Cách mưu cầu lẽ thật (11)

Phần bổ sung: Con đường người ta đi quyết địnhcuối cùng họ thu hoạch được gì

Mục đích của việc tin Đức Chúa Trời là gì? Là để đạt được ân điển và phúc lành sao? Là để sống một cuộc đời không trống rỗng và thoát khỏi những thú vui thấp kém sao? (Thưa, không phải.) Vậy thì là vì điều gì? (Thưa, để đạt được lẽ thật.) Để đạt được lẽ thật, để đạt được sự sống. Vậy mọi việc con người làm mỗi ngày chẳng phải là để hướng đến mục tiêu này sao? Mỗi ngày ngươi bỏ ra thời gian và sức lực để làm làm bổn phận chẳng phải là vì mục tiêu này sao? Người ta tin Đức Chúa Trời mà không có mục tiêu rõ ràng là để đạt được lẽ thật. Trong lòng họ mù mờ về phương diện khải tượng này và không biết tin Đức Chúa Trời là vì điều gì, dường như trong lòng họ chỉ biết rằng tin là để được phúc, nhưng làm thế nào mới có thể được phúc đây? Họ chẳng biết rằng muốn được phúc thì buộc phải hiểu lẽ thật, thực hành lẽ thật và mưu cầu lẽ thật. Vậy họ có phải là người mưu cầu lẽ thật không? Họ cũng không chắc chắn được. Họ cảm thấy: “Đây đâu phải là vấn đề lớn. Mình thật lòng tin Đức Chúa Trời thì Ngài sẽ không vứt bỏ mình. Ngay cả khi người ta bảo mình không phải là người mưu cầu lẽ thật, thì cũng chẳng sao cả”. Có lúc họ thấy người khác có lời chứng trải nghiệm, mà bản thân họ chẳng nói ra được vậy, thì trong lòng họ cũng khó chịu, có chút sốt ruột và bực bội, nhưng thường thì họ cảm thấy đây cũng chẳng phải là vấn đề gì lớn. Cứ vậy mà thoáng cái đã qua năm năm, thoáng cái đã qua mười năm, có người giờ đã ba mươi, bốn mươi tuổi, có người đã hơn năm mươi tuổi rồi, mà vẫn không kết hôn và liên tục làm bổn phận. Đến bây giờ họ đã đạt được bao nhiêu lẽ thật rồi? Họ đã có sự sống hay chưa? Bản thân họ cũng không chắc chắn, họ cảm thấy: “Có vẻ mình hiểu không ít lẽ thật, biết giảng không ít bài, hẳn là mình có sự sống rồi nhỉ?”. Bất kể là lúc nhóm họp hay lúc gặp vấn đề trong khi làm bổn phận, họ đều có thể nói một bài tràng giang đại hải, như thể lẽ thật nào họ cũng hiểu, nhưng mà vấn đề thực tế nào họ cũng không giải quyết được. Bất kể họ giảng đạo lý hoành tráng đến đâu, thì khi làm bổn phận họ vẫn không thể hành động theo nguyên tắc lẽ thật, thậm chí trong rất nhiều chuyện, họ vẫn cứ theo ý riêng và chẳng hiểu chút nguyên tắc lẽ thật nào. Thế là trong lòng họ thấy khó hiểu: “Rốt cuộc mình có phải là người hiểu lẽ thật không vậy?”. Họ không biết bản thân có phải là người hiểu lẽ thật hay không. Vậy họ có phải là người mưu cầu và thực hành lẽ thật hay không? Bản thân họ cũng không chắc chắn. Vậy rốt cuộc họ đã đạt được lẽ thật chưa? Đối với chuyện này, họ vẫn còn đang nghi ngờ. Vậy rốt cuộc họ có sự sống không? Rốt cuộc sự sống là gì? Có sự sống thì người ta có cảm giác gì? Có sự sống thì cuộc sống của người ta sẽ nảy sinh sự biến đổi nào? Tư tưởng của người ta sẽ biến đổi như thế nào? Nhân tính của người ta sẽ có sự biến đổi nào? Đối với những chuyện này, họ đều không rõ. Bất kể đã tin Đức Chúa Trời bao nhiêu năm, lúc nói đến phương diện lẽ thật nào đó thì họ cũng có thể giảng một vài câu chữ và đạo lý, nhưng đến lúc liên quan tới nguyên tắc của việc thực hành lẽ thật thì họ lại không nói rõ ràng được. Nhất là có những người sau khi bị tỉa sửa vì hành động trái nguyên tắc, thì chẳng những tiêu cực, mà còn thấy bối rối và hoài nghi bản thân, nói rằng: “Rốt cuộc mình đã đạt được sự sống chưa vậy? Lẽ thật có địa vị trong lòng mình không? Lẽ thật đã trở thành sự sống của mình chưa? Rốt cuộc mình còn có thể được cứu rỗi không vậy?”. Đối với những chuyện liên quan đến lẽ thật này thì họ đều hồ đồ. Nhưng đối với những chuyện bên ngoài không liên quan đến lẽ thật thì họ lại ghi nhớ rất rõ. Chẳng hạn như chuyện họ đã tin Đức Chúa Trời được bao nhiêu năm, bao nhiêu tháng lẻ mấy ngày, chuyện họ từng làm cấp lãnh đạo và người làm công nào, đã từng làm qua những bổn phận nào, đã làm bao nhiêu công tác của hội thánh, đã đi đến bao nhiêu nơi, đã đưa về được bao nhiêu người khi rao truyền phúc âm, đã chăm tưới cho hội thánh mấy nơi, đã chịu khổ bao nhiêu để dâng mình cho Đức Chúa Trời, đã dâng hiến bao nhiêu tiền, đã quyên tặng thứ gì cho các anh chị em, đã bị bắt giữ và cầm tù bao lâu, đã bị đánh đập nhiều thế nào, đã chịu bao nhiêu sự tra tấn, đã đứng vững làm chứng cho Đức Chúa Trời mấy lần, v.v.. Những chuyện bên ngoài này thì họ ghi nhớ rõ trong lòng, đầu óc họ thường nghĩ đến chúng, và trong lòng họ đánh dấu lại mọi chuyện đó, mỗi một chuyện đều được đánh dấu rõ ràng, mãi mãi không quên. Nhưng đối với chuyện bản thân hiểu bao nhiêu lẽ thật, có bao nhiêu thực tế, thì họ đều tính bừa cả. Bản thân hiểu những lẽ thật nào, thực hành được những lẽ thật nào, gặp chuyện thì có