn không cần người thay thế, mà là chính Ngài đích thân làm. Dùng cách nói của nhân loại thì đây gọi là “nhún mình đãi kẻ sĩ, mặc thường phục vi hành”. Đức Chúa Trời đích thân đến giữa con người mà phán lời và công tác, sống giữa con người và mặt đối mặt với con người. Con người có thể tận tai nghe tiếng Đức Chúa Trời, tận mắt nhìn thấy công tác Đức Chúa Trời làm, cũng đích thân thể nghiệm và trải nghiệm công tác Đức Chúa Trời làm. Mặc dù con người cảm thấy Đức Chúa Trời có địa vị, cảm thấy giữa họ và Đức Chúa Trời có khoảng cách, nhưng trong mắt Đức Chúa Trời thì không hề có khoảng cách mà con người nhìn thấy hoặc cảm nhận đó. Đức Chúa Trời không dựa vào thân phận của Ngài mà đứng trên cao nhìn xuống nhân loại, thay vào đó, Ngài nói chuyện và công tác trong tư thế bình đẳng với nhân loại. Khi nói chuyện, nhóm họp và thông công với các ngươi trong những năm qua, chẳng phải Ta đều theo phương thức này sao? Ta không đứng trên cao nhìn xuống, cũng chưa bao giờ cảm thấy bản thân có địa vị cao, quyền thế lớn, Ta không có cảm giác như vậy, cũng không dùng phương thức này để công tác. Mặc dù nhân loại bại hoại tràn đầy sự bại hoại, tràn đầy sự thù địch đối với Đức Chúa Trời và là kẻ thù của Đức Chúa Trời, nhưng khi làm công tác cứu rỗi con người, Đức Chúa Trời lại tràn đầy sự nhẫn nại, bao dung, thương xót và từ ái đối với nhân loại. Khi phán lời và làm công tác thì Ngài đầy tình yêu thương đối với nhân loại, thậm chí có thể nói là tận tình hết mực rồi. Mọi điều nhân loại cần, Đức Chúa Trời đều không tiếc mà cung ứng cho nhân loại, Ngài không để con người phải đoán câu đố, cũng không úp mở, có gì thì Ngài nói nấy. Những lẽ thật mà các ngươi nên hiểu thì Ngài cung ứng cho các ngươi không thiếu một câu, mọi điều mà các ngươi có thể với tới thì Ngài đều không giữ lại chút gì. Ngài để các ngươi đạt được những lẽ thật này, rõ ràng về những lẽ thật này và hiểu những lẽ thật này. Nhất là đối với những chuyện mà các ngươi không hiểu và còn mơ hồ, Ngài lại càng tận tình hết mực nói hết lần này đến lần khác và nhấn mạnh nhiều lần, cho đến khi các ngươi nghe hiểu mới thôi. Cho nên, công tác mà Đức Chúa Trời nhập thể làm luôn giống hệt với công tác do Thần của Đức Chúa Trời làm. Mặc dù nhân loại bại hoại là bên được cứu rỗi, nhưng Đức Chúa Trời chưa bao giờ chê bỏ nhân loại. Mặc dù con người và Đức Chúa Trời hoàn toàn khác nhau và có sự khác biệt về thực chất và sự sống, nhưng xét về thái độ của Đức Chúa Trời đối với con người, thì Đức Chúa Trời chưa bao giờ xem con người là kẻ thù, là nhân loại bại hoại thực sự, là đối tượng bị ghét bỏ. Ngược lại, Ngài xem con người là đối tượng để Ngài làm công tác và cứu rỗi. Ngoài ra, một điểm quan trọng hơn nữa là xét về thái độ và tâm trạng của Đức Chúa Trời khi phán lời với con người và sự kỳ vọng của Ngài đối với con người, thì Ngài đã xem con người như người thân của mình. Cho nên, bất kể trong mắt con người nhìn nhận địa vị của Đức Chúa Trời như thế nào, thì Đức Chúa Trời cũng chưa bao giờ đứng ở vị trí cao và dùng địa vị cao mà nhìn nhân loại, mà thay vào đó, Ngài đặt mình bình đẳng với con người, thậm chí có thể ngồi kề nhau mà tâm sự thật lâu với con người, giữa con người và Ngài không có khoảng cách, không có sự khác biệt về địa vị. Xét từ thái độ Đức Chúa Trời đối với nhân loại và mọi công tác Đức Chúa Trời làm, thì chính vì Đức Chúa Trời nhập thể có thực chấtvà sự sống của Đức Chúa Trời, cho nên mặc dù bề ngoài trông Ngài như một con người thông thường, nhưng Ngài có thể đối đãi với nhân loại bằng tâm thái khác với bất kỳ người nào thuộc tầng lớp thống trị. Đây là việc mà chỉ Đức Chúa Trời nhập thể mới có thể làm được, bất kỳ con người nào cũng không làm được, huống chi là bất kỳ người nào thuộc tầng lớp thống trị. Bất kể Đức Chúa Trời đã phán những lời nào và làm những công tác nào với con người, ngoài việc không đòi hỏi con người bất kỳ lợi ích nào, điều quan trọng hơn nữa là Đức Chúa Trời đã ban cho con người nhiều lẽ thật mà con người nên hiểu, con đường thực hành mà con người nên thực hành, cả phương hướng tiến tới mà con người nên hiểu. Đồng thời, Đức Chúa Trời còn ban cho con người những thứ cần thiết cho chuyện ăn, mặc, ở, đi lại trong cuộc sống thường nhật. Đức Chúa Trời không những là nguồn của sự sống con người, mà còn là nguồn cho cuộc sống con người, có phải là vậy không? (Thưa, phải.) Có những người luôn cảm thấy: “Bấy nhiêu năm qua tôi đi theo Đức Chúa Trời Toàn Năng, vì làm bổn phận mà từ bỏ tiền đồ, việc học và hôn nhân của mình, vậy mà đến bây giờ tôi chẳng đạt được gì cả”. Thế là họ hối hận, oán trách, nhất là có những người bị thanh trừ, còn có những người bị bắt bỏ tù, họ cho rằng mình tin Đức Chúa Trời bấy nhiêu năm qua mà chẳng đạt được gì. Các ngươi nói xem, nói như vậy có đúng không? (Thưa, không đúng.) Không đúng ở chỗ nào? Họ không biết điều thực sự nên đạt được khi tin Đức Chúa Trời là gì. Họ cho rằng mình nên đạt được những thứ có thể nhìn thấy, có thể nắm được, ví dụ như tiền bạc, danh lợi, địa vị, nếu không đạt được những thứ này thì họ cho rằng mình chẳng đạt được gì cả. Thực ra, Đức Chúa Trời ban cho con người rất nhiều lẽ thật, chỉ là họ không mưu cầu lẽ thật và không tiếp nhận lẽ thật, cho nên họ chẳng đạt được gì. Nếu trong những năm qua, trong quá trình làm bổn phận, họ có thể mưu cầu lẽ thật và tiếp nhận lẽ thật, có thể thuận phục những hoàn cảnh Đức Chúa Trời sắp đặt, thì chắc chắn họ đã hiểu được một số lẽ thật và có chút nhận thức về Đức Chúa Trời. Mặc dù không đạt được những thứ vật chất, nhưng những gì họ đạt được lại có giá trị hơn và là điều quý báu nhất trên thế gian, những điều mà bất kỳ tiền bạc hay lợi ích vật chất nào cũng không đổi lấy được.

Khi làm công tác giữa con người, mặc dù trong mắt con người thì Đức Chúa Trời nhập thể có địa vị, nhưng Ngài không giống như những người có địa vị giữa nhân loại mà hưởng thụ lợi ích của địa vị, hưởng thụ sự cung phụng của người ta, hưởng thụ quyền lực và bất kỳ đãi ngộ tốt nào mà địa vị mang lại cho mình. Ngài cũng không giống như những người có địa vị giữa nhân loại mà ăn trên ngồi trốc, ban bố mệnh lệnh hoặc đứng ở vị trí cao để hưởng thụ địa vị. Hoàn toàn ngược lại, chẳng những không đứng ở vị trí cao, mà Ngài còn đối đãi với con người một cách bình đẳng, sống giữa con người để cung ứng cho những nhu cầu của họ. Ngoài việc cung ứng những nhu cầu về phương diện lối vào sự sống cho con người, Ngài còn cung ứng cho một số nhu cầu phụ thêm trong cuộc sống thường nhật của con người. Vào thời điểm thích hợp hoặc khi cần thiết, Đức Chúa Trời nhập thể cũng tham gia vào cuộc sống thường nhật và công tác của con người, hỗ trợ cho các ngươi sống một cuộc sống bình thường và có quy luật, chỉ dẫn và giúp đỡ các ngươi làm tốt bổn phận. Cho nên, bất kể nhìn từ bất kỳ góc độ nào, Đức Chúa Trời nhập thể tuy có một địa vị đặc biệt, nhưng cách Ngài tiếp cận với địa vị không giống với bất kỳ người nào có địa vị trong nhân loại. Mặc dù Ngài có địa vị này, nhưng trong công tác Ngài làm, trong cuộc sống thường nhật của Ngài và nguyên tắc Ngài đối đãi với con người, Ngài chỉ đang thực hiện trách nhiệm. Đối với bản thân Đức Chúa Trời nhập thể thì đây là đang thực hiện chức vụ, còn đối với nhân loại thì đây là Ngài đang thực hiện trách nhiệm. Trên nền tảng là có địa vị của Đức Chúa Trời nhập thể, Ngài thực hiện trách nhiệm của Đức Chúa Trời nhập thể đối với nhân loại. Trách nhiệm của Ngài đối với nhân loại, một mặt là cung ứng lẽ thật mà nhân loại cần nhất về phương diện sự sống, mặt khác là bổ sung những gì con người thiếu sót về phương diện nhân tính bình thường, hướng dẫn con người để họ có thể sống theo những nguyên tắc mà nhân tính bình thường nên có. Đây là trách nhiệm mà Ta nên thực hiện. Nhưng có một số người nghe Ta nói những lời này thì nghĩ bụng: “Chúng tôi đều là người trưởng thành, những chuyện trong cuộc sống thường nhật này chúng tôi đều hiểu cả, còn cần Ngài hướng dẫn sao?”. Mặc dù các ngươi đều là người trưởng thành, nhưng các ngươi bộc lộ quá nhiều thiếu sót trong cuộc sống thường nhật và các ngươi cách khá xa tiêu chuẩn của nhân tính bình thường. Không nói những chuyện khác, chỉ riêng chuyện thường ngày ăn uống thứ gì để khỏe mạnh và thích hợp mà cũng không dễ với các ngươi. Có lúc Ta vừa hay nhìn thấy ngươi có vấn đề về phương diện này thì Ta sẽ hướng dẫn một chút, đưa ra một số góp ý cho các ngươi tham khảo. Ngoài ra, khi các ngươi xử lý một số vấn đề liên quan đến những chuyện trong đời sống nhân tính, nếu Ta nhìn thấy, nghe thấy các ngươi có vấn đề này hoặc đã tiếp xúc với vấn đề này, thì Ta cũng sẽ đưa ra cho các ngươi một số góp ý, giúp các ngươi kiểm duyệt và sửa đổi những quan điểm và cách làm sai lầm của mình, cho các ngươi một số nguyên tắc, nói cho các ngươi biết nên làm người như thế nào và nên xử lý những chuyện này như thế nào. Mặc dù có một số chuyện đặc biệt Ta cũng chưa từng trải qua và chưa từng xử lý, nhưng khi gặp những chuyện như vậy, Ta có thể nắm vững nguyên tắc. Ta biết nên làm thế nào, và Ta sẽ giúp các ngươi kiểm duyệt, nhắc nhở và góp ý cho các ngươi một chút, để các ngươi cũng có thể hành động theo nguyên tắc và tiêu chuẩn của nhân tính bình thường trong các loại công việc khác nhau của cuộc sống. Đừng làm trái lương tâm, đừng vi phạm ranh giới đạo đức. Ngươi làm việc thì phải có lý tính, đừng làm việc không có khuôn phép như người ngoại đạo, mà thay vào đó phải giữ khuôn phép, và xử lý một số chuyện dựa trên nguyên tắc cơ bản nhất là không đi ngược lại lương tâm và ranh giới đạo đức. Ta mà nhìn thấy những chuyện này thì cũng sẽ chỉ ra cho các ngươi, giúp các ngươi kiểm duyệt, và đưa chuyện ăn, mặc, ở, đi lại trong cuộc sống thường nhật của các ngươi vào khuôn khổ, như vậy sẽ có ích cho việc đưa hành vi của các ngươi, lương tâm và lý trí của nhân tính bình thường của các ngươi vào khuôn khổ. Có lẽ một số người sẽ nói rằng: “Ngài có trình độ học vấn không cao, cũng chưa từng tham gia nhiều chuyện bên ngoài, và không hiểu quy tắc vận hành trong xã hội. Ngài dựa vào đâu mà đưa chúng tôi vào khuôn khổ?”. Ta nói cho nghe, Ta thực sự có tư cách đưa ngươi vào khuôn khổ. Mặc dù những chuyện bên ngoài kia thì Ta không tham gia, nhưng về những chuyện liên quan đến con đường con người đi và sự mưu cầu của con người, liên quan đến nguyên tắc lẽ thật, thì Ta có thể giúp các ngươi. Ta biết nguyên tắc, Ta biết ranh giới trong việc làm người, ngươi có vi phạm ranh giới hoặc nguyên tắc hay không, thì trong lòng Ta biết rõ. Ta thì biết, nhưng bản thân ngươi lại không biết. Tại sao bản thân ngươi lại không biết? Bởi vì ngươi sống trong tâm tính bại hoại, lại còn chịu ảnh hưởng sâu sắc từ đủ loại trào lưu tà ác của thế gian. Hơn nữa đa số mọi người đều có lương tâm và lý trí không lành mạnh, nên luôn thích chiếm lợi, luôn muốn ngồi mát hưởng bát vàng và tận dụng kẽ hở, thậm chí vì muốn chiếm lợi mà đánh đu ở rìa pháp luật, luôn ngẫm nghĩ cách làm những chuyện để tiện và bẩn thỉu. Ta thấy ngươi muốn làm những chuyện như vậy, thì Ta sẽ chỉ ra cho ngươi một chút, kiểm duyệt và nhắc nhở ngươi đừng làm như vậy. Ta mà không nhắc nhở, không kiểm duyệt, thì ngươi sẽ luôn cảm thấy mình làm như vậy là có lý. Cái lý của ngươi từ đâu ra vậy? Chính là ngươi cho rằng: “Người ngoại đạo đều làm như vậy, tại sao chúng ta lại không thể làm như vậy? Hà cớ gì chúng ta lại phải chịu thiệt?”. Đó không gọi là chịu thiệt, đó gọi là giữ khuôn phép. Giữ vững ranh giới của lương tâm là chuyện nên làm khi làm người, không phải là chịu thiệt. Đây là nguyên tắc của Ta. Ngươi luôn sợ chịu thiệt, không những sợ chịu thiệt mà còn chủ động chiếm lợi và tận dụng kẽ hở, chuyện này cần phải được đưa vào khuôn khổ, cần phải được sửa đổi. Cho nên, khi Ta thấy một số người làm việc mà có dấu hiệu như vậy thì Ta lập tức nhắc nhở họ đừng làm vậy, làm vậy thì đáng ghê tởm. Ngươi chiếm được chút lợi đó, trong lòng cảm thấy đắc ý và thỏa mãn, nhưng ngươi đã bán rẻ thứ gì? Ngươi bán rẻ lương tâm của ngươi, nhân cách của ngươi, và trong mắt Đức Chúa Trời thì Ngài cho ngươi một đánh giá không tốt. Đánh giá không tốt này có thể triệt tiêu bao nhiêu việc lành, ngươi có biết không? Ngươi không biết, không cảm nhận được. Bởi vì ngươi không biết, cũng không có cảm giác, cho nên Ta phải nhắc nhở ngươi, vào thời điểm then chốt và trong những chuyện then chốt, Ta phải đứng ra nói cho ngươi biết đừng làm như vậy, phải giữ khuôn phép và đừng chiếm lợi. Trong những chuyện này Ta không dùng địa vị để kìm kẹp ngươi, mà là thông công nguyên tắc cho ngươi, đưa hành vi của ngươi vào khuôn khổ, khiến lương tâm ngươi có cảm giác, thêm cho ngươi một tiêu chuẩn của lương tâm và lý tính, khiến ngươi thấy được mục tiêu và phương hướng đúng đắn trong đời. Sau đó, khi ngươi lại muốn làm như vậy, thì ngươi sẽ cảm thấy lương tâm không cho phép, cảm thấy mặt nóng lên và ngại không dám làm vậy. Thế thì Ta nói những lời này với ngươi đã đạt được mục đích và có kết quả rồi. Đây gọi là đưa vào khuôn khổ.

Đối với những chuyện nhỏ không liên quan đến công tác của hội thánh, Ta thường không can thiệp, nhưng đối với một số chuyện liên quan đến sức khỏe thể chất và tâm hồn của dân được Đức Chúa Trời chọn, thì Ta cũng thỉnh thoảng nói vài lời và đưa ra một vài góp ý. Vậy Ta dùng thân phận và địa vị gì để can thiệp vào những chuyện này? Là cha mẹ? Trưởng họ? Người chăn chiên? Lãnh đạo? Hay cấp trên của ngươi? Ta thấy đều không phải. Vậy trong những chuyện như thế này, Ta có vai trò gì? Trước hết, ở đây không có sự phân chia về địa vị, Ta nói chuyện và hành động dựa trên ý thức trách nhiệm. Bất kể ngươi gặp phải chuyện gì, chỉ cần Ta nhìn thấy và biết được thì Ta sẽ dẫn dắt ngươi đi trên con đường đúng đắn, khiến ngươi hành động theo lương tâm, hành động dựa trên ranh giới cơ bản nhất và thấp nhất này, đưa hành vi của ngươi vào khuôn khổ và sửa đổi ý định của ngươi, giúp ngươi xây dựng nhân sinh quan đúng đắn, giúp ngươi đứng trên lập trường và góc độ đúng đắn để làm dạng việc này và nhìn nhận dạng vấn đề này, Ta sẽ kiểm duyệt giúp ngươi. Mặc dù khi kiểm duyệt giúp ngươi thì cũng có khả năng Ta làm tổn thương lòng tự tôn và thể diện của ngươi, nhưng Ta không dỗ dành ngươi, không chiều theo ngươi, Ta đứng ở vị trí bình đẳng mà giúp đỡ ngươi với thái độ chịu trách nhiệm đối với ngươi. Các ngươi thấy cách làm này thế nào? (Thưa, tốt.) Ta không nói chuyện trên trời với ngươi, cũng không hô khẩu hiệu, Ta chỉ nói cho ngươi biết chuyện này thì nên làm thế nào, làm thế nào thì tốt, nói rõ được mất và lợi hại cho ngươi. Trong mắt ngươi, lời Ta nói thật đơn giản và bình thường, đều là lời nói dễ hiểu, không có kiến thức, triết lý hay lý thuyết gì cao thâm, nhưng nghe xong thì ngươi có con đường và biết nên làm thế nào. Mặc dù trong mắt con người thì Đức Chúa Trời nhập thể có địa vị khác với người thường, mặc dù địa vị của Ngài rất cao, nhưng phạm vi Ngài làm việc không bị hạn chế vì địa vị cao này, ngược lại, chuyện lớn chuyện nhỏ gì Ngài cũng để tâm. Bất kể ngươi có vấn đề hay khó khăn ở phương diện nào, chỉ cần Ta nhìn thấy thì Ta sẽ nói với ngươi, Ta sẽ không đứng ở địa vị cao, ngươi muốn nghe thì nghe, không muốn nghe thì Ta cũng không ép buộc. Nếu là chuyện then chốt, chuyện liên quan đến công tác hội thánh và nguyên tắc lẽ thật, thì Ta sẽ nói cho ngươi biết nên thực hành thế nào, sau đó Ta sẽ theo sát một chút. Nếu là chuyện trong cuộc sống cá nhân của ngươi, thì Ta sẽ chuyện trò tâm sự với ngươi, nói một chút suy nghĩ thật lòng của Ta, chứ không nói những chuyện trên trời, ngươi sẵn lòng nghe thì tiếp nhận, ngươi không sẵn lòng nghe thì Ta cũng không trách mắng, không kìm kẹp ngươi. Nếu ngươi có thể tiếp nhận, thì Ta thấy con người ngươi cũng được và ngươi có thể tiếp nhận những lời đúng đắn, phải lẽ, vậy Ta sẽ sẵn lòng nói với ngươi thêm một chút. Nếu Ta thấy ngươi không tiếp nhận những lời đúng đắn, không nghe lọt tai những lời Ta nói, thì sau này Ta không nói chuyện với ngươi nữa hoặc sẽ bớt nói chuyện với ngươi. Khi qua lại với người ta thì Ta có lựa chọn của riêng Ta, có nguyên tắc của riêng Ta. Các ngươi thấy Ta nói chuyện và hành động có giống người có địa vị không? (Thưa, không giống.) Ví dụ, trước đây khi nhóm họp, bất kể là ba mươi, năm mươi người hay tám mươi, một trăm người, Ta đều không dùng micro mà cứ trực tiếp nói chuyện, ai cũng có thể nghe được. Hiện nay, có một số nơi tổ chức nhóm họp cho hai ba chục người, mà có người còn cầm micro nói chuyện, cần thiết phải vậy sao? Ngươi nói những lời đó có gây dựng gì cho người khác không? Thế mà còn nhất định phải cầm micro nói chuyện, vậy chẳng phải là ra vẻ sao? Vậy là bắt chước quan chức ngoài xã hội. Ngươi thấy đấy, Ta cũng thường xuyên tán gẫu và thông công với các anh chị em, có lúc ngồi trong sân nói chuyện, cũng khoảng hơn hai mươi người, xung quanh cũng có tiếng ồn, Ta đâu có dùng micro mà mọi người đều nghe rõ, những điều nên thông công đều được thông công rõ ràng, chẳng làm chậm trễ chuyện gì, còn cần cầm micro sao? Làm kiểu hình thức đó thì có tác dụng gì chứ? Đây chính là lề thói xã hội, con người đều thích phô trương thanh thế và ra vẻ, chú trọng kiểu cách và sự hoành tráng. Người bình thường hành động thì đều có thể như vậy, nếu có một chút địa vị thì lại càng hết nói nổi, phải vậy không? Ta nói với các ngươi những chuyện này, mục đích là để cho các ngươi biết một sự thật: Đức Chúa Trời nhập thể tuy có địa vị trong mắt con người, nhưng cảm nhận của Ta về địa vị này thì khác với cảm nhận của các ngươi. Ta chỉ cảm thấy Ta là một người bình thường, trò chuyện với các ngươi và thông công lẽ thật chính là Ta đang thực hiện trách nhiệm của mình. Vậy yêu cầu của Ta đối với các ngươi là gì? Chính là các ngươi có thể tiếp nhận những điều tích cực, tiếp nhận lẽ thật và hành động theo nguyên tắc lẽ thật, Ta không yêu cầu các ngươi làm những chuyện phụ thêm khác. Thứ nhất, Ta không yêu cầu các ngươi phủ phục quỳ lạy; thứ hai, Ta không yêu cầu các ngươi khi gặp Ta thì phải cúi đầu khom lưng mà chào hỏi, các ngươi cứ bình thường, tự nhiên là được. Người nhà gặp nhau có cần lúc nào cũng chào hỏi không? Nếu không thường xuyên gặp nhau, lỡ gặp thì chào hỏi một tiếng, đó là chuyện bình thường, là phép lịch sự, là điều mà lý tính của nhân tính bình thường nên có, ngay cả động vật cũng biết chào hỏi, huống chi con người! Nhưng không cần vì Ta có địa vị mà khi gặp Ta thì ngươi nhất định phải cúi đầu khom lưng, hỏi han ân cần, không cần thiết phải làm hình thức này, Ta không yêu cầu chuyện này. Yêu cầu của Ta đối với các ngươi rất hợp lý và cũng rất chính đáng. Nếu các ngươi có nhân tính bình thường, nếu các ngươi yêu thích lẽ thật và mưu cầu lẽ thật, thì đều có thể đáp ứng được những yêu cầu này, bởi vì những yêu cầu này hoàn toàn không trống rỗng, cũng không cao, đều là những chuyện mà người bình thường có thể đạt đến. Những năm qua Ta thông công với các ngươi đủ mọi phương diện lẽ thật, nếu các ngươi nghe hiểu và rõ ràng rồi, cũng có nhận thức trải nghiệm và lối vào sự sống rồi, thì khi gặp phải đủ loại chuyện, các ngươi sẽ có thể hành động theo nguyên tắc lẽ thật. Khi đối đãi với con người, tiếp cận với công tác và bổn phận, đối đãi với kẻ địch lại Đấng Christ và lãnh đạo giả, tiếp cận với việc phối hợp hài hòa, với các loại chuyện không hợp ý mình v.v., các ngươi sẽ có thể thực hành theo nguyên tắc lẽ thật. Đây chính là yêu cầu đối với các ngươi. Yêu cầu của Ta đối với các ngươi đều là những chuyện nằm trong phạm vi mà nhân tính bình thường có thể đạt đến. Ta phán lời xong thì Ta yêu cầu các ngươi thực hành theo những lời này và đạt được kết quả nên có.

