Cách mưu cầu lẽ thật (23)
Trong thời gian qua, chúng ta liên tục thông công về chủ đề cách mưu cầu lẽ thật. Đến nay, chúng ta vẫn chưa thông công xong, đây là một chủ đề rất lớn, có quá nhiều vấn đề liên quan đến việc mưu cầu lẽ thật, phải vậy không? (Thưa, phải.) Về chủ đề cách mưu cầu lẽ thật, chúng ta đã thông công về hai phương diện thực hành. Một phương diện thực hành là buông bỏ, phương diện thực hành còn lại là dốc mình. Về chủ đề “buông bỏ”, chúng ta đã thông công rất nhiều nội dung rồi. Phần nội dung chúng ta thông công gần đây là “buông bỏ những rào cản giữa bản thân và Đức Chúa Trời và sự thù địch đối với Ngài”, trong đó được chia thành mấy mục, là quan niệm và tưởng tượng, những yêu cầu vô lý, sự đề phòng và nghi kỵ, sự nghiên cứu và thăm dò. Chúng ta đã thông công khá nhiều nội dung về mục thứ nhất là quan niệm và tưởng tượng rồi phải không? Trong mục quan niệm và tưởng tượng, nội dung có liên quan đến quan niệm và tưởng tượng của con người về Đức Chúa Trời bao gồm quan niệm của con người về công tác của Đức Chúa Trời, về thực chất tâm tính của Đức Chúa Trời, và về Đức Chúa Trời nhập thể. Trước đây, chúng ta chủ yếu thông công quan niệm của con người về công tác của Đức Chúa Trời. Mặc dù chưa thông công một cách rõ ràng và nhắm riêng đến quan niệm của con người về thực chất tâm tính của Đức Chúa Trời, nhưng chúng ta cũng đã thông công một vài vấn đề liên quan đến các phương diện khác nhau của nhân loại. Sau khi thông công những nội dung này, chẳng phải người ta hẳn đã hiểu được thái độ của Đức Chúa Trời đối với các vấn đề khác nhau của nhân loại rồi sao? Chẳng phải người ta đều đã hiểu Đức Chúa Trời đối đãi như thế nào với những phương diện như điều kiện bẩm sinh, tâm tính bại hoại và nhân tính của con người rồi sao? (Thưa, phải.) Sau khi hiểu được những điều này rồi, thì quan niệm của người ta về công tác của Đức Chúa Trời, cũng như về thực chất tâm tính của Đức Chúa Trời hẳn đã được giải quyết rồi. Gần đây, chúng ta đã thông công về thuộc tính của các loại người. Các ngươi nói xem, tại sao lại thông công về chủ đề này? (Thưa, thông công về thuộc tính của các loại người, một mặt là để chúng con học cách phân định các loại người, biết những người nào do con người đầu thai, những người nào do động vật đầu thai, và những người nào do ma quỷ đầu thai. Sau khi có sự phân định thì chúng con sẽ có nguyên tắc trong cách đối đãi với mọi người. Mặt khác, chúng con cũng có thể hiểu thêm đôi chút về lẽ thật về chuyện rốt cuộc Đức Chúa Trời cứu rỗi hạng người nào, từ đó chúng con sẽ không còn đối đãi với công tác của Đức Chúa Trời dựa trên quan niệm và tưởng tượng của mình nữa.) Tóm lại, việc thông công những nội dung này khiến người ta hiểu được Đức Chúa Trời nhìn nhận các loại người như thế nào, đối đãi với các loại người như thế nào và xử lý các loại người như thế nào. Thông qua việc hiểu rõ thực chất của các loại người, hoặc thông qua việc hiểu rõ các vấn đề khác nhau của nhân loại - cả vấn đề bẩm sinh và vấn đề hình thành sau này, thì về cơ bản người ta có thể biết chính xác nguyên tắc của Đức Chúa Trời trong việc đối đãi với các vấn đề đủ mọi phương diện của nhân loại là gì. Sau khi biết được những điều này, thì về cơ bản, quan niệm và tưởng tượng của con người liên quan đến công tác của Đức Chúa Trời và thực chất tâm tính của Đức Chúa Trời cũng được giải quyết không ít. Chúng ta đã thông công xong những vấn đề liên quan đến công tác của Đức Chúa Trời và thực chất tâm tính của Đức Chúa Trời trong chủ đề quan niệm và tưởng tượng của con người. Các ngươi hãy từ từ tự mình trải nghiệm và lĩnh hội những nội dung đã được thông công này, qua thời gian, các ngươi sẽ có được một chút nhận thức về Đức Chúa Trời. Khi gặp phải dạng vấn đề này trong cuộc sống, các ngươi hãy lấy những lời này ra mà đối chiếu, tìm kiếm và cầu nguyện-đọc thêm, rồi căn cứ vào những nguyên tắc hoặc những nội dung đã được thông công này để giải quyết những vấn đề mình gặp phải trong đời sống thực tế.
Về quan niệm và tưởng tượng của con người, chúng ta vẫn còn một mục cuối cùng chưa thông công, đó là quan niệm và tưởng tượng của con người về Đức Chúa Trời nhập thể. Vấn đề này có cần được thông công không? (Thưa, cần.) Các ngươi có những quan niệm và tưởng tượng nào về Đức Chúa Trời nhập thể – thân phận đặc biệt này? Vấn đề lớn nhất hoặc khó khăn lớn nhất của các ngươi về Đức Chúa Trời nhập thể rốt cuộc là gì, các ngươi có biết không? Với đa số mọi người, việc tiếp xúc trực tiếp với Đức Chúa Trời nhập thể chỉ là nghe giảng đạo và thông công trong các buổi nhóm họp. Chỉ có một số ít người được thực sự tiếp xúc mặt đối mặt với Đức Chúa Trời nhập thể, thậm chí còn có qua lại ở mức độ hạn chế với Ngài trong cuộc sống. Vậy thì khi nghe thông công trong các buổi nhóm họp, hoặc trong quá trình tiếp xúc và qua lại với Ngài trong công tác hay trong cuộc sống, các ngươi có những quan niệm và tưởng tượng gì về Đức Chúa Trời nhập thể? Vấn đề và khó khăn thực tế của các ngươi rốt cuộc là gì? Người ta chắc chắn có quan niệm và tưởng tượng về Đức Chúa Trời nhập thể, không thể nào không có. Con người đều không sống trong chân không, cũng đâu phải không biết suy nghĩ giống như người máy. Chỉ cần biết suy nghĩ thì ngươi sẽ có tư tưởng sống động. Ngươi có tư tưởng sống động thì khi tiếp xúc với Đức Chúa Trời nhập thể, chắc chắn ngươi sẽ nảy sinh ý nghĩ. Mà những ý nghĩ đó thường chính là quan niệm và tưởng tượng của con người, chúng không liên quan đến lẽ thật, cũng không phù hợp với lẽ thật. Chỉ là đa số mọi người sau khi tin Đức Chúa Trời được ba đến năm năm, thì về cơ bản đều có một mức độ công nhận và tiếp nhận nhất định đối với Đức Chúa Trời nhập thể. Vì vậy, ngay cả khi có một vài quan niệm, nhưng bởi vì đã nghe nhiều lẽ thật, nên khi gặp những chuyện như vậy, họ đều có thể tự mình giải quyết bằng một nguyên tắc cơ bản hoặc bằng một số biện pháp riêng của bản thân – có thể là đọc lời Đức Chúa Trời, hoặc tỉa sửa bản thân, hoặc cầu nguyện, cho nên những quan niệm và tưởng tượng của họ về Đức Chúa Trời hầu như lúc nào cũng có thể được giải quyết. Nhưng chúng được giải quyết là vì người ta đã hiểu lẽ thật, hay là vì họ dùng những biện pháp và thủ đoạn của con người để tạm thời hóa giải? (Thưa, là tạm thời hóa giải.) Nghĩa là vấn đề này chẳng bao giờ được giải quyết. Bề ngoài thì trông có vẻ trời yên biển lặng, tạm thời không còn quan niệm nữa, nhưng gốc rễ của vấn đề vẫn còn ẩn giấu bên trong, chưa được nhổ bỏ. Các ngươi nói xem, vấn đề này chưa được nhổ bỏ thì có tốt không? (Thưa, không tốt.) Vì sao không tốt? Nó sẽ gây ảnh hưởng gì đến con người? (Thưa, người ta có quan niệm và tưởng tượng về Đức Chúa Trời nhập thể, một khi gặp hoàn cảnh thích hợp thì những quan niệm và tưởng tượng đó sẽ bộc phát ra. Chẳng hạn như, khi gặp một số chuyện không hợp ý mình thì người ta sẽ hiểu lầm và oán trách Đức Chúa Trời, hoặc sẽ phản nghịch và chống đối Đức Chúa Trời.) Đây là một vấn đề thực tế. Nếu những quan niệm và tưởng tượng về Đức Chúa Trời nhập thể không thể được giải quyết tận gốc rễ, thì chúng sẽ mãi mãi là một vấn đề tồn tại trong ngươi và sẽ gây ra một vài ảnh hưởng đến ngươi. Khi chưa gặp phải hoàn cảnh gì, ngươi chỉ đọc lời Đức Chúa Trời, trong lòng tin vào thân phận, thực chất và tâm tính của Đức Chúa Trời, thì vấn đề này vẫn chưa gây ra ảnh hưởng gì đối với ngươi. Nhưng nếu Đức Chúa Trời nhập thể qua lại, trò chuyện hoặc giao công tác cho ngươi, mà ngươi gặp phải sự tỉa sửa hoặc gặp những chuyện không hợp ý mình, thì những quan niệm và tưởng tượng của ngươi sẽ có tác động tiêu cực ở trong ngươi. Nếu những quan niệm và tưởng tượng về Đức Chúa Trời nhập thể đã được giải quyết, thì khi gặp những chuyện như vậy, có khả năng ngươi vẫn sẽ đau đớn và khó chịu, nghiêm trọng hơn thì ngươi còn nảy sinh sự phản nghịch, nhưng ngươi sẽ chủ động đến trước mặt Đức Chúa Trời mà tìm kiếm lẽ thật để giải quyết chúng, chứ không đối đãi với Đức Chúa Trời nhập thể như đối đãi với một người bình thường, cũng sẽ không phản nghịch Ngài, chống đối Ngài hay đối lập với Ngài.
Chúng ta hãy thông công về chuyện người ta nên giải quyết quan niệm và tưởng tượng của mình về Đức Chúa Trời nhập thể như thế nào. Thực ra, so với những quan niệm và tưởng tượng liên quan đến công tác của Đức Chúa Trời và thực chất tâm tính của Đức Chúa Trời mà trước đây chúng ta đã thông công, thì vấn đề này dễ giải quyết hơn. Phạm vi công tác của Đức Chúa Trời rất rộng, nội dung cũng rất nhiều, lẽ thật mà con người cần nhận biết và hiểu được cũng rất nhiều. Hơn nữa, thực chất tâm tính của Đức Chúa Trời lại càng là phương diện lẽ thật sâu sắc nhất trong mọi lẽ thật mà người tin Đức Chúa Trời nên hiểu, cũng là lẽ thật mà người ta khó nhận biết nhất. Tuy nhiên, so với hai phương diện lẽ thật đó, lẽ thật liên quan đến Đức Chúa Trời nhập thể lại trực quan hơn với con người, cho nên những quan niệm và tưởng tượng liên quan đến Đức Chúa Trời nhập thể cũng dễ giải quyết hơn. Bởi vì so với công tác của Đức Chúa Trời và thực chất tâm tính của Đức Chúa Trời, thì Đức Chúa Trời nhập thể xét cho cùng là Đấng hoàn toàn có thật mà con người có thể nhìn thấy và chạm đến. Ngài không trừu tượng, thay vào đó, Ngài có giọng nói cụ thể, có thể diễn đạt bằng ngôn ngữ, có vẻ ngoài, hình tượng, tâm tính và tính cách cụ thể mà người ta có thể tiếp xúc, còn có mọi phương diện lẽ thật mà Ngài bày tỏ. Do đó, so với quan niệm và tưởng tượng của con người về công tác của Đức Chúa Trời và thực chất tâm tính của Đức Chúa Trời, thì quan niệm và tưởng tượng của con người về Đức Chúa Trời nhập thể cụ thể hơn. Điều gì càng cụ thể thì người ta càng dễ nhận biết, càng dễ đối chiếu với bản thân, cũng càng dễ giải quyết. Về mặt lý thuyết thì là vậy, nhưng cụ thể nên giải quyết quan niệm và tưởng tượng của con người về Đức Chúa Trời nhập thể như thế nào? Có hai con đường thực hành, nói cách khác là có hai nguyên tắc thực hành về thái độ đúng đắn mà con người nên có đối với Đức Chúa Trời nhập thể. Thứ nhất là đừng so sánh Ngài với Đức Chúa Trời trên trời. Thứ hai, cũng là một nguyên tắc rất quan trọng, là đừng đánh đồng với Ngài nhân loại bại hoại. Nếu ngươi làm được hai điều này, thì có thể nói rằng quan niệm và tưởng tượng của ngươi về Đức Chúa Trời nhập thể cơ bản đã được giải quyết từ tận gốc rễ. Các ngươi xem, con đường thực hành theo hai nguyên tắc này có đúng đắn không? (Thưa, đúng đắn.) Vì sao con đường để giải quyết quan niệm và tưởng tượng của người ta về Đức Chúa Trời nhập thể lại là hai đường lối này? (Thưa, bởi vì người ta dễ phạm phải hai sai lầm này nhất. Khi Đức Chúa Trời nhập thể, người ta sẽ tưởng tượng Đức Chúa Trời nhập thể thành kiểu rất mơ hồ, cho rằng Ngài có thể giống như Đức Chúa Trời trên trời mà làm những dấu kỳ và phép lạ, v.v.. Người ta cũng dễ đánh đồng Đức Chúa Trời nhập thể với nhân loại bại hoại, mà làm như vậy thì dễ xúc phạm tâm tính của Đức Chúa Trời.) Các ngươi đã nhìn rõ chuyện này rồi, phải không? (Thưa, phải.) Đường lối và nguyên tắc để giải quyết quan niệm và tưởng tượng của nhân loại về Đức Chúa Trời nhập thể là hai điều này, nguyên nhân là vì quan niệm và tưởng tượng mà nhân loại nảy sinh về Đức Chúa Trời nhập thể chủ yếu nằm ở ở hai phương diện này. Một phương diện là, nếu người ta nhận định rằng Đức Chúa Trời nhập thể là Đức Chúa Trời đến từ trời, có Thần của Đức Chúa Trời ngự bên trong làm sự sống, và là Thần của Đức Chúa Trời hiện thực hóa trong xác thịt, nếu người ta nhận định rằng thân phận của Ngài đặc biệt và Ngài là sự bày tỏ của Đức Chúa Trời trên trời, thì người ta sẽ so sánh Ngài với Đức Chúa Trời trên trời. Phương diện kia là, bởi vì nhìn từ vẻ bề ngoài thì Đức Chúa Trời nhập thể không có gì khác với loài người, chỉ là một người thông thường, nên người ta sẽ vô thức mà coi Ngài là một thành viên trong nhân loại bại hoại. Người ta rất thích đem Ngài ra so sánh hoặc đánh đồng với nhân loại bại hoại, thậm chí còn coi Đức Chúa Trời nhập thể là một thành viên trong nhân loại, không có bất kỳ điểm khác biệt nào so với nhân loại bại hoại. Hai phương diện này là nguồn gốc của quan niệm và tưởng tượng mà nhân loại nảy sinh về Đức Chúa Trời nhập thể. Hai phương diện này cũng là gốc rễ của những sai lầm mà nhân loại thường mắc phải trong cách đối đãi với Đức Chúa Trời nhập thể, gốc rễ của đủ loại vấn đề như sự phản nghịch, chống đối và đối lập nảy sinh trong cách họ đối đãi với Đức Chúa Trời nhập thể. Vì vậy, nếu hai phương diện này được giải quyết, thì quan niệm và tưởng tượng cũng như sự phản nghịch và đối lập của ngươi đối với Đức Chúa Trời nhập thể sẽ dần dần được giải quyết. Vì hai đường lối thực hành này quan trọng đến vậy, nên chúng ta sẽ lần lượt thông công chi tiết từng điều một.
Để giải quyết quan niệm và tưởng tượng của con người về Đức Chúa Trời nhập thể, nguyên tắc thực hành thứ nhất là đừng so sánh Ngài với Đức Chúa Trời trên trời. Đức Chúa Trời trên trời là linh thể, còn Đức Chúa Trời dưới đất là xác thịt. Đừng so sánh Ngài với Đức Chúa Trời trên trời, điều này chắc chắn có nghĩa là đừng lấy Đức Chúa Trời trên trời mà đối chiếu với Đức Chúa Trời nhập thể. Bởi vì thân phận và thực chất của Đức Chúa Trời nhập thể, cũng như công tác mà Ngài làm, đều đại diện cho Đức Chúa Trời trên trời, cho nên người ta thường đặt Đức Chúa Trời nhập thể và Đức Chúa Trời trên trời cạnh nhau để so sánh, đây là chuyện rất tự nhiên. Vậy so sánh như thế này có gì không tốt? Vì sao không được so sánh như vậy? Trước hết, hãy xem người ta thường so sánh những gì, thì sẽ biết liệu so sánh như vậy có đúng hay không. Khi đem Đức Chúa Trời nhập thể so với Đức Chúa Trời trên trời, người ta thường so sánh điều gì? Họ so sánh quyền năng, so sánh thẩm quyền, so sánh tâm tính, cụ thể hơn nữa là so sánh việc làm dấu kỳ và phép lạ, so sánh uy lực trong lời của các Ngài và kết quả mà lời của các Ngài đạt được. Họ còn so sánh điều gì nữa? (Thưa, Đức Chúa Trời trên trời phán ra tiếng như sấm khiến con người đều khiếp sợ, còn Đức Chúa Trời nhập thể thì phán lời bình thường, thông thường và rất thực tế, phương diện này cũng bị đem ra so sánh.) Nghĩa là họ so sánh rất nhiều năng lực siêu nhiên. Đức Chúa Trời trên trời sáng tạo vạn vật, lời của Đức Chúa Trời trên trời phán ra như tiếng sấm, Đức Chúa Trời trên trời có thể cho người chết sống lại, Đức Chúa Trời trên trời nhìn suốt từ thuở ban đầu đến ngày nay, Đức Chúa Trời trên trời phán có là có, truyền lệnh thiết lập là thiết lập, Đức Chúa Trời trên trời có thể biến có thành không, biến không thành có, Đức Chúa Trời trên trời có thể thể hiện đủ loại phép lạ, v.v.. Người ta so sánh tất cả những điều này, tức là những gì Đức Chúa Trời trên trời làm và phán, quyền năng, thẩm quyền, sự toàn năng và tâm tính mà Ngài bày tỏ, cùng với sự chí cao vô thượng và không gì không làm được của Ngài. Còn gì nữa? Đức Chúa Trời trên trời tể trị vạn vật, sắp đặt vạn vật, cũng tể trị và an bài số phận của nhân loại. Đức Chúa Trời trên trời sắp đặt đủ mọi hoàn cảnh cho con người. Ngài dò xét vạn vật, dò xét toàn cõi đất, dò xét nhất cử nhất động, từng lời nói và việc làm của con người, Ngài biết rõ mọi tâm tư và suy nghĩ của mỗi một người. Bất kể mọi điều này là điều mà người ta tưởng tượng từ quan niệm của mình hay là điều người ta đã lĩnh hội sâu sắc, thì tóm lại, đó đều là mọi phần thực chất mà Đức Chúa Trời trên trời có và là một vài hiện tượng thực tế Ngài có thể biểu hiện ra, mà người ta có thể tưởng tượng được trong phạm vi năng lực lý giải của mình. Đây là những biểu hiện trong cách Đức Chúa Trời trên trời hành động, nói cụ thể hơn thì, đây chính là những gì Thần của Đức Chúa Trời có thể làm. Trong đó, một số phương diện có thể đối chiếu và có liên quan với Thần của Đức Chúa Trời, cũng có một số phương diện thì bị lẫn tạp quan niệm và tưởng tượng của con người. Nhưng bất kể là quan niệm và tưởng tượng của con người hay là mặt thực tế của Thần của Đức Chúa Trời, thì tóm lại những điều này đều là mọi phần của sự sống thể hiện ra hoặc thực chất và sự bộc lộ mà Đức Chúa Trời trên trời sở hữu, có sẵn và có thể làm được. Chính vì đây là thực chất, tâm tính hoặc quyền năng mà Đức Chúa Trời trên trời sở hữu và có sẵn, nên những biểu hiện và sự bộc lộ này chỉ liên quan đến Thần của Đức Chúa Trời, tức là liên quan đến thân phận và thực chất vốn có của Đức Chúa Trời. Thực chất, tâm tính hoặc quyền năng được sở hữu và có sẵn bởi Đức Chúa Trời trên trời, mà con người có thể tưởng tượng, cảm nhận hoặc nhận biết thì đều siêu phàm và vĩ đại đối với nhân loại thọ tạo, càng là điều mà bất kỳ con người nào mang thuộc tính thọ tạo không với tới được, Ngài vượt trên mọi loài thọ tạo và phi thọ tạo. Thực chất và quyền năng mà bản thân Đức Chúa Trời nhập thể có sẵn, sở hữu hoặc bộc lộ ra đều là những gì vốn có của Đức Chúa Trời, là một vài tâm tính của Đức Chúa Trời hoặc thực chất của Đức Chúa Trời vượt quá những gì mà mọi loài thọ tạo cũng như phi thọ tạo có thể tưởng tượng, nhận biết hoặc với tới được. Còn chuyện rốt cuộc Đức Chúa Trời cao cả đến mức nào, quyền năng của Ngài lớn đến đâu, Ngài vượt trên hết thảy đến mức nào, thì đây mãi mãi là một bí ẩn không thể giải đáp đối với nhân loại thọ tạo. Nhân loại không thể nào hoàn toàn hiểu rõ Đức Chúa Trời, những gì mà con người nhìn thấy đơn giản là quá hữu hạn. Nếu gạt bỏ phần quan niệm và tưởng tượng phi thực tế của con người về Đức Chúa Trời, chỉ nói về quyền năng, thẩm quyền và thực chất thực sự mà Đức Chúa Trời sở hữu, thì những gì Đức Chúa Trời nhập thể có thể làm, có