Cách mưu cầu lẽ thật (24)

Lần trước, chúng ta đã thông công về nội dung liên quan đến việc buông bỏ những rào cản giữa bản thân với Đức Chúa Trời và sự thù địch đối với Ngài, nằm trong chủ đề lớn “buông bỏ” của “Cách mưu cầu lẽ thật”. Nội dung này liên quan đến những quan niệm và tưởng tượng về Đức Chúa Trời nhập thể. Chúng ta đã thông công về những phương diện nào rồi? (Thưa, lần trước Đức Chúa Trời chủ yếu thông công và vạch trần một số quan niệm và tưởng tượng của chúng con về Đức Chúa Trời nhập thể. Đức Chúa Trời cũng đã thông công với chúng con hai nguyên tắc thực hành. Một là đừng đem Đức Chúa Trời nhập thể ra so sánh với Đức Chúa Trời trên trời. Hai là đừng đánh đồng Đức Chúa Trời nhập thể với nhân loại bại hoại.) Để giải quyết những quan niệm và tưởng tượng về Đức Chúa Trời nhập thể, thì cái mà người ta cần thực hành chính là hai nguyên tắc đã được nói đến trong buổi thông công lần trước. Nguyên tắc thứ nhất là gì? (Thưa, đừng đem Đức Chúa Trời nhập thể ra so sánh với Đức Chúa Trời trên trời.) Nguyên tắc thứ hai là gì? (Thưa, đừng đánh đồng Đức Chúa Trời nhập thể với nhân loại bại hoại.) Chủ yếu là hai nguyên tắc này. Lần trước Ta đã thông công về nguyên tắc thứ nhất là đừng đem Đức Chúa Trời nhập thể ra so sánh với Đức Chúa Trời trên trời, và đã giới thiệu sơ lược về những chủ đề liên quan đến cuộc sống của Đức Chúa Trời nhập thể mà người ta có thể thấy được và vẫn chưa hiểu. Hôm nay chúng ta tiếp tục thông công về chủ đề liên quan đến Đức Chúa Trời nhập thể. Ta càng thông công thì người ta càng hiểu nhiều hơn và hiểu thấu đáo hơn. Ta càng thông công về ý nghĩa của nhân tính bình thường hoặc sự khiêm nhường và ẩn giấu của Đức Chúa Trời nhập thể, thì người ta càng hiểu nhiều hơn và thực tế hơn về Đức Chúa Trời nhập thể. Người ta cũng sẽ có thể hiểu nhiều hơn, cũng như nhận biết chính xác hơn và thực tế hơn về phương diện thực tế của Đức Chúa Trời nhập thể, hoặc những phương diện của Ngài mà họ có thể nhìn thấy và tiếp xúc được. Như vậy, người ta sẽ buông bỏ được một số quan niệm và tưởng tượng không phù hợp với thực tế về Đức Chúa Trời trên trời. Người ta càng buông bỏ được nhiều quan niệm và tưởng tượng về Đức Chúa Trời trên trời, càng nhận biết và lĩnh hội về sự thực tế và bình thường của Đức Chúa Trời nhập thể, thì mối quan hệ giữa họ với Đức Chúa Trời sẽ càng trở nên bình thường. Một điều trong nguyên tắc đừng đem Đức Chúa Trời nhập thể ra so sánh với Đức Chúa Trời trên trời là ngươi phải có hiểu biết về sự thực tế và bình thường của Đức Chúa Trời nhập thể. Càng hiểu thêm về sự thực tế và bình thường của Đức Chúa Trời nhập thể thì ngươi càng hiểu thêm về Đức Chúa Trời trên trời, và ngươi sẽ không dùng những quan niệm và tưởng tượng của mình để đánh giá Đức Chúa Trời trên trời nữa. Đương nhiên, về mặt khách quan cũng sẽ xuất hiện một hiện tượng, đó là ngươi sẽ có thái độ đúng đắn đối với Đức Chúa Trời, sẽ nhìn nhận một cách khách quan những biểu hiện đủ mọi mặt mà Đức Chúa Trời nhập thể bộc lộ trong nhân tính của Ngài, cũng sẽ nhận biết Đức Chúa Trời trên trời một cách chính xác và thực tế hơn. Như vậy sẽ tránh được chuyện ngươi luôn có những quan niệm và tưởng tượng không phù hợp với thực tế về Đức Chúa Trời nhập thể, cũng tránh được chuyện người ta luôn đem Đức Chúa Trời nhập thể ra so sánh với Đức Chúa Trời trên trời. Khi nói đến xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể, tức là Đấng Christ, một chủ đề sẽ thường được nhắc đến, chính là sự bình thường và thực tế cùng với sự khiêm nhường và ẩn giấu của Đức Chúa Trời nhập thể. Người ta thường nói đến sự bình thường và thực tế của Ngài, cũng thường nói đến sự khiêm nhường và ẩn giấu của Ngài, nhưng có thể nói rằng tất cả mọi người đều không hiểu rõ lắm những vấn đề thực tế liên quan đến các phương diện này. Rốt cuộc sự bình thường và thực tế của Đức Chúa Trời là gì? Rốt cuộc sự khiêm nhường và ẩn giấu của Đức Chúa Trời là gì? Nghĩa là, về chuyện rốt cuộc sự bình thường và thực tế cùng với sự khiêm nhường và ẩn giấu của Đức Chúa Trời nhập thể trong lòng người ta là gì, nên lý giải như thế nào và nên nhận thức như thế nào về những điều này, thì người ta vẫn chưa rõ về lẽ thật hay thực chất của phương diện này, và chỉ xem đó là một dạng lý luận hoặc thuật ngữ thuộc linh để rao giảng mà thôi. Vì vậy, việc thông công một cách chi tiết và có hệ thống về chủ đề sự bình thường và thực tế, khiêm nhường và ẩn giấu của Đức Chúa Trời nhập thể là rất cần thiết. Thông công như vậy thì người ta mới rõ về những gì cấu thành việc sống thể hiện ra sự bình thường và thực tế của Đức Chúa Trời nhập thể, Con người mang thân phận đặc biệt này.

Đối với nội dung về sự bình thường và thực tế của Đức Chúa Trời nhập thể, các ngươi có thể lĩnh hội được những gì về nghĩa đen hoặc trong quan niệm và tưởng tượng của mình? Trong những năm qua, các ngươi đã tiếp xúc, qua lại hoặc trò chuyện với Đức Chúa Trời nhập thể, vậy rốt cuộc các ngươi đã cảm nhận và nhận thức được gì về sự bình thường và thực tế của Đức Chúa Trời nhập thể? Trước đây, đại đa số chủ đề được thông công đều là về những vấn đề của nhân loại bại hoại, nghĩa là thông công về đủ mọi phương diện vấn đề nơi các ngươi, liên quan đến tâm tính bại hoại, liên quan đến việc phụng sự Đức Chúa Trời và làm bổn phận, cũng liên quan đến nhân tính, tố chất, những quan niệm và tưởng tượng của người ta, thái độ và quan điểm của người ta đối với Đức Chúa Trời, những điều này đều đã được nhắc đến. Ta giảng lẽ thật và giảng đạo bấy nhiêu năm, thì đều nói về những vấn đề của các ngươi. Lần này cuối cùng Ta cũng không nói về những vấn đề của các ngươi nữa, mà nói về một vài chuyện liên quan đến Đức Chúa Trời nhập thể, để chúng ta có thể nhìn nhận vấn đề từ một góc độ khác. Đối với các ngươi thì chủ đề này rất nhẹ nhàng, không có gánh nặng gì, cũng không còn khiến các ngươi khó xử nữa, có phải vậy không? (Thưa, phải.) Vậy đối với sự bình thường và thực tế hoặc sự khiêm nhường và ẩn giấu của Đức Chúa Trời nhập thể, các ngươi có thể nhìn thấy, lĩnh hội hoặc lý giải được những điều gì? Các ngươi có thể nói về lý luận hay sự thật, cái nào cũng được. Nếu các ngươi không nói ra được, vậy chẳng lẽ bình thường trong lòng các ngươi không có suy nghĩ gì về xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể sao? Không có chút nhận thức nào sao? Cũng không có bất kỳ cảm nhận nào sao? Hẳn là có, đúng không? Có lúc chỉ là một ý nghĩ thoáng qua, có lúc thì các ngươi suy nghĩ một chút, có lúc là một số ấn tượng sâu sắc để lại trong lòng các ngươi. Nếu chỉ là một ý nghĩ thoáng qua thì có khả năng ngươi không nhớ, hoặc có lúc một ý nghĩ hay một quan điểm nào đó nảy sinh trong tiềm thức ngươi thì cũng chưa chắc ngươi đã nhớ được. Nhưng có lúc ngươi sẽ có một ấn tượng nào đó về Đức Chúa Trời nhập thể, ấn tượng này sẽ khiến ngươi nảy sinh một cách nhìn nào đó, và ấn tượng này sẽ tồn tại trong đầu ngươi một thời gian dài. Đằng nào ngươi cũng nhớ được điều này, hẳn không phải là trong đầu không có gì, phải chứ? Hãy nói xem các ngươi lý giải thế nào về sự bình thường và thực tế hoặc sự khiêm nhường và ẩn giấu của Đức Chúa Trời nhập thể. (Thưa Đức Chúa Trời, về sự bình thường và thực tế của Đức Chúa Trời nhập thể, con lý giải rằng Ngài cũng có những nhu cầu bình thường của xác thịt. Chẳng hạn như, Đấng Christ nói chuyện trong thời gian dài thì cũng khát nước và cần uống nước. Khi nhóm họp và thông công với chúng con suốt ba, bốn tiếng đồng hồ, thì Ngài cũng mệt và cần nghỉ ngơi. Khi đi bộ lâu thì Ngài cũng cần nghỉ. Nghĩa là nhìn bề ngoài thì Đấng Christ cũng giống như một người bình thường, và cũng có hỉ nộ ai lạc của nhân tính bình thường. Nghe chuyện vui thì Ngài cũng vui, nghe chuyện khiến người ta đau lòng thì Ngài cũng buồn. Đây cũng là biểu hiện của sự bình thường và thực tế của Đức Chúa Trời nhập thể.) Ngươi nói được một vài sự thật rồi. Đây là những gì các ngươi thấy được, cũng là những gì các ngươi có thể tiếp xúc và cảm nhận được. Còn gì nữa không? (Thưa Đức Chúa Trời, con xin bổ sung một điểm. Trước đây con từng nghe nói rằng khi Đức Chúa Trời chỉ đạo một số công tác nghiệp vụ thì Ngài cũng phải học hỏi và tìm hiểu một số kiến thức chuyên môn.) Các ngươi đều nghe được chuyện như vậy sao? Rằng khi Ta chỉ đạo một số công tác nghiệp vụ thì cũng phải học về nó một cách thực tế, tìm hiểu và nắm vững những kiến thức nghiệp vụ có liên quan. Đa số mọi người đều nhận được thông tin như vậy sao? Các ngươi đều cho là vậy sao? (Thưa, không phải. Ví dụ như khi chỉ đạo công tác của nhóm làm phim, Ngài chỉ thỉnh thoảng xem một số bộ phim truyền hình hay điện ảnh là đã nắm bắt được ít nhiều rồi, chứ Ngài không dành thời gian chuyên để học hoặc nghiên cứu về nó.) Chuyện này cần phải đính chính lại. Ta thực sự không có sức lực để tra cứu tài liệu hoặc học bất kỳ dạng kiến thức nghiệp vụ nào. Ta chỉ từng xem vài bộ phim điện ảnh, đại khái có một chút ấn tượng về phim ảnh như vậy thôi, rồi dựa vào một số kiến thức nghiệp vụ có liên quan do anh chị em cung cấp, từ đó tìm tòi và đúc kết ra những nguyên tắc có liên quan, rồi đưa ra một số chỉ đạo đối với công tác nghiệp vụ. Điều cốt yếu ở đây là nắm vững nguyên tắc và dựa vào nguyên tắc mà chỉ đạo họ. Họ gặp khó khăn, một mặt là do kiến thức nghiệp vụ không toàn diện, mặt khác là do không nắm được nguyên tắc lẽ thật, cộng thêm tố chất kém. Vì vậy, trên cơ sở hiểu rõ các nguyên tắc, Ta ít nhiều cũng hướng dẫn cho họ một chút, nên kết quả tương đối tốt hơn so với họ tự làm. Ta làm chuyện này dựa trên nguyên tắc là loan truyền lời Đức Chúa Trời, làm chứng cho Đức Chúa Trời, không làm ô nhục Đức Chúa Trời, có thể khiến người ta hiểu rõ thêm về công tác của Đức Chúa Trời và hiểu hơn về lẽ thật, và như vậy đã đem lại những kết quả nhất định. Nếu nói về trình độ chuyên môn thì Ta gần như chẳng có gì. Vốn dĩ Ta không có những kiến thức chuyên môn đó, cũng không đặc biệt dành thời gian để học như các ngươi nói. Bất kể hướng dẫn công tác nghiệp vụ nào, Ta đều không học qua, không tra cứu giáo trình, tài liệu hoặc kiến thức nghiệp vụ có liên quan. Cùng lắm là các anh chị em tìm một số giáo trình hoặc tài liệu mẫu có liên quan gửi cho Ta xem, từ đó Ta đúc kết ra một số nguyên tắc hoặc mô thức hoạt động nghiệp vụ, rồi dựa vào đó mà chỉ đạo công tác của họ.

Về phương diện sự bình thường và thực tế của Đức Chúa Trời nhập thể này, người ta đã thấy được một số sự bình thường và thực tế mà bản năng của xác thịt Ngài biểu hiện. Trong đó có bản năng của con người, có một vài sự bộc lộ và hạn chế của các điều kiện bẩm sinh khác nhau thuộc xác thịt. Đây là sự bình thường và thực tế đúng nghĩa. Bất kể là sự bộc lộ bên ngoài của Ngài, hay những điều bên trong liên quan đến tư tưởng và quan điểm, liên quan đến nguyên tắc làm người trong nhân tính của Ngài, thì nói tóm lại, lý giải đơn giản nhất và cơ bản nhất về sự bình thường và thực tế của Đức Chúa Trời nhập thể chính là Ngài không siêu phàm, không thoát tục và không khác thường. Nghĩa là, nhìn bề ngoài của Đức Chúa Trời nhập thể, ngươi không thể thấy bất kỳ biểu hiện đặc biệt nào khác với người thường. Nếu Ngài không nói chuyện, không làm bất kỳ việc gì, thì xét về ngũ quan, hình thể và toàn bộ con người của Ngài, ngươi sẽ không thấy có bất kỳ điểm gì khác lạ. Ngài không siêu phàm, không thoát tục, cũng không khác thường, Ngài chỉ là một người hết sức bình thường. Nói một cách chính xác hoặc khách quan, thì nếu người này ở giữa đám đông mà không nói chuyện, không làm công tác, không bày tỏ lẽ thật, thì ngươi sẽ không phân biệt được người này khác với những người khác ở điểm nào. Ví dụ như Ta đang ngồi giữa các ngươi mà có người lạ đến, thì họ sẽ thấy Ta cũng giống như các ngươi. Ta không ngồi ở chỗ cao, cũng không nổi bật, tướng mạo bình thường, không siêu phàm, không cao lớn, cũng không giống một bậc vĩ nhân, chỉ là một người bình thường thôi. Người đó sẽ không thể nhận ra ai là Đức Chúa Trời nhập thể. Nếu Ta sống cùng một nhóm người thì ngươi cũng không nhìn ra Ta có gì khác với mọi người. Ngươi chỉ biết lần này Đức Chúa Trời nhập thể là nữ giới, nhưng chỉ dựa vào mắt thường thì ngươi tuyệt đối không thể phân biệt được ai là Đức Chúa Trời nhập thể, trừ khi đã nghe Ta giảng đạo nhiều rồi thì có lẽ ngươi sẽ căn cứ vào giọng nói mà nhận ra được. Nếu có ai có giọng nói giống Ta thì có lẽ có người còn nhầm lẫn, tưởng người đó chính là Đức Chúa Trời nhập thể. Có chuyện như vậy không? Chuyện như vậy chắc chắn đã từng xảy ra. Có một số người có vẻ ngoài thoát tục siêu quần, đặc biệt có khí chất và phong thái, trông đặc biệt cao quý, trông giống người có thân phận và địa vị. Một số anh chị em ngu muội hoặc quá mong muốn được gặp Đức Chúa Trời nhập thể thì sẽ nhầm tưởng người như vậy là Đức Chúa Trời nhập thể, còn quỳ gối phủ phục trước người đó. Người được phủ phục đó còn rất vui sướng trong lòng, còn ngầm chấp nhận. Đến lúc người đó sắp đi, người ngu muội phủ phục đó còn rơi nước mắt, quyến luyến và níu áo người đó không cho đi, nói rằng: “Bao giờ ngài lại đến? Chúng con sẽ nhớ ngài lắm!”. Họ còn đặc biệt kích động nói rằng: “Cuối cùng con cũng được gặp Đức Chúa Trời nhập thể. Đời này không còn gì hối tiếc, con có chết cũng đáng rồi!”. Mà người được phủ phục lại không đính chính gì. Các ngươi có từng nghe nói đến chuyện như vậy chưa? (Thưa, có.) Ở nước ngoài thì không thể nào xảy ra chuyện như vậy. Tại sao ở Trung Quốc đại lục lại có? Bởi vì Đức Chúa Trời nhập thể xuất hiện và làm công tác tại Trung Quốc, đương nhiên Ngài mang hình tượng của người Trung Quốc, cho nên ở Trung Quốc đại lục mới xảy ra chuyện như vậy. Chúng ta không bàn xem hai bên đúng sai thế nào trong chuyện này. Chỉ xét riêng chuyện đó thôi, bất kể người ta có nhận thức thế nào về sự bình thường và thực tế của Đức Chúa Trời nhập thể, thì tóm lại trong quan niệm của người ta vẫn cho rằng Đức Chúa Trời nhập thể hẳn có hình tượng cao lớn và vẻ ngoài cao quý, càng phải có thân phận cao quý, còn phải có diện mạo và cách nói năng đặc biệt khác người, khiến ai nhìn cũng cảm thấy giống Đức Chúa Trời và chính là Đức Chúa Trời mà không có chút nghi ngờ nào nữa. Nếu người ta thấy Ngài không nổi bật, không nhìn ra được hào quang của Đức Chúa Trời hay hình tượng của Đức Chúa Trời, thì Ngài không thể là Đức Chúa Trời được. Người ta cho rằng Đức Chúa Trời nhập thể nhất định phải đặc biệt cao lớn, đặc biệt cao quý, đặc biệt có khí chất, đặc biệt giống người có thân phận hoàng tộc, đi đứng thì dáng thẳng, đôi mắt sáng quắc và có thần, ánh mắt còn đặc biệt sắc sảo, ai nghĩ gì thì Ngài chỉ cần nhìn một cái là biết ngay, ai có lòng thù địch hoặc có ý nghĩ không tốt thì Ngài chỉ đưa mắt một cái là nhìn thấu. Những suy nghĩ này của người ta phản ánh một hiện tượng, đó là người ta có rất nhiều tưởng tượng về Đức Chúa Trời nhập thể. Nhưng trên thực tế, Đức Chúa Trời nhập thể không giống với Đức Chúa Trời trong quan niệm và tưởng tượng của người ta, mà có sự khác biệt. Bề ngoài của Đức Chúa Trời nhập thể đặc biệt bình thường, hoàn toàn không cao lớn, hoàn toàn không thoát tục, hoàn toàn không siêu nhiên, thậm chí có thể nói là không có bất kỳ điểm gì đặc biệt. Nhìn bề ngoài thì hầu như Ngài chẳng có gì khác biệt với mọi con người thọ tạo. Nghĩa là Ngài gần như giống hệt con người do Đức Chúa Trời tạo dựng về đủ loại chức năng vốn có, cũng như về bản năng, tư duy bình thường và các năng lực khác nhau của con người. Đây là những điều bề ngoài mà người ta có thể trực tiếp nhìn thấy bằng mắt thường, có thể tiếp xúc, hoặc có thể lĩnh hội và lý giải được. Người ta rất dễ nhìn thấy, cũng dễ lý giải được những thứ bề ngoài này, nên đây không phải là trọng điểm mà chúng ta sẽ thông công. Sự bình thường và thực tế của Đức Chúa Trời nhập thể, cùng với sự khiêm nhường và ẩn giấu của Ngài mới là trọng điểm chúng ta sẽ thông công.

