Cách mưu cầu lẽ thật (29)

Chúng ta đã thông công về một số lẽ thật liên quan đến Đức Chúa Trời nhập thể, các ngươi cảm thấy thông công về phương diện lẽ thật này có giúp ích cho việc nhận biết Đức Chúa Trời không? (Thưa, có.) Có giúp ích thì tốt. Trước đây chúng ta đã thông công đôi chút về chủ đề này, nhưng chưa thông công cụ thể từng hạng mục một, mà là theo kiểu rải rác. Lần này, chúng ta thông công về những lẽ thật trong chủ đề Đức Chúa Trời nhập thể có liên quan đến quan niệm, thái độ, nhận thức, v.v. của con người về Đức Chúa Trời. Thông công những lẽ thật này, một mặt là để người ta có thể hiểu và nhận biết Đức Chúa Trời, có thể hiểu những lẽ thật liên quan đến thái độ và quan điểm của con người đối với Đức Chúa Trời mà người ta buộc phải nhận biết, mặt khác là vì những chủ đề này rất quan trọng. Tại sao lại quan trọng? Bởi vì Đức Chúa Trời ở trên trời thì con người nhìn không thấy, sờ không được, cũng hầu như không cảm nhận được, Đức Chúa Trời ở trên trời cách xa con người đến vậy. Nếu người ta muốn thiết lập mối quan hệ với Đức Chúa Trời thì đây là chuyện rất trống rỗng, rất mù mịt. Sự trống rỗng và mù mịt này, một mặt là vì con người đầy rẫy quan niệm và tưởng tượng về Đức Chúa Trời. Mặt khác là vì đối với sự chân thực và thực tế của Đức Chúa Trời hoặc thân phận và thực chất của Đức Chúa Trời, thì con người không hiểu chút nào, hoàn toàn sống trong quan niệm và tưởng tượng theo sự huyễn hoặc đơn phương của mình. Cho nên sau khi con người đi theo Đức Chúa Trời, mối quan hệ mà họ thiết lập với Đức Chúa Trời về cơ bản là được xây dựng trên quan niệm, tưởng tượng và sự huyễn hoặc đơn phương của họ, cũng được xây dựng trên những yêu cầu và dục vọng đủ mọi mặt của họ đối với Đức Chúa Trời. Mối quan hệ giữa con người và Đức Chúa Trời được xây dựng trên cơ sở này thì rất không ổn định, rất không vững chắc, đương nhiên cũng rất không đáng tin cậy. Một khi có một số biến động, có một số tình hình bất thường xảy ra thì mối quan hệ này rất dễ tan vỡ, cũng rất dễ bị cắt đứt. Chẳng hạn, khi người ta gặp một số chuyện không như ý, một số gian nan, trắc trở và thất bại, hay khi người ta gặp đủ loại chuyện không phù hợp với quan niệm của con người và lợi ích xác thịt của con người – khi gặp những tình huống mà trong quan niệm của con người cho rằng không nên có - thì người ta sẽ theo bản năng mà nghi ngờ Đức Chúa Trời. Người ta sẽ nghi ngờ sự tồn tại của Đức Chúa Trời, nghi ngờ phương thức Đức Chúa Trời tể trị, sắp đặt và an bài con người có đúng hay không, đương nhiên, cũng nghi ngờ Đức Chúa Trời làm như vậy có đúng hay không, nghi ngờ Đức Chúa Trời có mưu đồ nào đó hoặc có ý định không tốt đối với con người, v.v.. Tóm lại, mối quan hệ như thế này giữa con người và Đức Chúa Trời rất không ổn định, rất không vững chắc, theo cách nói của con người thì chính là rất không chắc chắn. Bởi vì mối quan hệ này giữa con người và Đức Chúa Trời được xây dựng trong quan niệm và tưởng tượng của con người, được xây dựng trên cơ sở là đủ loại yêu cầu huyễn hoặc đơn phương của con người đối với Đức Chúa Trời, cho nên, bất kể người ta cảm thấy đức tin của mình nơi Đức Chúa Trời lớn đến mức nào, quyết tâm đi theo Đức Chúa Trời của mình lớn đến mức nào, thì trong mắt Đức Chúa Trời, mối quan hệ này không được Ngài công nhận. Đương nhiên, về mặt sự thật khách quan thì nó không ổn định,có thể rạn nứt hoặc bị cắt đứt mọi lúc mọi nơi vì sự thay đổi của đủ loại hoàn cảnh và đủ loại con người, sự việc và sự vật, vì sự xuất hiện của đủ loại tình huống đặc biệt. Ngay cả khi hiểu được một số lẽ thật, vì ở trong tình trạng không hiểu rõ và không nhận biết Đức Chúa Trời, người ta vẫn sẽ nghi ngờ Ngài. Ngay cả khi không nghi ngờ sự tồn tại của Đức Chúa Trời thì họ cũng sẽ nghi ngờ Đức Chúa Trời làm vậy với con người là có mục đích gì và Ngài làm vậy có đúng hay không. Cho nên, có thể nói là mối quan hệ mà con người thiết lập với Đức Chúa Trời trong tình trạng không hiểu rõ và không nhận biết Đức Chúa Trời sẽ không chịu nổi bất kỳ sự kiểm nghiệm nào, cũng hầu như không chịu nổi sự tôi luyện của bất kỳ hoàn cảnh đặc biệt nào. Nguyên nhân dẫn đến kết quả này không phải là do sự tể trị và an bài của Đức Chúa Trời có sai sót hay sai lệch gì, cũng không phải do việc Đức Chúa Trời làm không hợp lòng người, hoặc do Ngài không nghĩ cho sự yếu đuối của con người hay đủ loại nhu cầu của con người. Mà nguyên nhân là vì nhân loại bại hoại vốn đã đầy rẫy quan niệm và tưởng tượng về Đức Chúa Trời. Vốn dĩ vì con người có tâm tính bại hoại, nên mối quan hệ này giữa con người và Đức Chúa Trời đã không được xây dựng trên cơ sở là mối quan hệ bình thường giữa loài thọ tạo và Đấng Tạo Hóa. Do đó, con người sẽ đứng trên lập trường sai lầm mà dùng quan điểm sai lầm để nhìn nhận và thiết lập mối quan hệ với Đức Chúa Trời, con người cũng dùng tư tưởng và quan điểm sai lầm cùng phương thức sai lầm để duy trì mối quan hệ này với Đức Chúa Trời. Như vậy thì mối quan hệ giữa con người và Đức Chúa Trời sẽ không bình thường, chẳng những không thể khiến con người thuận phục Đức Chúa Trời, thuận phục sự sắp đặt và an bài của Đức Chúa Trời một cách tốt hơn để đạt đến yêu cầu của Đức Chúa Trời đối với con người, ngược lại, chúng còn khiến Ngài chán ghét và có ác cảm với con người, thậm chí khiến con người mất đi cơ hội được cứu rỗi. Khi con người đi theo Đức Chúa Trời ngày càng lâu, hiểu ngày càng nhiều lẽ thật, tích lũy được một số vốn liếng, đúc kết được một số kinh nghiệm và bài học trong quá trình làm bổn phận, thì con người ngày càng cảm thấy mối quan hệ giữa mình và Đức Chúa Trời đúng đắn rồi, vững chắc rồi. Nhưng xét về nhận thức của con người đối với Đức Chúa Trời, thì trong mắt Đức Chúa Trời, mối quan hệ này giữa con người và Đức Chúa Trời vẫn không bình thường, vẫn cần được sửa đổi và kiểm nghiệm, con người vẫn cần hiểu thêm lẽ thật, cần có thêm hiểu biết và nhận thức về Đức Chúa Trời. Như vậy trong mắt Đức Chúa Trời, mối quan hệ này giữa con người và Đức Chúa Trời mới thực sự đạt tiêu chuẩn, đương nhiên chỉ có như vậy thì con người mới có thể đứng ở vị trí của loài thọ tạo mà đối đãi với Đấng Tạo Hóa, đối đãi với Đức Chúa Trời một cách chính xác và lý tính hơn. Do đó, lẽ thật về việc nhận biết Đức Chúa Trời nhập thể - Đức Chúa Trời trên đất - không phải là một dạng tri thức, cũng không phải là một dạng thường thức, càng không phải là một dạng lý luận hay khẩu hiệu. Thay vào đó, đây là một phương diện lẽ thật mà con người buộc phải hiểu để thiết lập mối quan hệ bình thường với Đức Chúa Trời, thiết lập mối quan hệ giữa loài thọ tạo và Đấng Tạo Hóa. Đây là một phương diện lẽ thật liên quan đến việc con người nhận biết thực chất của Đức Chúa Trời, nhận biết phương thức Đức Chúa Trời công tác và phán lời, nhận biết nguyên tắc Đức Chúa Trời làm đủ loại sự việc. Hiểu được phương diện lẽ thật này và nhận biết được Đức Chúa Trời nhập thể, thì con người sẽ có hiểu biết cơ bản về Đức Chúa Trời, sẽ thiết lập với Đức Chúa Trời một mối quan hệ chính đáng nhất và thích hợp nhất – mối quan hệ giữa loài thọ tạo với Đấng Tạo Hóa. Chỉ trên cơ sở là mối quan hệ này, chuyện con người mưu cầu việc thực hành lẽ thật để thỏa mãn Đức Chúa Trời, mưu cầu việc thuận phục và thờ phượng Đức Chúa Trời mới phát triển theo phương hướng tốt, và con người mới ngày càng lánh khỏi điều ác, bước lên con đường được cứu rỗi.

Các ngươi suy ngẫm xem: nếu người ta không có chút nhận thức nào về Đức Chúa Trời, nghĩa là mặc dù tin Đức Chúa Trời nhưng người ta lại đầy rẫy quan niệm và tưởng tượng về nguyên tắc, phương thức và mục đích hành động của Đức Chúa Trời, cũng đầy rẫy quan niệm và tưởng tượng đối với các chi tiết cụ thể trong cách Đức Chúa Trời làm đủ loại sự việc, vậy khi gặp các loại chuyện khác nhau, họ sẽ đối đãi như thế nào? Họ sẽ tìm kiếm lẽ thật như thế nào? Căn cứ của họ là gì? Nguyên tắc của họ là gì? Mục tiêu của họ là gì? Đây không phải là những câu hỏi đơn giản. Nếu người ta đầy rẫy quan niệm và tưởng tượng về Đức Chúa Trời, hoàn toàn không hiểu gì về nguyên tắc và phương thức hành động của Đức Chúa Trời, cũng không hiểu gì về tôn chỉ của Đức Chúa Trời khi làm đủ loại sự việc, hoàn toàn dựa vào quan niệm và tưởng tượng của con người, dựa vào văn hóa truyền thống và suy luận tri thức của con người để đối đãi với Đức Chúa Trời, thì họ có thể đạt đến việc nhận biết và thuận phục Đức Chúa Trời không? (Thưa, không thể.) Nếu người ta mưu cầu việc nhận biết Đức Chúa Trời mà về cơ bản đều dựa trên quan niệm và tưởng tượng, tri thức và triết học, cùng văn hóa truyền thống của con người, nếu sự mưu cầu của người ta đều được xây dựng trên cơ sở này và bị hạn chế bởi những thứ này, thì có phải sự mưu cầu của họ sẽ cách rất xa yêu cầu của Đức Chúa Trời không? Có phải nó sẽ đi ngược lại yêu cầu của Đức Chúa Trời không? (Thưa, phải.) Sự bình thường và thực tế của Đức Chúa Trời nhập thể, nguyên tắc, phương thức phán lời và hành động của Ngài, cùng tôn chỉ, dụng ý và mục tiêu trong lời nói và việc làm của Ngài - sau khi thông qua mối thông công mà các ngươi hiểu được những điều này thì các ngươi sẽ có được hiểu biết cơ bản về nguyên tắc, phương thức phán lời và công tác của Ngài, cùng tôn chỉ trong lời và công tác của Ngài. Hiểu biết này không đến từ quan niệm và tưởng tượng của con người về Đức Chúa Trời, cũng không phải là thứ con người dựa trên tri thức mà suy luận ra, càng không phải là điều con người dựa trên văn hóa truyền thống mà tưởng tượng ra. Thay vào đó, hiểu biết này là những gì Đức Chúa Trời trên đất biểu hiện ra một cách vô cùng thực tế mà con người thấy được, tiếp xúc được và thể nghiệm được. Nguyên tắc, phương thức phán lời và hành động - cùng tôn chỉ trong lời nói và hành động - mà Đức Chúa Trời nhập thể biểu hiện một cách hoàn toàn thực tế là đã đủ để ngươi hiểu và nhận biết được thực chất, tâm tính của Đức Chúa Trời, cũng như nguyên tắc, phương thức cụ thể mà Đức Chúa Trời phán lời, công tác và hành động - cùng tôn chỉ của Ngài trong những việc này. Cho nên, hiểu rõ các phương diện của Đức Chúa Trời nhập thể là một con đường để hiểu rõ Đức Chúa Trời - Đấng Tạo Hóa. Mặc dù thông qua việc nhận biết Đức Chúa Trời nhập thể thì không thể đạt đến việc nhận biết Đấng Tạo Hóa một cách hoàn toàn và hoàn chỉnh, nhưng ít nhất thì nhận biết Đức Chúa Trời nhập thể là một con đường để nhận biết Đức Chúa Trời trên trời, nhận biết Đấng Tạo Hóa. Mục đích Ta nói những lời này là để nói cho ngươi biết điều gì? Mặc dù hiểu rõ và nhận biết Đức Chúa Trời là bài học cả đời của con người, mặc dù con người dành hết sinh lực cả đời cũng không thể nhận biết Đức Chúa Trời một cách hoàn toàn và triệt để, nhưng thông qua việc nhận biết Đức Chúa Trời nhập thể, ngươi sẽ hiểu Đức Chúa Trời trên trời, hiểu Đấng Tạo Hóa một cách thực tế hơn, chính xác hơn và khách quan hơn, như vậy là đủ. Nghĩa là, hiểu rõ và nhận biết Đức Chúa Trời thông qua việc nhận biết Đức Chúa Trời nhập thể là đã đủ rồi, như vậy đã đủ thỏa mãn điều kiện để ngươi nhận biết Đức Chúa Trời và thiết lập mối quan hệ bình thường với Ngài. Nhận biết Đức Chúa Trời nhập thể là đủ để ngươi đạt đến việc nhận biết Đức Chúa Trời trên trời, nhận biết Đấng Tạo Hóa.