Có những người nghe giảng nhiều năm đến vậy mà chưa từng dâng hiến, nhà Đức Chúa Trời có truy cứu không? Không truy cứu. Ta cũng chưa bao giờ dò hỏi xem ai chưa từng dâng hiến hay ai luôn xin nhà Đức Chúa Trời phí sinh hoạt, Ta không dò hỏi những chuyện này, cũng không quan tâm những chuyện này. Điều Ta quan tâm là ngươi làm bổn phận thế nào, có thể trả giá hay không, có thể tiếp nhận những góp ý đúng đắn hay không, khi gặp chuyện thì có thể chống lại bản thân hay không, có thể buông bỏ dục vọng và dã tâm của mình hay không, khi có địa vị thì có thể thực hiện trách nhiệm hay không, có thể đối đãi công bằng với người khác hay không, khi làm việc thì có tìm kiếm nguyên tắc hay không, trong lòng có nguyên tắc hay không, trong những chuyện bản thân không hiểu nguyên tắc thì ngươi có làm theo ý mình hay không, nếu ngươi làm việc theo ý mình mà có người chỉ ra thì ngươi có thể tiếp nhận, hối hận và quay đầu hay không, có căm ghét, chèn ép hay trừng trị người nêu ý kiến với ngươi hay không, trong những chuyện thuộc phạm vi đời sống của nhân tính bình thường, như nói năng, hành động, ăn, mặc, ở, đi lại, tiêu chuẩn được yêu cầu của ngươi là gì và ngươi có ranh giới hay không, v.v.. Những chuyện liên quan đến lẽ thật, nguyên tắc làm người, nhân sinh quan và con đường người ta đi này, là chuyện mà Ta quan tâm. Ngoài ra, Ta cũng hỏi thăm và tìm hiểu những chuyện liên quan đến của lễ. Lãnh đạo nào, lúc làm công tác liên quan đến việc chi tiêu của lễ mà không làm theo nguyên tắc, thay vào đó lại chi dùng hoang phí, có hành động phung phí của lễ, sau khi bị vạch trần và tỉa sửa còn chẳng hối hận chút nào, cũng không nhận tội và hối cải, chẳng những không bồi thường tổn thất mà còn có thể phân bua, lý sự, thậm chí có những người còn có thể làm giả và ngụy tạo chứng cứ, có những vụ nghiêm trọng thì họ còn hủy hoại một số chứng cứ, v.v., những chuyện này thì Ta sẽ dò hỏi, sẽ tìm hiểu. Có phải những chuyện này đều liên quan đến việc làm người và con đường tin Đức Chúa Trời mà người ta đi hay không? (Thưa, phải.) Ngươi nói xem, Ta quan tâm những chuyện này thì có chính đáng không? (Thưa, chính đáng.) Có những người mà trong nhà có điều kiện khá tốt, khá giàu có, về những chuyện như một năm gia đình họ thu nhập bao nhiêu, đã dâng hiến hay chưa, có phải dâng một phần mười hay không, ngươi nói xem, có bao giờ Ta dò hỏi về những chuyện đó không? Lúc giảng đạo trong những buổi nhóm họp, Ta chưa bao giờ nói những lời như vậy. Một số người nói: “Có phải Ngài không nói vậy ở nơi công khai, nhưng lại ngầm dò hỏi một số người không?”. Ngươi cứ hỏi những anh chị em từng tiếp xúc và qua lại với Ta, xem Ta có từng dò hỏi những chuyện này không, Ta chưa từng dò hỏi. Ngươi nói xem, là Ta không muốn dò hỏi hay là Ta không hứng thú? (Thưa, không hứng thú.) Ta không hứng thú, nghĩa là trong lòng Ta không chứa những chuyện này, không có những chuyện này. Một mặt là vậy. Ngoài ra, Ta thực sự không biết gia đình của những anh chị em nào thì có điều kiện kinh tế và địa vị xã hội ra sao. Tại sao Ta không biết? Chính là vì Ta không tò mò, không dò hỏi về mấy chuyện đó. Ngay cả khi Ta biết tình hình của một số người cá biệt, thì đó cũng chỉ là Ta nghe các ngươi nói nhà họ có tiền, Ta chỉ biết một chút thông tin cơ bản như vậy, còn chuyện họ làm công việc gì, thu nhập một năm bao nhiêu, thì Ta thực sự không biết. Ta chưa bao giờ dò hỏi, cũng không quan tâm đến chuyện bất kỳ ai trong các ngươi có điều kiện kinh tế gia đình thế nào, thu nhập bao nhiêu, giàu có hay nghèo khó, Ta không quan tâm những chuyện này. Có những người tiếp xúc với các anh chị em vài lần là đã hiểu khá rõ tình hình cơ bản của gia đình người ta, như nhà ai làm nghề gì, nhà ai có tiền, nhà ai nghèo, nhà ai có bao nhiêu tài sản, chỉ còn thiếu chuyện điều tra xem tổ tiên ba đời nhà người ta làm gì nữa thôi, họ đặc biệt hứng thú với những chuyện này và tìm hiểu cực nhanh. Các ngươi nói xem những người như vậy có phải là không lo làm việc chính đáng không? (Thưa, phải.) Họ tiếp xúc với ai một lần, gặp mặt ai một lần, là biết ngay người ta thu nhập mỗi tháng bao nhiêu, bình thường ăn mặc ở mức nào, giao du và qua lại với những người có thân phận và địa vị nào trong xã hội, những chuyện này họ đều có thể biết. Còn Ta tiếp xúc với người ta vài lần mà vẫn không biết những tình hình này. Trừ khi họ chủ động nói với Ta rằng ở ngoài thế gian, họ làm công việc gì, thu nhập hằng năm bao nhiêu, thì Ta mới biết được một chút, nhưng sau đó cũng không nhớ nổi. Có những người nói: “Ngài làm công tác cứu rỗi con người, mà có rất nhiều chuyện bên ngoài Ngài lại không hiểu, như vậy có được không?”. Các ngươi nói xem, có cần thiết phải tìm hiểu những chuyện không liên quan đến lẽ thật đó không? (Thưa, không cần thiết.) Ta chỉ tìm hiểu những chuyện liên quan đến lẽ thật, chỉ tìm hiểu những vấn đề liên quan đến tâm tính, nhân tính, cách làm người của ngươi và con đường ngươi đi. Ta không tìm hiểu xem ngươi có bao nhiêu tiền, cũng không tìm hiểu xem tiền của ngươi từ đâu mà có. Ta không muốn dò hỏi, cũng không muốn tìm hiểu về những chuyện này, Ta không có sở thích đó. Cái gọi là nắm rõ con người như lòng bàn tay nghĩa là Ta hiểu rõ tâm tính của con người, hiểu rõ thực chất bại hoại và chân tướng bại hoại của con người, còn hiểu rõ nhân tính của đủ mọi loại người, một mặt là vậy. Một mặt khác là Ta hiểu rõ tâm tính mà các loại người bộc lộ liên quan đến thực chất về phương diện nào, những tình trạng khác nhau mà con người bộc lộ liên quan đến vấn đề gì, nên thông công, cung ứng và giúp đỡ như thế nào mới có thể giải quyết vấn đề của họ và giúp họ thoát khỏi tình trạng đó. Tóm lại, Ta chỉ tìm hiểu những chuyện có liên quan đến công tác của Ta, có liên quan đến lẽ thật.

Khi Ta làm công tác, trách nhiệm mà Ta thực hiện đối với các ngươi chính là giải quyết những vấn đề của các ngươi. Ở tầm mức nhỏ, thì đó là giải quyết những vấn đề mà nhân tính của các ngươi sống thể hiện ra trong cuộc sống thường nhật, ở tầm mức lớn thì là giải quyết những vấn đề về tâm tính bại hoại của các ngươi, chỉ rõ cho các ngươi con đường dẫn đến sự cứu rỗi. Cho nên Đức Chúa Trời nhập thể đến giữa con người không phải để hưởng thụ sự cung phụng, tung hô hoặc đi theo của nhân loại, không phải đến để hưởng thụ phúc lạc nhân gian, mà là đến để thực hiện trách nhiệm. Ngài có thân phận của Đức Chúa Trời, có sự sống của Đức Chúa Trời, Ngài đến giữa con người là để làm công tác của chính Đức Chúa Trời và thực hiện trách nhiệm mà chính Đức Chúa Trời nên thực hiện đối với con người. Bất kể ở giai đoạn nào hay giữa nhóm người nào, khi tiếp xúc với con người, mục tiêu cơ bản trong công tác Đức Chúa Trời làm chính là giúp con người giải quyết đủ loại vấn đề. Có lúc Ta nói một số chuyện vặt trong cuộc sống thường nhật, có lẽ các ngươi nghe xong thì cảm thấy đó chỉ là nghe được một vài câu chuyện. Nhưng thực ra trong những chuyện vặt Ta thông công với các ngươi có những vấn đề tồn tại nơi các ngươi, có những lẽ thật mà các ngươi nên hiểu, và là những điều các ngươi nên giải quyết, nên bước vào. Những người chú trọng tìm kiếm nguyên tắc lẽ thật và chú trọng thực hành lẽ thật, mà nghe xong những chuyện này thì chẳng biết từ bao giờ sẽ hiểu được một số lẽ thật, một số nguyên tắc cho việc làm người và hành động. Tuy nhiên, những người không có hiểu biết thuộc linh thì có nghe cũng không hiểu, còn cảm thấy Ta toàn nói những chuyện vặt trong cuộc sống. Thực ra, rất nhiều lúc, các ngươi cũng nên rút ra bài học từ trong những chuyện vặt này. Bởi vì bất kể thông công chuyện về phương diện gì, là chuyện trong cuộc sống thường nhật hay chuyện liên quan đến việc làm bổn phận, chuyện liên quan đến lối vào sự sống, thì nguyên tắc và nhận thức mà chúng ta thông công đều không phải để giải câu đố gì, cũng không phải để vén mở lẽ mầu nhiệm gì, mà đều là dùng ngôn ngữ cuộc sống thường nhật để nói rõ một sự thật, giải quyết vấn đề về tư tưởng và quan điểm của người ta, giải quyết vấn đề về cách nhìn nhận các loại sự vật và đối đãi với các loại người của người ta. Chẳng hạn như chuyện lựa chọn kiểu dáng và màu sắc quần áo. Bất kể là trang phục mặc hằng ngày hay trang phục biểu diễn, nguyên tắc và xuất phát điểm của Ta khi lựa chọn kiểu dáng và màu sắc quần áo thì khác với các ngươi. Nguyên tắc và xuất phát điểm của các ngươi là gì? Là trang điểm cho cá nhân các ngươi xinh đẹp, điển trai, có được sức hút và được chú ý đến là các ngươi sẽ hài lòng. Còn ý định ban đầu và xuất phát điểm của Ta là gì? Là khiến người ta nhìn các ngươi thì thấy đoan trang đứng đắn, có hình tượng giống con người và có tôn nghiêm, khiến người ta nhìn vào thì coi trọng, không dám xem thường các ngươi, không dám lừa phỉnh các ngươi, không dám có ý đồ hay ý nghĩ xấu đối với các ngươi. Ta làm như vậy không phải là tước đi cơ hội để ngươi thể hiện bản thân, mà là đang bảo vệ ngươi, làm cho ngươi có hình tượng giống con người và trông có khí chất chính trực, để những kẻ có ý đồ xấu sẽ không có cơ hội lợi dụng ngươi và những kẻ tà ác sẽ không dám lợi dụng kẽ hở, không dám coi ngươi như món đồ chơi, họ sẽ phải tôn trọng ngươi, như vậy chẳng phải nhân cách của ngươi được bảo vệ rồi sao? (Thưa, phải.) Chỉ riêng một chuyện đơn giản như lựa chọn kiểu dáng và màu sắc quần áo, các ngươi có thể cho rằng Ta làm vậy là để bảo vệ lợi ích và thanh danh của nhà Đức Chúa Trời, nhưng thực ra đó thật sự không phải điều chính yếu nhất, điều chính yếu nhất là để bảo vệ các ngươi. Chỉ riêng chuyện này, quan điểm của Ta và các ngươi đã hoàn toàn khác nhau. Còn về chuyện các ngươi ăn mặc và trang điểm thế nào trong cuộc sống cá nhân, thì Ta cho các ngươi không gian, cho phép các ngươi tự do lựa chọn để thỏa mãn lòng hư vinh của mình. Những chuyện này thì dựa vào việc người ta có được nhân tính bình thường sau khi lẽ thật được thông công và người ta hiểu lẽ thật rồi, từ đó có thể đạt đến việc ràng buộc bản thân, đoan trang đứng đắn và có hình tượng giống con người. Nhưng khi các ngươi xuất hiện ở nơi công khai, thì Ta phải giúp các ngươi kiểm duyệt, làm vậy hoàn toàn là để bảo vệ các ngươi, chứ không phải để kiểm soát chặt và khống chế các ngươi. Bất kể các ngươi nghĩ thế nào, nguyên tắc Ta hành động chính là vậy, trong chuyện này Ta nắm quyền định đoạt. Ngay cả khi cá nhân nào đó có chút không hài lòng, trong lòng có chút khó chịu và có ý kiến về chuyện này thì cũng không sao, sau này ngươi sẽ hiểu thôi. Ngoài ra, đối với chuyện lựa chọn màu sắc, chất liệu và kiểu dáng quần áo, thì Ta không bảo thủ, không thủ cựu, Ta không có những tư tưởng và quan niệm cũ kỹ. Nếu ngươi lớn tuổi rồi thì Ta sẽ giúp ngươi ăn mặc sao cho có sức sống hơn, chọn cho ngươi một số trang phục có màu sắc tươi sáng, để người ta nhìn vào thì thấy trẻ trung mà không diêm dúa. Như vậy cũng tốt cho ngươi, người ta thấy ngươi tuy tuổi đã lớn nhưng diện mạo tinh thần vẫn khá tốt, trông rất chỉn chu và khá là được mắt, người ta cũng sẽ tôn trọng và coi trọng ngươi, như vậy thì tôn nghiêm của ngươi được bảo vệ đầy đủ rồi. Đây là điều mà các ngươi không nghĩ tới. Cũng có lẽ có người cá biệt nào đó nghĩ tới, nhưng ai có thể giữ vững nguyên tắc này, ai có thể nắm vững nguyên tắc này chứ? Các ngươi thật sự không nắm vững được, phải vậy không? (Thưa, phải.) Một số người nói: “Tôi lớn tuổi rồi, người già thì phải có dáng vẻ của người già. Tôi phải làm gương cho người trẻ, phải khiến người trẻ nhìn vào thì coi trọng”. Tóc đã bạc trắng, họ cũng không nhuộm, sắc mặt nhợt nhạt, họ cũng không trang điểm nhẹ một chút, răng cửa rụng, họ cũng không làm lại, nên khi nói chuyện thì gió cứ luồn vào, về trang phục, họ cũng không mặc màu tươi sáng, mà chỉ mặc màu xám, màu đen. Kết quả là người ta thấy họ chẳng có chút khí sắc nào, đơn giản là một dáng vẻ bệnh tật. Ngươi nói xem, người trẻ nhìn thấy ngươi thì sẽ có cảm giác gì? Họ gọi ngươi thì phải thêm chữ “lớn tuổi”, gọi ngươi là “người chị em lớn tuổi” hoặc “người anh em lớn tuổi”. Như vậy thì trong lòng ngươi thoải mái sao? Ngươi lại không muốn thế, nghĩ bụng: “Tuy tuổi tôi lớn hơn các người một chút, nhưng tôi có già đến vậy không?”. Ai bảo ngươi làm cho mình trông già đến vậy? Ngươi chọn màu quần áo có thể làm cho khí sắc của mình tươi tắn hơn thì chẳng phải được rồi sao? Ngươi trang điểm nhẹ nhàng một chút, để người ta thấy ngươi có sức sống, thấy ngươi tuy cơ thể đã già nhưng tâm thái không già, như vậy chẳng phải ngươi được tôn trọng rồi sao? Có người hơn bốn mươi tuổi, khi được Ta bảo mặc một bộ quần áo màu hồng để biểu diễn tiết mục, thì cô ấy nói: “Con từng này tuổi mà mặc màu hồng thì chẳng phải là cưa sừng làm nghé sao?”. Quan điểm của cô ấy không giống Ta. Ta nói: “Đây không phải là cưa sừng làm nghé, mà là vì nhu cầu lên hình. Ta chỉ dẫn cho ngươi, giúp ngươi ăn mặc, khiến ngươi trông có khí sắc, trông được mắt và chỉn chu. Nếu ngươi cho rằng đó là cưa sừng làm nghé, nếu ngươi lĩnh hội như vậy thì đừng mặc bộ đó nữa, cứ đổi sang một bộ quần áo già dặn thì ngươi sẽ lập tức trông già thêm mười tuổi”. Ngươi nói cô ấy trông già thêm mười tuổi thì cô ấy không muốn, nhưng bảo cô ấy ăn mặc trẻ trung hơn một chút thì cô ấy lại không tiếp nhận nổi. Chẳng phải người này khá khó nhằn sao? (Thưa, phải.) Chỉ là trong những chuyện đơn giản như vậy, nếu người ta có tư tưởng và quan điểm đúng đắn thì sẽ biết xử lý một cách thích hợp, thỏa đáng và hợp nguyên tắc. Nhưng đối với những chuyện này, đa số mọi người lại có tư tưởng và quan điểm rất lệch lạc, bảo thủ hoặc cực đoan, có những người thậm chí còn giả vờ. Tư tưởng và quan điểm của Ta đối với những chuyện này dù không thể nói là lẽ thật, nhưng ít ra cũng thích hợp, thỏa đáng và hợp phạm vi của nhân tính bình thường. Cho nên có lúc Ta cũng ít nhiều đưa ra cho các ngươi một số nhắc nhở và chỉ dẫn về những chuyện nhỏ này. Nếu ngươi biết chú tâm, có thể tiếp nhận những tư tưởng và quan điểm đúng đắn, thì chẳng biết từ bao giờ ngươi sẽ lĩnh hội được những chuyện này. Nếu ngươi cẩu thả, hoặc luôn có ý kiến và suy nghĩ cá nhân, hoặc bên trong ngươi còn có rất nhiều tư tưởng và quan điểm cũ kỹ, truyền thống và ngu ngốc một cách ngoan cố, thì có lẽ ngươi sẽ nghe không lọt và không hiểu những lời Ta nói. Nhưng bất kể thế nào, bất kể ở phương diện nào, chỉ cần là những chuyện trong phạm vi công tác Ta làm mà Ta có thể tiếp xúc, thì Ta đều cố gắng hết sức để giúp các ngươi có được lợi ích, đưa các ngươi đi đúng hướng, giúp các ngươi sửa đổi những tư tưởng và quan điểm sai lầm, xây dựng các loại tư tưởng và quan điểm đúng đắn, đây chính là trách nhiệm của Ta. Chỉ xét về chuyện thực hiện trách nhiệm, thì công tác mà Đức Chúa Trời nhập thể làm so với công tác mà bất kỳ người nào có địa vị giữa nhân loại làm, hoàn toàn khác nhau về tính chất, phải vậy không? (Thưa, phải.)

Theo Ta thấy, công việc mà nhân loại làm đối với địa vị, về cơ bản chỉ có hai điều, một là bảo vệ địa vị, hai là đòi hỏi lợi ích cá nhân, đây chính là nhu cầu và sự đòi hỏi của nhân loại đối với địa vị. Bất kỳ công việc nào do bất kỳ người có địa vị nào làm đều không phải là việc cung ứng lẽ thật hay cung ứng sự sống, càng không phải là chỉ ra phương hướng và con đường cuộc đời cho người ta. Thay vào đó, họ làm một công việc vật chất hoặc phi vật chất, quản lý hoặc quản chế người khác, khiến người ta tiếp nhận sự lãnh đạo của họ trong đủ mọi lĩnh vực như nghiệp vụ, tri thức, sản xuất, v.v.. Sau đó, họ vận dụng quyền lực của mình để tạo lập uy quyền và củng cố địa vị, từ đó mưu cầu lợi ích cá nhân cho bản thân. Lợi ích này được chia thành hai phương diện là lợi ích về tiền bạc và lợi ích về danh tiếng. Cho nên, công việc do bất kỳ người nào có địa vị giữa mọi người làm thì có tính chất hoàn toàn khác với công tác mà Đức Chúa Trời nhập thể làm. Đối với người khác, họ không cung ứng, cũng không giúp đỡ, càng không phải là không có đòi hỏi gì. Xét từ địa vị và lợi ích tiền bạc họ đạt được sau khi có được địa vị và dựa vào địa vị để làm việc, thì bất kỳ người nào có địa vị giữa mọi người cuối cùng tất nhiên sẽ trở thành người hưởng lợi ích sẵn có. Điều này là bởi địa vị họ có phục vụ cho cá nhân họ, tất cả những gì họ làm đều là vì địa vị và lợi ích, chứ không phải là để cung ứng hoặc giúp đỡ người khác. Điểm này hoàn toàn khác với những gì Đức Chúa Trời nhập thể làm. Hơn nữa, bất kỳ người nào có địa vị thì cho dù họ nói gì và làm gì với người khác, mục đích cuối cùng của họ đều là để đòi hỏi người khác cống hiến cho họ về mặt tinh thần, tiền bạc và địa vị. Nghĩa là nếu họ nói hay, làm tốt, được lòng người, có thể khiến mọi người coi trọng và tán thành mình, thì trong lòng mọi người sẽ có cái nhìn tốt về họ, họ cũng càng có uy tín, càng có tiếng nói, danh tiếng của họ càng cao, càng có nhiều người ủng hộ họ và bị họ khuất phục. Đây là sự cống hiến về mặt tinh thần mà họ đòi hỏi nơi người khác. Nghĩa là trong lòng mọi người sẽ càng sùng bái họ, càng ngưỡng mộ họ, càng bị phong thái lãnh đạo hoặc lời nói, cử chỉ, phong độ và phong cách làm người, làm việc của họ thu hút và làm cho khuất phục. Như vậy, địa vị của họ sẽ càng cao, càng vững chắc, và địa vị của họ giữa mọi người sẽ được củng cố toàn phần. Sau khi địa vị của họ đã vững chắc trong lòng mọi người, thì đồng thời lợi ích của họ về mặt tiền bạc và vật chất sẽ càng thêm dồi dào. Họ làm việc để củng cố địa vị của mình trong lòng mọi người thực ra là để có thể đạt được thêm nhiều lợi ích về vật chất và tiền bạc. Như vậy thì hoàn toàn khác với địa vị mà Đức Chúa Trời nhập thể có giữa con người và công tác Ngài làm. Người ta phải thấy rõ điểm này. Chẳng phải có sự khác biệt sao? (Thưa, phải.) Ngươi thấy đấy, một khi con người có địa vị và có người hâm mộ, họ sẽ làm rất nhiều chuyện vì địa vị của mình. Họ tô vẽ hình tượng của mình, học kỹ năng sử dụng ngôn từ, còn che giấu hoàn toàn đời tư của mình, bao gồm đối tượng kết hôn, tình trạng hôn nhân, thậm chí nơi ở cá nhân, v.v., họ đều che giấu và không để người ta biết. Họ làm những chuyện này đều là để bảo vệ địa vị và hình tượng của mình giữa mọi người. Ở sau lưng mọi người, họ có rất nhiều chuyện được che giấu, không công khai và không để người khác biết. Trước mặt mọi người thì họ ăn vận và trang điểm cho mình cực kỳ cao quý, lộng lẫy, tôn quý và xinh đẹp, lời nói thì đặc biệt nhẹ nhàng và chu đáo, người ta muốn nghe cái gì thì họ nói cái nấy, người ta muốn xem cái gì thì họ biểu diễn cái nấy. Để tô vẽ hình tượng cá nhân của mình, họ làm đủ mọi chiêu trò, đủ mọi việc. Một khi có một bê bối hoặc một chuyện không hay về họ bị tiết lộ và bị người hâm mộ biết, thì họ sẽ cực lực biện bạch, giả vờ, tìm mọi cách che đậy chuyện này. Thậm chí có những người còn thay hình đổi dạng, tìm mọi cách giữ lấy hình tượng của mình trong lòng mọi người. Mục đích họ làm như vậy chính là để giữ lấy địa vị của mình giữa mọi người, một khi giữ được địa vị giữa mọi người, thì những thứ vật chất, tiền bạc và sự hưởng thụ mà họ mưu cầu cũng đều được giữ lại. Cho nên bất kể là làm thế nào, bất kể là trước mặt hay sau lưng người khác, thì mọi việc họ làm đều đầy tính lừa dối. Họ nghĩ gì trong lòng, nhân tính và nhân cách của họ thế nào, quan điểm và lựa chọn của họ đối với các loại sự vật rốt cuộc là gì, những điều này ngươi mãi mãi không biết, mãi mãi không nghe được lời thật lòng của họ. Ngay cả khi họ vì người hâm mộ, vì khán giả của mình mà thay đổi và hy sinh rất nhiều, thì đó cũng là trái lòng họ. Tại sao họ lại làm việc trái lòng mình như vậy? Chính là để giữ lấy địa vị của mình. Bởi vì họ biết, nếu công khai bộ mặt thật của mình cho mọi người thấy, họ sẽ mất đi rất nhiều người hâm mộ, còn bị người hâm mộ phỉ nhổ và chửi rủa. Mất đi người hâm mộ thì địa vị của họ cũng sẽ tụt dốc không phanh, ngay sau đó tiền bạc, lợi ích, sự hưởng thụ và vật chất mà họ mưu cầu, thậm chí bất kỳ điều kiện vượt trội và đãi ngộ hậu hĩnh nào mà địa vị mang đến cho họ cũng đều không còn nữa. Cho nên họ đều cực lực bảo vệ hình tượng và giữ gìn địa vị của mình. Để giữ gìn địa vị và hình tượng, họ không tiếc bất kỳ giá nào, không tiếc sử dụng bất kỳ thủ đoạn nào, có người chuyển giới, có người phẫu thuật thẩm mỹ, có người giấu chuyện kết hôn, có người còn bí mật giết người, chuyện gì họ cũng làm. Thế mà ở giữa mọi người, những việc họ làm đối với người khác và những gì người ta có thể nhận được từ họ thì hầu như không có sự dẫn dắt tích cực, cũng không có sự cung ứng tích cực. Vai trò của họ ở giữa mọi người chỉ là thỏa mãn lòng hư vinh, dã tâm và dục vọng của người ta, tập hợp người ta về dưới danh nghĩa của họ và quyền lực của họ, sau đó nhẫn tâm tiến hành mê hoặc người ta và tước đoạt của người ta về mặt tinh thần, tư tưởng và lợi ích tiền bạc. Cho nên Ta nói, bất kỳ người nào có địa vị về cơ bản đều là người hưởng lợi ích sẵn có. Đấy là cách nói dễ nghe, còn cách nói khó nghe hơn thì Ta không muốn nói, các ngươi tự ngẫm nghĩ đi. Cho nên, khi nhìn thấy bất kỳ người nào có địa vị, có lẽ ngươi đều cảm thấy họ nói năng siêu phàm, khoáng đạt, tao nhã và có khí chất. Ngươi đặc biệt sùng bái họ, nhất là có những người khác giới còn muốn dâng hiến thân xác cho họ. Đây đều là dấu hiệu của việc bị mê hoặc, bị tẩy não. Chúng ta không nói đến cuộc sống sau lưng mọi người của họ, nhân tính thực sự của họ và thái độ của họ đối với những điều tích cực, không cần tìm hiểu những chuyện này. Nếu ngươi thực sự muốn dâng hiến thân xác cho họ, thì cứ chờ đến lúc sống chung với họ rồi, ngươi sẽ ngã ngửa. Đến lúc đó ngươi sẽ biết, họ không vĩ đại và siêu phàm như ngươi tưởng trong lòng, và ngươi sẽ không còn sùng bái họ nữa, sẽ xem họ như một người thông thường. Với vóc giạc hiện tại của các ngươi, có cần phải đi đến mức đó không? (Thưa, không cần.)