Những gì người ta nên hiểu về Đức Chúa Trời nhập thể, dù là sự bình thường và thực tế hay là sự khiêm nhường và ẩn giấu của Ngài, lại là những ý nghĩ hoặc cách nhận thức căn bản không có trong lòng người ta, ngay cả trong quan niệm và tưởng tượng của người ta cũng không có những ý nghĩ này. Chuyện này liên quan đến cách Đức Chúa Trời nhập thể sống giữa mọi người, cách Ngài sống trong môi trường sống thực tế của nhân loại, cách Ngài sinh hoạt, nói chuyện và làm công tác giữa mọi người. Chuyện này liên quan đến những vấn đề về thực chất của Đức Chúa Trời nhập thể, và những vấn đề này đáng để thông công. Những phương diện này cũng là điều mà người ta không thể nhìn thấy hoặc rất khó lý giải, đương nhiên, đây cũng là những điều không có trong nhận thức hoặc quan niệm và tưởng tượng của người ta về Đức Chúa Trời nhập thể. Nghĩa là, nhận thức, lý giải và tưởng tượng của người ta về Đức Chúa Trời nhập thể về cơ bản đều tách rời khỏi thực tế cuộc sống và sự sinh tồn của Đức Chúa Trời nhập thể. Kết quả là, trong nhận thức của người ta về thực chất của Đức Chúa Trời nhập thể có rất nhiều điều không thực tế và không khách quan, thậm chí có một số quan niệm và tưởng tượng không phù hợp với thực tế. Đức Chúa Trời nhập thể sống giữa mọi người và sống trong thế giới vật chất này. Sự bình thường và thực tế của Ngài được thể hiện trong cuộc sống của Ngài, cũng được thể hiện trong quá trình sinh tồn của Ngài. Trong cuộc sống và quá trình sinh tồn của Ngài, một mặt, những gì có liên quan là cuộc sống của xác thịt này, mặt khác, những gì có liên quan là chức vụ mà Đức Chúa Trời nhập thể đảm nhận. Chúng ta hãy nhìn từ hai mặt này để xem sự bình thường và thực tế mà Đức Chúa Trời nhập thể sống thể hiện ra và có sẵn khác với quan niệm và tưởng tượng của người ta như thế nào, những điều nào trong sự bình thường và thực tế này là điều người ta đã thấy được mà không lý giải được, hoặc đã thấy được mà gạt đi, nhưng lại chính là sự thể hiện của sự bình thường và thực tế mà xác thịt Đức Chúa Trời nhập thể có. Khi liên quan đến cuộc sống và sự sinh tồn của Đức Chúa Trời nhập thể thì sẽ liên quan đến rất nhiều vấn đề thực tế, đồng thời cũng liên quan đến rất nhiều tư tưởng và quan điểm đối với các vấn đề thực tế đó. Những tư tưởng và quan điểm này thực ra đều được bộc lộ và sống thể hiện ra một cách rất thực tế và rất khách quan trong cuộc sống và chức vụ của Đức Chúa Trời nhập thể. Chỉ là vì trong người ta có quá nhiều quan niệm và tưởng tượng về cả Đức Chúa Trời trên trời lẫn Đức Chúa Trời trên đất, và chúng đều trống rỗng, không phù hợp với thực tế, cho nên đối với sự bình thường và thực tế cùng với sự khiêm nhường và ẩn giấu được biểu hiện ra bởi thân phận đặc biệt này của Đức Chúa Trời – Đức Chúa Trời nhập thể – mà người ta có thể nhìn thấy, thì đại đa số mọi người đều gạt đi. Điều mà đại đa số mọi người chú trọng là các dấu kỳ và phép lạ, các lẽ mầu nhiệm, những dị năng, cùng những điều cao sâu, vĩ đại, hoặc tương đối thoát tục, kỳ quái... Còn những gì thực sự khách quan, thực tế và chân thực được chính Đức Chúa Trời sống thể hiện ra và bộc lộ, thì người ta đều gạt đi. Bất kể xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể sống giữa nhân loại bao nhiêu năm, bởi vì người ta cứ gạt những điều này đi, nên nhận thức của họ về Đức Chúa Trời luôn dừng lại trong những tưởng tượng trống rỗng và mơ hồ. Kết quả là, nhận thức của người ta về Đức Chúa Trời luôn thiếu khách quan và thiếu thực tế đến vậy. Hôm nay, thông qua việc thông công về chủ đề này, chúng ta sẽ nhận biết sự bình thường và thực tế được thể hiện ra trong cuộc sống và chức vụ của Đức Chúa Trời nhập thể. Bất kể là cuộc sống hay chức vụ của Đức Chúa Trời nhập thể, thì nội dung nào cũng liên quan đến việc sống thể hiện ra sự bình thường và thực tế của Ngài. Điều này liên quan đến quan điểm đối với các loại người, sự việc và sự vật, cũng như các nguyên tắc và phương thức xử lý các loại sự việc của Đức Chúa Trời nhập thể, Con người mang thân phận đặc biệt này. Trong những mối thông công nhiều năm qua, các ngươi đều đã nghe và biết về những nguyên tắc và phương thức mà Đức Chúa Trời nhập thể dùng để tiếp cận và xử lý các loại sự việc. Những điều mà trong lòng các ngươi cho là rất cao siêu và vĩ đại này đều liên quan đến lẽ thật. Một mặt, chúng đại diện cho tâm ý của Đức Chúa Trời trên trời, đại diện cho những yêu cầu và sự dạy dỗ của Đức Chúa Trời có thân phận và thực chất của Đức Chúa Trời đối với nhân loại. Mặt khác, không thể phủ nhận rằng chúng cũng đại diện cho các nguyên tắc, phương thức, tư tưởng và quan điểm của Đức Chúa Trời nhập thể – Con người này – trong cách Ngài nhìn nhận hoặc xử lý các loại sự việc. Lượng nội dung rất lớn liên quan đến các nguyên tắc lẽ thật này đã được Ta thông công với các ngươi từ rất lâu, chủ đề rất nhiều và nội dung cũng rất dài. Chỉ riêng nội dung này cũng đủ để đại diện cho tư tưởng, quan điểm, thái độ và nguyên tắc xử lý đủ mọi loại sự việc của Đức Chúa Trời nhập thể – Con người. Hôm nay chúng ta sẽ không nói về phương diện này nữa.

Chủ đề chính mà chúng ta sẽ thông công là các nguyên tắc làm người và phương thức làm việc của Đức Chúa Trời nhập thể trong cuộc sống và việc sinh tồn của Ngài. Thông qua mối thông công về hai phương diện này, các ngươi sẽ hiểu rõ hơn về sự bình thường và thực tế của Đức Chúa Trời nhập thể, hoặc hiểu rõ thêm về Đức Chúa Trời nhập thể. Một mặt, Đức Chúa Trời nhập thể sống giữa nhân loại thì Ngài có nguyên tắc làm người, cũng có nguyên tắc làm việc. Nguyên tắc này rất đơn giản. Đối với Ta, làm người là làm người có khuôn phép, và làm việc là làm việc đúng bổn phận. Làm người có khuôn phép và làm việc đúng bổn phận, đây chính là nguyên tắc và tín điều của Ta trong cách làm người và làm việc. Tổng cộng có mấy chữ? (Thưa, mười một chữ.) Mười một chữ này rất đơn giản, nghĩa đen cũng khá dễ hiểu, hoàn toàn không trừu tượng, không trống rỗng, không sâu xa, cũng không cao siêu, vĩ đại và đẳng cấp gì. Làm người có khuôn phép và làm việc đúng bổn phận, đây chính là nguyên tắc và tín điều của Ta trong cách làm người và làm việc. Ta làm người và làm việc thì tuân theo nguyên tắc này, chính xác là Ta làm như vậy. Vậy các ngươi có thể nhìn thấy đây là sự thật không? Có đối chiếu được không? Một mặt, khi giảng đạo và thông công, khi tiếp xúc và qua lại với người khác, khi chuyện trò với người khác, Ta luôn bảo người ta rằng phải làm người như vậy. Mặt khác, bản thân Ta cũng làm người như vậy, chứ không phải là hô khẩu hiệu. Vậy tại sao Ta lại nói với người ta nguyên tắc này? Bởi vì chính bản thân Ta làm việc như vậy và làm người như vậy, không có điều gì cao sâu khác nữa. Có người nói: “Tín điều làm người của Ngài thật bình dân, chẳng có gì thanh tao cả, cũng đâu thể đại diện cho thân phận của Đức Chúa Trời nhập thể!”. Nói vậy có đúng không? (Thưa, không đúng.) Làm người có khuôn phép và làm việc đúng bổn phận, đây là một nguyên tắc, một tín điều. Trong cuộc sống hằng ngày, Ta làm như vậy, khi thực hiện chức vụ, tức là khi làm công tác, Ta cũng làm như vậy. Ta làm người như vậy, cũng làm việc như vậy. Chúng ta cứ xem như đang chuyện trò, tán gẫu về những chuyện này, để các ngươi cũng được thả lỏng một chút, và giúp các ngươi từ nơi Ta mà hiểu thêm một số thông tin về cuộc sống của Ta. Vậy có được không? (Thưa, được.) Nếu Ta tán gẫu đến chuyện gì đó, mà có người nói: “Phản đối! Điều Ngài nói không phù hợp với những gì Ngài biểu hiện”, thì Ta sẽ nói lại, sẽ sửa hoặc sau này sẽ sửa đổi. Nếu có người giơ tay nói: “Tán thành! Điều Ngài nói cực kỳ phù hợp với những gì Ngài bộc lộ trong cuộc sống mà chúng con nhìn thấy và nghe thấy. Điều Ngài nói là sự thật”, thì Ta sẽ tiếp tục giữ như vậy. Như thế có được không? (Thưa, được.)

Làm người có khuôn phép và làm việc đúng bổn phận, bất kể là trong cuộc sống hay trong công tác, Ta đều giữ vững tín điều này. Trong công tác của Ta, hẳn các ngươi đã có thể lĩnh hội được không ít về chuyện này, vậy chúng ta hãy nói về phương diện cuộc sống trước đã. Đức Chúa Trời nhập thể là một người có thân phận đặc biệt giữa nhân loại, nhưng khi làm việc thì Ngài hoàn toàn không làm như mình đặc biệt. Ngài cũng chưa bao giờ coi mình là nhân vật đặc biệt, mà chỉ là một người bình thường. Đến quốc gia nào thì Ngài tuân thủ pháp luật và quy định của quốc gia đó. Muốn làm việc gì đó mà không hiểu thì Ngài nhanh chóng hỏi han và tìm hiểu xem pháp luật và chính sách của địa phương quy định như thế nào, làm thế nào là vi phạm pháp luật, làm thế nào là không vi phạm pháp luật, rồi làm thế nào thích hợp thì Ngài làm thế ấy, không tự cho mình đặc quyền. Làm như vậy có phải là có khuôn phép, có phải là đúng bổn phận không? (Thưa, phải.) Đây chính là làm người có khuôn phép và làm việc đúng bổn phận. Ở những quốc gia tự do và dân chủ, khi xử lý công chuyện mà cần tìm hiểu pháp luật có liên quan thì Ngài hỏi luật sư hoặc tra cứu các luật lệ và quy định. Ngài không làm chuyện vi phạm pháp luật, cũng không lợi dụng kẽ hở của pháp luật, mà nghiêm túc tuân thủ các luật lệ và quy định, bởi vì luật lệ và quy định của đa số các quốc gia đều là để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi cá nhân, là điều người ta nên tuân thủ. Ví dụ, nếu chúng ta muốn xây dựng trong sân và cần đặt một thứ gì đó ở sân, thì trước tiên phải tìm hiểu xem chính quyền quy định về chuyện này như thế nào, trong sân có được đặt thứ đó hay không, nếu được thì đặt ở đâu là thích hợp. Sau khi hỏi rõ các chi tiết, chúng ta cứ làm theo đúng quy định của chính quyền. Nếu chính quyền không cho phép làm vậy thì chúng ta không làm. Chúng ta không vô lý gây chuyện, cũng tuyệt đối không cố tình làm việc trái pháp luật khi đã biết rõ là không được phép. Ví dụ, muốn xây dựng một công trình nào đó thì phải trình lên chính quyền để xin phê duyệt, chính quyền phê duyệt rồi mới được thi công. Công trình hoàn thành rồi, còn phải được chính quyền kiểm nghiệm, nếu kiểm nghiệm đạt yêu cầu thì chúng ta mới có thể yên tâm sử dụng, đây là quy trình xây dựng. Có người sẽ nói: “Những công trình nhỏ như thế này mà chính quyền quy định là bắt buộc phải xin phê duyệt sao? Nếu xin cũng được mà không xin cũng được, thì không cần xin đâu, vậy cho đỡ phiền”. Ta nói: “Chuyện này nhất định phải tìm hiểu cho rõ. Lỡ như bắt buộc phải được chính quyền phê duyệt mà chúng ta không xin, thì chẳng phải là đã vi phạm quy định sao? Chúng ta không được vi phạm. Đã muốn xây dựng công trình này thì nên xin phê duyệt. Nếu chính quyền nói không cần, thì chúng ta không xin cũng thấy yên tâm. Nếu chính quyền nói bắt buộc phải xin thì chúng ta đi xin phê duyệt là hợp lý và hợp pháp”. Bất kỳ chuyện gì liên quan đến pháp luật hoặc quy định của chính quyền thì buộc phải nhờ tư vấn cho thật chuẩn xác mới được, nếu không, lỡ xảy ra chuyện thì sẽ rất phiền phức. Khi sống ở nước ngoài, điều tối thiểu là không làm chuyện vi phạm pháp luật, không làm chuyện trái với quy định của chính quyền. Ví dụ, khi sống ở vùng nông thôn, nếu cần nuôi gà hoặc nuôi cừu thì phải xin chính quyền phê duyệt. Chính quyền có những quy định rất chi tiết về những chuyện này, chúng ta tuyệt đối không được vi phạm, không được cố kiếm đặc quyền. Một khi vi phạm quy định của chính quyền và bị phát hiện thì sẽ rất phiền phức. Cho nên, chuyện này đòi hỏi chúng ta phải tuân thủ kỷ cương pháp luật, đồng thời cũng liên quan đến nguyên tắc trong cách làm người và cách sống. Bất kể sống ở đâu, chúng ta cũng nên làm người có khuôn phép và làm việc đúng bổn phận. Trong sinh hoạt hằng ngày, Ta cũng luôn có khuôn phép khi qua lại với hàng xóm. Ta không gây tiếng ồn, không làm ảnh hưởng đến người khác. Bất kể chính quyền quy định như thế nào, chúng ta đều phải tuân thủ. Ngay cả khi nuôi chó, ngươi cũng phải quản lý chó cho tốt, đừng để chó sủa loạn lên làm ảnh hưởng đến việc nghỉ ngơi của hàng xóm, nhất là vào cuối tuần, khi hàng xóm đều ở nhà thì càng phải chú ý, đừng làm ảnh hưởng đến họ. Mùa đông có tuyết rơi thì cũng phải sau tám giờ sáng mới bắt đầu dọn tuyết, vì dọn quá sớm sẽ gây tiếng ồn, ảnh hưởng đến việc nghỉ ngơi của hàng xóm và khiến người ta ghét. Chính quyền đã có quy định rõ ràng thì ngươi phải tuân thủ, đừng cố ý vi phạm quy định của chính quyền, đừng kiếm chuyện với chính quyền. Đây gọi là làm người có khuôn phép. Bất kể sống ở đâu, Ta cũng hầu như không gây ra tiếng ồn. Ta chưa bao giờ mở nhạc ngoài trời, cũng không gây ầm ĩ hay nói chuyện to tiếng. Khi dắt chó đi dạo, Ta cũng không để chó sủa loạn lên. Ta cố hết sức không làm phiền hàng xóm, không quấy rầy cuộc sống của họ, không để họ ghét mình. Đây chẳng phải là làm người có khuôn phép sao? (Thưa, phải.) Vì vậy, bao nhiêu năm nay, Ta đều hòa thuận với những hàng xóm xung quanh, đôi bên yên ổn, chẳng có chuyện gì, gặp nhau thì chào hỏi, sống chung với nhau một cách thân thiện và hòa thuận. Bất kể sống ở đâu, chúng ta đều phải giữ khuôn phép khi qua lại với hàng xóm. Chúng ta không được gây phiền phức cho người ta, cũng không cần khúm núm, mà phải đối đãi với người khác một cách đúng đắn, làm việc một cách công bằng và vô tư. Làm vậy thì sống với nhau lâu cũng sẽ không có mâu thuẫn gì.