thể sống thể hiện ra và có thể bộc lộ ra đơn giản là quá hữu hạn. Nếu dùng một cách ví von không mấy ăn khớp của loài người để hình dung, thì có lẽ những gì Đức Chúa Trời nhập thể có thể sống thể hiện ra, bộc lộ và làm được chỉ là một giọt nước trong đại dương, hoặc một hạt cát trong sa mạc so với thân phận và thực chất vốn có của Đức Chúa Trời, chỉ vậy mà thôi. Tức là, thân phận của Đức Chúa Trời, thực chất tâm tính của Đức Chúa Trời và quyền năng của Đức Chúa Trời mà Đức Chúa Trời nhập thể có thể sống thể hiện ra và bộc lộ đều rất hữu hạn. Bởi vì Đức Chúa Trời nhập thể là Đức Chúa Trời sống giữa loài người dưới hình thức của một con người thọ tạo, cho nên những gì Ngài có thể làm, cùng bản năng và bẩm tính mà Ngài có thể sống thể hiện ra, đều rất hữu hạn. Cho dù Ngài là Thần của Đức Chúa Trời được hiện thực hóa trong xác thịt và có Thần của Đức Chúa Trời ngự bên trong, nhưng bởi vì xác thịt này ở trong hình thức là một thành viên của nhân loại thọ tạo, nên thực chất của Đức Chúa Trời và tâm tính của Đức Chúa Trời mà Ngài có thể sống thể hiện ra, bộc lộ và bày tỏ đều rất hữu hạn. Đây là một nguyên nhân. Mặt khác, mỗi lần Đức Chúa Trời nhập thể đều là kết quả tất yếu do nhu cầu công tác của Đức Chúa Trời, tức là nhu cầu tất yếu của một giai đoạn công tác của Đức Chúa Trời, nói cách khác, giai đoạn công tác này của Đức Chúa Trời cần Đức Chúa Trời nhập thể, nghĩa là Đức Chúa Trời bắt buộc phải nhập thể để làm giai đoạn công tác này. Nếu đã cần Đức Chúa Trời nhập thể, vậy thì Ngài sẽ làm giai đoạn công tác này bằng phương thức nhập thể, và có các phương diện khác nhau trong tâm tính, thực chất và quyền năng của Đức Chúa Trời mà Đức Chúa Trời cần bày tỏ và cần thiết cho giai đoạn công tác này. Trong giai đoạn công tác này, Đức Chúa Trời cần phương diện tâm tính, thực chất và quyền năng nào, thì khi nhập thể, Ngài sẽ hiện thực hóa những tâm tính, thực chất và quyền năng liên quan đến nhu cầu của giai đoạn công tác này trong xác thịt này. Nói một cách đơn giản, giai đoạn công tác này của Đức Chúa Trời nhập thể cần xác thịt này làm những công tác gì, thì xác thịt này có thể làm được những công tác đó. Ví dụ, giai đoạn công tác thời kỳ sau rốt cần làm công tác hành phạt và phán xét, thì Đức Chúa Trời nhập thể có thể bày tỏ sự thịnh nộ, sự oai nghi và tâm tính công chính của Đức Chúa Trời, Ngài có thể bày tỏ phương diện tâm tính này, cũng có thể làm phương diện công tác này. Trong thời gian Đức Chúa Trời nhập thể lần này, điều người ta nhìn thấy, trải nghiệm và lĩnh hội được chính là hình phạt và sự phán xét của Đức Chúa Trời, sự thịnh nộ của Đức Chúa Trời, sự oai nghi của Đức Chúa Trời và tâm tính công chính của Ngài. Nếu công tác mà Đức Chúa Trời nhập thể làm là công tác cứu chuộc, ban ân điển và phúc lành cho nhân loại, tha thứ tội lỗi của con người, thì hình tượng Đức Chúa Trời mà Đức Chúa Trời nhập thể đại diện sẽ tràn đầy lòng thương xót và từ ái, tràn đầy sự nhẫn nại và bao dung, tràn đầy tình yêu thương, còn ban cho con người ân điển dư tràn, những điều này chính là đặc trưng rõ ràng của tâm tính và thực chất của Đức Chúa Trời trong giai đoạn công tác đó. Vì thế, bất kể trong lần nhập thể nào của Đức Chúa Trời, người ta đều không thể nào nhìn thấy hoặc nhận biết một cách trọn vẹn tâm tính và thực chất của Đức Chúa Trời trên trời. Chẳng hạn, trong Thời đại Ân điển, một đặc trưng mà những người tin Chúa nhìn thấy nơi Đức Chúa Jêsus chính là Ngài có sự bao dung, nhẫn nại và tha thứ cực lớn, cùng lòng thương xót và từ ái dư tràn. Do đó, một số người tin Chúa có thể thể nghiệm và lĩnh hội được sự nhẫn nại, bao dung và tình yêu thương vô lượng vô biên đến từ Đức Chúa Trời – tức là lòng thương xót và từ ái đến từ Đức Chúa Trời. Trong Thời đại Ân điển, đặc trưng chính của Đức Chúa Trời nhập thể làm công tác cứu chuộc chính là lòng thương xót và từ ái. Còn trong giai đoạn công tác của thời kỳ sau rốt, bởi vì Đức Chúa Trời nhập thể dự tính giải quyết tâm tính bại hoại của con người chứ không phải tha thứ tội lỗi của con người, nên điều người ta thể nghiệm và lĩnh hội được nơi Đức Chúa Trời nhập thể trong giai đoạn công tác này là sự oai nghi, sự thịnh nộ, sự phán xét và hình phạt của Đức Chúa Trời. Thậm chí, họ còn nhìn thấy mặt vô tình của Đức Chúa Trời, thấy Ngài phán xét và vạch trần con người một cách vô tình, hầu như nội dung cơ bản trong mỗi lần Ngài phán đều là vạch trần đủ loại tâm tính bại hoại, sự bộc lộ bại hoại và tình trạng bại hoại nơi con người một cách không ngừng, không nghỉ và không biết mệt mỏi. Trong lần Đức Chúa Trời nhập thể này, điều người ta nhìn thấy là sự oai nghi và thịnh nộ của Đức Chúa Trời, sự không dung thứ cho sự xúc phạm từ con người của Đức Chúa Trời, cùng tâm tính công chính của Đức Chúa Trời, điều người ta trải nghiệm là sự hành phạt, phán xét, thử luyện và tinh luyện của Đức Chúa Trời. Trong mọi lời Đức Chúa Trời phán, người ta thể nghiệm và lĩnh hội được sự công chính, oai nghi và không dung thứ sự xúc phạm của Ngài, cũng thường xuyên thể nghiệm và lĩnh hội được sự giận dữ, ghê tởm, chán ghét, vứt bỏ, thậm chí là rủa sả và định tội của Đức Chúa Trời đối với nhân loại. Mặc dù Đức Chúa Trời nhập thể hoàn toàn có thể đại diện cho chính Đức Chúa Trời, đại diện cho thân phận của Đức Chúa Trời, tâm tính của Đức Chúa Trời và thực chất của Đức Chúa Trời, nhưng bởi vì hình thức xác thịt nhập thể của Đức Chúa Trời khác với hình thức của thân phận vốn có của Ngài, nên Ngài cũng bị giới hạn bởi hình thức xác thịt này và bản năng của hình thức xác thịt này. Thực chất, tâm tính và quyền năng của Đức Chúa Trời mà con người có thể nhìn thấy nơi Đức Chúa Trời nhập thể thì hữu hạn khi đem so với thân phận và thực chất vốn có của Đức Chúa Trời. Đây là chuyện rất bình thường. Con người nên hiểu chuyện này, không nên khăng khăng đem Đức Chúa Trời nhập thể ra so sánh với Đức Chúa Trời trên trời, rồi nếu thấy không khớp thì thất vọng cùng cực, thì xét đoán và định tội Ngài, muốn vứt bỏ Đức Chúa Trời, phủ nhận thân phận của Đức Chúa Trời, phủ nhận công tác của Đức Chúa Trời hoặc phủ nhận thực chất của Đức Chúa Trời. Thậm chí có một số người chỉ vì một chuyện mà nảy sinh quan niệm, đem Đức Chúa Trời nhập thể đối chiếu với Đức Chúa Trời trên trời, khi thấy không khớp thì trở nên tiêu cực và yếu đuối, có một số người còn nảy sinh ý nghĩ không tin nữa. Đây là biểu hiện rất ngu xuẩn, cũng là biểu hiện rất vô tri.
Xét từ thân phận và thực chất, thì Đức Chúa Trời nhập thể có liên quan đến Đức Chúa Trời, Ngài có thân phận và thực chất của Đức Chúa Trời. Nhưng bởi vì hình thức xác thịt và thuộc tính của bản thân xác thịt có liên quan đến bản năng của nhân loại thọ tạo và bị giới hạn trong phạm vi bản năng của nhân loại thọ tạo, cho nên bất kể lần này Đức Chúa Trời nhập thể làm công tác gì, thì những gì Ngài có thể làm, có thể đạt được và có thể đại diện cho thân phận cùng thực chất của Đức Chúa Trời, chỉ liên quan đến công tác và chức vụ trong lần nhập thể này của Ngài. Chức vụ và công tác của lần nhập thể này là gì, thì thân phận và thực chất của Đức Chúa Trời mà Ngài có thể đại diện chính là vậy. Công tác cần làm trong lần này đại diện cho thân phận và thực chất của Đức Chúa Trời, đại diện cho tâm tính của Đức Chúa Trời. Ngài muốn đại diện cho tâm tính nào của Đức Chúa Trời, muốn bày tỏ tâm tính nào của Đức Chúa Trời, muốn thực hiện công tác nào của Đức Chúa Trời, thì Ngài sẽ đại diện cho phương diện tâm tính có liên quan đó của Đức Chúa Trời, Ngài sẽ có thể đại diện cho phương diện tâm tính có liên quan của Đức Chúa Trời và làm công tác có liên quan mà Đức Chúa Trời dự tính làm, chứ Ngài không thể đại diện cho toàn bộ. Bất kể công tác mà mỗi lần Đức Chúa Trời nhập thể thực hiện là gì, thì đều đủ để đại diện cho tâm tính mà Đức Chúa Trời dự tính bày tỏ trong lần nhập thể đó, cũng đủ để bày tỏ công tác mà Đức Chúa Trời dự tính làm trong lần đó. Hơn nữa, tâm tính mà Đức Chúa Trời bày tỏ và thực chất mà Ngài bộc lộ không có chút mâu thuẫn nào với thân phận và thực chất vốn có của Đức Chúa Trời, Ngài cũng không hề có sai sót nào trong chuyện này. Bởi vì thân phận và thực chất của Đức Chúa Trời nhập thể hoàn toàn là một với thực chất vốn có của Đức Chúa Trời hay thực chất của Đức Chúa Trời trên trời, cho nên, bất kể là trong lời phán, trong cuộc sống, trong công tác, hay trong tâm tính và thực chất, cùng đủ mọi phương diện khác của Đức Chúa Trời mà con người có thể nhìn thấy, thì Đức Chúa Trời nhập thể đều tương đồng và giống hệt với Đức Chúa Trời trên trời. Bất kể Ngài có thể đại diện cho toàn bộ của Đức Chúa Trời hay không, cũng bất kể con người có thể nhìn thấy toàn bộ của Đức Chúa Trời hay không, thì tóm lại, thân phận và thực chất của Ngài đều bắt nguồn từ Đức Chúa Trời trên trời. Ngay cả khi theo cách nhìn của ngươi, Đức Chúa Trời nhập thể không thể đại diện cho toàn bộ của Đức Chúa Trời trên trời, thì thân phận và thực chất của Ngài vẫn là của chính Đức Chúa Trời. Ngay cả khi, sau nhiều năm so sánh, ngươi vẫn không phát hiện được Đức Chúa Trời nhập thể có mối quan hệ gì với Đức Chúa Trời trên trời mà ngươi nhận biết, thì thân phận và thực chất của Đức Chúa Trời nhập thể cũng không thay đổi, bởi vì đây là sự thật. Sự thật này là gì? Đó chính là, thực chất của Đức Chúa Trời nhập thể là thực chất của Đức Chúa Trời trên trời, và bởi vì thực chất của Ngà mà thân phận của Ngài vĩnh viễn bất biến – đây chính là thân phận của Đức Chúa Trời. Có lẽ ba mươi năm trước, khi Ta nói những lời này thì đa số mọi người sẽ không tin. Nhưng sau ba mươi năm, Ta nghĩ rằng Ta có tư cách để nói những lời này. Vì sao Ta nói như vậy? Nếu không có ba mươi năm công tác này, nếu những lẽ thật này chưa được bày tỏ, mà nói rằng “Đức Chúa Trời nhập thể đại diện cho chính Đức Chúa Trời” thì có phần hơi sớm. Bởi vì khi chưa có sự bày tỏ của lời Đức Chúa Trời, chưa có sự bày tỏ của tâm tính của Đức Chúa Trời, chưa có sự bày tỏ thân phận và thực chất của Đức Chúa Trời, mà ngươi nói “Đức Chúa Trời nhập thể đại diện cho chính Đức Chúa Trời”, thì người ta sẽ cảm thấy ngươi bất thường, hoặc cho rằng ngươi đại nghịch bất đạo. Nhưng hiện nay đã có nhiều lời Đức Chúa Trời được bày tỏ đến vậy, đã có nhiều sự bày tỏ về thực chất tâm tính và thân phận vốn có của Đức Chúa Trời đến vậy, nếu nói rằng “Đức Chúa Trời nhập thể đại diện cho chính Đức Chúa Trời”, thì các ngươi nói xem, có quá đáng không? (Thưa, không quá đáng.) Nói vậy có phải là phóng đại sự thật không? Có phải là không thích đáng không? (Thưa, không phải.) Đây không phải là nói khoác. Vì vậy, về chuyện Đức Chúa Trời nhập thể có thể đại diện cho Đức Chúa Trời trên trời hay không, có thực chất tâm tính của Đức Chúa Trời trên trời hay không, có thân phận của Đức Chúa Trời trên trời hay không, thì không thể xét từ vẻ bề ngoài của Ngài. Có lẽ bề ngoài của Ngài rất nhỏ bé, trông rất thông thường, rất bình thường, thậm chí khiến một số người coi thường, có lẽ Ngài không có điều gì hơn người, cũng không có biểu hiện siêu nhiên gì, càng không có cái gọi là điểm độc đáo đặc biệt trong mắt nhân loại bại hoại, hoặc những điều khiến nhân loại bại hoại khâm phục, ngưỡng vọng và kinh ngạc. Nhưng bởi vì công tác Ngài làm, thực chất của Ngài và tâm tính của Ngài có thể bày tỏ tâm tính và thực chất của Đức Chúa Trời trên trời, cho nên có thể xác định rằng thân phận của Ngài chính là Đức Chúa Trời nhập thể, là chính Đức Chúa Trời.
Chúng ta hãy tiếp tục thông công về chủ đề đừng so sánh Đức Chúa Trời nhập thể với Đức Chúa Trời trên trời. Vừa rồi, chúng ta đã nói đến chuyện đa số mọi người, khi tiếp xúc với Đức Chúa Trời nhập thể, đều thích so sánh Ngài với Đức Chúa Trời trên trời. Thông công đến giờ, các ngươi nói xem, so sánh như vậy có thích hợp không? (Thưa, không thích hợp.) Làm vậy có phải là đã phạm một sai lầm cực lớn không? (Thưa, phải.) Phạm phải sai lầm này thì có ngu xuẩn không? Có dẫn đến hậu quả xấu không? (Thưa, có.) Hậu quả xấu gì? (Thưa, khi con người dựa vào quan niệm và tưởng tượng để quy định Đức Chúa Trời thì họ dễ phản nghịch và chống đối Đức Chúa Trời, cũng dễ không tiếp nhận công tác của Đức Chúa Trời hoặc sự cứu rỗi của Ngài, hậu quả vô cùng nghiêm trọng.) Ngươi phải đối đãi với Đức Chúa Trời nhập thể một cách lý tính. Vậy làm thế nào mới là lý tính? Ngươi phải suy ngẫm: Đức Chúa Trời trên trời hiện nay đã trở nên xác thịt để làm công tác của Ngài, vậy điều này có nghĩa là gì? Hiện nay, chính Đức Chúa Trời nhập thể là Đấng có tiếng nói quyết định, Ngài có thể đại diện toàn quyền cho Đức Chúa Trời trên trời để làm công tác phán xét trong thời kỳ sau rốt. Cho nên, bất kể có chuyện gì, có vấn đề gì, ngươi đều phải tìm kiếm nơi Đức Chúa Trời nhập thể. Ngài đã có thể đại diện cho Đức Chúa Trời trên trời, thì Ngài có thể giải quyết vấn đề của ngươi, Ngài có thể đại diện cho Đức Chúa Trời trên trời giải quyết những vấn đề trong cuộc sống của ngươi, những vấn đề trong việc tin Đức Chúa Trời của ngươi, những vấn đề về sự cứu rỗi của ngươi, cũng như những vấn đề về đích đến và số phận sau này của ngươi. Mặt khác, nếu ngươi cầu nguyện và tìm kiếm với Đức Chúa Trời trên trời, nhưng lại không thèm để ý đến Đức Chúa Trời ở dưới đất này, không thèm để ý đến Đức Chúa Trời nhập thể, thì ngươi cứ xem thử mình còn có thể nhận được sự chỉ dẫn rõ ràng, sự khai sáng và sự sáng rõ ràng, cùng con đường thực hành rõ ràng hay không. Nếu ngươi cầu nguyện và ngưỡng vọng Đức Chúa Trời trên trời mà có thể đạt được những điều này, thì thực sự rất tốt, ngươi sẽ không cần tìm kiếm nơi Đức Chúa Trời nhập thể nữa. Nhưng nếu sau khi ngươi cầu nguyện, tìm kiếm và ngưỡng vọng Đức Chúa Trời trên trời suốt một thời gian dài mà vẫn không nhận được sự sáng rõ ràng, không có con đường thực hành, cũng không có biện pháp giải quyết rõ ràng, thì ngươi phải làm sao? (Thưa, tìm kiếm các nguyên tắc lẽ thật trong lời Đức Chúa Trời.) Vậy thì không còn cách nào khác, ngươi chỉ có thể tìm kiếm những lời Đức Chúa Trời nhập thể đã phán và công tác Ngài đã làm. Ngươi đừng tự cao nữa, sự tự cao của ngươi không cứu được ngươi đâu, chỉ có thể hại ngươi mà thôi. Đức Chúa Trời trên trời thì toàn năng, cao cả, vĩ đại, siêu phàm và thoát tục, nhưng lại ngoài tầm với của nhân loại. Khi Ngài phán lời, ngươi không hiểu được và cũng không nghe thấy được. Nếu Đức Chúa Trời thực sự phán với ngươi, thì xác phàm này của ngươi căn bản chịu không nổi, chống đỡ không nổi. Vậy thì phải làm sao? Ngươi phải tìm kiếm nơi Đức Chúa Trời nhập thể, xem Đức Chúa Trời nhập thể khi ở trên đất đã phán những lời nào, đã làm công tác gì, và những yêu cầu trong nhiều phương diện của Ngài đối với ngươi là gì. Hiểu rõ những chuyện này là điều quan trọng nhất. Đừng lúc nào cũng cầu nguyện và ngưỡng vọng Đức Chúa Trời trên trời, lúc nào cũng chờ Đức Chúa Trời trên trời mặc khải cho ngươi. Nếu ngươi làm vậy thì Đức Chúa Trời trên trời sẽ không thèm để ý đến ngươi đâu. Đức Chúa Trời trên trời đã phán rằng: “Hiện nay, Ta đang ở trên đất mà làm công tác, cất tiếng và phán lời. Những lời Ta phán, ngươi có thể nghe được, cũng có thể hiểu được. Những lời này có thể giải quyết những vấn đề trong việc thực hành của ngươi, giải quyết tâm tính bại hoại của ngươi”. Vậy ngươi nên làm thế nào? Ngươi không thể lúc nào cũng chờ Đức Chúa Trời trên trời đích thân đối thoại với ngươi. Ngươi phải “hạ mình” đến trước Đức Chúa Trời nhập thể và đến trước lời Ngài để tìm kiếm lẽ thật, hầu cho ngươi đạt được sự cung ứng và sự giúp đỡ. Làm như vậy thì được gọi là có lý tính, như vậy là đối đãi với Đức Chúa Trời nhập thể một cách lý tính. Một mặt, khi nhìn thấy hình thức bên ngoài và diện mạo của Đức Chúa Trời nhập thể hoặc nghe lời Ngài phán, thì ngươi đừng so sánh Ngài với Đức Chúa Trời trên trời, hãy đối đãi với Ngài như một người thông thường, bình thường và thực tế mà có thể đại diện cho Đức Chúa Trời. Mặt khác, đối với những lời Ngài phán, những yêu cầu của Ngài đối với ngươi và những gì Ngài dặn dò ngươi, thì ngươi không cần mang ra nghiên cứu, suy ngẫm, kiểm chứng, thảo luận hay xử lý nữa. Ngươi cứ trực tiếp đem ra thực hành và triển khai, trực tiếp thuận phục là được, không cần cầu nguyện, tìm kiếm và kiểm chứng với Đức Chúa Trời trên trời sau lưng Đức Chúa Trời nhập thể. Nếu ngươi nhất quyết phải đợi có được sự kiểm chứng để thoải mái trong linh, sẵn sàng trong lòng, rồi mới thực hành, triển khai và thuận phục, thì chuyện này chẳng phải là rất phiền phức sao? (Thưa, phải.) Có ai làm như vậy không? Thông thường, người ta tin Đức Chúa Trời tám đến mười năm và trong lòng đã hoàn toàn xác định chắc chắn về Đức Chúa Trời rồi, thì sẽ không làm như vậy nữa, vì họ cảm thấy như vậy là phiền phức. Chỉ có những người mới tin chưa được ba năm thì mới hay làm như vậy thôi. Họ cầu nguyện với Đức Chúa Trời trên trời như thế nào? Họ nói: “Lạy Đức Chúa Trời, xin Ngài khiến con thuận phục xác thịt nhập thể của Ngài. Lạy Đức Chúa Trời, xin Ngài khiến con thuận phục những lời Ngài phán trên đất. Lạy Đức Chúa Trời, xin Ngài khiến con thuận phục những điều Ngài bày tỏ trên đất. Lạy Đức Chúa Trời, xin Ngài khiến con buông bỏ những quan niệm của con về xác thịt nhập thể của Ngài”. Họ cầu nguyện như vậy là đang cầu nguyện với ai? (Thưa, với Đức Chúa Trời trên trời.) Ngươi nói xem, những người thường cầu nguyện như vậy có được Đức Thánh Linh làm cho cảm động không? Có Đức Chúa Trời ở cùng họ không? (Thưa, không có.) Họ không có, cũng không dễ đạt được vậy. Đức Chúa Trời có để ý đến hạng người như vậy không? (Thưa, không để ý.)