Khi những người có địa vị trong xã hội xuất hiện ở nơi công cộng, ở các buổi ký tặng, họp báo hoặc biểu diễn trực tiếp, thì mọi người hoan hô họ, đặt kỳ vọng lớn nơi họ. Thậm chí có những người chỉ cần bắt tay họ một lần là cả đời cũng không muốn rửa tay nữa, còn có những người chỉ cần ôm họ một lần là cả đời không kết hôn nữa. Các ngươi nói xem, những người như vậy có phải rất ngu xuẩn không? (Thưa, phải.) Ngươi vì họ mà không kết hôn, nhưng đến một ngày ngươi gặp họ trên đường và chào hỏi họ, liệu họ có để ý đến ngươi không? (Thưa, không để ý.) Người ta là người có địa vị, là người tôn quý, là nhân vật tầng lớp trên, trong mắt người ta thì ngươi chẳng là gì cả. Ngươi thực sự cho rằng khi họ ký tên cho ngươi, bắt tay ngươi, ôm ngươi là họ thích ngươi sao? Ngươi sai rồi, ngươi quá ấu trĩ! Khi họ cần ngươi thì ngươi là báu vật, khi họ không cần ngươi thì ngươi chỉ là rơm rác, cũng có thể nói rằng ngươi chẳng là gì cả. Bất kỳ người nào có địa vị trong xã hội, cho dù chỉ là một viên quan nhỏ nhất, cũng đều ngoài tầm với của một dân thường như ngươi. Ngươi là người trưởng thành hoặc có chút bản lĩnh thì cũng chẳng là gì cả, trong mắt họ, ngươi chỉ là một nhân vật nhỏ bé, và họ hoàn toàn không coi ngươi ra gì. Đây chính là bộ mặt thật của những người có địa vị trong xã hội. Cho nên, xét từ thực chất bản tính của tầng lớp những người có quyền thế và địa vị trong thế gian, thì về cơ bản họ đều là những người hưởng lợi ích sẵn có. Họ không đặt kỳ vọng lớn nào nơi ngươi, cũng không có bất kỳ trách nhiệm nào với ngươi, càng không có chuyện ban tặng hay dâng hiến miễn phí cho ngươi, đương nhiên chuyện cung ứng cho ngươi thì càng khỏi nói đến làm gì. Họ chỉ muốn đòi hỏi ngươi, đạt được sự sùng bái, ngưỡng mộ và đi theo về mặt tinh thần của ngươi, sau đó thu được lợi ích tiền bạc, vật chất từ ngươi. Họ đạt được lợi ích và địa vị của họ ổn định rồi, mà ngươi muốn làm anh em chí cốt, làm bạn bè với họ, ngồi ngang hàng với họ, thì họ có đồng ý không? (Thưa, không đồng ý.) Nếu ngươi cứ ép họ đồng ý, thì ngươi nói xem, họ sẽ thế nào? (Thưa, họ sẽ trở mặt.) Họ thấy ngươi không còn giá trị lợi dụng, liền đá ngươi sang một bên, ném cho ngươi hai chữ “cút đi”, còn mắng ngươi là đồ ăn mày thối tha, thế là ngươi ngã ngửa, phải vậy không? (Thưa, phải.) Chính vì nhân loại nhìn nhận địa vị như vậy, cũng chính vì địa vị mang đến cho nhân loại đủ loại điều kiện có lợi hoặc lợi ích dồi dào, nên nhân loại rất coi trọng địa vị, rất trân quý địa vị. Tuy nhiên, những gì bất kỳ người nào có địa vị giữa nhân loại làm đều không phải là thực hiện trách nhiệm hay cung ứng cho nhân loại, và những việc làm này cũng không miễn phí, mà là có mục đích và sự đòi hỏi. Khi đứng ở địa vị, mỗi một lời họ nói đều có mục đích, mỗi một việc họ làm cũng là để đạt được một mục đích nhất định, đương nhiên là để đạt được lợi ích lớn hơn từ ngươi, thậm chí vắt kiệt giọt máu cuối cùng của ngươi. Những gì họ làm đối với ngươi về cơ bản chính là mê hoặc, làm tê liệt và bóc lột, nói bằng những lời đơn giản và thẳng thắn nhất thì chính là khiến ngươi móc hết tiền ra. Móc tiền ra để làm gì? Mua vé vào cửa của họ, mua sản phẩm của họ, mua hàng hóa của họ, dâng cho họ thứ họ cần nhất. Cho nên, một khi người ta có địa vị thì lợi ích cũng theo đó mà đến. Người ta mà có địa vị và đứng ở địa vị của mình thì dễ mê hoặc người khác, cũng dễ lợi dụng lợi thế của địa vị để làm việc. Là một thành viên trong nhân loại, vì ngươi sùng bái địa vị, nên rất dễ bị những người có địa vị hoặc những người đứng ở địa vị của mình mê hoặc, khống chế và xúi giục. Họ xúi giục ngươi làm chuyện này, chuyện kia. Nhất là những ngôi sao và người nổi tiếng có danh tiếng trong xã hội, khi họ đứng trên sân khấu hô một tiếng “Các bạn khỏe không? Lâu rồi không gặp!”, thì đám người hâm mộ bên dưới liền vẫy que phát sáng, vừa hét vừa la, phát cuồng cả lên. Phát cuồng đến mức nào? Có người nước mắt tuôn đầy mặt ngay tại chỗ, có người ngất xỉu ngay tại chỗ rồi được đưa đi cấp cứu. Chỉ vì mấy câu nói đó, chỉ vì nghe mấy bài hát đó, xem một buổi biểu diễn đó, mà họ phát cuồng đến mức này, giống như biến thái vậy. Ngươi nói xem, những người này có ngốc không? (Thưa, ngốc.) Sau đó họ còn đi nữa không? (Thưa, còn đi.) Vậy chẳng phải là bị mê hoặc rồi sao? Vé của buổi biểu diễn đó có lẽ còn rất đắt, ngươi bỏ ra nhiều tiền như vậy mà họ chỉ hát mấy bài, nhảy nhót vài đường trên sân khấu, ngươi bỏ ra chừng đó tiền thì có đáng không? Vậy chẳng phải là ngươi bị lừa rồi sao? Có người còn ép cha mẹ bỏ tiền ra mua vé xem buổi hòa nhạc của thần tượng hoặc mua thứ gì đó của thần tượng. Nhà nghèo không có tiền thì họ lại bảo cha mẹ hèn kém, bất tài. Cha mẹ họ cũng hết cách, đây chính là trào lưu của xã hội này. Có những cha mẹ bị con cái mắng nhiếc như vậy thì còn cảm thấy rất tự ti, không dám thừa nhận trước mặt người khác mình là cha mẹ của chúng. Chuyện này có phải do trào lưu xã hội gây ra không? (Thưa, phải.) Vậy trào lưu này hình thành như thế nào? Chính là do tư tưởng và quan điểm của nhân loại đối với địa vị và danh lợi ngày càng tà ác, cuối cùng, chúng cứ thuận theo trào lưu tà ác này mà phát triển mãi cho đến ngày nay, làm hại hết thế hệ này đến thế hệ khác. Những người có địa vị đó làm gì với người ta? Họ đứng trên cao mà hét lên cái gì với người ta? Họ truyền đạt cho người ta những gì? Họ truyền đạt những tư tưởng và quan điểm sai lầm, tà ác, truyền đạt những trào lưu tà ác, truyền đạt toàn những điều tiêu cực. Cuối cùng ngươi còn phải cam tâm tình nguyện lấy tiền đi tranh nhau mua vé vào cửa của họ, mua sản phẩm của họ, không mua được thì còn lén khóc, còn tự ti. Chẳng phải đây là cam tâm sa đọa sao? (Thưa, phải.) Thế gian chính là vậy, nhân loại chính là vậy. Trong nhân loại, các trào lưu tà ác luôn chiếm thế thượng phong, mà các trào lưu tà ác này cũng không ngừng phát triển và tiến hóa. Bất kể chúng tiến hóa thế nào, cũng luôn có một bộ phận những người có địa vị, có quyền thế, có danh vọng xông lên tuyến đầu của trào lưu tà ác. Những người càng ở tuyến đầu của trào lưu tà ác thì sẽ có kết quả thế nào? Ta không nói nữa, các ngươi tự mình từ từ ngẫm nghĩ đi.

Chúng ta thông công những lời này, một mặt là để ngươi nhận biết địa vị là gì, mặt khác là để ngươi biết và hiểu rõ sự khác biệt giữa địa vị mà Đức Chúa Trời nhập thể có với địa vị mà nhân loại có. Hai điều này có tính chất hoàn toàn khác nhau, thực chất cũng hoàn toàn khác nhau. Địa vị của Đức Chúa Trời nhập thể là do thực chất và sự sống của Ngài quyết định, chứ không phải là một chức vị, không phải do nhân loại ban cho, không phải nhờ học tri thức, học lý luận và có đủ sự từng trải trong xã hội, rồi được nhân loại tôn sùng mà có. Địa vị của Đức Chúa Trời nhập thể là do thân phận của Ngài quyết định, còn thân phận của Ngài là do sự sống và thực chất của Ngài quyết định. Ngài có thân phận và thực chất như vậy nhưng Ngài không ngồi tít trên cao, áp bức người ta, làm lung lạc người ta, đòi hỏi nhân loại và tác oai tác quái giống những người có địa vị hiển hách trong nhân loại. Đương nhiên, Đức Chúa Trời nhập thể cũng không phải là người hưởng lợi ích sẵn có, Ngài chưa bao giờ đòi hỏi bất kỳ lợi ích nào từ những người đi theo Ngài, bao gồm lợi ích về tiền bạc và vật chất. Đương nhiên, Ngài cũng không đòi hỏi bất kỳ thù lao nào từ những người đi theo Ngài. Thay vào đó, Ngài trước sau như một, luôn thực hiện trách nhiệm của Ngài và làm công tác của Ngài dựa trên thân phận và chức vị của Ngài, cung ứng mọi lẽ thật mà những người đi theo Ngài cần. Đương nhiên, trong thời gian Đức Chúa Trời nhập thể làm công tác và thực hiện trách nhiệm, Ngài không đứng trên cao mà hô hào như những người được gọi là có địa vị giữa nhân loại, cũng không đứng trên cao mà tạo ra một bầu không khí, tạo ra một sự hoành tráng hay bài bố phô trương, với mục đích là lung lạc lòng người và khiến người ta tôn sùng mình, v.v.. Đức Chúa Trời mang thân phận Đức Chúa Trời nhập thể không hề làm những chuyện này. Địa vị và thân phận của Ngài do chính thực chất của chính Ngài quyết định, chứ không phải do nhân loại tôn sùng mà có, cũng không phải do nhân loại bầu ra. Vậy những điều này nảy sinh như thế nào? Do Đức Chúa Trời bày tỏ lẽ thật và tiết lộ những lẽ mầu nhiệm này, nên con người mới biết xác thịt này là chính Đức Chúa Trời có thân phận và địa vị của Đức Chúa Trời. Có những người nói: “Tại sao Đức Chúa Trời phải tự làm chứng cho chính mình?”. Chính là vì nhân loại không nhận biết Đức Chúa Trời, chỉ biết chống đối và lên án Đức Chúa Trời, cho nên chỉ có thông qua việc Ngài bày tỏ lẽ thật thì mới có thể làm chứng cho thân phận và địa vị của chính Ngài. Ngay cả khi con người có chút sự khai sáng từ Đức Thánh Linh cũng chưa chắc đã có thể làm chứng rõ ràng, phải là chính Đức Chúa Trời làm chứng cho chính Ngài thì mới đạt được kết quả. Nếu cậy vào nhân loại làm chứng cho Đức Chúa Trời thì có thể đạt được kết quả không? (Thưa, không đạt được.) Tại sao không đạt được? (Thưa, con người căn bản không nhận biết Đức Chúa Trời.) Đúng vậy, bởi vì nhân loại không nhận biết Đức Chúa Trời, không có người nào nhận biết Đức Chúa Trời. Cho nên Đức Chúa Trời trở nên xác thịt, trở thành Con người, bắt đầu xuất hiện và làm công tác, lên tiếng với nhân loại, để mọi người đều nghe thấy tiếng và lời của Đức Chúa Trời. Rồi Đức Thánh Linh bắt đầu công tác, tập hợp con người lại, sau đó Đức Chúa Trời bắt đầu phán lời với con người và làm công tác giữa con người. Ban đầu có những cá nhân không tiếp nhận được, họ có quan niệm đối với Đức Chúa Trời nhập thể, không nhận biết và không hiểu rõ Đức Chúa Trời nhập thể. Nhưng Đức Thánh Linh làm công tác lớn và Đức Chúa Trời tự mình bảo vệ công tác của chính Ngài. Thông qua bấy nhiêu năm phán lời và công tác này, chẳng phải con người đã có một mức độ công nhận nhất định đối với thân phận và địa vị của Đức Chúa Trời rồi sao? (Thưa, phải.)

Nhiều người tin Đức Chúa Trời đã nhiều năm mà nhận thức về Đức Chúa Trời vẫn còn trống không, nhất là về thân phận và địa vị của Đức Chúa Trời, họ còn có rất nhiều quan niệm và tưởng tượng hoặc sự pha tạp ý của con người, nhưng nhờ bấy nhiêu năm Đức Chúa Trời phán lời và công tác, thực hiện trách nhiệm đối với con người và tiêu hao bản thân cho con người, nên chúng ta đã nhìn thấy một chút kết quả rồi. Các ngươi có biết đó là kết quả gì không? (Thưa, con nghĩ đó là con người đã được lời Đức Chúa Trời chinh phục, con người không thể không thừa nhận thực chất của Đức Chúa Trời.) Con người được chinh phục, điểm này là đúng. Mặc dù còn cách chuyện con người được Đức Chúa Trời thu phục một khoảng, nhưng con người đã được Đức Chúa Trời chinh phục rồi. Vậy bằng chứng cho chuyện con người được chinh phục nằm ở đâu? Chính là, lúc ban đầu Đức Chúa Trời làm chứng rằng con người này là Đức Chúa Trời nhập thể, thì rất nhiều người có quan niệm và chống đối, không sẵn lòng thừa nhận hay tiếp nhận sự thật này. Nhưng đến hiện tại, những người các ngươi, bao gồm cả những người ban đầu căn bản không muốn thừa nhận rằng con người này là Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Trời nhập thể, giờ đã có thể đầy kiên nhẫn, đầy mong đợi mà ngồi xuống, yên tĩnh và nghiêm túc nghe Ta thông công. Chỉ điều này thôi cũng đủ chứng minh con người đã được Đức Chúa Trời chinh phục. Phải vậy không? (Thưa, phải.) Hơn mười năm trước, lúc Ta nhóm họp và thông công với các ngươi, khi Ta nói được khoảng bốn mươi phút thì rất nhiều người đã ngồi không yên, có người đi nhà vệ sinh. Có người uống nước, có người thì thầm với nhau, có người ngáp ngắn ngáp dài, vươn vai. Gần như hơn sáu mươi phần trăm số người đều như ngồi trên đống lửa, nghe không hiểu, với không tới, nghe không lọt tai. Ngươi nói xem, Ta thông công với các ngươi có mệt không? Ta vừa nhìn đã thấy vóc giạc các ngươi quá nhỏ, nghe giảng mà ngồi không yên, chẳng phải giống như trẻ nhỏ trong trường mẫu giáo không nghe lọt tai lời người ta nói sao? Ta đành phải nhẫn nại, kiên nhẫn thông công và hướng dẫn. Sau đó mọi người nghe thêm và hiểu được một chút, bắt đầu có hứng thú với lẽ thật. Dần dần, số người thì thầm với nhau ít đi, số người ngáp ngắn ngáp dài, vươn vai cũng ít đi. Đa số mọi người trong thời gian nhóm họp đều có thể tập trung tinh thần mà nghe giảng đạo, có thể ngồi yên, có thể nghe lọt tai, và bắt đầu có được chút nhập môn về con đường sự sống. Còn có một hiện tượng tốt nữa, đó là khi Ta nói đến một phương diện nguyên tắc lẽ thật, rất nhiều người liền nhanh chóng ghi chép, nghe đến những lời quan trọng và then chốt thì họ lập tức ghi lại, để sau đó còn suy ngẫm, như vậy thì quá tốt! Những người này thực sự có năng lực lĩnh hội, họ bắt đầu dốc công sức vào lẽ thật và biết chú trọng thực tế. Bất kể bình thường Ta thông công hay tán gẫu với người ta, chỉ cần liên quan đến nội dung về nguyên tắc lẽ thật thì mọi người đều nghiêm túc lắng nghe và nghiêm túc ghi chép, đây là hiện tượng tốt. Ngươi thấy đấy, từng bước từng bước đi đến hiện tại, tình trạng của người ta ngày càng tốt hơn. Ngoài ra, từ những video lời chứng trải nghiệm và phim do nhà Đức Chúa Trời sản xuất, có thể thấy rất nhiều người từ lúc bắt đầu làm bổn phận cho đến hiện tại đều đã có một số trải nghiệm chân thực. Vậy thu hoạch lớn nhất của người ta là gì? Chính là người ta có thể dựa vào những lẽ thật Ta đã thông công trong những năm qua để nhìn nhận và trải nghiệm các loại sự việc. Họ đều hiểu được một số lẽ thật, đều có thể giải quyết một số vấn đề, đã lý giải và hiểu được một chút về tâm ý của Đức Chúa Trời, đã có sự thuận phục đối với Đức Chúa Trời, và đã có thay đổi trong tâm tính sự sống. Đây chẳng phải là thu hoạch sao? (Thưa, phải.) Trước đây, khi mới nghe giảng thì các ngươi ngồi không yên. Có người nói chuyện này có lẽ là vì người ta còn trẻ, nhưng thực ra đâu phải, người bốn mươi, năm mươi tuổi mà cũng ngồi không yên. Bởi vì họ nghe không hiểu, với không tới, nghe câu nào cũng thấy đúng, nhưng một khi nghe đến lời không hợp với quan niệm của mình thì trong lòng không tiếp nhận được, bắt đầu lung lay, thì thầm với nhau, chẳng có chút dáng vẻ nào của người bình thường. Ta đành phải nhẫn nại mà giảng, giảng biết bao nhiêu năm, giảng từng chút một về đủ mọi vấn đề, và giúp cho người ta có được chút nhập môn. Mặc dù hiện nay rất nhiều người chưa có quá nhiều sự thể nghiệm và lĩnh hội về lối vào sự sống, rất nhiều lúc chẳng có lối vào sự sống, nhưng ít nhất họ có một cảm nhận, là cảm nhận gì? Họ có hứng thú với lẽ thật và có ý thức về lẽ thật, trong lòng có chút thiện cảm đối với lẽ thật, có chút khái niệm về lẽ thật và những điều tích cực, có chút khái niệm về việc làm người và việc hành động theo nguyên tắc lẽ thật, có khái niệm về chuyện được cứu rỗi. Cho nên, khi nghe giảng đạo, họ có thể ngồi yên và nghe lọt tai. Có khái niệm về những chuyện này nghĩa là đã được những lời này và những lẽ thật này chinh phục, đã thừa nhận những lời này là lẽ thật, thừa nhận rằng điều tích cực và điều tiêu cực có sự khác biệt, thừa nhận rằng những gì Đức Chúa Trời phán và làm đều là lẽ thật, đều là để cứu rỗi con người. Ngươi thấy đấy, từ chỗ ngồi không yên đến có thể ngồi yên, có thể thừa nhận rằng lời Đức Chúa Trời là lẽ thật và việc Đức Chúa Trời làm đều là sự cứu rỗi, một bước ngoặt lớn như vậy phải mất bao nhiêu năm? Ta phải nói bao nhiêu lời và làm bao nhiêu công tác? Chỉ nói về công tác mà Ta làm trên con người – vạch rõ thực chất bại hoại của con người, biến đổi tư tưởng và quan điểm của con người, giải quyết tâm tính bại hoại của con người, khiến con người hiểu lẽ thật và đạt đến việc thuận phục Đức Chúa Trời, đưa con người vào quỹ đạo đúng đắn dẫn đến sự cứu rỗi – thì Ta phải nói bao nhiêu lời mới có thể đạt được kết quả? Các ngươi nói xem, nhân loại có thể làm công tác này không? Có bất kỳ người nào có địa vị làm được công tác này không? (Thưa, không ai có thể làm được.) Một mặt con người không thể làm được, mặt khác ngay cả khi người nào đó nói năng và hành động đều đúng đắn, những lời nói ra đều đúng và khiến người khác có hứng thú, nhưng nếu Đức Thánh Linh không làm công tác, thì nhiều người đến vậy nghe những lời của người này và rao truyền chúng, liệu có thể đạt được kết quả như chúng ta bây giờ không? (Thưa, không đạt được, không thể làm cảm động lòng người.) Lời Đức Chúa Trời và Thần của Đức Chúa Trời song hành làm công tác này. Đức Chúa Trời nhập thể phối hợp với Thần của Đức Chúa Trời mà phán lời và công tác. Đồng thời Thần của Đức Chúa Trời cũng phối hợp với những lời mà Đức Chúa Trời nhập thể bày tỏ để hướng dẫn và khai sáng con người trong cuộc sống thường nhật. Hai phương diện này kết hợp lại thì đạt được kết quả như hiện tại và kết quả sẽ đạt được sau này. Các ngươi nói xem, địa vị của Đức Chúa Trời nhập thể, con người bình thường này, chỉ đơn thuần là một địa vị thôi sao? Không phải. Địa vị này của Ngài không phải là một chức vị, không phải là cái mà nhân loại gọi là biểu tượng của hình tượng vĩ đại hay quyền lực, mà là gì? (Thưa, là biểu tượng cho thực chất của Đức Chúa Trời.) Địa vị của Ngài là biểu tượng cho chuyện Ngài có lẽ thật, đường đi và sự sống. Các ngươi nói xem, trong số những con người bại hoại có địa vị, có ai có sự phối hợp của Đức Chúa Trời trên trời khi làm việc hay không? (Thưa, không có.) Cho nên, địa vị của Đức Chúa Trời nhập thể không phải là địa vị theo nghĩa đơn giản, mà là biểu tượng của thân phận, thực chất và sự sống của Đức Chúa Trời. Ta nói lời này có ý gì? Ý là cách ngươi đối đãi với Đức Chúa Trời nhập thể thì không nên giống như cách ngươi đối đãi với bất kỳ người nào có địa vị trên thế gian. Khi đối đãi với người có địa vị trên thế gian, ngươi vận dụng triết lý xử thế để qua lại với họ, phải cúi đầu khom lưng với họ, phải quan sát sắc mặt và thăm dò ý tứ của họ, còn phải nói lời ngon ngọt để chiều lòng họ, không được nói thật, cũng không được để lộ tài năng, không được lấn át hào quang của họ, v.v., nếu không họ sẽ chèn ép ngươi, trừng trị ngươi. Còn khi ngươi giao tiếp và qua lại với Đức Chúa Trời nhập thể, điều ngươi nên tuân thủ chính là giao tiếp và qua lại theo nguyên tắc lẽ thật. Nếu ngươi giao tiếp và qua lại với Ngài theo nguyên tắc lẽ thật, có thể đối đãi với Ngài một cách đúng đắn, ngay cả khi ngươi không xem trọng địa vị của Ngài, không coi trọng Ngài, không sùng bái Ngài, không ngưỡng vọng Ngài, cũng không bợ đỡ, a dua, nịnh hót, thì Ngài vẫn sẽ đối đãi với ngươi một cách đúng đắn, phải vậy không? (Thưa, phải.) Ngoài miệng thì các ngươi nói “phải”, nhưng các ngươi thực sự có thể đạt đến việc đối đãi với Đức Chúa Trời nhập thể theo nguyên tắc lẽ thật không? (Thưa, con cảm thấy hiện tại vẫn chưa đạt được, chỉ có thể cố gắng vươn tới.) Ngươi phải cố gắng vươn tới, điều chính yếu nhất là phải mưu cầu lẽ thật, tìm kiếm nguyên tắc lẽ thật trong mọi chuyện, thì từng bước ngươi sẽ đạt được. Ngươi chú trọng vào lẽ thật, thì ngươi sẽ cảm thấy Đức Chúa Trời nhập thể tuy có địa vị đặc biệt này, nhưng Ngài hoàn toàn khác với những người có địa vị giữa nhân loại bại hoại. Khi ngươi nhận ra được điểm này, khi ngươi thừa nhận Ngài là Đấng có thực chất thần tính và có thân phận của Đức Chúa Trời, thì ngươi sẽ đối đãi với Ngài theo nguyên tắc lẽ thật. Trong lòng ngươi sẽ có sự yêu kính và sự tôn trọng dành cho Ngài, sẽ đối đãi chân thành với Ngài, đồng thời ngươi sẽ đứng ở địa vị của loài thọ tạo mà nghe lời và thuận phục. Ngươi sẽ có nguyện vọng như vậy, có biểu hiện như vậy. Nếu không nhận biết được điểm này, ngươi sẽ luôn ngẫm nghĩ: “Xem đi, người có địa vị trong xã hội có phong thái như vậy kìa, đi đến đâu cũng có người tiền hô hậu ủng. Họ có trình độ học vấn, nói chuyện lại tao nhã, tướng mạo, ăn mặc và trang điểm thì có khí chất và thần thái, dáng đi cũng tao nhã, nhìn một cái là biết không phải người thường. Hơn nữa, xem sự sắp xếp của họ đi, cuộc sống và công việc đều có trợ lý riêng, ăn uống thì có đội ngũ đầu bếp riêng, viết bài thì có đội ngũ thư ký riêng, bàn bạc chuyện lớn gì thì có ban tham mưu và đoàn cố vấn. Ra ngoài thì họ còn có tài xế riêng, đi máy bay thì có cơ trưởng riêng, đi đến đâu cũng ở khách sạn hạng sao, đều hưởng đãi ngộ tiêu chuẩn cao. Đức Chúa Trời có địa vị, tại sao lại không có những đãi ngộ này? Nếu Ngài có những đãi ngộ này thì chẳng phải chúng ta là những người đi theo Ngài cũng được nở mày nở mặt sao? Đến quốc gia nào cũng có người trải thảm đỏ, đến nơi nào cũng có rất nhiều người xếp hàng nghênh đón, như vậy chẳng phải rất vẻ vang sao!”. Khi có nhận thức về Đức Chúa Trời rồi, thì ngươi sẽ không có những yêu cầu, những ý nghĩ này nữa.