thể giữ vững lẽ thật và hành động theo nguyên tắc hay không, những chuyện này thì trong lòng họ chẳng bao giờ rõ ràng, cứ tính bừa thôi. Về chuyện mình đã thực sự nhận biết được tâm tính bại hoại nào và có thoát khỏi nó chưa, còn có những tâm tính bại hoại nào mình thường xuyên bộc lộ mà chưa thoát khỏi được, thì họ cũng chẳng rõ ràng, cứ tính bừa thôi. Về chuyện mình tin Đức Chúa Trời bấy nhiêu năm thì đã thực hành được lẽ thật nào và chưa thực hành được lẽ thật nào, đã có sự tiến bộ về phương diện lẽ thật nào, tiến bộ bao nhiêu, họ đều tính bừa cả. Về chuyện rốt cuộc bản thân sống thể hiện ra nhân tính như thế nào, có lương tâm và lý trí không, có sống thể hiện ra nhân tính bình thường không, họ cũng tính bừa cả. Về chuyện trong những bổn phận mình làm, có bao nhiêu bổn phận mình làm một cách thật lòng và tận tụy, có bao nhiêu bổn phận mình cố ý qua loa chiếu lệ, có bao nhiêu bổn phận mình làm đạt tiêu chuẩn và có bao nhiêu bổn phận mình vẫn chưa làm đạt tiêu chuẩn, trong những bổn phận nào mình có thể hành động theo nguyên tắc đến mức thỏa mãn Đức Chúa Trời và phù hợp với tâm ý của Đức Chúa Trời, trong những bổn phận nào mình vẫn chưa nắm vững được nguyên tắc lẽ thật và chưa đạt đến việc làm thỏa mãn Đức Chúa Trời, thì họ cũng đều tính bừa cả. Về chuyện rốt cuộc mình có thể thỏa mãn yêu cầu của Đức Chúa Trời ở phương diện nào, có thể thuận phục Đức Chúa Trời chưa, thuận phục Đức Chúa Trời đến mức độ nào, còn phương diện nào mình vẫn chưa thể thuận phục Đức Chúa Trời, tại sao lại như vậy, và sau đó mình nên bước vào như thế nào, đối với những chuyện này họ đều không có kế hoạch, cũng chẳng có suy nghĩ gì, đương nhiên càng không có lộ trình rõ ràng gì. Về chuyện trong bấy nhiêu năm tin Đức Chúa Trời, bản thân đã làm bao nhiêu việc bảo vệ lợi ích của nhà Đức Chúa Trời, đã chuẩn bị bao nhiêu việc lành, thì họ không biết. Về chuyện bản thân đã làm bao nhiêu việc ác, đã làm bao nhiêu việc gây nhiễu loạn và gián đoạn, họ cũng không biết, theo họ nhớ thì hình như họ cũng có làm vài việc như vậy, nhưng họ chẳng biết sau khi hành ác thì họ có hối cải hay không. Mặc dù có lúc họ cũng có thể ý thức được mình đã hành ác, rồi cảm thấy khó chịu, cũng cầu nguyện và nhận tội với Đức Chúa Trời, vậy họ đã được Đức Chúa Trời tha thứ hay chưa? Trong lòng họ có áy náy hay không? Những chuyện này, họ cũng không biết. Họ nghĩ bụng: “Có thấy áy náy hay không thì sao chứ? Đằng nào bây giờ mình cũng sống rất thư thái, đằng nào mình vẫn đang làm bổn phận”. Vậy trong khi làm bổn phận, họ đã làm được bao nhiêu việc lành? Chuyện này họ cũng không nói rõ được, nhưng lại cảm thấy mình có làm chút việc lành, gần đây đã đưa về được hai người khi rao truyền phúc âm. Họ có chút việc lành này, nhưng họ hành động không có nguyên tắc, còn có thể hành động theo ý riêng và tùy ý làm càn, vậy có bị tính là việc ác không? Chuyện này họ cũng không rõ. Họ cảm thấy vì hội thánh không xử lý mình, lãnh đạo cũng không tỉa sửa mình hay truy cứu về chuyện đó, nên đó không phải là việc ác, còn nếu bị truy cứu thì có lẽ đó chính là việc ác. Họ chẳng biết mình đã chuẩn bị được bao nhiêu việc lành. Những việc họ đang làm là việc lành hay việc ác, có bao nhiêu việc là việc lành, có bao nhiêu việc là việc ác, có bao nhiêu việc phù hợp với nguyên tắc lẽ thật, có bao nhiêu việc trái với sự sắp xếp công tác và trái với nguyên tắc lẽ thật, những chuyện này, họ đều không biết. Họ chẳng bao giờ ghi lại những chuyện này. Đằng nào thì ngày ngày họ cứ ăn ngủ đúng giờ, đến giờ thì thức dậy để tĩnh nguyện hoặc làm công tác, mỗi ngày họ đều tiếp tục với trạng thái công tác của hôm trước và các bước công tác của hôm trước, làm những việc họ luôn làm. Đối với những việc mưu cầu lẽ thật, bước vào thực tế lẽ thật, thoát khỏi tâm tính bại hoại và đạt được sự sống, thì họ chẳng bao giờ nhận biết và tổng kết về chúng một cách cụ thể và mang tính hệ thống. Do đó, bất kỳ chuyện gì liên quan đến việc mưu cầu lẽ thật hoặc liên quan đến lối vào sự sống, thì họ đều tính bừa cả. Ngươi nói xem, người mà ngày nào cũng sống theo lối sống này và sống trong tình trạng này, thì chẳng phải là mơ mơ màng màng sao? (Thưa, phải.) Mơ mơ màng màng là nói kiểu văn vẻ, cách nói thông tục là “tạm bợ qua ngày”. Trạng thái sống và sinh tồn “tạm bợ qua ngày” này có tốt không? (Thưa, không tốt.) Bề ngoài thì họ chẳng có hành vi hay biểu hiện nào chống đối Đức Chúa Trời một cách rõ ràng, nhưng về những chuyện mưu cầu lẽ thật và lối vào sự sống thì họ cứ hồ đồ, chẳng nghiêm túc. Dạng trạng thái này chính là mơ mơ màng màng. Điều này có thể cho thấy rất rõ vấn đề của người ta, và có thể cho thấy rất rõ con đường người ta đi khi tin Đức Chúa Trời.