Chúng ta hãy tiếp tục thông công về chủ đề đừng so sánh Đức Chúa Trời nhập thể với Đức Chúa Trời trên trời. Vừa rồi, chúng ta đã nói đến chuyện đa số mọi người, khi tiếp xúc với Đức Chúa Trời nhập thể, đều thích so sánh Ngài với Đức Chúa Trời trên trời. Thông công đến giờ, các ngươi nói xem, so sánh như vậy có thích hợp không? (Thưa, không thích hợp.) Làm vậy có phải là đã phạm một sai lầm cực lớn không? (Thưa, phải.) Phạm phải sai lầm này thì có ngu xuẩn không? Có dẫn đến hậu quả xấu không? (Thưa, có.) Hậu quả xấu gì? (Thưa, khi con người dựa vào quan niệm và tưởng tượng để quy định Đức Chúa Trời thì họ dễ phản nghịch và chống đối Đức Chúa Trời, cũng dễ không tiếp nhận công tác của Đức Chúa Trời hoặc sự cứu rỗi của Ngài, hậu quả vô cùng nghiêm trọng.) Ngươi phải đối đãi với Đức Chúa Trời nhập thể một cách lý tính. Vậy làm thế nào mới là lý tính? Ngươi phải suy ngẫm: Đức Chúa Trời trên trời hiện nay đã trở nên xác thịt để làm công tác của Ngài, vậy điều này có nghĩa là gì? Hiện nay, chính Đức Chúa Trời nhập thể là Đấng có tiếng nói quyết định, Ngài có thể đại diện toàn quyền cho Đức Chúa Trời trên trời để làm công tác phán xét trong thời kỳ sau rốt. Cho nên, bất kể có chuyện gì, có vấn đề gì, ngươi đều phải tìm kiếm nơi Đức Chúa Trời nhập thể. Ngài đã có thể đại diện cho Đức Chúa Trời trên trời, thì Ngài có thể giải quyết vấn đề của ngươi, Ngài có thể đại diện cho Đức Chúa Trời trên trời giải quyết những vấn đề trong cuộc sống của ngươi, những vấn đề trong việc tin Đức Chúa Trời của ngươi, những vấn đề về sự cứu rỗi của ngươi, cũng như những vấn đề về đích đến và số phận sau này của ngươi. Mặt khác, nếu ngươi cầu nguyện và tìm kiếm với Đức Chúa Trời trên trời, nhưng lại không thèm để ý đến Đức Chúa Trời ở dưới đất này, không thèm để ý đến Đức Chúa Trời nhập thể, thì ngươi cứ xem thử mình còn có thể nhận được sự chỉ dẫn rõ ràng, sự khai sáng và sự sáng rõ ràng, cùng con đường thực hành rõ ràng hay không. Nếu ngươi cầu nguyện và ngưỡng vọng Đức Chúa Trời trên trời mà có thể đạt được những điều này, thì thực sự rất tốt, ngươi sẽ không cần tìm kiếm nơi Đức Chúa Trời nhập thể nữa. Nhưng nếu sau khi ngươi cầu nguyện, tìm kiếm và ngưỡng vọng Đức Chúa Trời trên trời suốt một thời gian dài mà vẫn không nhận được sự sáng rõ ràng, không có con đường thực hành, cũng không có biện pháp giải quyết rõ ràng, thì ngươi phải làm sao? (Thưa, tìm kiếm các nguyên tắc lẽ thật trong lời Đức Chúa Trời.) Vậy thì không còn cách nào khác, ngươi chỉ có thể tìm kiếm những lời Đức Chúa Trời nhập thể đã phán và công tác Ngài đã làm. Ngươi đừng tự cao nữa, sự tự cao của ngươi không cứu được ngươi đâu, chỉ có thể hại ngươi mà thôi. Đức Chúa Trời trên trời thì toàn năng, cao cả, vĩ đại, siêu phàm và thoát tục, nhưng lại ngoài tầm với của nhân loại. Khi Ngài phán lời, ngươi không hiểu được và cũng không nghe thấy được. Nếu Đức Chúa Trời thực sự phán với ngươi, thì xác phàm này của ngươi căn bản chịu không nổi, chống đỡ không nổi. Vậy thì phải làm sao? Ngươi phải tìm kiếm nơi Đức Chúa Trời nhập thể, xem Đức Chúa Trời nhập thể khi ở trên đất đã phán những lời nào, đã làm công tác gì, và những yêu cầu trong nhiều phương diện của Ngài đối với ngươi là gì. Hiểu rõ những chuyện này là điều quan trọng nhất. Đừng lúc nào cũng cầu nguyện và ngưỡng vọng Đức Chúa Trời trên trời, lúc nào cũng chờ Đức Chúa Trời trên trời mặc khải cho ngươi. Nếu ngươi làm vậy thì Đức Chúa Trời trên trời sẽ không thèm để ý đến ngươi đâu. Đức Chúa Trời trên trời đã phán rằng: “Hiện nay, Ta đang ở trên đất mà làm công tác, cất tiếng và phán lời. Những lời Ta phán, ngươi có thể nghe được, cũng có thể hiểu được. Những lời này có thể giải quyết những vấn đề trong việc thực hành của ngươi, giải quyết tâm tính bại hoại của ngươi”. Vậy ngươi nên làm thế nào? Ngươi không thể lúc nào cũng chờ Đức Chúa Trời trên trời đích thân đối thoại với ngươi. Ngươi phải “hạ mình” đến trước Đức Chúa Trời nhập thể và đến trước lời Ngài để tìm kiếm lẽ thật, hầu cho ngươi đạt được sự cung ứng và sự giúp đỡ. Làm như vậy thì được gọi là có lý tính, như vậy là đối đãi với Đức Chúa Trời nhập thể một cách lý tính. Một mặt, khi nhìn thấy hình thức bên ngoài và diện mạo của Đức Chúa Trời nhập thể hoặc nghe lời Ngài phán, thì ngươi đừng so sánh Ngài với Đức Chúa Trời trên trời, hãy đối đãi với Ngài như một người thông thường, bình thường và thực tế mà có thể đại diện cho Đức Chúa Trời. Mặt khác, đối với những lời Ngài phán, những yêu cầu của Ngài đối với ngươi và những gì Ngài dặn dò ngươi, thì ngươi không cần mang ra nghiên cứu, suy ngẫm, kiểm chứng, thảo luận hay xử lý nữa. Ngươi cứ trực tiếp đem ra thực hành và triển khai, trực tiếp thuận phục là được, không cần cầu nguyện, tìm kiếm và kiểm chứng với Đức Chúa Trời trên trời sau lưng Đức Chúa Trời nhập thể. Nếu ngươi nhất quyết phải đợi có được sự kiểm chứng để thoải mái trong linh, sẵn sàng trong lòng, rồi mới thực hành, triển khai và thuận phục, thì chuyện này chẳng phải là rất phiền phức sao? (Thưa, phải.) Có ai làm như vậy không? Thông thường, người ta tin Đức Chúa Trời tám đến mười năm và trong lòng đã hoàn toàn xác định chắc chắn về Đức Chúa Trời rồi, thì sẽ không làm như vậy nữa, vì họ cảm thấy như vậy là phiền phức. Chỉ có những người mới tin chưa được ba năm thì mới hay làm như vậy thôi. Họ cầu nguyện với Đức Chúa Trời trên trời như thế nào? Họ nói: “Lạy Đức Chúa Trời, xin Ngài khiến con thuận phục xác thịt nhập thể của Ngài. Lạy Đức Chúa Trời, xin Ngài khiến con thuận phục những lời Ngài phán trên đất. Lạy Đức Chúa Trời, xin Ngài khiến con thuận phục những điều Ngài bày tỏ trên đất. Lạy Đức Chúa Trời, xin Ngài khiến con buông bỏ những quan niệm của con về xác thịt nhập thể của Ngài”. Họ cầu nguyện như vậy là đang cầu nguyện với ai? (Thưa, với Đức Chúa Trời trên trời.) Ngươi nói xem, những người thường cầu nguyện như vậy có được Đức Thánh Linh làm cho cảm động không? Có Đức Chúa Trời ở cùng họ không? (Thưa, không có.) Họ không có, cũng không dễ đạt được vậy. Đức Chúa Trời có để ý đến hạng người như vậy không? (Thưa, không để ý.)
Đức Chúa Trời nhập thể đã là xác thịt, vậy thì Ngài chính là một Con người bình thường và thông thường. Mà khi nói đến một Con người bình thường và thông thường, thì có nghĩa là Ngài có bản năng và điều kiện bẩm sinh của một người bình thường và thông thường, cũng có tính cách, hỉ nộ ai lạc, cách thức diễn đạt ngôn ngữ và phong cách ngôn ngữ của nhân tính bình thường. Ngài còn có gì nữa? Lối tư duy, lối sống, thói quen sinh hoạt, cùng những sự lựa chọn của nhân tính bình thường đối với đủ mọi phương diện trong cuộc sống. Những sự lựa chọn này bao gồm những gì? Chẳng hạn như môi trường sống yêu thích, màu sắc yêu thích, cùng một số sở thích và sự lựa chọn trong chuyện ăn, mặc, ở, đi lại. Đức Chúa Trời nhập thể có vẻ ngoài, bản năng và điều kiện bẩm sinh của nhân tính bình thường này, còn có đủ mọi biểu hiện trong phạm vi cuộc sống của nhân tính bình thường, nên có thể nói rất chắc chắn rằng Ngài chính là một con người hoàn toàn bình thường và đúng tiêu chuẩn, là một thành viên bình thường trong nhân loại thọ tạo. Xét từ thuộc tính và hình thức sinh tồn, thì Đức Chúa Trời nhập thể hoàn toàn khác với Đức Chúa Trời trên trời, nghĩa là hoàn toàn khác với Thần của Đức Chúa Trời về thuộc tính, hình thức sinh tồn và vẻ bề ngoài. Trong thời gian Đức Chúa Trời nhập thể làm công tác, những gì Ngài bộc lộ và có thể làm được đều là những điều mà mắt của con người có thể nhìn thấy và tư duy của con người có thể hiểu được. Nhưng nhận thức của con người về tâm tính của Đức Chúa Trời, thực chất của Đức Chúa Trời và thân phận vốn có của Đức Chúa Trời thì lại rất hữu hạn. Thêm vào đó, bản thân con người vốn đã có rất nhiều quan niệm và tưởng tượng về Đức Chúa Trời, cho nên mọi phương diện của biểu hiện nhân tính của Đức Chúa Trời nhập thể đã tạo ra một số khó khăn cho người ta. Ví dụ, khi phán lời, Ta đều dùng ngôn ngữ đời thường, còn thường xuyên nói một số khẩu ngữ và tiếng địa phương, thế là người ta sẽ đem so sánh với Đức Chúa Trời trên trời, nói rằng: “Đức Chúa Trời trên trời mà phán lời thì hẳn phải xuất khẩu thành văn và dùng những từ ngữ tao nhã. Sao người này nói chuyện lại không dùng những từ ngữ tao nhã? Còn dùng cả khẩu ngữ và tiếng địa phương, có lúc còn dùng những từ ngữ và cách nói liên quan đến mấy chuyện ăn, mặc, ở, đi lại trong cuộc sống”. Ví dụ, Ta thích một màu sắc nào đó, thì có người sẽ nói: “Sao Ngài lại thích màu này chứ? Màu này nhìn chẳng thuần khiết, chẳng thánh khiết! Chẳng phải Đức Chúa Trời nên thích màu trắng sao? Chẳng phải Đức Chúa Trời nên thích màu xanh dương hoặc xanh lá sao? Sao Ngài lại thích màu này chứ? Màu này cũng đâu đại diện cho thân phận và thực chất của Đức Chúa Trời!”. Rồi trong lòng họ nảy sinh quan niệm. Nhưng Ta nói Ta vẫn thực sự thích màu này, vậy ngươi nên tiếp cận chuyện này thế nào? (Thưa, chúng con nên tiếp cận một cách đúng đắn.) Đức Chúa Trời nhập thể có nhân tính bình thường. Ngài sống trong nhân tính bình thường thì phải tiếp xúc với những chuyện thuộc mọi phương diện trong phạm vi đời sống của nhân tính bình thường. Vì vậy, Ngài có sở thích cá nhân trong những chuyện ăn, mặc, ở, đi lại. Những sở thích này có thể phù hợp với quan niệm và tưởng tượng của ngươi về Đức Chúa Trời, cũng có thể không phù hợp với quan niệm và tưởng tượng của ngươi về Đức Chúa Trời. Nếu không phù hợp thì ngươi phải làm sao? Là ngươi sai hay Ta sai? Ta cảm thấy Ta không sai, bởi vì Ta có quyền lựa chọn những gì mình thích. Ta không truyền thụ cho ngươi một cách cưỡng ép, cũng không nói đây là lẽ thật và bắt ngươi phải tiếp nhận. Ngươi cũng có quyền của mình, và Ta chưa bao giờ can thiệp vào chúng. Ngươi thích màu trắng, thích màu xanh dương, thì Ta chưa từng định tội ngươi. Vậy Ta thích những màu khác, thì chẳng phải ngươi cũng không nên lên án sao? Có người nói: “Như vậy không được. Điều Ngài đại diện khác với điều tôi đại diện. Tôi đại diện cho con người bại hoại, còn Ngài đại diện cho Đức Chúa Trời trên trời. Sao có thể giống nhau được?”. Đúng là Ta đại diện cho Đức Chúa Trời trên trời, nhưng Đức Chúa Trời trên trời cũng đâu có định tội màu sắc mà Ta thích. Ngươi cho rằng màu trắng là thánh khiết, vậy ngươi hãy nhìn xem, vạn vật mà Đức Chúa Trời trên trời tạo dựng có đủ mọi màu sắc. Những bông hoa mà Đức Chúa Trời tạo nên có muôn màu muôn vẻ. Trên trời có lúc còn có mây đen, mà mây đen lại có màu xám. Mùa hè trời quá nóng, mà có mây đen che khuất mặt trời thì ngươi cảm thấy mát mẻ, dễ chịu, rồi ngươi tạ ơn Đức Chúa Trời đã ân đãi. Đây chẳng phải là chuyện tốt sao? (Thưa, phải.) Còn có người nói: “Màu xanh lá là tốt, màu xanh lá mà Đức Chúa Trời tạo ra là tượng trưng cho sự sống”. Nói vậy không đúng. Hãy xem những loại lương thực mà Đức Chúa Trời tạo ra, chẳng hạn như ngô, chẳng phải ngô cũng có nhiều màu sao? Có màu vàng, màu trắng, màu tím, màu đen. Ngươi có thể nói ngô không tượng trưng cho sự sống sao? Ngô là do Đức Chúa Trời tạo nên. Nó có thể bén rễ, nảy mầm, ra hoa, kết trái. Nó là vật hữu cơ, cũng tượng trưng cho sự sống. Còn nữa, lá cây đều có màu xanh lá hay sao? (Thưa, không phải. Lá cây còn có màu tím, màu vàng, màu đỏ.) Đây đều là màu sắc của lá cây. Chẳng lẽ chúng không tượng trưng cho sự sống sao? (Thưa, có tượng trưng.) Vì vậy, khi có người nói “màu xanh lá tượng trưng cho sự sống”, thì chẳng phải câu này sai sao? (Thưa, phải.) Vậy có những người nói: “Màu trắng tượng trưng cho sự thuần khiết”, thì câu này có thích hợp không? Đây chẳng phải là nói bậy sao? Màu trắng chỉ trông sạch sẽ hơn, sáng sủa hơn, chứ không tượng trưng cho sự thuần khiết. Dù cả đời ngươi toàn mặc quần áo màu trắng thì cũng đâu có nghĩa là ngươi thuần khiết; ngươi vẫn là nhân loại bại hoại thôi. Vì vậy, trong chuyện lựa chọn màu sắc thì không có quy định gì cả. Nó chỉ dựa vào màu da, sở thích cá nhân và tính cách của mỗi người, đương nhiên cũng dựa vào mùa, khí hậu và nhiệt độ. Màu trắng chỉ là một màu sắc, chẳng đại diện cho điều gì cả. Vậy màu đen thì sao? Có vài người nói: “Màu đen tượng trưng cho bóng tối, tượng trưng cho sự chết, còn tượng trưng cho ma quỷ, cho nên màu đen không tốt!”. Các ngươi nói xem, định tội màu đen như vậy có tốt không? (Thưa, không tốt.) Có lúc Ta cũng mặc quần áo màu đen, chẳng hạn như áo khoác dạ màu đen, áo gió màu đen, áo len màu đen, quần màu đen, và vào mùa đông có lúc Ta còn choàng khăn màu đen, đeo găng tay màu đen. Có vài người nói: “Chẳng phải màu đen tượng trưng cho bóng tối, tượng trưng cho Sa-tan sao? Sao Ngài có thể mặc quần áo màu đen? Chẳng phải Ngài đại diện cho Đức Chúa Trời sao? Ngài mặc màu đen mà đại diện cho Đức Chúa Trời, vậy chẳng phải là đại diện sai rồi sao? Đức Chúa Trời trên trời chắc chắn không thích màu đen”. Ta nói là ngươi sai rồi. Làm sao ngươi biết Đức Chúa Trời trên trời không thích màu đen? Ngươi nghe Đức Chúa Trời nói Ngài không thích màu đen khi nào? Điều này được ghi chép trong Kinh Thánh hay do sứ giả truyền đạt cho ngươi? Ngươi xem, trong số ngũ cốc và các loại lương thực, những thực phẩm màu đen như đậu đen, gạo đen, mè đen, chẳng phải đều do Đức Chúa Trời tạo ra sao? (Thưa, phải.) Những thực phẩm màu đen này ai cũng thích ăn, được cho là có tác dụng bồi bổ cơ thể. Còn có gà ác, toàn thân đều màu đen, giá trị dinh dưỡng của nó còn cao hơn gà thường. Còn có cá quả trong số các loài cá, gấu đen trong số các loài động vật có vú, quạ trong số các loài chim, chẳng phải chúng đều có màu đen sao? (Thưa, phải.) Cả đá cũng có đá màu đen, tóc của con người cũng có màu đen, trong các chủng tộc cũng có người da đen. Có người lúc tóc đen nhánh, bóng mượt thì luôn khoe trước mặt người khác: “Xem tóc tôi đen biết bao, đẹp quá đi mất!”. Đến khi tóc bạc ngày càng nhiều thì họ bắt đầu buồn rầu, cảm thấy mình đã già. Lúc này màu trắng tượng trưng cho điều gì? (Thưa, sự lão hóa.) Nó tượng trưng cho sự lão hóa, sự suy thoái chức năng, thậm chí tượng trưng cho việc tiến dần đến cái chết. Tóc bạc càng nhiều thì tâm trạng người ta càng ủ rũ, càng chán nản, càng u sầu, rồi người ta sẽ nhớ lại thời trẻ tóc mình đen nhánh thật tốt biết bao. Lúc này họ sẽ phát hiện rằng lời họ từng nói “màu trắng tượng trưng cho sự thánh khiết” đúng là quá đỗi ngu xuẩn, và họ sẽ không còn nói màu đen tượng trưng cho bóng tối, tượng trưng cho ma quỷ, tượng trưng cho Sa-tan nữa. Họ sẽ không còn nói bừa theo quan niệm nữa. Người ta trải nghiệm những chuyện này rồi thì sẽ hiểu, nhưng có những người trải nghiệm đến già mà vẫn không hiểu. Trong lòng người ta đều có quan niệm về rất nhiều chuyện. Nghe Ta nói điều gì hoặc thấy Ta dự tính làm gì, có sự lựa chọn thế nào, thì họ sẽ không kìm nổi mà đem Ta đối chiếu với Đức Chúa Trời trên trời, và nảy sinh một số quan niệm. Nhất là người ta thường nảy sinh quan niệm về một số chuyện trong cuộc sống mà họ có thể tiếp xúc và nhìn thấy. Ngươi thấy đấy, chỉ riêng trong chuyện lựa chọn màu sắc thôi, người ta đã không kìm nổi việc nảy sinh quan niệm, hơn nữa ngay cả chút chuyện nhỏ như vậy mà họ cũng không thể tiếp cận một cách lý tính và không thể đưa ra phán đoán đúng đắn. Ví dụ, khi ngươi thấy ni cô và hòa thượng mặc quần áo màu xám, thì ngươi cho rằng màu xám đại diện cho ni cô và hòa thượng. Thế nên, nếu Ta chọn cho ngươi một chiếc áo màu xám, thì ngươi cảm thấy: “Chẳng phải chúng ta thuộc Cơ Đốc giáo sao? Chẳng phải Ngài là Đức Chúa Trời nhập thể sao? Sao Ngài còn chọn quần áo màu xám? Chỉ có ni cô và hòa thượng mới mặc màu xám! Người tin Đức Chúa Trời sao có thể mặc màu mà ni cô và hòa thượng mặc? Chẳng phải như vậy là đánh đồng với Phật giáo sao? Cả chuyện này mà Ngài cũng không biết kiêng kỵ!”. Ta nói, kiêng kỵ cái gì chứ? Mọi màu sắc đều do Đức Chúa Trời tạo ra. Ta thích màu nào cũng đều có lý do cả, hơn nữa chắc chắn đều tốt và có lợi cho ngươi. Còn ngươi cứ luôn đem hòa thượng, ni cô liên hệ với màu xám, rồi lại liên hệ với người tin Đức Chúa Trời, liên hệ với chính mình, thì đó là vấn đề của ngươi. Ta đâu có nghĩ phức tạp đến vậy. Ngươi nghĩ như vậy thì ngươi không có lý tính. Ngươi đang đứng từ góc độ của quan niệm và tưởng tượng để nhìn nhận màu sắc này, thêm thắt ý nghĩa vào màu sắc này, giải thích lệch lạc màu sắc này, cuối cùng tự hạn chế bản thân chỉ được thích màu trắng, chỉ được mặc đồ màu trắng. Nhưng khi nhìn thấy đầu mình đầy tóc bạc, da dẻ và sắc mặt cũng trắng bệch, hoặc trên người xuất hiện bệnh bạch biến, thì ngươi sẽ không vui, sẽ không còn nói mình thích màu trắng, cũng không còn nói màu trắng tượng trưng cho sự thuần khiết nữa. Đối với chuyện Đức Chúa Trời nhập thể thích màu gì, lựa chọn màu gì, mà người ta cũng đầy một bụng quan niệm. Các ngươi nói xem, như vậy chẳng phải rất phiền phức sao? Ta cứ ngẫm nghĩ: Ta đã thông công nhiều lẽ thật đến vậy, rốt cuộc những người này nghe mà có hiểu hay không? Chỉ một chuyện nhỏ như vậy mà họ cũng không lý giải được, lẽ thật phức tạp đến thế thì họ có thể hiểu được sao? Ta thực sự nghi ngờ rốt cuộc họ có hiểu lẽ thật hay không. Chuyện này khó mà nói được, phải không? (Thưa, phải.) Họ chỉ hiểu một chút đạo lý, chứ không hiểu lẽ thật, thế mà đối với một số chuyện trong đời sống thực tế, họ vẫn có thể mù quáng áp dụng quy định, mù quáng xét đoán. Đây chẳng phải là sự lệch lạc của con người sao? (Thưa, phải.)
