Cách mưu cầu lẽ thật (27)
Về chủ đề “buông bỏ” trong “Mưu cầu lẽ thật”, chúng ta đã thông công tới nội dung liên quan đến quan niệm và tưởng tượng trong phần “buông bỏ những rào cản giữa bản thân với Đức Chúa Trời và sự thù địch đối với Ngài”. Mấy lần trước, chúng ta đã thông công về “buông bỏ quan niệm và tưởng tượng về Đức Chúa Trời nhập thể”, hôm nay chúng ta tiếp tục thông công về nội dung này. Về quan niệm và tưởng tượng đối với Đức Chúa Trời nhập thể, chúng ta đã thông công một số chủ đề liên quan đến nhân tính bình thường của Đức Chúa Trời nhập thể, phải không? Vậy lần trước chúng ta đã thông công những gì? Chúng ta đã thông công về một số biểu hiện cụ thể liên quan đến những gì nhân tính bình thường của Đức Chúa Trời nhập thể sống thể hiện ra và bộc lộ, cùng một số nguyên tắc làm người và làm việc trong nhân tính bình thường của Đức Chúa Trời nhập thể, sau đó chúng ta thông công về những chuyện mà Đức Chúa Trời nhập thể không làm trong phương diện nhân tính. Việc thông công về những phương diện này giúp người ta hiểu rõ hơn về thực chất tâm tính của xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể, nguyên tắc làm người và làm việc cũng như một số biểu hiện và sự bộc lộ cụ thể của Ngài. Vậy khi thông công về những biểu hiện này của Đức Chúa Trời nhập thể, cho dù là một số sự thật và ví dụ hay là nguyên tắc làm việc cụ thể của Ngài, thì chúng đều liên quan đến những chuyện nhỏ trong mọi khía cạnh của cuộc sống. Nhìn bề ngoài thì Đức Chúa Trời nhập thể chẳng có những kỳ tích vĩ đại hay những hành động cao cả khiến người ta sùng bái như trong quan niệm và tưởng tượng của con người, mọi biểu hiện của Đức Chúa Trời nhập thể đều rất bình thường, rất thông thường. Chính vì Đức Chúa Trời nhập thể sống giữa nhân loại bình thường và bại hoại này, cho nên những biểu hiện bình thường và thực tế này của Ngài một mặt là biểu hiện tất nhiên phải có trong nhân tính của xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể, mặt khác chúng cũng là nhu cầu bình thường của Đức Chúa Trời nhập thể khi sống giữa nhân loại. Đương nhiên, những biểu hiện bình thường và thực tế này cũng cho người ta một số thông tin hoặc con đường liên quan đến việc nhận biết Đức Chúa Trời. Chúng giúp người ta thông qua những gì Đức Chúa Trời nhập thể sống thể hiện ra và nguyên tắc thực tế của Ngài trong chuyện làm người giữa nhân gian, mà nhận biết sự thực tế và bình thường của Đức Chúa Trời, cũng như nhận biết Đức Chúa Trời ở trên trời, có thể hiểu chính xác hơn về Đức Chúa Trời ở trên trời, hiểu chính xác về thực chất của Đức Chúa Trời khi Ngài là một con người bình thường và thông thường ở dưới đất.
Có người nói: “Những chuyện và ví dụ này mà Ngài giảng liên quan đến nhân tính bình thường của Đức Chúa Trời nhập thể đều rất thông thường, đều là những chuyện vô cùng nhỏ nhặt và không đáng để mắt đến trong cuộc sống thường nhật. Ngài có thể giảng về một vài sự thật khiến người ta cảm thấy thần bí khôn dò, cảm thấy đặc biệt vĩ đại được không?”. Ta nói rằng, đến nay đúng là vẫn chưa có những chuyện như vậy. Bởi vì Đức Chúa Trời nhập thể sống trong thực tế của nhân tính bình thường như vậy, lại ở trong một hoàn cảnh sống đặc thù nhất định, ngoài làm công tác của chính Đức Chúa Trời ra, phần thời gian còn lại, Ngài ở trong phạm vi cuộc sống của nhân tính bình thường mà tiếp xúc với các anh chị em hoặc xử lý một số vấn đề vụn vặt trong hội thánh. Cho nên ngoài những ví dụ liên quan đến nguyên tắc, tín điều làm người và làm việc mà chúng ta đã thông công ra, thì không có những sáng kiến vĩ đại hay việc làm siêu phàm nào như các ngươi tưởng tượng. Chuyện này có lẽ con người không ngờ tới, cũng có lẽ không hợp với quan niệm và tưởng tượng của con người, nhưng sự thật chính là như vậy. Khi thông công về chủ đề Đức Chúa Trời nhập thể này thì chủ yếu chúng ta nói đến một số biểu hiện, cách sống thể hiện ra cùng những nguyên tắc làm người và làm việc cụ thể của Đức Chúa Trời nhập thể trong nhân tính bình thường. Những điều này khác với những giai thoại của thế gian kể về các vĩ nhân và danh nhân. Khi người trong thế gian kể về một vĩ nhân, danh nhân hoặc cao nhân, họ luôn muốn kể rằng người này khác với người thường ra sao, siêu phàm và vĩ đại thế nào, kể về sức hút nhân cách của người đó, chủ yếu là kể rằng người đó cao siêu, vĩ đại và đẳng cấp thế nào. Còn chủ đề liên quan đến Đức Chúa Trời nhập thể mà chúng ta nói thì lại hoàn toàn trái ngược với nội dung mà thế gian kể về những cao nhân và vĩ nhân này. Chúng ta chủ yếu nói về sự bình thường, thực tế, thông thường và không siêu phàm của Đức Chúa Trời nhập thể. Chúng ta toàn giảng những ví dụ cụ thể, còn là những ví dụ nhỏ nhặt trong cuộc sống, nói về chuyện nguyên tắc, quan điểm làm người và làm việc của Ngài là gì. Những tư tưởng, quan điểm, nguyên tắc, cách thức làm người và làm việc này đều dựa trên lương tâm và lý trí của nhân tính bình thường. Chúng ta chủ yếu nói về cách mà Ngài làm người và làm việc. Còn trên thế gian, rất ít người nói về cách làm người, cho dù có người từng nói về chủ đề này, thì họ cũng không nói ra được bao nhiêu ví dụ cụ thể, càng không nói ra được nguyên tắc làm người nào. Họ không kể rằng các danh nhân, vĩ nhân có nguyên tắc tích cực, cách thức tích cực, hay tư tưởng và quan điểm đúng đắn nào trong chuyện làm người và làm việc. Họ chỉ kể về công lao, tài năng, sự học và tinh thần của người đó, còn kể về chuyện nhờ công lao, tài năng, sự học và tinh thần ấy mà người đó chiếm giữ vị trí chủ đạo như thế nào giữa nhân loại. Những điều họ kể lại hoàn toàn trái ngược với nhân tính bình thường mà Đức Chúa Trời nhập thể sở hữu và có sẵn mà chúng ta thông công hôm nay. Những gì mà xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể khiến cho các ngươi nhận biết và hiểu, chính là những nguyên tắc, tín điều làm người, làm việc được sống thể hiện ra và có trong nhân tính bình thường, thực tế của Đức Chúa Trời nhập thể. Những nguyên tắc, tín điều làm người và làm việc này vừa vặn phù hợp với những yêu cầu của Đức Chúa Trời đối với nhân loại mà Ngài muốn cứu rỗi. Chỉ có xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể mới có dạng nhân tính như vậy, mới có được các tư tưởng và quan điểm khác nhau—cùng các nguyên tắc, tín điều làm người và làm việc của Ngài—ở trong nhân tính bình thường và thực tế. Do đó Ngài mới có thể ở trong nhân tính như vậy mà đại diện cho Đức Chúa Trời để làm công tác của chính Đức Chúa Trời, hoàn thành công tác và chức vụ mà Đức Chúa Trời nhập thể nên làm tốt trong thời đại này, mới có thể công bố trọn vẹn cho nhân loại về tâm tính đại diện mà Đức Chúa Trời muốn bày tỏ trong thời đại này, và dĩ nhiên Ngài cũng hoàn toàn đảm nhận được công tác bày tỏ lẽ thật mà Đức Chúa Trời muốn làm trong giai đoạn công tác này. Nếu thực chất nhân tính mà xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể có, sống thể hiện và bộc lộ ra lại không bình thường, thực tế và thông thường như chúng ta đã thông công, hoặc nếu Ngài không có những nguyên tắc và tín điều làm người mà chúng ta đã thông công, thay vào đó lại có thực chất nhân tính của những danh nhân, vĩ nhân mà người ngoại đạo kể về hoặc tôn sùng, thì kết quả sẽ thế nào? (Thưa, thì Ngài sẽ không thể dẫn dắt chúng con đi con đường kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác.) Vậy thì tình cảnh sẽ khác hẳn. Giả dụ xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể có thực chất nhân tính của các vĩ nhân hoặc danh nhân ngoại đạo, cao lớn, siêu phàm, khác với người thường và thần bí khôn dò. Một người như vậy thì làm người và làm việc không có ranh giới, miệng đầy lời dối trá, làm người và làm việc không có khuôn phép, không thật thà, cũng không an phận và không đúng bổn phận, sự mưu cầu, tư tưởng và quan điểm của người đó giống hệt của người ngoại đạo, nghĩa là mưu cầu những điều cao siêu, vĩ đại và đẳng cấp, chú trọng ân tứ, tri thức và siêu năng lực, vậy thì đối với các ngươi, một người như vậy có thể dẫn các ngươi đi lên con đường nào? (Thưa, người đó không thể dẫn người ta đi lên con đường được cứu rỗi, ngược lại người ta đi theo người đó thì sẽ chỉ ngày càng bại hoại, ngày càng tà ác.) Một người như vậy thì bản thân họ đã không có nguyên tắc tích cực trong việc làm người, cách thức và nguyên tắc làm người của họ đều không tích cực, mà đều thuộc về Sa-tan, vậy thì nguyên tắc và tín điều làm người của người thuộc về Sa-tan này đại diện rất rõ cho thực chất nhân tính của họ. Họ có thực chất nhân tính như vậy thì sự mưu cầu của họ và con đường họ đi sẽ là gì? Sẽ hoàn toàn giống hệt của Sa-tan. Sự mưu cầu của họ và con đường họ đi đều đến từ Sa-tan, đều tương hợp với Sa-tan. Vậy chẳng phải những ai đi theo họ cũng sẽ đi theo sự dẫn dắt của họ, có cùng sự mưu cầu và đi cùng con đường giống họ sao? (Thưa, phải.) Những người này sẽ đi theo sự dẫn dắt của họ, bắt chước nguyên tắc làm người của họ, cũng sẽ giống như họ mà mưu cầu tri thức, địa vị, mưu cầu sự siêu nhiên, mưu cầu những điều cao siêu, vĩ đại và đẳng cấp, mưu cầu mọi điều siêu phàm, và mọi thứ mà trong mắt con người là thần bí khôn dò. Đi theo người như vậy thì không một ai có thể được cứu rỗi, mà ngược lại sẽ ngày càng sa đọa. Một tập thể như vậy thì không thể được gọi là hội thánh, chủ yếu là vì họ đã rời bỏ công tác của Đức Chúa Trời, cũng không có công tác của Đức Thánh Linh. Thủ lĩnh mà họ đi theo cũng không phải do Đức Chúa Trời thiết lập, càng không phải do Đức Chúa Trời sai đến. Ngay cả khi bản thân họ tự xưng là hội thánh thì cũng vô ích thôi, Đức Chúa Trời không ngó ngàng đến họ. Họ có xưng mình là hội thánh cỡ nào đi nữa, thì Đức Chúa Trời cũng không thừa nhận họ, Đức Thánh Linh cũng sẽ không làm công tác trên họ. Thủ lĩnh đó thích gì thì dạy người ta làm nấy, bên trong họ có cái gì thì cung ứng cho người ta cái nấy, và đó cũng là thứ người ta nhận được từ họ. Họ không có lẽ thật, không cung ứng điều tích cực nào hay hướng dẫn đúng phương hướng nào cho người ta, vậy thì người ta không thể nào đạt được lẽ thật từ họ. Cùng lắm người ta chỉ có thể học được từ họ chút tri thức, chút kỹ năng nghiệp vụ của thế giới ngoại đạo hoặc năng lực trong một lĩnh vực nào đó. Tóm lại, một người không có sự bình thường và thực tế, hoặc không có thực chất thần tính làm sự sống như vậy, thì không thể được gọi là Đức Chúa Trời nhập thể, không thể dẫn con người đến trước mặt Đức Chúa Trời, cũng không thể dẫn con người đi lên con đường được cứu rỗi. Căn cứ vào những sự thật này, thì giữa nhân gian, ngoài xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể ra, có người nào có thể đại diện cho Đức Chúa Trời để làm công tác của Đức Chúa Trời không? (Thưa, không có.) Có người nào có thể đại diện cho Đức Chúa Trời để cứu rỗi nhân loại khỏi tâm tính bại hoại không? (Thưa, không có.) Bất kỳ một thành viên nào trong nhân loại thông thường cũng đều có sự sống và thực chất nhân tính gần như giống nhau, đều là sự sống và thực chất nhân tính đã bị Sa-tan làm bại hoại, nhân loại đều lấy tâm tính bại hoại làm sự sống. Do đó, bất kể xét từ nhân tính của con người hay từ thực chất sự sống của con người, thì toàn nhân loại không một ai có thể đảm nhận công tác này của Đức Chúa Trời nhập thể, cũng không con người bại hoại nào có thể đại diện cho Đức Chúa Trời để cứu rỗi nhân loại bại hoại khỏi sự bại hoại. Đương nhiên, những sự thật này cũng nói cho người ta biết rằng: Không một con người bại hoại nào có thể nói cho nhân loại biết điều tích cực là gì và điều tiêu cực là gì, không một con người bại hoại nào có thể nói cho người ta biết lẽ thật là gì hay tâm ý của Đức Chúa Trời rốt cuộc là gì. Điều mà nhân loại bại hoại cung ứng cho con người chỉ có tri thức, các loại kỹ năng, bản lĩnh hoặc ân tứ mà nhân loại bại hoại mưu cầu, đủ loại thủ đoạn làm người và làm việc, triết lý xử thế, cùng các loại tư tưởng và quan điểm đến từ Sa-tan. Con người, bất kể thuộc chủng tộc nào, đều có một điểm chung, điểm chung này là gì? Con người ai cũng xem những thứ tương đối tích cực hoặc tương đối thiện ý, bảo thủ, truyền thống ở nhân gian là điều tích cực, và cố dùng chúng để thay thế lẽ thật, thay thế tâm ý của Đức Chúa Trời. Người ta cho rằng giữ vững những thứ này là đạt được con đường thật và có thể được cứu rỗi rồi. Trên thực tế, những thứ này chẳng liên quan chút nào đến các yêu cầu của Đức Chúa Trời đối với nhân loại. Ngươi thấy đấy, giữa nhân gian, bất kể là người khôn khéo đến đâu, bất kể có ân tứ cao thế nào, tài năng và sự học cao đến đâu, hoặc có nhân tính bề ngoài lương thiện và nhân nghĩa ra sao, thì cũng không một ai có thể hiểu được lẽ thật, không một ai biết phân định đâu là điều tích cực và đâu là điều tiêu cực. Trước khi Đức Chúa Trời làm công tác, trước khi Đức Chúa Trời bày tỏ lời, gần như toàn bộ nhân loại đều xem văn hóa truyền thống là điều tích cực, thậm chí có người còn tôn thờ văn hóa truyền thống như lẽ thật. Cho nên bất kể xét từ góc độ nào, nếu không phải Đức Chúa Trời nhập thể ở trong nhân tính bình thường mà bày tỏ những lẽ thật này và làm những công tác này, thay vào đó lại để cho bất kỳ một thành viên nào đó trong nhân loại làm công tác này, thì họ sẽ chỉ dẫn dắt con người đi lên con đường lệch khỏi lời Đức Chúa Trời và lệch khỏi tâm ý của Đức Chúa Trời.
Chúng ta hãy xem một ví dụ đơn giản. Chẳng hạn như, bảo người ta lựa chọn trang phục cho chương trình múa, người ta sẽ chọn thế nào? Về mặt lý thuyết, mọi người đều biết rằng người tin Đức Chúa Trời mà làm chương trình múa, nhất là làm video đăng công khai trên mạng, thì trang phục mặc trên người và diện mạo tinh thần của người ta đều đại diện cho dân của Đức Chúa Trời. Do đó, khi chọn trang phục thì nên chọn trang phục đoan trang đứng đắn, không nên mặc trang phục kỳ dị. Nói đến đoan trang đứng đắn thì phải xem xét kỹ. Trong quan niệm của con người, trang phục thế nào được xem là đoan trang đứng đắn? Chính là trang phục mà các dân tộc thường mặc nhất, trang phục tương đối truyền thống, tương đối bảo thủ mà mọi người nhìn vào đều thấy thích hợp, không phải trang phục kỳ dị, không phải chạy theo trào lưu. Đây chính là trang phục đoan trang đứng đắn trong quan niệm của mọi người. Quan điểm của đa số anh chị em trong hội thánh đối với việc lựa chọn trang phục khi làm chương trình là gì? Ngươi thấy đấy, lúc quay phim, quan điểm của người phụ trách trang phục thực ra cũng đại diện cho quan điểm của đa số mọi người. Kiểu dáng quần áo họ chọn đều là những trang phục mà đa số mọi người thường mặc vào thập niên 80, 90. Màu sắc đa số là màu xanh da trời, màu kaki hoặc màu xám, chỉ là có cái đậm hơn một chút, có cái nhạt hơn một chút. Xét tổng thể thì chỉ có hai, ba loại màu sắc đơn giản như vậy. Tại sao họ không chọn một vài màu sắc tươi sáng? Trong quan niệm của mọi người, người tin Đức Chúa Trời đều là những người tốt và đoan trang đứng đắn, mặc quần áo thì nên chọn mấy loại màu sắc bình thường nhất và phổ biến nhất này. Ngươi thấy đấy, một chuyện rất đơn giản là lựa chọn kiểu dáng và màu sắc trang phục thôi đã tỏ lộ hoàn toàn quan niệm, tư tưởng và quan điểm sai lầm trong lòng người ta về chuyện tin Đức Chúa Trời. Tức là, bên trong con người có một quan niệm rất nghiêm trọng, nhiều người cho rằng tin Đức Chúa Trời thì phải thủ cựu, phải khôi phục truyền thống. Trong quan niệm của họ cho rằng những thứ truyền thống, cổ hủ, lạc hậu, hủ lậu này mới là điều tích cực, mới là điều làm Đức Chúa Trời đẹp lòng. Có phải đa số mọi người đều cho là vậy không? (Thưa, phải.) Đây là những thứ trong đầu óc con người. Con người ai cũng định nghĩa những thứ truyền thống, lạc hậu, cũ kỹ và cổ hủ đó là điều tích cực. Cho nên, khi làm chương trình, đối với chuyện đơn giản nhất và cơ bản nhất là màu sắc và kiểu dáng trang phục, người ta cũng không thể lựa chọn cho chính xác. Họ đều dùng quan niệm để đánh giá chuyện này, đều đặc biệt thủ cựu, lại còn đặc biệt ngu ngốc một cách ngoan cố. Ngươi nói xem, quan niệm của con người đối với Đức Chúa Trời nhiều tới mức nào đây! Điều tích cực mà con người định nghĩa và thứ mà con người cho rằng Đức Chúa Trời yêu thích đều là văn hóa truyền thống trong quan niệm của con người hoặc là những thứ được người đời tiếp nhận và công nhận giữa con người với nhau, chẳng có một chút quan hệ nào với lẽ thật. Vậy các ngươi nói xem, bản thân Ta thuộc phái truyền thống hay phái hiện đại? (Thưa, Đức Chúa Trời không thuộc phái truyền thống, cũng không thuộc về phái hiện đại.) Có người nói: “Thông qua những gì Ngài thông công, chúng con biết Ngài không thích văn hóa truyền thống, bởi vì Ngài sống trong hiện tại. Ít nhất Ngài không truyền thống, không thủ cựu”. Các ngươi nói Ta không truyền thống, vậy Ta thuộc phái hiện đại sao? (Thưa, không phải.) Từ điểm nào, các ngươi nhìn ra Ta không thuộc phái hiện đại? (Thưa, người trên thế giới hiện nay tương đối thích trào lưu, nhưng Đức Chúa Trời dạy dỗ chúng con phải đoan trang đứng đắn, như vậy là trái ngược với trào lưu.) Không chỉ người hiện nay thích trào lưu, người thời xưa cũng thích trào lưu, người ngoại đạo đều thích trào lưu, không phải thích trào lưu thì thuộc phái hiện đại. Vậy câu hỏi này nên trả lời thế nào? Các ngươi suy ngẫm xem. Ngươi xem Ta có mặc trang phục cổ không? Có mặc trang phục truyền thống không? Ta mặc trang phục hiện đại. Chuyện này liên quan đến nhân tính bình thường của Đức Chúa Trời nhập thể. Đức Chúa Trời nhập thể sống ở thời đại nào, và những chuyện ăn ở đi lại của con người trong thời đại đó phát triển đến mức độ nào, thì nhân tính bình thường của Ngài rất tự nhiên sẽ lựa chọn phương thức ăn ở đi lại của con người thời đại đó, sẽ không đi lùi. Đây có phải là biểu hiện của nhân tính bình thường không? (Thưa, phải.) Nhân tính bình thường của Ngài có lý tính, cho nên đối với các phương diện ăn ở đi lại này thì Ngài rất tự nhiên biết lựa chọn cái gì là thích hợp, một mặt là vậy. Mặt khác, bất kể là truyền thống hay hiện đại, nó đều không phải là một hình thức, mà thay vào đó, nó đại diện cho một dạng trào lưu tư tưởng, đại diện cho một dạng quan điểm. Vậy truyền thống là điều tích cực hay hiện đại là điều tích cực? Trong mắt Ta thì cả hai đều không phải là điều tích cực. Cả hai đều không liên quan đến lẽ thật, đều do nhân loại bại hoại sản sinh dưới quyền thế của Sa-tan. Bất kể là tư tưởng và quan điểm truyền thống hay tư tưởng và quan điểm hiện đại, chỉ cần thứ gì không đến từ Đức Chúa Trời thì đều là điều tiêu cực, đều không phải là điều tích cực. Bất kể là những thứ ăn ở đi lại truyền thống hay những thứ ăn ở đi lại hiện đại, chúng đều là để thỏa mãn nhu cầu của nhân tính bình thường. Bất kể giáng sinh ở thời đại nào, Đức Chúa Trời nhập thể đều sống trong nhân tính bình thường, thực tế, nguyên tắc làm người và làm việc của Ngài là bất biến. Khi làm bất kỳ việc gì và tiếp cận với bất kỳ chuyện gì, Ngài đều dựa trên nguyên tắc của lời Đức Chúa Trời, dựa trên nguyên tắc sản sinh từ tâm tính sự sống bên trong Ngài, chứ Ngài không giữ gìn hay tuân theo truyền thống, cũng không chạy theo hiện đại hay trào lưu. Cho nên, yêu cầu của Đức Chúa Trời nhập thể đối với những người đi theo Ngài vừa không dựa trên truyền thống vừa không chịu ảnh hưởng của hiện đại. Những tư tưởng, quan điểm hay lẽ thật ở đủ mọi phương diện mà Ngài có và thông công đều bắt nguồn từ Đức Chúa Trời, bắt nguồn từ thực chất thần tính và sự sống của Đức Chúa Trời, chẳng có liên quan gì đến văn hóa truyền thống hay tri thức hiện đại.