Người ta mà muốn hoàn toàn nhận biết Đức Chúa Trời trên trời, đạt được nhận thức toàn diện và hoàn chỉnh về Ngài, thì có thể đạt được không? (Thưa, không thể.) Mãi mãi không đạt được. Đã không đạt được, vậy tại sao còn bảo con người nhận biết Đức Chúa Trời? Bởi vì nếu ngươi có thể nhận biết Đức Chúa Trời một cách chính xác và thực tế, thì chuyện này sẽ có lợi và giúp ích cho việc ngươi đi theo Đức Chúa Trời, mưu cầu lẽ thật, đạt đến việc kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác. Mặt khác, việc nhận biết Đức Chúa Trời quá then chốt và quá quan trọng đối với việc ngươi thực hành lẽ thật và đạt được sự cứu rỗi. Vậy ngươi nên làm thế nào? (Thưa, nên coi trọng lẽ thật về phương diện nhận biết Đức Chúa Trời, không nên nhận biết lẽ thật về phương diện này như một lẽ thật thông thường.) Một mặt, đối đãi với Đức Chúa Trời nhập thể thì ngươi phải có thái độ đúng đắn, mặt khác, ngươi phải kiểm điểm xem mình có những quan niệm và tưởng tượng nào về Đức Chúa Trời nhập thể và Đức Chúa Trời, tìm hiểu xem nên buông bỏ chúng như thế nào. Khi ngươi giao tiếp và qua lại với Đức Chúa Trời, bất kể là trong cuộc sống thường nhật, trong khi làm bổn phận, hoặc trong quá trình trải nghiệm cuộc đời, ngươi đều nên kiểm điểm xem mình có những quan niệm và tưởng tượng nào về Đức Chúa Trời, xem thái độ của ngươi đối với Đức Chúa Trời có hai vấn đề này hay không: một là đem Đức Chúa Trời nhập thể ra so sánh với Đức Chúa Trời trên trời, hai là đánh đồng Đức Chúa Trời nhập thể với nhân loại bại hoại. Kiểm điểm hai vấn đề này thì có thể giúp ngươi nhận ra một số quan niệm và tưởng tượng của mình về Đức Chúa Trời, phát hiện ra giữa mình và Đức Chúa Trời tồn tại những vấn đề gì, hoặc cũng có thể kiểm điểm và phát hiện được một số tư tưởng, quan điểm và thái độ không đúng đắn của mình đối với Đức Chúa Trời. Mục đích của việc kiểm điểm như vậy là để ngươi nhận biết rõ đủ loại tư tưởng, quan điểm và thái độ sai lầm mình đối với Đức Chúa Trời, hầu cho ngươi đạt đến việc vứt bỏ những tư tưởng, quan điểm và thái độ sai lầm này, dùng tư tưởng, quan điểm, thái độ và phương thức đúng đắn mà tiếp cận lời và công tác của Đức Chúa Trời, cũng như tiếp nhận chính Đức Chúa Trời. Thực hành như vậy thì mối quan hệ giữa ngươi và Đức Chúa Trời mới có thể dần dần đạt đến sự bình thường và khiến Đức Chúa Trời hài lòng, phải không? (Thưa, phải.) Ngươi thực hành như vậy thì mối quan hệ giữa ngươi và Đức Chúa Trời sẽ dần dần được xây dựng trên mối quan hệ giữa loài thọ tạo và Đấng Tạo Hóa, dần dần được xây dựng trên cơ sở là tiêu chuẩn mà Đức Chúa Trời yêu cầu con người. Khi ngươi đạt đến tiêu chuẩn này rồi thì mối quan hệ giữa ngươi và Đức Chúa Trời mới có thể ngày càng bình thường. Sự bình thường này là nói đến điều gì? Các ngươi có biết không? (Thưa, chính là chuyện con người có thể đứng vững hơn ở vị trí của loài thọ tạo mà đối đãi với Đấng Tạo Hóa, không còn nghi kỵ và đề phòng Đức Chúa Trời, thay vào đó, có thể thành thật đối đãi với Đức Chúa Trời.) Còn ai bổ sung gì không? (Thưa, sau khi mối quan hệ giữa người ta và Đức Chúa Trời bình thường rồi, thì người ta chẳng những không nghi kỵ hay đề phòng Đức Chúa Trời, mà còn có thể không đòi hỏi Đức Chúa Trời nữa, không có những dục vọng xa xỉ, có thể thực sự đạt đến việc thuận phục sự sắp đặt và an bài của Đức Chúa Trời.) Nói vậy là đúng điểm mấu chốt rồi. Biểu hiện tối hậu của việc đạt được sự cứu rỗi nơi người ta chính là họ có thể đứng vững ở vị trí của loài thọ tạo và thuận phục Đấng Tạo Hóa. Khi thuận phục Đức Chúa Trời thì người ta thực sự thờ phượng Đức Chúa Trời, khi thực sự thờ phượng Đức Chúa Trời thì người ta mới có thể có lòng kính sợ Đức Chúa Trời, mới thực sự đạt đến việc kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác. Cho nên, người ta có mối quan hệ thế nào và thiết lập mối quan hệ thế nào với Đức Chúa Trời, chuyện này tùy thuộc vào điều gì? Tùy thuộc vào sự mưu cầu của người ta và thái độ của người ta đối với Đức Chúa Trời, tùy thuộc vào chuyện người ta nhận biết Đức Chúa Trời được bao nhiêu. Ngươi không có nhận thức về Đức Chúa Trời, ngươi đầy rẫy quan niệm và tưởng tượng về Ngài, đầy rẫy dục vọng xa xỉ đối với Ngài, thì ngay cả khi ngươi có thể đưa một số lẽ thật vào thực hành, có thể làm một số bổn phận mà loài thọ tạo nên làm, nhưng xét về mối quan hệ giữa ngươi và Đức Chúa Trời, thì bổn phận ngươi làm hoặc lẽ thật ngươi thực hành đều rất có hạn. Ví dụ, khi làm bổn phận, ngươi có thể vứt bỏ và tiêu hao bản thân, chịu khổ và trả giá, hoặc ngươi có thể làm một số công tác trong khả năng của mình trong hội thánh. Nhưng khi Đức Chúa Trời làm trên ngươi một số chuyện không phù hợp với quan niệm của ngươi, hoặc khi Ngài tước đoạt của ngươi, sửa phạt và sửa dạy ngươi, thì ngươi có thể thuận phục không? Nếu có hiểu biết và nhận thức thực sự về Đức Chúa Trời, thì ngươi sẽ rất tự nhiên đứng ở vị trí của loài thọ tạo mà có thái độ thuận phục. Nhưng nếu ngươi không có hiểu biết và nhận thức thực sự về Đức Chúa Trời, thì khi những chuyện không như ý này xảy đến, khi những chuyện liên quan đến lợi ích của ngươi xảy đến, ngươi sẽ rất tự nhiên mà nảy sinh đủ loại ý nghĩ, đủ loại quan niệm và tưởng tượng về Đức Chúa Trời. Như vậy, với tư cách là một loài thọ tạo, ngươi sẽ sẽ rất khó đạt được sự thuận phục thực sự đối với Đức Chúa Trời. Ngay cả khi ngươi có một chút thuận phục hời hợt hoặc ý nguyện thuận phục, nhưng nếu chúng không phù hợp với yêu cầu của Đức Chúa Trời, thì sự thuận phục này của ngươi đối với Đức Chúa Trời không phải là điều Đức Chúa Trời muốn. Nếu sự thuận phục này của ngươi hoàn toàn xuất phát từ quan niệm và tưởng tượng của con người, có xung đột với nhận thức của ngươi về Đức Chúa Trời và công tác của Đức Chúa Trời, đi ngược lại các nguyên tắc lẽ thật, thì sự thuận phục của ngươi là sự thuận phục có pha tạp, không phải là sự thuận phục đích thực, cũng không phải sự thuận phục mà Đức Chúa Trời muốn. Dạng thuận phục như vậy không được Đức Chúa Trời khen ngợi, trong mắt Đức Chúa Trời thì ngươi không có chút thuận phục nào. Nếu ngươi không thể có sự thuận phục thực sự đối với Đức Chúa Trời, thì cái mà ngươi gọi là mưu cầu và thực hành lẽ thật đó căn bản không thể giúp ngươi thiết lập được mối quan hệ với Đức Chúa Trời theo kiểu quan hệ giữa loài thọ tạo và Đấng Tạo Hóa. Phần lớn những gì ngươi làm đều là sống trong ý nguyện cá nhân, trong quan niệm và tưởng tượng của mình, như vậy thì không thể được Đức Chúa Trời khen ngợi. Không được Đức Chúa Trời khen ngợi thì kết quả cuối cùng chính là những gì ngươi làm và những gì ngươi thực hành cách rất xa so với yêu cầu của Đức Chúa Trời, ngươi hoàn toàn sống trong sự huyễn hoặc đơn phương hoặc trong quan niệm và tưởng tượng của mình. Cuối cùng những gì ngươi làm và thực hành cùng con đường ngươi đi sẽ không thể dẫn dắt ngươi bước lên con đường được cứu rỗi và đạt được sự cứu rỗi, vậy chẳng phải những gì ngươi làm đã uổng công sao? (Thưa, phải.) Trong trường hợp này, những gì ngươi làm đã uổng công cả rồi, vậy chẳng phải bấy nhiêu năm ngươi tin Đức Chúa Trời chẳng có thu hoạch gì sao? (Thưa, phải.) Nguyên nhân không có thu hoạch là gì? (Thưa, vì người ta đi con đường tin Đức Chúa Trời mà luôn sống trong ý nguyện cá nhân và quan niệm, tưởng tượng của mình.) Ngươi tin Đức Chúa Trời nhiều năm mà không có thu hoạch đâu phải vì ngươi không trả giá, đâu phải vì ngươi không sẵn lòng chịu khổ, cũng đâu phải vì ngươi không sẵn lòng tiêu hao bản thân, càng không phải vì ngươi không làm bổn phận, vậy thì vì điều gì? Chính là vì phần lớn những gì ngươi làm trong quá trình chịu khổ, trả giá, vứt bỏ, tiêu hao bản thân và làm bổn phận, đều là sự huyễn hoặc đơn phương, đều là sống trong quan niệm và tưởng tượng của mình, chứ không phải là hành động theo yêu cầu của Đức Chúa Trời. Thế mà ngươi vẫn luôn cho là mình hành động theo yêu cầu của Đức Chúa Trời. Vì trong những gì ngươi cho là đó đầy rẫy quan niệm, cho nên cuối cùng ngươi không thể thu hoạch được lẽ thật và đạt được thành quả là sự cứu rỗi, vậy thì những gì ngươi làm đều uổng công. Nếu cuối cùng người ta đi đến bước đường này, thì các ngươi nói xem, có phải rất đáng buồn không? (Thưa, phải.) Nhìn bề ngoài thì người ta đang làm bổn phận, đang rao giảng lời Đức Chúa Trời, cũng đang chịu khổ và trả giá, nhưng trên thực tế, người ta mang theo rất nhiều quan niệm và tưởng tượng, mang theo rất nhiều tư tưởng, quan điểm và thái độ không đúng mà đi theo Đức Chúa Trời và phụng sự Đức Chúa Trời. Ngươi mang theo những thứ pha tạp này mà làm bổn phận, cuối cùng khi Đức Chúa Trời kiểm nghiệm ngươi, thì ngươi không biết tại sao Đức Chúa Trời lại làm như vậy, không biết Đức Chúa Trời làm như vậy là kỳ vọng điều gì và muốn đạt được kết quả gì nơi ngươi. Đến cuối cùng, khi Đức Chúa Trời kiểm nghiệm ngươi, thì lời ngươi thưa với Đức Chúa Trời và lời cầu nguyện của ngươi đầy sự oán trách, không hiểu, nghi ngờ, thậm chí là đầy đau lòng và đau khổ, đầy quan niệm và tưởng tượng về Đức Chúa Trời. Vậy chẳng phải sự mưu cầu của ngươi trong chặng đường này đã thất bại rồi sao, chẳng phải sự chịu khổ trả giá của ngươi đã uổng công rồi sao? (Thưa, phải.) Ví dụ, ngươi tin Đức Chúa Trời đã nhiều năm, luôn chịu khổ và trả giá, Đức Chúa Trời bảo ngươi làm gì thì về hình thức ngươi đều làm, đều tuân giữ. Nhưng đến một ngày gặp phải sự thử luyện giống như của Gióp, thì ngươi đột nhiên nghi hoặc, “Chẳng lẽ mình tin lầm rồi sao? Chẳng lẽ mình đi sai đường rồi sao? Tại sao Đức Chúa Trời lại sắp đặt cho mình hoàn cảnh như vậy? Tại sao Đức Chúa Trời lại làm công tác như vậy trên mình? Tại sao Ngài lại để mình gặp phải chuyện như vậy?”. Ngươi không hiểu và không biết chuyện này là sao. Một mặt, xét chủ quan thì ngươi có rất nhiều điều không hiểu nổi, mặt khác, vấn đề lớn nhất của con người là gì? Chính là khi gặp phải đủ loại sự tình thì họ chỉ biết cầu nguyện và tìm cách thoát ra. Người tốt hơn một chút thì sẽ nhận biết xem có phải mình đã đắc tội với Đức Chúa Trời không, có phải mình đang bị Đức Chúa Trời sửa dạy không, có phải mình có phương diện nào không hợp tâm ý Đức Chúa Trời hay không, có phải những hành động và hành vi của mình khiến Đức Chúa Trời chán ghét hay không. Nhưng đại đa số mọi người khi gặp loại chuyện như thế này thì đều không biết về mặt tích cực, mình nên làm thế nào để chủ động phối hợp với công tác của Đức Chúa Trời, phối hợp với Đức Chúa Trời, làm thế nào để thực hành theo nguyên tắc mà loài thọ tạo nên thực hành hoặc theo sự dặn dò của Đấng Tạo Hóa, làm thế nào để chủ động tìm kiếm con đường thực hành và nguyên tắc lẽ thật để giải quyết vấn đề. Đại đa số mọi người không làm được điều này. Có phải là vậy không? (Thưa, phải.) Ngươi thấy đấy, khi gặp chuyện, người ta đều tìm nguyên nhân nhiều mặt, tìm nguyên nhân nơi bản thân, tìm nguyên nhân khách quan, hoặc tìm một số lý do để phân bua, biện bạch, hoặc nghi ngờ người khác và tìm nguyên nhân nơi người khác. Nhưng rất ít người đến trước mặt Đức Chúa Trời để chủ động tìm kiếm nguyên tắc lẽ thật và chủ động giải quyết vấn đề. Cuối cùng, khi chuyện này hoặc hoàn cảnh này được Đức Chúa Trời cất đi, thì người ta có thể đạt được bao nhiêu? Đa số mọi người chỉ biết rằng lần sau gặp phải chuyện loại này thì phải cẩn thận một chút, khi có dấu hiệu của chuyện loại này thì nên tránh né thế nào, hóa giải ra sao. Chứ rất ít người suy ngẫm xem khi gặp phải chuyện loại này thì nên làm thế nào để chủ động phối hợp, làm thế nào để thực hành theo nguyên tắc mà Đức Chúa Trời đã nói với con người, và làm thế nào để giải quyết vấn đề theo nguyên tắc lẽ thật. Đây là điều mà đa số mọi người không dễ làm được, phải không? (Thưa, phải.)

Việc thông công về chủ đề buông bỏ quan niệm và tưởng tượng về Đức Chúa Trời nhập thể có liên quan đến việc nhận biết Đức Chúa Trời nhập thể không? (Thưa, có.) Có mối liên hệ gì? (Thưa, nếu chúng con không nhận biết Đức Chúa Trời nhập thể, chỉ dựa vào quan niệm và tưởng tượng của mình để tin Đức Chúa Trời, thì cuối cùng rất có thể sẽ thành hai bàn tay trắng, thành công dã tràng, chẳng đạt được gì cả. Cho nên, muốn đi đúng quỹ đạo khi tin Đức Chúa Trời thì buộc phải nhận biết Đức Chúa Trời nhập thể. Lẽ thật này rất quan trọng.) Đây là điều các ngươi nên hiểu về mặt lý thuyết, vậy các ngươi nên thực hành thế nào? Đây là câu hỏi quan trọng. Sau khi có nhận thức về Đức Chúa Trời nhập thể rồi, thì trong đời thực, ngươi nên dựa trên nhận thức của mình để xử lý và giải quyết các loại chuyện, dựa trên nhận thức của mình mà đúc kết xem nguyên tắc nên thực hành trong các loại chuyện đó là gì. Bất kể ngươi có nhận thức về phương diện nào, mục đích đều là để giải quyết vấn đề, chứ không phải để ngươi nắm vững một dạng lý thuyết. Ngươi xem, chúng ta đã thông công về nhiều chủ đề liên quan đến Đức Chúa Trời nhập thể, và chủ đề nào cũng liên quan đến những vấn đề thực tế trong đời thực. Đối diện với những vấn đề thực tế này, ngươi nên có sự suy xét. Ngươi nghĩ thế nào về chúng? Ngươi có thái độ thế nào về chúng? Ngươi định giải quyết chúng thế nào? Cứ để chúng qua đi, hay là tìm kiếm lẽ thật để giải quyết chúng? Nếu ngươi nghe những chủ đề này rồi mà chỉ nhớ được một số lý thuyết, chứ không thể đem vào đời thực để giải quyết khó khăn và vấn đề của mình, thì thứ ngươi đạt được chỉ là đạo lý, chẳng giúp ích gì cho ngươi cả. Nhưng nếu sau khi nghe những chủ đề này, ngươi đem chúng vận dụng vào đời thực, sửa đổi những quan điểm sai lầm và thái độ sai lầm của mình đối với Đức Chúa Trời, loại bỏ quan niệm và tưởng tượng của mình về Đức Chúa Trời, cũng như cải thiện mối quan hệ giữa mình với Đức Chúa Trời, thì điều ngươi đạt được chính là lẽ thật. Ngươi dùng những lời và nội dung Ta đã thông công với ngươi để giải quyết quan niệm và tưởng tượng của mình, giải quyết những tư tưởng, quan điểm và thái độ sai lầm của mình đối với Đức Chúa Trời, thì ngươi sẽ có thể thiết lập mối quan hệ bình thường với Đức Chúa Trời. Nhưng nếu đối với những vấn đề tồn tại nơi bản thân, ngươi lại hờ hững, chẳng xem ra gì, cũng chưa bao giờ đối chiếu chúng với lời Đức Chúa Trời mà phản tỉnh bản thân, biết rõ thái độ của mình đối với Đức Chúa Trời có vấn đề mà vẫn không tìm kiếm lẽ thật để giải quyết vấn đề thực tế đó, vậy thì những lời này của Ta chẳng có ý nghĩa gì với ngươi, ngươi nghe cũng như không, phải chứ? (Thưa, phải.) Các ngươi thuộc tình trạng nào? (Thưa, mặc dù chúng con biết không nên xem lời Đức Chúa Trời là đạo lý, mà nên đưa vào thực hành trong đời thực, nhưng hiện tại, nhưng lối vào của chúng con vẫn khá nông cạn.) Lối vào sự sống còn nông cạn cũng không sao, chỉ cần các ngươi không ngừng tìm kiếm lẽ thật thì sẽ từng bước có được chiều sâu. Trên cơ sở này, các ngươi cứ từ từ suy ngẫm, kiểm điểm, đối chiếu với bản thân, sau đó sửa đổi những tư tưởng, quan điểm và thái độ sai lầm của mình đối với Đức Chúa Trời, có tư tưởng và quan điểm đúng đắn, có thái độ đúng đắn để đối đãi với Đức Chúa Trời và nhận biết Ngài. Như vậy từng bước một, mối quan hệ giữa ngươi với Đức Chúa Trời sẽ ngày càng bình thường.