Đối với những chuyện mưu cầu lẽ thật và lối vào sự sống trong quá trình tin Đức Chúa Trời, bất kể người ta có thái độ gì, có ý nguyện chủ quan hay biểu hiện gì, thì trong mắt Đức Chúa Trời, trạng thái hiện tại của một người có thể cho thấy họ đi con đường nào. Có những người từ khi bắt đầu tin Đức Chúa Trời đã không yêu thích lẽ thật, được thông công lẽ thật thế nào, họ cũng không tiếp nhận. Con đường họ đi chính là con đường hướng thẳng đến cái chết và xuống địa ngục. Có những người khi mới tin Đức Chúa Trời thì chẳng hiểu gì về yêu cầu của Đức Chúa Trời, mà chỉ mưu cầu chuyện được phúc và vào thiên quốc. Tuy nhiên, thông qua việc không ngừng ăn uống lời Đức Chúa Trời, họ đã hiểu được lẽ thật, còn có thể mưu cầu lẽ thật, có thể chịu khổ và trả giá để đạt được lẽ thật. Cuối cùng, có thể thấy rằng con đường họ đi là con đường dẫn đến sự sáng và thiên quốc. Trong chuyện lối vào sự sống, đa số mọi người đều không quá rõ ràng về mục tiêu và ở trong trạng thái hồ đồ như nhau. Nhưng xét từ biểu hiện của những người này, thì có người chẳng tiếp nhận lẽ thật chút nào, làm bổn phận thì qua loa chiếu lệ một cách nhất quán, tin Đức Chúa Trời nhiều năm mà chẳng có chút biến đổi gì, con đường họ đi là con đường dẫn đến sự diệt vong và địa ngục. Trong khi đó, có những người có thể tiếp nhận lẽ thật, khi làm bổn phận cũng có thể tiếp nhận sự tỉa sửa và có được chút sự thuận phục thực sự, dần dà đạt đến mức làm bổn phận đạt tiêu chuẩn, vậy thì con đường họ đi chính là con đường dẫn đến sự sáng và thiên quốc. Những người không tiếp nhận lẽ thật chút nào này, cũng chính là những người thẳng hướng trên con đường đến sự diệt vong, khi làm bổn phận thì không ngừng hành ác, thường xuyên làm ra những việc trái với lẽ thật và khiến Đức Chúa Trời ghê tởm, quấy nhiễu đời sống hội thánh và công tác hội thánh. Nơi những người này có một vài biểu hiện “đặc thù”, chính là từ khi bắt đầu tin Đức Chúa Trời cho đến hiện tại, họ chưa bao giờ hối cải. Khi làm bổn phận họ thường xuyên qua loa chiếu lệ, giở trò trốn việc, chọn việc nhẹ và tránh việc nặng, không bảo vệ lợi ích nhà Đức Chúa Trời, đặc biệt ích kỷ và đê tiện, chỉ quan tâm đến sự hưởng thụ của bản thân. Đây cũng là một đặc trưng của những người này. Có một số người còn ác hơn nữa, trong quá trình làm bổn phận thì làm xằng làm bậy, tùy ý làm càn, chẳng bao giờ thực hành hay thực hiện theo sự sắp xếp công tác. Còn có những người khi làm bổn phận thì thường xuyên tranh đoạt địa vị, tôn cao và làm chứng cho bản thân, lôi kéo người khác để gây dựng vương quốc độc lập. Còn có những người khi làm bổn phận thì ăn trộm của lễ, phung phí của lễ và bán đứng lợi ích của nhà Đức Chúa Trời. Những biểu hiện này là tích cực hay tiêu cực? (Thưa, tiêu cực.) Những người này từ khi bắt đầu tin Đức Chúa Trời đã có biểu hiện như vậy rồi. Nhà Đức Chúa Trời đã liên tục cho họ cơ hội, người có chút tố chất thì được sắp xếp làm bổn phận người phụ trách, sau một thời gian, họ thể hiện không tốt, nên bị sắp xếp làm bổn phận đơn lẻ, nhưng khi làm bổn phận đơn lẻ, họ vẫn qua loa chiếu lệ, làm xằng làm bậy, tùy ý làm càn, gây gián đoạn và nhiễu loạn, có người còn tranh đoạt địa vị, tranh đoạt quyền thế, không bảo vệ lợi ích nhà Đức Chúa Trời, thậm chí có cơ hội thì còn có thể ăn trộm và phung phí của lễ. Bất kể đã tin Đức Chúa Trời bao nhiêu năm, những biểu hiện này nơi họ chẳng giảm đi chút nào, cũng chẳng biến đổi chút nào. Cuối cùng, thấy được điều gì nơi họ nào? Thấy những người này làm bổn phận thì qua loa chiếu lệ, giở trò trốn việc, chọn việc nhẹ và tránh việc nặng, thậm chí là tham hưởng sự an nhàn xác thịt và vô trách nhiệm một cách nhất quán. Biểu hiện của họ không phải chỉ thỉnh thoảng và nhất thời, mà là biểu hiện mang tính nhất quán, như vậy thì phiền phức cho họ rồi. Họ làm bổn phận thì qua loa chiếu lệ, làm xằng làm bậy, gây gián đoạn và nhiễu loạn một cách nhất quán, ai nói cũng không chịu sửa, nghe bao nhiêu bài giảng cũng chẳng hối cải hay có lòng hối hận. Còn có những người tranh đoạt địa vị một cách nhất quán, bán đứng lợi ích nhà Đức Chúa Trời một cách nhất quán, và chẳng bao giờ bảo vệ lợi ích nhà Đức Chúa Trời. Từ “nhất quán” này có dễ hiểu không? Đối với bất kỳ người nào qua loa chiếu lệ và tùy ý làm càn, hoặc là có vài biểu hiện không tốt trong khi làm bổn phận, nhà Đức Chúa Trời đều cho họ nhiều cơ hội để hối cải, đều không vì biểu hiện nhất thời của họ mà đuổi họ đi và không cho làm bổn phận nữa. Thay vào đó, nhà Đức Chúa Trời năm lần bảy lượt khuyên giải họ, thông công về lẽ thật cho họ và giúp đỡ họ bằng tình yêu thương. Đức Thánh Linh cũng làm cho họ cảm động, soi sáng và quở trách họ một cách vượt mức thông thường. Con người đã làm công tác trên họ, Đức Thánh Linh cũng làm công tác trên họ, nhưng loại người này đơn giản là trong lòng cương ngạnh và chán ghét lẽ thật. Họ chẳng bao giờ tiếp nhận lẽ thật, chẳng bao giờ tiếp nhận sự giúp đỡ, phê bình, theo