Từ chuyện trang phục được lựa chọn cho chương trình múa của nhà Đức Chúa Trời, các ngươi có nhìn ra được nguyên tắc gì không? Tại sao lại chọn những kiểu dáng này, màu sắc này? Nếu các ngươi có thể hiểu được nguyên tắc trong chuyện này, thì các ngươi mới thực sự hiểu chút lẽ thật, mới có hiểu biết thuộc linh; nếu ngươi không hiểu nguyên tắc ngay cả trong chuyện đơn giản như thế này, thì ngươi là kẻ hồ đồ, tố chất quá kém, nghe giảng đạo bấy nhiêu năm mà cũng không hiểu lẽ thật. Trước tiên hãy nói xem trang phục mà chúng ta mặc khi làm chương trình múa là trang phục truyền thống hay hiện đại? (Thưa, là trang phục hiện đại.) Đều là trang phục hiện đại, hơn nữa còn là trang phục phổ thông thường ngày. Có người không hiểu, nói rằng: “Chương trình múa của chúng ta là chương trình văn nghệ, tại sao lại mặc trang phục thường ngày mà không mặc trang phục dành cho sân khấu? Thêm chút hạt cườm và vảy kim tuyến thì sẽ vô cùng lộng lẫy. Xem quần áo của các đoàn múa cấp quốc gia trên sân khấu kìa, lộng lẫy, cầu kỳ, cao sang, đèn chiếu vào là chói cả mắt. Chúng ta làm chương trình mà cũng mặc trang phục như vậy thì chẳng phải càng làm cho diễn viên thêm đẹp đẽ, càng có thể làm vinh hiển Đức Chúa Trời sao? Chẳng phải càng thể hiện được thế lực của nhà Đức Chúa Trời, càng có thể khiến người ngoại đạo hoặc người trong tôn giáo nhìn thấy thực lực của nhà Đức Chúa Trời sao?”. Quan điểm này có đúng không? (Thưa, không đúng.) Các ngươi hãy nói trước xem, tại sao chúng ta làm chương trình múa lại mặc trang phục thường ngày mà không mặc trang phục lộng lẫy? (Thưa, nếu anh chị em nhảy múa đều mặc trang phục đặc biệt lộng lẫy, thì khán giả sẽ chú trọng xem những bộ trang phục này và quan sát xem những người diễn trông như thế nào. Nhưng nếu họ mặc trang phục phổ thông, nhìn vào đều thấy là những người đoan trang đứng đắn, thì người ta sẽ không bị những thứ bên ngoài này thu hút, mà sẽ tập trung tâm trí vào lời Đức Chúa Trời.) Ngươi nói đúng một phương diện, không mặc trang phục lộng lẫy là để tránh chuyện người ta chú trọng hình thức, chú trọng vẻ bề ngoài. Còn một phương diện quan trọng nhất: bất kể là nhảy múa hay ca hát, chúng ta làm chương trình với mục đích gì? (Thưa, để làm chứng cho Đức Chúa Trời.) Đây là mục tiêu duy nhất. Bất kể là nhảy múa hay ca hát đều là để làm chứng cho Đức Chúa Trời, chứ không phải để làm cho bất kỳ ai nổi bật, cũng không phải để làm vui lòng ai, mà chỉ là để làm chứng cho Đức Chúa Trời thôi. Do đó, chúng ta mặc quần áo đơn giản, vừa vặn, đoan trang đứng đắn, trang nhã một chút, đạt được mục đích làm chứng cho Đức Chúa Trời là được rồi. Xét về tính chất thì chương trình chúng ta làm không phải là chương trình giải trí. Chương trình giải trí là gì? Chương trình giải trí là những thứ người ta xem để tiêu khiển lúc trà dư tửu hậu, để làm vui lòng người ta. Khi nghỉ ngơi, người ta xem một chương trình nào đó để được vui vẻ, thả lỏng tâm trạng, thoải mái, quên đi phiền não, và giảm bớt áp lực, sau đó đến giờ làm việc thì làm việc, trong lòng cũng không vướng bận và không có cảm nhận gì về chúng, chương trình giải trí là vậy. Còn chương trình chúng ta làm thì sao? Về hình thức là giải trí, nhưng về thực chất thì không phải để làm vui lòng đại chúng, cũng không phải để phô trương kỹ năng nghệ thuật. Mục tiêu của chúng ta khi làm chương trình chính là để làm chứng cho Đức Chúa Trời. Chẳng hạn như làm chương trình thánh ca, thánh ca lời Đức Chúa Trời là để làm chứng, loan truyền lẽ thật của lời Đức Chúa Trời, làm cho mọi người đến trước mặt Đức Chúa Trời. Thánh ca về trải nghiệm là để làm chứng cho kết quả đạt được bởi công tác của Đức Chúa Trời và thành quả mà công tác của Đức Chúa Trời thu được nơi con người. Tóm lại, bất kể chúng ta làm dạng chương trình nào, đều không phải là chương trình giải trí thuần túy, không phải để thu hút ánh nhìn của người ta hay để người ta giết thời gian và tiêu khiển, càng không phải để phô trương tài nghệ. Mục tiêu chúng ta khi làm chương trình chỉ có một, chính là để loan truyền lời Đức Chúa Trời và làm chứng cho công tác của Đức Chúa Trời ra bên ngoài, để thêm nhiều người biết rằng Đức Chúa Trời đã nhập thể và làm một giai đoạn công tác mới, để thêm nhiều người biết rằng công tác Đức Chúa Trời làm đã thu phục được một nhóm người, rằng Đức Chúa Trời đang làm công tác và đang phán lời. Đây chính là mục đích duy nhất của chúng ta khi làm chương trình. Mục đích của chúng ta khi làm chương trình đã là vậy, nếu người ta ăn mặc lộng lẫy, trang điểm đậm, lại thêm đủ kiểu hóa trang, thì chẳng phải là xung đột với mục tiêu làm chứng cho Đức Chúa Trời sao? (Thưa, phải.) Như vậy là có xung đột rồi. Cho nên chúng ta không cầu kỳ về chuyện ăn mặc, mà chỉ kỹ lưỡng về điều gì? Chính là những gì mà chương trình của chúng ta thể hiện - diện mạo tinh thần của anh chị em, động tác múa cùng hình thức chương trình - liệu có đủ thu hút người ta không, có đủ khiến người ta thích, khiến người ta hứng thú không, để từ đó có được thiện cảm của người ta, làm cho người ta sẵn lòng đến tìm hiểu công tác của Đức Chúa Trời, sẵn lòng tiếp nhận lời Đức Chúa Trời, sẵn lòng cùng anh chị em hát thánh ca thờ phượng Đức Chúa Trời – đây chính là mục đích chúng ta muốn đạt được. Để đạt được mục đích này, chuyện ăn mặc và trang điểm mọi mặt chỉ cần đạt đến mức khiến người ta nhìn vào thì thấy đoan trang đứng đắn, sạch sẽ gọn gàng, diện mạo tinh thần đặc biệt tốt, vậy là được rồi. Còn những trang phục lộng lẫy, trang điểm đậm và đủ kiểu hóa trang đó đều có tác dụng tiêu cực. Tác dụng tiêu cực gì? Nếu trang điểm cho các chị em nhảy múa giống như tiên nữ, trang điểm cho các anh em đều giống như soái ca, công tử nhà giàu, thì người ta nhìn vào sẽ cảm thấy: “Các người làm vậy là đang phô trương. Đây chẳng phải là có ý đồ xấu sao? Đây chẳng phải là quyến rũ người ta sao?”. Để người ta có những suy nghĩ này thì không tốt rồi. Anh chị em ăn mặc và trang điểm một cách đoan trang đứng đắn, trang nhã đúng mực, tổng thể nhìn vào tuy không thể nói là thanh nhã, nhưng đặc biệt sạch sẽ gọn gàng, trang nhã đúng mực. Người ta nhìn vào thì thấy những người này có diện mạo tinh thần tốt, đích thị là người tin Đức Chúa Trời, và chương trình này làm ra là để làm chứng cho Đức Chúa Trời, chứ không phải thứ oa môn tà đạo. Ngươi thấy đấy, trong chương trình của người ngoại đạo, nếu không phải liếc mắt đưa tình, trao nụ hôn gió, thì cũng là khoe vóc dáng. Trong lúc nhảy múa, ngoài việc bán nghệ ra thì họ còn phô cái vẻ cuốn hút của mình, không có một chút định hướng tích cực nào. Còn những gì chương trình của chúng ta truyền tải hoàn toàn là định hướng tích cực. Người xem chương trình cho dù muốn nảy sinh chút ý nghĩ không đúng đắn cũng không có cơ hội, không có kẽ hở nào để tận dụng. Họ muốn ngắm nghía vóc dáng, dung nhan của những người biểu diễn thì cũng chẳng nhìn rõ, muốn xem ai phô được vẻ cuốn hút của mình thì cũng chẳng nhìn thấy. Họ chỉ nhìn thấy duy nhất một biểu cảm — nụ cười, hoàn toàn là một dáng vẻ đoan trang đứng đắn. Điều chính yếu nhất là chương trình của chúng ta không phải để phô trương hoặc để làm vui lòng ai, mà là để làm chứng cho Đức Chúa Trời, đây là nguyên tắc chính yếu. Ngoài ra, những kiểu dáng trang phục mà chúng ta lựa chọn cho nhóm múa, áo thun, áo hoodie, quần thể thao, có thể khiến người nhảy múa cảm thấy tương đối thoải mái, nhưng một số người trẻ tuổi thì không mấy yêu thích những thứ này. Họ cảm thấy những kiểu dáng này quá thông thường, chỉ là trang phục mặc thường ngày hoặc mặc ở nhà, nhưng đây chính là trang phục đoan trang đứng đắn. Áo thun, áo hoodie, quần thể thao là những kiểu dáng trang phục thoải mái phổ biến nhất hiện nay. Tại sao chúng ta chọn kiểu dáng này? Ta quan sát được rằng từ khi bắt đầu có kiểu dáng trang phục thoải mái này cho đến nay có lẽ ít nhất cũng được mấy chục năm rồi. Hiện nay chúng ta chọn kiểu dáng trang phục này khi làm chương trình là đã tính đến chuyện cho dù trải qua mấy chục năm nữa thì nó cũng không lỗi thời, không lạc hậu. Hơn nữa kiểu dáng này phù hợp với mọi người ở các độ tuổi và tầng lớp xã hội khác nhau, bất kể là dân thường hay người thuộc tầng lớp thượng lưu, hằng ngày họ đều mặc như vậy khi ở nhà. Cộng thêm khi nhảy múa mà mặc trang phục như vậy thì vừa rộng rãi, vừa thuận tiện. Cho nên cuối cùng chúng ta đã chốt trang phục trên sân khấu theo kiểu dáng này. Bất kể người mặc trên sân khấu có thích hay không, tóm lại kiểu dáng này thích hợp để dùng trên sân khấu, tức là người xem và người mặc đều không bới ra được lỗi gì. Cũng có thể người mặc nói rằng: “Những quần áo Ngài chọn cho chúng tôi quá quê mùa, trong cuộc sống hằng ngày tôi tuyệt đối không mặc quần áo như thế này”. Thì Ta nói, Ta không can thiệp việc ngươi mặc gì trong cuộc sống hằng ngày. Cái ngươi mặc và cái ngươi thích đại diện cho con người ngươi, đại diện cho nhân tính và thực chất của ngươi. Ngươi không thích trang phục đơn giản, trang nhã, đoan trang đứng đắn, mà thích trang phục kỳ dị, vậy thì con người ngươi khá lạc loài. Nếu ngươi thích hở ngực lộ lưng, xõa tóc qua vai, đeo kính râm lớn, luôn nhập vai ngôi sao, vậy thì Ta nói rằng ngươi không phải là người của nhà Đức Chúa Trời. Ngươi không thích đoan trang đứng đắn, thì ít nhất ngươi không hợp với con người Ta. Đoan trang đứng đắn, trang nhã đúng mực, đây là nguyên tắc cho việc lựa chọn kiểu dáng trang phục. Vậy về màu sắc trang phục thì nên lựa chọn thế nào? Một số người nói: “Màu trắng đại diện cho sự thánh khiết, màu xanh lá đại diện cho sự sống, màu đỏ đại diện cho sự vui mừng, màu vàng đại diện cho tình bạn, cho nên cứ chọn mấy màu này.” Ta nói, đây thuần túy là nói xằng nói bậy, màu sắc không đại diện cho cái gì cả. Vậy nguyên tắc lựa chọn màu sắc trang phục là gì? Rất đơn giản, chỉ một nguyên tắc: lên hình thì thấy sạch sẽ. Nhất là có một số màu có độ rực, tương đối tươi tắn, có thể người ta hiếm khi mặc trong cuộc sống hằng ngày, nhưng chúng ta lựa chọn những màu sắc này vì hiệu quả sân khấu và hiệu quả thị giác. Một mặt, những màu này tương đối rực rỡ và tươi tắn, nên có hiệu quả sân khấu tốt. Mặt khác đa số những màu này cũng không quá kỳ quái, không có màu nào u tối, không có màu nào khiến người ta nhìn vào là thấy ác cảm, làm như vậy thì video tạo ra sẽ có hiệu quả tốt.
Những điều Ta vừa thông công chính là mấy nguyên tắc để lựa chọn trang phục cho các chương trình múa. Các ngươi đã nhìn thấu được phương diện nào rồi? Các ngươi nói xem, những nguyên tắc mà Ta cân nhắc này có thích hợp không? (Thưa, thích hợp.) Có phải chúng chủ yếu xoay quanh nguyên tắc làm chứng cho Đức Chúa Trời, không làm ô nhục Đức Chúa Trời và đạt được kết quả tốt nhất không? (Thưa, phải.) Có chỗ nào lệch lạc hay cực đoan không? (Thưa, không.) Có chỗ nào thủ cựu không? (Thưa, không.) Không có chỗ nào lệch lạc hay thủ cựu. Vậy thì mấy nguyên tắc lựa chọn trang phục này của chúng ta là theo truyền thống hay theo hiện đại? (Thưa, không theo truyền thống cũng không theo hiện đại. Chỉ cần chương trình chúng ta làm đạt được kết quả làm chứng cho Đức Chúa Trời, vậy là tốt nhất.) Cuối cùng các ngươi cũng hiểu rồi. Mục đích của các chương trình này là để làm chứng cho Đức Chúa Trời, chứ không phải vì điều gì khác. Trong chuyện làm chứng cho Đức Chúa Trời, còn phải cân nhắc đến chuyện không được làm ô nhục Đức Chúa Trời, không được làm mất thể diện nhà Đức Chúa Trời. Đương nhiên, cũng phải cân nhắc đến chất liệu và kiểu dáng của trang phục sao cho người mặc cảm thấy thoải mái. Nghĩa là bất kỳ người nào đoan trang đứng đắn khi nhìn thấy ngươi mặc bộ quần áo đó, đều cảm thấy chấp nhận được, thấy ngươi trông giống người tin Đức Chúa Trời và có thể đại diện cho dân của Đức Chúa Trời, chứ không phải người ngoại đạo, không phải diễn viên hay ca sĩ ngôi sao, chỉ cần nhìn qua thì biết ngay đó là người đoan trang đứng đắn. Vậy từ chuyện này, các ngươi thấy quan điểm của Ta đối với các sự vật, và những nguyên tắc Ta tuân theo trong nhân tính bình thường của Ta có giống với các ngươi không? (Thưa, không giống.) Chắc chắn là không giống. Vậy các ngươi nói xem, nguyên tắc Ta tuân theo có cao siêu, vĩ đại và đẳng cấp không? Có siêu phàm không? Hoàn toàn không cao siêu, vĩ đại và đẳng cấp gì cả, mà vô cùng bình thường. Những nguyên tắc Ta áp dụng và hiệu quả Ta hướng tới khi làm việc đều đặc biệt thực tế, chưa bao giờ phô trương bản thân. Nếu làm theo quan điểm của các ngươi khi lựa chọn trang phục cho chương trình, thì hoặc là truyền thống và thủ cựu, hoặc là chạy theo trào lưu của thế gian. Có người nói: “Bây giờ trên thế gian đang thịnh hành kiểu trang điểm mắt khói, gắn lông mi giả, đeo khuyên mũi, khuyên tai thật to. Chúng ta cũng phải trang điểm cho anh chị em thành trai xinh gái đẹp. Không những quần áo phải lộng lẫy mà cách trang điểm cũng phải kiều diễm, không thua kém diễn viên, ca sĩ ngôi sao của thế gian, hơn nữa còn phải cao cấp và quý phái hơn họ. Người tin Đức Chúa Trời phải tôn quý hơn họ, cứ trang điểm theo hướng đó đi!”. Thế thì tại sao cuối cùng những người đứng trên sân khấu lại không có món đồ lộng lẫy nào trên mình? Bởi vì có Ta ở đây kiểm định. Những thứ bất kể thuộc phái hiện đại hay phái truyền thống đều phải để sang một bên, không có cơ hội “trổ tài” đâu, chúng đều bị Ta chặn đứng rồi. Nếu để các ngươi kiểm định thì các ngươi có cho những người đó cơ hội “trổ tài” không? (Thưa, không.) Tại sao không? (Thưa, nếu cho họ cơ hội thì họ sẽ đi chệch đường, không còn tuân theo những nguyên tắc mà nhà Đức Chúa Trời yêu cầu nữa.) Nếu cho họ cơ hội thì họ sẽ trang điểm cho những người trên sân khấu thành ma quỷ, sẽ đòi làm những chương trình giải trí đang thịnh hành ngoài xã hội, biến những chương trình làm chứng cho Đức Chúa Trời thành những chương trình giải trí nhằm mua vui cho đại chúng, biến con người thành yêu tinh, thành quỷ. Chương trình như vậy còn xem được sao? Khi ấy, chương trình đó sẽ biến chất, không còn là làm chứng cho Đức Chúa Trời nữa, mà là làm ô nhục Đức Chúa Trời, nó đáng bị rủa sả, đáng bị bãi bỏ. Như vậy không còn là làm bổn phận, mà là hành ác rồi. Các ngươi hiểu chưa? (Thưa, đã hiểu.) Ngươi thấy đấy, một chuyện nhỏ như thế mà các ngươi cũng không hiểu. Bây giờ Ta nói thẳng hơn và thông tục hơn một chút thì có người mới chợt bừng tỉnh: “Thì ra là vậy. Giờ mới biết vì sao nhà Đức Chúa Trời lại chọn loại trang phục như thế cho các chương trình múa”. Bất kể ở thời đại nào, nguyên tắc con người nên tuân theo là gì? Chính là lấy lời Đức Chúa Trời làm nguyên tắc trong mọi chuyện. Làm bất kỳ công tác nào hay làm bất kỳ chuyện gì, thì thứ nhất là đem lại sự gây dựng người khác, thứ hai là làm chứng cho công tác của Đức Chúa Trời, chỉ có hai nguyên tắc đó. Cho nên bất kể trong chuyện gì, điều người ta nên tuân giữ chính là hai nguyên tắc này. Vậy sự bình thường và thực tế có trong nhân tính bình thường của Đức Chúa Trời nhập thể cũng không nằm ngoài việc tuân theo những nguyên tắc này. Nguyên tắc là bất biến, không tuân theo truyền thống cũng không chạy theo hiện đại. Trong nhân tính bình thường, nguyên tắc Ta tuân theo chính là làm người và làm việc trong phạm vi của lương tâm và lý trí. Vậy trong công tác của nhà Đức Chúa Trời, Ta tuân theo nguyên tắc nào? Chính là làm chuyện gì cũng đều có ích cho người ta, làm những việc đem lại ích lợi và sự gây dựng cho người ta. Ngoài ra còn là làm công tác làm chứng cho Đức Chúa Trời, tuân theo nguyên tắc làm chứng cho Đức Chúa Trời và loan truyền lời Đức Chúa Trời. Các ngươi nói xem, có phải là vậy không? (Thưa, phải.) Thông công như thế, có phải các ngươi đã hiểu Ta thêm phần nào rồi không? (Thưa, phải.) Nếu Ta không nói tỉ mỉ những chuyện này thì các ngươi sẽ không rõ. Chuyện đơn giản như vậy mà các ngươi cũng dò không thấu. Thực ra, chuyện này chẳng có gì cao sâu cả, rất thực tế, rất bình thường thôi. Bình thường đến mức nào? Đến mức đặc biệt phù hợp với lý tính của nhân tính bình thường. Nghĩa là nếu có lý tính của nhân tính bình thường thì ngươi sẽ hiểu được, còn nếu không có lý tính của nhân tính bình thường thì ngươi sẽ rất khó hiểu được. Ta phải nói rõ ràng, thấu đáo, thẳng thắn, và nói cho rõ, thì ngươi mới biết được chuyện là như vậy. Chuyện đơn giản đến thế, căn bản chưa đến mức của nguyên tắc lẽ thật, vậy mà các ngươi vẫn không nói rõ được. Thế này là sao? Chuyện này có cao thâm khó dò không? (Thưa, không.) Vậy tại sao các ngươi lại không nói rõ được? Xét rộng, thì là vì các ngươi không hiểu lẽ thật. Xét chi tiết, thì là vì nhân tính bình thường và lý tính của các ngươi còn thiếu thứ gì đó và có khiếm khuyết. Hễ nói đến đoan trang đứng đắn thì các ngươi lại bám giữ truyền thống và thủ cựu. Hễ nói đến nhân tính bình thường thì các ngươi lại cho rằng đó là làm người thật thà, như kẻ ngốc. Chẳng phải như thế là các ngươi có tố chất quá kém và không có năng lực lĩnh hội sao? (Thưa, phải.) Chính là vấn đề này. Được rồi, chuyện này nói đến đây thôi.
Cách mưu cầu lẽ thật (27)
Về chủ đề “buông bỏ” trong “Mưu cầu lẽ thật”, chúng ta đã thông công tới nội dung liên quan đến quan niệm và tưởng tượng trong phần “buông bỏ những rào cản giữa bản thân với Đức Chúa Trời và sự thù địch đối với Ngài”. Mấy lần trước, chúng ta đã thông công về “buông bỏ quan niệm và tưởng tượng về Đức Chúa Trời nhập thể”, hôm nay chúng ta tiếp tục thông công về nội dung này. Về quan niệm và tưởng tượng đối với Đức Chúa Trời nhập thể, chúng ta đã thông công một số chủ đề liên quan đến nhân tính bình thường của Đức Chúa Trời nhập thể, phải không? Vậy lần trước chúng ta đã thông công những gì? Chúng ta đã thông công về một số biểu hiện cụ thể liên quan đến những gì nhân tính bình thường của Đức Chúa Trời nhập thể sống thể hiện ra và bộc lộ, cùng một số nguyên tắc làm người và làm việc trong nhân tính bình thường của Đức Chúa Trời nhập thể, sau đó chúng ta thông công về những chuyện mà Đức Chúa Trời nhập thể không làm trong phương diện nhân tính. Việc thông công về những phương diện này giúp người ta hiểu rõ hơn về thực chất tâm tính của xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể, nguyên tắc làm người và làm việc cũng như một số biểu hiện và sự bộc lộ cụ thể của Ngài. Vậy khi thông công về những biểu hiện này của Đức Chúa Trời nhập thể, cho dù là một số sự thật và ví dụ hay là nguyên tắc làm việc cụ thể của Ngài, thì chúng đều liên quan đến những chuyện nhỏ trong mọi khía cạnh của cuộc sống. Nhìn bề ngoài thì Đức Chúa Trời nhập thể chẳng có những kỳ tích vĩ đại hay những hành động cao cả khiến người ta sùng bái như trong quan niệm và tưởng tượng của con người, mọi biểu hiện của Đức Chúa Trời nhập thể đều rất bình thường, rất thông thường. Chính vì Đức Chúa Trời nhập thể sống giữa nhân loại bình thường và bại hoại này, cho nên những biểu hiện bình thường và thực tế này của Ngài một mặt là biểu hiện tất nhiên phải có trong nhân tính của xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể, mặt khác chúng cũng là nhu cầu bình thường của Đức Chúa Trời nhập thể khi sống giữa nhân loại. Đương nhiên, những biểu hiện bình thường và thực tế này cũng cho người ta một số thông tin hoặc con đường liên quan đến việc nhận biết Đức Chúa Trời. Chúng giúp người ta thông qua những gì Đức Chúa Trời nhập thể sống thể hiện ra và nguyên tắc thực tế của Ngài trong chuyện làm người giữa nhân gian, mà nhận biết sự thực tế và bình thường của Đức Chúa Trời, cũng như nhận biết Đức Chúa Trời ở trên trời, có thể hiểu chính xác hơn về Đức Chúa Trời ở trên trời, hiểu chính xác về thực chất của Đức Chúa Trời khi Ngài là một con người bình thường và thông thường ở dưới đất.