Những nội dung chúng ta nói về chủ đề Đức Chúa Trời nhập thể thì không trừu tượng và cũng không trống rỗng. Chúng rất cụ thể, liên quan đến đời thực và hoàn toàn không tách rời đời thực, cho nên Ta nói chúng không trống rỗng và cũng không trừu tượng. Nếu ngươi để tâm mà nghe, để tâm mà suy ngẫm, thì ngươi sẽ ngày càng thấu tỏ lẽ thật về phương diện này. Tóm lại, nếu muốn đạt đến việc thực sự nhận biết Đức Chúa Trời, muốn đạt đến việc thiết lập mối quan hệ bình thường giữa loài thọ tạo với Đấng Tạo Hóa, thì người ta buộc phải nắm rõ bài học về việc nhận biết Đức Chúa Trời, và buộc phải trải qua quá trình nhận biết Đức Chúa Trời. Bài học nhận biết Đức Chúa Trời nên bắt đầu từ hai phương diện, một là nhận biết sự bình thường và thực tế của Đức Chúa Trời nhập thể, hai là buông bỏ quan niệm và tưởng tượng về Đức Chúa Trời nhập thể, cũng có thể nói là bắt đầu từ những phương diện cơ bản nhất. Khi ngươi đã thiết lập cùng Đức Chúa Trời nhập thể một mối quan hệ bình thường giữa loài thọ tạo với Đấng Tạo Hóa, mối quan hệ bình thường giữa con người với Đức Chúa Trời, thì ngươi sẽ đứng ở góc độ của con người, dùng tư tưởng, quan điểm và thái độ đúng đắn mà đối đãi với Đức Chúa Trời nhập thể, tiếp cận lời nói và công tác của Đức Chúa Trời nhập thể, tiếp cận bất kỳ thái độ nào của Đức Chúa Trời nhập thể đối với ngươi. Sau khi thiết lập cùng Đức Chúa Trời nhập thể một mối quan hệ bình thường giữa con người với Đức Chúa Trời, nếu ngươi muốn đạt đến việc thành thật với Đức Chúa Trời, tôn trọng và vâng lời Đức Chúa Trời thì hẳn sẽ không quá khó nữa, phải không? (Thưa, phải.) Đây là mục tiêu mà người ta nên mưu cầu, cũng là một nguyên tắc mà người ta nên thực hành. Thiết lập mối quan hệ bình thường với Đức Chúa Trời nhập thể nên bắt đầu từ việc giao tiếp, qua lại, trao đổi, giao thiệp với Ngài. Trên cơ sở này, ngươi hãy tăng thêm hiểu biết về Đức Chúa Trời nhập thể, thường xuyên trò chuyện và trao đổi với Ngài, từ đó đạt đến việc có hiểu biết và nhận thức thực sự về Đức Chúa Trời. Nếu nói con người đối thoại, trao đổi và tương tác với Đức Chúa Trời trên trời thì rất xa vời, thậm chí là không thể với tới, cũng không thực tế, không khách quan, vậy con người làm thế nào đạt được sự tương tác, trao đổi và qua lại với Đức Chúa Trời trên cơ sở đã thiết lập mối quan hệ bình thường với Ngài? Trong thời gian Đức Chúa Trời nhập thể phán lời và công tác, con người vẫn có điều kiện để làm được mấy việc này, bất kể trong cuộc sống hay trong công tác đều có những điều kiện này. Đã có những điều kiện này thì người ta đừng bỏ lỡ, đây là một cơ hội rất tốt để huấn luyện cho con người cách đối đãi đúng đắn với Đấng Tạo Hóa. Nếu nắm bắt và tận dụng tốt cơ hội này thì con người sẽ có cơ hội và điều kiện để hiểu rõ và nhận biết Đức Chúa Trời trên trời một cách thực tế hơn. Đối với con người, hiểu rõ và nhận biết Đức Chúa Trời trên trời không còn là chuyện mù mịt và trống rỗng nữa, đương nhiên cũng không còn là chuyện chỉ có thể nghĩ chứ không thể làm được. Trong quá trình loài người tiếp xúc và qua lại với Đức Chúa Trời nhập thể, một mặt, họ từng bước hiểu rõ bản thân mình, nhận biết những quan niệm và tưởng tượng khác nhau của mình về Đức Chúa Trời. Mặt khác, họ cũng sẽ từng bước hiểu rõ về hỉ nộ ai lạc của Đức Chúa Trời, hiểu rõ những thái độ khác nhau của Đức Chúa Trời đối với con người, cũng như nguyên tắc, phương thức và tôn chỉ của Đức Chúa Trời khi phán lời và công tác. Điều quan trọng ở đây là để con người thông qua những gì mắt thấy, tai nghe và để tâm thể nghiệm mà có thể hiểu rõ các phương diện khác nhau trong lời nói và việc làm của Đức Chúa Trời một cách thực tế và chính xác hơn. Như vậy thì con người sẽ không còn sống trong quan niệm và tưởng tượng về Đức Chúa Trời nữa. Nếu Đức Chúa Trời không nhập thể trong thời kỳ sau rốt, thì ngay cả khi người ta vẫn tin Đức Chúa Jêsus của Thời đại Ân điển, hơn nữa đã tin Chúa nhiều năm, thì hiểu biết và nhận thức của họ về Đức Chúa Trời cũng gần như bằng không, họ hoàn toàn không có chút nhận thức thực sự nào về Đức Chúa Trời. Cho nên mới nói là không một ai trong giới tôn giáo có nhận thức thực sự về Đức Chúa Trời. Nhận thức về Đức Chúa Trời mà người tiếp nhận Đức Chúa Trời nhập thể trong thời kỳ sau rốt đạt được thì khác, nhiều hơn hẳn so với người tin Đức Chúa Jêsus trong Thời đại Ân điển. Bởi Đức Chúa Trời nhập thể trong thời kỳ sau rốt làm công tác trong thời gian dài, bày tỏ nhiều lẽ thật, lại làm một lượng công tác lớn, thời gian tiếp xúc, qua lại và sống cùng con người cũng dài, phạm vi tiếp xúc với con người cũng rộng, như vậy thì người ta có điều kiện thuận lợi hơn để hiểu rõ và nhận biết Đức Chúa Trời. Nói cách khác, lần nhập thể này đã cho con người điều kiện và cơ hội thuận lợi hơn để tiếp xúc với Đức Chúa Trời, để con người được tận tai lắng nghe tiếng Đức Chúa Trời, tận mắt chứng kiến từng hành động của Đức Chúa Trời, hỉ nộ ai lạc của Đức Chúa Trời, cùng rất nhiều chi tiết đủ mọi mặt trong cuộc sống thường nhật của Đức Chúa Trời. Ngoài vẻ ngoài nhân tính của Đức Chúa Trời nhập thể mà con người có thể tiếp xúc được, thì những phần liên quan đến sự sống và thực chất của Đức Chúa Trời hẳn đã đủ để khiến người ta có hiểu biết sâu sắc hơn và chính xác hơn về Đức Chúa Trời. Đương nhiên, hiểu biết sâu sắc hơn và chính xác hơn này hẳn có thể khiến người ta thiết lập mối quan hệ tốt hơn và lành mạnh hơn với Đức Chúa Trời, khiến người ta được giải thoát khỏi các loại quan niệm và tưởng tượng, thoát khỏi đủ mọi loại quan niệm và tưởng tượng về Đức Chúa Trời. Phải vậy không? (Thưa, phải.) Cho nên, bất kể Ta thông công nội dung nào, mục đích đều là để người ta hiểu rõ và nhận biết Đức Chúa Trời hơn. Đương nhiên, Ta chưa bao giờ nói về gia đình của bản thân Đức Chúa Trời nhập thể, chuyện Ngài được tiếp nhận nền giáo dục như thế nào, môi trường lớn lên ra sao. Ta càng chưa từng giới thiệu lịch sử gia tộc Ngài, cũng chưa giới thiệu nề nếp, hoàn cảnh hoặc lối sống cụ thể và phương thức giáo dục của gia đình Ngài. Đương nhiên, Ta cũng chưa từng nói với các ngươi về chuyện Ta có tính cách thế nào, thói quen sinh hoạt là gì, chưa từng giới thiệu những chuyện vụn vặt trong cuộc sống như ăn, mặc, ở, đi lại. Thay vào đó, Ta giới thiệu điều gì? (Thưa, một số nguyên tắc làm người và làm việc của Đức Chúa Trời nhập thể.) Bất kể là lấy ví dụ hay nói về một sự thật, một phương diện lẽ thật, thì những nội dung được giới thiệu đều liên quan đến công tác của Đức Chúa Trời, thực chất và thân phận của Đức Chúa Trời, đều liên quan đến việc con người nhận biết Ngài. Cho dù Ta có đưa ra một số ví dụ liên quan đến những chuyện ăn, mặc, ở, đi lại, thì mục đích cũng không phải là để các ngươi chú trọng xem Ta ăn gì, mặc gì, hay thói quen sinh hoạt của Ta là gì, mà là để các ngươi nhận biết khi Đức Chúa Trời trở nên xác thịt và đến sống cùng con người thì nguyên tắc làm người và làm việc của Ngài là gì. Ngay cả khi điều Ta nói có liên quan đến một số lối sống của Đức Chúa Trời nhập thể, thì cũng là để các ngươi hiểu rõ về quan điểm và nguyên tắc của Ngài đối với những chuyện này, để các ngươi hiểu và nắm rõ nguyên tắc về một phương diện, rồi trên cơ sở này mà hiểu rõ hơn về sự bình thường và thực tế của Đức Chúa Trời, hiểu rõ nguyên tắc làm người và làm việc của Ngài. Hiểu rõ những chi tiết cụ thể của các nguyên tắc này chính là để các ngươi hiểu rõ Đức Chúa Trời nhập thể, con người bình thường này, có sự sống như thế nào và sự sống của Ngài có mối quan hệ thế nào với Đức Chúa Trời. Ta thông công dựa theo nguyên tắc này, mục đích không phải là để các ngươi bắt chước cách ăn, mặc, ở, đi lại của Ta, bắt chước lối sống cụ thể của Ta, bắt chước theo Ta mà thích màu nào đó, không phải mục đích như vậy. Ta chỉ nói cho các ngươi biết nguyên tắc của Ta thôi. Ví dụ, Ta nói với ngươi là Ta ăn gì hoặc thói quen trong cuộc sống thường nhật của Ta là gì, thì không phải là để ngươi bắt chước hoặc giữ một khuôn phép, mà là để ngươi biết khi Đức Chúa Trời nhập thể đến trên đất thì trong sự bình thường và thực tế của Ngài có những gì, nguyên tắc làm người và làm việc của Ngài là gì. Ngươi chỉ cần thông qua những ví dụ được Ta đưa ra và một số sự thật mà hiểu rõ nguyên tắc, hiểu rõ lẽ thật về phương diện này, hiểu rõ sự sống và tâm tính của Đức Chúa Trời mà ngươi nên nhận biết là gì, như vậy là đủ. Cho nên Ta chưa bao giờ nói cho ngươi biết là Ta thích tóc dài hay thích tóc ngắn, Ta chỉ nói cho ngươi biết nguyên nhân và nguyên tắc cho việc để tóc dài hay ngắn là gì, hầu cho các ngươi hiểu nguyên tắc. Thông công những lẽ thật về Đức Chúa Trời nhập thể thì có liên quan đến chuyện người ta nhận biết thực chất và thân phận của Đức Chúa Trời, liên quan đến sự bình thường và thực tế của Ngài. Nếu người ta cho rằng Đức Chúa Trời trên đất chỉ liên quan đến công tác và lời nói của Đức Chúa Trời, còn Đức Chúa Trời trên trời mới liên quan đến việc làm của Đức Chúa Trời, thì sự lĩnh hội như vậy có đúng không? (Thưa, không đúng.) Vậy có phải lời Đức Chúa Trời trên đất nói và công tác Ngài làm thì bắt nguồn từ Đức Chúa Trời trên trời không? (Thưa, phải.) Lĩnh hội được như vậy là tốt rồi. Ta chưa từng giới thiệu với các ngươi là Ta sinh ra ở đâu, quá trình trưởng thành thế nào, được tiếp nhận nền giáo dục ra sao, Ta chưa từng giới thiệu môi trường lớn lên hay môi trường giáo dục của Ta, cũng chưa từng giới thiệu lịch sử gia tộc của Ta, phải vậy không? (Thưa, phải.) Có người nói: “Gia tộc của Ngài cũng đâu hiển hách, bối cảnh lớn lên của Ngài cũng chỉ như người bình thường, không đáng để giới thiệu, cho nên Ngài không giới thiệu”. Có phải vì nguyên nhân này không? (Thưa, không phải.) Vậy tại sao Ta không giới thiệu? (Thưa, giới thiệu những chuyện đó không giúp ích gì cho việc chúng con nhận biết Đức Chúa Trời nhập thể.) Chúng chẳng có liên quan gì đến việc nhận biết Đức Chúa Trời nhập thể, cho nên Ta không giới thiệu. Nếu Ta giới thiệu những chuyện đó, các ngươi có thể rời đi, không nghe cũng được, nhưng nếu Ta giới thiệu công tác, lời nói, tâm tính và thực chất của Đức Chúa Trời nhập thể, cả những biểu hiện và sự bộc lộ mọi mặt liên quan đến sự sống của Ngài, thì các ngươi phải ngoan ngoãn và nghiêm túc mà nghe. Điều gì liên quan đến lẽ thật thì các ngươi buộc phải nghe, nghe những nội dung này thì có ích cho việc các ngươi nhận biết Đức Chúa Trời. Có người nói: “Nhận biết Đức Chúa Trời thì có liên quan gì đến chuyện tôi mưu cầu lẽ thật?”. Các ngươi nói xem, có liên quan không? (Thưa, có.) Nhận biết Đức Chúa Trời có thể thay thế việc con người mưu cầu lẽ thật không? Việc nhận biết Đức Chúa Trời có mối quan hệ gì với việc mưu cầu lẽ thật? Ngươi xem, hiện giờ Ta đang thông công với các ngươi về nguyên tắc làm việc và nguyên tắc nói chuyện được biểu hiện trong sự bình thường và thực tế của Đức Chúa Trời nhập thể, những điều này có liên quan đến lẽ thật không? (Thưa, có.) Vậy nhận biết Đức Chúa Trời thì có quan hệ gì với việc mưu cầu lẽ thật? (Thưa, con cảm thấy tự thân việc nhận biết Đức Chúa Trời chính là việc mưu cầu lẽ thật. Bởi vì nhận biết Đức Chúa Trời giúp chúng con có thể biết được các nguyên tắc làm việc khác nhau của Đức Chúa Trời và các tâm tính khác nhau mà Đức Chúa Trời bộc lộ, giúp chúng con phản tỉnh những việc mình làm, cùng tâm tính bại hoại mình bộc lộ, cũng khiến chúng con có phương hướng thực hành, một điểm là vậy. Một điểm khác là nhận biết Đức Chúa Trời thì có thể thúc đẩy người ta mưu cầu lẽ thật. Khi người ta có một số nhận thức về thực chất và tâm tính của Đức Chúa Trời, thì trong lòng họ có thể nảy sinh một dạng nguyện vọng và ý chí tích cực, nghĩa là họ muốn nhận biết thêm về Đức Chúa Trời, cũng muốn đi lên con đường mưu cầu lẽ thật, rồi họ có thể từng bước thoát khỏi tâm tính bại hoại, sống thể hiện ra hình tượng mà Đức Chúa Trời yêu cầu. Cho nên con cảm thấy tự thân việc nhận biết Đức Chúa Trời chính là việc mưu cầu lẽ thật, đồng thời cũng có thể thúc đẩy người ta mưu cầu lẽ thật.) Trong khi mưu cầu nhận biết Đức Chúa Trời, thực ra người ta cũng đang mưu cầu lẽ thật, họ nghiêm túc với lẽ thật, nhìn xem trong các phương diện khác nhau, rốt cuộc Đức Chúa Trời làm như thế nào và yêu cầu như thế nào. Sau khi hiểu rõ những điều này một cách cụ thể, thì khi thực hành, người ta sẽ có mục tiêu rõ ràng hơn và phương hướng chính xác hơn. Tự thân việc mưu cầu nhận biết Đức Chúa Trời chính là việc mưu cầu lẽ thật, lời này không sai, hai điều này không xung đột với nhau. Vậy mưu cầu lẽ thật thì có thể đạt đến việc nhận biết Đức Chúa Trời không? (Thưa, có thể.) Trong khi mưu cầu lẽ thật, người ta cũng có thể từng bước đạt đến việc nhận biết Đức Chúa Trời, quá trình mưu cầu lẽ thật của ngươi chính là quá trình thực hành lẽ thật. Trong quá trình thực hành lẽ thật, ngươi từng bước hiểu rõ tâm ý của Đức Chúa Trời, yêu cầu của Đức Chúa Trời đối với ngươi, cũng hiểu rõ trong những chuyện cụ thể, tiêu chuẩn mà Đức Chúa Trời yêu cầu là gì, nguyện vọng của Đức Chúa Trời là gì và tâm ý của Đức Chúa Trời là gì. Sau khi hiểu được những điều này thì ngươi cũng từng bước có nhận thức về Đức Chúa Trời. Quá trình hiểu rõ này chính là quá trình nhận biết. Hai điều này hỗ trợ lẫn nhau, không phải riêng lẻ. Bất kể ngươi có trải nghiệm, nhận thức và sự lĩnh hội thực sự về lẽ thật ở phương diện nào, bất kể ngươi có những thu hoạch này về lẽ thật ở phương diện nào thì trong những thu hoạch đó cũng đồng thờicó nhận thức về Đức Chúa Trời. Ngươi có trải nghiệm và nhận thức về lẽ thật, đồng thời ngươi cũng có nhận thức và hiểu biết về Đức Chúa Trời. Ngươi có nhận thức về Đức Chúa Trời, thì ngươi sẽ càng chắc chắn về tâm ý của Đức Chúa Trời và tiêu chuẩn mà Đức Chúa Trời yêu cầu. Sau đó ngươi thực hành lẽ thật sẽ chính xác hơn, sẽ không mang quan niệm và tưởng tượng nữa. Ngươi sẽ biết rõ tâm ý của Đức Chúa Trời là gì và Đức Chúa Trời muốn ngươi làm gì. Nhận biết Đức Chúa Trời và mưu cầu lẽ thật, hai điều này không riêng lẻ, cũng không xung đột, mà là hỗ trợ lẫn nhau. Cho nên nhận biết Đức Chúa Trời nhập thể thì giúp ích và có lợi cho ngươi trong việc mưu cầu lẽ thật và thực hành lẽ thật, nó có thể phát huy tác dụng thúc đẩy. Trước đây, nhiều người cho rằng: “Có những lời này do Đức Chúa Trời nhập thể bày tỏ là mình đã đạt được Đức Chúa Trời rồi. Khi gặp chuyện thì mình cứ dựa theo những lời này mà thực hành là được. Ngay cả khi mình không hiểu rõ, không nhận biết Đức Chúa Trời thì cũng không sao, chẳng ảnh hưởng đến việc mình thực hành lẽ thật”. Nhưng đến lúc thực hành lẽ thật trong đời thực, người ta đều có thể cảm nhận được rằng: mặc dù lời Đức Chúa Trời nói đã rất cụ thể, trong những lời này, họ cũng có thể hiểu ra được rất nhiều nguyên tắc thực hành và tiêu chuẩn Đức Chúa Trời yêu cầu cho những chuyện cụ thể là gì, nhưng khi gặp rất nhiều chuyện trong cuộc sống thường nhật, họ vẫn cảm thấy không vững lòng cho lắm, không thể chắc chắn một trăm phần trăm rằng làm vậy là đúng, là hợp tâm ý Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, khi đã hiểu rõ nguyên tắc chính xác trong cách Đức Chúa Trời nhập thể làm người và làm việc, thì ngươi sẽ cảm thấy như vừa uống một viên thuốc an thần. Đến lúc lại gặp những chuyện tương tự, ngươi sẽ không còn như trước đây, cứ làm dựa vào suy đoán như kiểu đang đánh bạc, làm xong rồi cũng không biết mình làm đúng hay sai. Thông qua việc hiểu rõ nguyên tắc nói chuyện và hành động của Đức Chúa Trời nhập thể, chẳng biết từ lúc nào, quan niệm và tưởng tượng của con người về Đức Chúa Trời sẽ giảm bớt, sẽ nhẹ đi, sẽ từng bước được giải quyết. Nói cách khác, nhận biết Đức Chúa Trời nhập thể, nhất là nhận biết nguyên tắc, phương thức làm người và làm việc của Đức Chúa Trời nhập thể, thì ngươi sẽ có mục tiêu và phương hướng chính xác hơn để thực hành lẽ thật và xử lý các loại chuyện trong cuộc sống. Khi Đức Chúa Trời chưa trở nên xác thịt, thay vào đó là Đức Chúa Trời trên trời hoặc Đức Thánh Linh làm công tác nơi con người, thì người ta vĩnh viễn không thể có được đáp án cho những chuyện này, cũng vĩnh viễn không thể nhận được lợi ích từ Đức Chúa Trời trên trời là hiểu những vấn đề cụ thể mọi mặt trong cuộc sống nhân loại mà người ta nên hiểu. Ngay cả khi ngươi có thể giữ một số luật lệ và điều răn, nhưng đối với nguyên tắc lẽ và con đường con người đi, nếu không phải là Đức Chúa Trời nhập thể làm công tác và phán lời, thì nhân loại vĩnh viễn không thể nào biết, vĩnh viễn không thể nào hiểu. Ngươi không thể đạt được điều này từ sự khai sáng của Đức Thánh Linh hay từ Đức Chúa Trời trên trời. Con đường duy nhất chính là đạt được từ Đức Chúa Trời nhập thể những nguyên tắc lẽ thật mà con người sống và sinh tồn thì buộc phải hiểu. Tóm lại, nhận biết Đức Chúa Trời nhập thể là một con đường để nhận biết Đức Chúa Trời, cũng là một con đường để hiểu rõ Đức Chúa Trời, càng là một con đường cần thiết để con người thiết lập hoặc duy trì mối quan hệ với Đức Chúa Trời.

Lần trước chúng ta đã thông công về phương diện không dụ dỗ nằm trong chủ đề đừng đánh đồng Đức Chúa Trời nhập thể với nhân loại bại hoại. Chúng ta thông công đến đâu rồi? (Thưa, Đức Chúa Trời đã thông công về ba biểu hiện cụ thể của không dụ dỗ là không dò hỏi, không xúi giục và không kích động. Đã thông công xong về phương diện không kích động rồi.) Ba chủ đề không dò hỏi, không xúi giục và không kích động này đều liên quan đến biểu hiện cụ thể của không dụ dỗ. Sau lần thông công trước, các ngươi có cảm nghĩ gì không? Ngươi xem những lời Ta nói với các ngươi trong bao nhiêu năm qua có phản ánh được nguyên tắc không dụ dỗ này không? (Thưa, có. Đức Chúa Trời nói chuyện thì chưa bao giờ dò hỏi chúng con mà luôn thẳng thắn, luôn kiên nhẫn dẫn dắt từng bước, luôn hướng dẫn và cung ứng cho chúng con, hỗ trợ và giúp đỡ chúng con.) Một trong những nguyên tắc của Ta khi nói chuyện với các ngươi chính là không dụ dỗ, biểu hiện cụ thể là không dò hỏi, không xúi giục và không kích động. Có lúc, Ta hỏi các ngươi vài chuyện thì trong đó cũng không có bất kỳ ý dụ dỗ nào. Cho nên khi ngươi hiểu lầm Đức Chúa Trời thì ngươi phải suy ngẫm: “Lời Đức Chúa Trời nói không có hàm ý dụ dỗ hay dò hỏi, mình không được hiểu lầm Đức Chúa Trời. Lời Đức Chúa Trời nói có nghĩa đen là gì thì nghĩa thật là vậy. Đức Chúa Trời hỏi mình điều gì thì mình sẽ trả lời đúng sự thật, thật thà nói ra, biết bao nhiêu thì nói bấy nhiêu, nếu mình không biết thì nói là không biết và cần đi hỏi lại rồi mới trả lời được”, đây gọi là thành thật. Ta nói chuyện hoặc xử lý công chuyện với các ngươi, mà thấy các ngươi có khó khăn gì hoặc phát hiện bản thân các ngươi có vấn đề gì, bất kể là về chuyện làm bổn phận hay về mặt nhân tính, Ta đều sẽ tìm cơ hội để trò chuyện với các ngươi. Mục đích Ta trò chuyện là để giúp các ngươi thấy rõ thực chất của vấn đề ở phương diện này là gì, hầu cho khi nhận biết được rồi thì các ngươi có thể giải quyết chúng. Mục đích của Ta khi giúp các ngươi giải quyết chúng, một mặt là để những khiếm khuyết hoặc vấn đề về mặt nhân tính của ngươi có thể được sửa đổi, để ngươi không sống theo tâm tính bại hoại nữa mà sống thể hiện ra hình tượng giống con người. Mặt khác, làm vậy là để ngươi có thể làm bổn phận tốt hơn. Đây không phải là lợi dụng ngươi ra sức cho nhà Đức Chúa Trời, mà là giúp ngươi thuận lợi hơn trong chuyện đạt đến việc làm bổn phận đạt tiêu chuẩn, không gây gián đoạn và nhiễu loạn, dốc hết khả năng mà làm tốt những việc mình nên làm, phát huy chức năng của mình và làm tốt bổn phận của mình. Nếu ngươi có vấn đề về mặt nhân tính, thì Ta sẽ nói sơ qua với ngươi. Nếu ngươi có thể tiếp nhận thì đương nhiên càng tốt, còn nếu lúc đó ngươi chưa tiếp nhận được thì Ta sẽ dùng cách của Ta để nói cho ngươi, hầu cho ngươi biết vấn đề của mình là gì. Tóm lại, mục đích của Ta đều là để hỗ trợ và giúp đỡ ngươi, trong đó không có ý đồ dụ dỗ ngươi đi vào con đường cong vạy hay tà ác, khiến ngươi sa đọa, khiến ngươi hành ác, mà chỉ là để giúp đỡ ngươi. Mục đích của Ta thì thiện ý, ý định bên trong thì đúng đắn và tích cực. Đương nhiên, khi Ta nói những lời này và làm những việc này thì không mang tính ép buộc. Tức là ngươi nghe lời này của Ta rồi thì cũng đừng để bị Ta kìm kẹp. Ngay cả khi Ta nói một cách chắc chắn về vấn đề nhân tính của ngươi hay mổ xẻ vấn đề trong việc làm bổn phận của ngươi, thì ngươi vẫn có thể nói: “Về những vấn đề mà Ngài vạch trần này, con vẫn chưa nhận ra được, con cần phải phản tỉnh đã”. Ta nói cho hay, ngươi nên phản tỉnh như vậy, hoặc thông công về vấn đề này với mọi người. Ta không áp đặt theo ý muốn cá nhân của Ta mà yêu cầu ngươi làm gì cả, thay vào đó, Ta cho ngươi sự tự do trọn vẹn. Ta vạch trần vấn đề của ngươi là để nhắc nhở ngươi. Cách nhắc nhở này không phải là mập mờ úp mở, mà là thông công về một sự thật, thông qua việc vạch trần những lời nói hay hành vi được biểu hiện và bộc lộ ra nơi ngươi để nói cho ngươi và làm cho ngươi biết rằng mình thực sự có vấn đề ở phương diện này. Ta sẽ nói cho ngươi biết một cách rõ ràng, sáng tỏ, Ta tuyệt đối sẽ không dùng những lời lẽ mập mờ để khiến ngươi có ấn tượng sai lầm, khiến ngươi rơi vào tiêu cực, yếu đuối và hoang mang, hoặc khiến ngươi cảm thấy lời Ta nói quá đỗi sâu sắc, khó hiểu, thâm sâu khôn lường, để từ đó khiến ngươi coi trọng Ta. Ta sẽ không làm như vậy, mà Ta sẽ nói cho ngươi biết một cách thẳng thắn và rõ ràng, không nói theo kiểu vòng vo khiến ngươi phải đoán mò. Ví dụ, có người nặng tình cảm, nói chuyện dễ có pha tạp, thì Ta nói thẳng với họ: “Con người ngươi nói chuyện có nhiều phần pha tạp quá, chỉ toàn nói theo tình cảm, không bảo vệ lợi ích của nhà Đức Chúa Trời, ngươi chính là kẻ dễ dãi”. Ta nói chuyện thẳng thắn như vậy đấy. Có người khi gặp chuyện thì không biết thực hành thế nào, thế là Ta trực tiếp nói với họ: “Chuyện này ngươi phải làm như thế này, chuyện kia ngươi phải thực hành như thế kia”, Ta nói với họ rõ ràng như vậy. Người biết để tâm và có lý trí mà nghe xong những lời này thì có thể hiểu rõ ràng, không lơ mơ, không mù mờ, và trong lòng họ thực sự biết phải làm thế nào. Đương nhiên, một số kẻ hồ đồ có sự lĩnh hội lệch lạc, sau khi nghe xong những lời này lại bối rối. Họ nghe thế nào cũng không hiểu hoặc không rõ nguyên tắc, còn phải bảo Ta đưa ra ví dụ để nói chi tiết hơn. Nhưng Ta đưa ra ví dụ rồi dạy tiếp cho họ, thì họ vẫn không hiểu, không biết thực hành thế nào. Đây không phải là do Ta chưa giải thích rõ ràng, mà là do họ có tố chất quá kém, quá hồ đồ. Tóm lại, nguyên tắc của Ta khi nói chuyện là làm sao cho các ngươi nghe xong thì không mơ hồ, trong lòng có con đường thực hành rõ ràng và biết làm thế nào để thực hành cho chính xác. Mục đích của Ta khi nói chuyện là vậy.