Về phương diện làm người có khuôn phép của Đức Chúa Trời nhập thể, có người nói: “Đây chẳng phải là chuyện rất bình thường sao?”. Ta nói: “Ngươi nói đúng rồi, chính là bình thường như vậy đấy”. Vậy sự bình thường này đến từ đâu? Đến từ lương tâm và lý trí của nhân tính. Chính vì Đức Chúa Trời nhập thể có lương tâm và lý trí hoàn thiện của nhân tính bình thường, nên trong chuyện làm người – một chuyện mà người ta cho là rất không có gì đáng để ý – thì nguyên tắc mà Ngài tuân giữ cũng rất không có gì đáng để ý, chính là làm người có khuôn phép. Có người nghe xong sẽ nói: “Chuyện này thì có là gì chứ? Cũng đáng để nhắc đến sao? Đây chính là sự bình thường và thực tế sao? Toàn là những chuyện nhỏ thôi mà”. Tuy đều là những chuyện nhỏ, nhưng làm người có khuôn phép lại là một phương diện thể hiện sự bình thường và thực tế của Đức Chúa Trời nhập thể, nó đáng để nói đến và đáng để người ta nhận biết. Người ta cho rằng Ta làm người có khuôn phép là chuyện chẳng có gì đáng để ý. Thế nhưng, nếu trong cuộc sống, chuyện gì Ta cũng cho mình đặc quyền, chuyện gì cũng phô trương bản thân: “Ta là Đấng Christ, Ta đến từ trời, Ta khác hẳn mọi người. Giữa nhân loại, Ta là một loại khác biệt. Toàn bộ nhân loại, toàn bộ sinh vật, toàn bộ loài thọ tạo đều phải bị đạp dưới chân Ta, vạn vật đều là bệ chân của Ta. Bất kể là người tin Đức Chúa Trời hay không tin Đức Chúa Trời, ai cũng phải phủ phục và thờ phượng Ta. Đến trước mặt Ta thì ai cũng phải nhường Ta vài phần, cũng phải cung kính với Ta”, thì như vậy có bình thường không? (Thưa, không bình thường.) Như vậy là không bình thường. Các ngươi có thấy Ta làm như vậy không? (Thưa, không.) Ta không làm như vậy. Đối với mỗi một người mà Ta có thể tiếp xúc, nhất là người ngoại đạo, Ta đều qua lại một cách hòa thuận, đều đối đãi và qua lại với họ theo đúng khuôn phép và phép xã giao. Khi chuyện trò với người khác hoặc hỏi han về chuyện gì đó, Ta đều đặc biệt tôn trọng họ. Có điều gì không hiểu thì Ta hỏi thêm, nghe ngóng thêm, và có những người rất kiên nhẫn giúp Ta giải đáp. Đương nhiên, việc Ta làm người có khuôn phép không phải vì họ đối xử với Ta như vậy nên Ta mới đáp lại họ như vậy, mà bởi vì sống trong môi trường thực tế này, Đức Chúa Trời nhập thể tuân thủ dạng nguyên tắc như vậy khi qua lại với người khác và xử lý công chuyện. Ví dụ, thư viện là nơi đọc sách và học tập, ngươi đến đó thì nên tuân thủ quy định ở đó, không được gây ồn ào và cố hết sức không nói chuyện. Nếu muốn nói thì ngươi nói nhỏ lại hoặc ra ngoài mà nói, nhất là khi điện thoại reo thì phải nhanh chóng ra ngoài nghe máy để tránh quấy rầy và ảnh hưởng đến việc đọc sách của người khác. Đây gọi là giữ khuôn phép. Trong môi trường như vậy, nếu có điện thoại gọi đến thì Ta sẽ ra ngoài nghe. Có người nói: “Chuyện này ai mà chẳng biết?”. Nhưng thật sự lại có người không biết đấy. Ở một số nhà hàng, siêu thị và những nơi xử lý công chuyện tại các nước phương Tây, thường xuyên có thể nghe thấy một số người nói chuyện rất lớn tiếng, khiến nhân viên phục vụ và nhân viên làm việc ở đó đặc biệt thấy phản cảm. Nhất là một số người châu Á hoàn toàn không hiểu chút khuôn phép nào, trông đặc biệt thấp kém. Có những nơi đã ghi rõ quy định, nhưng họ nhìn thấy mà cứ như không thấy, ngay cả khi quy định được viết bằng chính tiếng mẹ đẻ của mình thì họ cũng không tuân thủ và vẫn vi phạm. Khi nhân viên làm việc ở đó nhắc nhở, họ còn tranh cãi với người ta. Như vậy có phải là tự làm mất mặt mình không? Có những người ở trong nước quen tác oai tác quái, đến phương Tây rồi vẫn tưởng đó là địa bàn của mình, nhe nanh múa vuốt và ngang ngược như cua, hoàn toàn không giữ khuôn phép gì. Kết quả là họ đi đến đâu cũng khiến người ta thấy phản cảm và chán ghét. Thậm chí có người đi thi lấy bằng lái mà cũng gây chuyện. Sau đó, gặp đồng hương, họ còn khoe khoang: “Người Trung Quốc chúng ta đi đến đâu cũng tự do, chẳng bao giờ muốn giữ khuôn phép, càng tùy tiện càng tốt. Ai mà quản tôi thì tôi làm ầm lên với người đó!”. Đây chẳng phải là quỷ sống sao? Ngươi tưởng đây vẫn là trong nước, nơi ngươi có quyền có thế là có thể tác oai tác quái sao? Đây là nước ngoài, là quốc gia pháp trị, ngươi mà vi phạm luật lệ và quy định thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Tuân thủ kỷ cương pháp luật là điều tối thiểu mà người ta nên làm được. Người nào không hiểu cả khuôn phép tối thiểu này thì chẳng có chút hình tượng giống con người gì cả.

Thông thường, khi đến những nơi công cộng, Ta luôn đặc biệt cẩn trọng, nhất là khi đến các cơ quan nhà nước để xử lý công chuyện, Ta đều hành động thận trọng, không vi phạm khuôn phép của người ta. Bất kể là điền biểu mẫu gì hay trả lời câu hỏi nào, Ta đều làm theo đúng khuôn phép. Làm vài lần rồi thì Ta có kinh nghiệm. Giữ khuôn phép thì dễ, sợ nhất là không hiểu khuôn phép thôi. Khỏi nói đến chuyện khiến bản thân thành trò cười, không giữ khuôn phép có thể ảnh hưởng đến việc xử lý công chuyện không? Có thể, cho nên phải làm người có khuôn phép. Những chuyện này thì người phương Tây cơ bản đều làm được. Đức Chúa Trời nhập thể có lý tính và lương tâm bình thường, nên đương nhiên Ngài cũng làm được, còn làm một cách chủ động và tích cực. Ngài không coi mình là một trường hợp cá biệt khác thường giữa nhân loại thọ tạo, cũng chưa bao giờ bỏ qua những luật lệ và quy định này để kiếm đặc quyền. Bất kể đến cơ quan nhà nước để xử lý chuyện gì, Ta đều làm đúng quy trình, chưa bao giờ yêu cầu rằng: “Thân phận và địa vị của Ta đặc biệt, có thể ưu tiên cho Ta một chút được không?”. Một mặt, Ta không hỏi người khác xem có lộ trình nào như vậy hay không. Mặt khác, Ta cũng chưa bao giờ cầu nguyện với Đức Chúa Trời trên trời rằng: “Đức Chúa Trời, Ngài có thể làm cho Ta một dấu kỳ, phép lạ để hoàn thành chuyện này ngay lập tức, khỏi phải đi theo những quy trình này giống như con người được không?”. Ta chưa bao giờ cầu nguyện như vậy, thay vào đó, Ta luôn xử lý công chuyện theo đúng quy trình một cách có khuôn phép. Đương nhiên, trong quá trình xử lý những chuyện này, Ta cũng sẽ gặp một số tình huống đặc biệt. Gặp tình huống đặc biệt thì phải xử lý theo cách đặc biệt. Cần đóng phí thì Ta đóng phí, cần chờ thì Ta chờ, cần nộp lại đơn hoặc xác nhận lại với chính quyền thì Ta nộp đơn và xác nhận lại. Ta nhất định phải nghiêm ngặt làm theo đúng quy trình theo luật lệ và quy định, không vượt cấp. Bất kể là đi siêu thị mua đồ hay đến cơ quan nhà nước xử lý công chuyện, người ta xếp hàng thì Ta cũng xếp hàng, đến lượt mình thì Ta nhanh chóng bước lên. Người ta yêu cầu làm gì thì Ta làm đúng yêu cầu của họ theo khuôn phép. Ta làm người như vậy, trong cuộc sống, gặp chuyện gì Ta cũng làm như vậy và thể nghiệm như vậy. Mặc dù trong một số trường hợp đặc biệt, Ta cũng phải chịu chút ấm ức, nhưng điều đó chưa bao giờ ảnh hưởng đến tín điều “làm người có khuôn phép và làm việc đúng bổn phận” của Ta, nên làm thế nào thì Ta vẫn làm thế ấy. Nhất là Ta mang gương mặt người châu Á, vóc dáng nhỏ bé, tướng mạo bình thường, giọng nói cũng không lớn, trông rất thông thường và trung bình, đứng giữa đám đông cũng chẳng nổi bật, căn bản là chẳng ai để ý đến. Vì vậy, trong một số hoàn cảnh đặc biệt, khi xử lý công chuyện, Ta cũng sẽ phải chịu một vài sự kỳ thị ở mức độ khác nhau, hoặc là nhận được một vài “sự đãi ngộ đặc biệt” ở mức độ khác nhau. Nếu gặp những chuyện như vậy thì các ngươi làm thế nào? Các ngươi sẽ tranh luận với họ, khiếu nại họ hay cầu nguyện xin Đức Chúa Trời rủa sả họ? Các ngươi sẽ chọn cách nào? (Nếu hoàn cảnh lúc đó thích hợp, có lẽ con sẽ tranh luận với họ.) Vậy các ngươi có cầu nguyện trong lòng để nguyền rủa họ không? (Thưa, nguyền rủa thì không, chỉ là trong lòng con sẽ khá tức giận.) Khi gặp chuyện bị đối xử theo kiểu cá biệt hoặc bị kỳ thị như vậy thì nên tạm gác lại. Về phần Ta, Ta không cầu nguyện để nguyền rủa, cũng không tranh luận hay tranh chấp với họ, mà thay vào đó, Ta tạm gác lại và đối đãi một cách đúng đắn. Trong lòng Ta ít nhiều cũng thấy khó chịu, nhưng qua vài ngày thì sẽ ổn, tự Ta sẽ cho qua được. Ngay cả khi tôn nghiêm và nhân cách của ngươi phải chịu nhục thì ngươi cũng không được bộc lộ huyết khí, không được đối đãi theo cách của huyết khí. Vậy nên đối đãi như thế nào? Nếu họ kỳ thị hoặc hạ nhục ngươi thì ngươi nên nhẫn nại mà đối đãi, sau đó tránh xa họ, đừng bộc lộ huyết khí, như vậy họ cũng không thể làm gì ngươi. Lần này chịu thiệt một chút thì cũng xem như là một bài học. Nếu Ta gặp chuyện như vậy thì xuất phát từ lý tính và lương tâm của nhân tính bình thường, Ta cũng sẽ cảm thấy bị tổn thương, cũng cảm thấy nhân cách và tôn nghiêm của mình bị đả kích, trong lòng cũng sẽ khó chịu và đau đớn. Nhưng Ta tuyệt đối không vì mình có thân phận và địa vị đặc biệt mà cảm thấy uất ức, càng không thù hận hoặc nguyền rủa những người kỳ thị Ta. Tuổi càng cao, Ta càng cảm thấy những chuyện này quá bình thường. Sống trong nhân thế này, sống giữa nhân loại bại hoại như vậy, thì những chuyện này quá bình thường rồi. Ta cảm thấy chúng bình thường không phải vì Ta đã thấy mãi thành quen hay đã trở nên tê dại, mà bởi vì người ta đều là nhân loại bại hoại. Họ kỳ thị ngươi thì không phải là nhắm vào riêng ngươi, mà cả nhân loại đều như vậy. Ngươi thấy đấy, ở nước Mỹ, một quốc gia nhập cư đa chủng tộc, chủng tộc nào cũng nói mình từng bị kỳ thị, thậm chí người da trắng cũng nói mình từng bị kỳ thị. Ở những tình huống khác nhau, hoàn cảnh khác nhau và giữa những nhóm người khác nhau, người ta ai cũng sẽ bị kỳ thị. Có khi là sự kỳ thị từ chủng tộc khác, có khi người ta cũng sẽ chịu một vài sự kỳ thị hoặc đối đãi bất công từ chính chủng tộc của mình. Điều mà ngươi cho là sự kỳ thị có lẽ chỉ là một cách xử sự phổ biến nhất trong việc đối đãi với người khác của nhân loại bại hoại. Nhân loại này chính là như vậy, cho nên đừng quá đặt nặng về những chuyện như thế. Tức giận là phản ứng bình thường, nhưng ngươi nên nhanh chóng nhìn thấu chuyện này rồi cho qua nó, đừng đối đãi theo cách của huyết khí, cũng đừng nghĩ đến chuyện trả thù ai hay cầu nguyện để nguyền rủa ai. Đừng cho rằng mình không tầm thường. Ngươi chính là một người tầm thường, và người ta sẽ đối đãi với ngươi như một người tầm thường. Thấy ngươi dễ bắt nạt thì họ sẽ bắt nạt. Đây chẳng phải là chuyện rất bình thường sao? Ngươi đừng dựa trên quan niệm và tưởng tượng mà cho rằng: “Tôi không phải người tầm thường đâu. Tôi có giá trị bản thân cao biết bao, có địa vị cao biết bao. Ai bắt nạt tôi thì tôi sẽ cầu nguyện để nguyền rủa người đó. Tôi chỉ cần nói ra chỗ dựa của mình là đủ dọa chết anh. Sau này nắm quyền rồi, tôi sẽ bắt anh quỳ xuống cầu xin tha thứ, bắt anh dập đầu liên tục như gà mổ thóc”. Ta chưa bao giờ có những ý nghĩ như vậy. Trên thế giới này, ở đâu cũng có chuyện kỳ thị. Người ta kỳ thị không phải là nhắm vào riêng ngươi. Bản thân thế giới này vốn đầy rẫy sự bất công, đầy rẫy sự kỳ thị, đầy rẫy đủ loại tà ác và đủ loại việc ác. Khi gặp những chuyện như vậy, vì Ta cũng không coi mình là nhân vật đặc biệt nào, cho nên Ta rất dễ cho qua những chuyện này. Đây có phải cũng là đang tuân giữ tín điều làm người có khuôn phép và làm việc đúng bổn phận không? (Thưa, phải.)

Trong cuộc sống, Đức Chúa Trời nhập thể khó tránh khỏi phải giao tiếp và qua lại với con người, bao gồm một số anh chị em tin Đức Chúa Trời và cả một số người ngoại đạo không tin Đức Chúa Trời. Khi qua lại với các anh chị em tin Đức Chúa Trời, đương nhiên Ngài cũng có một số nguyên tắc làm người và xử sự thuộc phương diện nhân tính. Mặc dù không nghiêm ngặt tuân theo những phép tắc có qua có lại hay nhân tình thế thái, nhưng trong chuyện ân tình qua lại, Ngài cũng cố gắng không chiếm lợi của người khác, không cố kiếm đặc quyền cho mình. Có những anh chị em tiêu hao một ít thời gian và công sức để giúp Ta xử lý chút chuyện riêng, thì Ta sẽ tìm dịp tặng họ một món quà nhỏ, hoặc đến thăm họ, hoặc mời họ một bữa cơm, v.v.. Đây không phải là hối lộ, mà là có qua có lại, là không chiếm lợi của người khác. Đối với những anh chị em không có qua lại riêng với Ta, thì Ta cũng không vì ai có địa vị hay có cống hiến trong nhà Đức Chúa Trời mà tặng cho họ chút quà, cũng không vì đánh giá cao ai hoặc có quan hệ tốt với ai mà cho họ thứ gì đó hoặc dành cho họ sự chăm sóc đặc biệt. Chưa từng có chuyện như vậy. Tóm lại, khi chung sống và qua lại với người khác, Ta luôn cố gắng không chiếm lợi của người khác, cũng không cố kiếm đặc quyền. Ta sẽ không vì mình có thân phận đặc biệt mà cho rằng: “Ta dùng ngươi thế nào cũng thích hợp, ngươi đều nên chấp nhận, đó là Ta đang nâng cao ngươi”. Ta không bao giờ nghĩ như vậy. Nếu ngươi giúp Ta xử lý chuyện cá nhân, xử lý một vài chuyện ngoài công tác của hội thánh, thì Ta sẽ ghi nhớ ân tình này và sẽ đền đáp ngươi. Trên cơ sở đó, Ta sẽ có ân tình qua lại với ngươi. Đối với người ngoại đạo thì càng khỏi phải nói, nếu người ta từng giúp Ta xử lý chuyện gì, đã tiêu bao nhiêu tiền, thì một mặt Ta sẽ không để mình mắc nợ họ về mặt tiền bạc, không để họ phải tự bỏ tiền túi, đáng phải trả bao nhiêu thì Ta trả bấy nhiêu. Ngoài ra, họ đã phải hao tâm tổn sức vì Ta, chạy ngược chạy xuôi vì Ta, thì Ta cũng nên lịch sự tặng họ chút quà, bù đắp đôi chút về mặt ân tình, không chiếm lợi của họ. Người ta làm công việc này là để mưu sinh, Ta không thể để người ta vì giúp Ta xử lý công chuyện mà bị thiệt thòi hoặc phải tự bỏ tiền túi, như vậy là không thích hợp. Cho nên trong những chuyện này Ta không cố kiếm đặc quyền cho mình. Đương nhiên, đây không phải là tuân theo luật chơi, mà chỉ là phải tuân giữ những phép tắc tối thiểu về nhân tình thế thái và có qua có lại, không thể phá lệ. Nếu nhờ người khác xử lý công chuyện mà không trả tiền, lúc nào cũng muốn chiếm lợi của người ta, thì đây là biểu hiện không có nhân cách. Nguyên tắc của Ta trong những chuyện này là gì? Nếu ngươi muốn xử lý một chuyện gì đó, mà phương án người ta đưa ra thích hợp, hoặc mức giá họ đưa ra ngươi trả được, thì ngươi cứ làm. Nếu không trả nổi mức giá đó thì ngươi đừng làm, hãy tìm người lấy giá rẻ hơn mà làm. Có bao nhiêu tiền thì làm bấy nhiêu, đừng cố quá sức mình, cũng đừng nghĩ cách chiếm lợi của người khác. Nếu ngươi không có điều kiện kinh tế để xử lý chuyện này, thì ngươi đi mượn tiền, hoặc đi vay, hoặc đợi kiếm đủ tiền rồi hãy làm. Tóm lại, hãy tự mình nghĩ cách giải quyết, không được chiếm lợi của người khác. Nếu đó là nghề nghiệp của người ta, thì khi người ta xử lý công chuyện cho ngươi, ngươi phải trả thù lao đúng như đã hứa, đây là chuyện thiên kinh địa nghĩa. Không chiếm lợi của người khác, không lừa gạt người khác, không mắc nợ người khác, không giở trò vô lại, cũng không thiếu nợ, đây gọi là làm người có khuôn phép. Lúc gặp khó khăn ngươi cũng đừng than khổ với người khác, lúc nghèo túng cũng đừng chiếm lợi của người khác, lúc giàu có cũng đừng khoe của, có thân phận và địa vị cũng đừng ra vẻ ta đây. Đây chính là tín điều của Ta khi qua lại với người khác và xử lý công chuyện. Ví dụ, có lúc Ta nhờ người khác xử lý công chuyện. Bình thường làm việc này chỉ tốn một ngàn đô, nhưng người đó lại đòi năm ngàn. Tuy Ta trả được số tiền đó, nhưng họ lừa Ta như vậy thì Ta không chấp nhận được. Thông thường xử lý chuyện này đáng phải tốn bao nhiêu thì Ta trả bấy nhiêu, Ta không mặc cả với người ta. Nếu không đủ sức trả thì Ta sẽ tìm người lấy giá rẻ hơn. Ta tuyệt đối không giở trò vô lại, cũng không than nghèo kể khổ để người ta bớt giá một chút, Ta chưa từng nói những lời như vậy. Xử lý chuyện này đáng phải trả bao nhiêu thì Ta trả bấy nhiêu, Ta trả theo giá thị trường và hành động theo khuôn phép. Con người Ta nghiêm ngặt như vậy đấy. Có những người hễ có tiền thì đặc biệt phô trương và ngông nghênh. Họ mặc toàn đồ hàng hiệu, đeo nhẫn kim cương, dây chuyền, cả người lấp lánh châu báu, khiến người khác nhìn mà hoa mắt. Hơn nữa, họ đi đâu cũng mang giày cao gót, bình thường không đi trên thảm, vì thấy không có tiếng động thì quá kín đáo, nên họ chuyên đi trên nền đá cẩm thạch hoặc sàn gỗ để người khác chú ý thấy họ đã đến. Họ đeo kính râm hàng hiệu bước vào phòng mà cũng không chịu tháo ra, còn đứng ngay cửa đảo mắt nhìn một lượt xem trong phòng có những ai, ý là: “Các người có thấy bổn cô nương giá lâm không vậy?”. Đi đến đâu, họ cũng phải ra vẻ khí thế trước. Còn Ta, mùa hè nếu có đeo kính râm khi ra ngoài, thì lúc đến nơi, Ta sẽ nhanh chóng cất vào trong túi, không để người khác nhìn thấy Ta đeo kính râm rồi cho là Ta đang ra vẻ, không để người khác hiểu lầm. Giày Ta đi phần lớn là đế cao su hoặc đế xốp, lúc đi, Ta cố gắng không phát ra bất kỳ tiếng động nào. Đến xử lý công chuyện ở bất kỳ nơi nào, nếu cần bấm chuông thì Ta bấm chuông, nếu không cần bấm chuông thì sau khi vào cửa, Ta sẽ nói với nhân viên lễ tân rằng Ta đã hẹn với ai vào lúc mấy giờ, rồi ngồi đó chờ. Ta thấy có những người lúc không có chuyện gì thì ngồi xem điện thoại, vắt chéo chân, hất mái tóc được uốn lượn sóng, bên cạnh đặt chiếc túi xách hàng hiệu, ra vẻ hết cỡ. Còn Ta đi đến đâu cũng đặc biệt kín đáo, tìm một góc ngồi xuống, ôm túi vào lòng để khỏi bị kẻ xấu cướp mất. Ta cẩn trọng và không phô trương. Đến lượt mình thì Ta lập tức đi xử lý công chuyện, không chần chừ, và cố hết sức không thu hút sự chú ý của người khác. Ta xử lý công chuyện theo khuôn phép, không mắc nợ người khác. Ta đi đến đâu, thì cử chỉ và hành động cũng nhẹ nhàng chừng mực, không muốn gây sự chú ý cho bất kỳ ai. Nghĩa là, Ta đi đến đâu để xử lý công chuyện, thì cũng cử động nhẹ nhàng, chưa từng làm kiểu chưa thấy người mà đã nghe tiếng. Khi qua lại với người ngoại đạo, nếu thông thường người ta xử lý công chuyện theo khuôn phép nào, thì Ta cũng sẽ làm theo những khuôn phép đó. Ví dụ, trong một ngành nghề nào đó có quy tắc rằng sau khi người ta giúp xử lý xong công chuyện thì phải mời họ một bữa cơm. Căn cứ vào số tiền giao dịch, thông thường mức chi cho bữa cơm khoảng mười lăm đô, thì Ta sẽ mời họ một bữa cơm khoảng chừng ấy. Có người nói: “Đã mời cơm thì Ngài cứ chi thêm một ít để phô trương một lần chứ”. Chuyện đó không cần thiết. Người ta có quy tắc gì thì chúng ta cứ tuân theo quy tắc đó, đừng làm quá, cũng đừng vì phô trương mà tiêu tiền oan. Ở các nước phương Tây, khi nhờ người khác xử lý công chuyện, hoặc thuê lao động theo giờ hay công nhân làm việc, thì thường còn cho tiền boa. Có ngành nghề quy định rõ mức tiền boa, cũng có ngành nghề không quy định. Nếu không có quy định, thì thường vì phép lịch sự và sự tôn trọng đối với người lao động, Ta sẽ dựa trên tiền công của họ, cũng như chất lượng và thái độ làm việc của họ mà boa một khoản hợp lý. Nếu họ làm tốt thì Ta sẽ cho thêm năm đô. Nếu họ làm chỉ ở mức trung bình và sau này Ta không muốn thuê họ nữa, thì Ta sẽ không cho thêm, nhưng cũng không hề bớt đi số tiền họ đáng được nhận. Đối với chuyện boa tiền này, Ta không coi mình là đại gia rồi cố ý khoe giàu, cứ rút đại một xấp tiền rồi không đếm mà cứ thế đưa cho người ta, Ta chưa bao giờ làm như vậy. Thay vào đó, trước khi họ bắt đầu làm việc, Ta đã chuẩn bị sẵn số tiền theo đúng tiền công của họ, đến khi họ rời đi thì đưa cho họ. Đa số mọi người đều khá hài lòng. Đây cũng có thể xem là một khuôn phép xử lý công chuyện ở phương Tây. Đã là khuôn phép thì chúng ta phải giữ, đừng phá vỡ. Nếu các ngươi mới đến một nơi, chưa hiểu khuôn phép, thì tốt nhất nên tìm hiểu thêm. Một khi đã hiểu rồi thì đừng giả vờ không hiểu, hãy cố gắng xử lý mọi chuyện theo khuôn phép. Đương nhiên, Ta không làm như vậy vì sợ người khác xét đoán sau lưng, hay là sợ người ta nói Ta làm người không có khuôn phép. Không phải Ta sợ những chuyện đó, mà vì Ta cảm thấy nên làm như vậy, và đó là chuyện thuộc chức phận của mình. Có người nói: “Nếu Ngài bớt mười đô trả cho người ta, chẳng phải Ngài sẽ có thêm tiền để ăn một bữa sao?”. Không thể tính toán như vậy được. Đó là số tiền người ta đáng được nhận, ngươi bớt mười đô trả cho người ta thì chẳng khác nào chiếm lợi của người ta mười đô. Dùng số tiền chiếm lợi của người khác để chi tiêu cho bản thân là làm việc trái lương tâm. Làm việc trái lương tâm như vậy thì không hợp với nhân tính, là vô nhân tính. Nếu ngươi tính toán như vậy thì không phải là làm người có khuôn phép. Làm người có khuôn phép, thì tối thiểu phải hành động công bằng, một là một, hai là hai. Giả sử ngươi làm trong ngành dịch vụ, phải dựa vào tiền boa để sống. Nếu người ta không boa cho ngươi, chiếm lợi của ngươi, thì ngươi sẽ cảm thấy thế nào? Cùng một lô-gic vậy thôi. Có thể trong một số ngành nghề, không boa tiền thì không phạm pháp, cũng không có ai truy cứu ngươi, nhưng lương tâm ngươi có yên ổn không? Nếu lương tâm không yên ổn, thì ngươi đã mắc nợ lương tâm rồi. Cả đời này nếu ngươi mắc quá nhiều món nợ với lương tâm, thì đến bao giờ mới trả hết? Ngươi không được làm người như vậy. Có thể ngươi cảm thấy không boa tiền thì mình chiếm được chút lợi, nhưng lương tâm ngươi thật sự không cáo trách sao? Nếu nó thật sự không hề cáo trách, thì con người ngươi thực sự có vấn đề rồi. Một chút lợi nhỏ như vậy mà ngươi cũng chiếm, thì chẳng phải ngươi có thể làm ra những chuyện xấu hơn sao? Với tâm thái như vậy, ngươi còn có thể thực hành lẽ thật được sao?