Có người nói: “Những chuyện và ví dụ này mà Ngài giảng liên quan đến nhân tính bình thường của Đức Chúa Trời nhập thể đều rất thông thường, đều là những chuyện vô cùng nhỏ nhặt và không đáng để mắt đến trong cuộc sống thường nhật. Ngài có thể giảng về một vài sự thật khiến người ta cảm thấy thần bí khôn dò, cảm thấy đặc biệt vĩ đại được không?”. Ta nói rằng, đến nay đúng là vẫn chưa có những chuyện như vậy. Bởi vì Đức Chúa Trời nhập thể sống trong thực tế của nhân tính bình thường như vậy, lại ở trong một hoàn cảnh sống đặc thù nhất định, ngoài làm công tác của chính Đức Chúa Trời ra, phần thời gian còn lại, Ngài ở trong phạm vi cuộc sống của nhân tính bình thường mà tiếp xúc với các anh chị em hoặc xử lý một số vấn đề vụn vặt trong hội thánh. Cho nên ngoài những ví dụ liên quan đến nguyên tắc, tín điều làm người và làm việc mà chúng ta đã thông công ra, thì không có những sáng kiến vĩ đại hay việc làm siêu phàm nào như các ngươi tưởng tượng. Chuyện này có lẽ con người không ngờ tới, cũng có lẽ không hợp với quan niệm và tưởng tượng của con người, nhưng sự thật chính là như vậy. Khi thông công về chủ đề Đức Chúa Trời nhập thể này thì chủ yếu chúng ta nói đến một số biểu hiện, cách sống thể hiện ra cùng những nguyên tắc làm người và làm việc cụ thể của Đức Chúa Trời nhập thể trong nhân tính bình thường. Những điều này khác với những giai thoại của thế gian kể về các vĩ nhân và danh nhân. Khi người trong thế gian kể về một vĩ nhân, danh nhân hoặc cao nhân, họ luôn muốn kể rằng người này khác với người thường ra sao, siêu phàm và vĩ đại thế nào, kể về sức hút nhân cách của người đó, chủ yếu là kể rằng người đó cao siêu, vĩ đại và đẳng cấp thế nào. Còn chủ đề liên quan đến Đức Chúa Trời nhập thể mà chúng ta nói thì lại hoàn toàn trái ngược với nội dung mà thế gian kể về những cao nhân và vĩ nhân này. Chúng ta chủ yếu nói về sự bình thường, thực tế, thông thường và không siêu phàm của Đức Chúa Trời nhập thể. Chúng ta toàn giảng những ví dụ cụ thể, còn là những ví dụ nhỏ nhặt trong cuộc sống, nói về chuyện nguyên tắc, quan điểm làm người và làm việc của Ngài là gì. Những tư tưởng, quan điểm, nguyên tắc, cách thức làm người và làm việc này đều dựa trên lương tâm và lý trí của nhân tính bình thường. Chúng ta chủ yếu nói về cách mà Ngài làm người và làm việc. Còn trên thế gian, rất ít người nói về cách làm người, cho dù có người từng nói về chủ đề này, thì họ cũng không nói ra được bao nhiêu ví dụ cụ thể, càng không nói ra được nguyên tắc làm người nào. Họ không kể rằng các danh nhân, vĩ nhân có nguyên tắc tích cực, cách thức tích cực, hay tư tưởng và quan điểm đúng đắn nào trong chuyện làm người và làm việc. Họ chỉ kể về công lao, tài năng, sự học và tinh thần của người đó, còn kể về chuyện nhờ công lao, tài năng, sự học và tinh thần ấy mà người đó chiếm giữ vị trí chủ đạo như thế nào giữa nhân loại. Những điều họ kể lại hoàn toàn trái ngược với nhân tính bình thường mà Đức Chúa Trời nhập thể sở hữu và có sẵn mà chúng ta thông công hôm nay. Những gì mà xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể khiến cho các ngươi nhận biết và hiểu, chính là những nguyên tắc, tín điều làm người, làm việc được sống thể hiện ra và có trong nhân tính bình thường, thực tế của Đức Chúa Trời nhập thể. Những nguyên tắc, tín điều làm người và làm việc này vừa vặn phù hợp với những yêu cầu của Đức Chúa Trời đối với nhân loại mà Ngài muốn cứu rỗi. Chỉ có xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể mới có dạng nhân tính như vậy, mới có được các tư tưởng và quan điểm khác nhau—cùng các nguyên tắc, tín điều làm người và làm việc của Ngài—ở trong nhân tính bình thường và thực tế. Do đó Ngài mới có thể ở trong nhân tính như vậy mà đại diện cho Đức Chúa Trời để làm công tác của chính Đức Chúa Trời, hoàn thành công tác và chức vụ mà Đức Chúa Trời nhập thể nên làm tốt trong thời đại này, mới có thể công bố trọn vẹn cho nhân loại về tâm tính đại diện mà Đức Chúa Trời muốn bày tỏ trong thời đại này, và dĩ nhiên Ngài cũng hoàn toàn đảm nhận được công tác bày tỏ lẽ thật mà Đức Chúa Trời muốn làm trong giai đoạn công tác này. Nếu thực chất nhân tính mà xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể có, sống thể hiện và bộc lộ ra lại không bình thường, thực tế và thông thường như chúng ta đã thông công, hoặc nếu Ngài không có những nguyên tắc và tín điều làm người mà chúng ta đã thông công, thay vào đó lại có thực chất nhân tính của những danh nhân, vĩ nhân mà người ngoại đạo kể về hoặc tôn sùng, thì kết quả sẽ thế nào? (Thưa, thì Ngài sẽ không thể dẫn dắt chúng con đi con đường kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác.) Vậy thì tình cảnh sẽ khác hẳn. Giả dụ xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể có thực chất nhân tính của các vĩ nhân hoặc danh nhân ngoại đạo, cao lớn, siêu phàm, khác với người thường và thần bí khôn dò. Một người như vậy thì làm người và làm việc không có ranh giới, miệng đầy lời dối trá, làm người và làm việc không có khuôn phép, không thật thà, cũng không an phận và không đúng bổn phận, sự mưu cầu, tư tưởng và quan điểm của người đó giống hệt của người ngoại đạo, nghĩa là mưu cầu những điều cao siêu, vĩ đại và đẳng cấp, chú trọng ân tứ, tri thức và siêu năng lực, vậy thì đối với các ngươi, một người như vậy có thể dẫn các ngươi đi lên con đường nào? (Thưa, người đó không thể dẫn người ta đi lên con đường được cứu rỗi, ngược lại người ta đi theo người đó thì sẽ chỉ ngày càng bại hoại, ngày càng tà ác.) Một người như vậy thì bản thân họ đã không có nguyên tắc tích cực trong việc làm người, cách thức và nguyên tắc làm người của họ đều không tích cực, mà đều thuộc về Sa-tan, vậy thì nguyên tắc và tín điều làm người của người thuộc về Sa-tan này đại diện rất rõ cho thực chất nhân tính của họ. Họ có thực chất nhân tính như vậy thì sự mưu cầu của họ và con đường họ đi sẽ là gì? Sẽ hoàn toàn giống hệt của Sa-tan. Sự mưu cầu của họ và con đường họ đi đều đến từ Sa-tan, đều tương hợp với Sa-tan. Vậy chẳng phải những ai đi theo họ cũng sẽ đi theo sự dẫn dắt của họ, có cùng sự mưu cầu và đi cùng con đường giống họ sao? (Thưa, phải.) Những người này sẽ đi theo sự dẫn dắt của họ, bắt chước nguyên tắc làm người của họ, cũng sẽ giống như họ mà mưu cầu tri thức, địa vị, mưu cầu sự siêu nhiên, mưu cầu những điều cao siêu, vĩ đại và đẳng cấp, mưu cầu mọi điều siêu phàm, và mọi thứ mà trong mắt con người là thần bí khôn dò. Đi theo người như vậy thì không một ai có thể được cứu rỗi, mà ngược lại sẽ ngày càng sa đọa. Một tập thể như vậy thì không thể được gọi là hội thánh, chủ yếu là vì họ đã rời bỏ công tác của Đức Chúa Trời, cũng không có công tác của Đức Thánh Linh. Thủ lĩnh mà họ đi theo cũng không phải do Đức Chúa Trời thiết lập, càng không phải do Đức Chúa Trời sai đến. Ngay cả khi bản thân họ tự xưng là hội thánh thì cũng vô ích thôi, Đức Chúa Trời không ngó ngàng đến họ. Họ có xưng mình là hội thánh cỡ nào đi nữa, thì Đức Chúa Trời cũng không thừa nhận họ, Đức Thánh Linh cũng sẽ không làm công tác trên họ. Thủ lĩnh đó thích gì thì dạy người ta làm nấy, bên trong họ có cái gì thì cung ứng cho người ta cái nấy, và đó cũng là thứ người ta nhận được từ họ. Họ không có lẽ thật, không cung ứng điều tích cực nào hay hướng dẫn đúng phương hướng nào cho người ta, vậy thì người ta không thể nào đạt được lẽ thật từ họ. Cùng lắm người ta chỉ có thể học được từ họ chút tri thức, chút kỹ năng nghiệp vụ của thế giới ngoại đạo hoặc năng lực trong một lĩnh vực nào đó. Tóm lại, một người không có sự bình thường và thực tế, hoặc không có thực chất thần tính làm sự sống như vậy, thì không thể được gọi là Đức Chúa Trời nhập thể, không thể dẫn con người đến trước mặt Đức Chúa Trời, cũng không thể dẫn con người đi lên con đường được cứu rỗi. Căn cứ vào những sự thật này, thì giữa nhân gian, ngoài xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể ra, có người nào có thể đại diện cho Đức Chúa Trời để làm công tác của Đức Chúa Trời không? (Thưa, không có.) Có người nào có thể đại diện cho Đức Chúa Trời để cứu rỗi nhân loại khỏi tâm tính bại hoại không? (Thưa, không có.) Bất kỳ một thành viên nào trong nhân loại thông thường cũng đều có sự sống và thực chất nhân tính gần như giống nhau, đều là sự sống và thực chất nhân tính đã bị Sa-tan làm bại hoại, nhân loại đều lấy tâm tính bại hoại làm sự sống. Do đó, bất kể xét từ nhân tính của con người hay từ thực chất sự sống của con người, thì toàn nhân loại không một ai có thể đảm nhận công tác này của Đức Chúa Trời nhập thể, cũng không con người bại hoại nào có thể đại diện cho Đức Chúa Trời để cứu rỗi nhân loại bại hoại khỏi sự bại hoại. Đương nhiên, những sự thật này cũng nói cho người ta biết rằng: Không một con người bại hoại nào có thể nói cho nhân loại biết điều tích cực là gì và điều tiêu cực là gì, không một con người bại hoại nào có thể nói cho người ta biết lẽ thật là gì hay tâm ý của Đức Chúa Trời rốt cuộc là gì. Điều mà nhân loại bại hoại cung ứng cho con người chỉ có tri thức, các loại kỹ năng, bản lĩnh hoặc ân tứ mà nhân loại bại hoại mưu cầu, đủ loại thủ đoạn làm người và làm việc, triết lý xử thế, cùng các loại tư tưởng và quan điểm đến từ Sa-tan. Con người, bất kể thuộc chủng tộc nào, đều có một điểm chung, điểm chung này là gì? Con người ai cũng xem những thứ tương đối tích cực hoặc tương đối thiện ý, bảo thủ, truyền thống ở nhân gian là điều tích cực, và cố dùng chúng để thay thế lẽ thật, thay thế tâm ý của Đức Chúa Trời. Người ta cho rằng giữ vững những thứ này là đạt được con đường thật và có thể được cứu rỗi rồi. Trên thực tế, những thứ này chẳng liên quan chút nào đến các yêu cầu của Đức Chúa Trời đối với nhân loại. Ngươi thấy đấy, giữa nhân gian, bất kể là người khôn khéo đến đâu, bất kể có ân tứ cao thế nào, tài năng và sự học cao đến đâu, hoặc có nhân tính bề ngoài lương thiện và nhân nghĩa ra sao, thì cũng không một ai có thể hiểu được lẽ thật, không một ai biết phân định đâu là điều tích cực và đâu là điều tiêu cực. Trước khi Đức Chúa Trời làm công tác, trước khi Đức Chúa Trời bày tỏ lời, gần như toàn bộ nhân loại đều xem văn hóa truyền thống là điều tích cực, thậm chí có người còn tôn thờ văn hóa truyền thống như lẽ thật. Cho nên bất kể xét từ góc độ nào, nếu không phải Đức Chúa Trời nhập thể ở trong nhân tính bình thường mà bày tỏ những lẽ thật này và làm những công tác này, thay vào đó lại để cho bất kỳ một thành viên nào đó trong nhân loại làm công tác này, thì họ sẽ chỉ dẫn dắt con người đi lên con đường lệch khỏi lời Đức Chúa Trời và lệch khỏi tâm ý của Đức Chúa Trời.
Chúng ta hãy xem một ví dụ đơn giản. Chẳng hạn như, bảo người ta lựa chọn trang phục cho chương trình múa, người ta sẽ chọn thế nào? Về mặt lý thuyết, mọi người đều biết rằng người tin Đức Chúa Trời mà làm chương trình múa, nhất là làm video đăng công khai trên mạng, thì trang phục mặc trên người và diện mạo tinh thần của người ta đều đại diện cho dân của Đức Chúa Trời. Do đó, khi chọn trang phục thì nên chọn trang phục đoan trang đứng đắn, không nên mặc trang phục kỳ dị. Nói đến đoan trang đứng đắn thì phải xem xét kỹ. Trong quan niệm của con người, trang phục thế nào được xem là đoan trang đứng đắn? Chính là trang phục mà các dân tộc thường mặc nhất, trang phục tương đối truyền thống, tương đối bảo thủ mà mọi người nhìn vào đều thấy thích hợp, không phải trang phục kỳ dị, không phải chạy theo trào lưu. Đây chính là trang phục đoan trang đứng đắn trong quan niệm của mọi người. Quan điểm của đa số anh chị em trong hội thánh đối với việc lựa chọn trang phục khi làm chương trình là gì? Ngươi thấy đấy, lúc quay phim, quan điểm của người phụ trách trang phục thực ra cũng đại diện cho quan điểm của đa số mọi người. Kiểu dáng quần áo họ chọn đều là những trang phục mà đa số mọi người thường mặc vào thập niên 80, 90. Màu sắc đa số là màu xanh da trời, màu kaki hoặc màu xám, chỉ là có cái đậm hơn một chút, có cái nhạt hơn một chút. Xét tổng thể thì chỉ có hai, ba loại màu sắc đơn giản như vậy. Tại sao họ không chọn một vài màu sắc tươi sáng? Trong quan niệm của mọi người, người tin Đức Chúa Trời đều là những người tốt và đoan trang đứng đắn, mặc quần áo thì nên chọn mấy loại màu sắc bình thường nhất và phổ biến nhất này. Ngươi thấy đấy, một chuyện rất đơn giản là lựa chọn kiểu dáng và màu sắc trang phục thôi đã tỏ lộ hoàn toàn quan niệm, tư tưởng và quan điểm sai lầm trong lòng người ta về chuyện tin Đức Chúa Trời. Tức là, bên trong con người có một quan niệm rất nghiêm trọng, nhiều người cho rằng tin Đức Chúa Trời thì phải thủ cựu, phải khôi phục truyền thống. Trong quan niệm của họ cho rằng những thứ truyền thống, cổ hủ, lạc hậu, hủ lậu này mới là điều tích cực, mới là điều làm Đức Chúa Trời đẹp lòng. Có phải đa số mọi người đều cho là vậy không? (Thưa, phải.) Đây là những thứ trong đầu óc con người. Con người ai cũng định nghĩa những thứ truyền thống, lạc hậu, cũ kỹ và cổ hủ đó là điều tích cực. Cho nên, khi làm chương trình, đối với chuyện đơn giản nhất và cơ bản nhất là màu sắc và kiểu dáng trang phục, người ta cũng không thể lựa chọn cho chính xác. Họ đều dùng quan niệm để đánh giá chuyện này, đều đặc biệt thủ cựu, lại còn đặc biệt ngu ngốc một cách ngoan cố. Ngươi nói xem, quan niệm của con người đối với Đức Chúa Trời nhiều tới mức nào đây! Điều tích cực mà con người định nghĩa và thứ mà con người cho rằng Đức Chúa Trời yêu thích đều là văn hóa truyền thống trong quan niệm của con người hoặc là những thứ được người đời tiếp nhận và công nhận giữa con người với nhau, chẳng có một chút quan hệ nào với lẽ thật. Vậy các ngươi nói xem, bản thân Ta thuộc phái truyền thống hay phái hiện đại? (Thưa, Đức Chúa Trời không thuộc phái truyền thống, cũng không thuộc về phái hiện đại.) Có người nói: “Thông qua những gì Ngài thông công, chúng con biết Ngài không thích văn hóa truyền thống, bởi vì Ngài sống trong hiện tại. Ít nhất Ngài không truyền thống, không thủ cựu”. Các ngươi nói Ta không truyền thống, vậy Ta thuộc phái hiện đại sao? (Thưa, không phải.) Từ điểm nào, các ngươi nhìn ra Ta không thuộc phái hiện đại? (Thưa, người trên thế giới hiện nay tương đối thích trào lưu, nhưng Đức Chúa Trời dạy dỗ chúng con phải đoan trang đứng đắn, như vậy là trái ngược với trào lưu.) Không chỉ người hiện nay thích trào lưu, người thời xưa cũng thích trào lưu, người ngoại đạo đều thích trào lưu, không phải thích trào lưu thì thuộc phái hiện đại. Vậy câu hỏi này nên trả lời thế nào? Các ngươi suy ngẫm xem. Ngươi xem Ta có mặc trang phục cổ không? Có mặc trang phục truyền thống không? Ta mặc trang phục hiện đại. Chuyện này liên quan đến nhân tính bình thường của Đức Chúa Trời nhập thể. Đức Chúa Trời nhập thể sống ở thời đại nào, và những chuyện ăn ở đi lại của con người trong thời đại đó phát triển đến mức độ nào, thì nhân tính bình thường của Ngài rất tự nhiên sẽ lựa chọn phương thức ăn ở đi lại của con người thời đại đó, sẽ không đi lùi. Đây có phải là biểu hiện của nhân tính bình thường không? (Thưa, phải.) Nhân tính bình thường của Ngài có lý tính, cho nên đối với các phương diện ăn ở đi lại này thì Ngài rất tự nhiên biết lựa chọn cái gì là thích hợp, một mặt là vậy. Mặt khác, bất kể là truyền thống hay hiện đại, nó đều không phải là một hình thức, mà thay vào đó, nó đại diện cho một dạng trào lưu tư tưởng, đại diện cho một dạng quan điểm. Vậy truyền thống là điều tích cực hay hiện đại là điều tích cực? Trong mắt Ta thì cả hai đều không phải là điều tích cực. Cả hai đều không liên quan đến lẽ thật, đều do nhân loại bại hoại sản sinh dưới quyền thế của Sa-tan. Bất kể là tư tưởng và quan điểm truyền thống hay tư tưởng và quan điểm hiện đại, chỉ cần thứ gì không đến từ Đức Chúa Trời thì đều là điều tiêu cực, đều không phải là điều tích cực. Bất kể là những thứ ăn ở đi lại truyền thống hay những thứ ăn ở đi lại hiện đại, chúng đều là để thỏa mãn nhu cầu của nhân tính bình thường. Bất kể giáng sinh ở thời đại nào, Đức Chúa Trời nhập thể đều sống trong nhân tính bình thường, thực tế, nguyên tắc làm người và làm việc của Ngài là bất biến. Khi làm bất kỳ việc gì và tiếp cận với bất kỳ chuyện gì, Ngài đều dựa trên nguyên tắc của lời Đức Chúa Trời, dựa trên nguyên tắc sản sinh từ tâm tính sự sống bên trong Ngài, chứ Ngài không giữ gìn hay tuân theo truyền thống, cũng không chạy theo hiện đại hay trào lưu. Cho nên, yêu cầu của Đức Chúa Trời nhập thể đối với những người đi theo Ngài vừa không dựa trên truyền thống vừa không chịu ảnh hưởng của hiện đại. Những tư tưởng, quan điểm hay lẽ thật ở đủ mọi phương diện mà Ngài có và thông công đều bắt nguồn từ Đức Chúa Trời, bắt nguồn từ thực chất thần tính và sự sống của Đức Chúa Trời, chẳng có liên quan gì đến văn hóa truyền thống hay tri thức hiện đại.
Từ chuyện trang phục được lựa chọn cho chương trình múa của nhà Đức Chúa Trời, các ngươi có nhìn ra được nguyên tắc gì không? Tại sao lại chọn những kiểu dáng này, màu sắc này? Nếu các ngươi có thể hiểu được nguyên tắc trong chuyện này, thì các ngươi mới thực sự hiểu chút lẽ thật, mới có hiểu biết thuộc linh; nếu ngươi không hiểu nguyên tắc ngay cả trong chuyện đơn giản như thế này, thì ngươi là kẻ hồ đồ, tố chất quá kém, nghe giảng đạo bấy nhiêu năm mà cũng không hiểu lẽ thật. Trước tiên hãy nói xem trang phục mà chúng ta mặc khi làm chương trình múa là trang phục truyền thống hay hiện đại? (Thưa, là trang phục hiện đại.) Đều là trang phục hiện đại, hơn nữa còn là trang phục phổ thông thường ngày. Có người không hiểu, nói rằng: “Chương trình múa của chúng ta là chương trình văn nghệ, tại sao lại mặc trang phục thường ngày mà không mặc trang phục dành cho sân khấu? Thêm chút hạt cườm và vảy kim tuyến thì sẽ vô cùng lộng lẫy. Xem quần áo của các đoàn múa cấp quốc gia trên sân khấu kìa, lộng lẫy, cầu kỳ, cao sang, đèn chiếu vào là chói cả mắt. Chúng ta làm chương trình mà cũng mặc trang phục như vậy thì chẳng phải càng làm cho diễn viên thêm đẹp đẽ, càng có thể làm vinh hiển Đức Chúa Trời sao? Chẳng phải càng thể hiện được thế lực của nhà Đức Chúa Trời, càng có thể khiến người ngoại đạo hoặc người trong tôn giáo nhìn thấy thực lực của nhà Đức Chúa Trời sao?”. Quan điểm này có đúng không? (Thưa, không đúng.) Các ngươi hãy nói trước xem, tại sao chúng ta làm chương trình múa lại mặc trang phục thường ngày mà không mặc trang phục lộng lẫy? (Thưa, nếu anh chị em nhảy múa đều mặc trang phục đặc biệt lộng lẫy, thì khán giả sẽ chú trọng xem những bộ trang phục này và quan sát xem những người diễn trông như thế nào. Nhưng nếu họ mặc trang phục phổ thông, nhìn vào đều thấy là những người đoan trang đứng đắn, thì người ta sẽ không bị những thứ bên ngoài này thu hút, mà sẽ tập trung tâm trí vào lời Đức Chúa Trời.) Ngươi nói đúng một phương diện, không mặc trang phục lộng lẫy là để tránh chuyện người ta chú trọng hình thức, chú trọng vẻ bề ngoài. Còn một phương diện quan trọng nhất: bất kể là nhảy múa hay ca hát, chúng ta làm chương trình với mục đích gì? (Thưa, để làm chứng cho Đức Chúa Trời.) Đây là mục tiêu duy nhất. Bất kể là nhảy múa hay ca hát đều là để làm chứng cho Đức Chúa Trời, chứ không phải để làm cho bất kỳ ai nổi bật, cũng không phải để làm vui lòng ai, mà chỉ là để làm chứng cho Đức Chúa Trời thôi. Do đó, chúng ta mặc quần áo đơn giản, vừa vặn, đoan trang đứng đắn, trang nhã một chút, đạt được mục đích làm chứng cho Đức Chúa Trời là được rồi. Xét về tính chất thì chương trình chúng ta làm không phải là chương trình giải trí. Chương trình giải trí là gì? Chương trình giải trí là những thứ người ta xem để tiêu khiển lúc trà dư tửu hậu, để làm vui lòng người ta. Khi nghỉ ngơi, người ta xem một chương trình nào đó để được vui vẻ, thả lỏng tâm trạng, thoải mái, quên đi phiền não, và giảm bớt áp lực, sau đó đến giờ làm việc thì làm việc, trong lòng cũng không vướng bận và không có cảm nhận gì về chúng, chương trình giải trí là vậy. Còn chương trình chúng ta làm thì sao? Về hình thức là giải trí, nhưng về thực chất thì không phải để làm vui lòng đại chúng, cũng không phải để phô trương kỹ năng nghệ thuật. Mục tiêu của chúng ta khi làm chương trình chính là để làm chứng cho Đức Chúa Trời. Chẳng hạn như làm chương trình thánh ca, thánh ca lời Đức Chúa Trời là để làm chứng, loan truyền lẽ thật của lời Đức Chúa Trời, làm cho mọi người đến trước mặt Đức Chúa Trời. Thánh ca về trải nghiệm là để làm chứng cho kết quả đạt được bởi công tác của Đức Chúa Trời và thành quả mà công tác của Đức Chúa Trời thu được nơi con người. Tóm lại, bất kể chúng ta làm dạng chương trình nào, đều không phải là chương trình giải trí thuần túy, không phải để thu hút ánh nhìn của người ta hay để người ta giết thời gian và tiêu khiển, càng không phải để phô trương tài nghệ. Mục tiêu chúng ta khi làm chương trình chỉ có một, chính là để loan truyền lời Đức Chúa Trời và làm chứng cho công tác của Đức Chúa Trời ra bên ngoài, để thêm nhiều người biết rằng Đức Chúa Trời đã nhập thể và làm một giai đoạn công tác mới, để thêm nhiều người biết rằng công tác Đức Chúa Trời làm đã thu phục được một nhóm người, rằng Đức Chúa Trời đang làm công tác và đang phán lời. Đây chính là mục đích duy nhất của chúng ta khi làm chương trình. Mục đích của chúng ta khi làm chương trình đã là vậy, nếu người ta ăn mặc lộng lẫy, trang điểm đậm, lại thêm đủ kiểu hóa trang, thì chẳng phải là xung đột với mục tiêu làm chứng cho Đức Chúa Trời sao? (Thưa, phải.) Như vậy là có xung đột rồi. Cho nên chúng ta không cầu kỳ về chuyện ăn mặc, mà chỉ kỹ lưỡng về điều gì? Chính là những gì mà chương trình của chúng ta thể hiện - diện mạo tinh thần của anh chị em, động tác múa cùng hình thức chương trình - liệu có đủ thu hút người ta không, có đủ khiến người ta thích, khiến người ta hứng thú không, để từ đó có được thiện cảm của người ta, làm cho người ta sẵn lòng đến tìm hiểu công tác của Đức Chúa Trời, sẵn lòng tiếp nhận lời Đức Chúa Trời, sẵn lòng cùng anh chị em hát thánh ca thờ phượng Đức Chúa Trời – đây chính là mục đích chúng ta muốn đạt được. Để đạt được mục đích này, chuyện ăn mặc và trang điểm mọi mặt chỉ cần đạt đến mức khiến người ta nhìn vào thì thấy đoan trang đứng đắn, sạch sẽ gọn gàng, diện mạo tinh thần đặc biệt tốt, vậy là được rồi. Còn những trang phục lộng lẫy, trang điểm đậm và đủ kiểu hóa trang đó đều có tác dụng tiêu cực. Tác dụng tiêu cực gì? Nếu trang điểm cho các chị em nhảy múa giống như tiên nữ, trang điểm cho các anh em đều giống như soái ca, công tử nhà giàu, thì người ta nhìn vào sẽ cảm thấy: “Các người làm vậy là đang phô trương. Đây chẳng phải là có ý đồ xấu sao? Đây chẳng phải là quyến rũ người ta sao?”. Để người ta có những suy nghĩ này thì không tốt rồi. Anh chị em ăn mặc và trang điểm một cách đoan trang đứng đắn, trang nhã đúng mực, tổng thể nhìn vào tuy không thể nói là thanh nhã, nhưng đặc biệt sạch sẽ gọn gàng, trang nhã đúng mực. Người ta nhìn vào thì thấy những người này có diện mạo tinh thần tốt, đích thị là người tin Đức Chúa Trời, và chương trình này làm ra là để làm chứng cho Đức Chúa Trời, chứ không phải thứ oa môn tà đạo. Ngươi thấy đấy, trong chương trình của người ngoại đạo, nếu không phải liếc mắt đưa tình, trao nụ hôn gió, thì cũng là khoe vóc dáng. Trong lúc nhảy múa, ngoài việc bán nghệ ra thì họ còn phô cái vẻ cuốn hút của mình, không có một chút định hướng tích cực nào. Còn những gì chương trình của chúng ta truyền tải hoàn toàn là định hướng tích cực. Người xem chương trình cho dù muốn nảy sinh chút ý nghĩ không đúng đắn cũng không có cơ hội, không có kẽ hở nào để tận dụng. Họ muốn ngắm nghía vóc dáng, dung nhan của những người biểu diễn thì cũng chẳng nhìn rõ, muốn xem ai phô được vẻ cuốn hút của mình thì cũng chẳng nhìn thấy. Họ chỉ nhìn thấy duy nhất một biểu cảm — nụ cười, hoàn toàn là một dáng vẻ đoan trang đứng đắn. Điều chính yếu nhất là chương trình của chúng ta không phải để phô trương hoặc để làm vui lòng ai, mà là để làm chứng cho Đức Chúa Trời, đây là nguyên tắc chính yếu. Ngoài ra, những kiểu dáng trang phục mà chúng ta lựa chọn cho nhóm múa, áo thun, áo hoodie, quần thể thao, có thể khiến người nhảy múa cảm thấy tương đối thoải mái, nhưng một số người trẻ tuổi thì không mấy yêu thích những thứ này. Họ cảm thấy những kiểu dáng này quá thông thường, chỉ là trang phục mặc thường ngày hoặc mặc ở nhà, nhưng đây chính là trang phục đoan trang đứng đắn. Áo thun, áo hoodie, quần thể thao là những kiểu dáng trang phục thoải mái phổ biến nhất hiện nay. Tại sao chúng ta chọn kiểu dáng này? Ta quan sát được rằng từ khi bắt đầu có kiểu dáng trang phục thoải mái này cho đến nay có lẽ ít nhất cũng được mấy chục năm rồi. Hiện nay chúng ta chọn kiểu dáng trang phục này khi làm chương trình là đã tính đến chuyện cho dù trải qua mấy chục năm nữa thì nó cũng không lỗi thời, không lạc hậu. Hơn nữa kiểu dáng này phù hợp với mọi người ở các độ tuổi và tầng lớp xã hội khác nhau, bất kể là dân thường hay người thuộc tầng lớp thượng lưu, hằng ngày họ đều mặc như vậy khi ở nhà. Cộng thêm khi nhảy múa mà mặc trang phục như vậy thì vừa rộng rãi, vừa thuận tiện. Cho nên cuối cùng chúng ta đã chốt trang phục trên sân khấu theo kiểu dáng này. Bất kể người mặc trên sân khấu có thích hay không, tóm lại kiểu dáng này thích hợp để dùng trên sân khấu, tức là người xem và người mặc đều không bới ra được lỗi gì. Cũng có thể người mặc nói rằng: “Những quần áo Ngài chọn cho chúng tôi quá quê mùa, trong cuộc sống hằng ngày tôi tuyệt đối không mặc quần áo như thế này”. Thì Ta nói, Ta không can thiệp việc ngươi mặc gì trong cuộc sống hằng ngày. Cái ngươi mặc và cái ngươi thích đại diện cho con người ngươi, đại diện cho nhân tính và thực chất của ngươi. Ngươi không thích trang phục đơn giản, trang nhã, đoan trang đứng đắn, mà thích trang phục kỳ dị, vậy thì con người ngươi khá lạc loài. Nếu ngươi thích hở ngực lộ lưng, xõa tóc qua vai, đeo kính râm lớn, luôn nhập vai ngôi sao, vậy thì Ta nói rằng ngươi không phải là người của nhà Đức Chúa Trời. Ngươi không thích đoan trang đứng đắn, thì ít nhất ngươi không hợp với con người Ta. Đoan trang đứng đắn, trang nhã đúng mực, đây là nguyên tắc cho việc lựa chọn kiểu dáng trang phục. Vậy về màu sắc trang phục thì nên lựa chọn thế nào? Một số người nói: “Màu trắng đại diện cho sự thánh khiết, màu xanh lá đại diện cho sự sống, màu đỏ đại diện cho sự vui mừng, màu vàng đại diện cho tình bạn, cho nên cứ chọn mấy màu này.” Ta nói, đây thuần túy là nói xằng nói bậy, màu sắc không đại diện cho cái gì cả. Vậy nguyên tắc lựa chọn màu sắc trang phục là gì? Rất đơn giản, chỉ một nguyên tắc: lên hình thì thấy sạch sẽ. Nhất là có một số màu có độ rực, tương đối tươi tắn, có thể người ta hiếm khi mặc trong cuộc sống hằng ngày, nhưng chúng ta lựa chọn những màu sắc này vì hiệu quả sân khấu và hiệu quả thị giác. Một mặt, những màu này tương đối rực rỡ và tươi tắn, nên có hiệu quả sân khấu tốt. Mặt khác đa số những màu này cũng không quá kỳ quái, không có màu nào u tối, không có màu nào khiến người ta nhìn vào là thấy ác cảm, làm như vậy thì video tạo ra sẽ có hiệu quả tốt.