Mặc dù Đức Chúa Trời nhập thể sống giữa nhân loại bại hoại, nhưng Ngài không phải là một thành viên trong nhân loại bại hoại, cho nên đối với những thứ gọi là thân phận và địa vị này, Ngài không có nhu cầu như nhân loại bại hoại. Tại sao Ngài không có nhu cầu như nhân loại bại hoại? Bởi vì Ngài không có chung quan điểm với nhân loại bại hoại về địa vị và về cái gọi là giá trị bản thân. Ngài không bị gia công hay bị làm bại hoại giống như nhân loại bại hoại, trong Ngài không tồn tại những tư tưởng và quan điểm của nhân loại bại hoại về cấp bậc và việc hưởng thụ địa vị. Cho nên, đối với địa vị và giá trị bản thân, riêng cá nhân Ta, thì trong lòng Ta không có những thứ này. Trong lòng Ta chỉ có một điều là thích ở cùng người ta như người một nhà, nói về những chuyện trong cuộc sống và công việc, nói về đủ loại khó khăn của con người. Ta không thích cái gì hoành tráng, càng không thích cái gọi là tao nhã. Chuyện này, Ta đã nói với các ngươi mấy lần rồi, có lẽ các ngươi cũng đã nhớ: Trong cuộc sống cá nhân, Ta không có người giúp việc riêng, trợ lý riêng hay thư ký riêng, Ta không có những thứ này. Ngươi xem những nhân vật cao cấp trong xã hội đi, bên cạnh họ có người chuyên giặt quần áo, có người chuyên nấu ăn, làm bánh ngọt, còn có tài xế riêng, mọi chuyện trong cuộc sống, họ đều không cần tự mình lo liệu, đều có người chuyên chăm nom cho, nhân vật ở cấp càng cao thì được bố trí càng nhiều thứ hỗ trợ. Chỉ một thị trưởng, tỉnh trưởng bình thường mà cũng có dinh thị trưởng, dinh tỉnh trưởng, càng lên cao thì càng khỏi phải nói. Đức Chúa Trời nhập thể có dinh thự không? (Thưa, không có.) Vậy Ta có yêu cầu hội thánh bố trí dinh thự cho Ta không? (Thưa, không.) Ta không yêu cầu hội thánh bố trí dinh thự gì cho Ta, cũng không yêu cầu bố trí người tùy tùng, bảo vệ, càng không có bất kỳ yêu cầu nào khác. Chỉ có một chuyện là những người trong nhóm văn tự lấy bài giảng và mối thông công của Ta mà chỉnh sửa câu chữ cho trôi chảy, sắp xếp thành văn bản rồi gửi đi. Như vậy thì họ cũng được xem là nhân viên chuyên trách trong công tác, nhưng đó là họ làm bổn phận, không phải làm việc gì đó cho cá nhân Ta, đây là công tác của hội thánh. Vậy Ta có từng phiền đến các ngươi lo chuyện riêng của ta không? (Thưa, không.) Giặt quần áo, nấu ăn, dọn phòng, cả đi lại cá nhân, những chuyện này Ta có từng phiền đến các ngươi không? Ta có từng yêu cầu hội thánh bố trí người giúp việc riêng hay trợ lý riêng cho Ta không? Ta chưa bao giờ có những yêu cầu này. Ngươi nói xem, không được bố trí những thứ này thì Ta có khổ não không? Ta có đau lòng không? Ta có phải trách móc các ngươi và nói các ngươi chẳng có lương tâm không? Ta chưa bao giờ trách móc các ngươi vì những chuyện này, càng chưa từng đưa ra yêu cầu gì với các ngươi. Chuyện ăn, mặc, ở, đi lại của Ta, thì Ta tự mình lo liệu. Bình thường thì Ta mặc trang phục thường ngày, khi nhóm họp thì mặc một bộ lễ phục, đơn giản hết mức có thể. Quần áo của Ta rất ít khi mang đi giặt khô, về cơ bản đều giặt tay, giặt máy. Ta nuôi chó cũng không nuôi giống chó nổi tiếng gì. Đa số mọi người nhìn những người nổi tiếng và người có địa vị trên thế giới ăn gì, mặc gì, dùng gì thì đều chạy theo và bắt chước. Ngươi thấy Ta có giống họ không? Có người thấy minh tinh nuôi giống chó gì thì cũng muốn nuôi một con giống vậy. Người ngoại đạo đều có quan điểm như thế, nuôi chó mà cũng chạy theo trào lưu, phải nuôi chó có tiếng, chính là giống chó mà người nổi tiếng từng nuôi. Chó Ta nuôi chỉ là chó bình thường, chỉ cần con chó có tính cách tốt, có tình có nghĩa, nghe lời, hiểu chuyện, hòa hợp với con người và không tham hưởng an nhàn là được. Một số người nói: “Ngài nuôi một con chó thuộc giống nổi tiếng, chẳng phải là chuyện quá dễ dàng sao?”. Đúng là rất dễ, nhưng Ta không thích. Người nổi tiếng mặc gì, dùng gì, Ta chưa bao giờ hỏi thăm, cũng chẳng bỏ công sức tìm hiểu. Ta không giống một số người, một khi có địa vị thì cảm thấy: “Mình cũng là người nổi tiếng rồi. Người nổi tiếng ăn gì, mặc gì, dùng gì, ra ngoài ngồi xe gì, thì mình cũng phải bắt chước, không thể để bị tụt hậu”. Ta thì chưa bao giờ bỏ công sức vào những chuyện này. Ta có phải người nổi tiếng hay không, thì Ta không biết, cũng không quan tâm. Đằng nào trong cuộc sống thường nhật, công việc, các khoản chi dùng và mọi phương diện khác, Ta làm chuyện gì cũng có nguyên tắc của Ta, nhu cầu của Ta, phạm vi lựa chọn của Ta và tiêu chuẩn của Ta. Tiêu chuẩn này rất thông thường, rất đơn giản, cứ bình thường là được. Chỉ cần chuyện trang phục và trang điểm, ăn, mặc, ở, đi lại của Ta khiến người ta nhìn vào thì có thể tôn trọng, ít nhất trông Ta giống một người đoan trang đứng đắn, vậy là được rồi, chỉ đơn giản thế thôi. Còn chuyện họ nhìn cách ăn mặc, trang điểm và tướng mạo của Ta rồi, thì có coi trọng Ta hay không và Ta có địa vị thế nào trong lòng họ, thì đối với Ta đều không quan trọng. Các ngươi thấy Ta có yêu cầu quá mức nào về phương diện địa vị không? (Thưa, không có.) Chuyện này các ngươi nghĩ không tới, cũng nhìn không thấu. Tóm lại, Ta chỉ yêu cầu các ngươi tin những lời Ta nói, vậy là được rồi. Ngươi có thể tin cũng đã là chuyện rất khó rồi. Trong đầu ngươi chứa những gì, ngươi suy nghĩ thế nào, thì tự ngươi biết. Ngươi có thể tin những lời Ta nói, có thể tiếp nhận chúng như lẽ thật và sự thật đã là chuyện rất khó rồi. Chuyện này phải được xây dựng trên cơ sở gì? Trên cơ sở tin tưởng, phải vậy không? (Thưa, phải.) Đối với địa vị thì Ta có tư tưởng và quan điểm như vậy, có những biểu hiện như vậy. Mặc dù Ta không có những tiêu chuẩn lợi lộc đi kèm với địa vị mà con người coi trọng hoặc yêu cầu, nhưng nó hoàn toàn không ảnh hưởng đến việc Ta làm công tác, cũng không ảnh hưởng đến việc Ta thực hiện trách nhiệm đối với các ngươi. Ta cũng chưa bao giờ vì địa vị mà tô đẹp cho bản thân để khiến các ngươi coi trọng Ta. Kết quả là cho đến hiện tại, các ngươi nghe giảng vẫn khá tốt, nhìn biểu hiện hiện tại của các ngươi thì Ta thấy các ngươi đều đang phát triển theo hướng tốt. Cho nên, mưu cầu địa vị, hình tượng, và những thứ đi kèm với địa vị thì vô ích cả. Chỉ có lẽ thật mới có thể chinh phục con người và chỉ có lẽ thật mới có thể thay đổi con người. Lời Đức Chúa Trời có thể thay đổi nhân loại, cũng có thể tạo dựng hết thảy. Một mặt, đây là kết quả đạt được nhờ uy lực và thẩm quyền của lời Đức Chúa Trời, mặt khác đây cũng là kết quả đạt được nhờ Thần của Đức Chúa Trời làm công tác. Con người chẳng có gì để khoe khoang, là lời Đức Chúa Trời tốt, lẽ thật tốt, công tác của Đức Chúa Trời và việc mà Thần của Đức Chúa Trời làm trên con người quá tốt. Đức Chúa Trời làm công tác như vậy và có thể đạt được kết quả này trên con người, thì chẳng phải các ngươi có thể thấy được câu “lời Đức Chúa Trời là sự cứu rỗi đối với con người” là chân thực sao? (Thưa, phải.) Đức Chúa Trời là thành tín, lời Ngài chưa bao giờ không thành, và Đức Chúa Trời còn toàn năng – bất kể Đức Chúa Trời nhập thể bề ngoài nhỏ bé đến mức nào hay sức lực yếu ớt đến đâu thì cũng không quan trọng, chúng đều không thể ảnh hưởng đến việc Ngài bày tỏ lẽ thật, cũng không thể ảnh hưởng đến kết quả lời Ngài đạt được trên con người. Mặc dù Đức Chúa Trời nhập thể bề ngoài trông rất nhỏ bé, bình thường và thực tế, bị người ta coi thường, thậm chí người ta cũng có thể nảy sinh quan niệm và ý thù địch với Ngài bất kỳ lúc nào, nhưng bởi vì Ngài có thực chất của Đức Chúa Trời và sự sống của Đức Chúa Trời, nên lẽ thật Ngài bày tỏ đủ để chinh phục con người. Cuối cùng, Ngài cũng có thể đưa con người đến trước mặt Đức Chúa Trời, khiến con người thoát khỏi tâm tính bại hoại để có thể được Đức Chúa Trời thu phục, hoàn thành kế hoạch quản lý sáu nghìn năm của Đức Chúa Trời và kết thúc kế hoạch quản lý sáu nghìn năm của Đức Chúa Trời. Cho nên, những thứ địa vị, hình tượng, v.v., liên quan đến Đức Chúa Trời nhập thể đều không quan trọng. Điều gì mới quan trọng? (Thưa, Đức Chúa Trời nhập thể có thực chất của Đức Chúa Trời, Ngài chính là lẽ thật, đường đi và sự sống, Ngài có thể bày tỏ lời Đức Chúa Trời.) Điều quan trọng là Đức Chúa Trời nhập thể này không chỉ có địa vị của Đức Chúa Trời, mà Ngài còn có thân phận và thực chất của Đức Chúa Trời. Ngài có thể bày tỏ lời Đức Chúa Trời, lời Ngài có thể chinh phục con người, cứu rỗi con người và hoàn thiện con người, khiến con người hoàn toàn được Đức Chúa Trời thu phục. Đây mới là điều quan trọng nhất.

Thông công những chủ đề liên quan đến Đức Chúa Trời nhập thể có giúp ích cho con người trong việc nhận biết Đức Chúa Trời không? (Thưa, có.) Bất kể Ta thông công với các ngươi về chủ đề nào, bao gồm đủ mọi chủ đề về Đức Chúa Trời nhập thể, cũng không phải là để các ngươi ngưỡng vọng và sùng bái Ta, sau đó ép các ngươi tiếp nhận sự tể trị và khống chế của Đức Chúa Trời, kìm kẹp các ngươi và khiến các ngươi nghe lời Đức Chúa Trời. Các ngươi phải hiểu thái độ của Ta đối với các ngươi. Ta cung ứng cho các ngươi phương diện lẽ thật nào thì cũng thông công rõ ràng về lẽ thật phương diện đó, để các ngươi có thể nghe hiểu, sau đó tự mình suy ngẫm và trải nghiệm. Những người sẵn lòng tiếp nhận lẽ thật và yêu thích những điều tích cực thì sẽ thử tiếp nhận những quan điểm và câu nói mà Ta thông công này từng chút một, sau đó dựa theo những lời này mà thực hành để giải quyết những khó khăn, vấn đề trong cuộc sống của mình. Nếu là người không sẵn lòng tiếp nhận lẽ thật và những điều tích cực, chỉ cảm thấy trong lòng rằng những lời này hay, nhưng chẳng bao giờ thực hành, mà chỉ để chúng trong đầu như một loại lý luận là xong, đối với những người như vậy, chúng ta cũng không định tội. Tại sao không định tội? Bởi vì con người có quyền lựa chọn con đường mình đi, một mặt là vậy. Mặt khác, cũng có khả năng có một số người hiện giờ thực sự còn nhỏ tuổi, có vóc giạc nhỏ và nền tảng nông cạn, họ phải trải qua sự tinh luyện và hoạn nạn lớn, trải qua một số khổ nạn lớn trong đời, thì mới có sự suy xét về những điều tích cực và cuộc đời. Có một số người có lẽ không phải vì còn trẻ, mà là vì những chuyện họ trải nghiệm chưa đủ nhiều, nên họ vẫn chưa tỉnh ngộ. Họ không có chút khái niệm nào về những điều tích cực và điều tiêu cực, về chuyện mưu cầu lẽ thật và được cứu rỗi. Nói cách khác là tâm trí họ vẫn chưa được mở ra, họ không biết mục đích và ý nghĩa của việc tin Đức Chúa Trời. Họ chỉ cho rằng tin Đức Chúa Trời là một nghi thức tôn giáo, cho rằng tin Đức Chúa Trời là tốt, tin Đức Chúa Trời nghĩa là làm người tốt và không làm việc xấu, còn có thể có đích đến và kết cục tốt đẹp, chỉ đơn giản như vậy mà thôi. Cho nên họ chẳng có khái niệm gì về việc mưu cầu lẽ thật, về những điều tích cực và tiêu cực. Có lẽ một số trong những người này sau khi trải qua một số chuyện đặc biệt thì sẽ có bước chuyển biến, có thể tiếp nhận lẽ thật, tiếp nhận những điều tích cực và thực sự quay đầu. Còn một số khác mãi cũng chưa trải nghiệm khổ nạn lớn nào, hoặc đã trải nghiệm khổ nạn lớn nhưng vẫn đặc biệt cương ngạnh, không bao giờ thực sự quay đầu, vẫn không thể tiếp nhận lẽ thật, không thể tiếp nhận những điều tích cực, làm việc thì vẫn thích tùy theo ý mình, thích gì làm nấy và chỉ thỏa mãn dục vọng của mình. Vậy thì số người này cuối cùng sẽ không thể chuyển biến và không đạt được lẽ thật. Bất kể người ta đã trải nghiệm những gì trong thời gian tin Đức Chúa Trời, những người có thể tiếp nhận lẽ thật thì cuối cùng sẽ có thể được cứu rỗi. Còn những người không thể tiếp nhận lẽ thật thì cuối cùng cũng không bao giờ thực sự hối cải, không bao giờ thực sự tiếp nhận và thuận phục lẽ thật. Người như vậy thì tin uổng công, cuối cùng sẽ không thể được cứu rỗi. Cũng có khả năng, trong thời gian này họ có việc lành trong lúc làm bổn phận, vậy thì cuối cùng, cùng lắm họ cũng chỉ có thể được sống sót mà thôi. Về phần Ta, thái độ của Ta đối với các ngươi chính là Ta cố gắng hết sức mà thông công các phương diện lẽ thật từ nhiều khía cạnh và nhiều góc độ, bao gồm thông công lẽ thật về phương diện Đức Chúa Trời nhập thể. Nghĩa là lẽ thật về cách tiếp cận với địa vị mà chúng ta vừa nói đến cũng là để giúp các ngươi hiểu mình nên tiếp cận với địa vị như thế nào, giúp các ngươi xây dựng được tư tưởng và quan điểm đúng đắn về địa vị. Tư tưởng và quan điểm của Ta về địa vị, cùng lối sống của Ta, nảy sinh do thân phận đặc biệt này của Ta. Vậy tư tưởng và quan điểm về địa vị nảy sinh do thân phận đặc biệt này của Ta có phải là lẽ thật không? Có phải là điều tích cực không? Có phải là điều nhân loại bại hoại phải có để đạt được sự cứu rỗi không? Có phải là điều mà loài thọ tạo nên có không? (Thưa, phải.) Những nội dung Ta nói đây đã là lẽ thật và là điều tích cực, vậy bất kể Ta tiếp cận với địa vị này bằng thân phận gì, bất kể thái độ của Ta là gì, các ngươi đều nên xem những lời này là lẽ thật mà tiếp nhận. Đây là tư tưởng và quan điểm của Ta, nhưng đây là lẽ thật, các ngươi nên tiếp nhận và hấp thụ chúng, nên dựa vào quan điểm đúng đắn mà tiếp cận với địa vị. Ta nói với các ngươi những chủ đề này và thông công những nội dung này, mục đích là để khiến các ngươi hiểu một phương diện lẽ thật. Không phải Ta nói những chuyện này để phân bua, biện bạch cho bản thân, càng không phải để các ngươi biết Ta khác với người thường hoặc Ta là một người phi thường. Nếu các ngươi chỉ nhận biết rằng Đức Chúa Trời nhập thể không có sự bại hoại, Đức Chúa Trời nhập thể không phải là một thành viên bình thường của nhân loại và Ngài là một người đặc biệt, thì đây không hoàn toàn là lẽ thật mà Ta muốn các ngươi hiểu. Bất kể điều Ta thông công là về nội dung nào hay liên quan đến những trường hợp cụ thể nào, thì cuối cùng vẫn quy về việc giúp các ngươi hiểu lẽ thật. Những điều Ta cung ứng cho các ngươi và thông công với các ngươi đều liên quan đến quan điểm về cách tiếp cận với các loại sự vật. Yêu cầu của Ta đối với các ngươi chính là khiến các ngươi có thể hiểu và tiếp nhận những tư tưởng và quan điểm đúng đắn, nhận ra và vứt bỏ những tư tưởng và quan điểm không đúng đắn. Nghĩa là các ngươi phải có thể phân định điều tích cực lẫn điều tiêu cực, có thể tiếp nhận điều tích cực và buông bỏ điều tiêu cực. Vậy từ những chủ đề Ta đã thông công về cách tiếp cận với địa vị, các ngươi thấy tư tưởng và quan điểm, nguyên tắc và phương thức của Ta đối với địa vị có phải là điều tích cực không? Có hợp với lẽ thật không? Có phải là nguyên tắc lẽ thật mà các ngươi nên tuân theo không? (Thưa, phải.) Nếu các ngươi nghe hiểu rồi, thì Ta nói những lời này không uổng công. Tư tưởng và quan điểm của người ngoại đạo về địa vị là gì? Có chỗ nào hợp với lẽ thật, hợp với nhân tính không? Thực chất tư tưởng và quan điểm của họ về địa vị là gì? Có phải chúng đê tiện và tà ác không? (Thưa, phải.) Những tư tưởng và quan điểm này đều ích kỷ, đê tiện và tà ác, đều là thứ làm bại hoại và hủy hoại đối với mỗi một người. Bất kể ngươi có địa vị giữa tập thể hay không, nếu điều ngươi tiếp nhận là những tư tưởng và quan điểm sai lầm này, thì ngay cả khi có địa vị, ngươi cũng là một trong số những người bị hại, ngay cả khi ngươi là người hưởng lợi ích sẵn có, ngươi cũng là một trong số những người bị hại, và ngay cả khi ngươi là giai cấp thống trị, ngươi cũng là một trong số những người bị hại. Một trong số những người bị hại nghĩa là gì? Nghĩa là ngươi cũng là một trong số những người bị các tư tưởng và quan điểm này cùng trào lưu tà ác này làm bại hoại và hủy hoại. Bởi vì điều ngươi tiếp nhận là những tư tưởng và quan điểm sai lầm, tà ác, bởi vì ngươi không chỉ tiếp nhận mà còn vận dụng dạng tư tưởng và quan điểm này, vậy ngươi chính là một trong số những người bị hại. Vậy làm thế nào để thoát khỏi sự bại hoại và hủy hoại này, để không bị nó làm hại thêm? Chỉ có một cách, đó là tiếp nhận những tư tưởng và quan điểm đúng đắn. Tư tưởng và quan điểm đúng đắn nào? Chính là tư tưởng và quan điểm về cách tiếp cận đúng đắn với địa vị: không bị địa vị khống chế hoặc trói buộc, không lợi dụng địa vị để mưu cầu tư lợi, không lợi dụng địa vị để hủy hoại và làm bại hoại người khác, bóc lột người khác, không cưỡng ép người khác làm bất kỳ chuyện gì. Có địa vị rồi thì khi làm bất kỳ chuyện gì, ngươi cũng có thể tìm kiếm nguyên tắc lẽ thật, có thể buông bỏ lợi ích cá nhân, thậm chí có thể chống lại và từ chối những lợi thế và điều kiện vượt trội mà địa vị mang lại cho ngươi, không hưởng thụ lợi ích của địa vị, mà thay vào đó, có thể thực hiện trách nhiệm và làm tròn trách nhiệm nên làm theo địa vị của ngươi. Tuy nội dung trong câu này không nhiều, nhưng để nhân loại bại hoại thực hành được chúng thì không phải là chuyện dễ dàng. Khi chưa có địa vị, ngươi cảm thấy “không hưởng thụ lợi ích của địa vị” chỉ là chuyện nói ra là làm được và dễ dàng làm được. Nhưng khi ngươi có địa vị, thì “không hưởng thụ lợi ích của địa vị” không còn là chuyện nói ra là làm được. Thay vào đó, nó cần ngươi từ bỏ, cần ngươi chống lại, cần ngươi buông bỏ, cần ngươi thực hành theo nguyên tắc thực hành đúng đắn, đối đãi công bằng với mỗi một người, tiếp cận một cách công bằng và khách quan với mỗi một chuyện. Khi ngươi cần thực hành như vậy thì sẽ liên quan đến lợi ích của ngươi. Khi chưa có địa vị thì ngươi nói: “Tôi không hưởng thụ lợi ích của địa vị; Tôi không sẵn lòng hưởng thụ lợi ích của địa vị”, lời này ai cũng nói được. Nhưng khi ngươi có thể hưởng thụ lợi ích của địa vị, thì việc buông bỏ lợi ích của địa vị và chỉ tìm cách làm tốt bổn phận để báo đáp tình yêu của Đức Chúa Trời sẽ không đơn giản như vậy nữa, phải không nào? (Thưa, phải.) Chuyện này thì phải xem ngươi có yêu thích lẽ thật hay không, có thể chống lại xác thịt hay không.