Những ví dụ được thông công trong phương diện làm người có khuôn phép này đều là những chuyện mà mỗi người đều có thể tiếp xúc trong quá trình sinh sống và sinh tồn. Đối với Đức Chúa Trời nhập thể, đây cũng là những chuyện không thể tránh khỏi khi sống giữa nhân loại này, chúng đều là những chuyện Ngài buộc phải đối mặt. Về cơ bản, khi làm những chuyện này, Đức Chúa Trời nhập thể đều tuân thủ nghiêm ngặt tín điều và nguyên tắc làm người có khuôn phép và làm việc đúng bổn phận, bản thân Ta làm đúng như vậy. Đương nhiên, những lúc Ta qua lại với các ngươi mà có liên quan đến công tác của hội thánh hoặc liên quan đến cuộc sống cá nhân của các ngươi, nếu các ngươi nhờ Ta thông công với các ngươi hoặc hỏi ý kiến Ta về cách xử lý một vấn đề nào đó, thì Ta cũng sẽ nghiêm ngặt chiếu theo đúng tín điều làm người này của Ta mà thông công với các ngươi. Các ngươi tiếp nhận cũng được, không tiếp nhận cũng không sao, nhưng tóm lại, quan điểm của Ta, phương thức và nguyên tắc làm người của Ta là bất biến. Ta tuyệt đối sẽ không dạy các ngươi lợi dụng kẽ hở của pháp luật để chiếm thêm chút lợi ích, làm như vậy thì tuyệt đối không thích hợp. Bất kể gặp chuyện gì, trước hết Ta đều sẽ để cho các ngươi hiểu rõ chuyện đó có liên quan đến pháp luật, chính sách hay quy định của một ngành nghề nào đó hay không. Nếu có liên quan, Ta sẽ bảo các ngươi hỏi viên chức chính quyền, hỏi luật sư hoặc lên mạng tra cứu những quy định có liên quan. Nếu liên quan đến vấn đề tài chính thì ngươi hãy hỏi kế toán. Bất kể ở quốc gia nào, ngươi cũng phải thực hành như vậy. Ta làm như vậy, cũng tuyệt đối không khuyến khích ngươi vi phạm những tín điều này. Thay vào đó, Ta yêu cầu ngươi phải tuân thủ nghiêm ngặt luật lệ và quy định của mọi quốc gia, bao gồm mọi quy định và quy tắc ở bất kỳ nơi công cộng hay trong bất kỳ ngành nghề nào. Nếu không biết thì ngươi phải chủ động tìm hiểu và nhờ tư vấn, nếu đã biết thì phải cố hết sức mà tuân thủ, người ta quy định thế nào thì chúng ta làm thế ấy. Ngay cả khi có lúc quy định hoặc pháp luật của quốc gia sở tại ảnh hưởng đến thời gian làm bổn phận của ngươi, hoặc ảnh hưởng đến một số chuyện liên quan đến việc làm bổn phận của ngươi, thì ngươi vẫn phải tuân thủ những gì nên tuân thủ. Chúng ta hãy tìm cách điều chỉnh thời gian hoặc môi trường làm bổn phận để tránh xung đột với luật lệ và quy định của quốc gia, đồng thời cũng tránh phát sinh những hành vi hoặc sự việc vi phạm luật lệ và quy định của quốc gia. Làm như vậy có thích hợp không? (Thưa, thích hợp.) Một mặt là vậy. Mặt khác, bất kể là luật lệ và quy định của quốc gia nào, bất kể hợp lý hay không hợp lý, chỉ cần chúng được chính quyền quy định rõ ràng, chỉ cần chúng nằm trong phạm vi sinh sống và sinh tồn của Ta, thì điều gì nên tuân thủ, Ta đều cố hết sức tuân thủ và phối hợp. Ta tuyệt đối sẽ không tùy tiện bình phẩm hoặc phê phán những điểm nào bất hợp lý hoặc không phù hợp với lợi ích của con người trong luật lệ và quy định của chính quyền. Thay vào đó, bất kể chính quyền có những quy định gì thì Ta đều tuân thủ. Đương nhiên, việc tuân thủ luật lệ và quy định của chính quyền mà Ta nói đến thì không bao gồm những luật chống lại tín ngưỡng tôn giáo hoặc phủ nhận và chống đối Đức Chúa Trời, mà là những luật lệ và quy định bảo đảm quyền lợi của công dân, duy trì trật tự xã hội và thúc đẩy sự công bằng, đây là những điều người ta nên tuân thủ. Bất kể trong lòng người ta nghĩ gì, thì tuân thủ luật lệ và quy định là chuyện hàng đầu. Người ta nên tôn trọng pháp luật của quốc gia, tôn trọng các quy định và quy tắc của bất kỳ ngành nghề nào. Nếu ngươi không thích ứng được hoặc không thích, thì ngươi có thể tránh xa ngành nghề đó hoặc rời khỏi quốc gia đó. Nhưng nói một cách lý tính, nếu ngươi sinh sống tại quốc gia nào đó, nếu ngươi qua lại với những người trong ngành nghề nào đó, thì ngươi nên tuân thủ pháp luật của quốc gia đó, nên tuân thủ các quy tắc, kỷ luật và thậm chí cả một số chuẩn mực đạo đức của ngành nghề đó hoặc của một số hoàn cảnh và môi trường đặc biệt. Đối với luật lệ, quy định và quy tắc của nhân loại, cùng những quy định và kỷ luật đặc biệt ở nơi công cộng, cả đạo đức cơ bản và chuẩn mực hành vi của con người, Ta đều cố gắng tuân thủ nghiêm ngặt. Ta chưa từng tự cho mình có thân phận và địa vị đặc biệt, cũng không chống đối bất kỳ điều nào trong các luật lệ, quy định, kỷ luật hay quy tắc nào. Ta không thách thức chúng, cũng không cố ý phá hoại chúng và làm theo lề lối riêng của mình, mà thay vào đó, Ta tuân thủ nghiêm ngặt. Đằng sau việc tuân thủ nghiêm ngặt này là sự tôn trọng đối với các luật lệ, quy định, quy tắc và nội quy của người ta. Đây cũng là nguyên tắc mà người ta thực sự thực hành và tuân giữ khi làm người có khuôn phép và làm việc đúng bổn phận. Có lẽ một số người không hiểu thái độ của Ta đối với những chuyện này là gì, trong lòng họ sẽ có một số ý nghĩ không phù hợp với thực tế, hoặc có một số quan niệm và tưởng tượng trống rỗng về nguyên tắc và tín điều của Ta khi làm những chuyện này. Thông qua mối thông công như thế này, các ngươi thấy trong chuyện này có điều gì trống rỗng không? (Thưa, không có.) Nói rằng không có điều gì trống rỗng nghĩa là thái độ của Ta đối với những chuyện này là đứng trên góc độ nhân tính để tiếp cận một cách lý tính. Ta không đứng ở địa vị cao, không đứng ở góc độ của tầng trời thứ ba, cũng không đứng từ địa vị đặc biệt của thân phận Đức Chúa Trời để tiếp cận những chuyện này. Thay vào đó, Ta tiếp cận chúng một cách rất có tính người từ góc độ lý tính. Ta chưa từng lấy thân phận của Đức Chúa Trời nhập thể ra để tiếp cận những chuyện này, cũng chưa từng lấy thân phận của Đức Chúa Trời nhập thể để nhìn nhận những chuyện này bằng thái độ coi thường tất cả. Ta chưa từng thách thức những chuyện này, cũng không gây rối loạn luật lệ và quy định của quốc gia hay quy định của bất kỳ ngành nghề nào. Thay vào đó, Ta luôn tuân thủ nghiêm ngặt những pháp luật, quy định, quy tắc, v.v. đó một cách thành thật và đúng bổn phận. Thậm chí, thực tế hơn nữa, trong chuyện giao tiếp với người khác, Ta cũng tuân theo một nguyên tắc rất có tính người.

Chúng ta đã thông công về một số biểu hiện của Đức Chúa Trời nhập thể trong việc làm người có khuôn phép. Đây có thể là những chuyện mà các ngươi chưa từng nghĩ đến, cũng có thể là những chuyện mà các ngươi xưa nay vốn không hề để vào mắt, hoặc là các ngươi có ý nghĩ rất trống rỗng về những chuyện này, hoặc là hoàn toàn khinh rẻ khi nhìn thấy, tiếp xúc, hay nghe nói đến những chuyện này. Nhưng những chuyện này lại là một sự thể hiện của sự bình thường và thực tế cùng sự khiêm nhường và ẩn giấu mà xác thịt Đức Chúa Trời nhập thể biểu hiện ra. Đồng thời, đây cũng là biểu hiện làm người bình thường nhất và thực tế nhất của Thần của Đức Chúa Trời khi mặc lấy xác thịt và sống giữa nhân gian. Thông qua những biểu hiện này, người ta có thể hiểu rõ hơn về cách Đức Chúa Trời trên trời nhìn nhận, tiếp cận và xử lý chuyện làm người và chuyện trở thành một thành viên của nhân loại. Những tín điều và nguyên tắc làm người này giúp nhân loại thấy được và nhận biết được rằng mỗi một chuyện Đức Chúa Trời làm đều không trống rỗng, đều được làm một cách thực tế, đều được thực hành theo nguyên tắc một cách thực tế, tuân thủ luật lệ và quy định của nhân loại, tuân thủ những quy tắc trong đủ mọi lĩnh vực của nhân loại. Trong khi tuân thủ những luật lệ và quy định này, Đức Chúa Trời nhập thể còn làm chức vụ của Ngài và làm công tác mà Ngài phải làm. Bất kể là sống thể hiện ra nhân tính bình thường hay là làm công tác thần tính của Ngài, thì hai phương diện này đều không xung đột hay mâu thuẫn gì với nhau. Những tín điều và nguyên tắc làm người được Đức Chúa Trời biểu hiện trong cuộc sống nhân tính bình thường của Ngài thể hiện sự bình thường và thực tế của Đức Chúa Trời nhập thể, một mặt là vậy. Mặt khác, Ngài cũng sống thể hiện ra nhân tính bình thường có lương tâm và lý trí mà Thần của Đức Chúa Trời nên có khi trở thành một con người hoặc mặc lấy xác thịt để sống giữa nhân gian. Mặc dù rất nhiều lúc, những điều sống thể hiện ra này dường như không có liên hệ với chức vụ mà Đức Chúa Trời nhập thể làm trong thần tính, nhưng tín điều và nguyên tắc được tuân thủ khi Đức Chúa Trời sống thể hiện ra trong nhân tính lại hoàn toàn giống với thực chất của lẽ thật, tâm tính Đức Chúa Trời và những yêu cầu mà Ngài đặt ra đối với nhân loại được bày tỏ trong công tác thần tính của Ngài. Nguyên tắc làm người mà Đức Chúa Trời nhập thể tuân giữ trong cuộc sống nhân tính là làm người có khuôn phép và làm việc đúng bổn phận. Còn nguyên tắc làm công tác mà Ngài tuân giữ khi làm công tác trong thần tính về cơ bản vẫn là những điều này – làm người có khuôn phép và làm việc đúng bổn phận, nguyên tắc không hề thay đổi. Vì vậy, đối với Đức Chúa Trời nhập thể, nhân tính và thần tính của Ngài không bao giờ tách rời nhau, mà thay vào đó, là hoàn toàn hợp nhất. Thần tính của Ngài có thể được bày tỏ thông qua nhân tính của Ngài, còn nhân tính của Ngài cũng là sự thể hiện một phần thần tính của Ngài. Cho nên, khi Đức Chúa Trời nhập thể sống giữa nhân loại, nhân tính và thần tính của Ngài mà người ta có thể nhìn thấy trong giai đoạn này không lệch pha hay tách rời, mà tương hợp với nhau. Sự sống thể hiện ra của nhân tính cùng với tín điều và nguyên tắc làm người của Ngài, ở một mức độ nhất định, đều được Thần của Đức Chúa Trời canh giữ, ảnh hưởng và chi phối. Mặt khác cũng có thể nói rằng Ngài sống thể hiện ra nhân tính bình thường có lương tâm và lý trí của mình. Có dạng nhân tính như vậy rồi thì xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể mới có thể gánh vác toàn bộ công tác của thần tính, công tác mà thần tính nên làm. Có dạng nhân tính như vậy rồi thì xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể mới có thể làm tròn và làm tốt chức vụ của Ngài. Đây là một cách lý giải. Một cách lý giải khác là có thể nói rằng chức vụ mà Đức Chúa Trời nhập thể làm được hoàn thành thông qua một nhân tính có sự bình thường và thực tế như vậy. Dù nói theo cách nào, thì thực chất nhân tính và thần tính của Đức Chúa Trời nhập thể cùng cấu thành Đức Chúa Trời nhập thể, tức là Đấng có thân phận đặc biệt của Đấng Christ. Vì vậy, những tín điều và nguyên tắc làm người của nhân tính này nơi Đức Chúa Trời nhập thể mà ngươi nhìn thấy, cả những biểu hiện, thái độ và quan điểm cụ thể của Ngài trong mỗi một chuyện Ngài làm, là một phần của nhân tính, đương nhiên cũng có thể nói là một phần của thần tính. Hai điều này không thể tách rời nhau. Nghĩa là, khi ngươi nhìn thấy nơi Đức Chúa Trời nhập thể có nhân tính như vậy thì ngươi nên chắc chắn rằng Ngài chính là xác thịt mà Đức Chúa Trời mặc lấy. Đương nhiên, khi ngươi tiếp xúc với lẽ thật mà Đức Chúa Trời bày tỏ, trong khi thừa nhận Đức Chúa Trời nhập thể có thần tính, thì ngươi cũng nên thừa nhận rằng nhân tính của Ngài là một phần của Đức Chúa Trời nhập thể, Đấng có thân phận đặc biệt. Dù nói thế nào thì cuối cùng cũng là để người ta nhìn thấy phương diện bình thường và thực tế của Đức Chúa Trời nhập thể, cùng những tín điều và nguyên tắc làm người mà Ngài sống thể hiện ra, bởi vì những điều này liên quan đến rất nhiều vấn đề mà xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể đối mặt trong việc sinh tồn và cuộc sống của Ngài. Mặc dù những biểu hiện thực tế trong cuộc sống nhân tính của Đức Chúa Trời nhập thể chưa đạt đến mức là làm chức vụ hay cung ứng lẽ thật, đường đi và sự sống cho nhân loại, nhưng những tín điều và nguyên tắc làm người này cũng không hề tách rời thần tính bên trong Đức Chúa Trời nhập thể. Chính vì xác thịt này là xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể, là xác thịt mà Thần của Đức Chúa Trời mặc lấy, nên nhân tính bình thường của Đức Chúa Trời nhập thể này mới có thể có những tín điều và nguyên tắc làm người như vậy. Hàm ý ở đây là, bất kỳ người nào thuộc nhân loại bại hoại, bất kỳ ai trong nhân loại bại hoại có xuất thân ưu việt, có thân phận, có giá trị bản thân và địa vị cao quý, cũng rất khó làm được chuyện làm người có khuôn phép và làm việc đúng bổn phận, không một ai ngoại lệ. Cho nên, phương diện bình thường và thực tế này là những gì Đức Chúa Trời nhập thể có và là trong nhân tính của Ngài, đương nhiên cũng là một phần những gì Đức Chúa Trời nhập thể có và là trong thần tính của Ngài, chỉ có điều, Ngài biểu đạt và bộc lộ những điều đó thông qua nhân tính của Ngài. Nếu Đức Chúa Trời nhập thể đi đến đâu cũng ba hoa khoác lác, lúc nào cũng đứng ở địa vị cao, nói những lời khoa trương và cảm thấy mình tôn quý, chẳng để ai vào mắt, trịch thượng hơn người, lúc nào cũng muốn giẫm mọi người dưới chân, hễ thấy ai không phủ phục thờ lạy mình thì nguyền rủa, biến người đó thành tro bụi, lập tức hủy diệt họ, hoặc dùng ánh mắt sắc bén mà đánh giết họ, như vậy thì khó mà nói được bên trong Ngài có thực chất thần tính hay không. Một mặt, Đức Chúa Trời nhập thể có lương tâm và lý trí của nhân tính bình thường để duy trì mọi việc sinh hoạt, lời nói và hành vi của xác thịt này. Mặt khác, thần tính của Ngài cũng đang phát huy tác dụng ở bên trong Ngài, bởi vì dù sao thì thần tính mới là sự sống đích thực của Ngài. Nếu nhân tính của Ngài cũng kiêu ngạo và tự nên công chính giống như nhân loại bại hoại thì ngươi nói xem, người này có phải là Đức Chúa Trời nhập thể không? (Thưa, không phải.) Nếu người ta lúc nào cũng có những biểu hiện siêu nhiên, lúc nào cũng cảm thấy mình là tiên nhân hạ phàm, luôn có cảm giác như vậy. Giả sử khi nói chuyện với người khác, họ lúc nào cũng ăn trên ngồi trốc, khiến người ta luôn phải ngước nhìn lời nói và hành vi của mình. Giả sử trong lòng họ còn luôn có những ý nghĩ siêu nhiên, thoát tục, chỉ cần liếc nhìn một người là biết được chuyện kiếp trước của người ta, biết người ta đã làm những việc ác gì, đã làm những chuyện gì, đã luân hồi bao nhiêu lần làm người, bao nhiêu lần làm động vật. Hơn nữa, họ lúc nào cũng cảm thấy mình vô cùng tôn quý, khi nói chuyện thì luôn có những biểu hiện siêu nhiên, còn có những dấu kỳ phép lạ đi kèm, khiến người ta nhìn vào đều cảm thấy đặc biệt. Người như vậy thì không bình thường rồi. Một mặt, tâm tính sự sống bên trong họ không bình thường. Mặt khác, sự sống bên trong họ không phải là sự sống của thần tính. Chỉ có thể nói như vậy.