Những điều Ta vừa thông công chính là mấy nguyên tắc để lựa chọn trang phục cho các chương trình múa. Các ngươi đã nhìn thấu được phương diện nào rồi? Các ngươi nói xem, những nguyên tắc mà Ta cân nhắc này có thích hợp không? (Thưa, thích hợp.) Có phải chúng chủ yếu xoay quanh nguyên tắc làm chứng cho Đức Chúa Trời, không làm ô nhục Đức Chúa Trời và đạt được kết quả tốt nhất không? (Thưa, phải.) Có chỗ nào lệch lạc hay cực đoan không? (Thưa, không.) Có chỗ nào thủ cựu không? (Thưa, không.) Không có chỗ nào lệch lạc hay thủ cựu. Vậy thì mấy nguyên tắc lựa chọn trang phục này của chúng ta là theo truyền thống hay theo hiện đại? (Thưa, không theo truyền thống cũng không theo hiện đại. Chỉ cần chương trình chúng ta làm đạt được kết quả làm chứng cho Đức Chúa Trời, vậy là tốt nhất.) Cuối cùng các ngươi cũng hiểu rồi. Mục đích của các chương trình này là để làm chứng cho Đức Chúa Trời, chứ không phải vì điều gì khác. Trong chuyện làm chứng cho Đức Chúa Trời, còn phải cân nhắc đến chuyện không được làm ô nhục Đức Chúa Trời, không được làm mất thể diện nhà Đức Chúa Trời. Đương nhiên, cũng phải cân nhắc đến chất liệu và kiểu dáng của trang phục sao cho người mặc cảm thấy thoải mái. Nghĩa là bất kỳ người nào đoan trang đứng đắn khi nhìn thấy ngươi mặc bộ quần áo đó, đều cảm thấy chấp nhận được, thấy ngươi trông giống người tin Đức Chúa Trời và có thể đại diện cho dân của Đức Chúa Trời, chứ không phải người ngoại đạo, không phải diễn viên hay ca sĩ ngôi sao, chỉ cần nhìn qua thì biết ngay đó là người đoan trang đứng đắn. Vậy từ chuyện này, các ngươi thấy quan điểm của Ta đối với các sự vật, và những nguyên tắc Ta tuân theo trong nhân tính bình thường của Ta có giống với các ngươi không? (Thưa, không giống.) Chắc chắn là không giống. Vậy các ngươi nói xem, nguyên tắc Ta tuân theo có cao siêu, vĩ đại và đẳng cấp không? Có siêu phàm không? Hoàn toàn không cao siêu, vĩ đại và đẳng cấp gì cả, mà vô cùng bình thường. Những nguyên tắc Ta áp dụng và hiệu quả Ta hướng tới khi làm việc đều đặc biệt thực tế, chưa bao giờ phô trương bản thân. Nếu làm theo quan điểm của các ngươi khi lựa chọn trang phục cho chương trình, thì hoặc là truyền thống và thủ cựu, hoặc là chạy theo trào lưu của thế gian. Có người nói: “Bây giờ trên thế gian đang thịnh hành kiểu trang điểm mắt khói, gắn lông mi giả, đeo khuyên mũi, khuyên tai thật to. Chúng ta cũng phải trang điểm cho anh chị em thành trai xinh gái đẹp. Không những quần áo phải lộng lẫy mà cách trang điểm cũng phải kiều diễm, không thua kém diễn viên, ca sĩ ngôi sao của thế gian, hơn nữa còn phải cao cấp và quý phái hơn họ. Người tin Đức Chúa Trời phải tôn quý hơn họ, cứ trang điểm theo hướng đó đi!”. Thế thì tại sao cuối cùng những người đứng trên sân khấu lại không có món đồ lộng lẫy nào trên mình? Bởi vì có Ta ở đây kiểm định. Những thứ bất kể thuộc phái hiện đại hay phái truyền thống đều phải để sang một bên, không có cơ hội “trổ tài” đâu, chúng đều bị Ta chặn đứng rồi. Nếu để các ngươi kiểm định thì các ngươi có cho những người đó cơ hội “trổ tài” không? (Thưa, không.) Tại sao không? (Thưa, nếu cho họ cơ hội thì họ sẽ đi chệch đường, không còn tuân theo những nguyên tắc mà nhà Đức Chúa Trời yêu cầu nữa.) Nếu cho họ cơ hội thì họ sẽ trang điểm cho những người trên sân khấu thành ma quỷ, sẽ đòi làm những chương trình giải trí đang thịnh hành ngoài xã hội, biến những chương trình làm chứng cho Đức Chúa Trời thành những chương trình giải trí nhằm mua vui cho đại chúng, biến con người thành yêu tinh, thành quỷ. Chương trình như vậy còn xem được sao? Khi ấy, chương trình đó sẽ biến chất, không còn là làm chứng cho Đức Chúa Trời nữa, mà là làm ô nhục Đức Chúa Trời, nó đáng bị rủa sả, đáng bị bãi bỏ. Như vậy không còn là làm bổn phận, mà là hành ác rồi. Các ngươi hiểu chưa? (Thưa, đã hiểu.) Ngươi thấy đấy, một chuyện nhỏ như thế mà các ngươi cũng không hiểu. Bây giờ Ta nói thẳng hơn và thông tục hơn một chút thì có người mới chợt bừng tỉnh: “Thì ra là vậy. Giờ mới biết vì sao nhà Đức Chúa Trời lại chọn loại trang phục như thế cho các chương trình múa”. Bất kể ở thời đại nào, nguyên tắc con người nên tuân theo là gì? Chính là lấy lời Đức Chúa Trời làm nguyên tắc trong mọi chuyện. Làm bất kỳ công tác nào hay làm bất kỳ chuyện gì, thì thứ nhất là đem lại sự gây dựng người khác, thứ hai là làm chứng cho công tác của Đức Chúa Trời, chỉ có hai nguyên tắc đó. Cho nên bất kể trong chuyện gì, điều người ta nên tuân giữ chính là hai nguyên tắc này. Vậy sự bình thường và thực tế có trong nhân tính bình thường của Đức Chúa Trời nhập thể cũng không nằm ngoài việc tuân theo những nguyên tắc này. Nguyên tắc là bất biến, không tuân theo truyền thống cũng không chạy theo hiện đại. Trong nhân tính bình thường, nguyên tắc Ta tuân theo chính là làm người và làm việc trong phạm vi của lương tâm và lý trí. Vậy trong công tác của nhà Đức Chúa Trời, Ta tuân theo nguyên tắc nào? Chính là làm chuyện gì cũng đều có ích cho người ta, làm những việc đem lại ích lợi và sự gây dựng cho người ta. Ngoài ra còn là làm công tác làm chứng cho Đức Chúa Trời, tuân theo nguyên tắc làm chứng cho Đức Chúa Trời và loan truyền lời Đức Chúa Trời. Các ngươi nói xem, có phải là vậy không? (Thưa, phải.) Thông công như thế, có phải các ngươi đã hiểu Ta thêm phần nào rồi không? (Thưa, phải.) Nếu Ta không nói tỉ mỉ những chuyện này thì các ngươi sẽ không rõ. Chuyện đơn giản như vậy mà các ngươi cũng dò không thấu. Thực ra, chuyện này chẳng có gì cao sâu cả, rất thực tế, rất bình thường thôi. Bình thường đến mức nào? Đến mức đặc biệt phù hợp với lý tính của nhân tính bình thường. Nghĩa là nếu có lý tính của nhân tính bình thường thì ngươi sẽ hiểu được, còn nếu không có lý tính của nhân tính bình thường thì ngươi sẽ rất khó hiểu được. Ta phải nói rõ ràng, thấu đáo, thẳng thắn, và nói cho rõ, thì ngươi mới biết được chuyện là như vậy. Chuyện đơn giản đến thế, căn bản chưa đến mức của nguyên tắc lẽ thật, vậy mà các ngươi vẫn không nói rõ được. Thế này là sao? Chuyện này có cao thâm khó dò không? (Thưa, không.) Vậy tại sao các ngươi lại không nói rõ được? Xét rộng, thì là vì các ngươi không hiểu lẽ thật. Xét chi tiết, thì là vì nhân tính bình thường và lý tính của các ngươi còn thiếu thứ gì đó và có khiếm khuyết. Hễ nói đến đoan trang đứng đắn thì các ngươi lại bám giữ truyền thống và thủ cựu. Hễ nói đến nhân tính bình thường thì các ngươi lại cho rằng đó là làm người thật thà, như kẻ ngốc. Chẳng phải như thế là các ngươi có tố chất quá kém và không có năng lực lĩnh hội sao? (Thưa, phải.) Chính là vấn đề này. Được rồi, chuyện này nói đến đây thôi.
Cách mưu cầu lẽ thật (27)
Về chủ đề “buông bỏ” trong “Mưu cầu lẽ thật”, chúng ta đã thông công tới nội dung liên quan đến quan niệm và tưởng tượng trong phần “buông bỏ những rào cản giữa bản thân với Đức Chúa Trời và sự thù địch đối với Ngài”. Mấy lần trước, chúng ta đã thông công về “buông bỏ quan niệm và tưởng tượng về Đức Chúa Trời nhập thể”, hôm nay chúng ta tiếp tục thông công về nội dung này. Về quan niệm và tưởng tượng đối với Đức Chúa Trời nhập thể, chúng ta đã thông công một số chủ đề liên quan đến nhân tính bình thường của Đức Chúa Trời nhập thể, phải không? Vậy lần trước chúng ta đã thông công những gì? Chúng ta đã thông công về một số biểu hiện cụ thể liên quan đến những gì nhân tính bình thường của Đức Chúa Trời nhập thể sống thể hiện ra và bộc lộ, cùng một số nguyên tắc làm người và làm việc trong nhân tính bình thường của Đức Chúa Trời nhập thể, sau đó chúng ta thông công về những chuyện mà Đức Chúa Trời nhập thể không làm trong phương diện nhân tính. Việc thông công về những phương diện này giúp người ta hiểu rõ hơn về thực chất tâm tính của xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể, nguyên tắc làm người và làm việc cũng như một số biểu hiện và sự bộc lộ cụ thể của Ngài. Vậy khi thông công về những biểu hiện này của Đức Chúa Trời nhập thể, cho dù là một số sự thật và ví dụ hay là nguyên tắc làm việc cụ thể của Ngài, thì chúng đều liên quan đến những chuyện nhỏ trong mọi khía cạnh của cuộc sống. Nhìn bề ngoài thì Đức Chúa Trời nhập thể chẳng có những kỳ tích vĩ đại hay những hành động cao cả khiến người ta sùng bái như trong quan niệm và tưởng tượng của con người, mọi biểu hiện của Đức Chúa Trời nhập thể đều rất bình thường, rất thông thường. Chính vì Đức Chúa Trời nhập thể sống giữa nhân loại bình thường và bại hoại này, cho nên những biểu hiện bình thường và thực tế này của Ngài một mặt là biểu hiện tất nhiên phải có trong nhân tính của xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể, mặt khác chúng cũng là nhu cầu bình thường của Đức Chúa Trời nhập thể khi sống giữa nhân loại. Đương nhiên, những biểu hiện bình thường và thực tế này cũng cho người ta một số thông tin hoặc con đường liên quan đến việc nhận biết Đức Chúa Trời. Chúng giúp người ta thông qua những gì Đức Chúa Trời nhập thể sống thể hiện ra và nguyên tắc thực tế của Ngài trong chuyện làm người giữa nhân gian, mà nhận biết sự thực tế và bình thường của Đức Chúa Trời, cũng như nhận biết Đức Chúa Trời ở trên trời, có thể hiểu chính xác hơn về Đức Chúa Trời ở trên trời, hiểu chính xác về thực chất của Đức Chúa Trời khi Ngài là một con người bình thường và thông thường ở dưới đất.
Có người nói: “Những chuyện và ví dụ này mà Ngài giảng liên quan đến nhân tính bình thường của Đức Chúa Trời nhập thể đều rất thông thường, đều là những chuyện vô cùng nhỏ nhặt và không đáng để mắt đến trong cuộc sống thường nhật. Ngài có thể giảng về một vài sự thật khiến người ta cảm thấy thần bí khôn dò, cảm thấy đặc biệt vĩ đại được không?”. Ta nói rằng, đến nay đúng là vẫn chưa có những chuyện như vậy. Bởi vì Đức Chúa Trời nhập thể sống trong thực tế của nhân tính bình thường như vậy, lại ở trong một hoàn cảnh sống đặc thù nhất định, ngoài làm công tác của chính Đức Chúa Trời ra, phần thời gian còn lại, Ngài ở trong phạm vi cuộc sống của nhân tính bình thường mà tiếp xúc với các anh chị em hoặc xử lý một số vấn đề vụn vặt trong hội thánh. Cho nên ngoài những ví dụ liên quan đến nguyên tắc, tín điều làm người và làm việc mà chúng ta đã thông công ra, thì không có những sáng kiến vĩ đại hay việc làm siêu phàm nào như các ngươi tưởng tượng. Chuyện này có lẽ con người không ngờ tới, cũng có lẽ không hợp với quan niệm và tưởng tượng của con người, nhưng sự thật chính là như vậy. Khi thông công về chủ đề Đức Chúa Trời nhập thể này thì chủ yếu chúng ta nói đến một số biểu hiện, cách sống thể hiện ra cùng những nguyên tắc làm người và làm việc cụ thể của Đức Chúa Trời nhập thể trong nhân tính bình thường. Những điều này khác với những giai thoại của thế gian kể về các vĩ nhân và danh nhân. Khi người trong thế gian kể về một vĩ nhân, danh nhân hoặc cao nhân, họ luôn muốn kể rằng người này khác với người thường ra sao, siêu phàm và vĩ đại thế nào, kể về sức hút nhân cách của người đó, chủ yếu là kể rằng người đó cao siêu, vĩ đại và đẳng cấp thế nào. Còn chủ đề liên quan đến Đức Chúa Trời nhập thể mà chúng ta nói thì lại hoàn toàn trái ngược với nội dung mà thế gian kể về những cao nhân và vĩ nhân này. Chúng ta chủ yếu nói về sự bình thường, thực tế, thông thường và không siêu phàm của Đức Chúa Trời nhập thể. Chúng ta toàn giảng những ví dụ cụ thể, còn là những ví dụ nhỏ nhặt trong cuộc sống, nói về chuyện nguyên tắc, quan điểm làm người và làm việc của Ngài là gì. Những tư tưởng, quan điểm, nguyên tắc, cách thức làm người và làm việc này đều dựa trên lương tâm và lý trí của nhân tính bình thường. Chúng ta chủ yếu nói về cách mà Ngài làm người và làm việc. Còn trên thế gian, rất ít người nói về cách làm người, cho dù có người từng nói về chủ đề này, thì họ cũng không nói ra được bao nhiêu ví dụ cụ thể, càng không nói ra được nguyên tắc làm người nào. Họ không kể rằng các danh nhân, vĩ nhân có nguyên tắc tích cực, cách thức tích cực, hay tư tưởng và quan điểm đúng đắn nào trong chuyện làm người và làm việc. Họ chỉ kể về công lao, tài năng, sự học và tinh thần của người đó, còn kể về chuyện nhờ công lao, tài năng, sự học và tinh thần ấy mà người đó chiếm giữ vị trí chủ đạo như thế nào giữa nhân loại. Những điều họ kể lại hoàn toàn trái ngược với nhân tính bình thường mà Đức Chúa Trời nhập thể sở hữu và có sẵn mà chúng ta thông công hôm nay. Những gì mà xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể khiến cho các ngươi nhận biết và hiểu, chính là những nguyên tắc, tín điều làm người, làm việc được sống thể hiện ra và có trong nhân tính bình thường, thực tế của Đức Chúa Trời nhập thể. Những nguyên tắc, tín điều làm người và làm việc này vừa vặn phù hợp với những yêu cầu của Đức Chúa Trời đối với nhân loại mà Ngài muốn cứu rỗi. Chỉ có xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể mới có dạng nhân tính như vậy, mới có được các tư tưởng và quan điểm khác nhau—cùng các nguyên tắc, tín điều làm người và làm việc của Ngài—ở trong nhân tính bình thường và thực tế. Do đó Ngài mới có thể ở trong nhân tính như vậy mà đại diện cho Đức Chúa Trời để làm công tác của chính Đức Chúa Trời, hoàn thành công tác và chức vụ mà Đức Chúa Trời nhập thể nên làm tốt trong thời đại này, mới có thể công bố trọn vẹn cho nhân loại về tâm tính đại diện mà Đức Chúa Trời muốn bày tỏ trong thời đại này, và dĩ nhiên Ngài cũng hoàn toàn đảm nhận được công tác bày tỏ lẽ thật mà Đức Chúa Trời muốn làm trong giai đoạn công tác này. Nếu thực chất nhân tính mà xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể có, sống thể hiện và bộc lộ ra lại không bình thường, thực tế và thông thường như chúng ta đã thông công, hoặc nếu Ngài không có những nguyên tắc và tín điều làm người mà chúng ta đã thông công, thay vào đó lại có thực chất nhân tính của những danh nhân, vĩ nhân mà người ngoại đạo kể về hoặc tôn sùng, thì kết quả sẽ thế nào? (Thưa, thì Ngài sẽ không thể dẫn dắt chúng con đi con đường kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác.) Vậy thì tình cảnh sẽ khác hẳn. Giả dụ xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể có thực chất nhân tính của các vĩ nhân hoặc danh nhân ngoại đạo, cao lớn, siêu phàm, khác với người thường và thần bí khôn dò. Một người như vậy thì làm người và làm việc không có ranh giới, miệng đầy lời dối trá, làm người và làm việc không có khuôn phép, không thật thà, cũng không an phận và không đúng bổn phận, sự mưu cầu, tư tưởng và quan điểm của người đó giống hệt của người ngoại đạo, nghĩa là mưu cầu những điều cao siêu, vĩ đại và đẳng cấp, chú trọng ân tứ, tri thức và siêu năng lực, vậy thì đối với các ngươi, một người như vậy có thể dẫn các ngươi đi lên con đường nào? (Thưa, người đó không thể dẫn người ta đi lên con đường được cứu rỗi, ngược lại người ta đi theo người đó thì sẽ chỉ ngày càng bại hoại, ngày càng tà ác.) Một người như vậy thì bản thân họ đã không có nguyên tắc tích cực trong việc làm người, cách thức và nguyên tắc làm người của họ đều không tích cực, mà đều thuộc về Sa-tan, vậy thì nguyên tắc và tín điều làm người của người thuộc về Sa-tan này đại diện rất rõ cho thực chất nhân tính của họ. Họ có thực chất nhân tính như vậy thì sự mưu cầu của họ và con đường họ đi sẽ là gì? Sẽ hoàn toàn giống hệt của Sa-tan. Sự mưu cầu của họ và con đường họ đi đều đến từ Sa-tan, đều tương hợp với Sa-tan. Vậy chẳng phải những ai đi theo họ cũng sẽ đi theo sự dẫn dắt của họ, có cùng sự mưu cầu và đi cùng con đường giống họ sao? (Thưa, phải.) Những người này sẽ đi theo sự dẫn dắt của họ, bắt chước nguyên tắc làm người của họ, cũng sẽ giống như họ mà mưu cầu tri thức, địa vị, mưu cầu sự siêu nhiên, mưu cầu những điều cao siêu, vĩ đại và đẳng cấp, mưu cầu mọi điều siêu phàm, và mọi thứ mà trong mắt con người là thần bí khôn dò. Đi theo người như vậy thì không một ai có thể được cứu rỗi, mà ngược lại sẽ ngày càng sa đọa. Một tập thể như vậy thì không thể được gọi là hội thánh, chủ yếu là vì họ đã rời bỏ công tác của Đức Chúa Trời, cũng không có công tác của Đức Thánh Linh. Thủ lĩnh mà họ đi theo cũng không phải do Đức Chúa Trời thiết lập, càng không phải do Đức Chúa Trời sai đến. Ngay cả khi bản thân họ tự xưng là hội thánh thì cũng vô ích thôi, Đức Chúa Trời không ngó ngàng đến họ. Họ có xưng mình là hội thánh cỡ nào đi nữa, thì Đức Chúa Trời cũng không thừa nhận họ, Đức Thánh Linh cũng sẽ không làm công tác trên họ. Thủ lĩnh đó thích gì thì dạy người ta làm nấy, bên trong họ có cái gì thì cung ứng cho người ta cái nấy, và đó cũng là thứ người ta nhận được từ họ. Họ không có lẽ thật, không cung ứng điều tích cực nào hay hướng dẫn đúng phương hướng nào cho người ta, vậy thì người ta không thể nào đạt được lẽ thật từ họ. Cùng lắm người ta chỉ có thể học được từ họ chút tri thức, chút kỹ năng nghiệp vụ của thế giới ngoại đạo hoặc năng lực trong một lĩnh vực nào đó. Tóm lại, một người không có sự bình thường và thực tế, hoặc không có thực chất thần tính làm sự sống như vậy, thì không thể được gọi là Đức Chúa Trời nhập thể, không thể dẫn con người đến trước mặt Đức Chúa Trời, cũng không thể dẫn con người đi lên con đường được cứu rỗi. Căn cứ vào những sự thật này, thì giữa nhân gian, ngoài xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể ra, có người nào có thể đại diện cho Đức Chúa Trời để làm công tác của Đức Chúa Trời không? (Thưa, không có.) Có người nào có thể đại diện cho Đức Chúa Trời để cứu rỗi nhân loại khỏi tâm tính bại hoại không? (Thưa, không có.) Bất kỳ một thành viên nào trong nhân loại thông thường cũng đều có sự sống và thực chất nhân tính gần như giống nhau, đều là sự sống và thực chất nhân tính đã bị Sa-tan làm bại hoại, nhân loại đều lấy tâm tính bại hoại làm sự sống. Do đó, bất kể xét từ nhân tính của con người hay từ thực chất sự sống của con người, thì toàn nhân loại không một ai có thể đảm nhận công tác này của Đức Chúa Trời nhập thể, cũng không con người bại hoại nào có thể đại diện cho Đức Chúa Trời để cứu rỗi nhân loại bại hoại khỏi sự bại hoại. Đương nhiên, những sự thật này cũng nói cho người ta biết rằng: Không một con người bại hoại nào có thể nói cho nhân loại biết điều tích cực là gì và điều tiêu cực là gì, không một con người bại hoại nào có thể nói cho người ta biết lẽ thật là gì hay tâm ý của Đức Chúa Trời rốt cuộc là gì. Điều mà nhân loại bại hoại cung ứng cho con người chỉ có tri thức, các loại kỹ năng, bản lĩnh hoặc ân tứ mà nhân loại bại hoại mưu cầu, đủ loại thủ đoạn làm người và làm việc, triết lý xử thế, cùng các loại tư tưởng và quan điểm đến từ Sa-tan. Con người, bất kể thuộc chủng tộc nào, đều có một điểm chung, điểm chung này là gì? Con người ai cũng xem những thứ tương đối tích cực hoặc tương đối thiện ý, bảo thủ, truyền thống ở nhân gian là điều tích cực, và cố dùng chúng để thay thế lẽ thật, thay thế tâm ý của Đức Chúa Trời. Người ta cho rằng giữ vững những thứ này là đạt được con đường thật và có thể được cứu rỗi rồi. Trên thực tế, những thứ này chẳng liên quan chút nào đến các yêu cầu của Đức Chúa Trời đối với nhân loại. Ngươi thấy đấy, giữa nhân gian, bất kể là người khôn khéo đến đâu, bất kể có ân tứ cao thế nào, tài năng và sự học cao đến đâu, hoặc có nhân tính bề ngoài lương thiện và nhân nghĩa ra sao, thì cũng không một ai có thể hiểu được lẽ thật, không một ai biết phân định đâu là điều tích cực và đâu là điều tiêu cực. Trước khi Đức Chúa Trời làm công tác, trước khi Đức Chúa Trời bày tỏ lời, gần như toàn bộ nhân loại đều xem văn hóa truyền thống là điều tích cực, thậm chí có người còn tôn thờ văn hóa truyền thống như lẽ thật. Cho nên bất kể xét từ góc độ nào, nếu không phải Đức Chúa Trời nhập thể ở trong nhân tính bình thường mà bày tỏ những lẽ thật này và làm những công tác này, thay vào đó lại để cho bất kỳ một thành viên nào đó trong nhân loại làm công tác này, thì họ sẽ chỉ dẫn dắt con người đi lên con đường lệch khỏi lời Đức Chúa Trời và lệch khỏi tâm ý của Đức Chúa Trời.