Điều chúng ta vừa thông công liên quan đến chủ đề về cách Đức Chúa Trời nhập thể tiếp cận với địa vị. Đã thông công xong về cách nhìn nhận địa vị, giờ chúng ta thông công về cách nhìn nhận chuyện chịu khổ, đây là một chủ đề mà người ta thường nhắc đến. Cách nhìn nhận chuyện chịu khổ liên quan đến tư tưởng và quan điểm, cũng liên quan đến nguyên tắc thực hành của người ta. Con người nhìn nhận chuyện chịu khổ như thế nào? Chịu khổ là chuyện mà người ta thường xuyên tiếp xúc và trải nghiệm trong cuộc sống hoặc trong quá trình tin Đức Chúa Trời, cũng là một chủ đề thường xuyên được bàn luận. Đa số mọi người sẽ liên hệ chuyện chịu khổ với vốn liếng, thân phận, địa vị và đích đến tương lai của mình. Cho nên, đa số mọi người khi chịu khổ đều có một số suy nghĩ, đều rất đặt nặng chuyện chịu khổ. Nhất là chuyện họ đã chịu những nỗi khổ gì, chịu dạng khổ nào, chịu khổ trong bao lâu, được bao nhiêu người biết đến, bao nhiêu người nhìn thấy và bao nhiêu người công nhận họ đã chịu nỗi khổ này – đây đều là những chủ đề mà người ta rất quan tâm. Ngoài ra, làm thế nào vận dụng chuyện chịu khổ này để có được địa vị trong lòng người, làm thế nào vận dụng chuyện chịu khổ này để có được những thứ mình muốn như lợi ích, danh tiếng, địa vị, sự coi trọng của người khác, thể diện và sự vẻ vang, thậm chí họ thông qua chuyện chịu khổ để kiếm thiện cảm, sự công nhận, chấp thuận và ghi nhớ của nhà Đức Chúa Trời hoặc của Đức Chúa Trời, đây cũng là những điều mà người ta chú trọng trong lòng. Do đó, trong lòng người ta, chịu khổ là một chủ đề có trọng lượng hơn cả việc thực hành lẽ thật. Vậy rốt cuộc nhìn nhận chuyện chịu khổ như thế nào thì mới là đúng đắn và hợp nguyên tắc lẽ thật? Ta nhìn nhận chuyện chịu khổ này như thế nào? Những năm qua, khi thông công với các ngươi, cũng như lúc tiếp xúc với các ngươi thường ngày, Ta có từng nói Ta đã chịu những nỗi khổ gì, chịu khổ trong bao lâu, mục đích và ý nghĩa của chuyện chịu khổ là gì, cảm nhận của Ta sau khi chịu khổ là gì, hay không? Trong ấn tượng của các ngươi, Ta có từng nói về những chủ đề này không? Trong những ghi chép bằng văn bản, trong bản ghi âm bài giảng, hoặc trong những lời các ngươi từng nghe, có ghi lại gì về những chuyện này không? (Thưa, trong ấn tượng chúng con thì không có.) Trước đây Ta nghe nói các ngươi truyền nhau rằng có một năm vào dịp Tết, Ta không có chỗ nào để đi, không nhà không cửa, các anh chị em đều không tiếp đãi Ta, sau đó Ta phải lang thang ngoài đường, nói rằng Ta đã chịu cái khổ này. Có chuyện này sao? (Thưa, trong những lần giảng đạo trước đây, Đức Chúa Trời có nói Ngài chưa từng trải qua chuyện này, đây là do người ta rêu rao.) Chuyện này chính Ta cũng không biết, chuyện Ta chưa từng trải qua thì sao Ta có thể biết được chứ? Ta đã đính chính chuyện này, đúng không? Chuyện này vốn dĩ không tồn tại. Trong ấn tượng của các ngươi, về cơ bản Ta không nói đến chuyện chịu khổ gì, phải vậy không? (Thưa, phải.) Đối với chuyện chịu khổ, đa số mọi người đều cho rằng chịu khổ là một việc thực hành rất tốt để có được vốn liếng, có được sự coi trọng và thiện cảm của người khác, là một việc thực hành cơ bản nhất trong chuyện tin Đức Chúa Trời. Bất kể người ta nhìn nhận như thế nào, các ngươi hãy nghe xem tư tưởng và quan điểm của Ta đối với chuyện chịu khổ là gì.

Chuyện chịu khổ được chia thành vài loại. Thường gặp nhất là chuyện người ta chịu một số cái khổ để bảo vệ địa vị và danh tiếng giữa mọi người, để có được tiền đồ và đích đến tốt đẹp. Những cái khổ này bao gồm thức khuya dậy sớm để làm bổn phận, không ăn đồ ngon, không mặc đồ đẹp. Còn có người từ bỏ gia đình và sự nghiệp để đi rao truyền phúc âm và làm bổn phận. Họ chẳng những bị chính phủ bắt bớ và bách hại, mà người nhà của họ cũng không hiểu, thậm chí còn bức bách và ngăn cản họ. Có người bị người phối ngẫu dọa ly hôn, có người bị người thân đồn đại, vu khống và bịa đặt. Họ đều chịu rất nhiều cái khổ. Nhưng để có được tiền đồ và đích đến tốt đẹp, để giữ được địa vị và danh tiếng của mình, bất kể chịu bao nhiêu cái khổ, bất kể nỗi khổ lớn đến đâu, họ vẫn làm công tác như thường, trước sau vẫn không từ bỏ. Tóm lại, loại người này chịu khổ là vì địa vị và danh tiếng, vì tiền đồ và đích đến. Họ bôn ba bên ngoài lâu ngày, chịu ánh mắt lạnh nhạt, sự bài xích và thiếu thông hiểu của người khác, chịu rất nhiều cái khổ mà người bình thường không chịu. Các ngươi nói xem, chịu khổ vì địa vị và danh tiếng hoặc tiền đồ và đích đến thì có giá trị gì không? (Thưa, không có giá trị.) Đức Chúa Trời có ghi nhớ không? (Thưa, Đức Chúa Trời không ghi nhớ.) Mục đích duy nhất của họ khi chịu khổ chính là để lãnh đạo, người làm công và các anh chị em có thể coi trọng và khâm phục họ, để lần bầu cử sau có thể tiếp tục bầu họ làm lãnh đạo. Họ xem chịu khổ là mục tiêu mưu cầu của mình. Để giữ địa vị thì cái khổ nào họ cũng chịu được. Họ từ bỏ tiền đồ và công việc ngoài thế gian, thậm chí rời bỏ môi trường sống vượt trội, và chịu rất nhiều cái khổ. Loại người này chịu những cái khổ này rồi, thì đi đâu cũng khoe khoang, khi nhóm họp hoặc khi tỉa sửa người khác thì thường xuyên thông công về chuyện mình đã chịu khổ như thế nào. Mục đích của họ khi làm như vậy rất đơn giản, chính là để bảo vệ thể diện, địa vị và lòng hư vinh của mình. Như vậy thì chuyện chịu khổ của họ chẳng có giá trị gì, họ chịu những cái khổ này mà chẳng đạt đến việc nhận biết bản thân, càng không đạt đến việc thực hành lẽ thật. Dạng chịu khổ này thì không đáng nhắc đến. Có những người chịu khổ vì địa vị và danh tiếng, tiền đồ và đích đến. Để bảo vệ địa vị và danh tiếng của mình thì họ cực nhọc thế nào cũng được, để được phúc thì cái khổ nào họ cũng chịu được. Nhưng họ chưa bao giờ đứng ra làm chút công tác nào hoặc nói một câu nào để bảo vệ công tác của nhà Đức Chúa Trời, bảo vệ lợi ích của nhà Đức Chúa Trời và bảo vệ lợi ích của các anh chị em. Ngay cả khi không phải chịu khổ thì họ cũng không làm được như vậy, chỉ cần nói một câu thì họ cũng không làm được. Cho nên, những cái khổ mà loại người này chịu đều uổng công và không được Đức Chúa Trời khen ngợi. Loại người này hoàn toàn là người Pha-ri-si giả hình, là kẻ mê hoặc người khác và bị Đức Chúa Trời ghét bỏ. Vì địa vị của mình, họ có thể dậy sớm thức khuya để làm bổn phận, có thể chịu khổ chịu nhọc, ngày ngày làm việc dài giờ cũng không nghỉ, thậm chí làm quanh năm không nghỉ. Họ chỉ bôn ba bận rộn vì địa vị của mình, mọi lời họ nói đều là để bảo vệ địa vị, thể diện, danh tiếng của mình. Còn đối với những ai làm chuyện thực sự vi phạm sự sắp xếp công tác của nhà Đức Chúa Trời, thì họ chẳng bao giờ chỉ trích, càng không ngăn cản. Cho nên chuyện chịu khổ của họ hoàn toàn là vì danh tiếng, địa vị và lợi ích cá nhân, như vậy thì chẳng những không được Đức Chúa Trời ghi nhớ mà còn bị Ngài định tội. Nhất là họ lấy chuyện chịu khổ làm vốn liếng mà thường xuyên giáo huấn người khác, thường xuyên mặc cả với Đức Chúa Trời, mong Đức Chúa Trời nhìn thấy họ chịu khổ và đánh giá tốt về họ. Họ còn thường xuyên thử thách Đức Chúa Trời, xem Ngài có hài lòng với chuyện chịu khổ của họ không, xem họ chịu những cái khổ này thì có thể được phúc không. Cho nên xét về tính chất thì chuyện chịu khổ của loại người này chẳng những không được ghi nhớ mà còn bị định tội, chẳng những không phải việc lành mà còn là việc ác. Loại người này thường xuyên khoe khoang rằng mình vì làm công tác của hội thánh và làm bổn phận mà đã đi bao nhiêu chặng đường và chịu bao nhiêu cái khổ, mắc bệnh nặng đến mức nào và đã uống bao nhiêu thuốc men. Lúc uống thuốc, họ còn thường xuyên uống trước mặt anh chị em, để anh chị em nhìn thấy họ đang uống thuốc. Họ tìm mọi cách để thêm nhiều người biết họ đã làm bao nhiêu công tác, chịu bao nhiêu cái khổ và trả giá chừng nào, biết rằng họ mệt đến sinh bệnh nên mới phải uống thuốc. Họ làm vậy để người ta coi trọng họ, khâm phục họ và sùng bái họ. Loại người này có đáng ghê tởm không? (Thưa, đáng ghê tởm.) Cho nên chuyện chịu khổ của loại người này chẳng đáng một xu, thật khiến người ta buồn nôn. Thậm chí trong số những người này, có một số đông chẳng làm được công tác thực tế nào, chỉ làm những việc bề ngoài để tạo hình tượng giả cho người khác thấy. Họ không bao giờ nói một câu nào đắc tội với người khác, không bao giờ làm một việc nào đắc tội với người khác. Hễ liên quan đến việc bảo vệ công tác của hội thánh thì họ không nói câu nào, không làm chút công tác nào. Khi gặp người gây gián đoạn và nhiễu loạn công tác của hội thánh thì họ không đối đãi theo nguyên tắc mà lại hành động theo tình cảm. Nếu họ thấy người mình không thích đã gây gián đoạn và nhiễu loạn công tác, thì họ có thể nói đôi lời và làm chút việc, để nhân cơ hội này mà thể hiện bản thân và tích lũy vốn liếng, rồi đến thời điểm thì kể công đòi thưởng. Còn nếu người gây gián đoạn và nhiễu loạn công tác lại là người họ thích hoặc người ủng hộ họ, thì họ chẳng những không vạch trần hay ngăn chặn, mà còn chiều theo, che chở, bao che và nói một cách mỹ miều rằng “Họ có vóc giạc nhỏ, phải nhẫn nại và nâng đỡ họ chứ”. Thực ra họ làm vậy là để bảo vệ địa vị của mình và cố không đắc tội với ai. Như vậy mà họ còn muốn dựa vào chuyện chịu khổ để khiến người khác coi trọng mình, dựa vào chuyện chịu khổ để bảo vệ địa vị của mình. Có người bình thường luôn giả vờ mình rất bận, lúc ăn cơm thì cố ý dùng nước trắng chan cơm hoặc nhúng màn thầu, ăn chút dưa muối, ăn xong liền đi nhóm họp, khiến các anh chị em thấy họ rất giỏi chịu khổ. Họ mặc quần áo thì luôn mặc đúng một bộ, bẩn cũng không giặt, còn nói với người khác: “Anh xem, tôi bận đến mức ngay cả thời gian ăn cơm, giặt quần áo cũng không có!”. Có người khi làm bổn phận thì nói chuyện phiếm với người khác, giết thời gian, còn giả vờ như đang nhóm họp và thông công với người ta. Trông như họ làm bổn phận bận rộn từ sáng đến tối, thậm chí đến buổi tối đáng lẽ phải nghỉ ngơi, thì họ còn gục trước máy tính mà ngủ, để người khác thấy họ chịu khổ và trả giá đến mức nào khi làm bổn phận. Họ thường xuyên đầu bù tóc rối, thậm chí thời gian dài không thay và giặt quần áo, không tắm rửa, chỉ để người khác biết họ chịu khổ đến mức nào, có thể trả giá đến mức nào. Các ngươi nói xem, chịu những cái khổ này có giá trị gì chứ? Chẳng phải đều là giả vờ sao? (Thưa, phải.) Một số công tác của nhà Đức Chúa Trời có bận rộn một chút, nhưng cũng không đến mức phải đầu bù tóc rối, không còn ra hình tượng con người chứ? Một số hội thánh có điều kiện sinh hoạt tương đối kém, nhưng cũng không đến mức ngày nào cũng chỉ ăn màn thầu với dưa muối chứ? Có lẽ một số nơi cá biệt thì có tình trạng này, nhưng không thể nào đa số mọi nơi đều như vậy. Công tác của nhà Đức Chúa Trời có bận rộn đến đâu thì ít nhất các ngươi cũng phải duy trì tám tiếng ngủ nghỉ, không đến mức ngay cả tám tiếng để ngủ cũng không có chứ? Ngoại trừ trong trường hợp đặc biệt phải bớt giờ ngủ một hai ngày thì không nói. Ở Trung Quốc đại lục, có một số dân được Đức Chúa Trời chọn vì tránh sự bắt bớ và bách hại của chính quyền Sa-tan mà phải chạy trốn. Có lúc họ ngủ nghỉ trong hang núi, trong đống rơm, trong chuồng ngựa, đó là trường hợp đặc biệt. Sau khi ra nước ngoài, nếu người ta cố ý tạo ra một số “môi trường gian khổ”, cố ý rèn luyện chịu khổ, thì họ chẳng phải là thầy tu khổ hạnh sao? Tại sao Ta nói là thầy tu khổ hạnh? Bởi vì đây hoàn toàn là do người ta cố ý chịu một số cái khổ, giữ một số quy định và kỷ luật thân thể, rồi cảm thấy bản thân có biến đổi. Sau đó, họ đi khoe khoang trước mặt người khác rằng mình đã chịu bao nhiêu cái khổ, mong sẽ làm cảm động trời đất, cảm động chúng sinh, từ đó mưu cầu danh tiếng và lợi ích, đạt được đích đến tốt đẹp mà mình muốn. Con đường này, ngươi đi không thông đâu. Khi quy định kết cục của con người, Đức Chúa Trời không bao giờ nhìn vào chuyện người ta đã chịu bao nhiêu cái khổ, hay chuyện họ đã chịu cực nhọc và có công lớn, cũng không bao giờ nhìn vào tuổi đời lớn nhỏ. Đức Chúa Trời dựa vào điều gì mà quy định kết cục của người ta? Dựa vào chuyện người ta có lẽ thật hay không. Nếu ngươi chỉ chú trọng chịu khổ mà không đạt được lẽ thật, thì ngươi chịu thêm bao nhiêu cái khổ cũng đều uổng công. Ngươi chịu khổ mà không có nguyên tắc, còn tự mình tạo ra gian khổ và cố ý chịu khổ, vậy thì ngươi mang số khổ rồi, ngươi chịu khổ thì chẳng đáng được thương xót, đó là tự ngươi chuốc lấy thôi. Đức Chúa Trời không bảo con người chịu khổ, Đức Chúa Trời phán xét và hành phạt người ta, thử luyện và tinh luyện người ta, không phải để khiến người ta chịu khổ, mà là để cứu rỗi người ta khỏi tâm tính bại hoại. Nhiều cái khổ mà người ta chịu đều là do tâm tính bại hoại gây ra, chứ Đức Chúa Trời chưa bao giờ có ý khiến con người chịu khổ.