Những gì xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể bày tỏ và sống thể hiện ra, bất kể là tín điều làm người hay nguyên tắc xử lý sự việc, đều đặc biệt bình thường và thực tế. Hãy xem những điều Ta nói và những việc Ta làm trong cuộc sống hằng ngày, có chuyện nào không bình thường không? Có chuyện nào siêu nhiên hay cá biệt và khác thường không? (Thưa, không có.) Bất kể Ta xử lý chuyện gì, ngươi cũng không thấy Ta là người khác thường. Ta không phải là người khác thường, Ta chỉ là một người bình thường. Hơn nữa, tư tưởng, quan điểm, tư duy và lô-gic của Ta khi xử lý mỗi một chuyện đều không lệch lạc, không cực đoan, không siêu nhiên. Khi giao tiếp và qua lại với người khác, Ta ôn hòa, bình tĩnh. Người ta sẵn lòng qua lại với Ta thì Ta tiếp xúc với họ. Nếu người ta không muốn tiếp xúc với Ta thì Ta cũng chẳng cố trèo cao. Ngươi thấy tư duy của Ta trong chuyện qua lại với người khác, xử sự, xử lý các loại công chuyện và làm người, có bình thường không? (Thưa, bình thường.) Tất cả đều bình thường. Ta chưa từng kêu gọi hay xúi giục các ngươi đối đầu với chính quyền của bất kỳ quốc gia nào, Ta cũng chưa từng nói với các ngươi những lời như: “Những người tin Đức Chúa Trời đều đến từ Đức Chúa Trời, đều đến từ tầng trời thứ ba. Đừng sợ thế gian này, hãy giẫm đạp thế gian này dưới chân các ngươi! Các ngươi đều là những người con trai đắc thắng, hãy cầm gậy sắt để cai quản thế gian này, cai quản nhân loại này. Vạn vật đều ở dưới chân chúng ta!”. Ta có từng nói những lời đó không? (Thưa, không.) Ta nói những gì? Ta nói rằng bất kể làm việc gì, các ngươi cũng phải theo khuôn phép. Bất kể tin Đức Chúa Trời và làm bổn phận ở quốc gia nào, các ngươi đều phải tuân thủ pháp luật, phải xử lý công chuyện theo quy định của chính quyền, tuyệt đối không được tùy ý làm càn, phải cẩn trọng và không được buông thả. Nếu các ngươi vi phạm luật lệ và quy định của chính quyền, một khi bị người ta khiếu nại thì sẽ ảnh hưởng đến việc làm bổn phận. Ta luôn nhắc đi nhắc lại những lời này. Tuy nghe vậy có vẻ rất thường nhưng lại rất thực tế, bởi vì các ngươi quá thiếu sự từng trải và sự thấu suốt, rất dễ phạm sai lầm. Các ngươi là những người tin Đức Chúa Trời. Các ngươi đến các quốc gia khác làm bổn phận là để tuân theo ý chỉ của Đức Chúa Trời và làm chứng cho Đức Chúa Trời, chứ không phải để đối đầu với bất kỳ quốc gia hay đảng cầm quyền nào. Chúng ta chính là những loài thọ tạo làm bổn phận của mình, hoàn toàn thuận phục dưới sự tể trị của Đấng Tạo Hóa. Đức Chúa Trời sắp đặt và an bài thế nào, chúng ta đều thuận phục. Bất kể đến quốc gia nào, sống trong môi trường như thế nào, hay ở nhà của anh chị em nào, thì các ngươi đều phải có khuôn phép, giúp được việc gì thì cố hết sức mà giúp. Ngoài ra, quốc gia đó có luật lệ và quy định gì thì chúng ta đều phải tuân thủ. Ta hết lần này đến lần khác dặn dò các ngươi đừng vi phạm khuôn phép, đừng để người ta khiếu nại. Nếu bị khiếu nại thì phải tìm hiểu cho rõ lần này mình đã phạm sai lầm gì, đã vi phạm quy định nào, và tại sao người ta khiếu nại mình. Ngươi rút ra bài học rồi thì đừng để bị khiếu nại nữa. Nếu không rút ra bài học thì sau này ngươi vẫn cứ bị người ta khiếu nại. Những lời Ta nói đều là căn cứ vào tình hình thực tế để giải quyết vấn đề, để nói cho ngươi biết cách sinh hoạt và cách sinh tồn, cả cách giữ khuôn phép, để khỏi đem lại những phiền phức không cần thiết cho cuộc sống và sự sinh tồn của chính các ngươi. Bất kể các ngươi đến quốc gia nào, cũng đều để làm bổn phận. Trước hết, ngươi phải hòa nhập vào quốc gia đó, phải tuân thủ luật lệ và quy định của quốc gia đó, không được gây rối loạn trật tự vốn có của họ, cũng không được gây bất kỳ phiền phức nào cho họ. Có vậy người ta mới thu nhận ngươi, xem ngươi là một thành viên của quốc gia đó, như vậy thì ngươi mới có thể yên tâm làm bổn phận. Nếu ngay cả khuôn phép của địa phương mà ngươi cũng không tuân thủ, cứ làm những chuyện không hiểu khuôn phép, luôn khiến người ta khiếu nại và kiếm chuyện với ngươi, thậm chí còn khiến người ta ghét bỏ, không muốn để ngươi tiếp tục sống ở đó nữa, thì còn nói gì đến chuyện làm bổn phận chứ? Bất kể sống ở đâu, ngươi cũng phải tuân thủ luật lệ và quy định của địa phương. Các ngươi nói xem, thực hành như vậy có đúng không? Có ích cho các ngươi trong việc làm bổn phận không? (Thưa, có.) Thực hành như vậy rất thực tế. Tuân thủ luật lệ và quy định là thường thức tối thiểu trong cuộc sống thực tế. Đây không phải là chuyện bé xé ra to, càng không phải là quá nhạy cảm, mà là nguyên tắc bắt buộc phải tuân thủ trong cuộc sống thực tế. Nếu xảy ra chuyện hoặc xuất hiện vấn đề gì thì chúng ta cùng thảo luận xem giải quyết thế nào là tốt nhất, làm sao rút ra bài học để sau này cố gắng bớt phạm sai lầm hoặc không phạm sai lầm nữa, trở thành một người có khuôn phép và đúng bổn phận. Có những người đi đến đâu cũng không tuân thủ khuôn phép, xả rác bừa bãi khắp nơi, thỉnh thoảng còn lớn tiếng ồn ào làm ảnh hưởng đến việc nghỉ ngơi của hàng xóm. Họ giống như thú hoang vào làng, gây ảnh hưởng và quấy nhiễu môi trường sinh hoạt của cộng đồng, đi đến đâu cũng khiến người ta coi thường và để người ta ghét. Ta bảo những người này phải tuân thủ nghiêm ngặt luật lệ và quy định của địa phương, phải hiểu quy củ, làm người như vậy mới có nhân tính bình thường. Các ngươi nói xem, lối tư duy và xuất phát điểm của Ta khi xử lý những chuyện này có đúng không? (Thưa, đúng.) Ta không làm những việc cao siêu, vĩ đại và đẳng cấp, hoặc là trừu tượng, siêu phàm thoát tục, cá biệt khác thường. Ta chỉ sửa chữa, hướng dẫn về những chuyện nhỏ trong cuộc sống của người ta, những sai lầm và tật xấu xuất hiện trong cuộc sống của họ, còn chỉ ra, uốn nắn và đưa ra gợi ý cho họ. Đối với Đức Chúa Trời nhập thể, làm người như vậy có thực tế không? (Thưa, thực tế.) Quá thực tế! Xử lý những chuyện này thì hoàn toàn không trống rỗng, cũng hoàn toàn không tách rời cuộc sống thực tế. Vì vậy, bất kể nhìn từ tín điều và nguyên tắc làm người, làm việc được thể hiện ra trong cuộc sống thường nhật của Đức Chúa Trời nhập thể, hay nhìn từ những lẽ thật mà Đức Chúa Trời nhập thể thông công trong khi làm chức vụ, thì phương diện nào cũng rất bình thường và thực tế. Cả hai phương diện đều là những điều mà người có tư duy bình thường, yêu thích những điều tích cực, cũng như có lương tâm và lý trí đều có thể lý giải, có thể lĩnh hội, có thể tiếp nhận và có thể làm được. Không có phương diện nào tách rời cuộc sống thực tế. Đây chính là bình thường và thực tế.

Những chuyện vặt trong cuộc sống mà Ta vừa nói tới có liên quan đến nguyên tắc làm người và làm việc hay không? Có giúp ích cho các ngươi không? (Thưa, có.) Vậy chúng ta nói tiếp. Có lần, hệ thống tưới cỏ trong sân của chúng ta có một đường ống không biết bị hỏng từ lúc nào, và nước rò rỉ chảy sang sân hàng xóm. Ta liền cho người nhanh chóng đến nói với hàng xóm một tiếng, xem có cần giúp họ dọn dẹp không. Hàng xóm thấy nước chảy sang nhiều như vậy tuy có chút không vui, nhưng thấy chúng ta chủ động đến nói, nên vì lịch sự mà họ không nói gì thêm. Sau đó, đến dịp Giáng Sinh, chúng ta tặng họ một hộp sô-cô-la để tỏ ý xin lỗi. Họ khá bất ngờ, cũng rất vui, còn bảo nếu chúng ta cần giúp gì thì cứ nói, cứ tới tìm họ. Đến chiều tối, họ còn dẫn theo con đến tặng chúng ta một giỏ trái cây và nói: “Chúc các bạn một mùa lễ vui vẻ! Cảm ơn món quà của các bạn, hoan nghênh các bạn đến với cộng đồng của chúng tôi!”. Họ hỏi han vài câu rồi ra về. Ta thấy xử lý chuyện này như vậy không tệ, như vậy thì quan hệ với hàng xóm hẳn không quá kém. Đây là khi có chuyện xảy ra thì để xoa dịu mối quan hệ hoặc làm dịu đi sự việc mà tặng đối phương một món quà để bày tỏ lời xin lỗi, có ân tình qua lại một cách đơn giản. Đương nhiên, người ta cũng đâu nhận không quà của ngươi và chiếm lợi của ngươi, người ta cũng đáp lễ. Các ngươi thấy đó, người phương Tây rất coi trọng chuyện này, khi tặng quà thì họ đặc biệt chân thành. Món quà có đắt tiền hay không cũng chẳng thành vấn đề, điều quan trọng là tấm lòng của họ đặc biệt chân thành. Đây chính là ân tình qua lại, xử lý chuyện này như vậy là rất thích hợp. Đương nhiên, xử lý loại chuyện này cũng có bối cảnh. Bình thường khi không có chuyện gì thì không cần vô duyên vô cớ bợ đỡ ai, chủ động nấu món Hoa hay tặng quà cho người ta, cố ý duy trì mối quan hệ với người ta, không cần làm như vậy. Bình thường gặp nhau thì chào hỏi một tiếng, sống hòa thuận với nhau là được rồi. Nhưng khi có chuyện xảy ra, chẳng hạn như ngươi làm sai và cần xin lỗi, thì hãy đi xin lỗi. Làm như vậy là xuất phát từ lý tính của nhân tính bình thường, không khoa trương, cũng không giả tạo chút nào. Các ngươi nói xem, xử lý như vậy có thích hợp không? Có hợp nguyên tắc không? (Thưa, có.) Không hạ mình luồn cúi, cũng không ngạo mạn khinh người. Không ra vẻ bề trên, nhưng cũng giữ gìn tôn nghiêm của mình. Có những người lại cho rằng: “Người phương Tây thích ăn món Hoa. Để tránh sau này lỡ chúng ta vi phạm quy định nào đó rồi bị họ khiếu nại, chi bằng chúng ta gói ít sủi cảo, mang ít thức ăn tặng họ”. Không có chuyện gì mà lại săn đón bợ đỡ người khác, các ngươi nói xem như vậy có thích hợp không? (Thưa, không.) Một mặt, món ăn ngươi làm có chuẩn vị như nhà hàng chuyên nghiệp hay không, người ta có muốn ăn hay không, chuyện này khó mà nói được. Ngoài ra, người ta cũng không quen biết ngươi, ngươi tự tay làm đồ ăn cho người ta thì người ta có tin tưởng ngươi không? Một mặt khác nữa, chẳng có chuyện gì xảy ra, tại sao ngươi lại tặng quà cho người ta? Người ta quen biết ngươi sao? Có qua lại hay có giao tình gì sao? Đều không có, vậy mà ngươi luôn mang món Hoa đến cho người ta, như vậy chẳng phải là cách làm của người bị tâm thần sao? (Thưa, phải.) Làm như vậy có khiến người ta ghét không? (Thưa, có.) Các ngươi xem nguyên tắc Ta đối đãi với hàng xóm là gì đi. Lối tư duy của Ta có bình thường không? Ta nắm bắt nguyên tắc có chính xác và thích hợp không? (Thưa, chính xác và thích hợp.) Ta có biểu hiện tư duy lô-gic rối loạn không? (Thưa, không.) Ta qua lại với ai cũng bình thường cả. Bình thường Ta chẳng bao giờ tặng quà cho người ta. Nếu người khác thực sự giúp Ta thì Ta sẽ tặng chút quà để bày tỏ lòng cảm ơn. Qua lại với người khác như vậy mới thích hợp. Như vậy là bình thường và thực tế, cũng là làm người có khuôn phép và làm việc đúng bổn phận. Đa số mọi người không hiểu nguyên tắc này, đấy gọi là ngu muội và vô tri. Các ngươi xem, có phải là vậy không? (Thưa, phải.) Có những người làm chuyện gì cũng lộ rõ sự ngu muội. Không có chuyện gì mà cứ luôn tặng quà, luôn săn đón bợ đỡ người khác. Người ta nhìn vào sẽ cảm thấy người này có thần kinh không bình thường. Ta không làm như vậy. Ta không bợ đỡ người khác. Ta có tôn nghiêm, và Ta có nguyên tắc của Ta khi làm việc. Nếu thực sự có chuyện xảy ra, Ta sẽ hành động theo nguyên tắc. Ta giữ khuôn phép và có ranh giới, hơn nữa phương thức tư duy của Ta hợp lô-gic, hợp tư duy bình thường và hợp lý tính. Về phương diện bình thường và thực tế của xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể còn có rất nhiều chi tiết, nhưng rất nhiều chuyện không cần phải nói tỉ mỉ. Tóm lại, tư duy của Ngài về phương diện này chắc chắn là bình thường.