Trong nguyên tắc không dụ dỗ này, ngoài ba biểu hiện là không dò hỏi, không xúi giục và không kích động ra, còn có một biểu hiện nữa là không mập mờ. Mập mờ có nghĩa là gì? Chính là lời tưởng đúng mà sai, nói không rõ ràng, tạo trạng thái mơ hồ, nói ra nghe thì đúng nhưng không có cách nào để thực hành và thực hiện, chỉ là một câu nói suông, đây gọi là mập mờ không rõ. Còn không mập mờ nghĩa là lời nói không mang thành phần này, không có thực chất này, thay vào đó là rõ ràng, sáng tỏ, có ý nghĩa chính xác và cho người ta có con đường để đi. Ngươi thấy đấy, khi Ta thông công các phương diện lẽ thật khác nhau, mỗi khi thông công đến một chủ đề mới, Ta đều tìm cách đưa ra định nghĩa cho phương diện lẽ thật này trước. Mục đích của việc định nghĩa là gì? Chính là để ngươi có khái niệm rõ ràng, để ngươi biết định nghĩa chính xác về phương diện lẽ thật mà Ta giảng là gì. Khi đã rõ và định vị được định nghĩa chính xác, thì ngươi sẽ có mục tiêu và phương hướng. Ta thông qua việc định nghĩa để đạt được kết quả này nơi con người, từ đó làm cho trong lòng người ta biết rõ ràng hơn rằng mình nên thực hành điều gì, nên tuân thủ điều gì. Sau đó, Ta mới đưa ra một số ví dụ cụ thể. Ta đưa ra ví dụ chính là để giúp người ta thêm thấu tỏ về phương diện lẽ thật này, có nhận thức chính xác và biết nên thực hành thế nào, như vậy thì lời Ta nói mới đạt được kết quả, đạt được mục đích. Cách tốt nhất để đạt được mục đích này là gì? Chính là thông qua việc định nghĩa và đưa ra ví dụ để làm cho ngươi biết nguyên tắc lẽ thật mà ngươi nên tuân thủ là gì. Ngay cả khi có nhiều người không có hiểu biết thuộc linh nghe thì không hiểu nguyên tắc lẽ thật trong chuyện này, chỉ biết làm sao để tuân thủ được một số quy định, nhưng ít ra quy định mà họ tuân thủ cũng rõ ràng. Chẳng hạn, khi thông công một nguyên tắc lẽ thật, Ta đưa ra một số ví dụ, nói rằng người ta ăn thứ gì là không lành mạnh, lựa chọn nào và việc làm nào của người ta là sai lầm. Người có hiểu biết thuộc linh và năng lực lĩnh hội sẽ biết: “Hóa ra nhận thức chính xác về loại chuyện này là vậy. Giờ mình biết nguyên tắc rồi, biết nên thực hành thế nào, nên lựa chọn điều gì, từ bỏ điều gì rồi”. Còn người không có hiểu biết thuộc linh nghe xong thì nói: “Mình hiểu rồi, Đức Chúa Trời không cho ăn cái này, Đức Chúa Trời không cho dùng cái kia”. Biểu hiện của những người không có hiểu biết thuộc linh này cũng nói lên một điều, đó là những ví dụ mà Ta đưa ra rất cụ thể và là điều mà người ta đều có thể tiếp xúc trong đời thực, không sáo rỗng chút nào, không phải là lý thuyết, không phải là khẩu hiệu, cũng không phải là kiến thức cao thâm gì.

Đức Chúa Trời nhập thể nói chuyện thì không mập mờ úp mở, không lập lờ hai mặt, không phải Ta chỉ như vậy khi thông công lúc nhóm họp, mà bình thường nói chuyện với các ngươi, Ta cũng như vậy. Có lúc Ta nói đến việc làm bổn phận, có lúc Ta nói đến công tác của hội thánh, có lúc Ta nói đến tình trạng bại hoại và sự sai lệch trong thực hành của người ta. Bất kể thông công về vấn đề ở phương diện nào, Ta đều dựa trên tình trạng và vóc giạc của các ngươi, dựa trên vấn đề hiện đang tồn tại nơi các ngươi để thông công với các ngươi. Khi thông công, Ta chưa bao giờ hô khẩu hiệu, mà thay vào đó, Ta nêu rõ và giải thích cụ thể, rồi chỉ ra con đường cho các ngươi. Có lúc Ta nói đến mức bản thân cũng cảm thấy dông dài, nhưng cuối cùng các ngươi nghe thì hiểu được, kết quả như vậy là khá tốt rồi. Ta nói lời này là có ý gì? Chính là khi Ta thông công với các ngươi một chuyện trong cuộc sống thường nhật, cho dù chỉ là căn dặn một công việc đơn giản thì Ta cũng để các ngươi nghe được rõ ràng, sáng tỏ, chứ không mập mờ. Không mập mờ có nghĩa là gì? Chính là không nói chuyện cao siêu, không lên giọng quan liêu, không giảng câu chữ và đạo lý, không nói suông, nói khoác. Thay vào đó, Ta nói sao cho ý Ta muốn nói được rõ ràng, sáng tỏ, không lập lờ hai mặt, không chỉ nói cho rõ ràng, sáng tỏ, mà còn làm cho các ngươi biết cách thực hành. Chẳng hạn, khi sống ở nước ngoài, nếu muốn xây một số công trình phục vụ cuộc sống thường nhật trong sân, thì Ta sẽ bảo người lo việc này đi hỏi chính quyền xem khi xây công trình như vậy thì có yêu cầu gì, điều kiện gì, sau khi tìm hiểu rõ cả rồi thì nghiêm ngặt xây theo đúng điều kiện và quy cách mà chính quyền yêu cầu. Nếu không đạt được, không đáp ứng được điều kiện mà chính quyền yêu cầu, thì chúng ta có thể không xây. Khi làm việc này, Ta dặn dò người lo việc vài điều cần lưu ý, rồi dặn dò thêm cách xử lý một số tình huống đặc biệt mà họ không ngờ tới. Từng câu từng chữ Ta nói đều vô cùng rõ ràng, người ta nghe xong là biết cách lo việc này. Có người dặn dò người khác làm việc thì nói năng mập mờ không rõ, toàn nói giọng quan liêu, giảng đạo lý và nói lời sáo rỗng. Chẳng hạn, khi sắp xếp người đến xử lý công chuyện ở cơ quan chính quyền, thì họ nói: “Đến chỗ chính quyền nghe ngóng chút đi, xem chính quyền có quy định gì”. Người lo việc này nghe xong cũng không biết phải làm gì, không biết nói năng thế nào cho thích hợp, thế là chỉ đơn giản nghe ngóng một chút rồi thôi, chẳng đạt được kết quả gì. Dặn dò người khác làm việc như vậy có phải là nói giọng quan liêu không? (Thưa, phải.) Khi làm công tác cụ thể, Ta đều dựa vào những vấn đề tồn tại trong công tác, những vấn đề có thể dự kiến trước cũng như những vấn đề các ngươi nêu ra để thông công và giải quyết từng cái một. Khi thông công từng vấn đề một, một mặt Ta nhắm đến việc giải quyết chúng theo nguyên tắc lẽ thật, mặt khác, khi có một số trường hợp đặc biệt thì Ta đưa ra để xử lý và thông công một cách đặc biệt. Mọi nguyên tắc Ta dặn dò và nội dung Ta thông công đều không mập mờ, ít ra về phần Ta, xuất phát điểm của Ta là làm sao cho rõ ràng, cho ngươi một nguyên tắc chung để khi gặp loại chuyện như vậy thì ngươi có thể áp dụng nguyên tắc đó và làm theo nguyên tắc đó. Như vậy thì ngươi có con đường để đi, trong cuộc sống thường nhật mà gặp chuyện thì không hoang mang, thay vào đó, biết xử lý vấn đề và biết làm công tác. Ta không bàn luận viển vông, không giảng một số đạo lý và lý thuyết tưởng đúng mà sai để mê hoặc và áp chế ngươi, không nói một số câu nói mang tính tri thức hoặc lý thuyết tưởng đúng mà sai để dạy dỗ ngươi, bắt ngươi tiếp nhận và thuận phục, Ta không làm như vậy. Ta chưa bao giờ lôi người ta đến trước mặt Ta để nghe Ta bàn luận viển vông và giảng lý thuyết, rồi Ta nói lý thuyết xong thì mọi người nghe mà chẳng hiểu gì, cảm giác như đã hiểu và đạt được điều gì đó, nhưng dường như chẳng có vấn đề nào được giải quyết, thế là họ cảm thấy mấy tiếng đồng hồ này thật vô ích và lãng phí thời gian. Ta không làm kiểu như vậy. Các ngươi có vấn đề thì Ta giải quyết vấn đề của các ngươi, các ngươi không có vấn đề thì Ta cố hết sức không làm phiền các ngươi. Nội dung Ta nói chuyện với các ngươi đều rất cụ thể. Chẳng hạn, công tác thánh ca có vấn đề thì Ta thông công với các ngươi vấn đề về thánh ca, tuy Ta chưa từng học kiến thức chuyên môn về phương diện này, nhưng Ta sẽ thông công về nguyên tắc. Nếu công tác dịch thuật có vấn đề, tuy Ta không thông thạo tiếng Anh, nhưng Ta sẽ thông công với các ngươi về nguyên tắc dịch thuật, giúp các ngươi giải quyết những vấn đề mang tính nguyên tắc mà các ngươi không xử lý được, hơn nữa còn cố gắng giúp các ngươihiểu được một số nguyên tắc thực hành lẽ thật thông qua mối thông công của Ta. Cũng có thể các ngươi nghe xong thì chưa hiểu được những lẽ thật hoặc lẽ mầu nhiệm cao thâm, nhưng các ngươi biết được một nguyên tắc thực hành hoặc con đường giải quyết vấn đề trong công tác mà mình đang làm. Đây chính là kết quả mà Ta muốn đạt được nơi các ngươi khi tiếp xúc, qua lại và xử lý công chuyện với các ngươi.

Trong chủ đề không mập mờ còn có một điều nữa. Chính là khi phân định một loại người, một loại chuyện, thì nguyên tắc của Ta lúc thông công với ngươi là để giúp ngươi thấy rõ thực chất của một loại người và tính chất của một loại chuyện, làm cho trong lòng ngươi rõ ràng về thực chất của loại người này là gì, tính chất của loại chuyện này là gì, cũng như ngươi nên đối đãi như thế nào, nên có quan điểm và thái độ đúng đắn ra sao. Mục đích của Ta khi thông công những vấn đề này là để giúp ngươi có quan điểm, thái độ và lập trường đúng đắn đối với các loại con người, sự việc và sự vật, từ đó bảo đảm được khi ngươi giữ vững nguyên tắc thì sẽ giữ vững nguyên tắc đúng đắn chứ không phải nguyên tắc sai lầm. Mục đích của Ta là làm cho ngươi biết phân định con người, sự việc và sự vật, biết được thực chất và chân tướng của các loại con người, sự việc và sự vật rốt cuộc là gì, để ngươi nhận biết điều tích cực, đồng thời cũng nhận biết điều tiêu cực, để bất kể gặp phải loại người, sự việc và sự vật nào trong đời thực thì ngươi cũng đều có lập trường đúng đắn của mình. Lập trường đúng đắn nghĩa là gì? Nghĩa là ngươi có thể đứng trên lập trường đúng đắn để giữ vững nguyên tắc, không đi con đường trung dung, không làm người lơ mơ, không làm người hồ đồ, không làm người dễ dãi. Ngươi thấy đấy, thuở ban đầu, khi dụ dỗ A-đam và Ê-va, con rắn nói với họ rằng: “Đức Chúa Trời không cho các ngươi ăn trái của cây biết điều thiện điều ác, Đức Chúa Trời nói ăn vào chắc chắn sẽ chết, nhưng thực ra ăn vào chưa chắc đã chết đâu”. Câu này của con rắn tuy rất mập mờ, nhưng lại có tác dụng dụ dỗ đối với A-đam và Ê-va, mang lại hậu quả tai ác. Là hậu quả gì? Chính là khiến A-đam và Ê-va không còn nghe lời Đức Chúa Trời, không còn tin lời Đức Chúa Trời, không còn có lập trường đúng đắn, cũng không còn giữ vững lập trường và nguyên tắc ban đầu nữa. Thay vào đó, trên cơ sở nghi ngờ Đức Chúa Trời, họ không tin lời dặn dò của Đức Chúa Trời, cũng không tin ăn trái của cây biết điều thiện điều ác là sẽ chết, rồi sau đó họ nảy sinh ý tưởng. Cùng lúc nảy sinh ý tưởng thì họ giơ tay hái trái của cây biết điều thiện điều ác. Đây chính là quá trình bị dụ dỗ, cũng là kết quả của việc bị dụ dỗ. Quá trình bị dụ dỗ chính là họ nghe và tin lời Sa-tan, nảy sinh ý tưởng, nảy sinh sự nghi ngờ đối với Đức Chúa Trời và không còn tin lời Đức Chúa Trời nữa. Kết quả của việc bị dụ dỗ chính là họ làm trái lời Đức Chúa Trời mà ăn trái của cây biết điều thiện điều ác. Mặc dù con rắn không nói: “Các ngươi ăn vào chắc chắn sẽ không chết, Đức Chúa Trời nói sai rồi, Đức Chúa Trời gạt các ngươi đó”, nhưng trong câu “các ngươi ăn vào chưa chắc đã chết” mà con rắn nói, thì cái “chưa chắc” này chính là một lời nói mập mờ. Lời nói mập mờ này mang tính chất dụ dỗ, khiến người ta nảy sinh sự nghi ngờ đối với Đức Chúa Trời và không tin lời Đức Chúa Trời. Lời nói mập mờ này cũng làm cho người ta đánh mất lập trường đúng đắn, đánh mất động lực và đức tin để giữ vững nguyên tắc. Cuối cùng thế nào? Con người đã đi vào con đường bị con rắn dụ dỗ, phản bội Đức Chúa Trời và sống trong tội lỗi. Xem ra như vậy thì từ “chưa chắc” mà con rắn nói khi dụ dỗ con người đã có tác dụng tiêu cực quá lớn rồi. Mặc dù nó không trực tiếp phủ nhận lời Đức Chúa Trời, không trực tiếp bảo con người đừng nghe lời Đức Chúa Trời, không trực tiếp bảo con người nghi kỵ và nghi ngờ Đức Chúa Trời, càng không nói với con người câu khẳng định kiểu “Ngươi ăn vào thì sẽ không chết”. Nhưng chỉ một từ mập mờ như “chưa chắc” là có thể khiến con người nảy sinh ý tưởng, khiến con người bị lừa, làm cho con người bị dụ dỗ ăn trái của cây biết điều thiện điều ác. Đây chính là hậu quả mà câu nói mập mờ mang lại cho con người. Từ mập mờ “chưa chắc” này đến từ đâu? Thuở ban đầu, từ này xuất phát từ lời con rắn dụ dỗ Ê-va. Trước đó, trong vài câu Đức Chúa Trời dặn dò A-đam và Ê-va, ngươi không hề thấy một từ mập mờ nào, cũng không thấy một chút hàm ý mập mờ nào. Tức là những lời Đức Chúa Trời phán đều chân thành, chân thực và chính xác. Mỗi một câu Ngài phán đều là một lập trường đúng đắn, đều là một quan điểm đúng đắn và chính xác, đều là điều mà con người nên giữ vững, cũng là điều con người nên thuận phục đời đời và đừng bao giờ nghi ngờ. Trong lời Đức Chúa Trời không có một từ nào mập mờ cả, cho nên trong lời Đức Chúa Trời không có một từ nào dụ dỗ con người. Đối với con người, xét theo hướng tiêu cực, thì lời Đức Chúa Trời phán với con người không có một chút dụ dỗ hay lừa dối nào; xét theo hướng tích cực thì có thể nói rằng mỗi một câu Đức Chúa Trời nói với con người đều là sự bảo vệ và gìn giữ, có thể giữ được mạng sống của con người và có thể duy trì mối quan hệ thân mật nhất này giữa con người với Đức Chúa Trời. Vậy mà một từ mập mờ “chưa chắc” của con rắn đã hoàn toàn phá vỡ mối quan hệ này, cũng hoàn toàn kéo con người ra xa khỏi Đức Chúa Trời, làm cho con người nghi ngờ Đức Chúa Trời, xa rời Đức Chúa Trời và xấu hổ không dám diện kiến Đức Chúa Trời. Rồi trên cơ sở đó, con rắn tiến thêm bước nữa mà dụ dỗ, làm bại hoại và hủy hoại con người. Từ đoạn lời Đức Chúa Trời dặn dò A-đam và Ê-va có thể thấy rằng thực chất trong lời Đức Chúa Trời và mục đích của Ngài quá đỗi có ích cho con người. Nghe lời và thuận phục Đức Chúa Trời là lập trường con người nên có, cũng là nguyên tắc lẽ thật mà con người mãi mãi nên tuân giữ. Đối với con người, Đức Chúa Trời mãi mãi yêu thương, yêu quý, gìn giữ và trân quý; còn mục đích trong lời nói và việc làm của Sa-tan chính là dụ dỗ và làm bại hoại con người, dụ dỗ con người nghi ngờ và xa rời Đức Chúa Trời, rồi sau đó dụ dỗ con người thờ phượng nó và bị nó làm bại hoại. Đức Chúa Trời nhập thể đã có sự sống của Đức Chúa Trời và thực chất của Đức Chúa Trời, thì Ngài cũng có biểu hiện và nguyên tắc cụ thể là không mập mờ trong lời nói và việc làm. Từ mọi bài giảng của Ta, cũng như thông qua những lúc tiếp xúc với Đức Chúa Trời nhập thể trong cuộc sống thường nhật, chắc chắn các ngươi sẽ từng bước phát hiện ra rằng, trong mọi lẽ thật mà Đức Chúa Trời cung ứng cho con người không có bất kỳ từ ngữ mập mờ không rõ ràng nào như của Sa-tan, cũng không có bất kỳ cách nói mập mờ không rõ ràng nào như của Sa-tan, phải vậy không? (Thưa, phải.) Cái không mập mờ này là một sự bộc lộ sự chân thực và thành tín của Đức Chúa Trời trong lời nói và công tác của Ngài, ngoài ra cũng là một sự bộc lộ thực chất của Đức Chúa Trời. Tức là nơi Đức Chúa Trời không có thực chất của kiểu nói chuyện dụ dỗ con người như Sa-tan, trong thực chất của Đức Chúa Trời không có thành phần như vậy. Cho nên, ngay cả khi có lúc Đức Chúa Trời nhập thể nói chưa thật chi tiết, chưa thật rõ ràng về những chuyện nhỏ cá biệt nào đó, nhưng tuyệt đối không bao giờ có chuyện Ngài nói những lời mập mờ tương tự như lời Sa-tan dụ dỗ con người, cũng tuyệt đối không có chuyện Ngài dùng một loại ngôn ngữ, một cách nói hay một cách công tác nào khiến ngươi lúng túng không biết phải làm sao, khiến ngươi nghi kỵ và xa rời Đức Chúa Trời. Thay vào đó, bất kể Đức Chúa Trời nói chuyện bằng phương thức nào hoặc nói nội dung gì, thì mục đích cuối cùng Ngài muốn đạt được đều là để ngươi ngày càng gần gũi với Đức Chúa Trời, để ngươi từ những lời nói này mà hiểu được tâm ý của Đức Chúa Trời, có tư tưởng, quan điểm và lập trường đúng đắn, có thể có thêm động lực để giữ vững nguyên tắc lẽ thật. Một mặt là vậy. Mặt khác, những lời của Ngài làm cho ngươi từ những lời rõ ràng và sáng tỏ này mà có được mục tiêu, có được phương hướng đúng đắn trong cuộc đời và có được hướng đi để tiến lên phía trước. Đương nhiên, điều quan trọng hơn nữa chính là khi ngươi có được quan điểm và lập trường đúng đắn đối với mọi loại con người, sự việc và sự vật, giữ vững được nguyên tắc lẽ thật, thì ngươi sẽ đạt được sự bảo vệ và coi sóc của Đức Chúa Trời, từ đó đạt được sự công nhận và chấp thuận của Đức Chúa Trời. Vậy thì các ngươi có phải là người hưởng lợi không? (Thưa, phải.) Chỉ riêng chuyện Đức Chúa Trời nói chuyện và làm việc không mập mờ đã làm cho các ngươi đạt được ích lợi lớn như thế. Vậy đến nay các ngươi đã lĩnh hội được chút nào chưa? (Thưa, chúng con đã lĩnh hội được một chút.) Nếu Ta không nói, có lẽ các ngươi cả đời này cũng không lĩnh hội được. Có lẽ các ngươi chỉ cảm thấy: “Lời Ngài nói chính là lẽ thật, Ngài nói tương đối chính xác và khách quan, Ngài hiểu rõ chúng con khá sâu sắc”, nhưng các ngươi lại không nhận biết được phương diện Đức Chúa Trời nhập thể nói chuyện thì không mập mờ, phải vậy không? (Thưa, phải.)