Các ngươi nói xem, con người nên nhìn nhận và lý giải các loại màu sắc như thế nào? Ngươi nhìn vào nhân thế này mà xem: Những vật thể và sinh vật có chuyển động hoặc không chuyển động mà mắt thường của con người có thể nhìn thấy đều có đủ loại màu sắc, tất cả đều do Đức Chúa Trời tạo dựng. Các loài cá, chim, thú dữ, động vật ăn cỏ, gia cầm và gia súc đều có đủ loại màu sắc, quả kết trên cây và dưới đất cũng có đủ loại màu sắc. Từ những màu sắc phong phú này, các ngươi hiểu được điều gì? Đức Chúa Trời tạo nên màu sắc cho các loại vật thể cố định khác nhau là để ban cho nhân loại thọ tạo một môi trường sinh tồn thích hợp, những màu sắc này có ích cho đôi mắt, các giác quan và cả sự sinh tồn của toàn bộ thân thể con người. Đức Chúa Trời đã suy xét mọi chuyện này rồi. Đức Chúa Trời có lý do cụ thể trong việc sử dụng một màu sắc nào đó hoặc thiết kế hình thể, kích thước, tập tính và quy luật sống của thứ gì đó, chứ không có bất kỳ quy định nào dành cho Đức Chúa Trời cả. Đức Chúa Trời chẳng những không tuân theo quy định khi tạo dựng vạn vật, mà còn có một nguyên tắc căn bản nhất, đó là xét từ màu sắc, hình thể, tập tính sống, cũng như chức năng và vai trò của chúng trong vạn vật, thì chúng đều giúp nhân loại phù hợp để sinh tồn trong môi trường như vậy, đồng thời cũng giúp con người hấp thụ từ các loại thực phẩm những dưỡng chất khác nhau cần thiết cho cơ thể. Đức Chúa Trời tạo dựng chúng dựa trên những điều này. Bởi vì con người quá nhỏ bé, những gì mắt thường có thể nhìn thấy cũng có hạn, cho nên trong phạm vi những gì thấy được bằng mắt thường, con người quy định rằng Đức Chúa Trời là thế này hay thế kia, rằng Đức Chúa Trời nên làm thế này hay thế nọ. Ví dụ, trong tưởng tượng của con người, Sa-tan thường xuất hiện trong bóng tối, nên người ta cho rằng: "Màu đen không tốt, Đức Chúa Trời không thích màu đen, Đức Chúa Trời không tạo ra những thứ có màu đen". Ngươi nghĩ như vậy là sai rồi! Có rất nhiều thứ màu đen có ích cho con người. Chẳng hạn, trong các loại thực phẩm, có những thứ như đậu đen, mè đen v.v., chúng đều có màu đen, nhưng lại rất có ích cho cơ thể con người. Ngoài ra, một số loài chim và động vật cũng có màu đen, có loài còn thuộc diện động vật được nhà nước bảo vệ. Cho nên, chỉ dựa vào màu sắc để xác định tính chất thứ gì là tốt hay xấu thì không đúng. Việc Sa-tan chọn dùng màu đen không thể chứng minh rằng màu đen là thứ không tốt, cũng không thể chứng minh rằng màu đen là thứ Đức Chúa Trời không thích hay là thứ bị Đức Chúa Trời định tội. Vậy tại sao Sa-tan lại chọn màu đen? Bởi vì Sa-tan tà ác và hung ác, nó không chịu được ánh sáng, và nó thích ẩn mình trong bóng tối. Chỉ khi nó ẩn mình trong bóng tối thì con người mới không phát hiện ra nó. Nó chọn màu đen là để thuận tiện cho việc ẩn náu, lừa dối, làm việc xấu và hành ác. Nhưng ngươi không thể vì Sa-tan chọn màu đen mà lên án màu đen. So với màu trắng, màu đen cùng lắm chỉ thuận tiện hơn cho Sa-tan ẩn mình và bị Sa-tan lợi dụng, cho nên Sa-tan thích màu đen hơn. Bởi vì Đức Chúa Trời là sự sáng, Đức Chúa Trời thường bước đi trong ánh sáng, phán với con người trong ánh sáng, và hiện ra với con người trong ánh sáng. Đức Chúa Trời sống trong ánh sáng, và Ngài luôn lựa chọn ánh sáng màu trắng. Thế là người ta cho rằng: "Đức Chúa Trời không thích những màu khác, Đức Chúa Trời chỉ thích màu trắng". Chẳng phải quan điểm này sai rồi sao? (Thưa, phải.) Ngươi hãy xem vạn vật mà Đức Chúa Trời tạo dựng, chúng có đủ mọi loại màu sắc khác nhau. Vậy đủ mọi loại màu này từ đâu mà có? Tất cả đều nảy sinh từ ý niệm của Đức Chúa Trời. Nếu ngươi lên án những màu sắc được nảy sinh từ ý niệm của Đức Chúa Trời, thì đây là vấn đề gì? Đây chẳng phải là sự phản nghịch sao? (Thưa, phải.) Như vậy thì quá ngu xuẩn! Nếu ngươi có thể tiếp xúc, nhìn thấy hoặc nghe thấy những biểu hiện thuộc phương diện nhân tính bình thường của Đức Chúa Trời nhập thể, thì hãy tiếp cận với những điều đó một cách đúng đắn. Chỉ cần những điều đó không ảnh hưởng hoặc không cản trở ngươi tiếp nhận lẽ thật, thì ngươi không nên chuyện bé xé ra to, vừa nghiên cứu vừa phân tích, rồi phóng đại lên, cuối cùng nảy sinh quan niệm, xét đoán, lên án, chống đối và chối bỏ Đức Chúa Trời nhập thể. Đấy là việc quá đỗi không nên! Người như vậy thì không có lương tâm và lý trí.
Đức Chúa Trời nhập thể đã là một con người bình thường và thông thường, thì Ngài có phạm vi sinh hoạt, thói quen sinh hoạt, thậm chí cả quy luật sinh hoạt cố định và bình thường của mình, cũng có đủ mọi sự lựa chọn, chọn lọc, cùng hỷ nộ ai lạc liên quan đến đời sống nhân tính. Đối với nhân tính bình thường của Đức Chúa Trời nhập thể, một mặt, con người nên đứng trên góc độ của lý tính mà tiếp cận một cách đúng đắn, mặt khác, họ nên có một nhận thức đúng đắn về điều này. Nếu nhìn thấy, nghe thấy hoặc tiếp xúc với những việc Đức Chúa Trời nhập thể làm trong phương diện sinh hoạt hoặc phương diện nhân tính bình thường, mà ngươi nảy sinh quan niệm, thì cách đơn giản nhất để những chuyện này không ảnh hưởng đến lối vào sự sống của ngươi và việc ngươi tiếp nhận lời Đức Chúa Trời chính là đừng đem Đức Chúa Trời nhập thể đối chiếu với Đức Chúa Trời trên trời. Đức Chúa Trời nhập thể sống trong nhân tính bình thường, Ngài có sự tự do của Ngài, có chức vụ mà Ngài nên làm, cũng có cuộc sống của nhân tính bình thường, ngươi nên tiếp cận với chuyện này một cách đúng đắn. Ngươi thấy đấy, Đức Chúa Trời làm ba bước công tác cứu rỗi con người thì cần bày tỏ rất nhiều lẽ thật. Khi thông công các phương diện khác nhau của lẽ thật, Ngài đều dùng ngôn ngữ đời thường, còn thường dùng một vài khẩu ngữ, tiếng địa phương hoặc phương ngữ, có lúc còn dùng một số cách diễn đạt đặc biệt. Chỉ cần những lời được phán ra đều là lẽ thật, đều là lẽ thật mà ngươi nên hiểu và bước vào, thì ngươi nên thuận phục, như vậy ngươi sẽ có thể đạt được sự cứu rỗi. Nếu ngươi lúc nào cũng soi mói, lúc nào cũng nghiên cứu, cũng đặt nghi vấn, thì ngươi sẽ không đạt được lẽ thật, sẽ bỏ lỡ cơ hội quý báu của việc Đức Chúa Trời nhập thể cứu rỗi con người. Vậy ngươi nên tiếp cận đúng đắn với công tác của Đức Chúa Trời nhập thể như thế nào? Trước hết, ngươi buộc phải có lý trí, phải học cách thuận phục công tác của Đức Chúa Trời, phải chuyên tâm vào việc chính đáng và đi con đường mưu cầu lẽ thật, phải chú trọng giải quyết tâm tính bại hoại để đạt được sự cứu rỗi. Đây là điều quan trọng nhất. Không cần ngươi suốt ngày nghiên cứu Đức Chúa Trời. Dù quan niệm và tưởng tượng của ngươi có nhiều đến đâu thì chúng cũng không phải là lẽ thật. Ngươi có bám lấy những quan niệm đó cả đời thì cũng không đạt được lẽ thật, cuối cùng ngươi vẫn phải xuống địa ngục. Khi nhìn thấu những vấn đề này rồi, ngươi sẽ có thể bước vào quỹ đạo đúng trong việc tin Đức Chúa Trời, và khi đọc lời Đức Chúa Trời, ngươi sẽ có thể buông bỏ những quan niệm và tưởng tượng của mình. Trước hết, hãy xem trong những lời này có lẽ thật để tìm kiếm hay không. Nếu trong những lời này có lẽ thật, có tâm ý của Đức Chúa Trời, và những lời này có thể giúp ngươi hiểu được một phương diện nguyên tắc lẽ thật, thì ngươi nên rộng lượng một chút, đừng so đo tính toán, đừng nhỏ nhen, cũng đừng quá bắt bẻ. Trong lòng ngươi nên nghĩ thế nào? "Mặc dù Đức Chúa Trời nhập thể là một con người bình thường có nhân tính bình thường, nhưng Ngài có thể bày tỏ lẽ thật và có thể đại diện cho Đức Chúa Trời. Ngay cả khi chúng ta có chút trình độ văn hóa, có thể xuất khẩu thành văn, thì chúng ta cũng đâu thể bày tỏ lẽ thật, đâu thể bày tỏ tâm tính của Đức Chúa Trời, bày tỏ những gì Đức Chúa Trời có và là, đâu thể thông công rõ ràng các nguyên tắc lẽ thật. Bất kể chúng ta có bao nhiêu tri thức hoặc có địa vị cao đến đâu, thì cũng không có nghĩa là chúng ta có lẽ thật, và chúng ta cũng không thể đại diện cho Đức Chúa Trời. Mặc dù lời Đức Chúa Trời nhập thể đều là ngôn ngữ đời thường, đơn giản và thông tục, nhưng những lời Ngài phán đều là lẽ thật, Ngài còn có thể thông công tường tận các nguyên tắc lẽ thật và giải quyết đủ mọi vấn đề của con người. Như vậy là đủ rồi. Chẳng phải người ta tin Đức Chúa Trời là để đạt được lẽ thật sao? Đừng có lúc nào cũng soi mói, bới lông tìm vết. Như vậy là không chuyên tâm vào việc chính đáng". Nếu có thái độ này, thì khi đọc lời Đức Chúa Trời, ngươi sẽ có thể hiểu lẽ thật và có thể mưu cầu lẽ thật. Nếu không có thái độ này, thì khi nghe giảng đạo, ngươi chẳng mưu cầu lẽ thật, luôn soi từng câu từng chữ, luôn có quan niệm đối với lời và công tác của Đức Chúa Trời nhập thể, như vậy sẽ ảnh hưởng đến chuyện ngươi hiểu lẽ thật. Có những người luôn đem Đức Chúa Trời nhập thể ra so sánh với Đức Chúa Trời trên trời, luôn hỏi: "Tại sao Đức Chúa Trời nhập thể không phải là linh thể? Tại sao xác thịt không phán lời như tiếng sấm giống Đức Chúa Trời trên trời?". Họ còn cho rằng Đức Chúa Trời nhập thể không thể nào là Đức Chúa Trời thật đang cất tiếng và phán lời. Họ cho rằng Đức Chúa Trời thật hành động thì phải vượt quá sức tưởng tượng của con người, nếu Ngài cũng nói chuyện như người bình thường thì làm sao có thể là sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời chứ? Họ không chịu ngẫm nghĩ rằng: "Con người có thể bày tỏ lẽ thật sao? Đức Chúa Trời nhập thể có thể bày tỏ nhiều lẽ thật đến vậy, đây là việc con người có thể làm được sao? Không có mấy người nhìn thấu được chuyện này. Đức Chúa Trời bày tỏ nhiều lẽ thật đến vậy chính là chuyện lớn lao nhất mà Đức Chúa Trời làm giữa nhân gian, là chuyện mà không một con người nào làm được". Khi thông công lẽ thật, Ta buộc phải thông công sao cho thông tục và dễ hiểu, phải nói thật chi tiết, nói đi nói lại, còn phải nêu ví dụ để nói, thì người ta mới có thể hiểu. Chuyện này lại khiến nhiều người nảy sinh quan niệm. Nếu Ta thực sự chỉ thông công một cách chung chung thôi, thì có mấy ai nắm bắt nổi? Không có lấy một người nào nắm bắt nổi, chủ yếu là vì vóc giạc của các ngươi quá nhỏ bé. Ta đã nói chi tiết đến vậy, thậm chí chi tiết đến mức dài dòng, bản thân Ta cũng cảm thấy phát ngán, không muốn nói nữa, vậy mà vẫn có những người không hiểu, còn thầm nghĩ: "Sao không nêu thêm vài ví dụ nữa?". Ta đã nói đến mức phát ngán, không muốn nói nữa, tại sao ngươi vẫn chưa hiểu vậy? Chuyện này chứng tỏ ngươi không có đầu óc của con người và không có năng lực lĩnh hội lẽ thật. Dù Ta có nói chi tiết hơn nữa thì ngươi vẫn không hiểu. Thông công như vậy là để cố gắng giúp cho bất kỳ ai có chút năng lực lĩnh hội đều có thể hiểu được và đều có con đường thực hành, vì thế khó tránh khỏi có chút dài dòng. Hơn nữa, sức lực và mọi phương diện của nhân tính bình thường đều có hạn. Nhất là khi thông công lẽ thật, có những điều rất khó diễn đạt, bởi ngôn ngữ của nhân loại vẫn còn quá thiếu thốn, nên có khi trong hai ba giây rất khó để Ta tìm được từ ngữ thích hợp, chỉ có thể dùng một từ cận nghĩa, miễn sao đạt được một chút hiệu quả là được. Nhưng mỗi lần thông công, Ta đều cố gắng để những lời Ta nói xoay quanh một chủ đề, hầu cho các ngươi có thể có nhận thức về phương diện lẽ thật đó, cuối cùng khi gặp đủ loại chuyện trong quá trình trải nghiệm thực tế thì các ngươi có con đường để đi. Như vậy rất có ích cho trải nghiệm đời sống của các ngươi. Mặc dù Ta nói chi tiết như vậy thì có vẻ dài dòng, nhưng khi các ngươi gặp những vấn đề như vậy thì sẽ không còn hoang mang nữa, sẽ có con đường để đi, không còn sống trong câu chữ và đạo lý nữa, mà có con đường thực hành thực tế, căn cứ thực tế và nguyên tắc lẽ thật thực tế để đối chiếu và giải quyết vấn đề của mình. Do đó, Ta dốc hết sức để làm những gì nhân tính bình thường của Đức Chúa Trời nhập thể có thể đạt được, và Ta dốc hết sức để nói những gì Ta có thể suy xét đến. Nói đến khi cuối cùng các ngươi nói mình hiểu rồi, không cần Ta thông công thêm nữa, thì Ta sẽ không nói nữa. Ta thực sự chẳng muốn nói dài dòng nữa.
Ngươi thấy đấy, Đức Chúa Trời trên trời phán rất đơn giản. Chẳng hạn như, Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: "Môi-se, đến đây, Ta có lời muốn nói với ngươi". Môi-se lập tức quỳ xuống, Đức Chúa Trời nói với ông mấy chuyện để đi công bố, rồi Môi-se cứ công bố theo lời dặn dò của Giê-hô-va Đức Chúa Trời. Nhưng ngày nay, nếu Đức Chúa Trời nhập thể nói với ngươi mấy chuyện, rồi bảo ngươi làm, thì trong khi thực hành, ngươi sẽ bộc lộ đủ mọi phương diện tâm tính bại hoại. Lúc đó, ngươi có thể có nguyên tắc thực hành và con đường thực hành không? (Thưa, không thể.) Ngươi không có được. Cho nên, ngươi thấy rằng Thần của Đức Chúa Trời phán lời đơn giản, nhưng Thần của Đức Chúa Trời làm công tác và phán vài lời chỉ khi Ngài làm một số chuyện đặc biệt và đơn lẻ trong trường hợp đặc biệt và bối cảnh đặc biệt, không còn cách nào khác nên đành phải làm như thế mà thôi. Còn công tác của Đức Chúa Trời nhập thể là công tác cụ thể và hoàn chỉnh, không giống như Thần của Đức Chúa Trời chỉ nói vài câu để cho con người sự mặc khải, hoặc nói vài câu để ban bố một mệnh lệnh, bày tỏ một lời tiên tri, làm một công tác đơn giản và đơn lẻ, rồi kết thúc. Công tác của Đức Chúa Trời nhập thể là phán lời trong thời gian dài. Muốn đạt được kết quả là biến đổi tâm tính con người và làm cho con người thoát khỏi tâm tính bại hoại, thì tuyệt đối không phải chỉ đơn giản nói vài lời là xong. Bởi vì nhân loại đã bị bại hoại quá sâu sắc, đủ loại độc tố và tâm tính của Sa-tan đã ăn sâu bén rễ trong con người, cho nên, để làm tinh sạch triệt để sự bại hoại của con người, thì Đức Chúa Trời nhập thể phải làm công tác cụ thể, phải phán những lời cụ thể, bày tỏ các phương diện lẽ thật cần thiết để con người được cứu rỗi. Chính nhờ làm lâu dài như vậy, mà những lời Ngài cần phán và công tác Ngài cần làm đều được thể hiện hết sức cụ thể, thậm chí trong mắt con người còn có vẻ là lải nhải và dài dòng. Trong quan niệm của mình, người ta cho rằng: "Ái chà, Đức Chúa Trời nhập thể làm công tác thì chẳng hề quyết đoán hay dứt khoát, cũng chẳng giải quyết nhanh gọn, lời phán ra thì quá chi tiết, quá nhiều, có chút dài dòng rồi, Ngài coi người ta như trẻ lên ba vậy!". Xét theo vóc giạc của ngươi, thì Ta thấy ngươi còn chẳng bằng đứa trẻ lên ba, có lẽ ngươi chỉ như đứa trẻ một, hai tuổi, thậm chí chỉ là trẻ sơ sinh. Coi ngươi như trẻ lên ba thì thực sự đã nâng cao ngươi rồi. Khi Đức Chúa Trời trên trời phán lời như sấm với con người là Ngài đang nói với đối tượng nào? Nói với các sứ giả của Đức Chúa Trời và những người được Đức Chúa Trời sử dụng. Còn hiện nay, Đức Chúa Trời nhập thể đang đối diện với nhóm người thuộc loại nào? Ngài đang đối diện với nhân loại bại hoại, là nhân loại mà Đức Chúa Trời muốn cứu rỗi, chứ không phải Ngài đang phán lời và làm công tác nhắm đến một cá nhân cụ thể nào. Tính chất công tác của Thần của Đức Chúa Trời và của Đức Chúa Trời nhập thể hoàn toàn khác nhau. Thần của Đức Chúa Trời không bao giờ có thể sống cùng nhân loại bại hoại. Chỉ có Đức Chúa Trời nhập thể mới có thể sống cùng con người, mới có thể không nề hà mà liên tục phán lời và làm công tác với nhân loại bại hoại như thế. Đức Chúa Trời nhập thể đến giữa nhân gian và sống cùng con người. Đã sống cùng con người thì chuyện gì Ngài cũng phải quản. Chuyện gì cũng phải quản có nghĩa là gì? Nghĩa là những vấn đề liên quan đến cách người ta làm người, sinh hoạt, công tác, làm bổn phận, liên quan đến con đường người ta đi, cũng như những vấn đề liên quan đến chuyện con người được cứu rỗi, những vấn đề về cách con người đối đãi với Đức Chúa Trời và nhận biết Đức Chúa Trời, tất cả đều phải được giải quyết. Lần trước, Đức Chúa Trời trở nên xác thịt là để chịu đóng đinh trên thập tự giá hầu cứu chuộc con người khỏi tội lỗi. Còn lần này, Đức Chúa Trời trở nên xác thịt là để giải quyết tận gốc rễ bản tính tội lỗi của con người. Cho nên giai đoạn công tác này đòi hỏi Đức Chúa Trời phải phán rất nhiều lời và bày tỏ rất nhiều lẽ thật, thời gian công tác của Đức Chúa Trời cũng phải kéo dài hơn rất nhiều. Thần của Đức Chúa Trời không thể sống cùng nhân loại, bởi vì thuộc tính của nhân loại khác với thuộc tính của Thần của Đức Chúa Trời, cũng khác với thân phận vốn có của Đức Chúa Trời, nên không có cách nào sống cùng nhau được. Cho nên, nói có chút chưa chuẩn xác thì chính là ngươi xem trọng Đức Chúa Trời trên trời, nhưng Đức Chúa Trời trên trời là linh thể, không thể luôn luôn bầu bạn cùng nhân loại. Chỉ khi Đức Chúa Trời trở nên xác thịt và trở thành một con người bình thường thì mới có thể bầu bạn với nhân loại như vậy. Nói như vậy có dễ hiểu không? (Thưa, dễ hiểu.) Đức Chúa Trời nhập thể sống cùng nhân loại, năm này qua năm khác, cứ phán lời và làm công tác một cách không nề hà như vậy. Đức Chúa Trời nhập thể sống cùng con người, những người ở bên cạnh và có thể tiếp xúc với Ngài có lẽ đều đã lĩnh hội được đôi điều: Những vấn đề nên được giải quyết trong phương diện ăn, mặc, ở, đi lại, Ngài đều giải quyết cho con người. Ngài còn làm rất nhiều công tác vốn không thuộc phạm vi công tác của Đức Chúa Trời nhập thể, bao gồm làm phim, sửa kịch bản, chỉ đạo quay phim, viết đủ loại lời thoại, viết lời phỏng vấn, và sửa những bài viết quan trọng. Những công tác này vốn không phải việc Ta nên làm, mà Ta cũng làm cả. Làm những công tác phụ thêm này khiến cả thể xác lẫn tinh thần Ta vô cùng mệt mỏi, khiến Ta không được nghỉ ngơi, thậm chí còn làm chậm trễ việc giảng đạo của Ta. Nhiều người nhìn thấy những chuyện này nhưng vẫn không lĩnh hội được. Ta phán lời và làm công tác một cách không nề hà như vậy, mà đa số mọi người vẫn với không tới và chưa hiểu lắm. Ta thấy được rằng nhân loại này thực sự đáng thương, thực sự nhỏ bé và thực sự vô tri. Bất kể là nam hay nữ, già hay trẻ, con người chẳng là gì cả. Khi Ta chưa làm công tác này mà Ta nói như vậy thì có lẽ ngươi sẽ cảm thấy: "Ngài làm như vậy chẳng phải là ra vẻ quá thanh cao sao? Ngài coi thường chúng tôi". Nhưng sau nhiều năm tiếp xúc với những người này, Ta phải cảm thán từ tận đáy lòng rằng: "Các ngươi thực sự khiến Ta phải hao tâm quá rồi! Tố chất của các ngươi quá kém, sự phản nghịch lại quá nhiều. Thực sự đâu phải Ta coi thường các ngươi". Mặc dù ở giữa các ngươi, Ta là người mờ nhạt nhất và ít gây chú ý nhất, và bất kể về lời nói, tướng mạo, chiều cao hay tri thức văn hóa, các ngươi đều thấy dường như Ta không bằng các ngươi, nhưng qua những năm tiếp xúc và qua lại thực tế với các ngươi, Ta chỉ có thể nói gì đây? Chỉ có chuyện các ngươi lựa chọn con đường đi theo Đức Chúa Trời nhập thể là đúng đắn, còn trong những phương diện khác, thì các ngươi chẳng có gì cả. Các ngươi chỉ là một cái vỏ rỗng, chẳng có thực tế sự sống. Xét về đời sống nhân tính của các ngươi, thì nói thẳng, nó là một mớ hỗn độn, rối tinh rối mù. Đa số mọi người chẳng có chân tài thực học gì, chẳng biết cách sống, chẳng biết cách quản lý môi trường hay quản lý động vật, cũng chẳng biết quản lý chuyện vệ sinh cá nhân. Làm việc gì, họ cũng chẳng có trình tự, cũng lộn xộn, không đầu không đuôi. Nhân phẩm của họ cũng không ổn, làm việc gì cũng không có thái độ nghiêm túc, có trách nhiệm, nghiêm ngặt hay tỉ mỉ. Họ chỉ làm qua loa chiếu lệ để ăn chực, sống được ngày nào hay ngày ấy. Vậy mà những người này, ai cũng có dục vọng xa xỉ, ai cũng cho rằng mình giỏi hơn người khác, muốn điều hành và chỉ huy để người khác làm, nhưng đáng tiếc là họ đều không có bản lĩnh đó. Ta không thích điều hành và chỉ huy, không thích ăn trên ngồi trốc mà ra lệnh và chỉ huy người khác làm việc. Ta chỉ thích làm chút việc thiết thực, làm việc gì cũng nhanh gọn, làm tốt theo trình tự, và nghiêm túc chịu trách nhiệm về việc đó đến cùng. Nhưng đa số mọi người thực sự chẳng có bản lĩnh đó. Họ không gánh vác nổi trách nhiệm đó, cũng chẳng có bản lĩnh và năng lực để ban hành hay ban bố mệnh lệnh. Không còn cách nào khác, Ta buộc phải nói rằng các ngươi không quản lý nổi môi trường, cũng không duy trì nổi môi trường. Trong đầu Ta có bản thiết kế, có kế hoạch, vậy thì Ta nói cho các ngươi biết kế hoạch của Ta. Ta chỉ cho các ngươi cách làm việc, cách bố trí, chỗ nào trồng cây, chỗ nào trồng cỏ, chỗ nào xây cái gì, thứ nào đặt ở đâu thì thích hợp, thứ gì phải quản lý thế nào, rồi các ngươi cứ làm theo là được. Làm xong thì mọi người đều thấy quả thật khá tốt. Sau năm, sáu năm Ta tiếp xúc với những người này, bản lĩnh và năng lực của họ đều phơi bày ra hết rồi. Đến giờ Ta mới biết, có lẽ toàn thể nhân loại này đều như vậy. Mặc dù Ta chưa từng sống cùng dân được Đức Chúa Trời chọn ở các quốc gia khác, nhưng tình hình thực tế của các ngươi chắc cũng không khác mấy so với dân được Đức Chúa Trời chọn trong các hội thánh người Hoa tại nước Mỹ. Ta tiếp xúc với những người này, là họ được một chút lộc trời cho, được hưởng nhờ một chút. Còn các ngươi ở xa, Ta không tiếp xúc được với các ngươi, thì các ngươi chỉ có thể mưu cầu lẽ thật. Kết quả cũng như nhau thôi.