Chúng ta hãy xem một ví dụ đơn giản. Chẳng hạn như, bảo người ta lựa chọn trang phục cho chương trình múa, người ta sẽ chọn thế nào? Về mặt lý thuyết, mọi người đều biết rằng người tin Đức Chúa Trời mà làm chương trình múa, nhất là làm video đăng công khai trên mạng, thì trang phục mặc trên người và diện mạo tinh thần của người ta đều đại diện cho dân của Đức Chúa Trời. Do đó, khi chọn trang phục thì nên chọn trang phục đoan trang đứng đắn, không nên mặc trang phục kỳ dị. Nói đến đoan trang đứng đắn thì phải xem xét kỹ. Trong quan niệm của con người, trang phục thế nào được xem là đoan trang đứng đắn? Chính là trang phục mà các dân tộc thường mặc nhất, trang phục tương đối truyền thống, tương đối bảo thủ mà mọi người nhìn vào đều thấy thích hợp, không phải trang phục kỳ dị, không phải chạy theo trào lưu. Đây chính là trang phục đoan trang đứng đắn trong quan niệm của mọi người. Quan điểm của đa số anh chị em trong hội thánh đối với việc lựa chọn trang phục khi làm chương trình là gì? Ngươi thấy đấy, lúc quay phim, quan điểm của người phụ trách trang phục thực ra cũng đại diện cho quan điểm của đa số mọi người. Kiểu dáng quần áo họ chọn đều là những trang phục mà đa số mọi người thường mặc vào thập niên 80, 90. Màu sắc đa số là màu xanh da trời, màu kaki hoặc màu xám, chỉ là có cái đậm hơn một chút, có cái nhạt hơn một chút. Xét tổng thể thì chỉ có hai, ba loại màu sắc đơn giản như vậy. Tại sao họ không chọn một vài màu sắc tươi sáng? Trong quan niệm của mọi người, người tin Đức Chúa Trời đều là những người tốt và đoan trang đứng đắn, mặc quần áo thì nên chọn mấy loại màu sắc bình thường nhất và phổ biến nhất này. Ngươi thấy đấy, một chuyện rất đơn giản là lựa chọn kiểu dáng và màu sắc trang phục thôi đã tỏ lộ hoàn toàn quan niệm, tư tưởng và quan điểm sai lầm trong lòng người ta về chuyện tin Đức Chúa Trời. Tức là, bên trong con người có một quan niệm rất nghiêm trọng, nhiều người cho rằng tin Đức Chúa Trời thì phải thủ cựu, phải khôi phục truyền thống. Trong quan niệm của họ cho rằng những thứ truyền thống, cổ hủ, lạc hậu, hủ lậu này mới là điều tích cực, mới là điều làm Đức Chúa Trời đẹp lòng. Có phải đa số mọi người đều cho là vậy không? (Thưa, phải.) Đây là những thứ trong đầu óc con người. Con người ai cũng định nghĩa những thứ truyền thống, lạc hậu, cũ kỹ và cổ hủ đó là điều tích cực. Cho nên, khi làm chương trình, đối với chuyện đơn giản nhất và cơ bản nhất là màu sắc và kiểu dáng trang phục, người ta cũng không thể lựa chọn cho chính xác. Họ đều dùng quan niệm để đánh giá chuyện này, đều đặc biệt thủ cựu, lại còn đặc biệt ngu ngốc một cách ngoan cố. Ngươi nói xem, quan niệm của con người đối với Đức Chúa Trời nhiều tới mức nào đây! Điều tích cực mà con người định nghĩa và thứ mà con người cho rằng Đức Chúa Trời yêu thích đều là văn hóa truyền thống trong quan niệm của con người hoặc là những thứ được người đời tiếp nhận và công nhận giữa con người với nhau, chẳng có một chút quan hệ nào với lẽ thật. Vậy các ngươi nói xem, bản thân Ta thuộc phái truyền thống hay phái hiện đại? (Thưa, Đức Chúa Trời không thuộc phái truyền thống, cũng không thuộc về phái hiện đại.) Có người nói: “Thông qua những gì Ngài thông công, chúng con biết Ngài không thích văn hóa truyền thống, bởi vì Ngài sống trong hiện tại. Ít nhất Ngài không truyền thống, không thủ cựu”. Các ngươi nói Ta không truyền thống, vậy Ta thuộc phái hiện đại sao? (Thưa, không phải.) Từ điểm nào, các ngươi nhìn ra Ta không thuộc phái hiện đại? (Thưa, người trên thế giới hiện nay tương đối thích trào lưu, nhưng Đức Chúa Trời dạy dỗ chúng con phải đoan trang đứng đắn, như vậy là trái ngược với trào lưu.) Không chỉ người hiện nay thích trào lưu, người thời xưa cũng thích trào lưu, người ngoại đạo đều thích trào lưu, không phải thích trào lưu thì thuộc phái hiện đại. Vậy câu hỏi này nên trả lời thế nào? Các ngươi suy ngẫm xem. Ngươi xem Ta có mặc trang phục cổ không? Có mặc trang phục truyền thống không? Ta mặc trang phục hiện đại. Chuyện này liên quan đến nhân tính bình thường của Đức Chúa Trời nhập thể. Đức Chúa Trời nhập thể sống ở thời đại nào, và những chuyện ăn ở đi lại của con người trong thời đại đó phát triển đến mức độ nào, thì nhân tính bình thường của Ngài rất tự nhiên sẽ lựa chọn phương thức ăn ở đi lại của con người thời đại đó, sẽ không đi lùi. Đây có phải là biểu hiện của nhân tính bình thường không? (Thưa, phải.) Nhân tính bình thường của Ngài có lý tính, cho nên đối với các phương diện ăn ở đi lại này thì Ngài rất tự nhiên biết lựa chọn cái gì là thích hợp, một mặt là vậy. Mặt khác, bất kể là truyền thống hay hiện đại, nó đều không phải là một hình thức, mà thay vào đó, nó đại diện cho một dạng trào lưu tư tưởng, đại diện cho một dạng quan điểm. Vậy truyền thống là điều tích cực hay hiện đại là điều tích cực? Trong mắt Ta thì cả hai đều không phải là điều tích cực. Cả hai đều không liên quan đến lẽ thật, đều do nhân loại bại hoại sản sinh dưới quyền thế của Sa-tan. Bất kể là tư tưởng và quan điểm truyền thống hay tư tưởng và quan điểm hiện đại, chỉ cần thứ gì không đến từ Đức Chúa Trời thì đều là điều tiêu cực, đều không phải là điều tích cực. Bất kể là những thứ ăn ở đi lại truyền thống hay những thứ ăn ở đi lại hiện đại, chúng đều là để thỏa mãn nhu cầu của nhân tính bình thường. Bất kể giáng sinh ở thời đại nào, Đức Chúa Trời nhập thể đều sống trong nhân tính bình thường, thực tế, nguyên tắc làm người và làm việc của Ngài là bất biến. Khi làm bất kỳ việc gì và tiếp cận với bất kỳ chuyện gì, Ngài đều dựa trên nguyên tắc của lời Đức Chúa Trời, dựa trên nguyên tắc sản sinh từ tâm tính sự sống bên trong Ngài, chứ Ngài không giữ gìn hay tuân theo truyền thống, cũng không chạy theo hiện đại hay trào lưu. Cho nên, yêu cầu của Đức Chúa Trời nhập thể đối với những người đi theo Ngài vừa không dựa trên truyền thống vừa không chịu ảnh hưởng của hiện đại. Những tư tưởng, quan điểm hay lẽ thật ở đủ mọi phương diện mà Ngài có và thông công đều bắt nguồn từ Đức Chúa Trời, bắt nguồn từ thực chất thần tính và sự sống của Đức Chúa Trời, chẳng có liên quan gì đến văn hóa truyền thống hay tri thức hiện đại.
Từ chuyện trang phục được lựa chọn cho chương trình múa của nhà Đức Chúa Trời, các ngươi có nhìn ra được nguyên tắc gì không? Tại sao lại chọn những kiểu dáng này, màu sắc này? Nếu các ngươi có thể hiểu được nguyên tắc trong chuyện này, thì các ngươi mới thực sự hiểu chút lẽ thật, mới có hiểu biết thuộc linh; nếu ngươi không hiểu nguyên tắc ngay cả trong chuyện đơn giản như thế này, thì ngươi là kẻ hồ đồ, tố chất quá kém, nghe giảng đạo bấy nhiêu năm mà cũng không hiểu lẽ thật. Trước tiên hãy nói xem trang phục mà chúng ta mặc khi làm chương trình múa là trang phục truyền thống hay hiện đại? (Thưa, là trang phục hiện đại.) Đều là trang phục hiện đại, hơn nữa còn là trang phục phổ thông thường ngày. Có người không hiểu, nói rằng: “Chương trình múa của chúng ta là chương trình văn nghệ, tại sao lại mặc trang phục thường ngày mà không mặc trang phục dành cho sân khấu? Thêm chút hạt cườm và vảy kim tuyến thì sẽ vô cùng lộng lẫy. Xem quần áo của các đoàn múa cấp quốc gia trên sân khấu kìa, lộng lẫy, cầu kỳ, cao sang, đèn chiếu vào là chói cả mắt. Chúng ta làm chương trình mà cũng mặc trang phục như vậy thì chẳng phải càng làm cho diễn viên thêm đẹp đẽ, càng có thể làm vinh hiển Đức Chúa Trời sao? Chẳng phải càng thể hiện được thế lực của nhà Đức Chúa Trời, càng có thể khiến người ngoại đạo hoặc người trong tôn giáo nhìn thấy thực lực của nhà Đức Chúa Trời sao?”. Quan điểm này có đúng không? (Thưa, không đúng.) Các ngươi hãy nói trước xem, tại sao chúng ta làm chương trình múa lại mặc trang phục thường ngày mà không mặc trang phục lộng lẫy? (Thưa, nếu anh chị em nhảy múa đều mặc trang phục đặc biệt lộng lẫy, thì khán giả sẽ chú trọng xem những bộ trang phục này và quan sát xem những người diễn trông như thế nào. Nhưng nếu họ mặc trang phục phổ thông, nhìn vào đều thấy là những người đoan trang đứng đắn, thì người ta sẽ không bị những thứ bên ngoài này thu hút, mà sẽ tập trung tâm trí vào lời Đức Chúa Trời.) Ngươi nói đúng một phương diện, không mặc trang phục lộng lẫy là để tránh chuyện người ta chú trọng hình thức, chú trọng vẻ bề ngoài. Còn một phương diện quan trọng nhất: bất kể là nhảy múa hay ca hát, chúng ta làm chương trình với mục đích gì? (Thưa, để làm chứng cho Đức Chúa Trời.) Đây là mục tiêu duy nhất. Bất kể là nhảy múa hay ca hát đều là để làm chứng cho Đức Chúa Trời, chứ không phải để làm cho bất kỳ ai nổi bật, cũng không phải để làm vui lòng ai, mà chỉ là để làm chứng cho Đức Chúa Trời thôi. Do đó, chúng ta mặc quần áo đơn giản, vừa vặn, đoan trang đứng đắn, trang nhã một chút, đạt được mục đích làm chứng cho Đức Chúa Trời là được rồi. Xét về tính chất thì chương trình chúng ta làm không phải là chương trình giải trí. Chương trình giải trí là gì? Chương trình giải trí là những thứ người ta xem để tiêu khiển lúc trà dư tửu hậu, để làm vui lòng người ta. Khi nghỉ ngơi, người ta xem một chương trình nào đó để được vui vẻ, thả lỏng tâm trạng, thoải mái, quên đi phiền não, và giảm bớt áp lực, sau đó đến giờ làm việc thì làm việc, trong lòng cũng không vướng bận và không có cảm nhận gì về chúng, chương trình giải trí là vậy. Còn chương trình chúng ta làm thì sao? Về hình thức là giải trí, nhưng về thực chất thì không phải để làm vui lòng đại chúng, cũng không phải để phô trương kỹ năng nghệ thuật. Mục tiêu của chúng ta khi làm chương trình chính là để làm chứng cho Đức Chúa Trời. Chẳng hạn như làm chương trình thánh ca, thánh ca lời Đức Chúa Trời là để làm chứng, loan truyền lẽ thật của lời Đức Chúa Trời, làm cho mọi người đến trước mặt Đức Chúa Trời. Thánh ca về trải nghiệm là để làm chứng cho kết quả đạt được bởi công tác của Đức Chúa Trời và thành quả mà công tác của Đức Chúa Trời thu được nơi con người. Tóm lại, bất kể chúng ta làm dạng chương trình nào, đều không phải là chương trình giải trí thuần túy, không phải để thu hút ánh nhìn của người ta hay để người ta giết thời gian và tiêu khiển, càng không phải để phô trương tài nghệ. Mục tiêu chúng ta khi làm chương trình chỉ có một, chính là để loan truyền lời Đức Chúa Trời và làm chứng cho công tác của Đức Chúa Trời ra bên ngoài, để thêm nhiều người biết rằng Đức Chúa Trời đã nhập thể và làm một giai đoạn công tác mới, để thêm nhiều người biết rằng công tác Đức Chúa Trời làm đã thu phục được một nhóm người, rằng Đức Chúa Trời đang làm công tác và đang phán lời. Đây chính là mục đích duy nhất của chúng ta khi làm chương trình. Mục đích của chúng ta khi làm chương trình đã là vậy, nếu người ta ăn mặc lộng lẫy, trang điểm đậm, lại thêm đủ kiểu hóa trang, thì chẳng phải là xung đột với mục tiêu làm chứng cho Đức Chúa Trời sao? (Thưa, phải.) Như vậy là có xung đột rồi. Cho nên chúng ta không cầu kỳ về chuyện ăn mặc, mà chỉ kỹ lưỡng về điều gì? Chính là những gì mà chương trình của chúng ta thể hiện - diện mạo tinh thần của anh chị em, động tác múa cùng hình thức chương trình - liệu có đủ thu hút người ta không, có đủ khiến người ta thích, khiến người ta hứng thú không, để từ đó có được thiện cảm của người ta, làm cho người ta sẵn lòng đến tìm hiểu công tác của Đức Chúa Trời, sẵn lòng tiếp nhận lời Đức Chúa Trời, sẵn lòng cùng anh chị em hát thánh ca thờ phượng Đức Chúa Trời – đây chính là mục đích chúng ta muốn đạt được. Để đạt được mục đích này, chuyện ăn mặc và trang điểm mọi mặt chỉ cần đạt đến mức khiến người ta nhìn vào thì thấy đoan trang đứng đắn, sạch sẽ gọn gàng, diện mạo tinh thần đặc biệt tốt, vậy là được rồi. Còn những trang phục lộng lẫy, trang điểm đậm và đủ kiểu hóa trang đó đều có tác dụng tiêu cực. Tác dụng tiêu cực gì? Nếu trang điểm cho các chị em nhảy múa giống như tiên nữ, trang điểm cho các anh em đều giống như soái ca, công tử nhà giàu, thì người ta nhìn vào sẽ cảm thấy: “Các người làm vậy là đang phô trương. Đây chẳng phải là có ý đồ xấu sao? Đây chẳng phải là quyến rũ người ta sao?”. Để người ta có những suy nghĩ này thì không tốt rồi. Anh chị em ăn mặc và trang điểm một cách đoan trang đứng đắn, trang nhã đúng mực, tổng thể nhìn vào tuy không thể nói là thanh nhã, nhưng đặc biệt sạch sẽ gọn gàng, trang nhã đúng mực. Người ta nhìn vào thì thấy những người này có diện mạo tinh thần tốt, đích thị là người tin Đức Chúa Trời, và chương trình này làm ra là để làm chứng cho Đức Chúa Trời, chứ không phải thứ oa môn tà đạo. Ngươi thấy đấy, trong chương trình của người ngoại đạo, nếu không phải liếc mắt đưa tình, trao nụ hôn gió, thì cũng là khoe vóc dáng. Trong lúc nhảy múa, ngoài việc bán nghệ ra thì họ còn phô cái vẻ cuốn hút của mình, không có một chút định hướng tích cực nào. Còn những gì chương trình của chúng ta truyền tải hoàn toàn là định hướng tích cực. Người xem chương trình cho dù muốn nảy sinh chút ý nghĩ không đúng đắn cũng không có cơ hội, không có kẽ hở nào để tận dụng. Họ muốn ngắm nghía vóc dáng, dung nhan của những người biểu diễn thì cũng chẳng nhìn rõ, muốn xem ai phô được vẻ cuốn hút của mình thì cũng chẳng nhìn thấy. Họ chỉ nhìn thấy duy nhất một biểu cảm — nụ cười, hoàn toàn là một dáng vẻ đoan trang đứng đắn. Điều chính yếu nhất là chương trình của chúng ta không phải để phô trương hoặc để làm vui lòng ai, mà là để làm chứng cho Đức Chúa Trời, đây là nguyên tắc chính yếu. Ngoài ra, những kiểu dáng trang phục mà chúng ta lựa chọn cho nhóm múa, áo thun, áo hoodie, quần thể thao, có thể khiến người nhảy múa cảm thấy tương đối thoải mái, nhưng một số người trẻ tuổi thì không mấy yêu thích những thứ này. Họ cảm thấy những kiểu dáng này quá thông thường, chỉ là trang phục mặc thường ngày hoặc mặc ở nhà, nhưng đây chính là trang phục đoan trang đứng đắn. Áo thun, áo hoodie, quần thể thao là những kiểu dáng trang phục thoải mái phổ biến nhất hiện nay. Tại sao chúng ta chọn kiểu dáng này? Ta quan sát được rằng từ khi bắt đầu có kiểu dáng trang phục thoải mái này cho đến nay có lẽ ít nhất cũng được mấy chục năm rồi. Hiện nay chúng ta chọn kiểu dáng trang phục này khi làm chương trình là đã tính đến chuyện cho dù trải qua mấy chục năm nữa thì nó cũng không lỗi thời, không lạc hậu. Hơn nữa kiểu dáng này phù hợp với mọi người ở các độ tuổi và tầng lớp xã hội khác nhau, bất kể là dân thường hay người thuộc tầng lớp thượng lưu, hằng ngày họ đều mặc như vậy khi ở nhà. Cộng thêm khi nhảy múa mà mặc trang phục như vậy thì vừa rộng rãi, vừa thuận tiện. Cho nên cuối cùng chúng ta đã chốt trang phục trên sân khấu theo kiểu dáng này. Bất kể người mặc trên sân khấu có thích hay không, tóm lại kiểu dáng này thích hợp để dùng trên sân khấu, tức là người xem và người mặc đều không bới ra được lỗi gì. Cũng có thể người mặc nói rằng: “Những quần áo Ngài chọn cho chúng tôi quá quê mùa, trong cuộc sống hằng ngày tôi tuyệt đối không mặc quần áo như thế này”. Thì Ta nói, Ta không can thiệp việc ngươi mặc gì trong cuộc sống hằng ngày. Cái ngươi mặc và cái ngươi thích đại diện cho con người ngươi, đại diện cho nhân tính và thực chất của ngươi. Ngươi không thích trang phục đơn giản, trang nhã, đoan trang đứng đắn, mà thích trang phục kỳ dị, vậy thì con người ngươi khá lạc loài. Nếu ngươi thích hở ngực lộ lưng, xõa tóc qua vai, đeo kính râm lớn, luôn nhập vai ngôi sao, vậy thì Ta nói rằng ngươi không phải là người của nhà Đức Chúa Trời. Ngươi không thích đoan trang đứng đắn, thì ít nhất ngươi không hợp với con người Ta. Đoan trang đứng đắn, trang nhã đúng mực, đây là nguyên tắc cho việc lựa chọn kiểu dáng trang phục. Vậy về màu sắc trang phục thì nên lựa chọn thế nào? Một số người nói: “Màu trắng đại diện cho sự thánh khiết, màu xanh lá đại diện cho sự sống, màu đỏ đại diện cho sự vui mừng, màu vàng đại diện cho tình bạn, cho nên cứ chọn mấy màu này.” Ta nói, đây thuần túy là nói xằng nói bậy, màu sắc không đại diện cho cái gì cả. Vậy nguyên tắc lựa chọn màu sắc trang phục là gì? Rất đơn giản, chỉ một nguyên tắc: lên hình thì thấy sạch sẽ. Nhất là có một số màu có độ rực, tương đối tươi tắn, có thể người ta hiếm khi mặc trong cuộc sống hằng ngày, nhưng chúng ta lựa chọn những màu sắc này vì hiệu quả sân khấu và hiệu quả thị giác. Một mặt, những màu này tương đối rực rỡ và tươi tắn, nên có hiệu quả sân khấu tốt. Mặt khác đa số những màu này cũng không quá kỳ quái, không có màu nào u tối, không có màu nào khiến người ta nhìn vào là thấy ác cảm, làm như vậy thì video tạo ra sẽ có hiệu quả tốt.
Những điều Ta vừa thông công chính là mấy nguyên tắc để lựa chọn trang phục cho các chương trình múa. Các ngươi đã nhìn thấu được phương diện nào rồi? Các ngươi nói xem, những nguyên tắc mà Ta cân nhắc này có thích hợp không? (Thưa, thích hợp.) Có phải chúng chủ yếu xoay quanh nguyên tắc làm chứng cho Đức Chúa Trời, không làm ô nhục Đức Chúa Trời và đạt được kết quả tốt nhất không? (Thưa, phải.) Có chỗ nào lệch lạc hay cực đoan không? (Thưa, không.) Có chỗ nào thủ cựu không? (Thưa, không.) Không có chỗ nào lệch lạc hay thủ cựu. Vậy thì mấy nguyên tắc lựa chọn trang phục này của chúng ta là theo truyền thống hay theo hiện đại? (Thưa, không theo truyền thống cũng không theo hiện đại. Chỉ cần chương trình chúng ta làm đạt được kết quả làm chứng cho Đức Chúa Trời, vậy là tốt nhất.) Cuối cùng các ngươi cũng hiểu rồi. Mục đích của các chương trình này là để làm chứng cho Đức Chúa Trời, chứ không phải vì điều gì khác. Trong chuyện làm chứng cho Đức Chúa Trời, còn phải cân nhắc đến chuyện không được làm ô nhục Đức Chúa Trời, không được làm mất thể diện nhà Đức Chúa Trời. Đương nhiên, cũng phải cân nhắc đến chất liệu và kiểu dáng của trang phục sao cho người mặc cảm thấy thoải mái. Nghĩa là bất kỳ người nào đoan trang đứng đắn khi nhìn thấy ngươi mặc bộ quần áo đó, đều cảm thấy chấp nhận được, thấy ngươi trông giống người tin Đức Chúa Trời và có thể đại diện cho dân của Đức Chúa Trời, chứ không phải người ngoại đạo, không phải diễn viên hay ca sĩ ngôi sao, chỉ cần nhìn qua thì biết ngay đó là người đoan trang đứng đắn. Vậy từ chuyện này, các ngươi thấy quan điểm của Ta đối với các sự vật, và những nguyên tắc Ta tuân theo trong nhân tính bình thường của Ta có giống với các ngươi không? (Thưa, không giống.) Chắc chắn là không giống. Vậy các ngươi nói xem, nguyên tắc Ta tuân theo có cao siêu, vĩ đại và đẳng cấp không? Có siêu phàm không? Hoàn toàn không cao siêu, vĩ đại và đẳng cấp gì cả, mà vô cùng bình thường. Những nguyên tắc Ta áp dụng và hiệu quả Ta hướng tới khi làm việc đều đặc biệt thực tế, chưa bao giờ phô trương bản thân. Nếu làm theo quan điểm của các ngươi khi lựa chọn trang phục cho chương trình, thì hoặc là truyền thống và thủ cựu, hoặc là chạy theo trào lưu của thế gian. Có người nói: “Bây giờ trên thế gian đang thịnh hành kiểu trang điểm mắt khói, gắn lông mi giả, đeo khuyên mũi, khuyên tai thật to. Chúng ta cũng phải trang điểm cho anh chị em thành trai xinh gái đẹp. Không những quần áo phải lộng lẫy mà cách trang điểm cũng phải kiều diễm, không thua kém diễn viên, ca sĩ ngôi sao của thế gian, hơn nữa còn phải cao cấp và quý phái hơn họ. Người tin Đức Chúa Trời phải tôn quý hơn họ, cứ trang điểm theo hướng đó đi!”. Thế thì tại sao cuối cùng những người đứng trên sân khấu lại không có món đồ lộng lẫy nào trên mình? Bởi vì có Ta ở đây kiểm định. Những thứ bất kể thuộc phái hiện đại hay phái truyền thống đều phải để sang một bên, không có cơ hội “trổ tài” đâu, chúng đều bị Ta chặn đứng rồi. Nếu để các ngươi kiểm định thì các ngươi có cho những người đó cơ hội “trổ tài” không? (Thưa, không.) Tại sao không? (Thưa, nếu cho họ cơ hội thì họ sẽ đi chệch đường, không còn tuân theo những nguyên tắc mà nhà Đức Chúa Trời yêu cầu nữa.) Nếu cho họ cơ hội thì họ sẽ trang điểm cho những người trên sân khấu thành ma quỷ, sẽ đòi làm những chương trình giải trí đang thịnh hành ngoài xã hội, biến những chương trình làm chứng cho Đức Chúa Trời thành những chương trình giải trí nhằm mua vui cho đại chúng, biến con người thành yêu tinh, thành quỷ. Chương trình như vậy còn xem được sao? Khi ấy, chương trình đó sẽ biến chất, không còn là làm chứng cho Đức Chúa Trời nữa, mà là làm ô nhục Đức Chúa Trời, nó đáng bị rủa sả, đáng bị bãi bỏ. Như vậy không còn là làm bổn phận, mà là hành ác rồi. Các ngươi hiểu chưa? (Thưa, đã hiểu.) Ngươi thấy đấy, một chuyện nhỏ như thế mà các ngươi cũng không hiểu. Bây giờ Ta nói thẳng hơn và thông tục hơn một chút thì có người mới chợt bừng tỉnh: “Thì ra là vậy. Giờ mới biết vì sao nhà Đức Chúa Trời lại chọn loại trang phục như thế cho các chương trình múa”. Bất kể ở thời đại nào, nguyên tắc con người nên tuân theo là gì? Chính là lấy lời Đức Chúa Trời làm nguyên tắc trong mọi chuyện. Làm bất kỳ công tác nào hay làm bất kỳ chuyện gì, thì thứ nhất là đem lại sự gây dựng người khác, thứ hai là làm chứng cho công tác của Đức Chúa Trời, chỉ có hai nguyên tắc đó. Cho nên bất kể trong chuyện gì, điều người ta nên tuân giữ chính là hai nguyên tắc này. Vậy sự bình thường và thực tế có trong nhân tính bình thường của Đức Chúa Trời nhập thể cũng không nằm ngoài việc tuân theo những nguyên tắc này. Nguyên tắc là bất biến, không tuân theo truyền thống cũng không chạy theo hiện đại. Trong nhân tính bình thường, nguyên tắc Ta tuân theo chính là làm người và làm việc trong phạm vi của lương tâm và lý trí. Vậy trong công tác của nhà Đức Chúa Trời, Ta tuân theo nguyên tắc nào? Chính là làm chuyện gì cũng đều có ích cho người ta, làm những việc đem lại ích lợi và sự gây dựng cho người ta. Ngoài ra còn là làm công tác làm chứng cho Đức Chúa Trời, tuân theo nguyên tắc làm chứng cho Đức Chúa Trời và loan truyền lời Đức Chúa Trời. Các ngươi nói xem, có phải là vậy không? (Thưa, phải.) Thông công như thế, có phải các ngươi đã hiểu Ta thêm phần nào rồi không? (Thưa, phải.) Nếu Ta không nói tỉ mỉ những chuyện này thì các ngươi sẽ không rõ. Chuyện đơn giản như vậy mà các ngươi cũng dò không thấu. Thực ra, chuyện này chẳng có gì cao sâu cả, rất thực tế, rất bình thường thôi. Bình thường đến mức nào? Đến mức đặc biệt phù hợp với lý tính của nhân tính bình thường. Nghĩa là nếu có lý tính của nhân tính bình thường thì ngươi sẽ hiểu được, còn nếu không có lý tính của nhân tính bình thường thì ngươi sẽ rất khó hiểu được. Ta phải nói rõ ràng, thấu đáo, thẳng thắn, và nói cho rõ, thì ngươi mới biết được chuyện là như vậy. Chuyện đơn giản đến thế, căn bản chưa đến mức của nguyên tắc lẽ thật, vậy mà các ngươi vẫn không nói rõ được. Thế này là sao? Chuyện này có cao thâm khó dò không? (Thưa, không.) Vậy tại sao các ngươi lại không nói rõ được? Xét rộng, thì là vì các ngươi không hiểu lẽ thật. Xét chi tiết, thì là vì nhân tính bình thường và lý tính của các ngươi còn thiếu thứ gì đó và có khiếm khuyết. Hễ nói đến đoan trang đứng đắn thì các ngươi lại bám giữ truyền thống và thủ cựu. Hễ nói đến nhân tính bình thường thì các ngươi lại cho rằng đó là làm người thật thà, như kẻ ngốc. Chẳng phải như thế là các ngươi có tố chất quá kém và không có năng lực lĩnh hội sao? (Thưa, phải.) Chính là vấn đề này. Được rồi, chuyện này nói đến đây thôi.