Khi qua lại với người khác, Ta chưa bao giờ tự giới thiệu bản thân. Ngay cả khi tiếp xúc với anh chị em, Ta cũng chưa bao giờ tự giới thiệu bản thân. Khi qua lại với người khác, Ta chưa bao giờ tự cho mình là Đức Chúa Trời nhập thể. Các ngươi xem, đây có phải là biểu hiện bình thường và thực tế của việc làm người có khuôn phép và làm việc đúng bổn phận không? (Thưa, phải.) Ví dụ, có anh chị em nói: “Ngài là Đức Chúa Trời, Ngài là Đấng Tạo Hóa. Ai làm việc cho Ngài thì đó là vinh hạnh của họ. Nếu họ không làm cho tốt thì đúng là tự tìm cái chết!”. Gặp dạng người như vậy thì Ta nói: “Tránh xa Ta ra! Nói những lời đó thì có ích gì? Ngay cả khi anh chị em làm việc gì đó cho Ta, thì Ta cũng không yêu cầu như vậy với họ”. Bất kể qua lại với người nào, Ta cũng không bao giờ giới thiệu thân phận của Ta. Ngươi nói xem, đây có phải là một biểu hiện của tư duy bình thường và nhân tính bình thường không? (Thưa, phải.) Các ngươi xem, người bị tâm thần thì lúc nào cũng tự giới thiệu rằng: “Ta là Ngọc Hoàng Đại Đế! Ta là Vương Mẫu Nương Nương hạ phàm! Ta từ trên trời xuống. Đám tiểu tốt các ngươi mà không nghe lời ta thì ta sẽ tiêu diệt các ngươi!”. Đó là loại người gì? (Thưa, là Sa-tan và ma quỷ.) Họ là Sa-tan và ma quỷ. Theo cách nói của con người thì đó gọi là người mắc bệnh tâm thần, không có lý tính bình thường. Người không có lý tính bình thường thì có biết làm người có khuôn phép và làm việc đúng bổn phận không? (Thưa, không.) Chuyện làm người có khuôn phép và làm việc đúng bổn phận ít nhất phải được xây dựng trên nền tảng có lương tâm hoàn thiện và lý tính đạt tiêu chuẩn. Vì xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể có nhân tính bình thường nên cách hành xử và làm người của Ngài sẽ chịu sự quy phạm của lương tâm và lý trí trong nhân tính bình thường, Ngài tự nhiên sống trong nhân tính bình thường có lương tâm và lý trí như vậy, cho nên, trong chuyện làm người và làm việc, Ngài tuân giữ nghiêm ngặt nguyên tắc làm người có khuôn phép và làm việc đúng bổn phận này. Có những người ngoại đạo xử lý chuyện cá nhân cho Ta mà làm hỏng việc, hoặc cố ý lừa gạt Ta, hoặc cố ý làm hư hỏng thứ gì đó, thì Ta rút ra bài học và lần sau không dùng họ nữa. Đối với người ngoại đạo, cho dù họ nói hay đến đâu thì Ta cũng phải đề phòng, chỉ cần sơ suất một chút là sẽ mắc mưu họ. Trên thế giới này có quá nhiều kẻ lừa gạt. Họ mặc kệ ngươi là ai, chỉ cần lừa được là họ lừa. Trong cõi thuộc linh, Sa-tan và ma quỷ rõ ràng thấy rõ Đức Chúa Trời cai quản vạn vật, nhìn thấy sự toàn năng và thực chất của Đức Chúa Trời, nhưng chúng chẳng bao giờ tôn trọng hay kính sợ Đức Chúa Trời, cũng không thừa nhận thân phận và thực chất của Đức Chúa Trời. Nay Đức Chúa Trời đã trở nên xác thịt, ngươi nói xem, trong nhân loại đã bị Sa-tan làm bại hoại, ai có thể thừa nhận Đức Chúa Trời và thuận phục Ngài? Ngay cả những người tin Đức Chúa Trời còn chưa hoàn toàn thừa nhận Ngài, huống chi là thuận phục. Có người nói rằng họ sẽ phủ phục thờ phượng trước Đức Chúa Trời – quỳ trước trời, quỳ trước thập tự giá, quỳ trước danh Đức Giê-hô-va, hay quỳ trước tranh Đức Chúa Jêsus thì họ đều làm được, nhưng đối với chuyện quỳ trước Ta, con người này, thì trong lòng họ lại không chấp nhận được. Họ nghĩ: “Đấng tôi tin là ngài sao? Trông ngài đâu có giống đức chúa trời! Nếu tôi quỳ trước ngài thì chẳng phải là hạ thấp bản thân sao? Tôi có thể quỳ trước trời, trước đất, trước cha mẹ, sao tôi có thể quỳ trước một nhân vật nhỏ bé như ngài chứ? Nhất là ngài còn là phụ nữ, tướng mạo cũng chẳng có gì nổi bật, chẳng phải danh nhân gì, cũng chẳng có địa vị hay danh vọng gì trong thế gian. Hà cớ gì tôi phải quỳ trước ngài chứ?”. Trong lòng họ cảm thấy không thoải mái. Họ muốn quỳ thì lại do dự, chưa kịp quỳ xuống thì đã đứng dậy, họ không tình nguyện, không cam tâm. Ta nói: “Đừng quỳ trước Ta. Nếu ngươi muốn quỳ thì hãy quỳ trước Đức Chúa Trời trên trời. Ta không cần ngươi quỳ trước Ta, Ta nhận không nổi. Ta cũng không có năng lực lớn đến mức đưa ngươi lên không trung, đưa ngươi lên tầng trời thứ ba. Ta chỉ là một người bình thường. Ta đưa ngươi, một con người bại hoại, đến trước mặt Đức Chúa Trời, rồi đem những lẽ thật mà Ta biết và Ta hiểu nói cho ngươi để ngươi thực hành, hầu cho ngươi đạt được sự cứu rỗi, biến đổi ngươi hoàn toàn thành một loài thọ tạo đạt tiêu chuẩn, rồi trao ngươi lại cho Đấng Tạo Hóa – đây là trách nhiệm và chức vụ của Ta. Đối với các ngươi, Ta cũng chỉ có chút tác dụng như vậy mà thôi. Đối với ngươi, Ta chẳng có công lao gì, đối với Đức Chúa Trời trên trời, Ta cũng chẳng có công lao gì. Ta chỉ là một người bình thường, làm những việc mình nên làm, nói những lời mình nên nói và làm công tác mình nên làm. Bất kể trong lòng ngươi có cam lòng hay không, thì xét từ góc độ nhân tính của Ta, Ta hoàn toàn không sẵn lòng nhận sự quỳ lạy của ngươi. Huống chi trong lòng ngươi còn không sẵn lòng, còn chống đối, vậy thì Ta càng không thể nhận”. Ngươi xem, tư duy của Ta như vậy có bình thường không? Bất kể xuất phát từ phương diện nào của nhân tính thì đây cũng là một biểu hiện của tư duy bình thường. Bởi vì Đức Chúa Trời nhập thể sống trong nhân tính bình thường, sống như một người bình thường trong cuộc sống thực tế và không siêu phàm, nên cách Ngài tiếp cận và xử lý mọi chuyện chịu sự chi phối rất lớn của lương tâm và lý trí trong nhân tính. Điều này khiến nhiều người nảy sinh quan niệm, cho rằng: “Đây chẳng phải chỉ là một người bình thường sao?”. Ngay cả khi người ta thừa nhận sự nhập thể và tiếp nhận công tác của Đức Chúa Trời rồi, thì trong lòng họ vẫn không muốn quỳ lạy hoặc thuận phục con người này. Thực ra, nói thật lòng thì Ta cũng không muốn nhận sự quỳ lạy của ngươi, bởi vì Ta có tôn nghiêm, cũng có lý tính. Đừng nói là ngươi không cam lòng, cho dù ngươi cam lòng thì Ta cũng không sẵn lòng nhận sự quỳ lạy đó. Như vậy có nghĩa là gì? Nghĩa là trong lương tâm và lý trí của nhân tính nơi Đức Chúa Trời nhập thể này cũng có liêm sỉ. Có liêm sỉ nghĩa là gì? Nghĩa là nếu có người nói: “Tôi không cam lòng quỳ lạy người này, trong lòng tôi có chút không sẵn lòng”, hoặc nếu người đó đang sống trong trạng thái mơ hồ, hoặc hoàn toàn quỳ lạy trong trạng thái đầy rẫy tưởng tượng về Đức Chúa Trời, thì Ta nói rằng họ quỳ lạy như vậy là không danh chính ngôn thuận. Ta không cần nghi thức như vậy, các ngươi tuyệt đối đừng làm nghi thức như vậy. Cho dù ngươi có quỳ thì Ta cũng ngại nhận. Nếu ngươi cứ nhất quyết quỳ, thì Ta nên nói “Chúc phúc cho ngươi” hay là “Cảm ơn ngươi” đây? Thực sự Ta cũng không biết nên nói thế nào. Tại sao vậy? Bởi vì ngay cả tình trạng của chính mình trong các phương diện khác nhau, hiện tại ngươi đều không rõ, vậy mà còn muốn quỳ lạy Ta, thì Ta thực sự không thể nhận. Ta không biết ngươi có thật lòng thờ phượng Đức Chúa Trời hay không. Ta có cố tiếp nhận ngươi như một người kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác, thì ngươi thực sự vẫn chưa đạt đến mức đó. Cho nên chuyện này cứ mắc kẹt ở đó, khiến người ta rất khó xử. Ta nên tiếp nhận ngươi với tư cách gì, nên nói gì với ngươi cho thích hợp, thì Ta vẫn chưa rõ, nên trong lòng Ta đặc biệt chống đối chuyện này. Các ngươi tuyệt đối đừng quỳ lạy Ta. Ta không cần, cũng không thích chuyện đó. Nếu các ngươi cần hiểu phương diện nào của lẽ thật hoặc cần nguyên tắc làm người và làm việc nào, thì Ta có thể thông công. Nhưng nếu các ngươi muốn làm theo kiểu hình thức này thì Ta khuyên các ngươi đừng làm, ít nhất là hiện giờ đừng làm. Khi lòng các ngươi chưa thực sự thuận phục Đức Chúa Trời, chưa bước vào con đường kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác, thì đừng làm chuyện này, đừng làm theo hình thức này. Làm như vậy không tốt, cả hai chúng ta đều sẽ khó xử. Tốt nhất là tránh làm chuyện này, làm theo nghi thức như vậy cũng vô ích thôi.

Khi thông công về vấn đề quan niệm và tưởng tượng của con người đối với Đức Chúa Trời nhập thể, Ta đã nêu rất nhiều ví dụ liên quan đến sự bình thường và thực tế của Đức Chúa Trời nhập thể. Trong những ví dụ này, các ngươi có thể thấy Đức Chúa Trời nhập thể không siêu phàm, không thoát tục, không siêu nhiên, không khác thường, v.v., đây chính là điều con người nên hiểu về sự bình thường và thực tế cũng như sự khiêm nhường và ẩn giấu của Đức Chúa Trời nhập thể. Những gì Ngài sống thể hiện ra, cùng với tín điều và nguyên tắc làm người của Ngài đều đặc biệt thực tế, cũng đặc biệt bình thường. Hơn nữa, khi gặp chuyện, Ngài cũng có thể nhẫn nại và bao dung. Bất kể làm gì, những gì Đức Chúa Trời nhập thể sống thể hiện ra và bày tỏ trong phạm vi cuộc sống của Ngài đều thể hiện rằng cách làm người của xác thịt Đức Chúa Trời nhập thể có một mặt thực tế. Nghĩa là, khi đối diện với đủ loại chuyện và xử lý đủ loại vấn đề, Ngài đều căn cứ vào tín điều và nguyên tắc làm người của mình là làm người có khuôn phép và làm việc đúng bổn phận. Mấy năm trước, con của người hàng xóm nhà chúng ta chuẩn bị vào đại học nên họ mở tiệc trong sân để chúc mừng. Họ vừa hát vừa nhảy, đến một hai giờ sáng vẫn còn cầm micro hát, rất nhiều hàng xóm xung quanh đều nghe rất rõ. Người phương Tây vốn thích khiếu nại, nhưng trong trường hợp này không ai khiếu nại, bởi vì mọi người đều là hàng xóm nhiều năm rồi. Ai cũng nghĩ: “Bọn trẻ học hành bao nhiêu năm, khó lắm mới có dịp thoải mái một lần thì cứ để chúng vui hết mình. Thỉnh thoảng bị ảnh hưởng như thế này và mất ngủ một đêm cũng không phải chuyện lớn, coi như mình thức khuya một bữa vậy”. Nghĩ như vậy có bình thường không? Đối với người khác có nên có sự nhẫn nại và bao dung như vậy không? (Thưa, nên.) Có người nói: “Ngài là Đức Chúa Trời, sao Ngài có thể nhẫn nại trước sự ồn ào của nhân loại bại hoại được? Ngài không nên nhẫn nhịn. Việc nghỉ ngơi của Ngài quan trọng biết bao!”. Ta nói, việc nghỉ ngơi của ai mà chẳng quan trọng? Việc nghỉ ngơi của mỗi người đều quan trọng. Nhưng người trưởng thành đôi khi cần phải có sự bao dung và thông cảm, nhất là đối với trẻ nhỏ thì càng nên bao dung một chút. Hơn nữa, sống trên thế gian này có rất nhiều chuyện không được như ý muốn, rất nhiều lúc người ta cần phải nhẫn nại. Những chuyện như vậy chẳng đáng là gì. Ngay cả những chuyện nghiêm trọng hơn, thực sự khiến ngươi bị tổn hại thì ngươi cũng phải nhẫn nại. Người ta sống trên thế gian này, thì trong quá trình sinh tồn, ai cũng có rất nhiều chuyện bất đắc dĩ. Lẽ nào chỉ vì một chuyện bất đắc dĩ mà ngươi không thể cho qua được sao? Không thể sống tiếp được sao? Ngày hôm sau mặt trời vẫn mọc, cuộc sống vẫn phải tiếp tục. Không cần vì một chuyện nhỏ mà so đo từng chút, cứ mắc kẹt trong đó như thể sống không được, chết không xong. Không cần phải làm quá lên, chuyện bé xé ra to. Gặp những chuyện như vậy thì phải bao dung và nhẫn nại. Đến một ngày khi đã trải nghiệm nhiều hơn thì ngươi sẽ có sự sáng suốt và biết nên tiếp cận với những chuyện đó như thế nào. Ngươi nói xem, dạng tư duy này có bình thường không? (Thưa, bình thường.) Người có tư duy không bình thường sẽ nghĩ thế nào? “Thằng ranh này lớn rồi là bắt đầu ăn chơi vô độ. Đám ngoại đạo này đúng là ma quỷ! Có biết ta là ai không? Ngươi làm ảnh hưởng đến việc nghỉ ngơi của ta thì ta sẽ không để yên cho ngươi. Ta nguyền rủa ngươi!”. Cách nghĩ đó có bình thường không? (Thưa, không.) Cách nghĩ đó không bình thường, cho nên ngươi không được nghĩ như vậy. Ta cũng không nghĩ như vậy. Khi gặp những chuyện này, Ta có thể nhẫn nại, có thể tiếp cận một cách đúng đắn, có thể dùng tư tưởng và quan điểm của một người trưởng thành để tiếp cận và xử lý những chuyện này. Đương nhiên, đây cũng là một vài biểu hiện cụ thể của việc làm người có khuôn phép và làm việc đúng bổn phận. Có người nói: “Sự độ lượng của Đức Chúa Trời rộng lớn như biển trời, cho nên những người nhỏ bé như thế chẳng là gì với Ngài. Tiếng ồn lớn đến đâu Ngài cũng không nghe thấy, cũng không có cảm giác gì. Đó gọi là tầm cao, gọi là cảnh giới, gọi là biết nhìn đại cục”. Có phải như vậy không? (Thưa, không.) Ta thực sự đâu có quan tâm đến đại cục gì. Ta không biết nhìn đại cục là gì, cũng không hiểu cảnh giới là gì, Ta cũng không có tầm cao đó. Ta chỉ biết thế nào là tư duy bình thường, thế nào là lý tính bình thường, làm sao để hành động hợp nhân tính và lý tính, chuyện gì nên nhẫn nại, chuyện gì nên nghiêm túc, khi qua lại với người khác thì nên tuân giữ những nguyên tắc và tín điều như thế nào, gặp chuyện gì thì nên suy nghĩ thế nào để không lệch lạc, không quá khích, không siêu nhiên, không cực đoan, suy nghĩ thế nào thì bình thường, không thiên lệch. Những điều này thì Ta biết. Nhưng Ta chưa bao giờ biết cảnh giới là gì và nhìn đại cục là gì, cũng không biết thế nào là làm người kiểu kín tiếng. Ta chỉ tuân giữ nguyên tắc làm người có khuôn phép và làm việc đúng bổn phận. Chẳng phải chuyện này đơn giản sao? (Thưa, phải.) Bất kể xử lý chuyện gì, góc độ và lập trường của Ta đều là dùng thân phận của một người bình thường và thông thường để nhìn nhận đúng đắn, công bằng, hợp lý và có lý tính đối với mỗi một sự việc và mỗi một con người, cố gắng đạt đến chuyện công bằng, ngay thẳng, hợp lý và có lý tính trong mỗi một việc Ta làm, không quá khích, không trống rỗng, cũng không cá biệt khác thường. Hơn nữa, Ta cũng không ra vẻ bề trên, không bao giờ đứng ở vị trí trống rỗng như tầng trời thứ ba để nhìn nhận bất kỳ chuyện gì. Tuy cách xử lý rất nhiều chuyện trong cuộc sống thực tế như vậy của Ta chẳng có gì nổi bật trong mắt con người, nhưng đó lại là một số tư tưởng, quan điểm và cách làm người mà một thành viên của nhân loại phải có trong cuộc sống và việc sinh tồn. Sống như vậy rất vững vàng và không mệt mỏi, nên rất nhiều người giao tiếp với Ta đều cảm thấy Ta là người dễ qua lại, không có những thứ lung tung lộn xộn. Mục đích Ta khi nói với các ngươi những chuyện này không phải chỉ là để các ngươi biết một vài chuyện, mà là để nói cho các ngươi biết rằng Ta qua lại với ai hay xử lý chuyện gì cũng có nguyên tắc cả – Ta chưa bao giờ lừa gạt cưỡng đoạt, chưa bao giờ dùng hoa ngôn xảo ngữ, cũng chưa bao giờ muốn chiếm lợi của ai khi qua lại với người khác, càng không vi phạm pháp luật để xử lý chuyện gì. Tóm lại, nguyên tắc làm người của Ta là tuân giữ tín điều làm người có khuôn phép và làm việc đúng bổn phận, để đạt đến chuyện có lương tâm bình an, làm việc công bằng, không làm tổn thương người khác, không hãm hại người khác và không làm tổn hại lợi ích của người khác. Ngay cả khi Ta có được lợi ích gì thì nó cũng tuyệt đối không dựa trên nền tảng là làm tổn hại lợi ích của người khác, thay vào đó, Ta luôn cố gắng công bằng và ngay thẳng. Ta đã nói với các ngươi những chuyện này, những ví dụ này rồi, hơn nữa cũng đã thông công với các ngươi nguyên tắc làm người trong phương diện này về mặt lý luận rồi. Con người Ta chính là như vậy. Nếu các ngươi muốn tìm hiểu thêm để xác nhận sự bình thường và thực tế cùng sự khiêm nhường và ẩn giấu mà Ta đã nói, xác nhận rằng Ta thực sự hành động theo nguyên tắc “làm người có khuôn phép và làm việc đúng bổn phận”, thì Ta hoan nghênh các ngươi đi khắp nơi tìm hiểu và kiểm chứng, xem những gì Ta nói có phải là sự thật hay không. Tóm lại, các ngươi nên rõ về những chuyện này. Những chuyện liên quan đến cuộc sống và việc sinh tồn của Đức Chúa Trời nhập thể về cơ bản là vậy. Đây là những điều các ngươi nên hiểu, cũng là những điều các ngươi buộc phải hiểu.