Trong lần trở nên xác thịt đến làm công tác này, Đức Chúa Trời chủ yếu thông công các lẽ thật khác nhau, làm cho con người thông qua việc hiểu, tiếp nhận và thực hành các lẽ thật khác nhau mà bước lên con đường được cứu rỗi, và cuối cùng đạt được sự cứu rỗi, từ đó kết thúc công tác trong kế hoạch quản lý sáu nghìn năm của Đức Chúa Trời. Đây là công tác thuộc phạm vi trách nhiệm của Đức Chúa Trời. Còn về bao nhiêu chỗ mà người ta thấy công tác này không phù hợp với quan niệm của con người hoặc không quá tương hợp với Đức Chúa Trời trên trời, thì họ đều nên buông bỏ. Bất kể người ta có quan niệm gì, chỉ cần những lời Đức Chúa Trời nhập thể phán và công tác Ngài làm là đang bày tỏ lẽ thật và bày tỏ tâm ý của Đức Chúa Trời, có thể đại diện cho chính Đức Chúa Trời, đại diện cho tâm tính và thân phận của Đức Chúa Trời, thì ngươi nên tiếp nhận, không nên bới lông tìm vết. Hơn nữa, nếu ngươi luôn bới lông tìm vết, hết có quan niệm này lại có quan niệm kia đối với Đức Chúa Trời nhập thể, và chúng luôn cản trở ngươi tiếp nhận lẽ thật, thì đây là chuyện phiền phức nhất đối với ngươi, chỉ toàn có hại chứ chẳng có lợi gì. Cho nên, ngươi không nên dùng quan niệm và tưởng tượng của mình để đối đãi với Đức Chúa Trời nhập thể, cũng không nên dùng quan niệm và tưởng tượng để đánh giá Đức Chúa Trời nhập thể. Thay vào đó, ngươi nên buông bỏ những quan niệm và tưởng tượng ban đầu đối với Đức Chúa Trời nhập thể, đồng thời cũng buông bỏ những quan niệm và tưởng tượng hiện tại đối với Đức Chúa Trời nhập thể. Bất kể có quan niệm và tưởng tượng gì, ngươi đều nên vứt bỏ chúng, nên mổ xẻ và nhận biết chúng, rồi lên án và buông bỏ chúng. Sau khi buông bỏ chúng, ngươi mới có thể có một tấm lòng sáng trong để tiếp nhận lời Đức Chúa Trời và tiếp nhận công tác cứu rỗi mà Đức Chúa Trời làm trên ngươi, mới có thể đến trước mặt Đức Chúa Trời và có hy vọng đạt được sự cứu rỗi. Ngoài việc phán lời để cung ứng lẽ thật cho con người, làm công tác hành phạt, phán xét và cứu rỗi con người, thì thật ra Đức Chúa Trời nhập thể cũng đưa ra một số hướng dẫn mang tính hỗ trợ về những chuyện trong đời sống của con người. Mặc dù những công tác này không liên quan đến lẽ thật hay công tác cứu rỗi con người, cũng không phải là công tác nên làm thuộc chức vụ của Đức Chúa Trời nhập thể, nhưng trong quá trình tiếp xúc và qua lại với những người ở các hội thánh người Hoa tại nước Mỹ này, Ta cũng đã đưa ra không ít sự hướng dẫn, phê bình và uốn nắn đối với những vấn đề trong đời sống của họ. Phải vậy không? (Thưa, phải.) Đây đều là những việc Ta tiện thể mà làm. Đa số mọi người nhìn bề ngoài thì có vẻ như có thể làm được chút chuyện, nhưng lại chẳng gánh vác nổi một hạng mục công tác nào, thậm chí ngay cả môi trường sống của họ cũng là một mớ bừa bộn. Ta thấy nếu muốn những người này chỉnh đốn cho tốt môi trường sống và đưa đời sống đi vào đúng quỹ đạo, thì e rằng trong vòng mười năm cũng chẳng có hy vọng gì, cho nên, Ta đành tham gia và hướng dẫn một số chuyện, giúp họ dọn dẹp sân vườn và sắp xếp môi trường sống. Có những nơi, bàn ghế, sofa, chậu cây trong nhà, tranh treo tường, gương cùng các đồ dùng trong phòng vệ sinh đều bày bừa lộn xộn. Dùng hai cụm từ để mô tả thì chính là "lộn xộn bừa bãi" và "không có chỗ đặt chân". Đi lại trong nhà mà cũng sợ va phải đồ đạc. Mỗi lần đến chỗ họ, trong lòng Ta đều cảm thấy bức bối. Nhìn cách bày biện trong nhà họ, Ta cảm thấy rất chướng mắt. Đủ loại đồ đạc chất thành đống, rất nhiều thứ bị đặt sai chỗ. Trong phòng làm việc thì chất mấy chum đựng gạo và bột mì, còn tủ đựng đồ khô trong bếp thì lại chẳng để thứ gì. Trên giá để chén bát thì đặt tua vít, trong tủ lạnh lại để hộp dụng cụ. Ta bảo người ở đó: "Dụng cụ cần được đông lạnh hả? Để bên ngoài sợ nóng à?". Ta cảm thấy không thể nào hiểu nổi. Ta có một thói quen, hễ bước vào nhà thì Ta thích trước hết nhìn xem cách bày biện trong nhà có ngăn nắp, có hợp lý hay không, từng món đồ có được đặt đúng vị trí của nó hay không. Ta quan sát chỗ của họ mấy lần và thực sự không thể nhìn nổi nữa, Ta nói: "Hôm nay Ta cũng rảnh, để Ta dọn dẹp nhà các ngươi một chút. Ta dọn xong, nếu các ngươi thấy thích hợp thì cứ để như vậy, còn nếu thấy không thích hợp thì các ngươi cứ việc sửa lại". Ta quan sát sơ qua trong nhà có những đồ đạc cơ bản gì, sau đó căn cứ vào diện tích và kết cấu của căn nhà, Ta huy động mọi người sắp xếp lại đồ đạc, các loại dụng cụ trong bếp cùng quần áo cá nhân của họ vào đúng vị trí thích hợp, bày biện cho hợp lý, còn bảo họ quét sạch mạng nhện, cát và bụi trên mặt đất. Sau khi dọn dẹp xong, mọi người đều cảm thấy như vậy khá tốt. Về sau họ vẫn duy trì cách bày biện cơ bản này, chỉ cần giữ gìn cho sạch sẽ là được. Ta cũng giúp thiết kế môi trường sân vườn ở chỗ họ. Có chỗ trồng cây hoa, có chỗ trồng cây phong, lại trồng thêm ít hoa nhỏ trong bồn hoa, như vậy thì phủ xanh cảnh quan khá đẹp. Sau khi được bố trí xong, có nơi người ta giữ gìn khá tốt, có nơi thì chẳng có ai để tâm hay chăm lo, hoa cỏ mọc cao và phân nhánh mà cũng không biết cắt tỉa. Ta ngẫm nghĩ, chẳng lẽ mấy người này không có não sao? Sau khi môi trường sống được bố trí xong, họ chẳng biết như vậy đẹp hay không, cũng không nhìn ra chỗ nào nên bố trí cái gì. Trong phòng ngươi đặt một cái bàn, trên bàn đặt một chiếc đèn, xung quanh kê vài cái ghế. Buổi tối ngồi dưới ánh đèn mà đọc sách, nghe thánh ca, một mình yên tĩnh tĩnh nguyện ở đó thì rất thích. Người không hiểu thì lại cảm thấy trong phòng quá ít đồ, liền kê thêm hai cái bàn nhỏ, rồi để gạo, bột mì và thức ăn cho chó trên bàn. Hễ có chút khoảng trống là họ nhét đồ vào, khiến căn phòng bị chất đầy như kho hàng. Họ cảm thấy phân loại đồ đạc rồi cất riêng thì lúc lấy không tiện, cứ chất tất cả lại một chỗ thì lúc nào lấy cũng tiện. Ta nói: "Đây là môi trường để con người ở. Ngươi không biết chăm lo, cũng không biết quản lý, ngươi sống như vậy thì khác gì sống trong chuồng heo chứ?". Có người thấy cách Ta quản lý môi trường sống thì học theo, cũng học được đôi chút, hiểu được đôi chút. Có người thì không chịu học, chẳng bao giờ quản lý môi trường sống hay chuyện vệ sinh cá nhân của mình. Ta đi đến nơi nào, hễ thấy trong nhà sạch sẽ, đồ đạc không nhiều, cũng không sang trọng nhưng rất ngăn nắp, không bừa bộn, cũng không có rác rưởi gì, thì Ta rất sẵn lòng ở lại đó, cảm thấy nơi này thật tốt, sáng sủa, sạch sẽ và yên tĩnh. Nơi Ta ở không cần những thứ xa hoa hay bài trí lộng lẫy. Ta không cần mấy thứ đèn chùm, nệm Simmons, đồ nội thất kiểu Âu. Chỉ cần có một chiếc giường đơn giản, một bàn trang điểm, một bàn viết và một chiếc ghế. Ngồi ở đó, Ta có thể đọc sách, xem máy tính, nghe nhạc, như vậy thì rất thích, rất đơn giản. Điều chủ yếu không phải là đồ đạc đơn giản. Chủ yếu là gì? Chính là từng món đồ đều được bày biện ngăn nắp. Sách cũng được xếp ngay ngắn. Quần áo dù không mặc nữa Ta cũng không tiện tay vứt bừa, mà gấp gọn gàng rồi cất ngay ngắn, nhìn là biết có người xếp dọn. Trên bàn, trên mặt tủ đều không có bụi, nếu có bụi thì Ta phải lau đi. Đến nơi nào mà Ta thấy nhà cửa sạch sẽ thì chứng tỏ chủ nhà rất chú trọng vệ sinh. Có nơi, đồ đạc trong nhà bày bừa lộn xộn, lại còn cực kỳ bẩn, tóc, bụi, mạng nhện, côn trùng, thứ gì cũng có, nhìn thấy ghê. Ta chẳng muốn đến những nơi như vậy. Ta thích ở những nơi không hẳn là đặc biệt thoải mái, nhưng nhất định phải gọn gàng sạch sẽ. Có nơi vừa bước vào nhà là đã ngửi thấy mùi lạ, đồ đạc trong nhà cũng không có ai sắp xếp, lộn xộn bừa bãi. Ta chẳng muốn ở những nơi như vậy. Nếu vì có chuyện bắt buộc phải đến thì Ta cũng cố chịu đựng, nếu chịu không nổi nữa thì Ta bảo họ dọn dẹp. Có người không sẵn lòng dọn, thì Ta cũng không khách khí mà nói: "Dọn cái chuồng heo của ngươi đi!". Ngươi nói xem, một người nếu ngay cả môi trường mình sống mà cũng không biết quản lý, thì còn có thể làm nên chuyện gì chứ? Có nơi nhà bếp được giữ rất sạch sẽ, hầu như không có ruồi, trên bàn ăn không có bụi, thức ăn thừa đều được đậy bằng lồng bàn, xung quanh bồn rửa không có lấy một vết nước, từng chiếc khăn lau đều sạch sẽ và xếp ngăn nắp, tay nắm của từng cánh tủ cũng không dính chút dầu mỡ nào. Sạch sẽ biết bao! Đây mới là biết quản lý môi trường sống. Tuy nhiên, đa số mọi người đều không biết quản lý môi trường sống của mình. Ngay cả khi ngươi đã giúp họ dọn dẹp nhà cửa rồi, thì họ cũng chỉ giữ được vài ngày. Qua một thời gian, ngươi quay lại xem thì mọi thứ đã thay đổi hoàn toàn, ngươi còn tưởng mình đi nhầm nhà nữa. Nhưng hầu như đến chỗ nào, Ta đều không vào phòng ngủ của ai, Ta chỉ đến phòng khách, nhà bếp, phòng ăn, những nơi sinh hoạt chung này thôi. Phát hiện chỗ nào không vệ sinh thì Ta dọn giúp một hai chỗ. Còn những nơi Ta không thường đến thì họ muốn bày biện thế nào tùy ý.
Có những người khi quay phim hoặc ghi hình các tiết mục ca múa thì sạch sẽ tươm tất, trông đầy sức sống. Nhưng có lúc vì tình huống đặc biệt nên cần gọi video để trao đổi công tác, và họ chưa chuẩn bị, cũng chưa trang điểm hay chỉnh trang gì mà đã tham gia cuộc gọi, vừa nhìn thấy họ, Ta liền nghĩ: "Những người này sao lại đầu bù tóc rối như vậy? Cũng không biết sửa soạn một chút. Bận đến thế sao?". Có người trong phòng ngủ chất đầy rác, dưới gối và trong chăn thì giấu không ít đồ ăn như bánh quy, hạt dưa, v.v., còn có cả đồ lót, vớ, thậm chí cả máy tính, điện thoại, sổ ghi chép, v.v.. Ban đêm đi ngủ, họ phải đẩy đống đồ đó sang một bên mới có chỗ mà nằm. Ngay cả khoảng chưa đến bốn mét vuông của chiếc giường mà những người này cũng quản lý không được. Thứ gì họ cũng chất lên giường, chẳng biết mấy ngày mới dọn một lần. Chăn nệm bị ẩm và có mùi mốc mà họ cũng không đem phơi. Vừa bước vào phòng họ là đã ngửi thấy mùi, như vậy cũng không có lợi cho sức khỏe. Bất kể là kiểu nhà nào thì phòng ngủ cũng phải thông gió, và có ánh nắng chiếu vào thì không khí mới trong lành. Nệm trải và chăn đắp sau một thời gian đều phải đem phơi, nếu có mùi hoặc bị bẩn thì còn phải giặt, như vậy mới vệ sinh. Còn nữa, tuyệt đối không được nhét đủ thứ linh tinh dưới gối. Có những thứ đó thì Ta không ngủ được. Có những người lại có thói quen như vậy, đồ dùng cá nhân gì cũng nhét dưới gối, nhét dưới giường, bất kỳ thứ gì họ tìm không thấy thì chắc chắn đều có thể tìm thấy ở đó. Không phải chỉ đàn ông mới có thói quen xấu này, có phụ nữ trẻ mà cũng như vậy. Bình thường nhìn bề ngoài thì thấy họ khá sạch sẽ. Khi quay video hay diễn tiết mục thì ai nấy đều ra dáng, ngoại hình cũng không tệ, trông đầy sức sống, đẹp đẽ sáng láng. Nhưng sao ngay cả môi trường sống của bản thân mà họ cũng không biết quản lý, đến chuyện vệ sinh cơ bản mà họ cũng làm không tốt? Ngươi nói xem, người như vậy thì có thể làm tốt chuyện gì chứ? Làm bất kỳ chuyện gì ngươi cũng cần có tính tự giác, cũng cần có trình tự, có hệ thống, phải nghiêm ngặt, tỉ mỉ, nghiêm túc và có trách nhiệm, ngươi phải có những đặc tính nhân tính này. Đối với không gian và môi trường riêng của mình mà ngươi còn có thái độ lười nhác, lơ là, tùy tiện và vô trách nhiệm như vậy, thì làm sao ngươi có thể làm tốt các hạng mục công tác của hội thánh được? Có người nói: "Con bận công tác quá, không có thời gian chăm lo những chuyện này". Đây có phải là viện cớ không? (Thưa, phải.) Nói trắng ra, hạng người như vậy chỉ lười mà thôi.
Người có nhân tính bình thường thì đều có yêu cầu đối với môi trường sống. Ta cũng có yêu cầu đối với môi trường sống của Ta. Ít nhất, nó cũng phải đạt đến mức độ vệ sinh, sạch sẽ, ngăn nắp, nhìn vào thì thấy thoải mái. Về phương diện này, Ta không nói nhiều nữa. Giờ chỉ nói đến chuyện Đức Chúa Trời tạo dựng và quản lý vạn vật, Ngài quản lý có tốt không? Vạn vật do Đức Chúa Trời tạo dựng - sông ngòi, ao hồ và mọi loài sinh vật sống trong nước, cùng với núi non, bồn địa, đồng bằng và mọi loài động vật, thực vật - hết thảy đều do Đức Chúa Trời quản lý. Các ngươi nói xem, Đức Chúa Trời quản lý có tốt không? (Thưa, tốt.) Đức Chúa Trời quản lý mọi loài sinh vật có tốt không? (Thưa, tốt.) Có hỗn loạn hay vẩn đục không? (Thưa, không. Đức Chúa Trời quản lý rất có lớp lang và trật tự.) Đức Chúa Trời quản lý chúng một cách có quy luật, có trật tự, có lớp lang, có lề lối, đặc biệt nghiêm ngặt và kỹ lưỡng. Nói theo kiểu của con người, là đặc biệt ngay ngắn, có trật tự, không có thứ nào quấy nhiễu thứ nào, cũng không có gì rối loạn. Ngươi xem, biển có ranh giới của biển, sông có phạm vi của sông, núi có công dụng của núi, đất liền có công dụng của đất liền, đồng bằng có công dụng của đồng bằng. Loài cây nào sinh trưởng ở đâu, động vật, chim chóc và thú vật sinh trưởng trong môi trường nào hay khu vực nào, tất cả đều có trật tự, có phạm vi. Đức Chúa Trời quản lý mọi thứ một cách có trật tự rõ ràng. Các loài cá và các sinh vật khác trong biển cũng sinh sống đặc biệt có quy luật. Đức Chúa Trời đã quy định sẵn cả rồi. Ngài căn cứ vào phạm vi sinh sống của mỗi một loài sinh vật mà ấn định tập tính sống, quy luật sống và nhiệt độ thích hợp cho chúng, ngay cả thức ăn chúng cần, Đức Chúa Trời cũng đã tạo sẵn cho chúng. Trong mỗi một chuyện, Đức Chúa Trời đều suy xét đặc biệt chu đáo và quản lý đặc biệt có lớp lang. Còn con người quản lý môi trường thế nào? Khỏi nói đến chuyện bảo ngươi quản lý một hội thánh hay quản lý một khu vực, ngay cả phòng ngủ hay nơi nghỉ ngơi của mình mà ngươi còn quản lý không tốt kìa. Thậm chí ngay cả một nơi nhỏ xíu là chiếc giường của mình mà có người cũng quản lý không nổi. Ngươi nói xem, ngươi còn có thể làm được chuyện gì chứ? Đây chính là khiếm khuyết trong nhân tính. Khỏi nói đến chuyện với tới tiêu chuẩn mà Đức Chúa Trời trên trời yêu cầu, chỉ cần ngươi có thể đạt được những gì mà Đức Chúa Trời nhập thể, tức là Ta, yêu cầu ngươi làm, thì đã không tệ rồi. Chúng đều là những điều mà người có nhân tính bình thường nên làm được. Nếu ngay cả tiêu chuẩn của nhân tính bình thường mà ngươi cũng với không tới, thì chuyện đạt được sự cứu rỗi đúng là có chút khó với ngươi. Đây là yêu cầu đối với con người trong phương diện quản lý môi trường, nếu chịu bỏ chút công sức thì người ta có thể đạt được, đây đâu phải là chuyện khó. Hãy bắt đầu bước vào từ việc quản lý tốt môi trường sống của mình, sau đó tiếp tục học cách quản lý công tác của mình và bổn phận mình làm. Ngươi cứ bước vào từng chút một, phát triển một số thói quen tốt trong phương diện nhân tính bình thường, trau dồi một số năng lực công tác hoặc năng lực sinh hoạt mà nhân tính bình thường có thể đạt đến. Dần dần, khi sống trong dạng nhân tính bình thường này, ngươi hãy thích nghi với một số thói quen sinh hoạt và môi trường sống tích cực, tốt đẹp, để chúng dần trở thành một phần trong nhân tính bình thường của ngươi. Như vậy sẽ có ích cho việc làm bổn phận, công tác và sự sinh tồn của ngươi. Phải vậy không? (Thưa, phải.) Đây là một vài vấn đề trong phương diện cuộc sống.
Bởi vì Đức Chúa Trời nhập thể là xác thịt, nên Ngài phải có nhân tính bình thường, có bản năng của loài người thọ tạo, và sống trong phạm vi đời sống của loài người thọ tạo. Do đó, Đức Chúa Trời nhập thể cũng có một số nhu cầu và biểu hiện của nhân tính bình thường. Mặc dù nhìn bề ngoài thì những nhu cầu và biểu hiện này không có quan hệ trực tiếp với thân phận và thực chất của chính Đức Chúa Trời, hay tâm tính của Đức Chúa Trời mà Ngài đại diện, nhưng ít nhất chúng cũng tương hợp, không mâu thuẫn, cũng không có bất kỳ xung đột nào với nhân tính bình thường mà Đức Chúa Trời trên trời yêu cầu nơi con người. Hơn nữa, sự bộc lộ và bày tỏ nhân tính bình thường của Đức Chúa Trời nhập thể không gây bất kỳ tổn hại nào cho nhân loại. Bất kể Đức Chúa Trời nhập thể yêu cầu ngươi điều gì trong phạm vi nhân tính bình thường, bất kể Ngài bộc lộ điều gì trong quá trình giao tiếp với ngươi, thì những điều này chắc chắn sẽ không làm tổn hại ngươi, chắc chắn sẽ không hãm hại ngươi. Chẳng những Đức Chúa Trời sẽ không làm bất kỳ chuyện gì gây tổn hại đến ngươi, Ngài còn ở trong phạm vi nhân tính có nhân tính bình thường này mà làm công tác Ngài muốn làm, phán lời Ngài muốn phán, bày tỏ tâm tính và thực chất Ngài muốn bày tỏ, đưa con người đến trước mặt Đức Chúa Trời, và dẫn dắt con người bước lên con đường được cứu rỗi. Bất kể trong mắt ngươi, một Đức Chúa Trời nhập thể như vậy có vẻ ngoài nhỏ bé, bình thường và thực tế đến đâu, chẳng nổi bật hay siêu phàm khi ở giữa nhân loại thọ tạo đến đâu, thì nhân tính bình thường mà Ngài sống thể hiện ra vẫn đại diện cho chính Đức Chúa Trời và có liên quan đến chính Đức Chúa Trời. Vì vậy, đừng vì Ngài bộc lộ nhân tính bình thường hoặc làm một số chuyện liên quan đến nhân tính bình thường, chẳng hạn như giúp ngươi sắp xếp lại môi trường sống hoặc chăm lo cho môi trường xung quanh ngươi, mà ngươi cho rằng: "Sao Đức Chúa Trời có thể làm những chuyện này? Đức Chúa Trời chẳng phải là Đức Chúa Trời trên trời sao? Đức Chúa Trời chẳng phải nên làm công tác của chính Đức Chúa Trời sao? Sao còn quản lý những chuyện này? Đây chẳng phải là lấy gáo vàng múc nước giếng sao?". Nếu có những suy nghĩ như vậy thì ngươi sai quá sai rồi. Có lẽ cũng có người cho rằng: "Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời nhập thể, vậy chẳng phải Đức Chúa Trời nhập thể này ở trên cao vời vợi hay sao? Chẳng phải Ngài không vướng bụi trần hay sao? Chẳng phải môi trường Ngài ở, phạm vi Ngài sinh hoạt hoặc những yêu cầu của Ngài đối chuyện sinh hoạt khác với người bình thường chúng ta hay sao?". Ta nói cho ngươi biết, biểu hiện trong mọi phương diện đời sống của Đức Chúa Trời nhập thể này đều hết sức thông thường, hết sức bình thường, hoàn toàn có chút gì là cao vời, thậm chí trong mắt nhiều người còn đơn giản là nhỏ bé. Ngài không có yêu cầu cao hay mong muốn xa vời nào về chất lượng sống. Ngài chỉ thích cuộc sống đơn giản và mộc mạc nhất. Có người nói: "Có phải Đức Chúa Trời nhập thể không biết cách hưởng thụ cuộc sống tiêu chuẩn cao không?". Thực ra không phải là Ta không biết, cũng không phải là Ta chưa thấy qua, chỉ là Ta không thích và không có yêu cầu như vậy. Về đời sống, Ta chỉ có tiêu chuẩn và yêu cầu của đại chúng bình thường: mùa hè ăn chút món xào, rau trộn, mùa đông ăn chút món hầm, đậu phụ hầm, trời tuyết lạnh thì ăn một bữa sủi cảo. Có người hỏi: "Vậy Ngài có biết nấu ăn không?". Ta cũng biết nấu ăn, còn biết cán mì. Nhiều năm trước Ta cũng từng hấp màn thầu, làm bánh bao cuộn hoa, cũng từng rửa bát, rửa nồi, dọn dẹp vệ sinh. Ta gấp chăn rất ngay ngắn. Quần áo bẩn một chút là Ta muốn giặt ngay, không thích ngửi mùi lạ. Ta không có yêu cầu cao về cuộc sống, Ta thích yên tĩnh, không thích ồn ào. Nơi nào có nhiều người nói chuyện quá lớn, nơi nào có tiếng ồn quá lớn, thì Ta không muốn ở. Ta không thích thành phố. Ngươi nói xem, tiêu chuẩn và yêu cầu như vậy có cao không? (Thưa, không cao.) Ta đi xe chỉ cần trong xe yên tĩnh là được. Mở điều hòa thì Ta không muốn mở quá lạnh. Mở máy sưởi thì Ta chỉ cần ấm lên một chút, mặc áo bông vào không thấy lạnh là được. Mua đồ nội thất thì Ta thích mua loại tủ lớn, chứa được nhiều đồ, để thứ gì cũng có thể xếp gọn gàng vào trong đó. Ta thích giữ sạch sẽ đồ dùng của mình. Đồ Ta dùng đã lâu và cũ rồi thì cũng không có vết mồ hôi, không có mùi lạ, càng không có tóc hay gàu bám trên đó. Quần áo đã mặc thì Ta nhất định phải giặt sạch rồi mới cất vào tủ, quần áo bẩn tuyệt đối không được cho vào tủ. Ta không có yêu cầu cao đối với cuộc sống. Nuôi chó thì Ta cũng không nuôi giống chó quý, chỉ cần ngoan ngoãn, có tình nghĩa, hiểu chuyện, không gây họa, cũng không suốt ngày đòi ra ngoài đi dạo hay vui chơi là được. Có người nói: "Chẳng phải Đức Chúa Trời nhập thể chỉ thích những thứ sang trọng, đẳng cấp sao?". Ta cũng từng thấy những thứ sang trọng, đẳng cấp, nhưng Ta thực sự không thích chúng. Ta thích những thứ thiết thực, dù là quần áo, đồ dùng hay nơi ở, chỉ cần thiết thực là được. Mua một bộ quần áo hoặc một đôi giày, nếu có thể dùng nhiều năm và đúng là thứ Ta cần thì Ta nhất định sẽ mua. Nếu món đồ đó rất cao cấp, rất quý giá, rất có giá trị, nhưng mười năm cũng không dùng đến một lần, thì dù được cho không, Ta cũng không lấy, Ta không thích những thứ đó. Có người hỏi: "Máy tính Ngài dùng có phải là loại đắt nhất, cao cấp nhất, mẫu mới nhất, và tốc độ nhanh nhất không?". Máy tính Ta dùng thì tốc độ cũng khá nhanh, nhưng không phải loại cao cấp nhất, chỉ cần có thể xem dự báo thời tiết, đọc tin nhắn, đáp ứng nhu cầu sử dụng hằng ngày là được. Dùng thiết bị gì Ta cũng không dùng loại cao cấp nhất, loại bình thường và thiết thực là được rồi. Đồ dùng bình thường dù đã cũ, Ta cũng cố gắng giữ cho thật sạch sẽ, không hư hỏng, vẫn có thể sử dụng bình thường.
Đức Chúa Trời nhập thể cũng có một số sự lựa chọn trong chuyện qua lại với con người. Ngài không thích kết giao bạn bè với người ta, cũng không thích qua lại quá thân thiết với người ta. Nhưng khi qua lại với người khác, thì Ngài cũng có một số cách nhìn và yêu cầu cơ bản nhất đối với con người: chí ít, người mà Ngài qua lại phải đối đãi với người khác bằng sự chân thành. Có một loại người hễ mở miệng là ba hoa khoác lác, nói mười câu thì có chín câu nghe không thật, không thực tế, hoặc vừa nghe đã thấy có ý xem thường và hạ thấp người khác, mang tâm địa bất lương. Mỗi lần ngươi qua lại và nói chuyện với loại người này thì họ đều như vậy cả, ngươi chẳng bao giờ nắm được tình hình thực sự của họ, cũng không cảm nhận được sự chân thành của họ. Loại người này không chân thật, chẳng đâu vào đâu, và là hạng lưu manh, Ta chẳng thích qua lại với họ. Còn có một loại người thì nói dối triền miên, thích tán dóc, nói xàm, không có một câu nào là thật. Nếu ngươi hỏi họ chuyện gì đó và truy hỏi đến cùng thì họ cứ vòng vo mãi chứ không nói thật với ngươi. Khi nói chuyện với họ thì Ta luôn chân thật, cũng không hạ thấp họ, càng không làm tổn thương họ, vậy mà họ vẫn không nói thật với Ta, dạng người như vậy thì không có cách nào trò chuyện được. Một loại là hạng lưu manh ba hoa khoác lác, chẳng đâu vào đâu, Ta chẳng muốn qua lại với họ. Loại còn lại thì nói dối triền miên, không có một câu nào là thật, Ta cũng không thích qua lại với họ, Ta cảm thấy ghê tởm và chán ghét loại người như vậy. Nếu công tác của hội thánh cần Ta giao thiệp với loại người này thì Ta cũng có thể chịu đựng, đây là việc nào ra việc nấy. Còn nếu không có công chuyện cần xử lý thì Ta sẽ cố hết sức tránh và không qua lại với loại người này. Còn có một loại người, khi còn chưa chính thức qua lại mà họ đã bắt đầu tính kế xem làm thế nào để lợi dụng ngươi, làm thế nào moi được từ miệng ngươi một số tin tức hữu ích, làm thế nào kiếm được tiền của ngươi, làm thế nào lừa lấy sự cảm thông, tín nhiệm và xem trọng của ngươi, họ nghĩ đủ mọi cách để tính kế với ngươi. Ta chẳng muốn qua lại với loại người như vậy, Ta ghê tởm loại người này, tránh được họ càng xa càng tốt. Còn có một loại người, chỉ cần ngươi qua lại với họ và gặp mặt họ, thì họ sẽ so bì, so đo với ngươi, còn đố kỵ ngươi nữa. Ví dụ, ngươi cắt một kiểu tóc mới thì họ nói kiểu tóc của ngươi không đẹp, kết quả là chỉ mấy ngày sau, họ cũng cắt đúng kiểu tóc đó. Hoặc họ thấy quần áo ngươi mặc đẹp thì họ hỏi mua ở đâu, trước mặt ngươi, họ còn chê màu sắc tối, kiểu dáng lỗi thời, mặc không đẹp, v.v., vậy mà chưa được mấy hôm, họ cũng mua một bộ y hệt như thế, rồi cứ diễu qua diễu lại bên cạnh ngươi để khoe. Hễ ngươi có thứ gì, chỉ cần nhìn thấy là họ nhất định cũng phải có. Ngươi mua cải trắng hai tệ một cân, thì họ nói: “Chị mua đắt quá!”. Nhưng vừa quay đi, họ đã sang cửa hàng khác mua cải trắng với giá ba tệ một cân, còn nói: “Rau tôi mua còn rẻ hơn rau chị mua”. Đây chẳng phải là nói dối không chớp mắt sao? Ngươi chẳng thân với họ, cũng chẳng phải thâm giao gì, thế mà họ đã so bì và đố kỵ với ngươi như vậy, chuyện gì cũng muốn đem ra so sánh với ngươi, thậm chí ngươi nói một câu mà họ cũng muốn phân cao thấp với ngươi. Đây chẳng phải là gặp chó dại rồi sao? Gặp loại người như vậy thì Ta sẽ tránh xa, không để ý đến họ. Với loại người không có nhân tính bình thường như vậy thì không có cách nào qua lại được. Còn có một loại người nữa, có lẽ các ngươi cũng từng tiếp xúc rồi, loại người này đặc biệt lắm tật. Ví dụ, họ chê trong phòng nóng. Ngươi bảo họ mở cửa cho thông gió, thì họ nói: “Không được, mở cửa thì ruồi bay vào”. Ngươi đề nghị lắp cửa lưới, thì họ nói lắp rồi sẽ bất tiện cho việc ra vào. Ngươi bảo họ bật quạt, thì họ nói sợ trúng gió, lại còn tốn điện. Nếu ngươi gặp loại người này, họ kêu phòng nóng, mà ngươi đưa ra cách giải quyết nào cũng bị họ bác bỏ, thì ngươi sẽ biết ngay người này không phải dạng vừa đâu. Họ là thứ gì vậy? Họ có thể tiếp nhận lời nói đúng đắn không? (Thưa, họ không tiếp nhận nổi, họ không có nhân tính bình thường.) Vậy còn nói chuyện với họ nữa không? (Thưa, không nói nữa.) Gặp loại người như vậy, trong lòng Ta sẽ có ấn tượng: “Ồ, hóa ra ngươi là loại người này, ngươi không có nhân tính bình thường. Những lời đúng đắn mà ngươi cũng không tiếp nhận, còn luôn soi mói và bắt bẻ, thích làm khó người khác, cố ý gây khó dễ cho người ta. Ngươi chẳng phải hạng tốt lành gì”. Vậy nên xác định tính chất loại người này thế nào? Dân gian gọi loại người này là “thứ sinh sự”, loại người như vậy thì bất chấp lý lẽ. Họ chê trong phòng nóng, ngươi đề xuất biện pháp giải quyết nào, họ cũng nói là không đúng, không được. Nhưng ngươi vừa rời khỏi phòng là họ lập tức mở hết cửa chính và cửa sổ, bật cả quạt lên, cũng chẳng sợ ruồi bay vào hay sợ trúng gió nữa. Với loại người này thì Ta chẳng có tiếng nói chung và không có cách nào trao đổi, Ta không thích qua lại với họ. Có người nói: “Dạng người này Ngài không thích, dạng người kia Ngài cũng không thích. Chẳng lẽ Ngài không thích thì không thể giao thiệp sao?”. Ta đâu nói rằng không thích thì không thể giao thiệp. Nếu trong công tác hoặc trong cuộc sống cần phải qua lại với họ, thì Ta có thể chịu đựng, không thể vì bản thân không thích mà không qua lại với loại người như vậy, rồi dẫn đến làm chậm trễ công tác hoặc ảnh hưởng đến những chuyện bắt buộc phải làm. Nhưng trong trường hợp không cần thiết thì Ta tuyệt đối không qua lại với dạng người như vậy.
Còn có một loại người khác chỉ thích ăn uống chơi bời, không chuyện tâm vào chuyện chính đáng. Nếu loại người này vì còn nhỏ tuổi, chưa hiểu chuyện, tính cách chưa ổn định, hoặc trong nhà được nuông chiều từ bé, nên vẫn chưa biết làm chuyện chính đáng, chưa biết chuyên tâm vào chuyện chính đáng, cũng chưa học kỹ thuật, tri thức hay nghiệp vụ gì, như vậy thì còn có thể thông cảm được. Nhưng có những người đã 20, 30, 40 tuổi rồi mà cả ngày vẫn không chuyên tâm vào chuyện chính đáng, lêu lổng vô tích sự, rảnh rỗi là thích tán gẫu, tám chuyện, lang thang giết thời gian. Họ chưa bao giờ nghĩ đến chút chuyện chính đáng nào, chẳng chuyên tâm làm chút chuyện chính đáng nào, chẳng học chút kỹ thuật, tri thức hay nghiệp vụ nào. Họ cũng chẳng đọc lời Đức Chúa Trời, chẳng suy xét về chuyện đời người, hay suy ngẫm xem con người nên đi con đường nào. Họ chẳng nhìn xem có những ai đi sai đường để biết bản thân nên tránh như thế nào, xem những ai có sự bước vào và thu hoạch trong lời Đức Chúa Trời và lẽ thật để lấy đó mà học hỏi. Họ chẳng bao giờ suy ngẫm những chuyện chính đáng này. Rảnh rỗi là họ ăn uống chơi bời, xem tin tức giải trí ngoài xã hội, theo dõi tin tức của các ngành nghề. Đắm mình trong đủ loại tin tức, tạp chí và trào lưu xã hội, họ cứ sống vật vờ qua ngày, sống được ngày nào hay ngày đó. Họ sống bừa như vậy tám năm, mười năm, mà trong lòng cũng chẳng có chút cảm giác gì, chẳng bao giờ thấy khó chịu. Dù bị ai tỉa sửa hay vạch trần, họ cũng chẳng màng, họ tê dại, ngớ ngẩn, và không biết tìm kiếm lẽ thật. Loại người này chỉ sống qua ngày, ăn rồi chờ chết. Họ còn thường hận đời, cảm thấy chuyện này không công bằng, chuyện kia cũng không công bằng, cảm thấy mình đi đâu cũng không gặp thời. Nhưng họ học không được mà làm cũng chẳng nên, chưa bao giờ nghiêm túc với bất kỳ công việc nào, chưa bao giờ nghiêm túc đối đãi với bất kỳ lời đúng đắn nào, cũng chưa bao giờ suy xét xem sau này mình nên làm gì. Họ nói chuyện cũng rất rõ ràng, có tư tưởng, có lý tưởng, có nguyện vọng, nhưng lại không chịu biến chúng thành hành động. Họ nói đạo lý thì rất hay, rất cao siêu, rất hợp với nhân tính, rất hợp lý, thậm chí nghe còn rất lọt tai. Nhưng đến lúc làm việc thực tế trong đời thực, thì họ chẳng có chút tinh thần nào, cũng chẳng có hành động thực tế nào. Ta không thích loại người như vậy. Có lẽ tố chất của ngươi rất bình thường, hoặc ngươi khá ngu độn, tư chất bẩm sinh không cao, chẳng có ân tứ hay tài cán gì, nhưng con người ngươi đặc biệt vững vàng, làm chuyện gì cũng rất dốc sức, rất nỗ lực, sẵn lòng chịu khổ, và có thể trả giá. Bất kể ai giao cho ngươi việc gì, ngươi đều đặc biệt nghiêm túc và có trách nhiệm, hơn nữa còn có thể chịu trách nhiệm đến cùng. Ngươi cực kỳ giữ vững nguyên tắc, thậm chí có lúc còn khiến người khác cảm thấy bị kìm kẹp, cho rằng ngươi quá nghiêm túc, quá giữ nguyên tắc, nhưng ngươi vẫn có thể kiên trì làm như vậy. Ta thích dạng người này. Tố chất của ngươi kém một chút, ngươi ngốc một chút cũng không quan trọng, ít ra ngươi không phải loại người nói ngon nói ngọt, gian xảo và giả dối, cũng không phải loại người sống qua ngày. Tuy tố chất của ngươi không cao, tư chất bẩm sinh cũng không cao, nhưng ngươi thích học hỏi, và học rất nghiêm túc, rất đến nơi đến chốn, không qua loa chiếu lệ. Không còn ai học nữa mà ngươi vẫn tiếp tục, học cho đến khi nào biết mới thôi. Ta thích dạng người như vậy. Khi làm người và làm việc, họ đều tiến chắc từng bước một, chẳng bao giờ mơ mộng viển vông, còn đặc biệt nghiêm túc. Họ chân thành đối với mọi người và trong mọi chuyện. Ngay cả tắm cho chó, họ cũng phải tắm thật sạch sẽ, thật kỹ lưỡng, nếu không họ sẽ cảm thấy mình đang qua loa chiếu lệ, ngay cả với con chó mà họ cũng đàng hoàng. Ta thích dạng người như vậy. Có người có thể lừa gạt người khác, cũng có thể lừa gạt và qua loa chiếu lệ với Đức Chúa Trời, họ nói thì rất hay nhưng lại không làm việc thực tế. Loại người như vậy thì Ta chẳng muốn để ý, cũng chẳng muốn qua lại. Có lẽ ngươi khéo ăn khéo nói, biết nịnh nọt, biết nói lời dễ nghe, nhưng Ta không muốn nghe những lời như vậy, những chiêu trò đó chẳng có tác dụng với Ta đâu.