Vì nhân loại, Đức Chúa Trời sáng tạo trời đất vạn vật – mặt trời, mặt trăng, các vì sao, ánh sáng mặt trời, không khí, đất đai, nước, bốn mùa, còn có đủ loại vật chất cần thiết cho nhân loại sinh tồn và sinh sống, có đồ ăn, thức uống, đồ dùng, những thứ để nhìn ngắm, các loại sinh vật trong bốn mùa đều có đủ, phải vậy không? Lương thực, rau củ, trái cây, các loại hạt, thứ kết trên cây, thứ mọc dưới đất, đủ loại vật chất muôn màu muôn vẻ phong phú dồi dào, với đủ loại mùi vị, đủ loại màu sắc, thứ gì cũng có. Đức Chúa Trời muốn con người hưởng thụ sự cung ứng đến từ Ngài, sự cung ứng con người nhận được từ Đức Chúa Trời thì phong phú dồi dào và con người nhờ đó được nuôi dưỡng đủ đầy. Ngươi thấy đấy, những gì loài thọ tạo nhận được từ Đấng Tạo Hóa thì phong phú dồi dào, lấy mãi không hết, dùng mãi không cạn. Đức Chúa Trời cam tâm tình nguyện để con người hưởng thụ mọi điều này, và loài thọ tạo thì đương nhiên nên hưởng thụ mọi sự cung ứng này từ Đấng Tạo Hóa. Điều mà loài thọ tạo hưởng thụ từ Đức Chúa Trời là phúc lành, không phải gian khổ. Ý ban đầu Đức Chúa Trời khi tạo dựng nhân loại không phải là để con người chịu khổ, mà là để con người được hưởng thụ sự cung ứng đến từ Đức Chúa Trời trong quá trình trải nghiệm cuộc đời. Các loại vật sống và các loài sinh vật mà Đức Chúa Trời tạo dựng đều có đủ, không thiếu thứ gì. Điều này bao gồm cả những thứ để nghe – ngươi xem đi, đến cả tiếng chim hót, tiếng dế kêu mà Đức Chúa Trời cũng nghĩ đến cho con người. Nghĩa là Đức Chúa Trời nghĩ đến mọi thứ làm cho thế giới tinh thần của con người được thỏa mãn, được an ủi, được thanh tĩnh. Những thứ Đức Chúa Trời chuẩn bị cho loài thọ tạo đều có đủ. Loài thọ tạo hưởng thụ mọi thứ Đức Chúa Trời ban cho, đó chính là hưởng phúc. Những người giống như thầy tu khổ hạnh thì cho rằng Đức Chúa Trời muốn con người chịu khổ, chứ không cho con người hưởng phúc, có điều kiện cũng không cho con người hưởng thụ, chỉ để con người chịu khổ thôi, con người khổ đến chết, mệt đến chết thì Đức Chúa Trời mới vui vẻ, mới hài lòng và đạt được mục đích của Ngài. Ngươi nói xem, chẳng phải loại người này có ý xấu sao? Đây chẳng phải là xuyên tạc tâm ý của Đức Chúa Trời sao? (Thưa, phải.) Ý nghĩ này từ đâu mà có? Chẳng phải từ Sa-tan sao? (Thưa, phải.) Đức Chúa Trời tạo dựng vạn vật, nhưng Sa-tan lại không thừa nhận. Nó không biết quản lý, không biết giữ gìn vạn vật, nó không muốn để mọi sinh vật này tiếp tục sinh tồn. Do đó, nó chà đạp và phá hoại, khiến con người không thể hưởng thụ mọi sự Đức Chúa Trời tạo dựng. Nó mê hoặc con người và làm bại hoại con người là để có được thiện cảm của con người, khiến con người sùng bái nó, coi trọng nó. Sa-tan làm theo lề lối riêng, và chuyện gì cũng chống đối Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời cho nhân loại hưởng thụ mọi sự này, còn Sa-tan lại tước đoạt quyền hưởng thụ của nhân loại, không cho nhân loại hưởng thụ, chỉ khiến con người chịu khổ. Đức Chúa Trời cho nhân loại quản lý vạn vật và hưởng thụ vạn vật, còn Sa-tan lại chà đạp vạn vật, phớt lờ sự tồn tại của vạn vật, khinh miệt sự tồn tại của vạn vật, kết tội sự tồn tại của vạn vật và cố ý khiến con người tự tìm cái khổ mà chịu. Ngươi xem quy luật Đức Chúa Trời định ra cho con người đi: Đêm xuống thì mặt trời lặn và trời tối, cơ thể con người nên được nghỉ ngơi. Sự mệt mỏi sau một ngày lao động nhờ nghỉ ngơi mà được giảm bớt, sau một đêm được dưỡng sức thì thể lực người ta được phục hồi và tinh thần sung mãn. Ngày hôm sau, mặt trời mọc, con người cũng phấn chấn, lại bắt đầu một ngày lao động. Quy luật này tốt biết bao! Có người không tuân theo quy luật này, đêm xuống và trời tối, họ mới bắt đầu làm việc, thức đến bốn, năm giờ sáng mới ngủ, họ muốn đảo lộn giờ giấc làm việc và ngủ nghỉ. Đức Chúa Trời phán rằng khi mặt trời lặn và mặt trăng mọc thì con người nên dừng một ngày lao động, từ từ bắt đầu nghỉ ngơi, phải dựa theo quy luật vận hành của mặt trời, mặt trăng, các vì sao để làm việc hoặc nghỉ ngơi, không được phá vỡ quy luật này. Những người “chịu khổ” này cứ nhất quyết đi ngược lại lẽ thường. Đến lúc nên nghỉ ngơi thì họ không ngủ, cố ý thức khuya, còn đặc biệt phấn khích, lúc người khác ngủ ngon nhất lại là lúc họ bận rộn nhất, là lúc họ chịu khổ chịu nhọc. Vậy đến giờ làm việc ban ngày thì họ còn sức lực không? Sức lực của họ còn có thể chống đỡ nổi công việc ban ngày không? (Thưa, không thể.) Họ bất đắc dĩ phải ngủ một, hai tiếng rồi thức dậy tiếp tục làm việc. Buổi sáng lúc người khác ăn cơm thì họ đang ngủ, ban ngày lúc người khác làm việc bình thường thì họ lại buồn ngủ mơ màng. Nhưng đến tối, lúc người khác nghỉ ngơi thì họ lại tỉnh táo, bắt đầu làm việc, bắt đầu bận rộn. Đây chẳng phải đảo lộn giờ giấc làm việc và ngủ nghỉ sao? Chẳng phải là bất thường sao? (Thưa, phải.) Vậy mà trong lòng họ còn khá đắc ý, cảm thấy không ai chịu khổ giỏi bằng mình, và thấy người khác đều là phàm phu tục tử. Mười hai giờ đêm, người khác muốn nghỉ ngơi, thì họ còn nói: “Mười hai giờ mà chị đã nghỉ rồi sao?”. Người ta nói: “Mười hai giờ là đã rất muộn rồi, hơn nữa sức lực cũng không còn, hiệu suất làm việc sẽ không cao, kết quả đạt được cũng sẽ không tốt. Đến lúc nên nghỉ ngơi thì phải nghỉ ngơi thôi”. Họ nói: “Mười hai giờ mà đi ngủ là quá sớm! Mười hai giờ, tôi mới bắt đầu làm việc, phải đến bốn, năm giờ sáng mới ngủ”. Đây chẳng phải là bị bệnh tâm thần sao? Họ chẳng những hành hạ bản thân mà còn kìm kẹp người khác. Người khác đến mười hai giờ đêm thì nghỉ ngơi, mà họ còn xét đoán rằng: “Chị ham hưởng sự an nhàn xác thịt, không có ý chí chịu khổ. Đức Chúa Trời giao cho chị sự ủy thác quan trọng như vậy, thì chị phải thức khuya và chịu khổ, ít nhất phải thức đến hai giờ sáng mới ngủ, như vậy mới là tận tụy với bổn phận”. Thức đến hai giờ sáng mới ngủ thì ban ngày còn sức lực để làm bổn phận sao? (Thưa, không còn.) Theo quy luật tự nhiên của cơ thể con người, hai giờ sáng mới ngủ thì phải bảy, tám giờ sáng mới dậy được, thức dậy rồi thì cơ thể mệt mỏi rã rời, đầu óc nặng nề, hai chân sưng phù và toàn thân khó chịu, ngay cả khi buổi chiều ngủ thêm một giấc thì cơ thể cũng không phục hồi cho đủ được. Lý do là vì người ta đã đi ngược lại quy luật mà Đức Chúa Trời ấn định cho con người, phải vậy không? (Thưa, phải.) Họ chẳng những tự mình chịu khổ như vậy, mà còn yêu cầu người khác cũng phải chịu khổ giống họ. Người khác không làm theo cách của họ thì họ còn tìm một căn cứ lý luận để lên án người khác. Những người hồ đồ có vóc giạc nhỏ và không có khả năng phân định thì bị họ kìm kẹp, cũng theo họ mà ép mình chịu đựng từng chút một, dần dần đến sau hai giờ sáng mới nghỉ ngơi, lại còn cảm thấy: “Có ý chí chịu khổ thật không dễ dàng gì. Phải học cách thức khuya, học cách nương cậy, học cách chống lại xác thịt, học cách đi ngược lại quy luật tự nhiên. Nếu thực sự buồn ngủ không chịu nổi thì làm theo cách ‘treo tóc lên xà, lấy dùi đâm đùi’, khiến xác thịt không ngủ được. Như vậy mới là tận tụy với sự ủy thác của Đức Chúa Trời và có ý chí chịu khổ, như vậy mới là người có thể được cứu rỗi!”. Ngươi xem, khí thế này có phải gần giống với các hòa thượng, ni cô trong chùa không? (Thưa, phải.) Giống như thầy tu khổ hạnh, chỉ biết chịu khổ, chứ trong lòng không còn chuyện hiểu lẽ thật, thực hành lẽ thật hay được cứu rỗi gì nữa rồi. Dạng người như vậy còn có thể được cứu rỗi sao? Chẳng phải họ đã phế rồi sao? (Thưa, phải.) Chuyện này do đâu mà ra? Do họ bị một dạng tư tưởng và quan điểm sai lầm tẩy não, bị một dạng tư tưởng và quan điểm sai lầm ảnh hưởng và hủy hoại. Mọi chuyện này đều là do con người không hiểu lẽ thật mà ra, do họ bị những tư tưởng và quan điểm sai lầm khổ hại sâu sắc, không thể thực hành theo nguyên tắc lẽ thật. Vậy rốt cuộc là người khác mê hoặc và làm bại hoại ngươi, hay Sa-tan mê hoặc và làm bại hoại ngươi? Tóm lại, những tư tưởng và quan điểm sai lầm mà người ta tiếp nhận đều đến từ Sa-tan, không phải đến từ Đức Chúa Trời, đều là điều tiêu cực, không phải là lẽ thật. Bề ngoài dường như ngươi tiếp nhận một dạng tư tưởng và quan điểm đến từ con người, nhưng trên thực tế, tư tưởng và quan điểm này không đến từ Đức Chúa Trời, mà đến từ Sa-tan. Nhìn bề ngoài thì người khác đang nói chuyện với ngươi, nhưng trên thực tế, Sa-tan đang tiêm nhiễm quan điểm này vào ngươi. Chẳng phải những quan điểm mà Sa-tan tiêm nhiễm vào con người cũng được tuyên truyền thông qua con người sao? Ngươi không hiểu lẽ thật, không thể giữ vững nguyên tắc lẽ thật, thì cuối cùng ngươi sẽ bị mê hoặc. Sau khi bị mê hoặc, ngươi giống như thầy tu khổ hạnh, mỗi ngày chỉ biết chịu khổ và giữ quy định, còn cho rằng mình đang thực hành lẽ thật, cuối cùng chịu hình phạt mà chết, chẳng đạt được gì cả. Ngươi thấy chịu khổ như vậy có đáng không? (Thưa, không đáng.) Chịu khổ xong thì cuối cùng người ta đi về đâu? (Thưa, xuống địa ngục.) Xuống địa ngục và đến chỗ Sa-tan báo danh. Đức Chúa Trời có muốn ngươi không? (Thưa, không muốn.) Người ta chịu nhiều cái khổ như vậy, tự cho rằng mình tận tụy với Đức Chúa Trời như vậy, cuối cùng tại sao lại đến chỗ Sa-tan báo danh? Tại sao Đức Chúa Trời không muốn họ? Như vậy có đáng tiếc không? (Thưa, không đáng tiếc.) Người tin Đức Chúa Trời mà chỉ chú trọng giữ quy định và chịu khổ, chỉ mưu cầu được phúc mà không mưu cầu lẽ thật, không thể thuận phục Đức Chúa Trời, cứ sống theo tâm tính Sa-tan và vẫn thuộc về Sa-tan, thì họ có chịu khổ nhiều đến đâu cũng không thể được cứu rỗi. Mọi chuyện này đều do con đường mà người ta tự đi quyết định.

Có người thấy một người nào đó có ý chí chịu khổ lớn, bất kể cái khổ mà người đó chịu có ý nghĩa hay không, thì họ đều đặc biệt khao khát trở thành người có thể chịu khổ, đặc biệt khao khát trở thành loại người có thể kỷ luật xác thịt, chống lại xác thịt và chống lại những dục vọng xa xỉ của xác thịt. Họ đặc biệt ngưỡng mộ người có thể chịu khổ. Loại người mà họ khao khát dường như không thuộc về thế giới này và sống trong chân không, chẳng có dục vọng hay dã tâm của con người, cũng chẳng có sở thích hay hứng thú cá nhân, thậm chí không có lựa chọn cá nhân, cái gì cũng không có, vô dục vô cầu. Trong lòng họ đặc biệt ngưỡng mộ loại người này, nói rằng: “Sao người ta lại không có lòng ích kỷ vậy? Sao người ta lại không có ý thích cá nhân hay dục vọng gì, và có thể chịu khổ đến vậy? Sao mình lại không thể chịu khổ? Con người mình bị bại hoại quá nghiêm trọng! Chỉ có thể nói là mình bị bại hoại sâu sắc hơn người ta”. Sau khi có dạng tư tưởng và quan điểm này, họ bắt đầu phát động cuộc tấn công vào chính mình: Đói muốn ăn cơm thì kiềm chế không ăn, khát muốn uống nước thì kiềm chế không uống, đến lúc nên ngủ thì nhất định không ngủ, muốn làm chuyện gì thì nhất định không làm, không muốn làm chuyện gì thì lại nhất định phải làm, họ cứ đi ngược lại lẽ thường. Đối với những nhu cầu, những việc nên làm được, những trách nhiệm và nghĩa vụ nên thực hiện, cả những quy luật và nguyên tắc nên tuân thủ trong cuộc sống của nhân tính bình thường, thì họ hoàn toàn không để ý, còn cố ý đi ngược lại. Tệ hơn nữa, họ còn cố ý làm trái quy luật, cố ý tìm khổ mà chịu. Ví dụ, tối đến và nên nghỉ ngơi, thì họ cố chịu đựng cơn mệt mỏi chứ không ngủ. Bản thân thích ăn ngọt thì họ lại chuyên ăn đồ cay, đồ đắng. Khi làm việc thì họ chuyên chọn những việc mình không thích để làm. Họ cứ rèn luyện cho bản thân có thể khắc phục khó khăn, rèn luyện cho bản thân có thể chịu khổ, cự tuyệt và chống lại mọi thứ mình cần, mình thích, và tiếp nhận mọi thứ mình không thích, không cần. Họ cảm thấy làm như vậy chính là đang thực hành lẽ thật, chắc chắn sẽ được Đức Chúa Trời đặc biệt thích và đặc biệt chấp thuận, họ cảm thấy cái khổ mình chịu càng lớn, mình càng khó chịu và đau khổ, thì Đức Chúa Trời càng vui mừng, càng chấp thuận. Ngươi nói xem đây là dạng suy nghĩ gì, quan điểm gì vậy? Chẳng phải là cực đoan sao? (Thưa, phải.) Thậm chí, để đạt được chuyện chịu khổ và kỷ luật xác thịt, có những người cứ ngồi trước máy tính suốt, bất kể có việc để làm hay không, còn quy định cho mình mỗi ngày nhất định phải duy trì mười hai giờ làm việc, bất kể có kết quả hay không, có hiệu suất hay không. Đầu óc đã mơ màng mà họ cũng không nghỉ ngơi, thậm chí bị bệnh cũng không đi khám. Họ cảm thấy đây là đang chống lại xác thịt, và nghĩ bụng: “Không được để cái xác thịt già này được như ý, không thể để xác thịt được thoải mái, nó thoải mái rồi thì sẽ làm chuyện xấu, nên mình phải khiến nó chịu khổ. Nó chịu khổ thì sẽ biết công tác của Đức Chúa Trời khó khăn biết bao, nó chịu khổ thì có thể yên tĩnh trước mặt Đức Chúa Trời”. Đây là lô-gic gì vậy? Xem động lực của họ thì dường như họ cũng có chút ý chí và sẵn lòng thực hành lẽ thật, nhưng phương thức và cách làm này có phải hơi lệch lạc, hơi cực đoan không? (Thưa, phải.) Họ cho rằng chịu khổ đại diện cho việc thực hành lẽ thật, chịu khổ đại diện cho việc tận tụy làm bổn phận, chịu khổ đại diện cho việc làm bổn phận có hiệu suất, chịu khổ chính là nguyên tắc lẽ thật cao nhất, là việc thực hành chính xác nhất, là đang mưu cầu lẽ thật. Lĩnh hội như vậy thì quá đỗi có vấn đề rồi! Họ cho rằng chuyện người ta có thể chịu khổ hay không và chịu bao nhiêu cái khổ chính là tiêu chuẩn Đức Chúa Trời dùng để phán xét chuyện cuối cùng người ta nhận được kết cục nào, họ cho rằng đây là lẽ thật. Quan điểm này của họ có đúng không? (Thưa, không đúng.) Vậy tại sao họ vẫn giữ nó? (Thưa, vì họ bị những tư tưởng và quan điểm sai lầm của Sa-tan ảnh hưởng.) Một mặt là vậy, chuyện này cũng liên quan đến sự lĩnh hội và quan niệm của người ta. Họ ăn bánh vẽ do chính mình vẽ ra, sống trong quan niệm và tưởng tượng, cho rằng chịu khổ thì có thể đổi lấy kết cục và đích đến tốt đẹp. Họ chẳng bao giờ tìm kiếm lẽ thật trong chuyện này, chẳng bao giờ tìm kiếm xem Đức Chúa Trời nhìn nhận chuyện chịu khổ như thế nào, tiêu chuẩn mà Đức Chúa Trời yêu cầu con người là gì, ý nghĩa trong chuyện Đức Chúa Trời khiến con người chịu khổ là gì. Họ cũng chẳng bao giờ phản tỉnh xem: “Mình chịu khổ như vậy thì có hợp nguyên tắc lẽ thật không? Chịu khổ như vậy có phải là yêu cầu của Đức Chúa Trời đặt ra cho con người không? Chịu khổ như vậy có thể đạt đến kết quả Đức Chúa Trời muốn đạt được khi công tác trên con người không? Người ta chịu những cái khổ này thì có thể đạt đến việc hiểu lẽ thật và hiểu tâm ý của Đức Chúa Trời không? Nếu không đạt được thì chứng tỏ con đường này không đúng, nên quay đầu thôi”. Loại người này chịu khổ là do tư tưởng và quan điểm của họ có vấn đề. Họ có rất nhiều quan niệm và tưởng tượng của con người về chuyện chịu khổ. Ngoài ra chuyện này còn liên quan đến dã tâm và việc mưu cầu của con người. Có những người muốn dựa vào chuyện chịu khổ để đổi lấy đích đến tốt đẹp, có những người muốn dựa vào chuyện chịu khổ để khoe khoang bản thân và khiến người khác coi trọng, có những người muốn dựa vào chuyện chịu khổ để chứng tỏ bản thân đã kỷ luật xác thịt và có thực tế lẽ thật, đạt đến mục đích là lấy chuyện chịu khổ thay thế cho việc thực hành lẽ thật. Có người như vậy là vì ý định và dã tâm của họ có vấn đề, có người như vậy là vì sự lĩnh hội họ có vấn đề. Bất kể là vấn đề về mặt nào, nếu không đạt đến việc hiểu lẽ thật thì cái khổ ngươi chịu chẳng có giá trị gì cả. Một mặt khác nữa, nếu cái khổ mà người ta chịu là cái khổ do tự họ tạo ra, vậy thì chịu cái khổ này căn bản chẳng có ý nghĩa gì. Cái khổ này không phải do Đức Chúa Trời sắp đặt cho ngươi, cũng không phải là cái khổ mà một người bình thường như ngươi nhất định phải chịu để mưu cầu lẽ thật. Vậy thì cái khổ ngươi chịu căn bản chẳng có ý nghĩa gì. Chịu khổ vì đích đến hoặc vì địa vị là chuyện không nên, là uổng công vô ích, chẳng có chút ý nghĩa nào, cũng không được Đức Chúa Trời khen ngợi hay ghi nhớ. Vậy phải chịu khổ vì điều gì mới có ý nghĩa? Chịu khổ để thực hành lẽ thật, chịu khổ để biến đổi tâm tính, chịu khổ để được cứu rỗi, như vậy thì có ý nghĩa và là cái khổ mà ngươi nhất định phải chịu. Nếu ngươi chịu khổ để bảo vệ địa vị, để thỏa mãn quan niệm và tưởng tượng của con người, thì cái khổ ngươi chịu này chẳng có chút ý nghĩa nào cả, nó là thứ thừa thãi. Thừa thãi nghĩa là gì? Nghĩa là vẽ vời thêm chuyện. Ngươi đi chệch đường rồi, con đường ngươi đi không đúng. Ngươi chịu khổ nhiều hơn nữa, trả giá nhiều hơn nữa, thì Đức Chúa Trời căn bản sẽ không ghi nhớ, Đức Chúa Trời không khen ngợi chuyện đó. Bởi vì chuyện chịu khổ của ngươi không liên quan đến việc thực hành lẽ thật, không liên quan đến chuyện được cứu rỗi, không liên quan đến việc thuận phục Đức Chúa Trời, cho nên Đức Chúa Trời căn bản chẳng để ý đến nó. Đã hiểu chưa? (Thưa, đã hiểu.) Đây chính là dạng chịu khổ vô giá trị và vô nghĩa nhất.