sát hoặc giám sát của anh chị em, càng không tiếp nhận sự khai sáng và sửa phạt của Đức Thánh Linh. Tin Đức Chúa Trời ba năm, năm năm thì họ như vậy, mà tin Đức Chúa Trời mười năm, hai mươi năm, họ vẫn y hệt như vậy. Mặc dù hiện tại trông họ lớn tuổi rồi, có chút trưởng thành và từng trải rồi, nhưng khi làm bổn phận, họ vẫn có tính đó, qua loa chiếu lệ và làm xằng làm bậy một cách nhất quán. Hai mươi năm qua, họ liên tục như vậy, chẳng có biến đổi gì. Họ nói năng thì miệng toàn là lời nói dối, chẳng bao giờ nói thật. Đến bây giờ, họ vẫn vậy, dù họ nói bao nhiêu lời, người ta cũng chẳng biết được lời nào là thật, lời nào là giả, chẳng có câu nào là nói thật. Mặc dù trong hai mươi năm đó, khi làm bổn phận họ đã chịu khổ đôi chút, khi rao truyền phúc âm họ đã đưa về được một vài người, nhưng tâm tính sự sống của họ chẳng có chút biến đổi nào. Họ vẫn đặc biệt lươn lẹo và giả dối, họ chính là tay cáo già, chẳng nói thật một câu nào. Điều này đủ để chứng tỏ người này không phải là người yêu thích lẽ thật, ngay cả khi hiểu được chút lẽ thật, họ cũng không đưa vào thực hành. Đây là loại người gì? Là người qua loa chiếu lệ một cách nhất quán, là người làm xằng làm bậy và tùy ý làm càn một cách nhất quán, là người gây gián đoạn và nhiễu loạn, tranh đoạt quyền thế một cách nhất quán, là người giở thủ đoạn, nói dối và lừa bịp một cách nhất quán. Có thể nói người này là kẻ già đời xảo quyệt, là cáo già, kẻ lõi đời, là lão ma quỷ, lão Sa-tan. Mọi hành vi của họ đều phải có thêm định ngữ “nhất quán”. Thêm cái “nhất quán” này không phải là có thiên kiến về họ, mà chuyện này do mọi hành động và hành vi của họ gây ra. Trong mắt mọi người, thì người này không phải mới lần một lần hai làm như vậy, mà đã tái phạm nhiều lần rồi. Cảnh sát các nước đối xử thế nào với người tái phạm nhiều lần? Án của người tái phạm nhiều lần đều được lưu trữ, một khi xảy ra vụ án nào đó thì những người tái phạm nhiều lần này bị đưa vào diện nghi vấn hàng đầu, cảnh sát sẽ tìm hiểu vụ án và triển khai điều tra bắt đầu từ họ trước. Vậy những người làm bổn phận qua loa chiếu lệ trong nhà Đức Chúa Trời thì sao? Những biểu hiện qua loa chiếu lệ và làm xằng làm bậy của họ không phải là thỉnh thoảng xảy ra một hai lần, cũng không phải chỉ xảy ra trong tình huống đặc biệt. Mà những tình trạng và biểu hiện này là trạng thái bình thường của họ khi làm bổn phận. Xét từ trạng thái bình thường của họ trong bổn phận thì có thể thấy được họ có thái độ như thế nào đối với bổn phận. Vậy thái độ của họ đối với bổn phận là gì? (Thưa, là chán ghét và chống đối.) Loại người này chán ghét và chống đối lẽ thật, chẳng bao giờ tiếp nhận lẽ thật. Từ sâu trong lòng, họ xem thường lẽ thật và những điều tích cực. Được ai thông công về lẽ thật, họ cũng không nghe. Được cho bao nhiêu cơ hội để hối cải, họ cũng không trân quý và không xem ra gì. Muốn làm thế nào thì họ làm thế ấy, làm thế nào thấy vui thì họ làm thế ấy. Đối với việc được Đức Thánh Linh làm cho cảm động, họ chẳng có cảm giác gì, cũng chẳng thiết tha gì. Người ta khuyên bảo và giúp đỡ, thì họ thấy chán ghét, chẳng thèm để mắt đến. Người ta mà tỉa sửa họ thì họ sẽ bực, sẽ giận, sẽ nổi nóng với người ta và thấy có ác cảm trong lòng. Đối với biểu hiện của mỗi một người trong mỗi một thời kỳ, hội thánh đều có đánh giá, và đánh giá này rất quan trọng đối với kết cục của người ta. Nếu khi xác định tính chất mà biểu hiện hành ác của người ta bị kèm thêm hai chữ “nhất quán”, thì phiền phức cho họ rồi. Chuyện rốt cuộc họ đi con đường như thế nào đã quá rõ ràng rồi. Vậy rốt cuộc họ đi con đường như thế nào? Là con đường dẫn đến sự diệt vong hay con đường dẫn đến sự cứu rỗi? (Thưa, con đường dẫn đến sự diệt vong.) Tại sao lại có kết quả như vậy? Như vậy là xét đoán những người này sao? Như vậy là không phù hợp với tình hình thực tế sao? (Thưa, không phải.) Vậy có phải vẫn nên cho họ cơ hội để hối cải không? (Thưa, không nên.) Có người nói: “Không thể thẳng tay loại bỏ họ, biết đâu có ngày họ hối cải thì sao?”. Dân thành Ni-ni-vê hành ác quá nhiều, việc ác của họ đã thấu đến tai Đức Chúa Trời. Khi muốn hủy diệt họ, Đức Chúa Trời đã sai Giô-na báo tin trước cho họ, bảo họ rằng bốn mươi ngày nữa, thành Ni-ni-vê sẽ bị hủy diệt. Khi nghe vậy thì dân thành Ni-ni-vê có biểu hiện gì? Trong bốn mươi ngày đó, họ mặc vải thô và rắc tro mà hối cải với Đức Chúa Trời. Nhưng hiện nay, những người có biểu hiện xấu nhất quán khi làm bổn phận này đã được cho mấy lần bốn mươi ngày để hối cải rồi? Họ có hối cải không? Họ có ý muốn hối cải không? Họ có khuynh hướng hối cải không? (Thưa, không có.) Mười, hai mươi năm trước, biểu hiện của họ là hành ác nhất quán, vậy trong mười, hai mươi năm năm sau, họ có thể có sự thay đổi không? Có thể ngừng hành ác không? Có lẽ đây là chuyện chưa biết được, nhưng xét từ đủ loại biểu hiện của những người này trong mười, hai mươi năm qua, thì đủ để cho thấy hành vi và biểu hiện của họ đều trái với lẽ thật, chống đối Đức Chúa Trời và đối lập với Đức Chúa Trời. Điều này chứng tỏ rằng lòng họ chán ghét lẽ thật, thực chất bản tính của họ là tà ác, chẳng có thành phần yêu thích lẽ thật nào, rằng họ chẳng có nhân tính yêu thích và thực hành lẽ thật. Xét từ biểu hiện của họ trong mười, hai mươi năm qua, thì kết luận là vậy. Kết luận hiện thời đã là vậy, thì xét từ nhân tính và thực chất của họ, trong mười, hai mươi hoặc ba mươi năm sau, có ai trong số họ có thể thực sự hối cải và thay đổi không? Trong ba mươi người, liệu có thể có được một người không? Trong năm mươi người, liệu có thể có được một người không? Trong một trăm người, liệu có thể có được một người không? Nói cách khác thì trong mười, hai mươi năm sau, những người này đột nhiên có tri giác của lương tâm, có hứng thú với lẽ thật và những điều tích cực, có thể tiếp nhận lẽ thật và những điều tích cực, có thể nhận biết bản thân và thực sự hối cải, cảm thấy hối hận và mắc nợ về những việc ác mình đã làm trước đây, liệu có chuyện này hay không? Các ngươi quan sát thì thấy tỷ lệ này được chừng nào? Trong số một ngàn người thì có được một người không? (Thưa, con cảm thấy trong cả ngàn người cũng chẳng có một ai.) Ngươi dựa vào đâu mà nói vậy? (Thưa, dựa vào chuyện thái độ nhất quán của họ trong mười, hai mươi năm tin Đức Chúa Trời đều là có ác cảm, chống đối, không tiếp nhận lẽ thật chút nào, cũng không có chút biểu hiện hối cải nào. Điều này chứng tỏ về sau họ cũng sẽ không có sự hối cải thực sự.) Nói vậy có chính xác không? (Thưa, chính xác.) Có người nói: “Chúng ta nên khoan dung và bao dung với người ta. Mười, hai mươi năm qua, họ không hối cải là vì còn trẻ tuổi và chưa hiểu chuyện, hoặc vì điều kiện gia đình tốt nên họ được nuông chiều sinh hư, hoặc vì họ có địa vị xã hội cao, có chút sở trường. Chẳng phải vì có một số tình huống và hoàn cảnh đặc biệt nên họ mới như vậy sao? Mười, hai mươi năm tiếp theo, có khi họ sẽ thoát khỏi sự ảnh hưởng của môi trường gia đình và các nhân tố xấu, cũng có khả năng họ sẽ có sự biến đổi”. Chuyện này cũng khó nói lắm. Nhưng dựa trên những biểu hiện trước đây của những người này, những ai có định ngữ “nhất quán” kèm theo biểu hiện của mình thì đều gặp nguy hiểm lớn rồi. Bất kể trong một trăm hay một ngàn người thuộc loại này, cũng không thể nào có nổi một người thực sự hối cải. Nếu việc ác của họ vẫn chưa có việc nào bị gắn kèm định ngữ “nhất quán”, thì có khả năng họ còn có chút hy vọng. Chúng ta cứ xem biểu hiện của họ trong ba năm, năm năm tiếp theo sẽ thế nào. Nếu vì họ trẻ tuổi và chưa hiểu chuyện, hoặc chưa có nền tảng trong việc tin Đức Chúa Trời, hoặc vì tố chất họ kém, vì hoàn cảnh khách quan ảnh hưởng đến việc họ tiếp nhận và hiểu lẽ thật, nếu là vì những nguyên nhân khách quan này gây ra, thì biểu hiện hành ác của họ chỉ là nhất thời, vậy thì cần quan sát thêm. Nhưng đến tận bây giờ, những người hành ác không ngừng, nghĩa là những người mà biểu hiện của họ bị gắn kèm hai chữ “nhất quán”, vẫn chưa chuẩn bị đủ việc lành cho đích đến của mình. Thay vào đó, trong quá trình tin Đức Chúa Trời, họ hành ác chồng chất, chỉ là họ không thừa nhận mình là kẻ ác, còn lấy những cái khổ mình đã chịu, cái giá mình đã trả, và thâm niên tin Đức Chúa Trời nhiều năm của mình ra mà biện minh cho bản thân. Con đường mà những người này đi chẳng những bị phơi bày ra trước mặt họ, mà còn bị tỏ lộ trước mặt hết thảy mọi người. Những biểu hiện và sự bộc lộ của họ, những hành động và hành vi của họ, cùng thái độ của họ đối với bổn phận, thái độ của họ đối với lẽ thật và thái độ của họ đối với mọi điều tích cực, đã quá đủ để cho thấy thực chất của họ. Đương nhiên, thái độ của họ đối với bổn phận và thái độ của họ đối với lẽ thật cũng đã tỏ lộ con đường mà họ đi.

Người ta đi con đường như thế nào thì cuối cùng sẽ có thu hoạch như thế ấy. Nếu đi con đường dẫn đến sự diệt vong thì thu hoạch cuối cùng của người ta sẽ là mở toang cổng địa ngục và xuống địa ngục. Chuyện này chẳng liên quan đến bất kỳ ai khác, chẳng phải do người khác gây ra cho ngươi, mà là kết quả đến từ con đường ngươi đi. Có lẽ ngươi tin Đức Chúa Trời nhiều năm và đã vi phạm rất nhiều, từng vài lần đi chệch đường, từng làm vài việc lệch khỏi con đường đúng đắn, thậm chí có người còn từng làm những việc phản nghịch và chống đối Đức Chúa Trời. Mặc dù những biểu hiện đó không tốt, và bị định tội trong mắt Đức Chúa Trời, nhưng trong lúc bộc lộ tâm tính bại hoại, phản nghịch và chống đối Đức Chúa Trời, nếu ngươi có thể đồng thời phản tỉnh bản thân, có sự xoay chuyển thực sự, dùng lòng thành của mình, sự trả giá của mình, việc thực hành lẽ thật của mình, cùng thái độ tích cực và chính diện đối với lẽ thật của mình, để chủ động chuẩn bị nhiều việc lành, thì thái độ của Đức Chúa Trời đối với ngươi cũng sẽ thay đổi. Chẳng hạn như, khi kẻ địch lại Đấng Christ và kẻ ác gây nhiễu loạn, gián đoạn công tác của hội thánh và mê hoặc anh chị