Một trong những nguyên tắc của Đức Chúa Trời nhập thể khi qua lại và trao đổi với người ta giữa nhân gian là không đả kích. Không đả kích ở đây liên quan đến nguyên tắc trong chuyện đối đãi với người ta hoặc thông công về lẽ thật. Ngoài không đả kích ra, Đức Chúa Trời nhập thể còn có một nguyên tắc nữa trong chuyện đối đãi với người ta, đó là không trả thù. Con người nhìn nhận chuyện trả thù này thế nào? Nếu ai đó bị ức hiếp hoặc bị tổn thương, rồi sau đó phản kích hoặc đánh trả một cách chính đáng, thì đây có phải là chuyện người ta thấy chấp nhận được không? (Thưa, phải.) Nhưng trong mắt Đức Chúa Trời, đây có phải là nguyên tắc để đối đãi với người ta không? (Thưa, không phải.) Trong nhân loại, bất kỳ ai cũng sẽ trả thù, cũng có thể trả thù, ai cũng có bản năng trả thù, có ý đồ và mong muốn trả thù. Nếu có người từng chửi ngươi hoặc làm tổn thương ngươi, thì ngay cả khi hiện tại chưa thể trả thù, ngươi vẫn sẽ tìm cơ hội để trả thù, để cho người đó biết rằng ngươi cũng có tôn nghiêm, không phải người dễ bị ức hiếp, không phải người dễ bị chọc vào, rằng ngươi không phải kẻ ngốc, ngươi có lý trí của nhân tính bình thường, có thể cảm nhận được, phán đoán được. Vậy những suy nghĩ trả thù người khác của ngươi từ đâu mà có? Chúng đến từ lương tâm và lý trí của nhân tính bình thường hay đến từ huyết khí trong tâm tính Sa-tan bại hoại? (Thưa, đến từ huyết khí trong tâm tính Sa-tan bại hoại.) Chuyện này rõ ràng rồi. Nếu một người nào đó bị người khác ức hiếp, chiếm lợi hoặc lừa gạt, khi không có địa vị thì họ không có cơ hội, cũng không có điều kiện để trả thù, nên họ sẽ chôn hết những chuyện này trong lòng, và chúng biến thành một dạng thù hận. Vì có những thù hận này, vì chịu sự đối đãi bất công này, người ta có thể thù hằn xã hội, thù hằn nhân loại và thù hằn mỗi một người mà mình xem là kẻ thù. Khi có địa vị, có điều kiện và có cơ hội rồi, bất kỳ ai cũng có thể làm ra chuyện trả thù, khiến những người từng làm tổn thương mình, từng xem thường mình đều phải chịu sự trả thù của mình và nhận lấy kết cục đáng phải nhận. Họ thấy sống như vậy mới là có khí phách, thấy cuối cùng mình cũng xả được cục tức. Giữa nhân loại, bất kỳ ai làm như vậy cũng sẽ không bị xã hội khiển trách hay bị lương tâm cắn rứt, cho nên người ta cho rằng trả thù không phải là chuyện không chính đáng hay đáng xấu hổ, cũng không đến mức được xem là điều tích cực hay điều tiêu cực. Nhưng từ Thời đại Ân điển cho đến giai đoạn công tác này, trong mọi lời Đức Chúa Trời đã phán, ngươi không thể tìm thấy một lời nào bảo con người trả thù người khác. Đức Chúa Trời chưa bao giờ bảo con người rằng: “Nếu có người làm tổn thương ngươi, có người từng lừa gạt ngươi, thì ngươi nhất định phải trả thù, nhất định phải đáp trả lại họ, mắt đền mắt, răng đền răng”. Trong những nguyên tắc Đức Chúa Trời bảo con người về cách đối đãi với người khác, có chuyện trả thù này không? (Thưa, không có.) Trong Thời đại Ân điển, Đức Chúa Trời bảo con người đối đãi với người khác thế nào? Nhẫn nại, bao dung, có tình yêu thương, còn gì nữa? (Thưa, yêu kẻ thù, ai vả má bên trái thì đưa cả má bên phải.) Còn gì nữa? Tha thứ cho người khác bảy mươi lần bảy. Con số bảy mươi lần bảy chỉ mang tính đại diện, không phải thực sự chỉ có bấy nhiêu lần. Đức Chúa Trời nói như vậy là bảo ngươi tha thứ cho tất cả những ai từng có lỗi với ngươi và số lần tha thứ là vô hạn, đây là một nguyên tắc. Nhẫn nại, bao dung, khiêm nhường, yêu kẻ thù, ai vả má bên trái thì đưa cả má bên phải, còn có tha thứ cho người ta bảy mươi lần bảy, những điều này thường được nhắc đến trong Thời đại Ân điển. Vậy từ những lời này, có thể đúc kết ra nguyên tắc về chuyện đối đãi với người khác không? Nguyên tắc mà Đức Chúa Trời yêu cầu con người trong chuyện đối đãi với người khác là gì? Có mắt đền mắt, răng đền răng không? (Thưa, không có.) Có lấy gậy ông đập lưng ông không? (Thưa, cũng không có.) Có trả thù không? (Thưa, không có.) Những điều này đều không có. Mặc dù mỗi một điều trong những lời Đức Chúa Trời phán vào Thời đại Ân điển đều là một loại hành vi và cách làm cụ thể, nhưng chúng đều là nguyên tắc về chuyện đối đãi với người khác mà Đức Chúa Trời nói cho con người. Vậy trong giai đoạn công tác ở thời kỳ sau rốt này, Đức Chúa Trời bảo con người đối đãi với người khác thế nào? Phải đối đãi công bằng với người khác, phải nhìn vào sở trường và ưu điểm của người ta, đừng nhìn vào thiếu sót và điểm yếu của người ta. Cụ thể còn có gì nữa? Không lừa gạt, không tranh chấp, không đả kích, phối hợp hòa hợp với người khác. Có phải đây đều là nguyên tắc cụ thể cho chuyện đối đãi với người khác không? (Thưa, phải.) Bất kể ở thời đại nào, trong những nguyên tắc cụ thể về chuyện đối đãi với người khác mà Đức Chúa Trời nói cho con người, không có một điều nào bảo người ta trả thù người khác, không có một điều nào nói rằng: “Nếu ai làm tổn thương ngươi thì ngươi làm tổn thương hắn, có người đánh ngươi thì ngươi nhất định phải đánh trả, hắn đánh ngươi một đấm thì ngươi cũng trả lại hắn một đấm, hắn chửi ngươi một câu thì ngươi cũng chửi lại hắn một câu”. Đức Chúa Trời chưa bao giờ phán lời nào như vậy. Đức Chúa Trời bảo ngươi phối hợp hòa hợp với người khác và đối đãi công bằng với người khác. Người đó có thể là người mà ngươi xem thường, có thể là người từng làm tổn thương hoặc lừa gạt ngươi, cũng có thể là người từng đả kích hoặc xét đoán ngươi. Nhưng chỉ cần người đó thật lòng tin Đức Chúa Trời, thì ngươi nên đối đãi công bằng với họ và phối hợp hòa hợp với họ. Đây chính là nguyên tắc, đây là nguyên tắc mà một người có nhân tính bình thường nên có và nên tuân thủ trong chuyện đối đãi với người khác. Người có lương tâm và lý trí của nhân tính bình thường sẽ tiếp nhận những nguyên tắc lẽ thật này và thực hành đối đãi công bằng với người khác. Còn người không có lương tâm và lý trí của nhân tính bình thường mà nghe những lời này thì sẽ xem chúng như một loại đạo lý hoặc giáo điều. Đối với những người không thể tiếp nhận lẽ thật, nếu có ai động chạm đến lợi ích, thể diện, địa vị hoặc tôn nghiêm của họ, thì họ sẽ bộc lộ huyết khí, chẳng những muốn trả thù, muốn đối phương bồi thường, mà còn muốn được bồi thường gấp đôi, càng làm càng quá đáng. Ai từng làm tổn thương họ, ai từng đắc tội với họ, ai từng bất kính hoặc mạo phạm họ, từng có bất kỳ xung đột nào với họ về lời nói, thậm chí về thân thể, thì họ sẽ trả thù gấp bội, đáp trả gấp bội. Họ căn bản không làm được nguyên tắc mà Đức Chúa Trời yêu cầu trong chuyện đối đãi với người khác.
Cũng có rất nhiều ví dụ thực tế liên quan đến chủ đề Đức Chúa Trời nhập thể không trả thù người khác. Đức Chúa Trời yêu cầu nhân loại đối đãi với người khác thì nên tuân thủ nguyên tắc không trả thù người khác này, bởi vì Đức Chúa Trời nhập thể có nhân tính bình thường như vậy, cũng có thực chất nhân tính như vậy trong cuộc sống thực tế và môi trường công tác của Ngài. Có thực chất nhân tính như vậy là nói đến điều gì? Chính là nói đến chuyện Ngài có thể tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc làm người như vậy mà đối đãi với người khác, tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc làm người này mà sống giữa nhân loại và giữa các nhóm người. Chuyện này là bởi Ngài có thực chất sự sống như vậy, cũng bởi có thực chất sự sống như vậy nên Ngài mới có thực tế cuộc sống như vậy. Đức Chúa Trời nhập thể sống giữa mọi người một cách thực tế, Ngài cũng sống một cuộc sống hiện thực có qua lại và trao đổi với người khác, chứ không phải sống trong chân không. Ngài sống trong xác thịt thì không khỏi phải tiếp xúc, trao đổi và qua lại với người khác. Khi giao tiếp và qua lại với nhân loại bại hoại thì Ngài không thể tránh khỏi chuyện chịu sự đối đãi bất công, bị người khác thiếu tôn trọng, bị người khác kỳ thị, bị người khác lừa dối, bị người khác ức hiếp, còn chịu một số sự xét đoán không phù hợp với thực tế. Ta tiếp cận thế nào với những sự đối đãi bất công này? Ta sống ở nhân gian chừng ấy năm, khỏi nói đến những sự đối đãi bất công mà Ta đã chịu giữa người ngoại đạo, chỉ nói đến trong gia đình, trong hội thánh địa phương, giữa mọi lãnh đạo, người làm công cấp trên và các anh chị em bình thường mà Ta có thể tiếp xúc, các ngươi nói xem có phải mỗi một người đều có thể đối đãi công bằng với Ta không? (Thưa, không phải.) Chắc chắn là không phải. Ta cũng giống như các ngươi, Ta từng là một tín đồ bình thường, cũng từng là một thành viên trong gia đình. Khi làm một thành viên trong gia đình, Ta cũng từng chịu đủ mọi sự đối đãi bất công. Trong gia đình, giữa anh chị em với nhau, ai mạnh thế thì có tiếng nói quyết định, ai thật thà và thấu tình đạt lý thì luôn bị ức hiếp, bị đối đãi bất công. Trong ký ức của Ta về gia đình có mấy chuyện đặc biệt. Trong mấy chuyện này, nếu ngươi ngang ngược, bất chấp lý lẽ và càn quấy thì ngươi sẽ không bị ức hiếp, không bị đối đãi bất công. Nhưng nếu ngươi thấu tình đạt lý, và tiếp cận những chuyện này một cách lý tính, thì ngươi lại phải chịu sự ức hiếp. Người ta càn quấy và bất chấp lý lẽ, thì sẽ ngang ngạnh chiếm lợi của ngươi và giở trò vô lại. Ta không biết giở trò vô lại, Ta chỉ biết thấu tình đạt lý và tiếp cận với những chuyện này một cách lý tính, nhưng thấu tình đạt lý thì lại phải chịu sự ức hiếp. Ngươi xem thế gian này đi, bất kể ở trong tập thể nào thì sự công bằng và công chính đều không nắm quyền. Ai biết giở trò vô lại, biết càn quấy, biết nói lý lẽ ngang ngược, thì người đó chiếm thế thượng phong. Ngươi càng thấu tình đạt lý, càng xem trọng công bằng, lương tâm và lý tính thì ngươi càng khó có chỗ đứng, càng bị ức hiếp. Trong gia đình Ta cũng như vậy, Ta bị người trong nhà ức hiếp. Ở hội thánh địa phương cũng có một số người luôn kỳ thị Ta. Ta không đắc tội họ, cũng chưa từng làm tổn thương họ. Chỉ là vì lúc đó Ta còn nhỏ tuổi, biểu hiện tích cực một chút, nhiệt tình một chút, sẵn lòng nhóm họp và sẵn lòng tham gia các hoạt động khác nhau, nên có một số người luôn nhìn Ta một cách thành kiến, ném cho Ta ánh mắt chẳng tốt đẹp gì, lại còn chửi Ta sau lưng, xét đoán Ta, nói đủ thứ lời khó nghe. Sau này, khi Ta đến hội thánh nơi khác, sống cùng các anh chị em địa phương, thì chuyện cũng như vậy. Bất kể Ta làm việc gì cũng có một số người nảy sinh quan niệm, có người thậm chí còn chế giễu Ta, hạ thấp Ta và xét đoán Ta sau lưng. Bất kể chịu những sự đối đãi bất công nào, suốt những năm qua, Ta chưa từng trả thù bất kỳ người nào từng làm tổn thương Ta. Cho dù là người chửi Ta, người xét đoán Ta, thậm chí người nói những lời rất khó nghe về Ta, Ta cũng chưa từng trả thù họ. Không trả thù nghĩa là gì? Trả thù thì có những hành vi nào? Trả thù thì có nhiều loại hành vi và biểu hiện khác nhau. Có kiểu trả thù là vạch trần chuyện xấu trước đây của người ta ngay trước mặt họ, để họ biết hiện giờ Ta có địa vị rồi, biết trước đây họ từng chửi Ta, từng xét đoán Ta thì Ta có tâm trạng thế nào, biết bây giờ Ta có địa vị rồi, Ta mà muốn đối phó và trả thù họ thì quá dễ. Nhưng Ta chưa bao giờ làm như vậy, cũng sẽ không làm như vậy. Tại sao Ta sẽ không làm như vậy? Về chuyện đối đãi với các loại người, trong lòng Ta có nguyên tắc cả. Nếu họ có nhân tính xấu và là kẻ ác, mà họ làm tổn thương Ta, thì đó không phải là chuyện lớn gì. Nhưng nếu họ gây nhiễu loạn hội thánh, làm tổn hại đến lợi ích nhà Đức Chúa Trời, vi phạm sắc lệnh quản trị của hội thánh, vi phạm nguyên tắc của hội thánh, hoặc đi ngược lại sự sắp xếp công tác, thì nhà Đức Chúa Trời có sắc lệnh quản trị, tự nhiên sẽ xử lý họ thôi. Nếu các anh chị em mù quáng, không có sự phân định mà muốn bầu họ làm lãnh đạo, thì Ta sẽ thông công với anh chị em về nguyên tắc bầu chọn lãnh đạo của nhà Đức Chúa Trời. Nếu các anh chị em có sự phân định về họ thì có thể bảo họ rút khỏi cuộc bầu cử, nếu các anh chị em không có sự phân định và đã bầu họ lên, thì cứ để họ làm lãnh đạo thử xem. Một khi chịu khổ đủ rồi, thì các anh chị em tự nhiên sẽ có sự phân định về họ và sẽ bãi miễn họ. Một mặt, chuyện này là để các anh chị em rút ra được bài học, học cách phân định và nhận biết con người. Mặt khác, đây là tuân thủ nghiêm ngặt sắc lệnh quản trị của nhà Đức Chúa Trời và nguyên tắc xử lý các loại người của nhà Đức Chúa Trời. Ngoài ra còn một phương diện quan trọng hơn nữa: nhà Đức Chúa Trời, hội thánh, là nơi Đức Thánh Linh hoạt động, là nơi Đức Chúa Trời nắm quyền, là nhà của Đức Chúa Trời. Nhà của Đức Chúa Trời nghĩa là gì? Nghĩa là lẽ thật nắm quyền, mà lẽ thật nắm quyền nghĩa là lẽ thật định đoạt. Hễ ai đến hội thánh thì đều có kết cục và đích đến thích hợp. Chuyện bất kỳ người nào được giữ lại, rời đi, hay ở lại, bất kỳ người nào ở trong hoàn cảnh nào, và nhà Đức Chúa Trời xử trí họ như thế nào, tất cả đều có thời điểm của Đức Chúa Trời. Họ từng làm tổn thương Ta, đắc tội với Ta, chửi Ta, hoặc từng hãm hại, xét đoán Ta sau lưng, thì trong mắt Ta, những chuyện này đều không bị tính là vi phạm nguyên tắc. Vậy thế nào là vi phạm nguyên tắc? Chính là ngươi làm tổn hại đến lợi ích nhà Đức Chúa Trời và vi phạm sắc lệnh quản trị. Nhà Đức Chúa Trời là nơi lẽ thật nắm quyền. Sớm muộn gì cũng có ngày kẻ ác chịu báo ứng, mỗi người đều sẽ nhận hình phạt đáng phải chịu theo những gì mình đã làm. Xử lý đủ mọi loại người là việc của hội thánh, là công tác mà những lãnh đạo và người làm công nên làm, không cần Ta trực tiếp làm, đây là nguyên tắc của Ta khi tiếp cận với loại chuyện này. Đối với bất kỳ người nào, bất kể trước đây họ từng làm gì, nói gì với Ta, hoặc cung kính hoặc xúc phạm, hoặc phù hợp hoặc không phù hợp, Ta đều có thể đối đãi công bằng. Chỉ cần ngươi sống đời sống hội thánh trong nhà Đức Chúa Trời, hoặc nếu ngươi tin Đức Chúa Trời chưa lâu và chưa hiểu lẽ thật, Đức Thánh Linh cũng chưa công tác đến mức đó, thì ngươi vẫn có thể ở lại trong nhà Đức Chúa Trời. Chưa đến lúc cuối cùng để tuyên bố kết cục của người ta thì Ta có thể chờ đợi. Ta sẽ không lấy thái độ của ngươi đối với một mình Ta làm chứng cứ đầy đủ để quy định kết cục của ngươi. Vì vậy, đối với bất kỳ người nào từng làm tổn thương Ta, Ta đều không trả thù, đều đối đãi với họ theo nguyên tắc.