Đức Chúa Trời nhập thể không chỉ tuân thủ nghiêm tín điều và nguyên tắc làm người có khuôn phép và làm việc đúng bổn phận trong cuộc sống nhân tính, mà còn tuân thủ nghiêm tín điều và nguyên tắc này trong chức vụ Ngài thực hiện. Ta đã làm công tác và giảng đạo nhiều năm, các ngươi cũng luôn đọc những lời Ta thông công. Thông qua các chủ đề khác nhau, hẳn các ngươi cũng đã hiểu được quan điểm, lập trường và thái độ của Ta đối với các vấn đề khác nhau. Về lý thuyết thì các ngươi đều đã biết cả rồi, nhưng các ngươi có biết trong chức vụ mà Ta thực hiện, thì Ta làm người và làm việc như thế nào không? Có lẽ có người chỉ biết Ta đã làm việc và đã có những biểu hiện thế nào, nhưng trong từng chuyện cụ thể, trong lòng Ta nghĩ gì, lên kế hoạch và dự tính ra sao thì có lẽ các ngươi vẫn chưa biết. Vậy Ta sẽ giới thiệu sơ qua. Trong chuyện thực hiện chức vụ của mình, về cơ bản, đối với những công tác thuộc phạm vi chức vụ của Ta mà Ta có thể làm và nên làm thì Ta làm hết sức mình và không chịu bất kỳ sự kìm kẹp nào. Ta không đòi hỏi các ngươi điều gì, cũng không kể công, Ta chỉ nghĩ đủ cách để nói rõ những gì Ta có thể làm, những gì Ta hiểu và những gì Ta biết. Để giải thích cho rõ, cho dù có dài dòng hay phiền phức, Ta cũng cố gắng hết sức để nói cho rõ ràng. Ta cố gắng đạt đến mức trong lòng cảm thấy các ngươi đã hiểu và Ta đã nói rõ rồi thì mới dừng lại, chủ đề đó cũng được kết thúc tại đó. Nếu Ta cảm thấy nói như vậy vẫn còn ít và có lẽ các ngươi chưa hiểu, thì Ta sẽ nói chi tiết hơn, nói nhiều hơn, thậm chí lặp đi lặp lại, nghĩ đủ cách để giải thích cho rõ chủ đề này. Ta không sợ các ngươi cười nhạo, cũng không sợ một số người trí thức cười nhạo và nói rằng: “Ngài nói chuyện dài dòng thật đấy!”. Ta chỉ căn cứ theo nguyên tắc làm người có khuôn phép và làm việc đúng bổn phận để làm tròn trách nhiệm của mình, nói rõ ràng và sáng tỏ những điều Ta muốn nói. Nếu có những lời Ta thông công về lẽ thật mà người ta với không tới, nghe xong vẫn cảm thấy chưa rõ, thì Ta sẽ nêu ví dụ và nói cụ thể hơn nữa. Tuy làm như vậy thì phải nói rất nhiều, khiến Ta cảm thấy mệt mỏi, đầu óc kiệt quệ, miệng lưỡi khô rát, nhưng Ta vẫn phải nghĩ đủ cách để nói cho rõ. Lần này nói xong mà các ngươi vẫn chưa hiểu thì Ta sẽ tổ chức thêm một buổi nhóm họp nữa. Tổ chức thêm một buổi nhóm họp nữa có nghĩa là gì? Nhóm họp thêm một buổi nữa và phải nói đến khô cả miệng nghĩa là Ta rất mệt, là Ta lại phải mệt mỏi thêm lần nữa. Nhưng Ta không thể lười biếng. Ta không thể vì lần trước đã nói về chủ đề này rồi, mặc kệ các ngươi có hiểu hay không, chỉ vì sợ mệt mà giờ không nói nữa. Ta phải nghĩ đủ cách để nói rõ chủ đề này. Còn chuyện sau khi nghe những lời này, các ngươi có thể hiểu lẽ thật, tiếp nhận lẽ thật và thực hành lẽ thật hay không, thì tùy vào sự mưu cầu của các ngươi, những chuyện đó Ta không quản. Nhưng những chủ đề Ta muốn nói mà chưa nói đến, những trách nhiệm Ta chưa làm tròn hay gánh nặng Ta chưa bỏ xuống được, thì Ta nhất định phải làm cho xong và làm cho tốt, cho đến khi nào trong lòng Ta cảm thấy: “Lần này đã nói rõ rồi. Mọi nội dung được bao hàm trong chủ đề này đều được nói hết rồi. Ít nhất các ngươi cũng đã biết, đã hiểu rồi”. Lúc đó trong lòng Ta mới thấy yên ổn. Có lẽ tổ chức cho các ngươi thêm vài buổi nhóm họp sẽ làm Ta mệt đến mức mấy ngày không ngủ được, nhưng lần sau gặp chuyện như thế, Ta vẫn sẽ làm như vậy. Ta sẽ không lười biếng, sẽ không nói rằng: “Lần này để tránh mệt mỏi thì cứ nói ít đi vài câu, bớt một buổi nhóm họp. Cứ kết thúc chủ đề này ở đây thôi, đằng nào đa số mọi người cũng đâu có mưu cầu lẽ thật”. Ta sẽ không qua loa chiếu lệ với các ngươi, cũng sẽ không qua loa chiếu lệ với chức vụ Ta thực hiện. Khi làm như vậy, Ta chưa từng nói rằng Ta phải làm vậy để không thẹn với lương tâm, hay để không phụ lòng anh chị em đã ngồi đây nghe giảng đạo suốt mấy giờ đồng hồ. Thay vào đó, một cách rất tự nhiên và hết khả năng của mình, Ta dốc hết cho các ngươi tất cả những gì Ta nên làm, muốn làm và muốn nói, để các ngươi nghe được và đạt được những điều ấy. Ta không lười biếng, cũng không qua loa chiếu lệ. Một câu được nói một lần mà chưa rõ thì Ta sẽ dùng cách khác lặp lại hai lần, ba lần. Cho dù trong lòng các ngươi có ý kiến với Ta hoặc nói là Ta dài dòng, thì Ta cũng chẳng bận tâm. Chỉ cần Ta nói cho rõ và đạt được kết quả là đủ. Ta nói chuyện thì luôn căn cứ theo nguyên tắc “làm tốt, làm đến nơi đến chốn, làm tròn trách nhiệm, và dốc hết tất cả những gì Ta có cho các ngươi”. Ta không giở trò lười nhác, cũng không qua loa chiếu lệ. Đây chính là thái độ của Đức Chúa Trời nhập thể trong việc thực hiện chức vụ của Ngài.

Đối với những chuyện không liên quan đến chức vụ của Ta, chẳng hạn như có lúc Ta hướng dẫn các ngươi về những chuyện trong phạm vi bổn phận của các ngươi, thì nó không liên quan đến chức vụ của Ta, có lẽ các ngươi đều không rõ chuyện này. Thực ra, ngoài việc thông công lẽ thật, hướng dẫn các ngươi hiểu nguyên tắc lẽ thật và bước vào thực tế lẽ thật, thì bất kỳ chuyện gì khác cũng không liên quan đến Ta, không phải là chuyện thuộc phận sự của Ta. Để Ta nói rõ chuyện này với các ngươi. Hướng dẫn công tác của các ngươi là chuyện không thuộc phạm vi chức vụ của Ta, cũng không liên quan đến Ta. Công tác này, Ta làm cũng được mà không làm cũng được, đây là chuyện của nhân loại các ngươi. Đây là lần đầu tiên Ta nói đến điều này, chuyện của nhân loại các ngươi. Nghĩa là chuyện của các ngươi, chuyện của con người, thì không liên quan đến Ta. Tại sao Ta nói như vậy? Bởi vì các ngươi thực hiện bổn phận, còn Ta thực hiện chức vụ. Ta làm công tác, còn các ngươi làm bổn phận, hai chuyện này có sự khác biệt. Đối với việc hướng dẫn những chuyện trong phạm vi bổn phận của các ngươi, thì ngoài việc thông công về nguyên tắc lẽ thật, nếu các ngươi hỏi Ta về kỹ thuật nghiệp vụ hoặc một số việc vặt, thì Ta sẽ cố hết sức diễn đạt rõ những gì Ta hiểu và nhìn thấu, cùng những nguyên tắc Ta nắm được, để các ngươi biết và hiểu. Ta sẽ dốc hết sức để dạy các ngươi và giúp các ngươi học được. Những gì Ta không biết thì Ta sẽ bảo các ngươi tra cứu tài liệu, hoặc nếu trong các ngươi có ai hiểu thì Ta sẽ thỉnh giáo người đó: “Ngươi đã học nghiệp vụ này, vậy giáo trình của ngành nói về chuyện này như thế nào? Trong lĩnh vực tri thức này có những quy định gì? Chúng ta hãy tìm cho ra nguyên tắc trong chuyện này, để công tác của chúng ta phù hợp hơn với thị hiếu và con mắt đánh giá của dân chuyên nghiệp, không để người ta chê cười hay xem như trò hề, không làm mình mất mặt, cũng không làm mất thể diện của nhà Đức Chúa Trời”. Ngươi thấy đấy, những chuyện Ta hướng dẫn như hợp xướng thánh ca, nhạc kịch, làm phim, biên kịch, mỹ thuật, vũ đạo, trang phục, v.v., bất kể là công tác nghiệp vụ hay không phải nghiệp vụ, đều không thuộc phạm vi công tác trong chức vụ Ta thực hiện, chúng là bổn phận của các ngươi. Gọi chúng là “bổn phận của các ngươi” có nghĩa chúng là chuyện của các ngươi, và các ngươi nên tự mình giải quyết, bởi vì những chuyện này liên quan đến lĩnh vực tri thức, liên quan đến vấn đề kỹ thuật và nghiệp vụ của một số ngành nghề, chúng là những bài học mà các ngươi phải học. Điều gì các ngươi nên học thì hãy học, nên hỏi ý kiến thì hãy hỏi ý kiến, nên thực hành thì hãy thực hành. Thực ra, những chuyện này không liên quan đến Ta. Công tác Ta làm là đại diện cho xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể mà bày tỏ lời, đại diện cho Đức Chúa Trời mà phán và công tác trên các ngươi. Còn những công tác không liên quan đến chức vụ của Ta thì là chuyện của nhân loại các ngươi. Đối với những công tác này, Đức Chúa Trời đã sắp xếp lãnh đạo và người chăn dắt để dẫn dắt các ngươi, cũng đã thiết lập những sự sắp xếp công tác khác nhau và sắc lệnh hành chính và điều lệ khác nhau. Các ngươi nên nghiêm túc tuân theo sự sắp xếp của lãnh đạo mà Đức Chúa Trời đã thiết lập cho các ngươi, tức là người được Đức Thánh Linh sử dụng, và thuận phục sự dẫn dắt của người đó. Còn bất kỳ công tác nào Ta làm ngoài chức vụ của mình thì được tính là gì? Đều là công tác phụ thêm. Ta không cần làm bổn phận. Ta làm công tác và thực hiện chức vụ, còn các ngươi thì làm bổn phận. Vì vậy Ta có thể hướng dẫn công tác của các ngươi, nhưng đó không phải là chuyện thuộc phận sự của Ta. Nếu các ngươi cho rằng: “Công tác này nhất định phải do Ngài làm, đây là công tác của Ngài, Ngài không làm mà được sao? Nếu Ngài không làm thì chúng tôi sẽ quy trách nhiệm cho Ngài”, thì Ta nói các ngươi sai rồi. Các ngươi không thể quy trách nhiệm đó cho Ta. Đó là bổn phận của con người các ngươi. Các ngươi không hiểu chỗ nào thì hãy tự mình thông công, bàn bạc và tìm kiếm với nhau. Nếu các ngươi hỏi Ta, mà điều kiện lúc đó cho phép, thì Ta có thể giúp các ngươi. Còn nếu Ta không có thời gian nên không giúp được các ngươi, thì đó cũng không phải lỗi của Ta. Nếu có người nói lý lẽ méo mó, nói rằng đó là chuyện Ta nên làm, thì ngươi sai rồi. Đó là bổn phận các ngươi nên làm, không liên quan đến Ta. Ngươi làm bổn phận không tốt thì đó là ngươi vô trách nhiệm và không có lòng trung thành. Ngươi làm bổn phận không tốt mà lại đẩy trách nhiệm cho Ta, thì đó là biểu hiện không có lý trí, ngươi làm như vậy khiến Đức Chúa Trời ghê tởm vô cùng. Nhưng nếu Ta thấy các ngươi thực sự làm không nổi, với không tới, cũng không biết nguyên tắc để làm công tác này, thì Ta sẽ giúp một tay, làm cho các ngươi một, hai mẫu tham khảo và đưa các ngươi vào đúng quỹ đạo. Nếu các ngươi mãi không làm được, mà điều kiện của Ta cũng không cho phép Ta làm, hoặc Ta cũng không làm được, thì chúng ta đành phải dừng công tác này lại. Chỉ có thể như vậy thôi – ai bảo năng lực của các ngươi chỉ có bấy nhiêu, tố chất lại kém như thế? Nhưng nếu Ta làm, Ta cũng sẽ dốc hết khả năng của mình. Cái gì Ta biết làm thì Ta nói biết, cái gì Ta không biết làm thì Ta nói không biết. Cái gì Ta không biết thì Ta sẽ hỏi ý kiến các ngươi, nếu các ngươi cũng không biết, thì Ta sẽ tự suy ngẫm, suy xét và tìm kiếm. Khi có đường hướng, có chút ý tưởng, có chút manh mối rồi, thì Ta sẽ thông công với các ngươi, cố gắng hết sức để làm tốt và làm đến hoàn thiện công tác này. Một mặt, như vậy là chịu trách nhiệm về công tác, mặt khác là để trong thời gian Ta hướng dẫn, các ngươi có thể học được chút gì đó, học được chút nguyên tắc cần nắm vững và những lẽ thật cần hiểu trong phương diện nghiệp vụ này. Có những người tuy hiểu một ít kiến thức nghiệp vụ nhưng lại không làm ra được thành phẩm, thì Ta sẽ hướng dẫn họ. Làm xong rồi, trong lòng Ta vẫn chưa yên tâm, nên Ta bảo họ hỏi người có chuyên môn trong ngành và để người đó kiểm tra xem. Nếu người có chuyên môn đó nói làm như vậy là hợp quy phạm của ngành, không khiến người ta chê cười, thì chúng ta cứ kiên trì làm như thế. Nếu người có chuyên môn đó nói cái này nhìn giống như do dân tay ngang làm, trông rất mất mặt, không đúng và không hợp tiêu chuẩn, thì chúng ta lập tức nhờ người đó sửa lại. Chúng ta không được tự nên công chính hoặc không hiểu mà giả vờ hiểu, phải tự biết rõ mình. Đừng tự lừa mình, mà phải nghiêm túc, hãy cố gắng sau khi hoàn thành một tác phẩm thì cũng có được một vài thu hoạch về mặt nghiệp vụ. Cho nên khi làm những chuyện như thế này, ngay cả khi Ta là tay ngang về mặt nghiệp vụ, hiểu không nhiều, thì Ta cũng sẽ dốc hết sức mình. Có vài người nói: “Đã không hiểu thì sao Ngài còn hướng dẫn?”. Chính vì trình độ nghiệp vụ của những người này không cao, đối với những tác phẩm văn nghệ liên quan đến chuyên môn thì họ thực sự không sáng tạo, cũng không có ý tưởng hay. Còn Ta thì có chút sở trường và ý tưởng trong phương diện này, nên Ta cung cấp chúng cho những người có chút nền tảng nghiệp vụ hoặc có chút thường thức về chuyên môn này. Họ nghe xong đều cảm thấy khá tốt. Thấy họ đều cảm thấy tốt, Ta cũng cứ “không biết trời cao đất dày” mà hướng dẫn họ. Và sau khi được Ta hướng dẫn, có một số tác phẩm cũng tạm được. Chữ “tạm được” này không phải Ta mặt dày tự nói ra, mà là chuyện có căn cứ. Chỉ sau khi người có chuyên môn trong ngành xem rồi và nói là tạm được thì Ta mới nói như vậy. “Tạm được” không có nghĩa là rất tốt và đạt đến trình độ chuyên nghiệp, mà nghĩa là ít nhất người có chuyên môn đã xác nhận là ổn, như vậy Ta mới yên tâm. Cho đến nay, vài tác phẩm do Ta hướng dẫn đều được đa số mọi người đánh giá là tạm được, nghe nói còn có một số trong đó đoạt giải ở vài cuộc thi, phải không? (Thưa, phải.) Bất kể làm công tác nào hay làm chuyện gì, chỉ cần Ta có chút ý nghĩ, chút ý tưởng, hoặc cảm thấy có chút ý sáng tạo hay, thì Ta nhất định sẽ nói ra, sẽ nghĩ đủ cách để anh chị em vận dụng ý tưởng đó vào tác phẩm, để có thêm nhiều người sẵn lòng xem hơn. Kết quả mang lại là làm cho công tác của Đức Chúa Trời và lời Đức Chúa Trời được loan truyền nhiều hơn, tốt hơn và rộng hơn, như vậy là đã đạt được mục đích của chúng ta rồi. Còn về cách thức và phương pháp làm việc thì Ta vẫn dựa trên nguyên tắc làm người có khuôn phép và làm việc đúng bổn phận. Khi làm thì Ta lặng lẽ làm, dốc hết sức để làm cho xong và làm cho tốt. Đợi đến khi tác phẩm hoàn thành và được đăng tải thì coi như giai đoạn đó kết thúc.