Còn một dạng chịu khổ nữa, là thứ do con người có tâm tính bại hoại mà ra. Đời sống và sự mưu cầu của người ta, cùng con đường người ta đi, đều chịu sự chi phối của tâm tính bại hoại. Người ta có tâm tính bại hoại thì có sự phản nghịch và chống đối, người ta có tâm tính bại hoại thì vẫn sống dưới quyền thế của Sa-tan. Muốn thoát khỏi tâm tính bại hoại và đạt được sự cứu rỗi thì người ta cần tiếp nhận sự phán xét và hình phạt của Đức Chúa Trời, còn phải trải nghiệm rất nhiều sự tỉa sửa và sửa dạy, cùng những sự thử luyện và tinh luyện do Đức Chúa Trời sắp đặt, thậm chí có người còn phải trải nghiệm một số hoạn nạn lớn. Những chuyện này đều là để người ta đạt được lẽ thật, thoát khỏi tâm tính Sa-tan, và cuối cùng đạt được sự cứu rỗi, đây là quá trình tất yếu để người ta đạt được sự cứu rỗi. Muốn thoát khỏi tâm tính bại hoại để đạt được sự cứu rỗi, thì mỗi một người trong nhân loại bại hoại đều phải chịu nhiều cái khổ: Một mặt, khi làm bổn phận mà bộc lộ tâm tính bại hoại thì phải tiếp nhận sự phán xét và hình phạt, tiếp nhận sự tỉa sửa, thử luyện và tinh luyện, đây là cái khổ nhất định phải chịu. Mặt khác, để làm tốt bổn phận, người ta phải khắc phục một số khiếm khuyết cá nhân và những thiếu sót trong điều kiện của bản thân, cần học một số kiến thức nghiệp vụ, chuyện này cũng cần người ta chịu khổ và trả giá. Nhất là khi làm bổn phận trong hoàn cảnh nguy hiểm, điều kiện sinh hoạt cũng không tốt, trong trường hợp này, người ta cũng phải chịu một số cái khổ. Ngoài ra, khi làm bổn phận mà sống theo tâm tính Sa-tan, hành động theo ý riêng, thậm chí còn có thể làm ra một số chuyện gây gián đoạn và nhiễu loạn, thì người ta cần phản tỉnh bản thân mỗi ngày, tiếp nhận sự phán xét và hình phạt của lời Đức Chúa Trời, còn phải chịu một số cái khổ của sự sửa phạt, sửa dạy và tinh luyện, hoặc cái khổ của chuyện bị tỏ lộ, cách chức và đào thải. Những cái khổ này đều là điều mà người ta nhất định phải chịu. Không chịu những cái khổ này thì cuối cùng ngươi sẽ rất khó thoát khỏi tâm tính bại hoại và đạt được sự cứu rỗi. Bất kể là sự vạch rõ và phán xét của lời Đức Chúa Trời, hay sự tỉa sửa của các anh chị em, hay sự thử luyện và tinh luyện từ hoàn cảnh do Đức Chúa Trời sắp đặt, thì chúng đều là những cái khổ người ta phải chịu. Chúng là quá trình mà mỗi một người trong nhân loại bại hoại phải trải nghiệm để đạt được sự cứu rỗi, chúng đều có ý nghĩa, có giá trị. Mục đích chịu những cái khổ này là để cuối cùng bản thân ngươi có thể đạt được sự cứu rỗi và được Đức Chúa Trời thu phục. Chuyện này căn bản không phải là vốn liếng gì, bởi vì ngươi đâu có chịu cái khổ này vì người khác. Ngươi làm bổn phận là vì bản thân mình, ngươi thực hành lẽ thật cũng là vì bản thân mình, ngươi tiêu hao bản thân vì Đức Chúa Trời và chịu đủ loại khổ đều là vì bản thân mình. Ngoài ra, ngươi thực hành lẽ thật để giải quyết tâm tính bại hoại của mình, chống lại dã tâm và dục vọng của mình, buông bỏ những sở thích và yêu cầu khác nhau của mình, v.v., tất cả đều là để cuối cùng bản thân ngươi có thể đạt được sự cứu rỗi, có thể đạt đến việc thuận phục Đức Chúa Trời và trở thành một người thờ phượng Đức Chúa Trời. Ngươi chịu những cái khổ này là để cuối cùng bản thân có thể sống sót và trở thành một thành viên trong nhân loại mới, tuy như vậy cũng có giá trị nhưng lại không phải là sự cống hiến dành cho Đức Chúa Trời. Tại sao Ta nói đó không phải là sự cống hiến? Bởi vì cái khổ ngươi chịu không phải là vốn liếng gì, đó hoàn toàn là vì bản thân ngươi. Giống như chuyện ăn cơm uống nước vậy, ngươi ăn cơm uống nước chỉ là để bản thân có thể sống sót. Mọi hoạt động ngươi tiến hành trong đời sống đều là để duy trì cuộc sống và sự sinh tồn của xác thịt mình, đâu phải vì người khác, chỉ vì bản thân ngươi thôi. Cho nên ngay cả khi ngươi đã chịu rất nhiều cái khổ, ngay cả khi ngươi đã trải nghiệm một số quá trình gian nan, thì đây cũng không phải là vốn liếng gì, không đáng được nhắc đến, đây là điều mà ngươi nên chịu. Ngươi không thể nói: “Tôi ăn cơm là vì Đức Chúa Trời, tôi sống là vì Đức Chúa Trời!”. Ngươi đâu có làm vậy vì Đức Chúa Trời, ngươi làm vậy vì bản thân ngươi. Chuyện này chẳng có gì để khoe khoang cả. Cho nên, có những người luôn nói rằng vì tin Đức Chúa Trời và làm bổn phận mà mình đã từ bỏ công việc, từ bỏ việc học, hoặc đã chịu bao nhiêu sự tỉa sửa, đã thầm khóc bao nhiêu nước mắt, thầm chịu bao nhiêu cái khổ. Họ luôn nhắc đến những chuyện này, cho rằng rất nhiều cái khổ mà mình đã chịu để làm bổn phận và được cứu rỗi chính là vốn liếng. Nghĩ vậy là sai lầm lớn rồi. Để đạt được sự cứu rỗi thì nhân loại bại hoại nên chịu khổ, ngươi chịu khổ là chuyện nên làm. Tại sao là chuyện nên làm? Bởi vì ngươi đã bị Sa-tan làm bại hoại sâu sắc, ngươi có tâm tính bại hoại, ngươi có bản tính Sa-tan, mà ngươi muốn đạt được sự cứu rỗi, có thể tiếp nhận lẽ thật, đạt đến việc nhận biết mình bị làm bại hoại quá sâu sắc, thì ngươi phải chịu nhiều đau khổ mới có thể đạt được. Nhất là khi muốn thoát khỏi tâm tính bại hoại, thì ngươi còn phải chịu nhiều đau khổ hơn nữa. Giống như phụ nữ sinh con vậy, nhất định phải trải qua cơn đau sinh nở, phải chịu đựng nỗi khổ sinh nở, ngươi muốn trốn tránh cũng không trốn tránh được. Ngươi chịu khổ để đạt được sự cứu rỗi, đó là ngươi làm vì bản thân, ngươi đâu thể nói mình chịu đau khổ vì Đức Chúa Trời. Ngươi chịu sự phán xét và hình phạt, chịu sự tỉa sửa, thử luyện và tinh luyện đều là để bản thân ngươi được cứu rỗi. Đây là cái khổ ngươi nên chịu, ngươi chịu cái khổ này là một quá trình tất yếu. Cho nên, ngươi đừng khoe với người ta mình đã chịu bao nhiêu cái khổ để làm bổn phận, đã chịu bao nhiêu cái khổ để được cứu rỗi, đã làm bao nhiêu công tác cho nhà Đức Chúa Trời, đã bôn ba bao nhiêu nẻo đường vì Đức Chúa Trời, đã đưa về được bao nhiêu người khi rao truyền phúc âm. Đây đều không phải vốn liếng, ngươi tuyệt đối đừng lấy chúng mà kể công. Ngươi không biết mình đã đạt được lẽ thật hay chưa, cũng không biết tâm tính mình đã biến đổi hay chưa, vậy mà còn luôn kể công, đây là biểu hiện không có lý trí. Nếu ngươi muốn kể công, thì ngay giờ Đức Chúa Trời có thể ban cho ngươi gấp trăm lần, cho đời sống vật chất của ngươi được dư dật, xác thịt ngươi được an nhàn, cho ngươi hưởng thụ vinh hoa phú quý của thế gian. Nhưng nếu ngươi tin Đức Chúa Trời chỉ để đổi lấy những thứ này, mà không mưu cầu lẽ thật, thì ngươi sẽ không thể thoát khỏi tâm tính bại hoại, sẽ không thể được cứu rỗi. Ngươi có thể hưởng thụ đời này, nhưng Đức Chúa Trời sẽ không ban cho ngươi đời sau nữa. Tuy nhiên, nếu ngươi tin Đức Chúa Trời không phải vì sự hưởng thụ đời này, mà để đạt được sự cứu rỗi và trở thành một thành viên trong nhân loại mới, để thoát khỏi tâm tính bại hoại và trở thành một loài thọ tạo thờ phượng Đức Chúa Trời, thì cái khổ ngươi chịu là điều nên chịu, và không đáng nhắc đến. Ngươi nhắc đến nó với bất kỳ ai thì đó cũng là biểu hiện không có lý trí. Mục tiêu, giá trị và ý nghĩa của việc ngươi chịu khổ là để bản thân ngươi đạt được sự cứu rỗi, chuyện này chẳng có gì để khoe khoang cả. Chẳng phải là vậy sao? (Thưa, phải.) Có những người luôn kể chuyện sau khi tin Đức Chúa Trời thì mình đã bôn ba bao nhiêu nẻo đường, chịu bao nhiêu cái khổ, trải nghiệm bao nhiêu sự tỉa sửa, hành phạt và phán xét, họ luôn khoe khoang lịch sử chịu khổ huy hoàng của mình. Ta nói cho ngươi biết: Đây là chuyện đáng xấu hổ, khiến người ta ghê tởm, khiến người ta buồn nôn! Mọi chuyện này đều là chuyện bản thân ngươi nên làm và nên chịu, ngươi không nên biện bạch cho bản thân. Ngươi chẳng có công lao gì đối với bất kỳ ai. Ngay cả khi ngươi làm công tác của hội thánh, dẫn dắt hội thánh, nâng đỡ và giúp đỡ người khác đôi chút, thì đó cũng chỉ là việc trong phận sự của ngươi, là việc ngươi nên làm. Tại sao vậy? Một mặt, ngươi đang làm bổn phận của con người. Mặt khác, ngay cả khi ngươi nâng đỡ, giúp đỡ, cung ứng cho người khác, thì đó cũng chỉ là làm nghĩa vụ của một con người sau khi hiểu lẽ thật, để người khác nhận được lợi ích từ đó. Nhưng lẽ thật không phải của ngươi, mà là đến từ Đức Chúa Trời, ngươi chẳng qua chỉ truyền đạt và chia sẻ một chút mà thôi. Lẽ thật không phải tài sản riêng của ngươi, mà là sự sống của Đức Chúa Trời và sự cung ứng của Đức Chúa Trời. Cho nên, ngươi làm công tác của hội thánh để nâng đỡ và giúp đỡ người khác, thì đó không phải công lao, mà là nghĩa vụ và trách nhiệm. Ngươi làm tốt thì chỉ là làm tốt nghĩa vụ, có chút lương tâm và lý trí, chẳng có gì để khoe khoang cả. Ngươi làm không tốt thì nên kiểm điểm và phản tỉnh bản thân. Bất kể khi làm công tác của hội thánh, ngươi từng dẫn dắt bao nhiêu người, từng giúp bao nhiêu người nhận được sự nâng đỡ và giúp đỡ, thì trong mắt Đức Chúa Trời, đó cũng chỉ là việc lành được Đức Chúa Trời ghi nhớ, chứ ngươi chẳng có công lao gì với người khác cả. Ngay cả khi ngươi làm công tác này mà sau lưng đã trả giá rất nhiều, chịu khổ rất nhiều, ngủ ít đi rất nhiều, thậm chí có người còn mắc bệnh và chịu sự giày vò của bệnh tật, thì đây cũng không phải là công lao. Đây đều là những cái khổ mà nhân loại bại hoại nên chịu để có được lẽ thật trước khi được cứu rỗi, không có chút gì đáng để khoe khoang cả. Cho nên ngươi đừng đòi hỏi phần vinh hiển này, đừng đòi hỏi công lao này. Ta thông công lẽ thật với các ngươi nhiều năm như vậy, cung ứng cho các ngươi nhiều năm như vậy, mà Ta cũng không cảm thấy bản thân có công lao gì đối với các ngươi. Còn ngươi chỉ hiểu lẽ thật thông qua việc chịu khổ và trả giá, rồi chia sẻ cho người khác, đây mà là công lao sao? Ngay cả khi ngươi có giúp đỡ người khác được đôi chút, thì đó cũng chỉ là kết quả đạt được nhờ lời Đức Chúa Trời, nhờ lẽ thật. Nếu không có những lời và những lẽ thật mà Đức Chúa Trời bày tỏ này, thì ngươi lấy gì để giúp đỡ người khác? Điều ngươi truyền cho người khác chỉ là sự bại hoại, chỉ là quan niệm và tưởng tượng của con người, không thể nào là lẽ thật được. Lẽ thật chỉ có thể đến từ Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời là nguồn của lẽ thật, Đức Chúa Trời là nguồn cung ứng sự sống cho nhân loại. Ngươi nhận được từ Đức Chúa Trời, từ nguồn, một giọt nước, rồi chia sẻ cho người khác. Ngay cả khi nó giải được cơn khát của người khác, thì đó cũng chỉ là ngươi thực hiện trách nhiệm và nghĩa vụ của mình. Đối với người khác, đó hoàn toàn không phải là ân điển, không phải là ân huệ, không phải là ban cho, không phải là cung ứng, cùng lắm cũng chỉ là giúp đỡ mà thôi. Ngươi chỉ thực hiện trách nhiệm mà một loài thọ tạo nên thực hiện, thông qua trải nghiệm của mình mà đem lời Đức Chúa Trời và tâm ý của Đức Chúa Trời chia sẻ cho người khác, truyền đạt cho người khác, để họ nhận được từ đó sự bồi bổ và sự cung ứng. Cho nên, trong mắt Ta, mọi cái khổ mà nhân loại bại hoại chịu trong thời gian tiếp nhận lẽ thật và đạt được sự cứu rỗi đều là cái họ nên chịu. Con người có tâm tính bại hoại, đã bị Sa-tan hủy hoại và làm bại hoại, bị Sa-tan chà đạp nghiêm trọng, còn bị tiêm nhiễm và ảnh hưởng bởi đủ loại tư tưởng và quan điểm, tà thuyết và luận điệu sai lầm của Sa-tan, nên nhân loại có khó khăn trong việc tiếp nhận lẽ thật. Quá trình nhân loại tiếp nhận lẽ thật và đạt được sự cứu rỗi thì giống như một bệnh nhân mắc bệnh nặng tiếp nhận sự điều trị. Họ cần phải chịu khổ, không chịu khổ thì không thể được chữa lành. Để được cứu rỗi thì nhân loại bại hoại nhất định phải tiếp nhận lẽ thật, tiếp nhận sự phán xét và hình phạt, tiếp nhận sự thử luyện và tinh luyện. Họ phải chịu nhiều cái khổ, thì cuối cùng mới có thể lột xác và trở thành một nhân loại mới. Nếu không trải nghiệm các hoàn cảnh gian khổ khác nhau, người ta không thể nào tiếp nhận lẽ thật một cách tự nhiên và như lẽ đương nhiên. Tâm tính bại hoại của con người đã thâm căn cố đế, đã trở thành sự sống của họ. Cho nên người ta phải tiếp nhận sự tinh luyện của đủ loại gian khổ và phải chịu nhiều đau khổ thì mới có thể đạt đến việc chống lại tâm tính bại hoại, chống lại đủ loại dã tâm và dục vọng của con người, buông bỏ đủ loại tư tưởng và quan điểm sai lầm của con người, và tiếp nhận lẽ thật. Chuyện chịu khổ này đổi lấy cho con người sự cứu rỗi và việc thoát khỏi tâm tính bại hoại, đổi lấy sự thuận phục lẽ thật và sự thờ phượng thực sự đối với Đức Chúa Trời, đổi lấy sự công nhận của Đức Chúa Trời đối với con người – loài thọ tạo, cho nên chuyện chịu khổ này là có giá trị nhất. Bất kể ngươi chịu cái khổ nào để thoát khỏi tâm tính bại hoại, hãy nhớ một điều: Đây là cái khổ ngươi nên chịu, ngươi đừng đi rêu rao khắp nơi. Nếu cái khổ này là điều ngươi cam tâm tình nguyện chịu lấy, là cái khổ mà ngươi nên chịu, thì ngươi nên tiếp cận nó một cách đúng đắn và tiếp nhận nó từ Đức Chúa Trời. Ngươi nên biến nó thành thể nghiệm chân thực và trải nghiệm tốt đẹp của mình, dùng chữ viết hoặc cách rao giảng để chia sẻ cho người khác, chứ không phải mượn việc nói về trải nghiệm chịu khổ để phô trương bản thân và kiếm vốn liếng cho mình. Bất kể ngươi chịu bao nhiêu cái khổ, thì đó đều không phải vốn liếng của ngươi, cũng không phải là lý lịch thâm niên của ngươi. Đức Chúa Trời không dựa vào chuyện người ta chịu bao nhiêu cái khổ để đánh giá xem cuối cùng họ có tư cách được cứu rỗi hay không. Nhìn nhận chuyện chịu khổ như vậy thì có đúng hay không? (Thưa, đúng.)

Các ngươi nói xem, những tư tưởng và quan điểm mà người ta nên có về chuyện chịu khổ như Ta đã nói đến thì có hợp lẽ thật không? (Thưa, hợp.) Có nên nhìn nhận chuyện chịu khổ như vậy không? (Thưa, nên.) Nếu có thể nhìn nhận chuyện này như vậy, thì trong hành động, ngươi sẽ có lý tính và nhân tính, tâm tính kiêu ngạo của ngươi cũng sẽ giảm đi không ít. Trước hết, ngươi hãy tiếp nhận tư tưởng và quan điểm đúng đắn, sau đó dựa theo tư tưởng và quan điểm này mà đối chiếu với sự bại hoại của mình và giải quyết nó. Trong quá trình hành động, hãy thực hành theo nguyên tắc thực hành của tư tưởng và quan điểm này, như vậy tâm tính bại hoại của ngươi sẽ được giải quyết từ lúc nào không hay. Rất nhiều lúc, nhờ tiếp nhận một tư tưởng và quan điểm đúng đắn, trước hết là có sự thay đổi về quan điểm, sau đó thì cách hành động và sự bộc lộ tâm tính dần dần có sự thay đổi, mà người ta thoát khỏi được tâm tính bại hoại. Đối với chuyện chịu khổ này, trước hết người ta phải có một tư tưởng và quan điểm đúng đắn, xác định chịu khổ là chuyện thế nào, tại sao lại chịu khổ, mục tiêu và phương hướng chịu khổ của mình có đúng hay không. Nếu ngươi có tư tưởng và quan điểm đúng đắn về chuyện chịu khổ, và ngươi chịu cái khổ này là để thoát khỏi tâm tính bại hoại, để tuân thủ nguyên tắc lẽ thật, để tuân theo đường lối của Đức Chúa Trời, vậy thì chuyện chịu khổ này là nghĩa vụ mà một loài thọ tạo như ngươi nên thực hiện, là việc thực hành ngươi nên có, cũng là bổn phận của ngươi và là việc mà một loài thọ tạo đích thực nên làm. Đây là trách nhiệm ngươi không thể thoái thác, tức là cái khổ này là điều ngươi nên gánh vác. Giống như cha mẹ sinh con cái thì phải nuôi dạy chúng, nuôi chúng khôn lớn thành người là trách nhiệm của cha mẹ. Bất kể chịu đựng bao nhiêu đau khổ trong quá trình nuôi dạy con cái, thì đó đều là trách nhiệm mà cha mẹ nên làm tròn, chẳng có gì để khoe khoang cả. Con người nuôi dạy con cái qua từng thế hệ đều như vậy, muốn nuôi dạy con cái thì phải gánh vác phần đau khổ này, và phần đau khổ này cũng là phần trách nhiệm của họ. Người ta muốn đạt được sự cứu rỗi, đạt đến việc thực hành lẽ thật, giữ vững nguyên tắc lẽ thật và đứng vững làm chứng thì cũng phải chịu rất nhiều cái khổ. Nhưng có một điểm chắc chắn, cái khổ này tuyệt đối không phải là sự hy sinh vô ích, không phải là chịu khổ một cách vô nghĩa, mà thay vào đó, nó có ý nghĩa và giá trị. Nếu ngươi chịu khổ với mục tiêu là để làm chứng cho Đức Chúa Trời, để bảo vệ sự tồn tại của lẽ thật, bảo vệ sự tồn tại của những điều tích cực, bảo vệ sự tồn tại của sự nghiệp chính nghĩa, để giữ vững nguyên tắc lẽ thật và từ đó đứng vững làm chứng, vậy thì cái khổ ngươi chịu có giá trị và ý nghĩa. Nếu mục tiêu chịu khổ của ngươi là đúng đắn và tích cực, vậy thì cái khổ này là điều ngươi nên chịu. Nên chịu nghĩa là gì? Nghĩa là với tư cách một con người, một loài thọ tạo dưới sự thống trị của Đức Chúa Trời, ngươi nên gánh vác một phần trách nhiệm, nên thực hiện một phần nghĩa vụ, nói cho gọn thì chính là “không thể thoái thác”. “Không thể thoái thác” nghĩa là gì? Nghĩa là trong chuyện này không có sự đòi hỏi, không có giao dịch, không có công lao, mà đây đơn giản là chuyện ngươi nên làm. Giống như lúc Đức Chúa Trời giao phó cho Nô-ê đóng tàu, ông đã trả giá một trăm hai mươi năm để đóng con tàu, nhưng ông có kể công với ai không? Ông không kể công gì cả. Vậy trong một trăm hai mươi năm này, ông đã chịu bao nhiêu cái khổ khi đóng tàu? Bất kể ông chịu bao nhiêu cái khổ, trong mắt Đức Chúa Trời, đã tiếp nhận sự ủy thác này thì ông chịu cái khổ nào cũng là điều nên chịu. Bởi vì ông là con người, khi gánh vác trách nhiệm này thì đồng thời ông cũng phải tiếp nhận những đau khổ này, những đau khổ này đồng thời xuất hiện và đồng thời song hành với trách nhiệm của ông. Thân là một con người, ngươi tiếp nhận sự ủy thác của Đức Chúa Trời thì ngươi phải tiếp nhận mỗi một dạng đau khổ được bao gồm trong sự ủy thác của Đức Chúa Trời, đây là chuyện không thể thoái thác. Vậy cuối cùng cái khổ Nô-ê chịu đã đổi lấy được điều gì? Chính là ông có thể sống sót trong tàu và trở thành tổ tiên của nhân loại tiếp theo, điều ông đổi lấy chính là được sống sót. Cho nên bất kể đã chịu bao nhiêu cái khổ trong thời gian đóng tàu, ông chưa bao giờ cảm thấy đó là sự cống hiến cho nhân loại hay Đức Chúa Trời. Ông có lý tính, ông chưa bao giờ nói những lời như vậy. Ông cho rằng đây là sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời, là sự ân đãi của Đức Chúa Trời. Nhân loại ngày nay cũng nên có thái độ như vậy, ngươi cam tâm tình nguyện làm bổn phận, cam tâm tình nguyện tiếp nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời, vậy bất kể ngươi làm bổn phận gì, khi làm bổn phận đã chịu bao nhiêu cái khổ và đã trải nghiệm những gì, thì mục tiêu của ngươi là hoàn thành sự ủy thác và bổn phận mà Đấng Tạo Hóa giao cho ngươi, mục tiêu của ngươi là đạt được sự cứu rỗi, vậy có cái khổ nào là điều ngươi không nên chịu chứ? Ngươi chịu cái khổ nào cũng là một phần trách nhiệm và nghĩa vụ ngươi nên thực hiện. Nói thẳng ra, thì những cái khổ này chính là trách nhiệm và nghĩa vụ của ngươi, chẳng có gì để khoe khoang cả. Người ta luôn cảm thấy: “Mình đã chịu khổ và trả giá rồi. Mình phải tự khen mình, phải để Đức Chúa Trời biết, phải để mọi người biết, để mình có ấn tượng tốt trong lòng mọi người, có địa vị và danh tiếng cao giữa mọi người”, đây là chuyện thừa thãi, không cần thiết. Bởi vì thông qua chuyện chịu khổ, ngươi đã đạt được điều ngươi nên đạt được. Lẽ thật và sự sống mà Đức Chúa Trời ban cho ngươi là điều quý giá nhất. Không có bất kỳ danh tiếng và địa vị nào hay sự coi trọng nào của con người có thể sánh với lẽ thật mà ngươi đạt được. Ngươi đã đạt được điều quý báu nhất rồi, ngươi còn cần khoe khoang mình đã chịu khổ và trả giá để khiến người ta coi trọng nữa sao? Đâu cần thiết. Ngươi đã chịu khổ và trả giá để đạt được lẽ thật và sự cứu rỗi, thì ngươi không nên khoe khoang cái khổ mình chịu nữa. Người có lương tâm và lý tính sẽ tiếp cận đúng đắn với chuyện này. Thậm chí nếu thông qua chuyện chịu khổ mà ngươi hiểu được thêm nhiều lẽ thật và hiểu chính xác hơn về tâm ý của Đức Chúa Trời, thì ngươi sẽ cảm tạ Đức Chúa Trời vì đã sắp đặt những hoàn cảnh này cho ngươi, cảm tạ vì những cái khổ ngươi đã chịu. Ngươi sẽ nói: “May mà có những hoàn cảnh gian khổ này, may mà có những bệnh tật, chuyện không như ý, trắc trở, chuyện bị thay thế, sự tỉa sửa, phán xét và hành phạt mà Đức Chúa Trời sắp đặt. May mà có những chuyện này đồng hành với mình”. Nếu không có những hoàn cảnh gian khổ này đồng hành với ngươi, thì ngươi không thể nào có được thu hoạch như ngày hôm nay. Ngươi phải cảm tạ Đức Chúa Trời, chứ không phải coi chuyện chịu khổ là vốn liếng để kể công và trình bày với mọi người. Ngươi thấy đấy, khi có nhận thức chính xác và hợp lẽ thật về một sự vật, thì quan điểm nhìn nhận loại sự vật này của người ta sẽ chính xác, lập trường cũng đúng, và lý tính của họ cũng có thể trở lại bình thường. Căn nguyên khiến lý tính của người ta không bình thường chính là vì cách nhìn, quan điểm, lập trường và góc độ của họ đối với rất nhiều sự vật bị sai lầm và dựa trên những tư tưởng, quan điểm mà Sa-tan tiêm nhiễm cho con người. Do đó, ngươi sẽ dùng những tư tưởng và quan điểm sai lầm để đứng từ góc độ sai lầm mà nhìn nhận những chuyện này. Ngươi sẽ luôn cảm thấy mình chịu khổ là rất oan ức và uất ức, ngươi sẽ luôn muốn biện bạch, muốn tìm người kể khổ, muốn đạt được sự coi trọng giữa mọi người, rồi từ sự coi trọng của người ta mà đạt được sự thỏa mãn. Nhưng hiện nay ngươi đã nhận biết được giá trị và ý nghĩa của chuyện chịu khổ, ngươi có thể đón nhận đúng đắn những gian khổ đến từ Đức Chúa Trời, cũng không chống đối nữa. Đến khi vóc giạc lớn hơn một chút, sự sống có chút tiến bộ, thì sẽ có những người cầu nguyện giống như Phi-e-rơ, xin Đức Chúa Trời đừng để hình phạt và sự phán xét rời khỏi mình. Hiện giờ các ngươi có vóc giạc này chưa? (Thưa, hiện giờ chúng con chưa có, nhưng sẵn lòng vươn tới.) Các ngươi cứ liên tục mưu cầu vươn tới lẽ thật đi. Hiểu lẽ thật càng nhiều, thì quan điểm nhìn nhận sự vật bên trong các ngươi sẽ dần dần thay đổi và sự sống của các ngươi cũng dần dần lớn lên.