Khi Ta tiếp xúc với một số người trong hội thánh, có người nói chuyện với Ta không được lễ độ và không có sự tôn trọng. Thấy họ có thái độ như vậy với Ta thì Ta phớt lờ họ. Các ngươi nói xem, Ta phớt lờ họ có phải là Ta có thái độ không tốt đối với họ không? (Thưa, không phải.) Vậy Ta có nên vì chuyện này mà tỉa sửa và sửa dạy họ không? Ta thực sự chưa từng làm chuyện như vậy. Kết quả là có một số anh chị em thấy chướng mắt, lên tiếng bênh vực Ta, nói rằng: “Sao người này lại có thái độ như vậy khi nói chuyện với Đức Chúa Trời? Hãy thanh lọc họ đi!”. Các anh chị em rất căm phẫn, dựa vào biểu hiện nhất quán của họ mà thanh lọc họ theo nguyên tắc. Thấy mọi người đã thanh lọc họ đi rồi, trong lòng Ta biết: “Xem ra biểu hiện về nhân tính của người này thường ngày cũng chẳng ra gì. Các anh chị em sẽ không xử lý họ chỉ vì họ có thái độ không tốt với Ta, xem ra biểu hiện của người này trong hầu hết mọi chuyện đều không tốt”. Hội thánh xử lý họ là làm việc theo nguyên tắc, Ta không có gì để nói. Ta tôn trọng phương án xử lý của các anh chị em, tôn trọng quyết định của các anh chị em. Nhưng Ta tôn trọng như vậy không phải vì các ngươi đã xử lý một người không khách khí với Ta, mà là Ta tôn trọng nguyên tắc xử lý con người của hội thánh. Các ngươi nói xem, nguyên tắc này của Ta trong chuyện đối đãi với người ta có đúng không? (Thưa, đúng.) Trong chuyện đối đãi với người ta, đối với những người trước đây từng xét đoán Ta hoặc chửi Ta, Ta chưa bao giờ bảo lãnh đạo hội thánh địa phương xử lý họ cả. Ngược lại, nếu hội thánh địa phương đề bạt và bầu chọn một vài người cá biệt trong số đó làm người chỉ huy công tác rao truyền phúc âm hoặc làm lãnh đạo, người làm công, thì Ta đều không cản trở, Ta cho họ cơ hội. Nhất là một số người trong hội thánh ở quê nhà của Ta, họ nên làm bổn phận gì thì vẫn làm bổn phận đó. Ta chưa từng ủy quyền cho bất kỳ ai trả thù những người từng làm tổn thương Ta hoặc đắc tội với Ta, Ta chưa từng làm một chuyện nào như vậy. Trong lòng Ta nghĩ thế nào? Ta nghĩ: Nếu họ thực sự mưu cầu lẽ thật và đã có sự biến đổi trong tâm tính, thì họ có hy vọng được cứu rỗi. Những lời khó nghe trước đây họ từng nói với Ta đều là vấn đề về nhân tính, là do tâm tính bại hoại gây ra. Lúc đó, mọi người đều không hiểu lẽ thật, đều có tâm tính hung ác, khó tránh khỏi việc nói ra những lời khó nghe hoặc làm ra những chuyện không thích hợp với những ai mà mình xem thường. Nhất là khi những người mà họ đố kỵ hoặc xem thường lại được đề bạt, thì trong lòng họ liền nảy sinh sự ghen tị, đố kỵ và căm ghét, tâm tính bại hoại liền chi phối họ và thúc đẩy họ hành động, rồi đương nhiên họ sẽ nói ra những lời của quỷ. Chuyện này là do tâm tính bại hoại và dã tâm, dục vọng của họ gây ra. Cộng thêm chuyện người ta không có chút lòng kính sợ Đức Chúa Trời nào, lời khó nghe nào cũng có thể nói ra, lời nào nói ra khiến mình hả giận, giải hận và có thể giúp mình đạt được mục đích thì họ nói lời đó. Bất kể người ta từng nói những lời khó nghe nào, từng làm những việc xấu nào sau lưng Ta, nếu chúng nằm trong phạm vi bộc lộ tâm tính bại hoại bình thường và là điều Đức Chúa Trời có thể tha thứ, thì bởi vì Đức Chúa Trời tể trị hết thảy, Ngài sẽ cho họ cơ hội, để họ được đề bạt, được bồi dưỡng, được sử dụng, thậm chí có người còn có thể được làm cho hoàn thiện. Nhưng nếu những sự bộc lộ này vượt quá phạm vi tâm tính bại hoại của nhân tính bình thường và bị Đức Chúa Trời định tội, thì bởi vì Đức Chúa Trời dò xét hết thảy, nên Đức Chúa Trời sẽ làm gì với họ, hoặc sẽ an bài, xử trí họ như thế nào, thì cứ tùy theo Đức Chúa Trời, Ta không cần phải lao tâm về chuyện này, cũng không cần nhúng tay vào. Cho nên khi chịu một số sự đối đãi bất công hoặc nghe thấy những lời đả kích và lên án mình, thì trong lòng Ta sẽ có chút đau buồn hoặc khó chịu, nhưng Ta sẽ không hành động trái nguyên tắc. Ta chẳng những ghi nhớ những chuyện này, mà còn tiến thêm một bước nữa, tìm hiểu thực chất nhân tính bộc lộ trong hành vi của những người này là gì. Nhưng về chuyện hết thảy hành vi và sự bộc lộ này của họ, cùng nhân tính của họ hoặc thực chất tâm tính của họ cuối cùng sẽ bị quy định thế nào, cuối cùng kết cục của họ là gì, thì Ta chỉ có một phương án xử lý thôi, chính là giao hết cho Đức Chúa Trời. Bởi vì Đức Chúa Trời tể trị hết thảy, số phận của mỗi một người đều nằm trong tay Đức Chúa Trời nắm giữ, và Đức Chúa Trời tể trị số phận của nhân loại, Ta không định đoạt kết cục của bất kỳ ai trong các ngươi. Mặc dù Ta có thể nhìn thấu, trong lòng Ta có thể định nghĩa, có thể định đoạt mọi chuyện này, trong lòng Ta cũng có thể có ý kiến về ngươi, nhưng Ta chưa bao giờ công khai xác định tính chất ngươi, Ta không làm như vậy. Nếu hội thánh muốn xử lý ngươi, Ta có thể đưa ra ý kiến, nhưng Ta không nhúng tay vào, không cản trở hội thánh xử lý ngươi, đồng thời Ta cũng không can thiệp vào sự tể trị của Thần của Đức Chúa Trời trên ngươi. Ta đối đãi với người ta dựa trên những nguyên tắc này, cho nên những người từng qua lại với Ta trước đây từng làm chuyện bất công nào với Ta, từng nói lời khó nghe nào với Ta, thì chúng chỉ dừng ở chỗ Ta thôi, không đi xa hơn chút nào nữa. “Không đi xa hơn chút nào nữa” nghĩa là gì? Nghĩa là ai từng nói lời khó nghe nào với Ta, ai từng ức hiếp Ta, ai từng sỉ nhục Ta, ai từng làm tổn thương Ta, những chuyện này Ta chưa bao giờ nhắc đến với bất kỳ ai, càng chưa bao giờ trả thù họ. Một số người nói: “Đã nhiều năm rồi, có phải Ngài đã quên những người này rồi không?”. Trong cuộc đời mỗi người luôn có một số chuyện khiến người ta ghi khắc sâu sắc, mãi mãi không quên. Về những chuyện này, không phải là Ta đã quên, cũng không phải là Ta không cảm nhận được, càng không phải là Ta không hiểu. Ta có thể làm được việc không ghi hận, không trả thù là bởi vì trong lòng Ta không có những thứ như ghi hận hay trả thù, điều này đã trở thành nguyên tắc của Ta trong chuyện đối đãi với người ta rồi. Một trong những nguyên tắc này chính là đối đãi với bất kỳ ai đều phải công bằng. Số phận của nhân loại nằm trong tay Đức Chúa Trời nắm giữ, kết cục và đích đến của bất kỳ người nào đều liên quan đến những gì họ làm, những gì họ biểu hiện, thái độ của họ đối với lẽ thật và Đức Chúa Trời, cũng như con đường họ đi - do những nhân tố này quyết định. Những gì bất kỳ người nào làm với Ta không phải là một tiêu chuẩn hay nhân tố để cân nhắc kết cục và đích đến của họ. Cho nên, nói đến chuyện không trả thù, thì điều chính yếu nhất là Ta có nguyên tắc của Ta trong chuyện đối đãi với các loại người khác nhau. Nếu ngươi từng làm tổn thương Ta, từng hãm hại Ta, lừa gạt Ta, thậm chí từng sỉ nhục Ta, nguyền rủa Ta, thì Ta đều không dùng cách thức trả thù để đối đãi với ngươi. Bởi vì trả thù không phải là nguyên tắc của Ta trong chuyện đối đãi với người ta, cũng không phải nguyên tắc mà Đức Chúa Trời dạy cho con người về chuyện đối đãi với người khác. Do đó, trước khi nói cho con người biết nguyên tắc đối đãi với người khác như thế nào, Đức Chúa Trời cũng có nguyên tắc của riêng Ngài trong chuyện đối đãi với người ta. Trong lời Đức Chúa Trời và trong mọi nguyên tắc Đức Chúa Trời dạy cho con người, đều không có nguyên tắc trả thù người khác. Các ngươi xem, có phải là vậy không? (Thưa, phải.) Nguyên tắc của Ta để xử lý mọi loại chuyện và đối đãi với mọi loại người thì có xung đột với những nguyên tắc lẽ thật mà Ta đã thông công trong những năm qua không? (Thưa, không xung đột.)
Đức Chúa Trời nhập thể khi ở trong nhân tính bình thường thì có thể làm được chuyện không trả thù, vậy nhân loại bại hoại có dễ làm được chuyện không trả thù hay không? (Thưa, không dễ.) Tại sao không dễ? (Thưa, nhân loại bại hoại khi qua lại với người khác thì phần nhiều đều dựa vào tâm tính bại hoại và huyết khí, nên rất dễ trả thù người khác.) Nhân loại bại hoại có tâm tính hung ác, cho nên họ không đạt được chuyện không trả thù. Họ cũng biết nguyên tắc đối đãi với người khác mà Đức Chúa Trời nói cho con người là gì, nhưng họ không làm được, bởi vì họ có tâm tính hung ác. Ngay cả khi ngươi không có ý làm tổn thương họ trong lúc nói chuyện, nhưng chỉ lỡ lời một câu mà làm tổn thương họ, thì họ liền thẹn quá hóa giận và muốn trả thù ngươi. Họ còn làm quá chuyện đó lên để đả kích ngươi, bôi nhọ và phỉ báng ngươi sau lưng, nói xấu ngươi với người khác, nói ngươi có dã tâm thế nào, gian manh thế nào, nhưng sự thật lại hoàn toàn đâu phải như vậy. Ngươi chỉ vô ý nói một câu làm tổn thương họ, chứ không có ác ý, thế mà họ có thể trả thù ngươi. Ngươi thấy đấy, tâm tính hung ác của loại người này có đáng sợ không? (Thưa, đáng sợ.) Còn có người vì trả thù người ta mà có thể bất chấp lý lẽ, giở trò vô lại, thậm chí còn lăn lộn ầm ĩ và càn quấy, như vậy là không hợp nguyên tắc. Thường thì nhân loại bại hoại đều làm như vậy, đúng không? Nếu Ta gặp chuyện bị người ta trả thù thì Ta làm thế nào? Bất kể người khác đối đãi với Ta thế nào, Ta đều không trả thù người ta, Ta cũng không giở trò vô lại. Bất kể trong thời điểm nào, nguyên tắc làm người của Ta đều không thể thay đổi. Ta phải biết lý lẽ, phải làm người và hành động trong phạm vi lý tính của nhân tính. Ta không thể vì ngươi không có lý tính, không có nhân tính, mà Ta cũng dùng cách làm không có nhân tính để trả thù ngươi, như vậy là không thích hợp. Ta phải giữ vững công tác thuộc chức phận của Ta, giữ vững nguyên tắc làm người của Ta. Ta sẽ không vì ngươi không có nhân tính và không làm những chuyện của con người mà từ bỏ nguyên tắc làm người của Ta. Ta nên làm người thế nào thì vẫn làm người thế ấy, nguyên tắc làm người của Ta là bất biến. Trong gia đình, Ta cũng làm như vậy, những việc như rửa nồi rửa bát, dọn dẹp nhà cửa, quét dọn vệ sinh, cho dù người khác có càn quấy, có ngang ngược và bất chấp lý lẽ đến đâu, Ta nên làm thế nào thì vẫn làm thế ấy, chưa bao giờ vì chịu sự đối đãi bất công mà trả thù người ta. Cuối cùng trong mắt cha mẹ, Ta được gọi là gì? Cha mẹ bảo là Ta có tâm hồn cao thượng. Đến bây giờ Ta vẫn nhớ rất rõ câu nói này. Đây là nguyên tắc của Ta trong chuyện đối đãi với người ta, đến bây giờ vẫn không thay đổi. Ta không chỉ làm như vậy trong gia đình, mà sau này, khi đến các hội thánh khác nhau và tiếp xúc với các anh chị em, nguyên tắc này của Ta cũng không thay đổi. Các ngươi nói xem, chuyện này có phải do thực chất nhân tính quyết định không? (Thưa, phải.) Các ngươi có thể đạt đến chuyện này không? (Thưa, không thể.) Khó, đúng không? Có vắt kiệt sức lực, ngươi cũng không thể đạt đến. Người ta cứ phải tranh mặt mũi, cứ phải tranh luận xem ai có lý, nhưng lại quên mất ranh giới và nguyên tắc làm người, chưa bao giờ có ai tuân thủ ranh giới và nguyên tắc làm người. Tại sao không có ai tuân thủ? Bởi vì sự sống bên trong con người không có nhân tính bình thường và không có nguyên tắc. Sự sống của con người là tâm tính bại hoại, là thứ đến từ Sa-tan. Bất kể ngươi làm việc gì, thì nguyên tắc chi phối và chỉ dẫn hành vi của ngươi luôn mãi đến từ tâm tính bại hoại. Bất kể ngươi nói lý lẽ gì, bất kể căn cứ cho hành động của ngươi là gì, thì chúng đều đến từ tâm tính bại hoại. Cho nên, nhân loại bại hoại mà muốn làm được việc qua lại với người khác theo nguyên tắc thì quá khó. Ngươi xem, những chuyện trong cuộc sống mà Ta nói đến, có phải nghe rất bình thường không? Nhưng giữa nhân loại bại hoại, làm như vậy lại được xác định tính chất là tâm hồn cao thượng. Nghĩa là người bình thường không có và không thể đạt đến tâm hồn cao thượng này, chuyện khiêm nhường lại càng không có. Họ căn bản không thể đạt đến việc qua lại với người khác theo nguyên tắc, bởi vì trong nhân tính bại hoại không có những điều này. Không phải là họ không giữ được nguyên tắc, mà là họ không có nguyên tắc. Bất kể nói chuyện, làm việc hay gặp phải chuyện gì, tâm tính bại hoại của ngươi đều bộc lộ ra. Sở thích, tình cảm, hứng thú, hư vinh, thể diện, danh lợi, địa vị, dã tâm và dục vọng cá nhân, thậm chí lòng muốn trả thù và trừng trị người khác của ngươi đều bộc lộ ra hết. Những thứ này làm chủ, chi phối lời nói và hành động của ngươi, như vậy cho thấy những tâm tính bại hoại này đã chiếm hết lòng ngươi rồi. Cho nên khi gặp chuyện bị thiệt thòi, ngươi không nuốt trôi được cục tức này, nhất định phải tranh cao thấp, hơn thua với người ta mới chịu. Cuối cùng thì sao? Để giành lại thể diện, để giành lại mặt mũi, để bảo vệ lợi ích của mình, ngươi có thể vượt qua ranh giới của lương tâm, phát điên đến mức bệnh hoạn mà tranh với đối phương, đấu với đối phương, thậm chí trả thù người ta theo kiểu không từ thủ đoạn và không có ranh giới. Khi trả thù thì ngươi chửi đến mức đỏ cả mắt, càng chửi càng thấy chưa hết hận, càng chửi càng giận, càng chửi càng thù hận sâu sắc, rồi ngươi sẽ động thủ. Một khi động thủ rồi thì đã kết thành thù hận, không thể cứu vãn và không còn đường lùi nữa rồi. Cho nên, chuyện trả thù về cơ bản là thứ riêng biệt của nhân loại bại hoại. Ngươi có thể trả thù người ta thì chứng tỏ lương tâm và lý trí của ngươi không kiểm soát được bản thân ngươi. Hơn nữa, có một số người căn bản không có lương tâm và lý trí. Cho nên khi gặp chuyện gì, chỉ cần nó làm tổn hại đến lợi ích của ngươi hoặc làm tổn thương thể diện của ngươi, thì ngươi chẳng những không thể đối đãi dựa theo nguyên tắc, mà còn không từ thủ đoạn để trả thù người ta, vượt qua ranh giới của lương tâm, vượt qua ranh giới của đạo đức mà trả thù người ta, thậm chí còn cho rằng mình trả thù là cực kỳ có lý. Ngươi cứ luôn dùng việc ác để thay thế nguyên tắc lẽ thật và thay thế nguyên tắc làm người, sống thể hiện ra bộ mặt và dáng vẻ của quỷ, vậy mà ngươi còn cảm thấy mình thắng rồi, chiếm được lợi rồi. Thực ra Đức Chúa Trời nhìn nhận chuyện này thế nào? Dạng hành vi nào và cách làm người nào là điều tích cực trong mắt Đức Chúa Trời, là điều được Đức Chúa Trời công nhận? Đây mới là điều then chốt nhất và quan trọng nhất. Nhìn bề ngoài, có những người vì rất lanh lợi, giỏi ăn nói, biết bảo vệ hư vinh và thể diện của mình, biết tìm cơ hội trả thù người khác, biết càn quấy và giở trò vô lại, cho nên gặp chuyện gì họ cũng không chịu thiệt, còn có thể hưởng sự an nhàn và không chịu bất kỳ đau khổ nào. Ai chọc giận họ, làm tổn thương họ, thì họ đều có thể đánh trả, vừa giành được thể diện vừa giành được lợi ích thực tế, không bao giờ để thể diện của mình chịu tổn hại. Nhưng họ chẳng bao giờ tiếp nhận lẽ thật, chẳng bao giờ đối đãi với người ta theo nguyên tắc, thậm chí còn có thể hành động vượt quá ranh giới của lương tâm và đạo đức. Trả thù người ta và làm người ta tổn thương để bảo vệ thể diện và lợi ích của mình, đây đều là việc ác trong mắt Đức Chúa Trời. Tuy ngươi bảo vệ được hư vinh và thể diện của mình, cũng giữ được lợi ích xác thịt của mình, nhưng ngươi chẳng bao giờ làm người và đối đãi với người khác theo nguyên tắc được Đức Chúa Trời dạy, vậy trước mặt Đức Chúa Trời, Ngài nhìn nhận thế nào? Trước mặt Đức Chúa Trời, ngươi chưa bao giờ nhận được sự khen ngợi của Ngài. Ngươi quá lanh lợi, quá giỏi tính kế rồi. Ngươi tranh thể diện, tranh lợi ích thực tế, tranh lợi ích cá nhân, tranh chút mặt mũi. Để bảo vệ hư vinh và thể diện, ngươi chẳng bao giờ để vào lòng những nguyên tắc làm người Đức Chúa Trời dạy ngươi, cũng chẳng bao giờ tuân thủ chúng. Cho nên, nhìn bề ngoài, thì có một số người không chịu chút tổn thất lợi ích xác thịt nào, dường như họ sống đặc biệt thành công, đặc biệt tuyệt vời, đặc biệt có thể diện, nhưng lẽ thật mà Đức Chúa Trời muốn ban cho nhân loại làm sự sống ở trong lời Ngài thì họ chẳng có chút nào, họ không đạt được điều này. Họ cũng không có ngộ tính, họ ngộ không ra và hiểu không được điều này. Đây chẳng phải sự sống người ta chịu tổn thất sao? (Thưa, phải.) Họ không đạt được lẽ thật, sự sống chịu tổn thất, Đức Chúa Trời không ban phúc cho họ, vậy mà họ còn cảm thấy mình khá thông minh, còn cảm thấy mình chẳng mất mát gì. Dạng người này là ngu xuẩn nhất!
Từ nguyên tắc của Đức Chúa Trời nhập thể trong chuyện đối đãi với người ta, có phải các ngươi lại hiểu thêm được một chút về cách Ta làm người trong cuộc sống thường nhật không? (Thưa, phải.) Vậy về chuyện cần tuân thủ nguyên tắc gì khi đối đãi với người ta, có phải các ngươi cũng đã hiểu rõ hơn một chút rồi không? (Thưa, phải.) Ngay cả khi có người cảm thấy ngươi là người yếu đuối, nhu nhược, dễ ức hiếp, và ngươi có thể cảm nhận được rằng họ nghĩ như vậy, họ cũng đối đãi với ngươi như vậy, nhưng ngươi vẫn có thể tuân thủ nguyên tắc đối đãi công bằng với người ta. Nếu có thể giúp thì ngươi thông công lẽ thật để giúp họ, nếu họ không phải là người tiếp nhận lẽ thật, cũng không phải là người yêu thích điều tích cực, thì ngươi vẫn có thể dựa theo nguyên tắc mà đối đãi với họ một cách đúng đắn. Bất kể vào lúc nào, xét từ phương diện tổng thể, Ta đều tin chắc rằng Đức Chúa Trời tể trị hết thảy, tể trị số phận của nhân loại. Trong lòng Ta chắc chắn rằng số phận của nhân loại, số phận của mỗi một người đều nằm trong tay Đức Chúa Trời, không một người nào có thể thoát khỏi sự tể trị và sắp đặt của Đức Chúa Trời, cũng không một người nào có thể thoát khỏi sự dò xét của đôi mắt Đức Chúa Trời. Xét từ phương diện nhỏ hơn, thì nhà Đức Chúa Trời là nơi lời Đức Chúa Trời nắm quyền, là nơi lẽ thật nắm quyền. Nói cụ thể hơn nữa, nhà Đức Chúa Trời có sắc lệnh quản trị, hội thánh có quy định và mỗi thời kỳ đều có sự sắp xếp công tác. Khi đối đãi với các loại người, nhà Đức Chúa Trời sẽ làm hết sức để xử lý họ theo nguyên tắc lẽ thật, không bỏ sót bất kỳ ai đáng bị thanh trừ, đáng bị xử lý. Kẻ địch lại Đấng Christ, kẻ ác, kẻ chẳng tin, người không yêu thích lẽ thật, người có nhân tính kém, người không mưu cầu lẽ thật, họ đều là những đối tượng bị đào thải trong mắt Đức Chúa Trời. Những người này sớm muộn gì cũng sẽ bị đào thải và thanh trừ. Còn những người thực sự mưu cầu lẽ thật, ít ra là những người cam lòng phục vụ Đức Chúa Trời và có nhân tính tạm chấp nhận được, thì sẽ tiếp tục làm bổn phận của loài thọ tạo trong nhà Đức Chúa Trời. Thế giới nhân loại thì có Đức Chúa Trời tể trị, về phần hội thánh thì nhà Đức Chúa Trời có quy định quản trị và nguyên tắc lẽ thật. Cho nên trong chuyện đối đãi với người ta thì cứ căn cứ vào hai nguyên tắc này. Phương diện này đã rõ rồi phải không? (Thưa, đã rõ rồi.) Còn về chuyện tiếp xúc và qua lại với những người nào đó trong cuộc sống, nếu gặp phải một số chuyện không vui hoặc có người nói chuyện mà không đồng quan điểm với Ta, thì Ta cũng sẽ đối đãi một cách đúng đắn. Nếu sau đó Ta ngẫm nghĩ, phản tỉnh, và xác minh chuyện này, rồi xác định là ngươi nói đúng, thì Ta sẽ tiếp nhận, nếu ngươi nói không đúng, Ta cũng sẽ đối đãi với ngươi theo nguyên tắc. Nếu trong quá trình Ta qua lại với ngươi mà chúng ta có va chạm, có mâu thuẫn hay là có chuyện không vui, mà chuyện đó lại liên quan đến lẽ thật, liên quan đến công tác của hội thánh, liên quan đến tâm tính bại hoại của cá nhân ngươi, thì khi có cơ hội, Ta sẽ thông công với ngươi, để ngươi hiểu lẽ thật và thấy rõ vấn đề tồn tại nơi mình. Nếu Ta không có cơ hội hoặc không cần thiết phải thông công với ngươi, nhưng bản thân ngươi sẵn lòng tìm kiếm thì ngươi có thể tìm kiếm. Nếu tâm tính ngươi khá kiêu ngạo hoặc ngươi nói năng vô lễ ngay trước mặt Ta và mạo phạm Ta, thì ngươi cứ yên tâm, Ta sẽ đối đãi với ngươi theo nguyên tắc. Ta tuyệt đối sẽ không vì ngươi mạo phạm Ta hoặc từng mạo phạm Ta, mà tỉa sửa ngươi một trận, Ta không làm chuyện như vậy. Nếu ngươi mạo phạm Ta, thì Ta phải xem ngươi cố ý hay vô ý. Nếu ngươi vô ý, Ta sẽ coi như chuyện đó chưa từng xảy ra, Ta coi như ngươi ngu muội, không có lý tính, nói mà không suy nghĩ, nói xong cũng không biết lời mình nói có tính chất gì, không biết mình đang nói gì, chỉ là nói nhăng nói cuội thôi. Còn nếu ngươi cố ý, thì Ta phải thông công và thảo luận chuyện này với mọi người, để xem ngươi chỉ có cách nghĩ và cách làm này đối với một mình Ta, hay là đối với nhiều người, đối với hội thánh và nhà Đức Chúa Trời, ngươi đều có ý thù địch như vậy, Ta phải tìm hiểu cụ thể đây là trường hợp nào. Nếu ngươi chỉ có ý thù địch với một mình Ta, thì Ta sẽ quan sát ngươi, trước hết cho ngươi cơ hội hối cải, còn phải xem rốt cuộc ngươi là loại người nào. Nếu ngoài có ý thù địch với Ta, ngươi còn thù địch với nhà Đức Chúa Trời, với hội thánh, với tất cả các anh chị em, luôn muốn xem nhà Đức Chúa Trời trở thành trò cười, cũng luôn muốn xem Ta trở thành trò cười, nếu lúc con rồng lớn sắc đỏ và giới tôn giáo tung tin đồn bịa đặt về Ta mà ngươi vỗ tay tán thưởng, hơn nữa còn lan truyền những lời đó giữa các anh chị em, cố ý phỉ báng Ta và mê hoặc các anh chị em, thì Ta cũng sẽ hành động theo nguyên tắc. Ta sẽ không trả thù ngươi, Ta sẽ xử lý ngươi theo sắc lệnh quản trị của nhà Đức Chúa Trời, công bằng và hợp lý. Ta sẽ bảo các lãnh đạo và người làm công tra sắc lệnh quản trị, bảo người được Đức Thánh Linh sử dụng phân định và xử lý chuyện này, cuối cùng xử lý thế nào thì Ta giao cho hội thánh, giao cho nhà Đức Chúa Trời. Ta làm việc theo nguyên tắc, ngươi cứ yên tâm, Ta đối đãi với người ta thì tuyệt đối công bằng. Nếu họ là người tốt thật lòng tin Đức Chúa Trời và mưu cầu lẽ thật thì họ nhất định sẽ được giữ lại trong nhà Đức Chúa Trời. Nếu họ là kẻ ác, có ý thù địch với nhà Đức Chúa Trời và Đức Chúa Trời, là kẻ thuộc về Sa-tan, là ác ma, thì nhà Đức Chúa Trời tuyệt đối sẽ không tha cho một ai. Hiểu rồi chứ? (Thưa, đã hiểu.) Nếu ngươi thuộc loại kẻ địch lại Đấng Christ, kẻ ác, ác ma hoặc sai dịch của Sa-tan, thì Ta cũng sẽ hành động theo nguyên tắc, Ta sẽ không đổ oan cho ngươi. Ta phải tìm hiểu xem ngươi vô ý mạo phạm Ta, hay là ngươi có ý kiến và cách nhìn nhận tiêu cực về Ta, vì tướng mạo của Ta không bắt mắt, bề ngoài thì phổ thông và bình thường, không cao lớn, cũng không có bối cảnh gì, xuất thân thấp kém và chỉ là một người thông thường, nên ngươi coi thường Ta, liên tiếp xúc phạm Ta và nói những lời bất kính, hay là ngươi có ý nghĩ không tốt và có ý thù địch đối với toàn bộ hội thánh và nhà Đức Chúa Trời. Ta phải tìm hiểu rõ về ngươi. Sau khi ngươi mạo phạm Ta, Ta phải xem khi ở sau lưng mọi người, ngươi có thái độ thế nào đối với hội thánh, đối với các anh chị em, đối với bổn phận và đối với các công tác khác nhau của nhà Đức Chúa Trời. Khi đã hiểu chính xác rồi, Ta sẽ xử lý ngươi theo nguyên tắc, tuyệt đối sẽ không đổ oan cho ngươi, ngay cả khi ngươi bị thanh trừ thì cũng không phải là chịu oan, nhà Đức Chúa Trời tuyệt đối sẽ xử lý chính xác. Nhưng trước khi xử lý ngươi, Ta tuyệt đối sẽ không nói một cách chủ quan: “Thanh trừ họ ra khỏi hội thánh!”. Ta tuyệt đối không làm chuyện như vậy. Ta chiếu theo trình tự của nhà Đức Chúa Trời mà tìm hiểu, điều tra, xử lý và giải quyết chuyện này, cuối cùng làm sao cho mọi người đều công nhận rằng chuyện này được xử lý hợp nguyên tắc. Các ngươi có thể nhìn vào những người bị tước bổn phận, bị xử lý, bị thanh trừ, và xem cách nhà Đức Chúa Trời xử lý họ có liên quan gì đến thái độ của họ đối với Ta hay không. Ngoài ra, có một số người tin Đức Chúa Trời đã mấy năm mà nói chuyện với Ta vẫn như người ngoại đạo, Ta nghe mà cảm thấy chán ghét trong lòng, nhưng Ta không tỉa sửa họ ngay trước mặt, cũng chưa từng trừng trị họ. Còn có một số người trẻ tuổi ngông cuồng, nói chuyện với ai cũng giở giọng “Này, này”, không biết lớn nhỏ, giống như người chẳng biết lễ phép là gì, Ta cũng chưa từng tỉa sửa họ, Ta chưa từng làm những chuyện như vậy. Tóm lại, bất kể các ngươi đã tin Đức Chúa Trời trong thời gian dài hay ngắn, có nền tảng hay chưa, bất kể nhân tính của các ngươi thế nào, bất kể các ngươi làm bổn phận gì, cũng bất kể Ta tiếp xúc và qua lại với các ngươi chỉ một lần hay nhiều lần, thì ít nhiều Ta đã nắm rõ và có cái nhìn về thực chất bản tính của các ngươi, thậm chí Ta còn xác định tính chất một số người cá biệt. Chuyện Ta có cái nhìn và nắm rõ thì không liên quan đến kết cục, nhưng chuyện Ta xác định tính chất họ thì liên quan đến kết cục của họ. Họ có dạng biểu hiện và sự bộc lộ như vậy, thì Ta đã có nguyên tắc để đối đãi với họ và đã xác định tính chất họ. Mặc dù Ta có nguyên tắc và đã xác định tính chất, nhưng các ngươi có thấy Ta xử lý người nào chưa? Ta chưa từng xử lý ai, Ta chờ sự tể trị và sự an bài của Đức Chúa Trời. Ngoài ra, những chuyện này Ta đều giao cho hội thánh, hội thánh sẽ xử lý họ theo nguyên tắc. Các ngươi xem nguyên tắc của Ta trong chuyện đối đãi với người ta thế nào? (Thưa, phù hợp với nguyên tắc lẽ thật, tức là hết thảy đều do Đức Chúa Trời tể trị và an bài.) Đúng vậy, hết thảy đều do Đức Chúa Trời tể trị và an bài, hết thảy đều để Đức Chúa Trời tể trị và an bài. Nguyên tắc của phương diện này cũng liên quan đến việc thuận phục lẽ thật, thuận phục sự sắp đặt và an bài của Đức Chúa Trời. Ngươi không những phải có ý thức và thái độ như vậy, mà còn phải làm như vậy và thực hành như vậy.