em, ngươi có thể kịp thời vạch trần việc ác của kẻ địch lại Đấng Christ và kẻ ác, ngăn chặn việc gây gián đoạn và nhiễu loạn của họ, bảo vệ anh chị em và bảo vệ lợi ích của nhà Đức Chúa Trời. Ngoài ra, trong quá trình làm bổn phận, có rất nhiều khó khăn và trở ngại không ngờ tới, ngươi đã bỏ ra thời gian, sức lực và thể lực của mình, hy sinh những giờ phút hưởng thụ xác thịt cá nhân, dốc hết sức lực để giải quyết những khó khăn và vấn đề đó. Dưới sự đốc thúc, giám sát và theo sát của ngươi, thông qua việc chịu khổ và trả giá của ngươi, công tác phúc âm có thể được triển khai và tiến hành một cách bình thường, thuận lợi. Hơn nữa, trong quá trình rao truyền phúc âm, ngươi đã đưa về được một số người có tố chất tốt và có năng lực lĩnh hội lẽ thật, ngươi đã thông công rõ ràng các lẽ thật cho họ và giúp họ bén rễ trên con đường thật, giúp họ có thể làm bổn phận trong hội thánh và trở thành những trợ thủ đắc lực trong hạng mục công tác nào đó. Hoặc ngươi đã đóng vai trò then chốt trong một công tác mang tính nghiệp vụ đặc biệt nào đó của nhà Đức Chúa Trời, dùng phương thức hoặc các bước làm việc hiệu quả để thúc đẩy tiến độ công tác và nâng cao kết quả công tác. Hoặc trong đời sống hội thánh, ngươi đã giúp đỡ một số anh chị em tiêu cực, yếu đuối, hay là đang hoang mang và không có con đường, giúp họ có con đường để đi, hiểu được tâm ý của Đức Chúa Trời và không hiểu lầm Đức Chúa Trời, có ý chí mưu cầu lẽ thật. Tốt hơn nữa, ngươi có thể khích lệ họ để họ sẵn lòng làm bổn phận và dâng mình cho Đức Chúa Trời. Hoặc trong một công tác nghiệp vụ nào đó, ngươi đảm đương vai trò không thể thiếu, cho dù việc đó có lẽ vừa khổ vừa mệt và làm cũng chẳng được ai biết đến, nhưng ngươi vẫn sẵn lòng làm một người công tác âm thầm phía sau hậu trường, trả giá để làm việc đó mà không đòi được thưởng gì, chỉ mong dâng lên lòng thành và sự trung thành của mình. Trong mắt Đức Chúa Trời, đủ mọi biểu hiện tích cực tương tự như vậy đều là những việc lành đáng được ghi nhớ. Ngược lại, khi gặp những chuyện đó, nếu ngươi chẳng những không làm tròn được bổn phận và trách nhiệm của mình mà còn làm kẻ khoanh tay đứng nhìn, đứng bên cạnh quan sát và lấy đó làm trò cười, bàng quan mặc kệ, làm ngơ như không thấy, không nghe gì. Việc có thể làm mà ngươi cũng không làm, ngay cả việc đưa ra một lời đề nghị mà ngươi cũng lười nói, chỉ sợ bản thân phải mệt, việc gì tránh được thì ngươi tránh, trốn được thì ngươi trốn, càng nhàn hạ càng tốt. Ngươi luôn cảm thấy tỉ mỉ và có trách nhiệm là chuyện không đáng, thấy phải lao tâm vì công tác thì quá phiền phức. Mặc dù những biểu hiện đó khác với những việc ác gây nhiễu loạn, gián đoạn công tác của hội thánh, và Đức Chúa Trời sẽ không đánh giá xấu ngươi, nhưng Ngài cũng sẽ không đánh giá tốt ngươi. Ta nói không đánh giá tốt ngươi nghĩa là gì? Nghĩa là trong những chuyện đó, ngươi chẳng chuẩn bị việc lành, chẳng làm những việc được Đức Chúa Trời ghi nhớ. Khi những chuyện đó xảy đến, ngươi đã bỏ lỡ cơ hội chuẩn bị việc lành. Ngươi quá ngu xuẩn, không đáng tin cậy, không đáng được đề bạt, không đáng được nâng cao, và không đáng để Đức Chúa Trời giao phó việc gì. So với Nô-ê và Áp-ra-ham thì ngươi khác biệt một trời một vực. Các ngươi nói xem, một người mà Đức Chúa Trời không dám giao phó bất kỳ việc gì thì chưa chắc cuối cùng đã phải xuống địa ngục, nhưng liệu họ có thể vào thiên quốc không? Về chuyện này, chỉ có thể nói là không biết được, chuyện này phải bị đặt một loạt dấu hỏi, quá đỗi không chắc chắn. Cái không chắc chắn này là dựa vào những biểu hiện nhất quán của họ. Nếu ngươi hỏi mỗi người rằng tin Đức Chúa Trời là vì điều gì, là muốn vào thiên quốc hay muốn xuống địa ngục, thì có người sẽ cười nhạo ngươi rằng câu hỏi đó quá ngu xuẩn: “Ai muốn xuống địa ngục và bị diệt vong chứ? Ai mà không muốn vào thiên quốc và được cứu rỗi chứ?”. Nhưng câu này thực sự cần phải hỏi, nó không hề ngu xuẩn. Có những người chưa từng phản tỉnh bản thân theo cách này. Hễ gặp chuyện là họ sợ phiền phức, sợ rước chuyện thị phi. Nhất là khi thấy kẻ ác gây nhiễu loạn và gián đoạn công tác của hội thánh, dân được Đức Chúa Trời chọn thì bị mê hoặc và lợi dụng, dẫn đến công tác của hội thánh không có cách nào được triển khai, trong hoàn cảnh đó mà họ chẳng ý thức được rằng Đức Chúa Trời đang dò xét con người, cũng chẳng ý thức được rằng đây chính là cơ hội để chuẩn bị việc lành. Thay vào đó, họ lại chọn làm người dễ dãi, từ bỏ nguyên tắc lẽ thật, và không phản tỉnh bản thân chút nào. Trách nhiệm của ngươi là gì? Nghĩa vụ của ngươi là gì? Việc Đức Chúa Trời giao phó cho ngươi là gì? Đức Chúa Trời đã phán nhiều lời như vậy và làm nhiều công tác như vậy, thì kỳ vọng của Ngài đối với ngươi là gì? Ngươi có thể đưa ra câu trả lời khiến Đức Chúa Trời hài lòng hay không? Ngươi đã chuẩn bị việc lành chưa? Đối với những chuyện này, ngươi phải thường xuyên phản tỉnh bản thân và làm sao để trong lòng mình hiểu rõ.