Ta nói những lời này là để các ngươi hiểu Ta. Ta là một người bình thường sống trong nhân tính bình thường. So với Đức Chúa Trời trên trời thì Ta rất nhỏ bé, Ta là một người rất bình thường, rất thông thường. Ta không có hình tượng cao vời, không có năng lực siêu phàm, ở giữa mọi người cũng không nổi bật, càng không muốn độc đáo khác lạ, Ta chỉ là một người rất bình thường, cũng là một người rất đơn giản. Ta cảm thấy một người bình thường sống trong nhân tính bình thường như Ta cũng đã đủ để gánh vác giai đoạn công tác trong thời kỳ sau rốt của Đức Chúa Trời, cũng có thể bày tỏ toàn bộ lẽ thật mà Đức Chúa Trời muốn bày tỏ trong thời kỳ sau rốt, để các ngươi có thể từ nơi Ta mà đạt được mọi phương diện lẽ thật cần thiết cho sự cứu rỗi đến từ Đức Chúa Trời. Đối với các ngươi mà nói thì xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể này là đủ để các ngươi đạt được sự cứu rỗi, bất kỳ phương diện nào của thân xác này mà các ngươi có thể nhìn thấy và tiếp xúc được thực ra đã đủ cho mục đích này rồi. Vì vậy, thân là một con người bình thường, nếu có lương tâm và lý trí, thì ngươi không nên lúc nào cũng đem Đức Chúa Trời nhập thể ra so sánh với Đức Chúa Trời trên trời. Nếu ngươi cứ luôn đem Đức Chúa Trời nhập thể ra so sánh với Đức Chúa Trời trên trời, thì một mặt, làm vậy không có ích gì cho bản thân ngươi, mặt khác, Đức Chúa Trời trên trời cũng không thích ngươi làm như vậy. Hơn nữa, nếu ngươi luôn đem Đức Chúa Trời nhập thể ra so sánh với Đức Chúa Trời trên trời thì, ở mức độ rất lớn, nó sẽ ảnh hưởng đến việc ngươi tiếp nhận những lời Đức Chúa Trời nhập thể phán và công tác Ngài làm, ảnh hưởng đến việc ngươi tiếp nhận sự cung ứng mọi phương diện lẽ thật đến từ Ngài mà ngươi cần. Còn có một mặt quan trọng hơn nữa, đó là bất kể thân xác mà Đức Chúa Trời nhập thể này nhỏ bé, bình thường hay thông thường đến đâu, thì xét tận cùng, Ngài vẫn là sự bày tỏ của Đức Chúa Trời trên đất, là sự thể hiện của Đức Chúa Trời trên đất, cũng là đại diện của Đức Chúa Trời trên đất. Bất kể Ngài có thể đại diện được bao nhiêu, có thể thể hiện được bao nhiêu, thì ít ra, trong mắt Đức Chúa Trời, Ngài đại diện cho Đức Chúa Trời, là đại diện một phần cho thân phận, thực chất và tâm tính của Đức Chúa Trời. Do đó, ít nhất, Ngài đại diện cho thân phận của Đức Chúa Trời, cũng đại diện cho công tác mà Đức Chúa Trời muốn làm trên đất. Ngài thay mặt Đức Chúa Trời, cũng có thể nói là thay Đức Chúa Trời làm công tác trên đất. Bất kể ngươi ngưỡng vọng Đức Chúa Trời trên trời thế nào, sùng bái Đức Chúa Trời trên trời thế nào, thì Đức Chúa Trời đều không thích ngươi đem Đức Chúa Trời nhập thể ra so sánh với Đức Chúa Trời trên trời, cũng không thích ngươi tách biệt Đức Chúa Trời nhập thể với Đức Chúa Trời trên trời. Ngài càng không thích việc ngươi, trong khi đem Đức Chúa Trời nhập thể ra so sánh với Đức Chúa Trời trên trời, thì xem trọng Đức Chúa Trời trên trời mà xem thường Đức Chúa Trời trên đất, hoặc tràn đầy sự ngưỡng mộ và sùng bái với Đức Chúa Trời trên trời, mà lại tràn đầy sự thù địch, kỳ thị, thậm chí là xét đoán, lên án và công kích với Đức Chúa Trời trên đất. Cho nên, đối với Đức Chúa Trời nhập thể, một mặt người ta phải đối đãi cho đúng đắn và tiếp nhận nhân tính bình thường của Ngài, mặt khác, người ta phải chiếu theo thân phận và địa vị của Đức Chúa Trời để tiếp nhận lẽ thật mà Ngài bày tỏ và tâm tính mà Ngài bày tỏ. Khi Ngài bộc lộ nhân tính bình thường và bày tỏ tâm tính của Đức Chúa Trời hoặc thể hiện thực chất của Đức Chúa Trời, thì những gì ngươi nhìn thấy và có thể lĩnh hội được chính là vậy thôi. Cuối cùng, ngươi phải đứng ở lập trường và thái độ của một loài thọ tạo mà thuận phục và tiếp nhận lời Đức Chúa Trời do Ngài bày tỏ, hoặc tâm tính và thực chất của Đức Chúa Trời do Ngài bộc lộ. Trong khi không đem Đức Chúa Trời nhập thể ra so sánh với Đức Chúa Trời trên trời, ngươi cũng đừng phân biệt đối xử giữa Đức Chúa Trời nhập thể và Đức Chúa Trời trên trời. Bởi vì, xét về thực chất thì Đức Chúa Trời trên trời và Đức Chúa Trời nhập thể rốt cuộc vẫn là một, chỉ là theo cái nhìn trực quan của mắt phàm thì hình thức xuất hiện của các Ngài có khác biệt mà thôi. Vì vậy, bất kể ngươi có đem Đức Chúa Trời nhập thể ra so sánh với Đức Chúa Trời trên trời hay không, thì cuối cùng, cách ngươi đối đãi với Đức Chúa Trời nhập thể vẫn phải quy về điều này, chính là Ngài có thân phận và thực chất của Đức Chúa Trời. Bất kể Đức Chúa Trời nhập thể mà mắt phàm của ngươi nhìn thấy có nhân tính bình thường như thế nào, có những biểu hiện và sự bộc lộ ra sao, hoặc Ngài bình thường, thông thường và thực tế đến đâu, thì ngươi đều phải đứng ở lập trường của một loài thọ tạo mà đón nhận, tiếp nhận và thuận phục, chứ đừng chống đối. Khi người ta luôn thích đem Đức Chúa Trời nhập thể ra so sánh với Đức Chúa Trời trên trời, thì điều tệ nhất là họ rất dễ dùng quan niệm và tưởng tượng của con người về Đức Chúa Trời để xét đoán, lên án hoặc chống cự Đức Chúa Trời nhập thể. Vì vậy, ngươi đem Đức Chúa Trời nhập thể ra so sánh với Đức Chúa Trời trên trời thì đó chính là con đường dẫn đến cái chết. Con đường dẫn đến cái chết nghĩa là gì? Chính là câu Ta đã từng nói trước đây: Ngươi đang tự tìm cái chết! Tự tìm cái chết có nghĩa là gì? Không phải là nhà Đức Chúa Trời sẽ thanh trừ hay khai trừ ngươi, mà là việc ác ngươi làm quá nghiêm trọng đến nỗi khiến ngươi sẽ phải chịu hình phạt và sự diệt vong, đây chính là tự tìm cái chết. Ngươi làm ra việc ác như vậy, con người không thể làm gì ngươi, nhưng Đức Chúa Trời sẽ căn cứ vào việc ác của ngươi mà định tội ngươi. Vậy tại sao Ta nói đây là tự tìm cái chết? Bởi vì câu "tự tìm cái chết" có lý do cả. Chính là cách làm này của ngươi đại diện cho con đường ngươi đang đi. Ngươi đang đi dạng con đường như thế nào? Cách làm này của ngươi đại diện cho việc ngươi đang đi trên một con đường dẫn đến diệt vong. Con đường dẫn đến diệt vong này có nghĩa là gì? Nghĩa là Đức Chúa Trời đã làm chứng rõ ràng rằng Đức Chúa Trời nhập thể trên đất này đại diện cho Đức Chúa Trời và tâm ý của Đức Chúa Trời trong thời kỳ sau rốt, Ngài là sự thể hiện của Đức Chúa Trời, là Đấng gánh vác công tác của Đức Chúa Trời trong thời kỳ sau rốt. Thế mà ngươi lại không tiếp nhận lời này, thà chết cũng không thừa nhận thân phận và thực chất của Đức Chúa Trời nhập thể này, cũng không tiếp nhận lời Ngài phán và công tác Ngài làm. Ngươi chẳng những không tiếp nhận mà còn cự tuyệt, còn thường xuyên cầu nguyện và khẩn cầu với Đức Chúa Trời trên trời, muốn bỏ qua Đức Chúa Trời nhập thể để được Đức Chúa Trời trên trời khen ngợi rồi đạt được sự cứu rỗi. Nghĩa là ngươi chỉ tin Đức Chúa Trời trên trời, còn đối với Đức Chúa Trời nhập thể, Đấng được giao phó làm công tác của Đức Chúa Trời trên đất, thì ngươi lại không tiếp nhận. Như vậy nghĩa là ngươi đang cự tuyệt công tác Đức Chúa Trời làm và lời Ngài phán khi Ngài đến trên đất, ngươi từ chối chính con người mà Đức Chúa Trời đã trở nên khi đến trên đất, vậy thì con đường ngươi đi chính là con đường dẫn đến diệt vong. Bất kể ngươi sùng bái và ngưỡng vọng Đức Chúa Trời trên trời thế nào, thì Đức Chúa Trời cũng không tiếp nhận và không công nhận. Con đường ngươi đi là con đường diệt vong, đây chính là tự tìm cái chết. Tự tìm cái chết có nghĩa là gì? Nghĩa là việc ác ngươi làm quá lớn, có thể khiến ngươi chịu sự trừng phạt, đây chính là tự tìm cái chết. Con đường ngươi đi và con đường ngươi thực hành đều không đúng. Ngươi đang đối chọi với Đức Chúa Trời, đối địch đối với Đức Chúa Trời. Ngươi đừng tưởng rằng: "Tôi tin cậy Đức Chúa Trời trên trời. Đức Chúa Trời nhập thể chỉ là một con người bình thường. Lời Ngài phán thì tôi tiếp nhận, nhưng về bản thân Ngài thì tôi không tiếp nhận chuyện con người này là Đấng Christ, là Đức Chúa Trời đâu. Làm sao Ngài có thể đại diện cho thân phận của Đức Chúa Trời được? Tôi tuyệt đối không thừa nhận Ngài là Đức Chúa Trời trên đất. Ngoài Đức Chúa Trời trên trời ra, thì không có Đức Chúa Trời nào khác". Nếu ngươi nói như vậy thì ngươi gặp rắc rối rồi. Ngươi đang đi trên một con đường dẫn đến diệt vong. Đây chính là tự tìm cái chết. Trong lịch sử có người nào tự tìm cái chết không? Có người nào rõ ràng đi trên con đường dẫn đến diệt vong không? Phao-lô chẳng phải là một người như vậy sao? (Thưa, phải.) Phao-lô là dạng người như vậy, những thầy thông giáo, người Pha-ri-si và các thầy tế lễ cả cũng đều như vậy. Họ chỉ tin vào danh Đức Giê-hô-va, chỉ tin Đức Chúa Trời trên trời. Khi Đức Chúa Trời nhập thể đến trên đất, họ thấy Đức Chúa Jêsus chỉ là một người bình thường, lại còn là con trai của một bác thợ mộc nghèo, nên dù thế nào họ cũng không chịu tiếp nhận: "Tôi tuyệt đối không tiếp nhận ông. Tôi chỉ tin Đức Chúa Trời trên trời!". Vậy Đức Chúa Trời trên trời đã phán gì với họ? "Ngươi đang tự tìm cái chết!", giống như Ta đang nói câu này bây giờ vậy. Kết quả thế nào? Sự thật đã chứng minh rằng họ đang tự tìm cái chết, phải vậy không? (Thưa, phải.) Các ngươi có muốn đi con đường như vậy không? (Thưa, không muốn.) Thế thì đừng đi con đường như vậy. Nếu trước đây ngươi từng đi con đường như vậy, thì hãy mau quay đầu, hối cải và nhận tội, bây giờ quay đầu vẫn còn kịp. Tuy nhiên, các ngươi đừng tùy tiện nói câu "tự tìm cái chết" này. Các ngươi nói thì trong lời đó có mang theo huyết khí. Người trong giới xã hội đen thường nói: "Mày đang tự tìm cái chết!". Ý của họ là muốn giết chết người khác. Nhưng Ta nói câu này thì khác với họ. Khi nói câu này, Ta không mang theo huyết khí, cũng không phải là buông lời đe dọa, mà chỉ muốn nhắc nhở ngươi rằng: Đừng đi con đường của Phao-lô, như vậy là tự tìm cái chết, là con đường dẫn đến diệt vong. Ngươi mà đi con đường này thì ngươi sẽ diệt vong, sẽ có kết cục giống như Phao-lô, vậy thì hỏng rồi. Khi đó, Phao-lô chưa được nghe quá nhiều lẽ thật, chuyện ông ta tự tìm cái chết là do chính mình chuốc lấy, do bản tính mà ra. Nhưng bây giờ đã có vết xe đổ của Phao-lô rồi, thì các ngươi đừng tự tìm cái chết, đừng đi con đường dẫn đến diệt vong đó. Hiện nay, lẽ thật của Đức Chúa Trời nhập thể đã được phán rõ ràng đến vậy, các lẽ thật khác nhau về sự cứu rỗi cũng đã được phán rõ ràng đến vậy, mà ngươi vẫn cố ý chống đối, thà chết cũng không chịu tiếp nhận, thì đây chẳng phải là tự tìm cái chết sao? Điều đó chứng tỏ ngươi là loại người như Phao-lô. Các ngươi tuyệt đối đừng đi con đường này!
Ta đã thông công nhiều như vậy rồi, hẳn các ngươi đã rõ ràng về chuyện nên đối đãi với Đức Chúa Trời nhập thể như thế nào, nên xử lý cho tốt mối quan hệ giữa Đức Chúa Trời nhập thể và Đức Chúa Trời trên trời như thế nào rồi phải không? (Thưa, đã rõ.) Vậy nguyên tắc trong phương diện này là gì? Có mấy nguyên tắc? Các ngươi tổng kết đi. (Thưa, thông qua mối thông công hôm nay của Đức Chúa Trời, nguyên tắc đầu tiên con có thể nhận biết được là phải tiếp nhận nhân tính bình thường của Đức Chúa Trời nhập thể, đối đãi đúng đắn với nhân tính bình thường của xác thịt mà Đức Chúa Trời mặc lấy, bao gồm việc đối đãi đúng đắn với những chuyện ăn, mặc, ở, đi lại cùng những sự lựa chọn trong nhân tính bình thường của Ngài. Nguyên tắc thứ hai là Đức Chúa Trời trên đất có thực chất của Đức Chúa Trời, nên chỉ cần Ngài có thể bày tỏ lẽ thật và có thể cứu rỗi con người thì chúng con nên tiếp nhận Ngài và thuận phục Ngài. Đây là điều then chốt.) Để Ta nhấn mạnh thêm vài câu nữa. Về lý thuyết, thì phương diện nhân tính bình thường của Đức Chúa Trời nhập thể không liên quan đến lẽ thật, cũng không liên quan đến công tác mà Đức Chúa Trời muốn làm. Nói một cách nghiêm ngặt, nhân tính bình thường chính là nói đến những chuyện trong phạm vi đời sống của Đức Chúa Trời nhập thể. Về con người này, những gì Ngài thích, tính cách của Ngài, hỉ nộ ai lạc của Ngài, cũng như đủ loại cách nhìn, quan điểm, sự lĩnh hội, sự lựa chọn, v.v. của Ngài đối với cuộc sống và xã hội, đánh giá từ góc độ nhân tính thì những biểu hiện này của Ngài có phù hợp với lương tâm và lý trí của nhân tính bình thường không? (Thưa, có.) Những người nói "có" phải chịu trách nhiệm về lời mình nói. Ngươi phải nói rõ, do đâu mà ngươi nói là "có"? Là phát xuất từ đạo lý, là phụ họa theo hay là ngươi thực sự có thể nghiệm và nhận thức về chuyện này? (Thưa Đức Chúa Trời, theo cách nhìn của con, thì bất kể là Đức Chúa Trời hướng dẫn chúng con sống bày tỏ ra nhân tính bình thường, hay là bảo chúng con phân định những con người, sự việc và sự vật mình gặp phải, thì đều là đang nói cho chúng con cách sống bày tỏ ra nhân tính bình thường và cách làm người trung thực, đều đang dẫn dắt chúng con đi trên con đường đúng đắn. Do đó, sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời dành cho con người ở mọi phương diện đều có ích cho con người.) Ta không dám nói là đều có ích cho con người, nhưng ít nhất Ta tự cho rằng hai chữ "bình thường" trong cụm từ "nhân tính bình thường" đáng để giải thích. Vậy nên giải thích cái "bình thường" này như thế nào? Một mặt, nó nghĩa là góc độ và lập trường mà Đức Chúa Trời nhập thể dùng để nhìn nhận con người, sự việc và sự vật là đúng đắn. Chuyện Ta đối đãi với các loại người và các loại sự tình như thế nào, thì trong khi thông công Ta đều đã nói qua rồi. Có thể nói rằng, những cách nhìn của Ta đối với thế giới, đối với nhân loại, đối với các trào lưu tà ác và trào lưu tư tưởng khác nhau là điều mà con người này của Ta có, nhưng cũng có thể nói là chúng đến từ Đức Chúa Trời. Không có cách nào nói chi tiết về những chuyện này được, các ngươi từ từ suy ngẫm đi. Góc độ và lập trường mà Đức Chúa Trời nhập thể dùng để nhìn nhận con người, sự việc và sự vật là bình thường, một mặt là vậy. Mặt khác, quan điểm và ý nghĩ mà Ngài nảy sinh sau khi lĩnh hội về các loại sự việc và sự vật cũng bình thường, không lệch lạc, không cực đoan. Ta không dám nói rằng sự bộc lộ nhân tính bình thường của Ta khi Ta sống cùng và giao tiếp với các ngươi có thể đem lại cho các ngươi lợi ích lớn đến đâu, cũng không dám nói rằng nó có thể đem lại cho các ngươi lợi ích giống như lẽ thật, nhưng ít ra Ta sẽ không làm tổn thương các ngươi. Còn có một điểm căn bản nhất nữa, đó là trong ý nghĩ và ý muốn cá nhân, Ta chưa bao giờ muốn làm hại ai. Nếu Ta thấy lời nói của ngươi có sai lầm, hoặc ngươi có những lối sống, thói quen sinh hoạt hoặc thái độ sống sai lầm, chẳng hạn như sự lĩnh hội lệch lạc về chuyện nên ăn gì, thì Ta sẽ nói với ngươi, sẽ sửa đổi tư tưởng và quan điểm của ngươi. Một mặt, xuất phát từ sự lĩnh hội của nhân tính bình thường, Ta giúp ngươi sửa đổi một số thói quen sinh hoạt sai lầm, để ngươi có tư tưởng và quan điểm đúng đắn, có thể đối đãi chuyện này một cách lý tính. Mặt khác, sâu xa hơn, Ta làm vậy là để ngươi hiểu và bước vào một số lẽ thật. Đây cũng là một phương diện biểu hiện của nhân tính bình thường nơi Đức Chúa Trời nhập thể. Ngoài ra, đủ loại nhu cầu trong cuộc sống của nhân tính bình thường của Ngài và cách Ngài giao tiếp với các loại người cũng đều bình thường. "Bình thường" ở đây có nghĩa là gì? Các ngươi có từng nghe nói Ta ức hiếp ai, hãm hại ai, chèn ép ai hoặc lừa gạt ai chưa? (Thưa, chưa.) Ta thực sự chưa từng làm những chuyện như vậy. Với thân phận và địa vị của Ta, thì nói vài lời tàn nhẫn hoặc chèn ép ai đó thì chẳng phải là việc quá dễ sao? Ta có tư cách đó, nhưng Ta thực sự chưa từng ức hiếp ai, chưa từng cãi nhau với ai, chưa từng đấu đá với ai, cũng chưa từng so đo với ai sau lưng. Những biểu hiện như vậy, Ta đều không có. Khi ở giữa mọi người, Ta chỉ giao tiếp với người khác một cách bình thường. Người nào có nhân tính tốt thì Ta gần gũi hơn một chút, người nào có nhân tính không tốt thì Ta tránh xa một chút. Giúp được thì Ta giúp, không giúp được thì Ta cứ thuận theo tự nhiên. Những biểu hiện của nhân tính bình thường này, bất kể là hỉ nộ ai lạc, hay thói quen sinh hoạt, hay cách thức và nguyên tắc giao tiếp với người khác của Ta, đều là những gì các ngươi có thể nhìn thấy, tiếp xúc, lĩnh hội và thể nghiệm được, các ngươi thấy có phương diện nào không bình thường không? (Thưa, không có phương diện nào là không bình thường, đều đặc biệt thực tế.) Nói "đều đặc biệt thực tế" thì có lẽ một số người không hiểu lắm, cho nên, để Ta sửa lại cho các ngươi: Những biểu hiện của nhân tính bình thường này nơi Đức Chúa Trời nhập thể đều có nguyên tắc, không trống rỗng, không khoa trương. Ta tự cho rằng Ta chưa bao giờ khoa trương, hơn nữa Ta đặc biệt không thích ra lệnh, mà thay vào đó, Ta thích làm việc thực tế. Điều gì Ta biết, Ta hiểu thì Ta đều truyền đạt hết, chẳng bao giờ giữ lại gì. Ngươi thấy đấy, khi hướng dẫn các ngươi làm một công tác nào đó liên quan đến nghiệp vụ, Ta biết bao nhiêu thì nói bấy nhiêu. Ta có giữ lại gì không? (Thưa, không giữ lại gì cả.) Ta không giấu giếm, mà cố gắng hết sức để hướng dẫn và dạy cho ngươi. Ngươi học rất nghiêm túc, rất dốc sức, chịu khổ rất tốt, cuối cùng ngươi học được và có thể làm việc đó một cách độc lập, không cần Ta hướng dẫn nữa. Như vậy thì Ta rất vui, và không đố kỵ. Ta còn khuyến khích ngươi làm việc một cách độc lập, sẵn lòng để ngươi làm nên thành tích. Ngươi làm nên thành tích và mọi người đều khâm phục ngươi thì Ta còn chúc mừng ngươi. Ngươi học được từ nơi Ta rồi làm nên thành tích, và mọi người đều đánh giá cao ngươi, như vậy chứng tỏ ngươi có bản lĩnh. Ta thực sự không đố kỵ, không tranh giành danh tiếng với ngươi, cũng không tranh công với ngươi. Ta sẽ không nói: "Sao ngươi không nói với mọi người rằng ngươi học từ nơi Ta? Sao ngươi không biết cảm kích Ta?". Mà Ta sẽ nói: "Ta chỉ thông công nguyên tắc, chứ không dạy bao nhiêu, là do ngươi lĩnh hội tốt thôi". Trong nhân tính bình thường của Đức Chúa Trời nhập thể có rất nhiều điều thực tế, và trong cái gọi là thực tế này có rất nhiều điều cụ thể. Có lẽ Ta tự giới thiệu về mình như vậy, những người các ngươi đã từng giao tiếp với Ta dần dần sẽ hiểu. Ta giao tiếp với người khác thì rất đơn giản, thẳng thắn, trực tiếp, không có thủ đoạn gì, không tính kế với người khác, cũng không lợi dụng người khác, càng không đứng ở địa vị khi làm công tác, cũng không dùng ưu thế của địa vị để mưu cầu bất kỳ lợi ích nào cho bản thân. Nếu ngươi nịnh bợ Ta, tâng bốc Ta thì Ta còn thấy rất khó chịu và gượng gạo, Ta sẽ tránh xa ngươi. Còn nếu ngươi giao tiếp với Ta một cách bình thường, không nịnh bợ, không tâng bốc, thì Ta lại thấy rất thoải mái, còn rất sẵn lòng giao tiếp với ngươi.
Ta giao tiếp với mọi người suốt bấy nhiêu năm và sống đến bây giờ, thì số người thuộc đủ mọi hạng mà Ta đã tiếp xúc trong nhân tính bình thường cũng không phải ít. Người phức tạp đến đâu Ta cũng đã gặp, người ngu muội đến đâu Ta cũng đã gặp, người kiêu ngạo và không có lý tính đến đâu hay người ác đến đâu, Ta cũng đã tiếp xúc. Sau đó, từng chút một, Ta phát hiện ra người này với người kia quả thật không giống nhau. Ta giao tiếp với người khác rất đơn giản, nói chuyện cũng đặc biệt đơn giản và thẳng thắn, cũng có thể mở lòng. Kết quả là khi gặp đủ mọi hạng người, Ta thấy được rằng nhân tính của con người quá phức tạp. Nhưng bất kể Ta đối diện với người phức tạp đến đâu, khi Ta diễn đạt một chuyện hoặc giải quyết một chuyện trong nhân tính bình thường, thì lập trường, nguyên tắc, phương thức, phương pháp cùng ý thích cá nhân của Ta mãi mãi không thay đổi. Bất kể xử lý loại người nào, cuối cùng cách Ta đối đãi với người khác vẫn dựa theo những nguyên tắc vốn có bên trong Ta. Nếu ngươi là người mưu cầu lẽ thật và có nhân tính, thì chúng ta có thể giao tiếp nhiều hơn, tiếp xúc nhiều hơn, thông công nhiều hơn, và nói chuyện thật lòng với nhau. Nếu ngươi không phải là người mưu cầu lẽ thật, cũng không làm bổn phận, nhân tính còn rất ác, thì Ta sẽ cố gắng hết sức để ít tiếp xúc, ít giao tiếp với ngươi, chỉ cần giữ phép xã giao bề ngoài là được rồi. Nếu ngươi có thể tìm kiếm lẽ thật và thật lòng tìm kiếm khi có vấn đề, thì Ta có thể thông công với ngươi, nhưng ngươi có thể tiếp nhận hay không thì đó là chuyện riêng của ngươi. Còn đối với một số người nuôi ác ý hoặc không có thiện ý, thì Ta cũng có phương thức và nguyên tắc thích hợp để xử lý và đối đãi họ. Bề ngoài có vẻ như cách Ta đối đãi với họ không thay đổi, vẫn thông công những lời đó, vẫn làm những việc đó, vẫn là sự bộc lộ nhân tính bình thường của Ta, nhưng như vậy không đồng nghĩa với Ta không nhìn ra họ là loại người nào. Nhìn bề ngoài, ngươi thấy Ta mãi vẫn như vậy, đối đãi với người khác rất đơn giản, dùng lý tính của nhân tính bình thường mà đối đãi với mỗi một người. Điều ngươi nhìn thấy từ bề ngoài là vậy, nhưng ngươi có biết trong lòng Ta nghĩ gì về họ không? Ta có nguyên tắc và cách nhìn đối với loại người này. Nguyên tắc và cách nhìn đó là gì? Nếu đứng trên góc độ lương tâm và lý trí của nhân tính bình thường của Ta để đánh giá, thì vấn đề của họ không phải là vấn đề lớn. Nhưng nếu đứng trên góc độ thần tính để nhìn nhận con đường họ đi và kết cục tương lai của họ thì vấn đề của họ rất nghiêm trọng. Vì vậy, ở nơi Ta, có những lúc nhân tính bình thường và thần tính đang dung hòa với nhau. Trong lúc dung hòa, có khả năng là Ta đang khoan dung với ngươi, đang cho ngươi cơ hội, đang quan sát ngươi và chờ ngươi quay đầu, cũng có khả năng là Đức Chúa Trời trên trời đang cho ngươi cơ hội. Đối với Ta, đây chính là sự dung hòa giữa nhân tính bình thường và thần tính của Ta. Mặc dù Ta không sẵn lòng tiếp xúc với ngươi, nhưng có lẽ vì ngươi chưa vi phạm sắc lệnh quản trị, chưa vi phạm các nguyên tắc của nhà Đức Chúa Trời, nên ngươi vẫn còn ở trong nhà Đức Chúa Trời. Với Ta, từ góc độ nhân tính, Ta có thể nhẫn nại với ngươi, có thể không so đo với ngươi. Nhưng từ góc độ thần tính thì Ta đã định tội ngươi rồi. Trong khi Ta định tội con người, cũng đồng thời tha thứ, bỏ qua cho họ và không chấp nhặt với họ, thì có một số người đã bị Đức Chúa Trời tỏ lộ, có những người làm việc ác lớn, gây ra hậu quả nghiêm trọng nên đã bị khai trừ. Có một số người trong thời gian Ta chờ đợi, vẫn làm bổn phận trong nhà Đức Chúa Trời, và trong thời gian làm bổn phận, họ dần dần xoay chuyển, dần dần biến đổi, dần dần vươn tới lẽ thật và trong lòng có sự quay đầu. Xét theo góc độ nhân tính bình thường của Ta, thì đối với người đã quay đầu, khi đến lúc thích hợp, Ta có thể giao tiếp và trò chuyện với họ, thông công và giúp đỡ họ đôi chút. Nhưng có một số người trong khoảng thời gian đó vẫn không có bất kỳ sự biến đổi nào, vẫn có biểu hiện như trước đây, cũng không mưu cầu lẽ thật, và vẫn đi trên con đường cũ. Theo Ta thấy, bất kể ngươi đã làm gì với Ta hoặc nhìn nhận Ta như thế nào, Ta chỉ xem ngươi là một người tin Đức Chúa Trời mà thôi. Chỉ là, theo sự phán đoán của nhân tính bình thường của Ta, hiện giờ ngươi vẫn chẳng có biến đổi gì, vậy thì sau này ngươi cũng rất khó có sự biến đổi. Thực ra, xét từ góc độ thần tính của Ta, thì chuyện này đã được quy định rồi. Người như vậy thì thuộc về loại bị diệt vong, là đối tượng bị diệt vong, căn bản không thể nào biến đổi. Nhưng đó là xét từ góc độ thần tính của Ta. Còn nhân tính xét cho cùng vẫn có sự hạn chế của nhân tính, đôi khi dưới sự hạn chế của lương tâm hoặc lý tính, Đức Chúa Trời nhập thể sẽ có một số ý tốt của con người, sẽ hy vọng điều tốt đẹp cho con người, hy vọng một số người trong một giai đoạn nào đó, hoặc trong một chuyện nào đó trong tương lai, hoặc trong một sự kiện lớn nào đó, sẽ có sự xoay chuyển. Biết đâu họ có thể biến đổi được. Ngài đối đãi với một số người như vậy là đang cho họ một vài cơ hội.