Có những người trong quá trình làm bổn phận mắc một số bệnh đặc biệt, bệnh khó chữa, thông qua việc trải nghiệm những bệnh tật này, cuối cùng họ có được thu hoạch. Bất kể bệnh này trở nặng, giữ nguyên, hay là được chữa khỏi, tóm lại, người ta trải nghiệm đau khổ này thì điều cuối cùng họ thu hoạch được chính là họ hiểu được tâm ý của Đức Chúa Trời và nhận biết đủ mọi vấn đề của bản thân. Họ không còn dùng những thái độ và cách thức sai lầm trước kia để đối đãi với Đức Chúa Trời và tiếp cận với lẽ thật nữa. Thu hoạch này là điều mà ngươi dùng bất kỳ phương thức trải nghiệm nào khác cũng không thể đổi lấy được, chỉ có chịu khổ mới có thể đổi lấy được. Đến lúc đó ngươi sẽ cảm tạ vì cơn bệnh này, nói rằng: “May mà có cơn bệnh này, không thì mình không thể nào có được thu hoạch như vậy”. Cho nên, khi ngươi thông công và chia sẻ trải nghiệm này với người khác, ngươi sẽ thông công mình đã đạt được điều gì và thu hoạch được điều gì khi trải nghiệm, cùng lẽ thật mà con người nên hiểu trong chuyện này là gì. Ngươi sẽ không chú trọng vào chuyện ngươi đã chịu những cái khổ nào, không đề cao bản thân và làm chứng rằng mình đã chịu khổ và khổ sở đến mức nào, cuối cùng làm sao có được ý chí chịu khổ. Ngươi sẽ không làm chứng và biểu dương bản thân, thay vào đó, ngươi sẽ chia sẻ trải nghiệm của mình và làm chứng cho Đức Chúa Trời. Phải lĩnh hội chuyện chịu khổ này như vậy. Chủ yếu phải xem mục tiêu chịu khổ của ngươi là gì, giá trị và ý nghĩa của chuyện ngươi chịu khổ là gì. Nhưng bất kể người ta chịu cái khổ nào và chịu bao nhiêu cái khổ, thì đó đều không phải là vốn liếng. Ngoài ra, nhân loại bại hoại sống trong xác thịt, ngay cả khi không tin Đức Chúa Trời, ngươi sống trong nhân loại này thì ngươi có phải chịu khổ để sinh tồn không? (Thưa, cũng phải chịu khổ.) Có thể nào xác thịt không phải chịu chút khổ nào không? (Thưa, không thể nào.) Người ta không tin Đức Chúa Trời thì cũng phải chịu không ít cái khổ. Mưu cầu danh lợi, mưu cầu địa vị, mưu cầu việc học, mưu cầu tiền tài, nuôi dạy con cái, v.v., trong những chuyện này, người ta đều phải chịu khổ. Có ai không chịu khổ chứ? Con người sống trong thế giới loài người này thì phải chịu khổ, chẳng qua là có những cái khổ không có giá trị. Vì sự sinh tồn, vì danh lợi mà người ta bôn ba, tranh đoạt với nhau, bài xích lẫn nhau, hãm hại lẫn nhau, cuối cùng khó khăn lắm mới giành được danh lợi và địa vị thì lại luôn lo lắng sẽ bị mất đi, để không mất địa vị, họ lại chịu thêm nhiều cái khổ, khó khăn lắm mới giữ được địa vị thì bản thân cũng mệt mỏi cả thể xác lẫn tinh thần, và kiệt quệ cảm xúc. Trên thế gian này, bất kể người giàu hay người nghèo cũng đều chịu khổ, người giàu có nỗi khổ của người giàu, người nghèo có nỗi khổ của người nghèo. Tóm lại, sống trên thế giới loài người này thì chẳng dễ dàng, ai cũng phải chịu khổ. Người tin Đức Chúa Trời thì chịu khổ về cuộc sống và chuyện sinh tồn tương đối ít hơn một chút. Bởi vì sau khi tiếp nhận lẽ thật, nhiều tư tưởng và quan điểm của họ không giống với người ngoại đạo nữa, họ có thể buông bỏ rất nhiều thứ, không làm những việc hy sinh và vật lộn vô nghĩa đó nữa, cho nên về phương diện này, họ chịu khổ tương đối ít hơn. Họ có thể đạt đến mức có ăn có mặc thì biết đủ, thời gian còn lại thì họ dành cho việc mưu cầu lẽ thật, mưu cầu sự cứu rỗi và làm bổn phận của loài thọ tạo, phải vậy không? (Thưa, phải.) Vì đời sống của xác thịt mà người ta phải chịu một số cái khổ: chịu cái khổ của lao nhọc và bệnh tật, còn có sự cám dỗ của các trào lưu tà ác khác nhau trên thế gian, sự bài xích của người khác, sự đấu đá và chém giết giữa người với người, những cái khổ này người ta đều phải chịu. Ngoài ra, có những người sống nghèo khổ, mắc bệnh cũng không có tiền chữa trị. Có rất nhiều chuyện người ta không được như ý, rất nhiều chuyện người ta đành bó tay. Nhưng những cái khổ này là điều mọi người đều đang chịu. Đằng nào cũng chịu khổ, nhưng ngươi chịu bao nhiêu cái khổ vì xác thịt thì đều đáng đời, đều là thứ ngươi nên chịu, ngươi muốn sống thì phải chịu khổ thôi. Cái khổ mà người tin Đức Chúa Trời chịu tuy về hình thức có phần tương đồng với những cái khổ mà người ngoại đạo chịu, nhưng điều cuối cùng họ đạt được là lẽ thật, là việc thờ phượng và thuận phục Đức Chúa Trời, vậy thì cái khổ họ chịu này rất có giá trị, rất có ý nghĩa. Ngươi nên cảm tạ Đức Chúa Trời đã an bài cho ngươi môi trường sống gian khổ này, giúp ngươi trong mỗi lần trải nghiệm gian khổ thì rút ra được bài học, học được cách thuận phục Đức Chúa Trời và đứng vững làm chứng, chứ không lấy đó làm vốn liếng để khoe khoang và đề cao bản thân. Loại người luôn đề cao và làm chứng cho bản thân bằng những cái khổ mình đã chịu để khiến người khác coi trọng mình, thì thật đáng xấu hổ. Người không có lý trí thì toàn làm những chuyện đáng xấu hổ. Người có lý trí mà làm chút chuyện thiếu lý trí liền cảm thấy đáng xấu hổ, sẽ biết dừng lại đúng lúc, dừng ngang đó thôi, phải vậy không? (Thưa, phải.)

Ta đã thông công rất nhiều về chuyện chịu khổ rồi, Ta thông công như vậy có giúp ích cho các ngươi không? (Thưa, có.) Giúp được những gì? (Thưa, Đức Chúa Trời thông công xong, thì con hiểu rằng những cái khổ mà xác thịt phải chịu là điều mà con người nên chịu. Ngoài ra những cái khổ khi trải nghiệm sự phán xét, hình phạt, sự tỉa sửa, hoạn nạn, sự thử luyện v.v. cũng là điều mà con người nên chịu. Vì con người có tâm tính bại hoại của Sa-tan, nếu không chịu những cái khổ này thì không thể thoát khỏi tâm tính bại hoại. Ngoài ra, vừa rồi Đức Chúa Trời nói rằng để làm bổn phận của loài thọ tạo cho tốt, thì bất kể cái khổ nào người ta chịu cũng là nghĩa vụ và trách nhiệm của con người, không nên lấy đó làm vốn liếng để kể công với Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời thông công xong, thì con cảm thấy mình có thể nhìn nhận chuyện chịu khổ một cách lý tính rồi.) Ta thông công như vậy rồi, thì những người luôn mưu cầu chịu khổ sẽ được giải phóng. Có những người luôn cảm thấy: “Mình phải chịu khổ, nếu không thì các anh chị em sẽ coi thường mình, lần sau sẽ không bầu mình làm lãnh đạo hay người làm công nữa. Mình phải biết cách biểu diễn, phải học cách chịu khổ trước mặt người khác”. Ngươi không cần biểu diễn, ngươi có thời gian biểu diễn thì chi bằng đọc thêm chút lời Đức Chúa Trời, hiểu thêm chút lẽ thật, làm tốt trách nhiệm, nghĩa vụ và bổn phận của mình, cuối cùng có thu hoạch về lẽ thật. Bất kể người khác có coi trọng ngươi hay không, thì bản thân ngươi đã có thu hoạch về lẽ thật và thoát khỏi tâm tính bại hoại rồi, cuối cùng ngươi giành cho mình cơ hội được cứu rỗi và sự chấp thuận của Đấng Tạo Hóa, đây mới là chuyện có giá trị nhất, đây là sự lựa chọn của người thông minh. Ngươi luôn biểu diễn trước mặt người khác để khiến người ta coi trọng, luôn mưu cầu nhận công đòi thưởng trước mặt người khác, làm chứng rằng mình đã chịu bao nhiêu cái khổ, chịu bao nhiêu ấm ức, đã tiêu hao bản thân vì Đức Chúa Trời như thế nào, đã trả giá bao nhiêu, đã dâng hiến bao nhiêu, thì đây là cách làm ngu xuẩn. Ngươi đã trả giá rất nhiều, dâng hiến rất nhiều và chịu rất nhiều cái khổ, thì hãy chia sẻ với người khác trải nghiệm và thu hoạch của ngươi từ việc chịu những cái khổ này và trả những cái giá này, để mọi người đạt được từ ngươi chút ích lợi và có được chút con đường thực hành. Ngươi nên trưng ra những gì mình đạt được và những thành quả mình thu hoạch được – ngươi đã hiểu tâm ý của Đức Chúa Trời về phương diện nào, phương diện lẽ thật nào đã bén rễ trong ngươi và trở thành sự sống của ngươi. Ngươi nên chia sẻ những điều này khi thông công. Anh chị em không hiểu lẽ thật về phương diện nào, không biết cách làm theo nguyên tắc lẽ thật trong chuyện nào, thì ngươi nên dựa vào đó mà thông công về trải nghiệm cá nhân để giúp đỡ và hướng dẫn họ. Đã chịu nhiều cái khổ như vậy thì chắc chắn ngươi có thu hoạch không nhỏ, vậy ngươi hãy chia sẻ thu hoạch của mình, có rất nhiều người muốn nhận được sự giúp đỡ từ ngươi. Ngươi không cần nói về quá trình chịu khổ, cũng không cần nói ngươi đã chịu bao nhiêu cái khổ, chỉ cần nói sau khi chịu khổ, ngươi đã có nhận thức về phương diện lẽ thật nào. Ngươi hãy thông qua nhận thức và thu hoạch của mình mà đưa người khác đến trước mặt Đức Chúa Trời, giải quyết mâu thuẫn giữa họ với Đức Chúa Trời, giải quyết những tư tưởng và quan điểm không đúng đắn của họ về Đức Chúa Trời. Ngươi đưa họ đến trước mặt Đức Chúa Trời chính là đưa họ vào thực tế lẽ thật. Đối với ngươi, Ta chỉ có yêu cầu này, ngươi xem mình có làm được không. Nếu ngươi làm được, thì ngươi đã làm tròn trách nhiệm và nghĩa vụ, cái khổ ngươi chịu có giá trị và ý nghĩa. Nếu ngay cả yêu cầu này mà ngươi cũng không làm được, thì ngươi hãy im miệng đi, ngươi chịu những cái khổ đó cũng vô ích. Ngươi luôn nói mình đã chịu bao nhiêu cái khổ, thì đó là ngươi đang khoe khoang bản thân, đang bộc lộ sự bại hoại, ngươi đang làm chứng cho Sa-tan, làm chứng cho tâm tính bại hoại, làm chứng cho những tư tưởng và quan điểm của Sa-tan, là ngươi đang mê hoặc người khác và gây nhiễu loạn. Nếu ngươi nói mình đã chịu rất nhiều cái khổ, đã trả giá rất nhiều, đã chịu sự phán xét, hành phạt, tỉa sửa và sửa dạy bởi lời Đức Chúa Trời, đã trải nghiệm rất nhiều đau khổ và sự thử luyện, thì ngươi hãy thông công và chia sẻ với mọi người về chuyện trong thời gian chịu khổ, ngươi đã thuận phục như thế nào, ngươi đã dùng tư tưởng, quan điểm và thái độ đúng đắn như thế nào mà tiếp cận với lời Đức Chúa Trời, đã tiếp nhận sự phán xét và hình phạt trong lời Đức Chúa Trời như thế nào, đã tìm kiếm lẽ thật như thế nào để thoát ra khỏi đau khổ và sự thử luyện. Rất nhiều người đói khát sự công chính đang chờ được nghe những điều này. Đối với cách chịu khổ, cách trả giá, cách thể hiện bản thân và làm chứng cho bản thân sau khi chịu khổ và trả giá, v.v., thì đa số mọi người không cần học cũng biết. Họ đều biết cách thể hiện bản thân, khoe khoang công lao của mình, chỉ riêng điều gì họ không hiểu? Làm thế nào là thực hành lẽ thật và hành động theo nguyên tắc lẽ thật, làm thế nào là lệch lạc, làm thế nào là thỏa mãn tâm ý của Đức Chúa Trời, làm thế nào là đi ngược lại tâm ý của Đức Chúa Trời, trong con người có những tư tưởng và quan điểm không đúng đắn nào, khi gặp chuyện và bộc lộ tâm tính bại hoại thì làm thế nào để nhận biết bản thân và mổ xẻ bản thân, làm thế nào là có sự quay đầu, làm thế nào là có sự thay đổi và tiến bộ – đa số mọi người thiếu những điều này. Xét bản tính của con người, thì thứ mà sự sống trong con người bộc lộ và sống thể hiện ra một cách tự nhiên chính là đề cao bản thân, làm chứng cho bản thân và khoe khoang bản thân để được người khác coi trọng, đây là chuyện mà người ta giỏi nhất, thành thạo nhất. Chuyện con người giỏi nhất thì không cần ngươi thông công, không cần ngươi chia sẻ. Ngươi hãy chia sẻ một chút trải nghiệm, nhận thức, thể nghiệm và lĩnh hội của mình về lời Đức Chúa Trời, đây là điều mà người ta cần. Ngươi thông công một chút về những điều người ta cần, về những chủ đề có ích cho việc thực hành, trải nghiệm và sự cứu rỗi của họ, có ích cho việc giải quyết mâu thuẫn giữa họ với Đức Chúa Trời, như vậy thì có giá trị. Ngươi nói mình đã chịu rất nhiều cái khổ, đã bỏ ra rất nhiều sức lực và tâm huyết khi chịu khổ, cũng đã có sự thuận phục, vậy thu hoạch của ngươi ở đâu? Nói ra cho mọi người nghe xem. Ngươi chia sẻ cho mọi người những nhận thức, sự thể nghiệm và lĩnh hội liên quan đến lẽ thật mà người ta cần, đó mới là chuyện được hoan nghênh nhất, là điều mà người ta cần. Đây đích thực là việc lành, đây là trách nhiệm và nghĩa vụ của ngươi. Nếu để thể hiện bản thân mà ngươi làm chứng mình đã chịu những cái khổ gì và khoe khoang vốn liếng chịu khổ của mình, từ đó có được sự coi trọng và sùng bái của người khác, thì làm vậy là xa rời tâm ý của Đức Chúa Trời. Làm vậy không phải là trách nhiệm và nghĩa vụ của ngươi, mà là biểu hiện của việc đánh mất lương tâm và lý trí. Nếu thực sự không nhịn được mà muốn khoe khoang, thì ngươi có thể nói một chút với một vài người, thỏa mãn lòng hư vinh của mình, nhưng ngươi nên biết dừng lại đúng lúc, tuyệt đối không được tuyên truyền rầm rộ ở chốn công cộng, đấy gọi là phô trương, là làm trò hề. Phô trương và làm trò hề nghĩa là gì? Nó cũng tương đương với cởi hết quần áo trước mặt mọi người cho người ta xem, ghê tởm như vậy đấy. Loại người nào làm chuyện như vậy? Chính là người mắc bệnh tâm thần, không biết xấu hổ, không có lý tính. Nếu ngươi có lý trí thì tuyệt đối đừng làm những chuyện như vậy. Chịu khổ là điều ngươi nên chịu, nhưng sau khi chịu khổ, ngươi đã có được những thu hoạch gì? Ngươi đừng giữ lại những gì mình đạt được, mà nên chia sẻ không giữ lại chút gì với mọi anh chị em đang đi theo Đức Chúa Trời và mưu cầu lẽ thật. Ngươi chia sẻ thì Đức Chúa Trời sẽ ban phúc cho ngươi, sẽ ban cho ngươi nhiều hơn nữa. Nếu ngươi không nói về những chủ đề trải nghiệm sự sống và làm chứng cho lời Đức Chúa Trời, mà luôn nói mình đã chịu khổ và trả giá như thế nào, có vốn liếng nhiều đến đâu, luôn tô vẽ bản thân trước mặt người khác, nâng cao hình tượng và mức độ nổi tiếng của mình, nói năng và hành động vì danh lợi và địa vị của mình, không biết xấu hổ mà đi khoe khoang khắp nơi, thì chẳng những Đức Chúa Trời không ban phúc cho ngươi, mà ngay cả những gì ngươi vốn có cũng sẽ bị Ngài tước đi. Bởi vì cách làm của ngươi không được Đức Chúa Trời chấp thuận và công nhận, thay vào đó lại bị Đức Chúa Trời định tội. Cho nên Ta cho các ngươi biết, tuyệt đối đừng chọn con đường này. Bất kể ngươi đã chịu bao nhiêu cái khổ, bất kể cái khổ ngươi chịu là điều nên chịu hay không nên chịu, là cái khổ ngươi tự nguyện chịu hay là bất lực và bị động mà chịu, thì ngươi tuyệt đối đừng coi chuyện chịu khổ là vốn liếng để khoe khoang. Ngươi cũng tuyệt đối đừng xem bao nhiêu cái khổ mình đã chịu là lẽ thật mà đem ra thông công với người khác để khiến người ta coi trọng ngươi, khiến người ta noi theo ý chí chịu khổ, cách thức chịu khổ hoặc thái độ đối với chuyện chịu khổ của ngươi. Tuyệt đối đừng làm như vậy, đây là đi theo con đường riêng của mình. Đức Chúa Trời chưa bao giờ nhìn vào chuyện ngươi chịu bao nhiêu cái khổ, Đức Chúa Trời chỉ xem ngươi đã chịu bao nhiêu cái khổ, bao nhiêu ấm ức và trả giá bao nhiêu vì lẽ thật, để bảo vệ chính nghĩa và bảo vệ công tác của Đức Chúa Trời, để làm tốt bổn phận của mình, để thuận phục sự an bài của Đức Chúa Trời, thuận phục lẽ thật và giữ vững nguyên tắc lẽ thật. Đức Chúa Trời xem mục đích, ý định và động cơ của ngươi khi chịu khổ là gì, chứ không xem ngươi chịu cái khổ lớn đến đâu hay chịu bao nhiêu cái khổ. Nếu mục đích chịu khổ của ngươi là để bảo vệ thể diện và tư lợi của mình, thì cái khổ ngươi chịu không đáng một xu. Nếu ngươi chịu khổ để bảo vệ lợi ích của nhà Đức Chúa Trời, thì ngay cả khi ngươi chỉ nói một câu đắc tội với người nào đó nhưng lại bảo vệ được lợi ích của nhà Đức Chúa Trời và có lợi cho công tác của hội thánh, thì một câu nói này cũng được Đức Chúa Trời ghi nhớ. Đức Chúa Trời xem câu nói này là thứ quý báu, và Ngài sẽ ban cho ngươi nhiều hơn nữa. Ngài sẽ ban cho ngươi đức tin để ngươi mạnh mẽ, để khi gặp chuyện thì ngươi không sợ kẻ ác, không sợ thế lực thù địch. Ngài sẽ khiến tâm tư ngươi sáng tỏ, khiến ngươi có nhận thức, sự thấu suốt, ánh sáng và sự khai sáng về lẽ thật. Ngươi thấy đấy, phúc lành Đức Chúa Trời ban lớn biết bao!

Những gì chúng ta vừa thông công là tư tưởng và quan điểm đúng đắn về chuyện chịu khổ. Bất kể trước đây ngươi hành động như thế nào, nhìn nhận chuyện chịu khổ ra sao, khi đã hiểu lẽ thật liên quan đến phương diện chịu khổ rồi, thì ngươi nên xoay chuyển, tiếp nhận tư tưởng và quan điểm đúng đắn, chấn chỉnh ý định và mục đích của mình, dùng tư tưởng và quan điểm đúng đắn để chỉ dẫn nguyên tắc, phương thức và phương hướng hành động của mình. Như vậy ngươi sẽ có thể đạt được lẽ thật. Nếu người ta có tâm thái không đúng, không tiếp nhận lẽ thật chút nào, chỉ luôn nói những câu chữ và đạo lý mình hiểu để khoe khoang và thể hiện bản thân hòng khiến người khác coi trọng, khi hành động thì muốn gì làm nấy, tin Đức Chúa Trời mấy năm mà không có chút thay đổi nào, thì đây chính là người không yêu thích lẽ thật và không tiếp nhận lẽ thật. Người tiếp nhận lẽ thật mà nghe được tư tưởng và quan điểm đúng đắn thì tiếp nhận vào trong lòng, khi gặp chuyện thì lấy lẽ thật làm tiêu chuẩn để đưa hành vi của mình vào khuôn khổ, sửa đổi ý định sai lầm, tư tưởng và quan điểm sai lầm của mình. Sau đó, họ dùng tư tưởng và quan điểm đúng đắn làm nguyên tắc và con đường thực hành để ràng buộc bản thân và chỉ đạo hành vi của bản thân. Cuối cùng những gì họ sống thể hiện ra và bộc lộ ra sẽ không còn là tâm tính bại hoại nữa, mà sẽ phù hợp với nguyên tắc lẽ thật. Như vậy là họ có sự biến đổi thực sự rồi. Đây chẳng phải là chuyện tốt sao? (Thưa, phải.) Người ta nên mưu cầu lẽ thật như vậy. Một khi ngươi hiểu lẽ thật rồi, thì lời Đức Chúa Trời tự nhiên sẽ làm vua và nắm quyền trong lòng ngươi, nghĩa là lời Đức Chúa Trời đã trở thành sự sống ở trong ngươi và ngươi có thể sống thể hiện ra lời Đức Chúa Trời. Khi lời Đức Chúa Trời làm chủ trong ngươi, không còn là tâm tính bại hoại làm chủ nữa, thì ngươi sẽ có lẽ thật làm sự sống và ngươi chính là người được Đức Chúa Trời yêu thích. Người được Đức Chúa Trời yêu thích thì có hạnh phúc không? (Thưa, có.) Hạnh phúc này danh chính ngôn thuận, tuy khổ mà vinh hạnh. Ngươi nếm trải gian khổ mà đạt được sự ngọt ngào. Mặc dù hạnh phúc này hiện giờ còn cách ngươi một khoảng, thậm chí là rất xa, nhưng ngươi nỗ lực mưu cầu theo phương hướng này thì sớm muộn cũng có ngày ngươi thu hoạch được niềm vui sướng này và cảm nhận được hạnh phúc này, khi đó niềm vui và hạnh phúc này sẽ không còn cách xa ngươi lắm nữa. Ngươi cứ hướng về mục tiêu này mà nỗ lực và mưu cầu, thì sớm muộn cũng có ngày lẽ thật trở thành sự sống của ngươi, và ngươi không còn chịu sự khống chế, trói buộc của tâm tính bại hoại nữa. Đến lúc đó ngươi sẽ cảm thấy: “Mình chịu khổ như vậy thật đáng! Trước đây khi chịu khổ thì mình khó chịu và khổ sở, cảm thấy chịu khổ là chuyện khó khăn, chịu một chút khổ liền cảm thấy đó là vốn liếng của mình. Bây giờ mình lại cảm thấy chịu khổ chẳng phải là vốn liếng gì, cũng chẳng đáng một xu. Bản thân có tâm tính bại hoại thì mình nên chịu khổ. Chịu một chút khổ cũng tốt, xác thịt thì nên chịu khổ. May mà có những gian khổ này đồng hành, mình mới đạt được lẽ thật, thoát khỏi sự trói buộc và khống chế của tâm tính bại hoại, sống trong vui sướng và hạnh phúc. Sau gian khổ là ngọt ngào”. Ngươi thấy đấy, ai đã nếm trải thì biết, ai đã đạt được thì biết. Đến ngày đó, cảm nhận sẽ khác đi, phải vậy không? (Thưa, phải.)

Được rồi, hôm nay chúng ta thông công đến đây thôi! Tạm biệt!

Ngày 16 tháng 11 năm 2024

Trước: Cách mưu cầu lẽ thật (31)

Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời Về việc biết Đức Chúa Trời Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt Vạch rõ kẻ địch lại Đấng Christ Chức trách của lãnh đạo và người làm công Về việc mưu cầu lẽ thật Về việc mưu cầu lẽ thật Sự phán xét khởi từ nhà Đức Chúa Trời Những lời kinh điển từ Đức Chúa Trời Toàn Năng, Đấng Christ của thời kỳ sau rốt Lời Đức Chúa Trời Hằng Ngày Các thực tế lẽ thật mà người tin Đức Chúa Trời phải bước vào Theo Chiên Con Và Hát Những Bài Ca Mới Những chỉ dẫn cho việc truyền bá phúc âm của vương quốc Chiên của Đức Chúa Trời nghe tiếng của Đức Chúa Trời Lắng nghe tiếng Đức Chúa Trời thấy được sự xuất hiện của Đức Chúa Trời Những câu hỏi và câu trả lời thiết yếu về Phúc Âm của Vương quốc Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 1) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 2) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 3) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 4) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 5) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 6) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 7) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 8) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 9) Tôi Đã Quay Về Với Đức Chúa Trời Toàn Năng Như Thế Nào

Cài đặt

  • Văn bản
  • Chủ đề

Màu Đồng nhất

Chủ đề

Phông

Kích cỡ Phông

Khoảng cách Dòng

Khoảng cách Dòng

Chiều rộng Trang

Mục lục

Tìm kiếm

  • Tìm kiếm văn bản này
  • Tìm kiếm cuốn sách này