Ai cũng muốn được phúc, không ai muốn bị diệt vong và xuống địa ngục, nhưng rất nhiều người lại thân bất do kỷ mà hành ác hết lần này đến lần khác, lao nhanh trên con đường dẫn đến địa ngục. Có những người hết lần này đến lần khác phớt lờ cơ hội làm bổn phận mà nhà Đức Chúa Trời trao cho, phớt lờ khi được Đức Thánh Linh cảm thúc hoặc bị Ngài quở trách, cũng phớt lờ sự giúp đỡ và kỳ vọng của nhà Đức Chúa Trời. Họ nhất quyết phải qua loa chiếu lệ, làm xằng làm bậy và tùy ý làm càn, nhất quyết phải gây gián đoạn và nhiễu loạn công tác hội thánh, và không hề phản tỉnh bản thân. Họ chẳng phải là hạng người trơ trẽn sao? Ngươi cứ liên tục hành ác như vậy, đâu phải do người khác ép ngươi làm, rõ ràng đây là lựa chọn của cá nhân ngươi, là những việc cá nhân ngươi thích làm và vui vẻ làm. Nếu có người bảo rằng con đường mà ngươi đi là con đường chống đối Đức Chúa Trời, con đường dẫn đến địa ngục, thì ngươi còn khó chịu và tiêu cực. Ngươi tiêu cực gì chứ? Đây chẳng phải là tự ngươi chuốc lấy, tự làm tự chịu sao? Đây chẳng phải là đáng đời sao? Có người nói: “Tôi hành ác là thân bất do kỷ, lần nào tôi cũng muốn làm cho tốt, nhưng sau khi làm xong mới phát hiện hậu quả của việc mình làm không được tốt lắm”. Ngươi đã hành ác, đã gây ra sự gián đoạn và nhiễu loạn, đã gây tổn thất cho công tác hội thánh rồi. Ngay cả khi ngươi không bị truy cứu vì những vi phạm của mình, thì những vi phạm đó cũng đã để lại tai họa ngầm, sau này ngươi còn có thể tái phạm, như vậy thì rất nguy hiểm. Cũng giống như con đường người ta đã đi qua, hễ họ đi qua nơi nào thì tất sẽ để lại dấu vết nơi đó. Những vi phạm mà ngươi để lại, ngươi có nhận biết được không? Có hối hận không? Có cảm thấy mắc nợ và đau lòng không? Có khóc lóc rơi lệ không? Ngươi đã xoay chuyển chưa? Ngươi có thực sự căm ghét những việc ác của mình không? Ngươi đã buông bỏ cái ác trong tay mình và thực sự hối cải với Đức Chúa Trời chưa? Có người nói: “Con cũng ghét bản thân mình lắm, con đã âm thầm tự vả miệng mình không biết bao nhiêu lần, cũng đã quỳ trước mặt Đức Chúa Trời mà khóc lóc rơi lệ cầu nguyện rồi”. Những quá trình đó ngươi đều đã trải qua, nhưng Đức Chúa Trời đâu có nhìn những quá trình đó, mà Ngài nhìn biểu hiện của ngươi. Khi lại gặp cùng một sự việc, cùng một bổn phận như vậy, thì ngươi tiếp cận thế nào? Ngươi có lòng thành và lòng trung thành không? Có thể trả giá không? Có thể làm theo lời Đức Chúa Trời không? Biểu hiện xoay chuyển của ngươi là gì? Ngươi đã buông bỏ cái ác trong tay mình chưa? Những việc ác đã làm trước đây, giờ ngươi có còn tiếp tục làm nữa không? Ngươi có còn tiếp tục nói dối, tiếp tục tùy ý làm càn, tiếp tục làm trái sự sắp xếp công tác, làm trái nguyên tắc lẽ thật, tiếp tục hành động theo dã tâm và dục vọng của mình, tiếp tục cấu kết với kẻ ác để gây gián đoạn và nhiễu loạn công tác hội thánh hay không? Nếu ngươi vẫn còn làm như vậy, thì chuyện ngươi khóc lóc rơi lệ và sự hối cải của ngươi đều là giả, đều chỉ là làm cho có lệ. Sự hối cải giả tạo và việc làm cho có lệ thì bị xác định tính chất là gì? (Thưa, là giả hình.) Bị xác định tính chất là giả hình sao? Nó bị xác định tính chất là sự lừa dối. Nói vậy có chính xác không? (Thưa, chính xác.) Trong mắt Đức Chúa Trời, kiểu khóc lóc rơi lệ như vậy, kiểu hối cải như vậy chính là sự lừa dối. Ví dụ, Đức Chúa Trời phán: “Ngươi hãy dâng cho Ta mười cân gạo lấy từ vụ mùa năm nay”. Có người không muốn dâng, muốn giữ lại để cho mình ăn, nên lấy mười cân vỏ trấu đặt lên bàn thờ. Đức Chúa Trời hỏi đó là gì, người đó nói là lúa. Đức Chúa Trời phán: “Chẳng phải Ta bảo ngươi dâng gạo sao?”. Người đó nói: “Lúa chính là gạo mà”. Đây có phải là lừa dối không? (Thưa, phải.) Đây chính là lừa dối trắng trợn. Sau khi hành ác, ngươi có thể nhận tội, luôn miệng nói rằng mình mắc nợ Đức Chúa Trời, còn khóc lóc rơi lệ, nhưng sau đó ngươi lại làm như không có chuyện gì xảy ra, trước đây ngươi làm thế nào thì bây giờ ngươi vẫn làm thế ấy. Đức Chúa Trời xác định tính chất dạng hành vi này của ngươi là lừa dối. Trong mắt Đức Chúa Trời, dạng hành vi lừa dối này tương đương với việc ác. Nếu ngươi thực sự có quyết tâm muốn thay đổi và hành động theo nguyên tắc lẽ thật, thì ngươi có thể không cần hạ quyết tâm, cũng không cần khóc lóc rơi lệ. Ngươi cứ làm đi đã, làm được rồi hẵng thề thốt và hứa hẹn với Đức Chúa Trời. Nếu không làm được thì tuyệt đối đừng thề hứa, bởi một khi ngươi thề thốt và hứa hẹn thì Đức Chúa Trời sẽ nghiêm túc với ngươi, Ngài sẽ đòi kết quả của việc ngươi đã thề thốt và hứa hẹn. Nếu ngươi không đưa ra được kết quả, thì trong mắt Đức Chúa Trời, ngươi đang lừa dối, mà lừa dối Đức Chúa Trời thì lại bị ghi vào sổ thêm một việc ác nữa. Vì vậy, nếu ngươi đã không thể thực sự hối cải, mà còn dùng lời hứa hẹn để lừa dối Đức Chúa Trời, thì con đường ngươi đi chính là con đường dẫn đến sự diệt vong. Mỗi một việc ác của ngươi đều là một lần đập vào cánh cửa địa ngục, biết đâu có lần nào đó ngươi sẽ mở tung được cánh cửa địa ngục, và giờ chết của ngươi sẽ đến. Có thể nói rằng, có những người từ khi tin Đức Chúa Trời cho đến nay, mọi việc làm và hành vi của họ chính là đang không ngừng tích lũy việc ác và đập vào cánh cửa địa ngục, đồng thời cũng là đang tích lũy cơn giận của Đức Chúa Trời và chờ đợi sự trừng phạt của Ngài giáng