Một mặt, nhân tính bình thường này của Đức Chúa Trời nhập thể đang phối hợp với một số công tác của thần tính Ngài hoặc diễn đạt một số cách nhìn và quan điểm. Mặt khác, nhân tính bình thường này của Đức Chúa Trời nhập thể cũng đang hỗ trợ hoặc không ngừng xác minh cho một số thực chất, bản tính hoặc con đường mà thần tính của Đức Chúa Trời nhìn thấy nơi con người. Vì vậy, nhân tính bình thường này của Đức Chúa Trời nhập thể không chỉ để gánh vác chức vụ của Đấng Christ, của Con Người. Mà đối với nhân loại, điều quan trọng hơn là nhân tính bình thường này của Đức Chúa Trời nhập thể làm cho nhân loại hiểu thêm về Đức Chúa Trời trên trời, nghĩa là làm cho nhân loại có thêm cơ hội để từ Đức Chúa Trời nhập thể mà có thể hiểu thêm về Đức Chúa Trời trên trời và nhìn thấy thêm thực chất của Đức Chúa Trời trên trời. Mặt khác, nhân tính bình thường này của Đức Chúa Trời nhập thể còn có thể dung hòa tốt hơn mối quan hệ giữa nhân loại bại hoại với Đức Chúa Trời trên trời. Có lẽ các ngươi không hiểu cho lắm về từ "dung hòa" này, các ngươi không hiểu thì cũng không còn cách nào khác, vì không có từ nào thích hợp hơn. Ta lấy một ví dụ. Khi ngươi có quan niệm đối với một phương diện nào đó trong tâm ý hoặc yêu cầu của Đức Chúa Trời, thì ngươi sẽ không thể tiếp nhận, trong lòng sẽ nảy sinh ý nghĩ, nảy sinh sự phản nghịch, rồi không có cách nào thuận phục. Lúc này, Đức Chúa Trời nhập thể hiểu và thông cảm cho khó khăn cùng sự yếu đuối của ngươi. Ngài nói vài lời, làm vài công tác, nêu vài ví dụ, và thông qua việc thông công mà làm cho ngươi biết tâm ý của Đức Chúa Trời là gì, thái độ của ngươi đối với Đức Chúa Trời sai ở đâu, và ngươi nên xoay chuyển tình trạng phản nghịch này như thế nào để đạt đến việc thuận phục Đức Chúa Trời. Thông qua mối thông công mang tính nhân tính hoặc sự giúp đỡ và hỗ trợ mang tính nhân tính của Đức Chúa Trời nhập thể, mà quan niệm và sự hiểu lầm của ngươi đối với Đức Chúa Trời được giải trừ. Sau đó, thái độ của ngươi đối với Đức Chúa Trời cũng có sự chuyển biến, từ phản nghịch và đối kháng, trở thành sẵn lòng thuận phục. Rồi ngươi nhận biết bản thân, căm ghét bản thân, hiểu được rằng Đức Chúa Trời làm như vậy là thích hợp, là lao tâm khổ tứ. Thông qua việc Đức Chúa Trời nhập thể thông công, dung hòa, hỗ trợ và giúp đỡ như vậy, một mặt Ngài giới thiệu cho ngươi biết tâm tính, thực chất và tâm ý của Đức Chúa Trời trên trời là gì, để làm cho ngươi hiểu rõ tâm ý của Đức Chúa Trời, mặt khác, Ngài làm cho ngươi biết mình sai ở đâu, phải hối cải như thế nào. Khi hai mặt này được thông công rõ ràng, và cuối cùng ngươi không còn phản nghịch hay đối kháng với Đức Chúa Trời nữa, cũng sẵn lòng thuận phục, thì khi ấy thái độ của Đức Chúa Trời trên trời đối với ngươi cũng thay đổi. Ngài không còn định tội ngươi và căm ghét ngươi nữa, cơn giận của Ngài đối với ngươi cũng được cất đi. Khi cơn giận dữ của Đức Chúa Trời được cất đi, trong lòng ngươi sẽ cảm thấy bình an, thoải mái và có sự vui hưởng: Khi đến trước mặt Đức Chúa Trời mà cầu nguyện lần nữa, ngươi sẽ cảm thấy có lời để thưa với Đức Chúa Trời, cảm nhận được sự hiện diện của Đức Chúa Trời, trong lòng thì bình an và thanh tĩnh. Rồi nhìn lại, ngươi thấy bản thân trước đây đã quá phản nghịch Đức Chúa Trời, mang ý riêng quá lớn và khiến Đức Chúa Trời căm ghét. Từ đó, ngươi sinh lòng hối hận, sau này gặp lại loại chuyện như vậy, ngươi sẽ không phản nghịch Đức Chúa Trời nữa. Thông qua mối thông công và sự hỗ trợ của Đức Chúa Trời nhập thể, thái độ của ngươi đối với Đức Chúa Trời được xoay chuyển triệt để, mối quan hệ giữa ngươi với Đức Chúa Trời cũng được xoay chuyển triệt để và cải thiện, mối quan hệ giữa ngươi với Đức Chúa Trời giờ không còn như trước, mà phát triển theo chiều hướng tốt. Ngươi thấy đấy, nếu không có Đức Chúa Trời nhập thể phán những lời này và làm những công tác này, thì có khả năng nếu chỉ dựa vào ý riêng và bản tính của mình, ngươi sẽ mãi mãi sống trong trạng thái đối kháng với Đức Chúa Trời. Như vậy thì mối quan hệ giữa ngươi với Đức Chúa Trời sẽ luôn mãi bế tắc, sẽ giữ mãi trong vòng tuần hoàn ác tính đó. Đức Chúa Trời trên trời có vì ngươi liên tục căng thẳng đến mức bế tắc với Ngài như vậy mà thay đổi thái độ đối với ngươi không? Không thể nào. Ngươi liên tục căng thẳng đến mức bế tắc với Đức Chúa Trời như vậy thì Đức Chúa Trời sẽ từ chán ghét và căm ghét ngươi, chuyển sang ghét bỏ ngươi. Khi đã đến mức Ngài ghét bỏ ngươi, thì ngươi có còn cơ hội được cứu rỗi nữa không? (Thưa, không còn.) Ngươi sẽ không còn cơ hội nữa, Đức Chúa Trời sẽ buông tay đối với ngươi. Một khi Ngài đã buông tay thì cuộc đời tin Đức Chúa Trời của ngươi cũng kết thúc tại đây. Ta cũng không còn muốn cứu rỗi ngươi nữa, không cần tiếp xúc với ngươi nữa. Ngươi bị thanh trừ hoàn toàn khỏi hàng ngũ những người được Ta cứu rỗi. Ta không muốn nhìn thấy ngươi nữa, bởi vì trong suốt thời gian Ta chờ đợi, ngươi chẳng hề quay đầu, lương tâm và lý trí của ngươi chẳng phát huy tác dụng, và không người nào có thể khiến ngươi quay đầu. Ta đã cho ngươi nhiều cơ hội trong thời gian dài như vậy, mà ngươi vẫn không quay đầu. Do đó, trong tình huống như vậy, nếu không xuất hiện một người dung hòa mối quan hệ giữa Đức Chúa Trời và con người, thì mối quan hệ giữa ngươi với Đức Chúa Trời sẽ rạn nứt. Kết cục cuối cùng sẽ là Đức Chúa Trời ghét bỏ ngươi, và ngươi vĩnh viễn rời xa ánh sáng tôn nhan Đức Chúa Trời, không còn là loài thọ tạo trong mắt Đức Chúa Trời nữa. Vậy thì ngươi bị diệt vong hoàn toàn rồi. Tuy nhiên, sự xuất hiện của Đức Chúa Trời nhập thể đã cho ngươi một cơ hội để dung hòa mối quan hệ với Đức Chúa Trời. Nếu không có Đức Chúa Trời nhập thể xuất hiện và công tác thì một khi mối quan hệ giữa nhân loại và Đức Chúa Trời trên trời trở nên bế tắc, thì rất dễ dẫn đến việc Đức Chúa Trời ghét bỏ nhân loại. Nhân loại không thể có được một cơ hội hay nhận được một thông điệp nào từ bên thứ ba hoặc từ ngoại giới để xoa dịu mối quan hệ với Đức Chúa Trời. Chỉ có Đức Chúa Trời nhập thể mới có thể đảm nhận vai trò này, mới có thể làm công tác này. Ngài trở thành một chất dung hòa giữa Đức Chúa Trời trên trời và nhân loại. Sau khi được dung hòa như vậy, vô hình trung, trong suốt thời gian Đức Chúa Trời nhập thể làm công tác, toàn thể nhân loại có thêm rất nhiều cơ hội. Đối với nhân loại, những cơ hội này là điều tất yếu để con người được cứu rỗi, đây là điều không thể thiếu đối với mỗi một người. Bất kể hiện tại ngươi đang mưu cầu lẽ thật hay sau này mới mưu cầu lẽ thật, chỉ cần ngươi muốn đạt được sự cứu rỗi thì đối với ngươi, những cơ hội này là điều quan trọng nhất. Vì vậy, vai trò của Đức Chúa Trời nhập thể quá quan trọng đối với ngươi! Nhân tính bình thường của Đức Chúa Trời nhập thể là một phần không thể thiếu của Đức Chúa Trời nhập thể. Chỉ có nhân tính bình thường của Đức Chúa Trời nhập thể mới nhìn thấy được cơ hội này, nắm bắt được cơ hội này và biết nhân loại cần cơ hội này, cũng có thể giành lấy cơ hội này cho nhân loại, từ đó đạt đến việc giải quyết vấn đề mối quan hệ bế tắc giữa nhân loại và Đức Chúa Trời. Nhưng nếu Đức Chúa Trời nhập thể này không có nhân tính bình thường mà chỉ có thần tính, thì mối quan hệ giữa con người với Đức Chúa Trời sẽ vẫn là mối quan hệ giữa nhân loại và Đức Chúa Trời trên trời. Khi đó, nhân loại muốn có được cơ hội đạt được sự cứu rỗi, muốn xoa dịu mối quan hệ với Đức Chúa Trời thì có thể nói là rất khó. Chính vì nơi Đức Chúa Trời nhập thể có nhân tính bình thường, và vì nhân tính bình thường này có lương tâm, lý trí của nhân tính, nên trong phạm vi lương tâm và lý trí của nhân tính bình thường, Ngài có thể nhìn thấy những trọng điểm, nguyên nhân và căn nguyên của đủ loại mâu thuẫn phát sinh giữa nhân loại và Đức Chúa Trời là gì. Về chuyện làm thế nào để giải quyết những mâu thuẫn này, làm thế nào để giải quyết những vấn đề gốc rễ này để cho giữa nhân loại và Đức Chúa Trời không còn bất kỳ mâu thuẫn nào, không còn bất kỳ mối quan hệ bế tắc nào, thì chỉ có Con người sống trong phạm vi lương tâm và lý trí của nhân tính bình thường, tức là Đức Chúa Trời nhập thể, mới có thể nhìn thấy điều này, mới có thể giải quyết vấn đề này một cách thực tế và làm được công tác này. Như vậy, trong quá trình phản nghịch Đức Chúa Trời và trong quá trình được cứu rỗi, nhân loại có thể không ngừng giải quyết sự phản nghịch, đối kháng và đối lập của mình đối với Đức Chúa Trời, phải vậy không? (Thưa, phải.) Khi ngươi giải quyết được những vấn đề về sự phản nghịch, đối lập và đối kháng với Đức Chúa Trời thì Đức Chúa Trời sẽ không ngừng tha thứ cho ngươi, không ngừng chấp nhận và công nhận ngươi. Ngươi đi từ phản nghịch, đối lập, đối kháng, đến không ngừng nhận tội và hối cải, rồi sẵn lòng tiếp nhận lẽ thật, đạt đến việc thật lòng thuận phục và không còn phản nghịch Đức Chúa Trời nữa. Trong quá trình này, ngươi được Đức Chúa Trời tha thứ, rồi đạt được lẽ thật, từng bước đến trước mặt Đức Chúa Trời, từng bước cải thiện mối quan hệ với Đức Chúa Trời và từng bước được Đức Chúa Trời chấp nhận. Ngươi xem, cuối cùng người được ích lợi là ai? (Thưa, là con người.) Nhân loại được ích lợi quá lớn rồi! Quá trình này làm cho ngươi có thể nhìn thấy hy vọng được sống, và hy vọng được sống sót. Nhưng trước khi Đức Chúa Trời nhập thể làm công tác, nhân loại có rất nhiều quan niệm và tưởng tượng về Đức Chúa Trời, cùng đủ loại phản nghịch với Ngài, mối quan hệ giữa con người với Đức Chúa Trời tồn tại rất nhiều vấn đề. Trong thời gian Đức Chúa Trời nhập thể làm công tác và bày tỏ rất nhiều lẽ thật đến vậy, những vấn đề này của nhân loại từng bước được giải quyết. Quan điểm, thái độ, lập trường và góc độ của nhân loại đối với Đức Chúa Trời từng bước được cải thiện, đồng thời với sự cải thiện từng bước đó, thái độ của con người đối với Đức Chúa Trời cũng thay đổi. Chỉ khi nhân loại thay đổi thì Đức Chúa Trời mới có thể từng bước công nhận họ, từng bước chấp thuận họ và thích họ, từng bước buông bỏ sự căm ghét, ghê tởm, ruồng bỏ và rủa sả đối với họ. Nếu Đức Chúa Trời không trở nên xác thịt, thì bất kể bao năm qua ngươi bỏ ra bao nhiêu sức lực và trả giá bao nhiêu trong khi tin Đức Chúa Trời, liệu ngươi có thể đạt được những thu hoạch này không? (Thưa, không đạt được.) Nếu không có Đức Chúa Trời nhập thể thì mối quan hệ giữa nhân loại và Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ được cải thiện. Điểm quan trọng nhất của Đức Chúa Trời nhập thể chính là Ngài có nhân tính bình thường và Ngài sống trong nhân tính bình thường. Chỉ khi Ngài sống trong nhân tính bình thường, có lương tâm và lý trí của nhân tính bình thường, có thể suy xét, phán đoán, quyết định, cũng như hiểu và nhận biết một cách đúng đắn các loại con người, sự việc và sự vật, thì Ngài mới có thể bình thường và từng chút một cung ứng mọi lẽ thật mà nhân loại cần, hầu cho nhân loại từng bước được Đức Chúa Trời chấp thuận và công nhận. Chỉ có như vậy, nhân loại mới có thể thoát ra khỏi đủ loại tâm tính bại hoại, không còn phản nghịch với Đức Chúa Trời, không còn sống dưới sự trói buộc của Sa-tan mà đối kháng với Đức Chúa Trời, thay vào đó, trong quá trình Đức Chúa Trời bày tỏ lẽ thật, nghĩa là trong quá trình Đức Chúa Trời làm công tác, họ có thể dần dần có sự thuận phục và kính sợ thực sự đối với Đức Chúa Trời. Vì vậy, bất kể xét từ phương diện nào, thì Đức Chúa Trời nhập thể cũng có ý nghĩa quá trọng đại đối với nhân loại!
Điều tiêu biểu đại diện cho Đức Chúa Trời nhập thể là nhân tính bình thường của Đức Chúa Trời nhập thể, và nhân tính bình thường này là điều không thể thiếu. Vì vậy, nếu ngươi có rất nhiều quan niệm về nhân tính bình thường của Đức Chúa Trời nhập thể, mãi không thể buông bỏ, còn thường xuyên đem Đức Chúa Trời nhập thể ra so sánh với Đức Chúa Trời trên trời, thì Ta nói cho mà nghe, con người ngươi quá thiếu nhân tính. Ngươi đã đạt được nhiều đến vậy từ nhân tính bình thường này, mà ngươi còn không biết ngươi đạt được những phương diện khác nhau này của lẽ thật như thế nào. Vậy chẳng phải là ngươi đui mù hay sao? Chẳng phải là ngươi không có lương tâm hay sao? (Thưa, phải.) Ngươi không có lương tâm, không hiểu chuyện. Còn có người nói: "Nếu Đức Chúa Trời không nhập thể để phán lời và làm công tác thì chúng ta đã được cứu rỗi từ lâu, đã được cất lên trước mặt Đức Chúa Trời từ lâu rồi". Chẳng phải đây là nói lời xằng bậy sao? Nói như vậy chẳng phải là quá hoang đường sao? (Thưa, phải.) Nếu không có bấy nhiêu năm Đức Chúa Trời nhập thể phán lời và công tác thì các ngươi còn có thể sống đến hôm nay sao? Cho nên, nếu ngươi đã đi theo Đức Chúa Trời nhập thể nhiều năm đến vậy, cũng đã nghe Đức Chúa Trời nhập thể thông công lẽ thật nhiều năm đến vậy, rồi ngươi đã cảm nhận và lĩnh hội sâu sắc rằng: "Công tác mà Đức Chúa Trời nhập thể làm đem lại cho mình ích lợi quá lớn! Đúng là mình được ích lợi vô cùng!", nếu ngươi thực sự có thể lĩnh hội được như vậy, thì nó cho thấy điều gì? Cho thấy ngươi là người có lương tâm, và sự lĩnh hội của ngươi là đúng. Người không có lương tâm và lý trí thì đến nay vẫn không lĩnh hội được, như vậy thì nguy hiểm rồi. Đến nay vẫn không lĩnh hội được, thì 20 năm nữa có thể lĩnh hội được sao? Chắc chắn là không thể. Quá rõ ràng là người như vậy không có lương tâm. Chẳng những họ không lĩnh hội được rằng lời phán và công tác của Đức Chúa Trời nhập thể đều là sự cứu rỗi dành con người, mà họ còn nói: "Tin Đức Chúa Trời bấy nhiêu năm, tôi đã đạt được gì chứ?". Đức Chúa Trời đã bày tỏ nhiều lẽ thật đến vậy, ngươi vẫn chưa đạt được sao? Ngươi không cảm thấy lẽ thật là điều quý báu nhất sao? Nếu ngươi không cảm thấy lẽ thật là điều quý báu nhất thì ngươi không phải là người thực sự tin, ngươi chỉ là kẻ ăn bám. Nếu ngươi không thể nghiệm và lĩnh hội được rằng mình đã đạt được lẽ thật thì ngươi là người không có lương tâm. Người không có lương tâm mà là con người sao? (Thưa, không phải.) Người không có lương tâm thì không phải là con người. Ngươi thấy đấy, động vật sống bao nhiêu năm cũng không biết có Đấng Tạo Hóa tồn tại. Ma quỷ sống hàng vạn năm, hàng trăm triệu năm cũng không thừa nhận sự tồn tại của Đức Chúa Trời. Động vật không biết sự tồn tại của Đức Chúa Trời thì có bị định tội không? (Thưa, không bị định tội.) Chó sống mười mấy năm, ngựa sống hai ba chục năm, voi có khi sống đến hơn trăm năm. Chúng không biết sự tồn tại của Đấng Tạo Hóa, nhưng cũng không bị định tội, bởi vì chúng mang thuộc tính động vật. Đức Chúa Trời không có yêu cầu đối với chúng, cũng không cứu rỗi chúng. Nhưng nhân loại thì khác. Đức Chúa Trời có kỳ vọng đối với con người, và đặt hy vọng nơi con người. Ngươi đã trải nghiệm công tác của Đức Chúa Trời nhập thể nhiều năm đến vậy, thì đáng lẽ ngươi phải có thể lĩnh hội được điều này, không phải sao? Vậy con người nên đối đãi với Đức Chúa Trời nhập thể thế nào? Vẫn là câu đó: Bất kể Đức Chúa Trời nhập thể trong mắt ngươi không phù hợp với quan niệm và tưởng tượng của ngươi đến đâu, không hợp với ý của ngươi đến đâu, thậm chí còn không cao bằng ngươi, không đẹp bằng ngươi, không có tri thức và văn hóa cao bằng ngươi, không có địa vị xã hội cao bằng ngươi, nhưng nếu ngươi có thể lĩnh hội được rằng những lẽ thật Ngài đã thông công trong bấy nhiêu năm qua đã cho ngươi thu hoạch được rất nhiều và cho ngươi đạt được lẽ thật, thì ngươi nên tiếp nhận sự thật rằng Ngài là Đức Chúa Trời và Ngài có thân phận của Đức Chúa Trời. Nếu thực sự có lý tính thì ngươi không nên lúc nào cũng đem Đức Chúa Trời nhập thể ra so sánh với Đức Chúa Trời trên trời. Ngươi so sánh như vậy thì có ý nghĩa gì chứ? Cứ luôn so sánh như vậy chỉ khiến bản thân ngươi rơi vào thế khó xử, Đức Chúa Trời cũng chán ghét ngươi, và cuối cùng ngươi chẳng đạt được gì. Cứ luôn so sánh như vậy sẽ ảnh hưởng đến việc ngươi đạt được lẽ thật, ảnh hưởng đến việc ngươi được cứu rỗi. Chính vì những lẽ thật mà Đức Chúa Trời nhập thể bày tỏ có thể làm cho ngươi được cứu rỗi, nên ngươi đừng tiếp tục đem Đức Chúa Trời nhập thể ra so sánh với Đức Chúa Trời trên trời nữa. Ngươi nên tiếp nhận xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể. Bây giờ tiếp nhận vẫn chưa muộn. Có người nói: "Vậy thế nào gọi là tiếp nhận? Chẳng phải tôi vẫn luôn nghe Ngài giảng đạo sao? Như vậy chẳng phải là tiếp nhận rồi à?". Nghe giảng đạo không đồng nghĩa với tiếp nhận. Vậy rốt cuộc tiếp nhận là gì? Các ngươi hãy tự suy ngẫm xem, có những biểu hiện nào là chưa tiếp nhận Ngài, và có những biểu hiện nào là đã tiếp nhận Ngài. Các ngươi hãy tiếp tục suy ngẫm và thông công với nhau về chuyện này. Hôm nay chúng ta thông công đến đây thôi, tạm biệt!
Ngày 27 tháng 7 năm 2024