Đức Chúa Trời nhập thể dựa trên nguyên tắc làm người có khuôn phép và làm việc đúng bổn phận để làm những chuyện trong phạm vi chức vụ của Ngài. Còn khi làm những chuyện ngoài phạm vi này, Ngài cũng không hề rời khỏi nguyên tắc đó, cũng làm người có khuôn phép và làm việc đúng bổn phận. Đối với những vấn đề Ta có thể nhìn thấy và phát hiện, thì hoặc Ta cho người truyền đạt, hoặc Ta đích thân tham gia chỉ dẫn chỉ ra và chấn chỉnh, giúp giải quyết chúng. Tóm lại, đối với những chuyện các ngươi có thể tiếp xúc hoặc từng nghe nói đến trong cuộc sống thực tế, bất kể là chuyện gì, về cơ bản Ta đều làm theo nguyên tắc như vậy. Hơn nữa, Ta làm việc không phân biệt lớn nhỏ. Bất kể là nuôi mèo, nuôi chó, xây chuồng lợn, dựng chuồng cừu, hay là nấu ăn, may quần áo, thậm chí quét dọn vệ sinh, chỉ cần Ta nhìn thấy thì đều sẽ tham gia. Nếu thấy các ngươi làm không đúng thì Ta sẽ chỉ đạo và chấn chỉnh. Người có lòng thì nghe và tiếp nhận, người không có lòng thì không nghe. Sau đó Ta xem ai nghe lời, ai có thể làm theo điều Ta nói thì Ta dùng người đó. Ta làm như vậy trong suốt bao năm qua lại với các ngươi. Sau khi bảo các ngươi làm chuyện gì thì Ta luôn theo sát cho đến khi chuyện đó được làm xong và làm tốt mới thôi. Tuy rất nhiều chuyện Ta không đích thân động tay làm, nhưng lòng Ta vẫn luôn theo sát những chuyện đó, chưa hề tách khỏi những chuyện đó. Chuyện nào cần xử lý gấp và nhanh thì Ta thức khuya dậy sớm, làm thâu đêm suốt sáng, luôn theo sát, giám sát và chỉ huy chuyện đó. Nhưng với điều kiện sức khỏe của Ta thì các ngươi cũng có thể hình dung được, làm những chuyện này thì Ta cũng rất mệt. Đến khi làm xong chuyện đó rồi thì Ta cũng không ghé đến nữa. Cuối cùng, có người nhận ra, nói rằng: “Đức Chúa Trời đã sắp xếp nơi này cho chúng ta tốt đến vậy mà Ngài lại chẳng được hưởng, để chúng ta hưởng hết”. Ta nói, các ngươi được hưởng là được rồi. Ta đã sắp xếp ổn thỏa cho các ngươi và giúp cho cả cuộc sống lẫn việc làm bổn phận của các ngươi được thích hợp rồi, thì Ta không cần bận rộn những chuyện đó nữa. Thực ra, công tác chính trong chức trách của Đức Chúa Trời nhập thể là thông công lẽ thật và cung ứng lẽ thật, còn những công tác khác đều không liên quan đến Ta. Nhưng bao năm qua, ngoài việc làm công tác thuộc chức phận của mình, Ta còn bận rộn giúp các ngươi giải quyết những vấn đề trong quá trình làm bổn phận, chuyện này cũng khiến Ta phải lao tâm không ít. Mặc dù có rất nhiều công tác không thuộc chức phận của Ta, hơn nữa có rất nhiều chuyện trước đây Ta chưa từng làm, chưa từng học một cách có hệ thống về tri thức hay kỹ thuật nào đó, cũng chưa từng xử lý những chuyện đó trong cuộc sống, nhưng đối với đủ mọi chuyện xảy đến với hội thánh và nhà Đức Chúa Trời, Ta cũng không khoanh tay đứng nhìn, mà luôn dốc hết sức hướng dẫn và giúp đỡ các ngươi. Ngay cả đối với những chuyện trong cuộc sống của các ngươi, Ta cũng làm hết khả năng để sắp xếp ổn thỏa cho các ngươi. Xuất phát từ góc độ nhân tính, Ta làm những chuyện mình có thể làm, nếu đã nhìn thấy mà không làm thì trong lòng Ta không yên, nếu phát hiện vấn đề mà không chấn chỉnh thì trong lòng Ta cũng không yên. Có những công tác không ai biết làm, nhưng bản thân Ta có ý tưởng và có thể làm, mà Ta không làm thì trong lòng Ta cũng không yên, nên Ta phải làm. Cho nên, bề ngoài nhìn vào, có vẻ ngoài việc nói chuyện và giảng đạo thì Ta chẳng làm gì khác, nhưng những chuyện liên quan đến sinh hoạt hằng ngày và chuyện ăn, mặc, ở, đi lại cần thiết cho việc làm bổn phận của các ngươi, Ta đã lao tâm không ít. Đa số mọi người có tố chất quá kém, ngay cả những chuyện này mà cũng làm không tốt, nên Ta phải hao tổn tâm trí để chỉ đạo các ngươi. Tuy nhìn bề ngoài Ta chẳng có gì nổi bật, cũng chẳng phải nhân vật lớn nào, lại chưa từng được đào tạo gì trong xã hội, nhưng đối với những chuyện ăn, mặc, ở, đi lại của người làm bổn phận trong nhà Đức Chúa Trời, từ khi bắt đầu tiếp xúc với các ngươi cho đến nay, không có một phương diện nào về môi trường sống, điều kiện sống hay nhu cầu sinh hoạt cơ bản của các ngươi mà Ta không lao tâm. Chẳng hạn như chuyện trồng rau ở nông trại. Ban đầu Ta thấy phần lớn người ở nông trại đều từng sống ở nông thôn, từng làm công việc trồng trọt vài năm rồi, nên Ta chọn một số người biết trồng trọt để phụ trách hạng mục công tác này. Ta cho họ biết mùa nào trồng loại rau gì, trồng như thế nào, rồi cứ tưởng vậy là không cần phải lao tâm nữa. Nhưng sau một thời gian, Ta đến nông trại xem thì thấy mọi chuyện đều rối tinh rối mù, người phụ trách không gánh nổi trách nhiệm, người làm việc cũng làm không tốt. Cuối cùng không còn cách nào khác, Ta chỉ có thể đích thân tham gia, theo sát và chỉ đạo họ từng chút một. Từ việc chọn giống, mua giống, trồng bao nhiêu, chọn đất thế nào, đến mỗi mùa trồng loại gì, trồng bao nhiêu, trồng ra sao, ai phụ trách trồng, sử dụng phân bón như thế nào, cần chú ý những gì, v.v., Ta đều nói rõ cho họ. Ta cứ đích thân chỉ đạo như vậy, chỉ còn thiếu nước nấu cơm rồi đút cho họ ăn nữa thôi. Có người nói: “Chẳng phải Ngài đang coi người ta như trẻ lên ba sao?”. Sự thật đúng là vậy mà. Những người này, trông ai cũng là người trưởng thành, nhưng họ thực sự không gánh nổi những chuyện này, nên Ta đành phải cầm tay chỉ việc, đích thân chỉ đạo, đích thân dạy dỗ như vậy thì những chuyện này mới có chút khởi sắc. Về sau, những người làm bổn phận đều được ăn lương thực và rau do chính mình trồng, mùa hè còn được ăn một số loại trái cây, mùa đông cũng có rau dự trữ để ăn. Nếu Bề Trên không can thiệp và hỏi han công tác này, cứ để người bên dưới tự làm thì đã hỏng cả rồi. Tóm lại, bất kể thế nào, sự thật Ta muốn nói với các ngươi là gì? Có rất nhiều chuyện Ta đã làm nhưng không nói, còn những chuyện Ta nói ra thì nhất định là một phần trong những gì Ta đã làm.

Ta thông công những điều này không phải để nói với các ngươi rằng Ta đã làm bao nhiêu chuyện, đã mệt mỏi đến thế nào hay lao tâm chừng nào vì các ngươi. Những điều đó thì không cần phải nói. Vậy Ta muốn nói với các ngươi điều gì? Đức Chúa Trời nhập thể đến nhân thế này là để đại diện Đức Chúa Trời làm công tác. Công tác chính trong chức trách của Ngài chính là chức vụ Ngài thực hiện. Trong giai đoạn công tác vào thời kỳ sau rốt này, công tác chính trong chức trách của Ngài là cung ứng cho con người mọi lẽ thật cần thiết để đạt được sự cứu rỗi. Trong phạm vi chức vụ mình thực hiện, Ngài tuân thủ nghiêm tín điều và nguyên tắc làm người có khuôn phép và làm việc đúng bổn phận. Ngoài phạm vi đó, trong cuộc sống nhân tính và trong những biểu hiện của nhân tính, Ngài cũng chưa từng vượt quá tín điều và nguyên tắc này. Dù là chỉ đạo các ngươi làm bổn phận hay giúp các ngươi xử lý những chuyện ăn, mặc, ở, đi lại trong cuộc sống, Ta đều làm theo nguyên tắc làm người có khuôn phép và làm việc đúng bổn phận. Ta chưa bao giờ hô khẩu hiệu, cũng chưa bao giờ nói khoác, càng không bao giờ chỉ tay năm ngón, mà chỉ làm việc một cách thực tế. Ta làm đến mức độ nào? Chẳng hạn như trong chuyện chỉ đạo nông trại trồng trọt, Ta bảo họ liệt kê mọi giống rau mà họ nắm rõ ra, cho Ta biết những loại rau đó tên là gì, hình dáng ra sao, thời gian sinh trưởng bao lâu, giống nào là tốt nhất và thích hợp nhất để trồng ở địa phương. Dựa trên những điều Ta biết, Ta chọn một hai giống, quy định ai chịu trách nhiệm trồng, cuối cùng giúp cho mọi người đều có thể ăn được rau theo mùa. Ta chưa bao giờ hô khẩu hiệu rằng: “Loại rau này giàu dinh dưỡng biết bao, ăn vào có lợi biết bao, trồng thế nào mới đúng khoa học”. Ta chưa từng học dinh dưỡng học, cũng không hiểu nông học. Ta chỉ biết điều gì? Ta chỉ biết chọn giống nào thích hợp trồng ở nơi đó, để sau khi trồng xong thì mọi người ăn đều thấy ngon, đều thích ăn, không uổng công trồng. Ta thực tế như vậy đấy. Đây đều là làm người có khuôn phép và làm việc đúng bổn phận. Điều Ta tuân thủ chính là nguyên tắc và tín điều này. Bao năm qua, Ta vẫn luôn làm người như vậy. Ta chưa bao giờ hô khẩu hiệu, cũng không cần các ngươi cảm ơn. Chỉ cần chuyện ăn ở của các ngươi thích hợp, không còn những chuyện lung tung lộn xộn nữa thì Ta yên lòng rồi. Không còn người quấy nhiễu và phá rối nữa, đi đến đâu cũng thấy khá sạch sẽ, lương thực và rau màu được trồng khá tốt, lợn, cừu cùng các loại gia súc khác cũng được chăn nuôi tốt, mọi phương diện đều khá tốt, chuyện ăn, mặc, ở, đi lại của đa số những người làm bổn phận cũng không còn là vấn đề, vậy thì Ta không cần lao tâm nữa. Về phương diện này Ta cũng không có yêu cầu cao gì. Các ngươi thấy đấy, khi Ta chỉ đạo các ngươi làm bất kỳ công tác nào hoặc trong những vấn đề liên quan đến ăn, mặc, ở, đi lại của các ngươi, có bao giờ Ta hô khẩu hiệu chưa? Chưa từng. Sau khi sắp xếp ổn thỏa cho các ngươi, Ta tìm người thích hợp để thực hiện công tác. Nếu người đó không thích hợp, công tác không thể được thực hiện thì đổi người khác. Cho đến khi công tác được thực hiện và hầu hết mọi chuyện đều được làm một cách thích hợp, chuyện ăn, mặc, ở, đi lại của người làm bổn phận đều được sắp xếp thỏa đáng, thì công tác về phương diện nhân tính của Ta có thể dừng lại, Ta không cần phải lao tâm nữa. Thế mà vẫn có người luôn hỏi Ta về những chuyện lặt vặt. Người thì hỏi: “Cừu con mới sinh không bú được sữa thì phải làm sao?”. Người khác lại hỏi: “Quần áo làm ra cứ bị co vải thì phải làm sao?”. Những chuyện đó các ngươi phải tự nghĩ cách giải quyết, đó là chuyện của các ngươi, không liên quan đến Ta. Ngay cả khi thông công lẽ thật, Ta cũng chỉ nói một lần. Các bài giảng và buổi thông công đều có ghi âm, nếu các ngươi chưa hiểu thì có thể nghe thêm vài lần, từ từ suy ngẫm, tìm kiếm và thông công. Nếu trên cơ sở đó, các ngươi vẫn còn chút nghi hoặc về một vài vấn đề cá biệt hoặc không biết nên xử lý thế nào thì khi gặp nhau chúng ta có thể thông công. Nhưng chuyện gì con người có thể làm được thì tốt nhất là các ngươi nên tự xử lý. Đức Chúa Trời đã tạo dựng trời đất và vạn vật cho con người, tạo nên mặt trời, mặt trăng, các vì sao, nước, không khí, ánh sáng mặt trời, thức ăn cùng đủ loại môi trường và sinh vật mà con người cần đến, sau đó đặt con người trên đất. Đức Chúa Trời duy trì quy luật sinh trưởng và vận hành của vạn vật cho con người, duy trì môi trường sinh tồn cho con người, con người cứ tự mình sống đi. Về chuyện mùa nào trồng thứ gì, khi nào thu hoạch, thu hoạch xong thì bảo quản thế nào, có những cách nào để chế biến thành thức ăn, thứ gì nên ăn nhiều, thứ gì nên ăn ít, mùa nào ăn gì, mỗi ngày ăn bao nhiêu, thì đó là chuyện của bản thân các ngươi. Hiện nay, lẽ thật đã được thông công rõ ràng đến vậy, những chuyện trong cuộc sống cũng đã được sắp xếp ổn thỏa cho các ngươi, mà các ngươi vẫn muốn Ta giúp làm chuyện này chuyện kia, vẫn tìm Ta để thông công hết chuyện này đến chuyện khác thì các ngươi quá thiếu lý trí. Những gì Ta đã thông công thì Ta bảo các ngươi tự xử lý và giải quyết đi. Hội thánh có các cấp lãnh đạo, có cả người được Đức Thánh Linh sử dụng để dẫn dắt các ngươi. Các ngươi hãy tự mình tìm kiếm và giải quyết, đừng có chuyện gì cũng tìm Ta. Bởi vì những điều nên nói thì Ta đã nói cả rồi, ngay cả chuyện ăn, mặc, ở, đi lại của các ngươi Ta cũng đã sắp xếp ổn thỏa. Còn những chuyện lặt vặt đó thì không phải là chuyện Ta nên giải quyết, mà là chuyện của chính các ngươi và các ngươi hãy tự mình xử lý.

Bất kể Đức Chúa Trời nhập thể phán bao nhiêu lời hay làm bao nhiêu việc, tóm lại con người phải biết rằng, điều chính yếu nhất trong phương diện bình thường, thực tế, khiêm nhường và ẩn giấu của Đức Chúa Trời nhập thể chính là: Bất kể Đức Chúa Trời nhập thể sống giữa loài người hay thực hiện chức vụ, thì tín điều và nguyên tắc cơ bản nhất trong phương diện nhân tính mà xác thịt Ngài sống thể hiện ra chính là làm người có khuôn phép và làm việc đúng bổn phận. Điều này được thể hiện nơi xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể, đương nhiên cũng được thể hiện nơi chính Đức Chúa Trời có thân phận và thực chất của Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời trong thân phận vốn có của Ngài. Đương nhiên, đối với Đức Chúa Trời thì không thể nói là “làm người có khuôn phép”, nhưng ít nhất, trong cách Đức Chúa Trời làm việc cũng như đối đãi với con người và sự việc, chắc chắn Ngài cũng luôn tuân giữ nghiêm nguyên tắc này. Đây vừa là những gì nhân tính của Đức Chúa Trời nhập thể có và là, vừa là những gì thần tính của Đức Chúa Trời trong thân phận vốn có của Ngài có và là. Những gì nhân tính của Ngài có và là chính là làm người có khuôn phép và làm việc đúng bổn phận, còn thực chất của Đức Chúa Trời trong thân phận vốn có của Ngài bao gồm việc Ngài đối đãi với con người một cách có khuôn phép và làm việc đúng bổn phận. Chúng ta sẽ không nói nhiều về chuyện này nữa. Từ vạn vật mà Đức Chúa Trời đã tạo dựng, từ sự tể trị và dẫn dắt của Đức Chúa Trời đối với nhân loại, từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ, từ vĩ mô đến vi mô, bất kể nhìn từ góc độ nào, thì mọi chuyện Đức Chúa Trời làm đều có khuôn phép và đúng bổn phận. Khi Đức Chúa Trời chưa nhập thể, thì Ngài ẩn mình giữa muôn vật. Mặc dù nhân loại chưa nhìn thấy hình bóng của Đức Chúa Trời, cũng chưa nhìn thấy dung mạo thật của Ngài, nhưng Đức Chúa Trời vẫn luôn dẫn dắt toàn thể nhân loại, cũng luôn làm mỗi một chuyện trong vũ trụ, cai quản mỗi một chuyện và tể trị mỗi một chuyện trong vũ trụ một cách thực tế, không có một chuyện nào Ngài làm là trống rỗng. Đương nhiên, trong mọi chuyện Đức Chúa Trời làm cũng không có chuyện nào chỉ dừng lại ở lý luận hay khẩu hiệu. Thay vào đó, trong từng chuyện Đức Chúa Trời làm, bất kể là chuyện các ngươi lĩnh hội được hay không lĩnh hội được, nhìn thấy được hay không nhìn thấy được, thì Ngài đều làm một cách có khuôn phép và đúng bổn phận. Ngài làm công tác Ngài muốn làm một cách thiết thực. Ngài chưa từng tuyên bố hay biện bạch điều gì với nhân loại, cũng không hô hào khẩu hiệu nào. Thay vào đó, Ngài luôn luôn cất tiếng và phán lời, dẫn dắt và cung ứng cho toàn thể nhân loại một cách thực tế. Đây cũng chính là những gì Đức Chúa Trời có và là. Những gì Đức Chúa Trời nhập thể có và là chắc chắn không hề tách rời hay xung đột với những gì chính Đức Chúa Trời có và là. Vì vậy, sau khi con người nhận biết những gì Đức Chúa Trời nhập thể có và là, hoặc nhận biết tín điều và nguyên tắc làm người của Đức Chúa Trời nhập thể, thì họ sẽ nhận biết đến một mức độ rất lớn về thực chất của Đức Chúa Trời trong thân phận vốn có của Ngài, cùng những gì Ngài có và là. Như vậy, những quan niệm và tưởng tượng của con người về Đức Chúa Trời trên trời sẽ giảm bớt đến một mức độ nhất định, nhận thức, sự lý giải hoặc cách nhìn của họ đối với Đức Chúa Trời cũng sẽ thực tế hơn phần nào. Nói một cách tương đối, con người cũng sẽ có thể đối đãi với Đức Chúa Trời nhập thể một cách chính xác, khách quan và lý tính hơn, chứ không lên án những gì nhân tính của Ngài có và là, cũng không coi thường hay xem nhẹ những gì nhân tính của Ngài có và là. Thay vào đó, một mặt họ có thể đối đãi đúng đắn với những gì nhân tính của Ngài có và là, mặt khác, họ càng có thể thông qua những gì nhân tính của Ngài có và là để nhìn thấy những gì thần tính của Ngài có và là, từ đó có thể nhận biết chính xác hơn về Đức Chúa Trời trên trời và Đức Chúa Trời trên đất.

Được rồi, hôm nay chúng ta thông công về chủ đề này đến đây thôi. Tạm biệt!

Ngày 10 tháng 8 năm 2024

Trước: Cách mưu cầu lẽ thật (27)

Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời Về việc biết Đức Chúa Trời Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt Vạch rõ kẻ địch lại Đấng Christ Chức trách của lãnh đạo và người làm công Về việc mưu cầu lẽ thật Về việc mưu cầu lẽ thật Sự phán xét khởi từ nhà Đức Chúa Trời Những lời kinh điển từ Đức Chúa Trời Toàn Năng, Đấng Christ của thời kỳ sau rốt Lời Đức Chúa Trời Hằng Ngày Các thực tế lẽ thật mà người tin Đức Chúa Trời phải bước vào Theo Chiên Con Và Hát Những Bài Ca Mới Những chỉ dẫn cho việc truyền bá phúc âm của vương quốc Chiên của Đức Chúa Trời nghe tiếng của Đức Chúa Trời Lắng nghe tiếng Đức Chúa Trời thấy được sự xuất hiện của Đức Chúa Trời Những câu hỏi và câu trả lời thiết yếu về Phúc Âm của Vương quốc Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 1) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 2) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 3) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 4) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 5) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 6) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 7) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 8) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 9) Tôi Đã Quay Về Với Đức Chúa Trời Toàn Năng Như Thế Nào

Cài đặt

  • Văn bản
  • Chủ đề

Màu Đồng nhất

Chủ đề

Phông

Kích cỡ Phông

Khoảng cách Dòng

Khoảng cách Dòng

Chiều rộng Trang

Mục lục

Tìm kiếm

  • Tìm kiếm văn bản này
  • Tìm kiếm cuốn sách này

Liên hệ với chúng tôi qua Messenger