Việc Đức Chúa Trời nhập thể nói chuyện không mập mờ còn có một biểu hiện nữa, chính là trong những nội dung đủ mọi mặt mà Ta thông công với các ngươi, bất kể liên quan đến công tác nghiệp vụ hay lối vào sự sống, đều không tồn tại bất kỳ kiến thức, triết học hay thần học nào, hoàn toàn không tồn tại những thứ này. Cho dù có liên quan đến một hạng mục công tác nghiệp vụ nào đó, thì tinh túy trong phần lớn nội dung Ta thông công chủ yếu là nói cho các ngươi biết cách nắm vững nguyên tắc lẽ thật ở phương diện đó, cách để có thể vận dụng đúng đắn kiến thức và kỹ thuật nghiệp vụ ở phương diện đó, hầu đạt đến việc làm chứng tốt hơn cho Đức Chúa Trời và làm bổn phận đạt tiêu chuẩn. Ta không truyền thụ kiến thức cho các ngươi. Có lúc Ta sẽ trao đổi với các ngươi về một số thường thức. Chẳng hạn như thường thức phòng ngừa cảm cúm: mùa đông thì chú ý giữ ấm, đừng để bị lạnh, khi cửa sổ mở thì đừng ngồi dưới cửa sổ để tránh bị trúng gió, đây là thường thức. Thường thức là nói đến điều gì? (Thưa, là một số kinh nghiệm sống mà người ta nên biết trong cuộc sống thường nhật.) Kinh nghiệm sống và hiểu biết về chuyện bảo vệ sức khoẻ, phải vậy không? (Thưa, phải.) Ta không truyền thụ cho các ngươi kiến thức xã hội hay kiến thức thần học, tại sao Ta không truyền thụ cho các ngươi những điều này? (Thưa, vì những điều này không có ích lợi gì cho chúng con.) Nói đúng một mặt rồi, còn gì nữa? (Thưa, kiến thức xã hội đều thuộc về Sa-tan, Đức Chúa Trời sẽ không truyền thụ cho chúng con những điều này để khiến chúng con lầm đường lạc lối.) Các ngươi nói xem, Ta có những thứ thuộc về Sa-tan không? (Thưa, không có.) Những điều Ta thông công hoặc trò chuyện với các ngươi đều là gì? (Thưa, đều là điều tích cực, đều là lẽ thật.) Kiến thức , triết học, lô-gíc, suy luận và cả thần học của Sa-tan, Ta chưa bao giờ học những thứ này, trong Ta cũng không có những thứ này. Có người nói: “Sao Ngài không học một ít đi?”. Ta thật sự không có sở thích đó, không thích những thứ này, Ta nghe người ta nói về thần học là thấy ghê tởm, chán ghét. Thần học đều là những đạo lý và lý thuyết tưởng đúng mà sai, nó không thiết thực, phải vậy không? Có người học Kinh thánh đến mức làu làu, còn luôn nghiên cứu nào là sách của các nhà tiên tri, sách tiên đoán, chương mấy câu mấy đã tiên đoán điều gì, ứng nghiệm ra sao, trong đó có lẽ mầu nhiệm gì. Những chuyện này, Ta chẳng bao giờ nghiên cứu, cũng chẳng cần thiết phải tốn công nghiên cứu. Ta sinh ra đã không thích những thứ này rồi. Khi gặp chuyện trong cuộc sống thường nhật, Ta chỉ ngẫm nghĩ xem với chuyện này thì làm thế nào là thích hợp, làm thế nào thì có thể giải quyết được chuyện này, và cách tốt nhất để giải quyết chuyện này là gì. Rất nhiều người khi gặp chuyện thì oán trách, hối hận hoặc bối rối, hoặc là giảng đạo lý to tát và hô hào khẩu hiệu. Còn Ta khi gặp chuyện thì bình tĩnh suy xét cách giải quyết thích hợp cho chuyện này, suy xét phương án giải quyết. Cho nên khi nói chuyện hoặc thông công với các ngươi thì Ta thích nói những chuyện thực tế, những chuyện trong quá trình các ngươi làm bổn phận, thậm chí là những con người, sự việc và vật và những chuyện ăn ở mặc đi lại, v.v. trong cuộc sống. Ta toàn nói về những chuyện thực tế chứ không bàn luận viển vông hay nói lời sáo rỗng. Các ngươi tiếp xúc với Ta lâu rồi thì có thể thấy Ta rất kỹ lưỡng, rất nghiêm túc đối với những chuyện thực tế và vấn đề thực tế trong cuộc sống. Ta là dạng người như vậy thôi, đối với chuyện gì cũng không mập mờ, nhất là khi liên quan đến chuyện làm bổn phận hoặc lối vào sự sống của các ngươi, thì Ta càng không mập mờ, phải vậy không? (Thưa, phải.) Đây là một mặt của không mập mờ.

Không mập mờ cũng liên quan đến chủ đề “không dụ dỗ”. Cái không mập mờ này chính là nói đến chuyện cách thức nói chuyện và công tác của Ta rất rõ ràng, một là một, hai là hai, không có những lời nói hay cách làm tưởng đúng mà sai. Ngay cả khi có một số chuyện mà ngay lúc đó không thể vội vàng đưa ra kết luận, thì Ta cũng sẽ bảo các ngươi: “Về người này, chúng ta hãy quan sát thêm. Về chuyện này, chúng ta hãy chờ thêm. Trước mắt, chúng ta chỉ có thể làm hết sức mình. Tiếp theo, hãy xem chuyện này phát triển theo phương hướng nào. Chúng ta dựa vào phương hướng phát triển của sự việc rồi mới từng bước đề ra phương án và mục tiêu”. Ngươi thấy đấy, Ta sẽ nói rõ cho các ngươi, giảng rõ ràng về nguyên tắc và phương hướng hành động, tuyệt đối sẽ không dùng những lời lẽ tưởng đúng mà sai để khiến các ngươi cảm thấy không biết làm thế nào hoặc không biết xử lý một số chuyện ra sao. Ngay cả khi xác định tính chất một số người, Ta cũng sẽ dựa vào một số chuyện đặc biệt mà họ làm và biểu hiện mọi mặt của họ để thông công, hầu cho các ngươi thấy rõ thực chất của loại người này là gì và biết cách để đối đãi với loại người này. Phải vậy không? (Thưa, phải.) Nghĩa là khi xử lý chuyện thì Ta chưa bao giờ pha tạp tình cảm cá nhân hay ân oán riêng tư. Ngay cả khi Ta xử lý một số người, nếu các ngươi không rõ thực chất của loại người này là gì, thì Ta cũng sẽ thông công cụ thể và nói rõ cho các ngươi những vấn đề tồn tại nơi họ, sau đó dùng lẽ thật để đối chiếu và mổ xẻ thực chất của họ, giúp các ngươi được rõ tại sao nhà Đức Chúa Trời lại xử lý như vậy, tại sao nguyên tắc của nhà Đức Chúa Trời về chuyện đối đãi với loại người này và kết quả xử lý lại là như vậy. Ngay cả khi có những người sau khi bị xử lý thì không nhận tội, không hối cải, không biết tại sao mình bị cách chức, bị đuổi đi, hoặc không biết tại sao mình bị khai trừ, thì đó cũng chỉ là do cá nhân họ không nhận biết bản thân và không hối hận. Nhưng về chuyện tại sao nhà Đức Chúa Trời xử lý họ, tại sao kết quả xử lý họ lại như vậy, thì chúng ta phải đưa vấn đề ra ánh sáng, để cho các ngươi biết chi tiết của những vấn đề này, biết nơi người này tồn tại vấn đề gì, nguyên nhân nhà Đức Chúa Trời xử lý họ là gì và căn cứ để xử lý họ là gì. Tóm lại, từ trước đến nay, trong tất cả những lời Ta thông công với các ngươi, ngoại trừ phần ngôn ngữ thần tính mà một số người nghe thì không biết là đang nói về điều gì, cũng nhìn không thấu và không biết lẽ thật trong đó là gì ra, thì mọi điều khác, hễ liên quan đến vấn đề lối vào sự sống của các ngươi - bất kể là vạch trần tâm tính địch lại Đấng Christ của người ta hay vạch trần những biểu hiện và sự bộc lộ của các tâm tính bại hoại khác nhau nơi người ta - thì Ta đều định vị chúng đặc biệt rõ ràng và chính xác, nói rõ về chúng một cách rõ ràng và chính xác, giúp các ngươi biết điều gì là tích cực và điều gì là tiêu cực, điều gì các ngươi nên giữ vững và điều gì các ngươi nên sửa đổi, nên chống lại và nên vứt bỏ. Tóm lại, nguyên tắc nhất quán của Ta khi nói chuyện chính là thông công cho rõ ràng về lẽ thật, thông công cho rõ ràng về tâm ý của Đức Chúa Trời, thông công cho rõ ràng về tiêu chuẩn mà Đức Chúa Trời yêu cầu con người, thông công cho rõ ràng về nguyên tắc thực hành đủ mọi mặt mà con người nên tuân thủ. Từ đó, Ta cho các ngươi mục tiêu chính xác, phương hướng chính xác, nguyên tắc thực hành và con đường thực hành chính xác. Hơn nữa, trong quá trình này, Ta cũng thông công cho rõ ràng về kết cục và cái kết sau cùng của những người không tuân thủ các nguyên tắc khác nhau, nhất là Ta cũng đã nói rõ ràng với các ngươi về cách xác định tính chất của các loại vấn đề xuất hiện nơi mỗi một người. Chẳng hạn, có những người làm bổn phận qua loa chiếu lệ, cũng không mưu cầu lẽ thật và chưa bao giờ có lối vào sự sống, thì Ta nói: “Ngươi làm bổn phận như thế này đã bị xác định tính chất rồi, chính là đem sức lực phục vụ. Cứ tin như thế này thì đến cuối cùng ngươi cũng không thể được cứu rỗi. Ngươi phải mưu cầu lẽ thật, phải có lối vào sự sống, thoát khỏi tình trạng của người đem sức lực phục vụ và nỗ lực đi lên con đường được cứu rỗi. Mục đích của việc làm bổn phận là để được cứu rỗi, chứ không phải là để ra sức hay là đem sức lực phục vụ”. Ngươi thấy đấy, như vậy chẳng phải là nói rất rõ ràng sao? (Thưa, phải.) Như vậy là để ngươi biết một cách rõ ràng rằng không thực hành lẽ thật và không có lối vào sự sống thì sẽ có hậu quả gì. Ngoài ra, bất kể thông công về phương diện lẽ thật nào, Ta không chỉ thông công từ một góc độ, một phương diện, mà là từ nhiều góc độ và nhiều phương diện, dùng đủ mọi cách và đưa ra nhiều loại ví dụ để thông công. Ta cố gắng làm cho các ngươi hiểu được nguyên tắc lẽ thật ở phương diện này, chứ không phải chỉ hiểu một đạo lý, quy định, hay là tìm hiểu một kiến thức nào đó một cách đơn giản. Từ khi Đức Chúa Trời lần đầu tiếp xúc với nhân loại và dặn dò con người câu đầu tiên cho đến nay, nguyên tắc nói chuyện của Đức Chúa Trời không hề thay đổi. Bất kể Đức Chúa Trời nói chuyện và công tác hay như là Thần hay là ở trong xác thịt mà nói chuyện và công tác, thì Ngài vẫn luôn tuân theo nguyên tắc này: nói chuyện rõ ràng và cẩn trọng. Xét từ góc độ của con người thì những điều Đức Chúa Trời nói với con người và cung ứng cho con người đều là lời dặn dò, đương nhiên cũng là sự cung ứng. Tức là đối với mỗi một câu nói của Đức Chúa Trời, nhân loại thọ tạo đều nên ghi nhớ trong lòng, đều nên tuân thủ nghiêm ngặt trong cuộc sống thường nhật, nhất là trong việc làm bổn phận, chứ không nên tiếp cận lời Đức Chúa Trời như là một dạng lý thuyết thần học. Mỗi một câu Đức Chúa Trời nói, mỗi một phương diện lẽ thật mà Đức Chúa Trời cung ứng cho con người đều là để làm cho con người đi con đường đúng đắn, làm cho con người có mục tiêu và phương hướng rõ ràng. Nếu tuân thủ, con người sẽ trở thành loài thọ tạo đạt tiêu chuẩn và được công nhận trong mắt Đức Chúa Trời.

Về phương diện không mập mờ này, còn có vấn đề gì nữa không? Các ngươi còn có thể nghĩ ra điều gì không? Trước đây ở Trung Quốc đại lục, trước khi bước công tác này chính thức bắt đầu, có một số người mang danh lãnh đạo, hễ phát hiện ai phạm tội dâm loạn thì bám riết không buông, bắt người phạm tội dâm loạn quỳ trên đất xưng tội, rồi những lãnh đạo đó cứ thế mà nghe. Họ vào vai Đức Chúa Trời để nghe nội dung xưng tội của tín đồ bình thường, khi nghe có chỗ nói chưa rõ ràng lắm thì họ còn gặng hỏi chi tiết. Thực ra, gặng hỏi những điều này là không cần thiết, chỉ cần người ta xưng tội, hối cải và không tái phạm nữa là được rồi. Người ta xưng tội là xưng với Đức Chúa Trời, chứ đâu phải xưng với con người. Con người không được làm quan tòa, càng không được đại diện cho Đức Chúa Trời. Nhưng những người mang danh lãnh đạo này lại chuyên môn gặng hỏi chi tiết phạm tội của người ta, làm cho mọi người nghe mà thấy ghê tởm và khó chịu. Những lãnh đạo này cứ nhất quyết phải gặng hỏi người ta đến mức bẽ mặt mới chịu thôi. Các ngươi nghe xong chuyện này thì có cảm giác gì? (Thưa, cảm thấy rất ghê tởm.) Lãnh đạo như vậy thì là lãnh đạo giả rồi, thực chất của họ cũng là của kẻ ác. Họ còn muốn làm quan tòa xử án, đúng là không biết xấu hổ! Khi tín đồ bình thường phạm tội, nhất là phạm tội dâm loạn, thì họ đặc biệt thấy hứng thú và gặng hỏi tỉ mỉ. Đối với công tác của hội thánh thì họ không làm như vậy, nhưng khi phát hiện vấn đề dâm loạn thì họ đặc biệt thấy hứng thú, đặc biệt nghiêm túc, gặng hỏi người phạm tội đến mức người đó ước gì có cái lỗ để chui xuống. Thế mà những lãnh đạo này còn cảm thấy mình làm việc nghiêm túc, không mập mờ, cảm thấy mình có thể làm công tác thực tế rồi. Như vậy có phải là quá hoang đường rồi không? Có những người cho rằng mình có địa vị rồi thì có thể đại diện cho Đức Chúa Trời, thế là họ lợi dụng địa vị mà làm một số chuyện. Các tín đồ bình thường vì không có sự phân định, không biết thế nào là đúng, thế nào là sai, không biết yêu cầu của Đức Chúa Trời đối với con người là gì, cho nên, những người mang danh lãnh đạo này yêu cầu họ làm gì thì họ đều nghe theo, cho rằng không nghe theo lãnh đạo chính là phản nghịch Đức Chúa Trời. Ngay cả khi bị gặng hỏi đến mức cực kỳ bẽ mặt thì họ cũng không có lời oán trách nào, lại còn cho rằng đây là thuận phục Đức Chúa Trời, là trung thực và thành thật với Đức Chúa Trời. Những người mang danh lãnh đạo đó cho rằng: “Xảy ra chuyện lớn như thế này thì chúng ta không thể mập mờ được. Anh chị phạm tội dâm loạn rồi, phải vạch trần mọi chi tiết. Anh chị phải xưng tội với tất cả mọi người!”. Cuối cùng, họ gặng hỏi người đó đến mức đặc biệt bẽ mặt và đau khổ, thậm chí không muốn sống nữa. Các ngươi nói xem công tác này họ làm thế nào? (Thưa, không tốt.) Các ngươi xem Ta có làm việc như vậy không? Khi tiếp xúc với các ngươi thì Ta có tìm hiểu đời tư của các ngươi không? (Thưa, chưa bao giờ.) Các ngươi nói xem, Ta có muốn tìm hiểu đời tư của các ngươi, tìm hiểu xem các ngươi từng lén lút làm những việc xấu gì không? Ta không muốn tìm hiểu những chuyện đó. Ta nói không muốn tìm hiểu thì đây là Ta đang giả vờ hay là do Ta không có cơ hội tìm hiểu? (Thưa, đều không phải, mà là Đức Chúa Trời không muốn tìm hiểu.) Ta không muốn tìm hiểu là vì Ta chẳng có hứng thú và chẳng thấy cần thiết. Các ngươi có vấn đề gì thì nên tự mình cầu nguyện với Đức Chúa Trời hoặc tìm kiếm lẽ thật để giải quyết, như vậy là tốt nhất. Có những người làm lãnh đạo rồi thì muốn lợi dụng địa vị để làm một số việc mà người có địa vị muốn làm, nắm bắt những suy nghĩ trong lòng người khác và những chuyện đời tư của người khác. Công tác thực tế mà lãnh đạo và người làm công nên làm thì họ chẳng làm việc nào, nhưng đối với đời tư của người ta thì họ lại gặng hỏi khá nghiêm túc, còn cảm thấy làm công tác như vậy thì mọi người đều phục, họ cảm thấy như vậy khá vinh hạnh. Dạng người như vậy có lý trí không? Quá đỗi thiếu lý trí rồi, một chút nhân tính cũng không có.