Đức Chúa Trời nhập thể có sự sống của Đức Chúa Trời, có thực chất thần tính làm sự sống. Nguyên tắc, quan điểm, cách thức và phương pháp của Ngài khi làm mọi việc, trước hết đều không thể trái với nguyên tắc lẽ thật. Bất kể tính cách và phương thức biểu đạt của nhân tính bình thường của Ngài thế nào, bất kể Ngài sống giữa tập thể nào, tóm lại nguyên tắc Ngài tuân theo trước hết là không thể trái với nguyên tắc lẽ thật, là phù hợp với sự sống của Đức Chúa Trời và phù hợp với thực chất của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời nhập thể dạy các ngươi làm người thế nào, thì trước hết bản thân Ngài chính là người như vậy, vì Ngài sống thể hiện ra như vậy và có thực chất như vậy, thì Ngài mới có thể dạy các ngươi làm người như vậy. Chỉ xét về điểm này thôi, thì xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể có đầy đủ năng lực và điều kiện để đưa các ngươi lên con đường nhân sinh đúng đắn, đưa các ngươi lên con đường được cứu rỗi, đưa các ngươi đến trước mặt Đức Chúa Trời, khiến các ngươi có thái độ thuận phục Đức Chúa Trời và có lòng thuận phục Đức Chúa Trời. Nếu các ngươi có thể thực hành, có thể đạt được những lời Ta nói và những bài Ta giảng, thì những lời này đủ để khiến các ngươi thoát khỏi tâm tính bại hoại, trở thành người kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác. Bởi vì xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể sống trong nhân tính bình thường và sống trong cuộc sống thực tế, mặc dù với phương thức sống và hình thức tồn tại như vậy thì sẽ có hạn chế khi tiếp xúc với con người, nhưng trong quá trình tiếp xúc với những tập thể người có giới hạn đó, các nguyên tắc đủ mọi mặt mà Ngài tuân theo trong cách đối đãi với người ta không có mâu thuẫn hay xung đột gì với những nguyên tắc làm người mà Đức Chúa Trời dạy cho nhân loại, thay vào đó hai điều này tương hợp với nhau. Do đó, đối với sự bộc lộ của nhân tính bình thường hay sự bộc lộ của tâm tính bại hoại nơi các loại người, bất kể chúng có mạo phạm, có động chạm đến bản thân Ta hay không, bất kể chúng có phù hợp với tính cách, ý thích hoặc cảm nhận lúc đó của bản thân Ta hay không, Ta đều có thể đối đãi với ngươi một cách đúng đắn. Nếu ngươi luôn nghi ngờ Ta, đề phòng Ta, tính kế với Ta, hoặc luôn cho rằng Ta đang tính kế với ngươi, thì Ta cũng có thể đối đãi với ngươi một cách đúng đắn. Bất kể ngươi bộc lộ dạng tâm tính bại hoại nào, dù là ngươi nói dối, ngươi nghi ngờ Ta, phỏng đoán về Ta, hay là ngươi đề phòng Ta, luôn muốn né tránh Ta, hoặc trong lòng ngươi tính kế với Ta, thì Ta đều có thể đối đãi với ngươi một cách đúng đắn. Ta tuyệt đối sẽ không dùng cách thức của ngươi để trả thù ngươi, sẽ không lấy mắt đền mắt, răng đền răng. Ngay cả khi Ta biết ngươi đang nghĩ gì, muốn tính kế với Ta thế nào, đối đãi với Ta thế nào, ngay cả khi Ta thấy được ánh mắt ngươi nhìn Ta rất không có thiện chí, thì Ta cũng có thể đối đãi với ngươi một cách đúng đắn. Ngươi cứ yên tâm, Ta tuyệt đối sẽ không trả thù ngươi. Cũng có thể ngươi cảm thấy Ta không trả thù ngươi là muốn tìm cơ hội để lợi dụng ngươi, là đang tính kế với ngươi, vậy thì ngươi nghĩ sai rồi, đó là ngươi đang phỏng đoán về Ta. Ta đã nói cho các ngươi về nguyên tắc của Ta trong chuyện đối đãi với người ta. Các ngươi đã hiểu thêm về con người Ta rồi phải không? (Thưa, phải.) Vậy có phải Ta rất dễ qua lại không? Trong mắt mọi người, có phải Ta rất dễ đối phó không? (Thưa, Đức Chúa Trời chân thành với chúng con, chúng con nên đối đãi thành thật với Đức Chúa Trời mới được.) Nguyên tắc này đúng. Nhưng nếu ngươi không thể đối đãi thành thật, ngươi nói xem Ta có tỉa sửa ngươi, vạch trần hết chuyện không hay trong quá khứ của ngươi không? (Thưa, không.) Trong lòng Ta có ấn tượng không tốt về ngươi, Ta nói con người ngươi nhiều tâm cơ, nói chuyện ấp a ấp úng như nặn kem đánh răng ra từng chút, không chân thật với người khác. Dù trong lòng Ta có ấn tượng không tốt về ngươi, thì Ta cũng sẽ không trừng trị ngươi. Nếu ngươi làm bổn phận ở trong nhà Đức Chúa Trời, mà đa số mọi người phản ánh là ngươi vẫn chấp nhận được, chỉ là tâm tính có chút giả dối, không chân thật với Ta, trước mặt Ta còn luôn khoe khoang và phô trương, thì Ta vẫn có thể đối đãi đúng đắn với ngươi và cho ngươi cơ hội để dần dần biến đổi. Tuyệt đối sẽ không có chuyện Ta nhìn thấy các ngươi bộc lộ tâm tính bại hoại gì đó rồi nói: “Thấy có gì chướng mắt là Ta không bỏ qua được đâu. Ngươi có tâm tính bại hoại gì, Ta nhìn một cái là thấu hết. Nếu ngươi không tin, Ta sẽ vạch trần những gì ngươi nghĩ trong lòng, xem Ta nói có đúng không”, Ta không làm những chuyện như vậy. Ta sẽ tiếp cận đúng đắn với những biểu hiện của các loại tâm tính bại hoại trong nhân loại, bao gồm lời nói, hành vi, tư tưởng và quan điểm. Nếu ngươi là người mưu cầu lẽ thật và yêu thích điều tích cực, thì ngươi sẽ chiếu theo nguyên tắc lẽ thật mà từng bước thay đổi những tâm tính và tình trạng bại hoại này của mình; nếu ngươi không phải là người mưu cầu lẽ thật, thì có cưỡng ép chăm tưới cho ngươi cũng vô ích, ngươi sẽ không thay đổi. Ngươi có lễ độ, có lịch sự trước mặt Ta bao nhiêu cũng vô ích, như vậy cũng không thay thế được chuyện ngươi thực hành lẽ thật, không thay thế được chuyện ngươi thuận phục lẽ thật. Bất kể trước mặt Ta, ngươi lễ độ hay không lễ độ, Ta đều sẽ đối đãi với ngươi một cách đúng đắn. Trước đây có một số người vì vóc giạc nhỏ và không hiểu lẽ thật, nên khi qua lại và trao đổi với Ta, đã bộc lộ rất nhiều tâm tính bại hoại, cũng biểu hiện rất nhiều sự phản nghịch và chống đối, nhưng sau đó họ đã hối hận, đã quay đầu, mấy năm sau họ hiểu được một số lẽ thật và đã biến đổi. Một dịp tình cờ nhà Đức Chúa Trời lại đề bạt họ, Ta nghe nói họ được đề bạt, thì trong lòng Ta còn khá vui mừng. Ngươi thấy đấy, Ta có phải là người không ghi thù không? (Thưa, phải.) Ta vẫn có thể đối đãi với họ một cách đúng đắn, Ta cũng không nói: “Trước đây ngươi không cung kính với Ta, những lời Ta nói ngươi đều không nghe, ngươi đã làm bao nhiêu chuyện khiến Ta đau lòng. Hôm nay ngươi lại được đề bạt, Ta phải cho ngươi biết rằng những chuyện trước đây ngươi làm Ta đều biết cả, đừng tưởng Ta đã quên”, Ta không làm những chuyện như vậy. Ngược lại, Ta an ủi họ, nói rằng: “Hãy mưu cầu cho tốt, đừng có bất kỳ gánh nặng tư tưởng nào”. Khi người ta có vóc giạc nhỏ và không hiểu lẽ thật, thì đều sẽ bộc lộ sự phản nghịch. Bởi vì con người sống dưới sự khống chế của tâm tính bại hoại, người nào trong lòng không có lẽ thật nắm quyền thì không thể làm chủ bản thân, lời nói và hành động của họ đều thân bất do kỷ, người sống theo tâm tính bại hoại là như vậy. Cho nên, các ngươi mưu cầu lẽ thật thì đừng có bất kỳ gánh nặng tư tưởng nào, Ta tuyệt đối sẽ không nhìn nhận bất kỳ người nào hay bất kỳ chủng tộc nào qua một lăng kính nhất định. Ta không nhìn xem ngươi có văn hóa hay không, Ta cũng không xem quá khứ của ngươi, Ta chỉ nhìn vào thực chất nhân tính và sự mưu cầu của ngươi, nhìn vào thái độ của ngươi đối với lẽ thật, thái độ của ngươi đối với Đức Chúa Trời và thái độ của ngươi đối với bổn phận. Nếu trước đây ngươi từng làm bổn phận qua loa chiếu lệ, từng gây ra một số tổn thất cho nhà Đức Chúa Trời, thậm chí hành ác, gây nhiễu loạn và gián đoạn trong quá trình làm bổn phận, mặc dù những chuyện đó Ta đều rõ mồn một và in sâu trong đầu, nhưng Ta sẽ không để những chuyện đó ảnh hưởng hoặc làm sai lệch cách Ta nhìn nhận ngươi. Ta sẽ nhìn nhận ngươi một cách tổng thể, dựa vào nguyên tắc lẽ thật mà nhìn nhận ngươi, xem hiện tại ngươi làm bổn phận thế nào, tiếp cận với bổn phận thế nào, có còn qua loa chiếu lệ như trước kia không. Trước đây ngươi không thể bảo vệ lợi ích của nhà Đức Chúa Trời, thận trọng, dè dặt và làm một người dễ dãi, hiện giờ ngươi đã quay đầu, đã thay đổi chưa? Ngươi có thể thực hành được một chút lẽ thật theo nguyên tắc lẽ thật không? Trước đây luôn tham hưởng sự an nhàn xác thịt, hiện giờ ngươi có thể chịu khổ không? Ngươi có thật lòng tiêu hao bản thân không? Trong quá trình làm bổn phận, ngươi có thể tìm kiếm lẽ thật không? Ngươi có chút lòng trung thành hay chút lòng thành nào không? So với trước đây, ngươi có tiến bộ, có biến đổi chưa? Ta nhìn vào những điều này. Nếu trước đây ngươi luôn qua loa chiếu lệ, tham hưởng sự an nhàn, không bảo vệ lợi ích của nhà Đức Chúa Trời, mà bây giờ ngươi vẫn như vậy, thì trong lòng Ta không có thiện cảm gì với ngươi. Nếu trước đây ngươi như vậy, tuy Ta có ấn tượng không tốt về ngươi, nhưng bây giờ ngươi đã thay đổi, thì Ta còn khá vui mừng, Ta còn phải an ủi ngươi, nói: “Sau này cứ mưu cầu như vậy. Trước đây vóc giạc ngươi quá nhỏ, ngươi còn trẻ không hiểu chuyện, toàn làm xằng làm bậy, đó đều là bài học cả. Ngươi nên mưu cầu lẽ thật để giải quyết sự qua loa chiếu lệ của mình, giải quyết những việc ác của mình. Như vậy ngươi mới có sự biến đổi thực sự”. Ta sẽ an ủi ngươi, khích lệ ngươi. Nếu có những kẻ ác, khi thấy ngươi biến đổi rồi thì lại đố kỵ với ngươi, ghét ngươi, không khách khí với ngươi mà nói: “Tôi phải vạch trần hết chuyện cũ của anh, phơi bày bộ dạng xấu xí trước đây của anh cho mọi người thấy, đừng tưởng tôi chẳng biết gì!”. Ngươi thấy đấy, nhân loại bại hoại thích tỏ ra thông minh, giở trò khôn vặt, thích có cảm giác tồn tại, thích vạch khuyết điểm của người ta, vạch hết chuyện cũ của người ta. Ta thực sự không làm những chuyện như vậy, Ta chưa bao giờ nói những lời như vậy với người ta. Ta chỉ cố gắng hết sức khích lệ và an ủi, để nội tâm họ cảm thấy bình an, cảm thấy mưu cầu lẽ thật là tốt. Nhìn thấy họ có một chút biến đổi là Ta phải khích lệ họ, để họ biết mình có tiến bộ, và cho họ chút động lực, chút lòng tin. Ngươi nói xem, Ta đối đãi với người ta như vậy có phải đều là hành động trong nguyên tắc không? (Thưa, phải.) Có phải là hành động theo tự nhiên hay theo huyết khí không? (Thưa, không có.) Có người nói: “Có phải trí nhớ Ngài không tốt không? Có phải Ngài không để tâm đến những chuyện này không? Có phải bẩm sinh Ngài đã rộng lượng không?”. Các ngươi nói xem, chuyện này có liên quan đến tính cách, sự rộng lượng hay trí nhớ không? (Thưa, không.) Cho dù bẩm sinh có rộng lượng đến đâu, có tính cách tốt đến đâu, nếu người ta sống dưới sự khống chế của tâm tính bại hoại thì cũng không đạt đến việc đối đãi với người khác theo nguyên tắc hoặc cho người khác cơ hội để đi lên con đường đúng đắn. Họ không không thể đạt đến những điều này. Nhân loại bại hoại cùng lắm chỉ có thể nói: “Tôi không vạch khuyết điểm của anh đâu, không thì tôi sẽ bị người ta chê cười”. Họ làm vậy vì thể diện, vì ngại áp lực của dư luận trong thế gian, vì lo rằng làm người như vậy sẽ khiến người ta thấy mình lòng dạ hẹp hòi, không xứng là người quân tử. Để bảo vệ thể diện của mình, họ mới không vạch khuyết điểm của người ta, nhưng họ có thể chỉ cho người ta một con đường đúng đắn không? (Thưa, không thể.) Đa số mọi người có thể làm được việc không trả thù người ta đã là không tệ rồi, nhưng bảo họ giúp đỡ người khác hoặc hy vọng người khác tốt lên thì họ không làm được. Cùng lắm là họ nghĩ: “Anh có được tốt đẹp hay không cũng chẳng liên quan gì đến tôi”. Có người ngoài miệng nói: “Tôi là bậc quân tử khiêm nhường, không thể trả thù người ta”, nhưng trong lòng lại nghĩ: “Chỉ mong cho anh không được tốt đẹp, anh mà được tốt đẹp thì trong lòng tôi chẳng dễ chịu, ngày nào anh chết, tôi mới vui!”. Miệng họ đầy nhân nghĩa đạo đức, nhưng nội tâm lại thâm hiểm, tàn độc. Ngoài miệng họ toàn nói những lời dễ nghe, nhưng trong lòng thì ác độc hơn ai hết, đây gọi là miệng nam mô bụng một bồ dao găm, giả nhân giả nghĩa. Ngươi xem, nhân loại bại hoại có thể làm được việc đối đãi với người khác theo nguyên tắc lẽ thật không? Nhân loại bại hoại nghĩ một đằng làm một nẻo. Bề ngoài, vì muốn người ta thấy mình đáng trọng, tao nhã và cao thượng, nên họ nói những lời dễ nghe, nhưng trong lòng họ lại không nghĩ như vậy, và họ âm thầm giở trò sau lưng. Cho nên, trong việc đối đãi với người ta, ngay cả khi người ngoại đạo không trả thù ngươi thì họ cũng không mong ngươi được tốt đẹp. Cách họ đối đãi với người ta không hợp với nguyên tắc lẽ thật. Họ nhìn thấy ngươi được tốt đẹp thì trong lòng khó chịu, đố kỵ. Còn khi nhìn thấy ngươi không được tốt đẹp, thì nếu có cơ hội, họ phải xát thêm muối vào vết thương của ngươi, thậm chí còn giẫm thêm mấy cái mới hả giận. Họ làm được việc không trả thù người ta là đã rất khó rồi, họ mà muốn làm được việc đối đãi với người ta có nguyên tắc thì càng khó hơn nữa, bởi vì họ không có nhân tính như vậy.
Đức Chúa Trời nhập thể trở nên một người bình thường. Cách Ngài đối đãi với người ta trong cuộc sống thường nhật ít nhất cũng ở trong phạm vi lương tâm và lý trí, tuyệt đối không thấp hơn tiêu chuẩn này, chỉ có thể cao hơn tiêu chuẩn này thôi. Đức Chúa Trời nhập thể đều dựa theo nguyên tắc lẽ thật để đối đãi với người ta, chuyện này thì khỏi cần phải nói. Bởi vì Ngài có thực chất thần tính, nên Ngài càng có thể đối đãi với ngươi theo nguyên tắc lẽ thật, tuyệt đối sẽ không trừng trị ngươi. Cũng như nhà Đức Chúa Trời đối đãi với các loại người, cách chức lãnh đạo và người làm công các cấp, điều chỉnh hoặc tước bỏ bổn phận của người ta, thanh lọc các loại người, v.v., tất cả những việc này đều được thực hành theo nguyên tắc, không phải dựa vào sở thích của một người nào đó để quyết định, mà đều được thông qua bởi đa số người trong hội thánh, cho nên lẽ thật tuyệt đối nắm quyền trong nhà Đức Chúa Trời, không sai chút nào. Người có nhân tính bình thường còn có thể hành động phù hợp với tiêu chuẩn trong lương tâm của người bình thường, nếu liên quan đến nguyên tắc lẽ thật thì họ vẫn có thể tuân thủ tiêu chuẩn trong lương tâm và lý trí của người bình thường, huống hồ là nhân tính bình thường mà Đức Chúa Trời nhập thể mặc lấy. Đối với những chuyện liên quan đến công tác hội thánh, liên quan đến việc làm bổn phận của các ngươi, liên quan đến tâm tính bại hoại của con người, thì Ngài lại càng có thể đối đãi với các ngươi theo nguyên tắc. Con người bình thường và thông thường là Ta đây, khi qua lại và tiếp xúc với các ngươi, bất kể Ta thông công lẽ thật thế nào, xử lý loại vấn đề nào, thì các ngươi nói xem, nhân tính bình thường này của Ta có đáng để các ngươi tin cậy không? (Thưa, đáng.) Các ngươi có cần dựng lên một tuyến phòng thủ để đề phòng Ta không? (Thưa, không cần.) Cho nên Ta nói cho các ngươi hay, khi nói chuyện và qua lại với Ta, ngươi chỉ cần đối đãi thành thật là được, bất kể Ta hiểu bao nhiêu hay hiểu cái gì về ngươi, Ta đều sẽ đối đãi với các ngươi theo nguyên tắc. Bất kể ngươi có thái độ thế nào đối với Ta, Ta đều sẽ đối đãi với ngươi theo nguyên tắc, ngươi cứ yên tâm, không cần phải đề phòng Ta. Không nói đến thực chất thần tính và sự sống thần tính, chỉ riêng thực chất nhân tính có trong mặt bình thường và thực tế của con người bình thường là Ta cũng đủ để các ngươi tin cậy rồi. Bất kể đối thoại với Ta về bất kỳ chuyện gì, các ngươi không nên có tâm thái phức tạp, chỉ cần đơn thuần, cởi mở, có khó khăn gì thì cứ nói thẳng ra, không cần phải đề phòng Ta như đề phòng người xa lạ. Nếu ngươi cứ luôn đề phòng Ta, thì Ta nói cho ngươi một câu: Ngươi quá ngu xuẩn rồi, ngươi là kẻ đui mù! Ngươi không biết Ta làm công tác gì sao? Ngươi càng đề phòng Ta thì cuối cùng ngươi càng không đạt được lẽ thật, vậy chẳng phải ngươi đang làm lỡ dở và hủy hoại chính mình sao? Nếu ngươi cứ luôn nghi ngờ và đề phòng xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể, bất kể Ngài nói chuyện thế nào, thông công lẽ thật ra sao, ngươi vẫn luôn mang thái độ nghiên cứu, ngay cả khi đã thừa nhận đó là lẽ thật mà cũng không tiếp nhận, thì Đức Thánh Linh chẳng những không khai sáng hay ban phúc cho ngươi, mà ngược lại Đức Chúa Trời sẽ giấu mặt khỏi ngươi, không để ý đến ngươi nữa. Không tin thì ngươi cứ thử đi, xem có phải như vậy không. Ngươi qua lại với một con người bình thường có nhân tính bình thường là Ta, mà ngươi không có nguyên tắc, không biết cách qua lại thế nào, không biết cách đối đãi Ta theo nguyên tắc Đức Chúa Trời dạy ngươi, vậy chẳng phải ngươi đối đãi với Đức Chúa Trời trên trời cũng như vậy sao? (Thưa, phải.) Nếu ngươi dùng cách như vậy để qua lại với Đức Chúa Trời trên trời thì hậu quả là gì? (Thưa, bị định tội, bị đánh giết.) Ngươi lại sai rồi, Đức Chúa Trời không tùy tiện đánh giết con người. Nhưng ngươi vĩnh viễn không có cơ hội và không có tư cách nhìn thấy chân thể của Đức Chúa Trời, đây là sự thật. Ngươi vĩnh viễn không có tư cách nhìn thấy chân thể của Đức Chúa Trời, ngay cả bóng lưng của Đức Chúa Trời ngươi cũng không nhìn thấy, điều này có nghĩa là gì? Nghĩa là Đức Chúa Trời vĩnh viễn không thừa nhận ngươi là loài thọ tạo của Ngài. Gióp nhìn thấy bóng lưng của Đức Giê-hô-va có nghĩa là gì? Áp-ra-ham nghe thấy tiếng từ chính miệng Đức Chúa Trời phán với mình có nghĩa là gì? (Thưa, Đức Chúa Trời khen ngợi ông.) Có nghĩa là ông có tư cách đối thoại với Đức Chúa Trời, đối thoại với Đức Chúa Trời trên trời, đối thoại với chân thể của Đức Chúa Trời, đối thoại với Thần của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời công nhận và thu nhận họ là loài thọ tạo của Ngài, Đức Chúa Trời thừa nhận họ là loài thọ tạo của Ngài, và Đức Chúa Trời đã thu phục họ. Ý nghĩa của chuyện này quá sâu sắc! Đức Chúa Trời sẵn lòng gặp họ, sẵn lòng đối thoại với họ, sẵn lòng để họ nghe thấy tiếng Đức Chúa Trời phán từ trên trời, sẵn lòng để họ nhìn thấy linh thể của Đức Chúa Trời, và sẵn lòng hiện ra với họ. Đối với nhân loại, đây là phúc lành lớn lao quá đỗi! Đây là vinh dự lớn lao vô cùng! Các ngươi có cầu mong được như vậy không? Có thể các ngươi không dám cầu mong, nhưng các ngươi phải có nguyện vọng này. Vậy muốn thực hiện nguyện vọng này thì phải thực hành thế nào? Trước hết phải bắt đầu thực hành từ cách đối đãi với Đức Chúa Trời nhập thể, con người thông thường và bình thường này. Ngươi nên qua lại với Ngài thế nào, đối đãi với Ngài thế nào? Khi nhìn thấy Ngài có hình tượng hữu hình, ngươi có thể giao tiếp một cách bình thường với Ngài, có thể tiếp nhận hết thảy về Ngài, có thể đạt đến việc đối đãi thành thật với Ngài, không có sự ngăn cách hay khó khăn khi giao tiếp và qua lại với Ngài, vậy thì trước mặt Đức Chúa Trời, ít nhất là trong mắt Ta, Ta sẵn lòng qua lại với ngươi, Ta không thấy ác cảm với ngươi. Vậy thì ngươi cũng có thể có cơ hội và có tư cách nghe thấy tiếng Đức Chúa Trời, nghe thấy tiếng chính miệng Đức Chúa Trời phán từ trên trời, nhìn thấy hình bóng của Đức Chúa Trời. Đương nhiên, hiện nay các ngươi còn cách mục tiêu này rất xa, Ta chỉ đang chỉ cho các ngươi một con đường thôi. Nếu các ngươi không vượt qua được ngay cả cửa ải là Ta, con người bình thường này, mà lại muốn nhìn thấy Đức Chúa Trời trên trời, thì Ta nói cho ngươi một câu: không có cửa đâu, mơ tưởng hão huyền thôi!
Được rồi, hôm nay chúng ta thông công đến đây thôi, tạm biệt!
Ngày 14 tháng 9 năm 2024