Từ lời nói và công tác của Đức Chúa Trời, người ta đều có thể lĩnh hội được chuyện Đức Chúa Trời không mập mờ này. Nếu ngươi nghiêm túc lĩnh hội mỗi câu nói và mỗi lần Đức Chúa Trời nói chuyện, nghiêm túc lĩnh hội và trải nghiệm công tác của Đức Chúa Trời nơi ngươi, thì ngươi sẽ càng tin rằng Đức Chúa Trời thành tín, rằng lời nói và công tác của Đức Chúa Trời có tình yêu thương và sự quan tâm đối với con người. Sự cung ứng sự sống của Đức Chúa Trời dành cho con người chưa bao giờ làm con người lầm lạc. Nghĩa là Đức Chúa Trời không đưa ra sự chỉ dẫn và thị phạm sai lầm cho con người, cũng chưa bao giờ có những câu nói sai lầm, lại càng không có những câu nói sai lầm tưởng đúng mà sai khiến người ta bối rối. Thay vào đó, bất kể là nội dung nào, bất kể liên quan đến lẽ thật nào, Ngài đều không ngại phiền hà mà cung ứng cho người ta những câu nói tích cực và đúng đắn. Ngay cả khi có liên quan đến nội dung về cuộc sống thường nhật của người ta, thì Ta cũng sẽ dựa vào kinh nghiệm và thể nghiệm cá nhân của Ta để nói cho người ta biết một số thường thức trong cuộc sống. Nhất là Ta chỉ dẫn cho một số người trẻ tuổi, nói cho họ biết một số thường thức cuộc sống, để họ khỏi đi đường vòng, không có lối sống sai lầm hoặc thói quen sống sai lầm. Cho nên, bất kể là trong lúc thông công lẽ thật hay trong cuộc sống thường nhật, thì Đức Chúa Trời nhập thể tuyệt đối là đang cung ứng, hỗ trợ và giúp đỡ các ngươi. Xét từ phương diện làm công tác và thông công lẽ thật, thì công tác Đức Chúa Trời nhập thể làm và lời Ngài nói đều đáng để các ngươi tuân thủ, hơn nữa là tuân thủ và thuận phục một cách tuyệt đối, không qua loa. Bởi vì đến từ sự sống của Đức Chúa Trời và thực chất của Đức Chúa Trời, nên những lời này là lời dẫn dắt các ngươi đi lên con đường được cứu rỗi, cũng là lời dẫn dắt các ngươi hướng về Đức Chúa Trời. Trong cuộc sống thường nhật, ngươi có thể không để vào lòng một số lời Ta nói, nhưng về phần cá nhân Ta thì xuất phát điểm của Ta tuyệt đối không phải là muốn làm tổn thương bất kỳ ai. Ngay cả khi Ta không thích tính cách, tâm tính, cách hành động hoặc phương diện nào đó của ngươi cho lắm, nhưng Ta tuyệt đối sẽ không làm tổn thương ngươi, cũng tuyệt đối sẽ không giống như con rắn mà làm những chuyện dụ dỗ ngươi. Ta sẽ không dụ dỗ ngươi đi vào con đường cong vạy hay tà ác, cũng không dụ dỗ ngươi sa đọa, phạm tội hay là làm những chuyện chống đối Đức Chúa Trời, Ta tuyệt đối sẽ không làm như vậy. Ngay cả khi Ta không thích phương diện nào đó của ngươi cho lắm, hoặc nó không mấy tương hợp với tính cách của cá nhân Ta, ngay cả khi Ta sẽ không qua lại hay giao tiếp với ngươi trong cuộc sống, nhưng với thân phận này của Ta thì Ta tuyệt đối sẽ đối đãi với ngươi một cách đúng đắn. Nếu ngươi tìm kiếm về vấn đề nào đó liên quan đến lẽ thật và lối vào sự sống, thì Ta tuyệt đối sẽ nói cho ngươi biết con đường thực hành một cách rõ ràng, không mập mờ. Có một điều chắc chắn là, ngay cả khi Ta không thích ngươi, thì Ta cũng sẽ không dẫn dắt cho ngươi lầm đường lạc lối, Ta sẽ dùng cách thức đúng đắn để đối đãi với ngươi. Nếu ngươi sẵn lòng mưu cầu lẽ thật, sẵn lòng đi lên con đường được cứu rỗi, thì Ta sẽ thông công với ngươi về nguyên tắc thực hành mà ngươi nên tuân thủ, điều này là chắc chắn.

Chủ đề về phương diện không dụ dỗ này cũng liên quan đến cách nhân loại đối đãi với Đức Chúa Trời nhập thể, phải vậy không? (Thưa, phải.) Bởi vì những sự bộc lộ của tâm tính bại hoại như xúi giục, kích động, dò hỏi, lập lờ hai mặt và mập mờ không rõ, là những điều rất phổ biến ở con người, chúng đều là những sự bộc lộ của thực chất bại hoại nơi nhân loại, cho nên con người sẽ dùng cùng những cách thức, cái nhìn và quan điểm đó để đối đãi với Đức Chúa Trời nhập thể. Vậy thì mấy phương diện này đều là những điều con người cần thiết phải nhận biết, và mấy phương diện không xúi giục, không kích động, không dò hỏi, không mập mờ được biểu hiện nơi Đức Chúa Trời nhập thể cũng cần thiết được nói rõ ràng cho con người biết. Sau khi hiểu được nội dung những phương diện này, người ta sẽ có nhận thức mới hơn về Đức Chúa Trời nhập thể. Như vậy, một mặt có thể làm cho người ta có thêm nhận thức về những phương diện liên quan đến thực chất của Đức Chúa Trời nơi Đức Chúa Trời nhập thể, làm cho người ta nhận biết và hiểu rõ hơn về Đức Chúa Trời trên trời. Mặt khác, như vậy cũng có thể tránh được chuyện nhân loại đối đãi với Đức Chúa Trời nhập thể như đối đãi với nhân loại bại hoại. Việc thông công những nội dung này sẽ giúp đỡ người ta ở mức độ rất lớn trong việc đối đãi với Đức Chúa Trời nhập thể một cách đúng đắn, cũng giúp đỡ người ta ở mức độ rất lớn để họ có thể chỉnh lại cho đúng thái độ đối với Đức Chúa Trời, dùng thái độ đúng đắn và cách thức đúng đắn mà đối đãi với Đức Chúa Trời nhập thể. Tương tự như vậy, khi người ta có cách thức đúng đắn để đối đãi với Đức Chúa Trời nhập thể thì chuyện này cũng sẽ giúp người ta dùng cách thức đúng đắn để đối đãi với Đấng Tạo Hóa. Tức là nếu ngươi muốn có thái độ đúng đắn và cách thức đúng đắn để đối đãi với Đấng Tạo Hóa, nếu ngươi muốn lấy thân phận của một loài thọ tạo mà thiết lập mối quan hệ bình thường với Đấng Tạo Hóa và lấy thái độ đúng đắn của một loài thọ tạo để đối đãi với Đấng Tạo Hóa, thì trước tiên ngươi phải dùng thái độ và cách thức đúng đắn để đối đãi với Đức Chúa Trời nhập thể. Khi có thái độ và cách thức đúng đắn để đối đãi với Đức Chúa Trời nhập thể rồi, thì ngươi mới có cơ hội hoặc điều kiện cơ bản để dùng cách thức đúng đắn mà đối đãi với Đấng Tạo Hóa. Cho nên, cửa ải của cách đối đãi với Đức Chúa Trời nhập thể là điều mà người ta không được bỏ qua. Muốn thuận lợi đi qua cửa ải đối đãi đúng đắn với Đức Chúa Trời nhập thể thì ngươi phải nhận biết thực chất của Đức Chúa Trời nhập thể, nhận biết sự bình thường và thực tế của Đức Chúa Trời nhập thể, nhận biết và hiểu rõ thực chất sự sống, điều sống thể hiện ra sự sống và sự bộc lộ sự sống của Đức Chúa Trời nhập thể rốt cuộc là gì. Chỉ khi nhận biết và hiểu rõ những điều này thì ngươi mới có cơ hội và điều kiện để có thể đối đãi đúng đắn với Đức Chúa Trời nhập thể. Khi tin Đức Chúa Trời và đi theo Đức Chúa Trời mà muốn đạt đến việc thuận phục và thờ phượng Đức Chúa Trời, thì đây là cửa ải mà người ta buộc phải đi qua. Nếu đi qua được cửa ải này thì ngươi có hy vọng trở thành một loài thọ tạo đạt tiêu chuẩn trong mắt Đức Chúa Trời, cũng có hy vọng trở thành một thành viên được Đức Chúa Trời chấp thuận.

Ngoài mấy chủ đề vừa mới thông công ra, còn có một chủ đề nữa mà các ngươi cần hiểu rõ, đó là rốt cuộc Đức Chúa Trời nhập thể tiếp cận vấn đề địa vị như thế nào. Đây là một chủ đề rất quan trọng đối với nhân loại, là một đề tài không thể tránh khỏi trong trải nghiệm sự sống. Điều này trực tiếp liên quan đến tâm thái thực tế trong đời sống thuộc linh, và tâm thái này liên quan đến mọi mặt trong cuộc sống của người ta. Cho nên cũng cần thiết phải thông công với các ngươi một chút về thái độ và nguyên tắc của Đức Chúa Trời nhập thể đối với vấn đề địa vị này. Có thể nói rằng, trong nhân loại thì địa vị là một vấn đề mà người ta cả đời không thể tránh khỏi, cũng là thứ mà tuyệt đại đa số mọi người mưu cầu. Nói về địa vị, nó chiếm một vị trí nhất định và có một sức nặng nhất định trong lòng mỗi người. Đối với mỗi người, có địa vị là một dạng biểu tượng cho thân phận cao quý, cũng là một dạng biểu tượng cho đẳng cấp và quyền lực trong xã hội. Có địa vị thì con người có thể hưởng thụ sự tôn quý và cuộc sống thượng đẳng mà nó mang lại, cũng có thể hưởng thụ đủ loại lợi ích và quyền lực mà nó mang đến; do đó, địa vị cực kỳ quan trọng đối với mỗi người. Nhưng bất kể nhân loại coi trọng địa vị đến đâu hoặc địa vị quan trọng đối với nhân loại thế nào, thì chẳng lẽ Đức Chúa Trời nhập thể cũng nhìn nhận như vậy sao? (Thưa, không phải.) Chắc chắn là không phải. Đối với nhân loại thì địa vị rất quan trọng, nhưng đối với Đức Chúa Trời nhập thể, con người thông thường này, tức là đối với cá nhân Ta, thì Ta chẳng có bất kỳ khái niệm nào về địa vị, cũng chẳng có bất kỳ sự mưu cầu nào đối với nó. Đương nhiên khỏi cần nói đến chuyện có bất kỳ ý nghĩ hay ý thức nào đối với địa vị, Ta đều không có những thứ này. Từ khi sinh ra Ta đã không có dạng cảm giác này, tức là từ khi bắt đầu nhớ được và hiểu chuyện thì Ta đã không có ý thức này. Bất kể là địa vị trong gia đình, địa vị ở trường học hay vị trí và giá trị bản thân trong tập thể, trong lòng Ta đều không có những thứ này, Ta đơn giản là không có ý thức này. Chuyện Ta không có ý thức này biểu hiện ở chỗ nào? Là Ta không hề biết tranh giành, không hề có ý nghĩ tranh giành địa vị với bất kỳ ai. Khi có người tranh giành với Ta, thì Ta nói: “Tranh giành cái gì chứ? Tại sao lại làm như vậy?”. Khi tuổi tác dần tăng lên, Ta biết nhìn nhận con người và sự việc. Trong quá trình trải nghiệm và chứng kiến đủ loại con người và sự việc, Ta biết được người ta đều thích tranh giành. Thứ người ta tranh giành là địa vị, quyền lực, thể diện và lợi ích, người ta tranh giành vì những thứ này. Khi còn nhỏ, Ta không biết phải tranh giành những thứ này, sau khi lớn lên, Ta đơn thuần là biết phân định và hiểu tại sao người ta lại tranh giành với Ta, nhưng bản thân Ta vẫn không tranh giành. Cái không tranh giành của Ta thể hiện ở chỗ nào? Người khác tranh giành với Ta, thì Ta thầm nghĩ: “Ngươi tranh thắng Ta thì ngươi hơn Ta, ngươi tranh không thắng Ta thì Ta hơn ngươi, nhưng Ta cũng không thấy mình hơn gì ngươi. Ta hơn ngươi thì Ta cũng không ức hiếp ngươi, không trừng trị ngươi, Ta cũng chẳng có được lợi ích gì, chẳng thấy mình tôn quý hơn ngươi bao nhiêu cả”. Ngươi thấy đấy, chỉ là dạng tâm lý như vậy, dạng trạng thái bình thường như vậy, ý thức và khái niệm của Ta đối với địa vị chính là vậy. Sau khi đến hội thánh thì Ta cũng như vậy. Do lúc mới bắt đầu làm tín đồ bình thường, Ta tương đối nhiệt tình, nên được lãnh đạo cấp trên đánh giá cao, thế là Ta bị một số người đố kỵ. Ta cảm thấy: “Đố kỵ cái gì chứ? Ngươi cũng nhiệt tình, trả giá, học thêm thánh ca, cầu nguyện thêm, tham gia đời sống hội thánh nhiều hơn và giúp đỡ anh chị em nhiều hơn giống như vậy đi, thì chẳng phải ngươi cũng sẽ được lãnh đạo cấp trên đánh giá cao giống như vậy sao?”. Trong những trường hợp đó, Ta cũng không cảm thấy việc mình được đánh giá cao là một sự vinh hạnh, là một biểu tượng cho việc có địa vị hay có được thân phận tôn quý gì. Ta không cảm nhận được những điều này. Về sau từng chút một, địa vị của Ta ngày càng đặc biệt, ngày càng cao. Khi bắt đầu chính thức làm công tác, Ta vẫn không cảm thấy địa vị của mình cao lắm, không cảm thấy mình tôn quý hơn người hay là khác với người ta. Về mặt chủ quan, tự thân Ta không có ý thức này. Nhưng ánh mắt khi nhìn Ta và phương thức đối đãi với Ta của một số người đã khác với trước kia. Khi đó Ta mới nhận ra rằng hóa ra cảm giác ở giữa mọi người sau khi có địa vị rồi là như vậy. Khi Ta đã có địa vị và bắt đầu làm công tác, ánh mắt khi người ta nhìn Ta khác đi, thái độ khi nói chuyện với Ta cũng khác đi, cách dùng từ và ngữ khí nói chuyện, cùng đủ mọi phương diện khác cũng khác đi. Bản thân Ta đâu có thay đổi, Ta vẫn mang tướng mạo đó, tính cách của Ta, thói quen sinh hoạt và cách thức nói chuyện của Ta đều không thay đổi, vậy tại sao thái độ của người ta đối với Ta lại khác đi? Đây chính là lòng tham địa vị đang tác quái. Con người đều sùng bái địa vị, một khi Ta có địa vị rồi thì thái độ của người khác đối với Ta liền thay đổi. Điều người ta thích là địa vị, chứ đâu phải thích bản thân Ta, bởi vì Ta đâu thay đổi, chỉ có vị trí của Ta thay đổi thôi. Ta từ một tín đồ bình thường nghe giảng đạo trở thành một người giảng đạo trên bục giảng, thì thái độ của người ta đối với Ta liền khác đi. Khi thái độ của người ta đối với Ta khác đi, Ta mới nhận ra rằng Ta có địa vị rồi. Người ta nói chuyện với Ta một cách khách sáo và gọi Ta bằng danh xưng tôn kính. Khi Ta ngồi nói chuyện thì có người giúp Ta rót nước, khi Ta ăn cơm thì có người giúp Ta xới cơm, lấy đũa. Lúc đó Ta mới nhận ra rằng vì Ta có địa vị nên người ta mới đối đãi với Ta như vậy. Nhưng ở nơi mình, Ta vẫn không cảm thấy: “Có địa vị là có quyền lực, có địa vị là có khoảng cách giữa mình với người khác, là mình ở vị thế bề trên, có thể muốn gì làm nấy, có thể làm bất kỳ chuyện mình muốn làm”. Ta không có ý thức này, cũng không có cảm giác này. Cho nên, khi là tín đồ bình thường thì Ta có thể qua lại bình thường với người ta, khi có địa vị thì Ta cũng không thay đổi cách thức qua lại với người ta, Ta vẫn có thể qua lại bình thường với họ.

Có địa vị tượng trưng cho việc có quyền lực, nhưng Ta chưa bao giờ dùng quyền lực để áp chế ai hay là lấy địa vị mà giáo huấn ai. Ta cũng chưa bao giờ cảm thấy mình có địa vị rồi thì có thể tự mình quyết định mọi chuyện, có thể tận dụng lợi thế của địa vị và lợi dụng quyền lực trong tay để làm một số việc bản thân Ta muốn làm. Ta không hề có ý nghĩ như vậy, cũng không hề làm như vậy. Ta vẫn luôn tuân thủ sắc lệnh quản trị, quy củ và sự sắp xếp công tác của hội thánh. Ta chẳng có ý thức gì về địa vị, cũng chẳng có ý thức dùng quyền lực để làm chút việc gì đó hay kiếm lấy chút gì đó cho bản thân. Ta chưa bao giờ nói những lời như vậy, cũng chưa từng làm những việc như vậy. Chẳng hạn, có người tìm đến Ta, nói rằng họ có chút khó khăn trong việc làm bổn phận, liệu có thể điều chỉnh bổn phận cho họ không. Thường thì người có quyền lực sẽ nói gì? “Chuyện này chỉ cần một câu nói của tôi là được, chẳng phải sao? Chuyện này do tôi quyết mà!”. Đây là câu cửa miệng mà nhân loại bại hoại thường nói, Ta chưa bao giờ nói một câu nào như vậy. Ta nói: “Ngươi có khó khăn khi làm bổn phận này, vậy Ta phải hỏi về tình hình cụ thể. Thường thì hội thánh dựa vào nguyên tắc và điều kiện của người ta để điều chỉnh bổn phận cho họ. Ta phải tìm lãnh đạo và người làm công để tìm hiểu và giải quyết chuyện này”. Nguyên tắc của Ta đối với chuyện này là gì? Ta suy xét ra sao? Họ phản ánh với Ta chuyện này, thì Ta chỉ nghe họ nói như vậy, chứ Ta đâu biết sau lưng họ đã làm gì hoặc có biểu hiện thế nào, Ta đâu thể chỉ tin lời một mình họ. Cho dù họ có quan hệ không tệ với Ta hoặc chưa từng đắc tội với Ta, thì Ta cũng không thể tự ý tùy tiện sắp xếp bổn phận của họ để thể hiện quyền lực của mình. Ta phải hỏi lãnh đạo hội thánh xem người này bình thường biểu hiện thế nào, sắp xếp họ làm bổn phận này thì có thích hợp không, đã cân nhắc gì chưa, có dựa theo nguyên tắc không. Nếu đã dựa vào nguyên tắc thì không thể điều chỉnh bổn phận bừa được, phải vậy không? (Thưa, phải.) Ta tuyệt đối sẽ không nói: “Chuyện này thì chỉ cần Ta nói một câu là được. Ta có quyền lực này, Ta sẽ đi nói với lãnh đạo, ngươi xem họ có nghe Ta không”, Ta không làm như vậy, cũng chưa bao giờ nói những lời như vậy. Lúc ở hội thánh quê nhà, Ta đã không làm những chuyện như vậy, sau này làm công tác tổng thể của hội thánh và đi ghé thăm hội thánh ở các tỉnh, Ta cũng chưa từng làm chuyện như vậy. Tức là Ta chưa từng lợi dụng quyền lực trong tay để ban cho cá nhân nào đó ơn huệ không hợp nguyên tắc, chưa từng mở ra tiền lệ như vậy. Bất kể hội thánh chúng ta hiện giờ có bao nhiêu người, những người này đến từ bao nhiêu chủng tộc, bao nhiêu quốc gia, các ngươi nói xem, xét theo thân phận này của Ta thì địa vị của Ta có phải rất cao không? Quyền lực của Ta có phải rất lớn không? (Thưa, phải.) Ở giữa nhân loại bại hoại, địa vị này hẳn là không phải dạng vừa, và quyền lực này lớn biết bao! Người bình thường thì không gánh nổi, họ chẳng biết phải vận dụng quyền lực này ra sao, chẳng biết ăn gì, làm gì cho phải. Nhưng ngươi nhìn vào lúc Ta nói chuyện và tiếp xúc với các ngươi đi. Bất kể là lãnh đạo và người làm công hay tín đồ bình thường, ai Ta cũng tiếp xúc cả. Ngay cả những người ra sức và làm việc chân tay, những người không đáng chú ý nhất và người mới tin, Ta cũng từng tiếp xúc qua. Thấy các ngươi có vấn đề gì thì Ta thông công một chút và nói chuyện với các ngươi. Có lúc tiếp xúc với người mới tin, Ta cố gắng tránh để họ biết thân phận của Ta. Tốt nhất là để họ xem Ta giống như người bình thường. Họ sẵn lòng nghe Ta nói thì họ nghe vài câu, còn họ không sẵn lòng nghe thì Ta cũng không ép, Ta cho người ta sự tự do. Ta tuyệt đối sẽ không đứng ở địa vị cao, cũng sẽ không lên mặt ta đây. Ta tuyệt đối sẽ không tự xưng danh tính để họ biết Ta là ai, biết Ta có địa vị cao đến đâu và quyền lực lớn thế nào, để từ đó mà họ sợ Ta. Ta không thích làm như vậy, cũng chưa bao giờ làm như vậy. Có lúc Ta gặp phải những anh chị em không quen biết, rồi nói chuyện và tán gẫu với họ, người ta liền đánh giá Ta từ đầu đến chân, nghĩ bụng: “Nghĩ mình là ai vậy chứ? Sao lại còn thông công với chúng tôi nữa?”. Ta thấy người này là người lạ, ánh mắt có ý thù địch, muốn nghiên cứu Ta, coi thường Ta, vậy thì Ta cũng chẳng để ý đến họ. Họ coi thường Ta, không sẵn lòng nghe Ta thông công, vậy thì Ta nói ít đi vài câu, còn nếu họ sẵn lòng nghe Ta nói thì Ta trò chuyện với họ lâu hơn một chút. Có những người nghe Ta thông công thì cảm thấy được tận hưởng và có hứng thú, còn giữ Ta ở lại ăn cơm, còn chủ động nói chuyện và tán gẫu với Ta. Sau đó, Ta cũng không dò la xem người đó thuộc hội thánh nào, làm bổn phận gì, tình hình ra sao. Ta cứ đối đãi bình thường và đúng đắn với họ thôi.

Bất kể qua lại với ai, dù là người mưu cầu lẽ thật hay không mưu cầu lẽ thật, là người có địa vị hay không có địa vị trong xã hội, dù là lãnh đạo và người làm công hay tín đồ bình thường, thì khi Ta thông công với các ngươi về công tác hoặc tiếp xúc với các ngươi trong cuộc sống, Ta cũng chưa bao giờ dùng vị thế bề trên. Chẳng hạn, ngươi nói mình khát nước thì Ta rót cho ngươi ly nước, Ta đâu cần phải lên mặt ta đây để ngươi hầu hạ Ta, Ta cũng sẽ không nói: “Hai chúng ta có sự khác biệt về địa vị và giá trị, những việc hầu hạ người khác này thì Ta tuyệt đối không làm”, Ta không có ý nghĩ đó. Ngươi rót nước cho Ta, thì Ta coi ngươi là anh chị em, nếu ngươi khát và cần Ta rót nước cho ngươi, thì Ta cũng có thể rót cho ngươi ly nước. Khi thông công lúc nhóm họp, một số người có quan niệm, có ý thù địch, có thái độ không tốt, hoặc không hứng thú, không thèm để ý đến Ta. Những lúc như vậy thì Ta cứ việc gì ra việc nấy, cần thông công thì thông công, cần giải quyết vấn đề thì giải quyết vấn đề, Ta không dùng vị thế bề trên, không lên mặt ta đây. Ngươi có ý thù địch với Ta thì Ta vẫn làm công tác Ta nên làm và nói lời Ta nên nói, không chịu ảnh hưởng bởi ngươi chút nào, không làm chậm trễ công tác chút nào, cũng không gây ảnh hưởng gì đến những điều các ngươi nên đạt được. Nếu là công tác trong chức vụ của Ta, liên quan đến lẽ thật, liên quan đến nguyên tắc, liên quan đến công tác của hội thánh, thì bất kể ai tìm kiếm với Ta về các vấn đề, Ta tuyệt đối sẽ không nói: “Ngươi đủ cấp bậc sao? Ngươi là ai chứ? Ngươi là lãnh đạo khu vực hay lãnh đạo tiểu khu? Hay là nhóm trưởng, người phụ trách cấp nào đó?”. Ta không hỏi những điều này. Khi ngươi tìm kiếm về một vấn đề nào đó hoặc phản ánh vấn đề của một lãnh đạo hay một công tác nào đó trong hội thánh, nếu Ta cần thông công với ngươi thì Ta sẽ thông công với ngươi, Ta sẽ không dùng vị thế bề trên, không hỏi cấp bậc của ngươi. Cũng có thể ngươi tin Đức Chúa Trời chưa lâu, và cảm thấy địa vị của mình trong nhà Đức Chúa Trời không cao, nên ngại không dám hỏi. Nhưng Ta thì không nghĩ như vậy, Ta sẽ không dựa vào địa vị cao thấp mà đối đãi với người ta. Cho nên, bất kể là lãnh đạo và người làm công hay anh chị em bình thường, khi Ta thông công với các ngươi về lối vào sự sống hay hướng dẫn các ngươi làm công tác, thì Ta tuyệt đối sẽ không giở giọng quan liêu, úp úp mở mở, cũng sẽ không đưa ra đủ loại câu hỏi để làm khó các ngươi. Khi làm công tác trên các ngươi và nói chuyện với các ngươi thì Ta dốc ra hết, không chừa lại gì, Ta có một nói một, có hai nói hai, biết bao nhiêu thì nói bấy nhiêu. Ta không dùng vị thế bề trên, không xem các ngươi là trò cười, cũng không làm khó các ngươi. Thấy các ngươi gặp khó khăn trong công tác và không biết cách làm, Ta sẽ hướng dẫn cho các ngươi, khai sáng cho các ngươi. Ta nói chút lời và làm chút việc để các ngươi học thêm được chút ít và nắm vững chút nguyên tắc về chuyên môn, cũng hiểu thêm một chút về lẽ thật. Bất kể là trước mặt hay sau lưng người ta, Ta đều làm như vậy. Bất kể là tiếp xúc trực tiếp, hay là thông công và trò chuyện với các ngươi trên mạng, Ta chưa bao giờ lên mặt. Lên mặt nghĩa là gì? Chính là luôn có một tư thế, một khí thế, làm cho các ngươi cảm thấy Ta không phải dạng vừa, Ta hống hách và ở thế trên các ngươi. Ta chưa bao giờ tỏ vẻ lên mặt như vậy. Ngoài ra, khi nhóm họp, Ta cũng không cầu kỳ về hình tượng cao vời hay sự không thể xúc phạm, không vào vai Đức Chúa Trời trên trời. Ta không làm những chuyện như vậy. Trước đây có người hỏi có cần làm riêng cho Ta một cái bàn để dùng khi nhóm họp không, thì Ta bảo: “Không cần, tìm một cái bàn là được rồi”, thế là họ tìm một cái bàn rất cũ, Ta cứ vậy mà dùng. Ta cũng không nói: “Ngươi tìm cho Ta cái bàn gì thế này! Với thân phận như Ta, tại sao ngươi không tìm cho Ta một cái bàn tốt? Ngươi làm ăn kiểu gì vậy hả?”. Ta không nói gì cả, cũng không yêu cầu phải dùng một cái bàn cao cấp hay nạm vàng, Ta không cầu kỳ về những chuyện này. Sau này khi nhóm họp trên mạng, Ta cũng ngồi một cái ghế đẩu bình thường, dùng một cái bàn viết bình thường, bên trên đặt một chiếc đèn bàn, có một cuốn sổ tay ghi lại đề tài, đề cương cho mỗi lần thông công, chỉ đơn giản vậy thôi. Nếu là nhóm họp ở nhà thờ thì Ta mặc một bộ trang phục công sở đơn giản, thường là áo vest, quần tây, giày da, mùa đông thì mặc áo khoác dạ, đều là trang phục rất bình thường, chỉ là trông chỉnh tề hơn so với trang phục thường ngày một chút. Thiết bị cao cấp dùng khi nhóm họp chỉ là micro, loa và máy tính, chỉ có chừng đó đồ cao cấp đắt tiền. Ngươi xem, chỉ đơn giản như vậy thôi. Được như thế là nhờ chúng ta ở hải ngoại, có tự do tín ngưỡng, có điều kiện như vậy. Nhờ sử dụng loa phóng thanh mà các anh chị em ở góc nhà đều có thể nghe rõ ràng, và Ta nói chuyện đỡ tốn sức hơn nhiều. Trước đây ở Trung Quốc đại lục không có điều kiện như vậy, con người Ta có thể trạng yếu, giọng lại nhỏ, khi nhóm họp đông người thì Ta phải nói to, nhưng người bên dưới nghe vẫn cảm thấy tiếng nhỏ quá. Nhóm họp một hai ngày mà Ta cứ nói to như vậy suốt, thì các ngươi nói xem, Ta có mệt không? (Thưa, mệt.) Trước đây ở Trung Quốc đại lục mà có nhóm họp quy mô lớn thì Ta sẽ rất mệt. Bây giờ đến hải ngoại thì tự do rồi, nhờ sử dụng loa mà Ta không cần phải nói to như vậy nữa, tiết kiệm được rất nhiều sức lực, mà mọi người còn nghe đặc biệt rõ ràng. Khi nhóm họp và giảng đạo cho các ngươi, thông công các phương diện lẽ thật mà con người cần, thì Ta không có hình thức gì, cũng không bày biện hoành tráng gì, Ta chỉ thông công cho các ngươi về các phương diện lẽ thật khác nhau mà các ngươi nên hiểu và cần đến, để các ngươi hiểu và thiết lập nền tảng trên con đường thật, làm cho các ngươi dần dần thấu tỏ và có hứng thú với các phương diện lẽ thật khác nhau, sau đó biết thực hành, có thể từng chút một hướng lòng về Đức Chúa Trời, có thể thuận phục Đức Chúa Trời, như vậy là được rồi. Ngươi xem, có phải những năm qua, Ta đã làm như vậy không? (Thưa, phải.) Những lời thông công khi nhóm họp được in thành sách. Theo tưởng tượng của nhân loại bại hoại, vì những lời này đều là lẽ thật và là sự bày tỏ của Đức Chúa Trời, nên chúng phải được bày tỏ theo một hình thức hoặc với sự bày biện hoành tráng nào đó. Nhưng thực ra lại rất bình thường. Khi giảng đạo lúc nhóm họp, bên cạnh Ta cũng không có ai phục vụ, giảng đến khô cả cổ thì Ta tự mình rót chút nước uống, có lúc uống chút nước mật ong cho mát họng, có lúc chỉ uống nước lọc. Cuộc sống của Ta đặc biệt đơn giản, đơn giản đến mức các ngươi không ngờ tới. Có người có lẽ sẽ cảm thấy: “Ngài như vậy là đang giả vờ, Ngài mà thiếu gì điều kiện chứ? Ngài có thân phận này, có địa vị này, thì không thể nào sống đơn giản như vậy được”. Cuộc sống của Ta thực sự đơn giản như vậy đấy, một cái cốc dùng bao nhiêu năm, dùng hỏng hoặc cũ quá rồi mới thay cái khác, thay rồi lại dùng thêm mấy năm, đây là sự thật. Từ khi sinh ra đến nay, Ta đều tiếp cận với địa vị theo cách này, có địa vị hay không có địa vị cũng như nhau, Ta cứ sống đơn giản và có quy luật như vậy thôi. Người không biết thì nghĩ ngợi: “Ngài có địa vị này, cũng có điều kiện này, ai biết được Ngài hưởng thụ đến cỡ nào!”, Ta thực sự chưa từng hưởng thụ điều gì. Có lúc anh chị em mang đến chút rau, có rau gì thì Ta ăn rau đó, đơn giản như vậy thôi. Ta ăn uống không phức tạp, không ăn những thứ thịt linh tinh, không ăn món kỳ lạ, quái đản, Ta ăn uống rất đơn giản, đều là bữa cơm gia đình thường ngày. Hơn nữa, làm công tác bao nhiêu năm nay, Ta chưa bao giờ cảm thấy: “Hội thánh chúng ta đông người thế này, Ta có cảm giác vinh dự, có cảm giác ưu việt”. Ta không cảm thấy mình có vinh dự gì, có cống hiến gì cho hội thánh, hay trên đầu có hào quang gì, Ta không có những cảm giác này, cũng không hưởng thụ những điều này. Có lẽ trong mắt người ngoài thì cho rằng: “Tuy ngoại hình thông thường và bình thường, nhưng xét theo công tác Ngài làm và điều kiện hiện tại của Ngài, với đông người đi theo Ngài như vậy, thì địa vị của Ngài đủ cao, quyền lực của Ngài cũng đủ lớn rồi. Ngài nên hưởng thụ địa vị, làm gì cũng có quyền ưu tiên, có cảm giác ưu việt đi chứ”. Ta nói rằng Ta chưa bao giờ có cảm giác ưu việt gì, cũng không hưởng thụ lợi ích gì của địa vị. Như vậy không phải là nói Ta chống lại dạng ý thức này hay chống lại dạng ý nghĩ và cảm giác này, mà là bên trong Ta đơn giản không có những ý nghĩ này, cũng không cảm nhận được sự tồn tại của những thứ này. Cho nên, có lúc trong cuộc sống gặp phải một số chuyện bản thân Ta làm được thì Ta tự đi làm, không để người khác làm thay. Có người nói: “Anh nào đó, chị nào đó có điều kiện này, có thể giúp Ngài làm việc này”, thì Ta nói: “Sao Ta lại không nghĩ tới nhỉ? Sao Ta lại không biết nghĩ theo hướng đó nhỉ?”. Trong mắt con người thì thấy Ta rất ngốc và không biết hưởng thụ. Họ cảm thấy: “Đông người đi theo Ngài như vậy, Ngài có điều kiện thuận lợi như vậy, mà gặp chút chuyện nhỏ Ngài cũng phải đích thân làm. Ngài không biết hưởng thụ địa vị, không màng sự đời, hay là Ngài giả vờ vậy? Tại sao Ngài lại không hiểu chứ? Tại sao Ngài không biết làm như thế chứ?”. Bởi vì trong tư tưởng và tâm trí của Ta chưa bao giờ có ý thức này, đây là sự thật.

Người ngoại đạo có chút quyền lực thì thể hiện mình không phải dạng vừa, có chút địa vị thì coi trời bằng vung. Họ chẳng những có xe riêng đưa đón, có người chuyên hộ tống, mà ra ngoài còn có người xách túi và cầm áo giúp, còn có người tắm rửa, mát-xa, chuẩn bị bữa ăn dinh dưỡng cho. Những thứ này Ta đều không có, Ta chưa bao giờ yêu cầu người ta đối đãi với Ta như vậy. Nhân loại bại hoại mà có chút bản lĩnh, có chút thành tựu thì bắt đầu thể hiện mình không phải dạng vừa, cảm thấy trên đầu có hào quang và coi trời bằng vung, bắt đầu đòi làm ông cố nội của người ta. Con người có địa vị rồi thì cảm thấy mình có giá trị cao, nhưng tại sao họ lại trở nên bất tài kém cỏi vậy? Bản thân cái gì cũng không biết làm, người lành lặn có tay có chân mà đi lại phải có người dìu. Ta nói Ta chẳng cần người dìu, khi phải lên xe thì Ta sẽ cố hết sức để tránh có người ở bên cạnh mở cửa cho mình. Ta có tay có chân, việc gì cũng làm được, không cần ngươi giúp Ta. Ngươi thấy đấy, cùng là tiếp cận với địa vị, nhưng thái độ của Đức Chúa Trời nhập thể và của nhân loại bại hoại lại hoàn toàn khác biệt. Xét từ những biểu hiện và sự bộc lộ khác nhau của nhân loại bại hoại, thì họ đặc biệt coi trọng và đặc biệt si mê địa vị, từ đó làm nảy sinh một bầu không khí và xu hướng không lành mạnh giữa mọi người. Có thể nói rằng địa vị quyết định mọi sự của người ta, nó quyết định giá trị của họ, quyền lên tiếng của họ, những lợi ích và quyền lực mà họ có thể hưởng thụ. Những người không có địa vị thì không có tư cách để suy xét hay hưởng thụ những điều này, vì vậy con người dốc hết sức mình để mưu cầu địa vị. Vậy ở nhà Đức Chúa Trời thì địa vị tượng trưng cho điều gì? Đức Chúa Trời nhìn nhận địa vị thế nào? Nếu nói Đức Chúa Trời ban cho ngươi một địa vị, thì chuyện đó tương đương với việc Đức Chúa Trời trao cho ngươi một sự ủy thác và trách nhiệm. Nó là biểu tượng của trách nhiệm, là biểu tượng cho trách nhiệm và nghĩa vụ mà loài thọ tạo như ngươi nên làm, chứ không có ý nghĩa gì khác. Nếu ngươi có địa vị này, và ngươi làm tốt trách nhiệm của mình, thì ngươi không phụ sự kỳ vọng của Đức Chúa Trời đối với mình, không phụ địa vị và trách nhiệm mà Đức Chúa Trời ban cho mình. Nếu ngươi không làm tốt, không làm tròn trách nhiệm, thì ngươi đã phụ địa vị và trách nhiệm mà Đức Chúa Trời ban cho mình. Đức Chúa Trời ban cho con người địa vị chỉ là để tạo thuận tiện cho con người thực hiện trách nhiệm của mình và hoàn thành sứ mạng của mình, tận dụng địa vị này sao cho tốt hơn để làm việc mình nên làm và thực hiện trách nhiệm mình nên thực hiện. Đức Chúa Trời ban cho ngươi địa vị tuyệt đối không phải là trao cho ngươi một dạng quyền lực đặc biệt, cũng không phải trao cho ngươi một dạng quyền lực để hưởng thụ địa vị hay hưởng thụ bất kỳ sự đãi ngộ nào. Ngoài ra, nếu ngươi có thể làm tròn trách nhiệm này và không phụ sứ mạng của mình, thì thân phận và giá trị của ngươi phù hợp với địa vị này. Nhưng nếu ngươi không làm tròn trách nhiệm, ngươi phụ sứ mạng này, không hoàn thành tốt sứ mạng hay sự ủy thác này, thì ngươi không xứng có địa vị này và con người ngươi cũng không có giá trị. Ngươi làm tròn trách nhiệm rồi, thì trong mắt Đức Chúa Trời, ngươi có giá trị cao quý. Còn ngươi chưa làm tròn trách nhiệm, thì trong mắt Đức Chúa Trời, ngươi có giá trị thấp hèn. Có thể nói rằng chuyện một người có cao quý hay không và họ sống có giá trị hay không đều không dựa vào chuyện địa vị của họ cao hay thấp, mà dựa vào chuyện họ có hoàn thành sự ủy thác mà Đức Chúa Trời giao cho và có làm tròn trách nhiệm của mình hay không. Đức Chúa Trời giao cho ngươi một sự ủy thác và bảo ngươi làm tròn trách nhiệm này, và cũng đã ban cho ngươi những điều kiện cần thiết khác nhau để làm tròn trách nhiệm này: Nếu ngươi làm tròn trách nhiệm của mình, ngươi sẽ không phụ sứ mạng của mình, và Đức Chúa Trời cũng sẽ hài lòng; nhưng nếu ngươi không làm tròn trách nhiệm của mình, thay vào đó lại giữ lấy địa vị và hành động để thỏa mãn lợi ích, dã tâm và dục vọng của riêng mình, thì đây là chuyện mà Đức Chúa Trời thấy phản cảm và ghê tởm nhất. Ngươi lợi dụng quyền lực trong tay để toàn làm những việc vì danh lợi và địa vị cá nhân, toàn mưu đồ kiếm tư lợi, lại còn chèn ép người khác, tham hưởng lợi ích của địa vị, vậy thì ngươi đã phụ sự ủy thác mà Đức Chúa Trời ban cho ngươi, không xứng tiếp nhận sự ủy thác này. Nếu ngươi tiếp nhận sự ủy thác của Đức Chúa Trời, làm tròn trách nhiệm của mình, làm tốt công tác, đồng thời không tham hưởng lợi ích của địa vị, cũng không lợi dụng địa vị, chức quyền để mưu đồ kiếm tư lợi, thì đó là ngươi đang hoàn thành sứ mệnh, đang thực hiện trách nhiệm, và ngươi sẽ có thể nhận được sự khen ngợi của Đức Chúa Trời.

Nhân loại bại hoại đều thích địa vị, có địa vị rồi thì họ đều có thể tham hưởng lợi ích của địa vị. Bất kể làm lãnh đạo cấp nào, hoặc chỉ cần có chút uy thế, có chút quyền lực nhỏ bé giữa mọi người, là họ liền thể hiện mình không phải dạng vừa. Từ khi có địa vị, họ bắt đầu lợi dụng quyền lực để trục lợi cá nhân, có thể làm ra rất nhiều việc trái với nguyên tắc lẽ thật, thậm chí làm một số việc hoang đường. Ngay cả khi một số cá nhân biết giảng chút câu chữ và đạo lý, thì lúc tiếp xúc và thông công với người khác, họ cũng nhìn người mà đối xử khác nhau. Thấy ai có tiền, có địa vị, ai ủng hộ mình, hợp với mình và biết nịnh hót mình, thì họ nói chuyện với người đó nhiều hơn một chút. Còn thấy ai nghèo, không biết nịnh hót, nhìn chướng mắt, hoặc là người mới tin và chưa có nền tảng gì, thì họ viện cớ để không thèm ngó ngàng đến. Ngươi xem, họ làm việc có nguyên tắc không? (Thưa, không.) Có địa vị rồi thì họ ra vẻ mình không phải dạng vừa, liền học được giọng điệu quan liêu và hô hào khẩu hiệu, học cách dựa vào địa vị mà lên mặt ta đây. Những biểu hiện này của con người đâu có ít, phải không? (Thưa, phải.) Chẳng hạn, có những vấn đề mà người khác không hiểu, nhưng họ lại hiểu. Thấy không ai hỏi mình thì họ nghĩ bụng: “Các người chẳng ai cầu xin tôi, chẳng ai dỗ dành tôi, cũng chẳng ai đề cao tôi, coi trọng tôi. Nếu các người cầu xin tôi thì tôi sẽ nói cho các người nghe một chút, nhưng còn phải xem tâm trạng của tôi nữa. Nếu không có ai cầu xin tôi thì tôi không nói, tôi không cho các người biết. Mọi chuyện tùy vào một câu của tôi tôi không nói thì các người chẳng ai hiểu được đâu!”. Người như vậy thì có lương thiện không? (Thưa, không lương thiện.) Ngoài ra, người ta có địa vị rồi thì có thể muốn gì làm nấy. Thấy ai không phục hoặc có ý kiến với mình là họ ngẫm nghĩ tìm cách trừng trị và công kích đối phương, bắt đối phương phải phục tùng. Ngươi thấy đấy, Ta có địa vị, có quyền lực, nhưng khi đối đãi với mọi người, kể cả người ngoại đạo, Ta có những biểu hiện đó không? (Thưa, không có.) Đối với người mình không thích thì kẻ ác tìm cách hạ thấp và trừng trị người ta, thậm chí chà đạp người ta dưới chân. Còn Ta chưa bao giờ làm những việc này đối với người Ta không thích, Ta cũng rất hiếm khi nhờ người khác xử lý công chuyện cho Ta. Ta thấy có những người khi chia phần rau củ và thực phẩm ăn hằng ngày đều cố ý chọn thứ bị hỏng và không ngon cho Ta. Khi có người chọn cho Ta chút đồ ngon thì họ còn đổi thành đồ dở. Có người gửi cho Ta chút thực phẩm thì người bảo quản còn vứt sang một bên, để hết hạn và thối rữa mà cũng mặc kệ. Trong lòng những người này cho rằng: “Ngài chỉ là một người bình thường mà còn muốn tôi làm việc cho Ngài. Tôi làm thế này là đã tốt lắm rồi, trừ phi Ngài có ba đầu sáu tay hoặc Ngài là quan huyện đại lão gia thì tôi mới đem chút sức lực phục vụ cho Ngài”. Ta nhìn là hiểu rồi, họ không sẵn lòng làm việc cho Ta. Ta còn tưởng họ là anh chị em trong hội thánh thì ít ra cũng có thể dành cho Ta chút tôn trọng, không ngờ họ chẳng bằng lòng, họ coi thường Ta và không coi Ta là con người. Họ làm việc cho cha mẹ, cho sếp, cho quan chức và người có địa vị. Còn Ta thì họ chẳng coi ra gì, nên họ chẳng làm việc cho Ta. Trong lòng Ta nghĩ: “Hóa ra ngươi là người như thế, vậy thì Ta không nhờ ngươi làm việc nữa, ngươi không sẵn lòng làm thì Ta cũng không cưỡng cầu, Ta không dùng địa vị áp chế ngươi. Ta chỉ là một người bình thường, Ta đối đãi với ngươi như anh chị em, ngược lại ngươi đối đãi với Ta như vậy. Thế thì Ta tìm người khác làm việc là được, Ta không dùng ngươi nữa”. Trong hội thánh có không ít loại người như vậy, họ đều thuộc số kẻ chẳng tin. Bất kể nghe bao nhiêu bài giảng, họ cũng không hiểu lẽ thật, đối với Đức Chúa Trời thì họ không có chút lòng kính sợ nào. Thông qua những chuyện này mà họ bị tỏ lộ. Loại người này đã nghe nhiều bài giảng đến thế, tại sao vẫn có thể đối đãi với Ta như vậy? Tại sao họ đối đãi với Ta còn không bằng đối đãi với bà con và bạn bè? Chẳng phải loại người này quá vụ lợi sao? (Thưa, phải.) Trong hội thánh khắp nơi đều tồn tại một số người như vậy. Họ không yêu thích lẽ thật thì làm sao có thể có chút thuận phục thực sự nào với Đức Chúa Trời chứ? Chẳng những không thuậnphục mà họ còn có ý thù hận. Khi chia cho người khác, họ đều có thể chia chút rau ngon, thực phẩm ngon, tại sao lại chuyên môn chia cho Ta thứ tệ nhất? Những rau củ, thực phẩm này rốt cuộc là ai bỏ tiền ra mua? Nông trại này là ai bỏ tiền ra làm? Không có người nào suy xét những chuyện này. Về sau, khi mổ xẻ những chuyện này thì một số người mới tỉnh ngộ, nhưng lúc đó cũng chẳng có ai chủ động vạch trần và xử lý những người này.

Ở thế gian, người cai trị cao nhất của một quốc gia chính là người có địa vị nhất ở giữa mọi người. Những người có địa vị nhất thì ăn gì và hưởng thụ gì? Về cơ bản chính là ăn thịt người và uống máu người. Tại sao Ta lại nói như vậy? Ngươi xem long bào của hoàng đế ngày xưa mặc được làm như thế nào đi. Chúng đều là hàng đặt riêng, một chiếc long bào dùng đủ loại vải vóc, nhiều kiểu dệt khác nhau và được thêu thùa tỉ mỉ hơn ba năm, mà chúng là thứ có cái cả đời cũng có thể chỉ mặc một hai lần. Nếu không có địa vị đó thì hoàng đế có thể hưởng thụ những thứ này không? (Thưa, không.) Có địa vị thì có quyền lực, có quyền lực thì có thể muốn gì làm nấy và hưởng thụ mọi vinh hoa phú quý, mà còn không ai dám bàn tán. Người ta còn cảm thấy: “Hoàng đế của nước chúng ta thì nên hưởng thụ, ngài hưởng thụ là quá hợp lý rồi! Nếu ngài hưởng thụ không tốt thì người dân chúng ta đều mất mặt cả. Hoàng đế mặc đẹp là vinh hạnh của chúng ta!”. Những người này đê hèn làm sao! Có phải họ đã bị kẻ cai trị đồng hóa rồi không? (Thưa, đúng.) Đức Chúa Trời nhập thể đến trên đất mà hưởng thụ tốt một chút thì con người nghĩ thế nào? “Không được, Ngài là Đức Chúa Trời, Ngài phải chịu khổ chứ, Ngài không chịu khổ thì có xứng để chúng tôi đi theo không? Ngài không được ăn đồ ngon, không được mặc đồ đẹp, Ngài phải chịu nhiều đau khổ thì mới là Đức Chúa Trời!”. Nhân loại như vậy thì có nhân tính không? (Thưa, không có.) Nhân loại này có chút lòng tốt nào đối với Đức Chúa Trời không? Tâm địa như vậy có phải quá xấu xa rồi không? Kẻ cai trị bóc lột người ta, khống chế người ta, tàn hại người ta, mà người ta lại cam tâm tình nguyện bị những kẻ đó khống chế và tàn hại. Trong khi đó, Đức Chúa Trời làm công tác cứu rỗi con người, bận lòng vì con người, yêu thương và thương xót con người, Đức Chúa Trời còn ban cho con người mọi thứ, mà con người có thái độ gì đối với Đức Chúa Trời? Con người cảm thấy: “Đức Chúa Trời chịu khổ là lẽ đương nhiên, Đức Chúa Trời càng chịu khổ thì trong lòng tôi càng vui mừng, không khó chịu chút nào. Đức Chúa Trời đến thì nên chịu khổ như vậy”. Đây chẳng phải là tâm thái của nhân loại sao? Nhưng trên thực tế, bất kể lần nhập thể nào, Đức Chúa Trời cũng có địa vị này và cũng có quyền lực, nhưng Ngài chẳng bao giờ hưởng thụ, chẳng bao giờ ham muốn khoái lạc thế gian, cũng không ham muốn sự cung phụng của con người. Ngươi thấy đấy, ở thế gian, hễ ai có chút địa vị là muốn hưởng thụ sự đãi ngộ đặc biệt, đồ ăn, nước uống đều là hàng cung cấp riêng. Đức Chúa Trời có hàng cung cấp riêng không? (Thưa, không có.) Nông trại trồng rau gì thì Ta ăn rau đó, đều là bữa cơm gia đình thường ngày. Có một số người tốt bụng có thể chọn cho Ta chút rau ngon theo mùa, còn lại không có gì khác biệt, về cơ bản, các ngươi ăn gì thì Ta cũng ăn nấy. Thậm chí có những món ngon các ngươi ăn lén cũng không gửi cho Ta một chút, Ta có xét nét các ngươi không? (Thưa, không.) Có những người chẳng bao giờ sẵn lòng cung cấp rau ngon cho Ta, toàn chọn cho Ta thứ rau thừa mà họ chẳng muốn ăn, thấy Ta ăn chút rau ngon thì trong lòng họ không thoải mái. Bất kể Ta ăn gì cũng là ăn của Ta, đâu có ăn của ngươi, tại sao ngươi lại không hài lòng? Ta đâu có hưởng thụ hàng cung cấp riêng nào, hơn nữa Ta chưa bao giờ chia của lễ thành từng phần, phần nào phải để lại cho Ta bồi bổ cơ thể, phần nào phải để lại cho Ta ăn mặc chải chuốt hàng ngày, phần nào phải để lại cho việc du lịch và giải trí của Ta, Ta chưa bao giờ làm như vậy. Cuộc sống của Ta đơn giản thôi. Phần lớn của lễ đều dùng vào công tác của nhà Đức Chúa Trời, vào việc chăm sóc cuộc sống của các ngươi và lo cho chuyện ăn, mặc, ở, đi lại của các ngươi rồi, cá nhân Ta không giữ lại gì. Phải vậy không? (Thưa, phải.) Ngươi xem viên chức nhà nước thông thường đều hưởng thụ cái gì? Những cô biên tập viên truyền hình đó, chỉ riêng mỹ phẩm một năm đã phải tốn mấy chục ngàn nhân dân tệ, mỗi một khoản chi phí công tác đều có quỹ riêng. Ngươi xem đồ Ta mặc, đồ Ta dùng, đồ Ta hưởng thụ đi, có bằng một góc của họ không? Còn không đến một góc của họ. Lại nêu một ví dụ khác. Chẳng hạn như những người giàu có khả năng tài chính trong số anh chị em của hội thánh chúng ta, họ hưởng thụ cái gì? Họ mặc gì, dùng gì? (Thưa, hàng hiệu.) Người ta mặc hàng hiệu, đeo đồ hàng hiệu, hưởng thụ cuộc sống của người giàu, của giới thượng lưu. Ở Trung Quốc, có những người đặc biệt tôn sùng đồ nhập khẩu, áo quần và đồ dùng thì chuyên mua của nước ngoài. Trừ không khí hít thở là trong nước ra, còn lại đồ ăn, đồ mặc, đồ dùng của họ toàn là hàng hiệu quốc tế, có những thứ chúng ta còn chưa từng thấy qua. Ngươi xem người giàu mà có địa vị rồi thì đều mua gì? Biệt thự xa hoa, xe sang, du thuyền sang trọng, máy bay riêng, còn có sân golf riêng, câu lạc bộ riêng, v.v.. Sự hưởng thụ của họ có phải là xa hoa lãng phí không? (Thưa, phải.) Ngươi thấy Ta có hưởng thụ những thứ này không? (Thưa, không.) Ta mang một đôi giày mấy năm, nếu chưa hỏng thì cứ mang tiếp. Thực sự không phải là không có tiền mua đôi mới, chỉ là thói quen sinh hoạt của Ta như vậy thôi. Ta tiếp cận với địa vị và quyền lực như vậy đấy. Ta không có ham muốn cao vời, vĩ đại hay cao cấp gì. Ta sống bình thường, đơn giản và đặc biệt có quy luật. Trong mắt một số người thì cuộc sống của Ta đặc biệt đơn điệu. Cuộc sống cá nhân của Ta, ngoài những đặc điểm như có quy luật, tiết kiệm, tương đối yên tĩnh và ngăn nắp ra, thì không có thứ gì xa hoa, cao cấp hay đặc biệt cầu kỳ cả. Thế mà trong hội thánh, có những người một khi làm lãnh đạo ở cấp nào đó rồi, thì ngươi xem có biểu hiện gì? (Thưa, trong chuyện gì cũng muốn hưởng thụ đồ tốt.) Làm lãnh đạo rồi thì họ thấy mình không phải dạng vừa, cảm thấy mình có địa vị. Họ đi đâu cũng phải có người nhường chỗ, không ai nhường chỗ thì họ nổi giận. Họ nói chuyện thì lúc nào cũng phải có người nhường lời cho họ. Họ đi đâu cũng luôn có người đi theo hầu, có người xách túi, có người tháp tùng. Ra ngoài một hồi lâu mà họ thấy đói, thấy khát thì luôn có người dâng đồ ăn đồ uống đến tận miệng, mệt thì còn có người mát-xa cho. Ta nói cho hay, họ đúng là không phải dạng vừa, có địa vị rồi thì trở nên đặc biệt, không còn là người nữa rồi, phải vậy không? (Thưa, phải.) Ta nói này, tại sao Ta lại không để tâm tới địa vị nhỉ? Không có địa vị Ta sống khá thoải mái. Có địa vị rồi thì người khác lúc nào cũng đối đãi với Ta như nhân vật đặc biệt, như vậy thì Ta cảm thấy gượng gạo, không thoải mái chút nào. Không có địa vị thì khá tốt, cho nên Ta coi như bản thân không có địa vị gì cả, cứ mang thân phận một người bình thường mà qua lại với người ta, cảm thấy đặc biệt tự do. Các ngươi cảm thấy tự do, Ta cũng cảm thấy tự do, qua lại với người khác như vậy thì tốt quá rồi. Đối với nhân loại bại hoại, thường thì sau khi có địa vị, bên cạnh họ lúc nào cũng phải có vài người hầu hạ, uống nước thì có người rót, ăn cơm thì có người đưa đũa, ra ngoài cũng phải có người đi theo, lại còn phải mua trang phục hàng hiệu, thay một bộ cánh mới từ đầu đến chân cho phù hợp với địa vị của họ. Ta nói: “Làm lãnh đạo là sự ủy thác và trách nhiệm mà Đức Chúa Trời ban cho ngươi, chẳng lẽ đó là địa vị sao? Ngươi có thể làm công tác thực tế gì mà đã lên mặt ta đây rồi? Nếu ngươi thực sự có thể làm công tác, thì khi cấp trang phục, dụng cụ, điện thoại, máy tính cho ngươi, nhà Đức Chúa Trời đều sẽ cấp đồ tốt. Nhưng ngươi chẳng làm được công tác thực tế nào mà còn khoe khoang một cách bừa bãi. Ngươi tin Đức Chúa Trời mà lại mưu cầu những thứ địa vị và danh lợi này sao? Sao ngươi lại nông cạn như vậy chứ?”. Ta làm công tác bao nhiêu năm nay, bàn về quy mô thì hẳn là khá lớn, nhưng bản thân Ta không cảm thấy mình có địa vị. Ta cũng không có đặc quyền đi kèm nào, không có nhân viên đặc biệt hầu hạ và chăm sóc cho Ta. Đối với những chuyện này, Ta không cầu kỳ chút nào. Ngươi nói xem, Ta không biết cầu kỳ à? (Thưa, không phải, Đức Chúa Trời vốn không bận tâm đến những điều này.) Muốn cầu kỳ thì Ta cũng biết cầu kỳ, Ta cũng biết chọn mua đồ tốt. Nhưng có một điểm Ta không giống với các ngươi, là điểm gì? Ta tiếp cận một cách đúng đắn với những thứ này. Ta sẽ không vì mình có địa vị mà ăn mặc và chải chuốt sao cho phù hợp với địa vị của Ta, cũng không dùng cách ăn mặc, chải chuốt để xác thực địa vị và giá trị của Ta. Bất kể Ta mua thứ gì hay sở hữu thứ gì, thì chỉ là vì Ta thích hoặc cần nó, cảm thấy nó thích hợp để dùng. Ta sẽ không vì có địa vị, có quyền lực hay vì giá trị của Ta mà đi mua và sở hữu nó.

Ta nói với các ngươi về chủ đề chuyện Đức Chúa Trời nhập thể tiếp cận địa vị như thế nào để các ngươi hiểu thêm về Ta, biết rằng đối với chuyện địa vị này thì rốt cuộc Ta có quan điểm gì và Ta làm như thế nào. Đương nhiên, trong chuyện này, điều Ta muốn nói cho các ngươi biết nhất là gì? Một mặt là các ngươi cần phải nhận biết sự khác biệt giữa bản thân Đức Chúa Trời nhập thể và nhân loại bại hoại trong cách tiếp cận địa vị. Mặt khác cũng là để cho người ta hiểu chính xác về chuyện rốt cuộc địa vị là gì, người ta nên giữ vị trí vốn có của mình như thế nào, làm tốt trách nhiệm và làm tròn bổn phận của mình ra sao. Đây là tư tưởng và quan điểm đúng đắn mà mỗi một người nên có. Có quan điểm và tư tưởng đúng đắn như thế này, thì đối với bổn phận của mình, trách nhiệm của mình, thậm chí là địa vị mà nhà Đức Chúa Trời trao cho mình, ngươi mới tiếp cận một cách hợp lẽ thật và hợp nguyên tắc. Về chủ đề Đức Chúa Trời nhập thể tiếp cận địa vị như thế nào, Ta đã thông công với các ngươi không ít. Có một số điều các ngươi đã nhìn thấy và có thể đối chiếu được với thực tế. Có một số điều thì các ngươi chỉ nghe những gì Ta nói chứ chưa từng tiếp xúc với Ta, nên không có cách nào đối chiếu được. Bất kể là các ngươi đã nhìn thấy hay chỉ nghe được một số sự thật Ta nói, nếu các ngươi có thể lĩnh hội một cách đúng đắn và có thể tin, vậy là được rồi. Nếu ngươi vẫn còn nghi ngờ, thì hãy dần dần quan sát trong cuộc sống thường nhật, xem những điều Ta nói đây có phải là sự thật hay không, có chính xác hay không. Khi xác thực được rồi thì ngươi sẽ biết: đối với Đức Chúa Trời thì địa vị rốt cuộc là gì, Đức Chúa Trời tiếp cận địa vị như thế nào, so với cách nhân loại bại hoại thường tiếp cận địa vị thì có khác biệt gì, trong chuyện này, lẽ thật mà con người nên hiểu là gì, lẽ thật mà con người nên thực hành là gì. Các ngươi có sự hiểu biết cơ bản về những nội dung này rồi thì sẽ giúp các ngươi hiểu Đức Chúa Trời hơn và nhận biết Đức Chúa Trời một cách chính xác hơn. Ngoài ra, như vậy cũng giúp các ngươi có thể tiếp cận một cách đúng đắn với vấn đề về địa vị, đồng thời cũng cho các ngươi một quan điểm đúng đắn và cách xử lý đúng đắn đối với địa vị, phải vậy không? (Thưa, phải.)

Được rồi, hôm nay thông công đến đây thôi, tạm biệt!

Trước: Cách mưu cầu lẽ thật (28)

Tiếp theo: Cách mưu cầu lẽ thật (24)

Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời Về việc biết Đức Chúa Trời Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt Vạch rõ kẻ địch lại Đấng Christ Chức trách của lãnh đạo và người làm công Về việc mưu cầu lẽ thật Về việc mưu cầu lẽ thật Sự phán xét khởi từ nhà Đức Chúa Trời Những lời kinh điển từ Đức Chúa Trời Toàn Năng, Đấng Christ của thời kỳ sau rốt Lời Đức Chúa Trời Hằng Ngày Các thực tế lẽ thật mà người tin Đức Chúa Trời phải bước vào Theo Chiên Con Và Hát Những Bài Ca Mới Những chỉ dẫn cho việc truyền bá phúc âm của vương quốc Chiên của Đức Chúa Trời nghe tiếng của Đức Chúa Trời Lắng nghe tiếng Đức Chúa Trời thấy được sự xuất hiện của Đức Chúa Trời Những câu hỏi và câu trả lời thiết yếu về Phúc Âm của Vương quốc Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 1) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 2) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 3) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 4) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 5) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 6) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 7) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 8) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 9) Tôi Đã Quay Về Với Đức Chúa Trời Toàn Năng Như Thế Nào

Cài đặt

  • Văn bản
  • Chủ đề

Màu Đồng nhất

Chủ đề

Phông

Kích cỡ Phông

Khoảng cách Dòng

Khoảng cách Dòng

Chiều rộng Trang

Mục lục

Tìm kiếm

  • Tìm kiếm văn bản này
  • Tìm kiếm cuốn sách này

Liên hệ với chúng tôi qua Messenger