xuống. Nhưng có những người trong quá trình tin Đức Chúa Trời lại đang tiến bước theo hướng tích cực và đúng đắn, con đường họ đi là con đường dẫn đến thiên quốc. Trong thời gian này, mặc dù họ cũng có sự phản nghịch và có bộc lộ tâm tính bại hoại, đương nhiên cũng có những quan niệm và tưởng tượng đối với Đức Chúa Trời, có ý riêng khi làm bổn phận, nhưng trong khi bộc lộ những biểu hiện đó hoặc có những hành vi đó, họ cũng không ngừng tiếp nhận lẽ thật, không ngừng thoát khỏi và biến đổi tâm tính bại hoại của mình, có sự xoay chuyển thực sự, có biểu hiện và thực tế của việc tiếp nhận và thuận phục lẽ thật. Mặc dù những người này trước đây từng có nhiều vi phạm, cũng từng làm một số việc khiến Đức Chúa Trời ghê tởm và định tội, nhưng sau khi hiểu lẽ thật và xoay chuyển, họ dần dần thoát khỏi tâm tính bại hoại và không còn hành ác nữa. Họ dùng sự xoay chuyển của mình, dùng quyết tâm và ý chí chịu khổ, trả giá vì lẽ thật của mình, để làm cảm động Đức Chúa Trời. Đồng thời, những gì họ bỏ ra, những gì họ làm, những việc lành họ chuẩn bị, cũng từng chút một đạt được sự chấp thuận, khen ngợi và ghi nhớ của Đức Chúa Trời. Xét từ biểu hiện tổng thể của loại người này, dùng cách nói thông thường của các ngươi, thì người này về cơ bản là một người đúng đắn. Người đúng đắn này đi con đường dẫn đến thiên quốc, dẫn đến sự cứu rỗi, loại người này là người đang đi trên con đường được cứu rỗi. Đương nhiên, những biểu hiện của họ về cơ bản không phải kết quả có được nhờ người khác thúc đẩy, giám sát, quản lý hay tỉa sửa, cũng không phải nhờ sự quản chế từ các sắc lệnh hành chính của hội thánh, mà là do bản thân họ chủ động xoay chuyển. Trong lối vào sự sống của mình, họ có dự tính và kế hoạch cá nhân, cũng có ý chí tích cực và chủ động của riêng mình. Con đường mà họ đi là con đường đúng đắn. Với những biểu hiện tích cực và chính diện này, họ đang chuẩn bị việc lành cho đích đến của mình. Chính sự mưu cầu mang tính chủ quan cá nhân của họ quyết định con đường mà họ đi và quyết định thái độ của Đức Chúa Trời đối với họ. Cuối cùng, bởi sự mưu cầu mang tính chủ quan cá nhân của mình, họ có thể nhận được từ Đức Chúa Trời một phán quyết thích hợp và đích đến thích hợp.

Các ngươi nói xem, người ta làm những việc chính nghĩa trong tình hình và trạng thái như thế nào thì mới được xem là đang chuẩn bị việc lành? Ít nhất, người ta phải có thái độ tích cực và chủ động khi hành động, trong quá trình làm bổn phận thì phải có lòng trung thành, có thể hành động theo nguyên tắc lẽ thật và bảo vệ lợi ích của nhà Đức Chúa Trời. Tích cực và chủ động mới là điều mấu chốt. Nếu lúc nào cũng bị động thì có vấn đề rồi. Cứ như thể ngươi không phải là người của nhà Đức Chúa Trời, cũng không phải ngươi đang làm bổn phận, đó là do yêu cầu của ông chủ và để nhận tiền công mà ngươi không thể không làm, ngươi không tự nguyện làm. Cho dù làm một chút cũng là vì bất đắc dĩ, là làm một cách bị động. Nếu chuyện gì không liên quan đến lợi ích của mình thì ngươi hoàn toàn không làm, hoặc nếu không có ai giám sát thì ngươi cũng tuyệt đối không làm. Vậy cách làm tiêu cực và bị động này không phải là việc lành rồi. Cho nên mới nói, loại người này rất ngu xuẩn. Làm những việc tích cực và những việc nên làm thì họ đều rất bị động, những việc mình nghĩ tới được thì họ cũng không làm, những việc bản thân có thể làm được mà cần bỏ thời gian, sức lực thì họ cũng không làm, họ chỉ chờ đợi và quan sát, cho rằng có người khác làm là tốt nhất. Như vậy thì phiền phức rồi, rất khó để họ làm tốt bổn phận. Thứ nhất, đâu phải tố chất của ngươi không đủ, thứ hai, đâu phải ngươi không đủ sự từng trải, thứ ba, đâu phải ngươi không có điều kiện. Ngươi có tố chất để làm hạng mục công tác này, nếu ngươi bỏ thời gian và sức lực ra thì có thể làm được, nhưng ngươi lại không làm và không chuẩn bị được việc lành. Đây là một chuyện rất đáng tiếc. Tại sao nói là đáng tiếc? Bởi vì nhiều năm sau nhìn lại, ngươi sẽ hối hận. Ngươi muốn quay trở lại năm đó, tháng đó, ngày đó để làm việc đó, nhưng cảnh còn người mất, mọi chuyện đã qua rồi. Sẽ không có cùng một cơ hội như thế đến với ngươi lần thứ hai, cơ hội đó qua rồi là qua rồi, mất rồi là mất rồi. Nếu chỉ là mất đi những hưởng thụ xác thịt như ăn món ngon, mặc đồ đẹp, thì chẳng có gì đáng kể, bởi chúng là hư không, chẳng có ảnh hưởng gì đến lối vào sự sống hoặc chuyện chuẩn bị việc lành hay đích đến của ngươi. Nhưng nếu chuyện đó liên quan đến thái độ và sự đánh giá của Đức Chúa Trời đối với ngươi, thậm chí liên quan đến con đường ngươi đi và đích đến của ngươi, thì bỏ lỡ cơ hội lần này là chuyện vô cùng đáng tiếc. Bởi vì chuyện đó sẽ để lại một vết nhơ, để lại một sự tiếc nuối trên con đường sinh tồn tương lai của ngươi, cả đời này, ngươi cũng không có cơ hội thứ hai để bù đắp. Đây chẳng phải là chuyện đáng tiếc sao? Nếu tố chất của ngươi quá kém và ngươi không thể đảm nhiệm hạng mục công tác đó thì không đáng tiếc, nhà Đức Chúa Trời có thể sắp xếp người khác làm. Nhưng nếu ngươi có thể làm tốt hạng mục công tác đó mà lại không làm, thì quá đáng tiếc rồi! Đây là cơ hội Đức Chúa Trời ban cho ngươi, nhưng ngươi lại không xem ra gì, không nắm lấy cơ hội này, và để nó tuột khỏi tay, như vậy thì quá đáng tiếc! Đối với ngươi thì là đáng tiếc, còn đối với Đức Chúa Trời thì là thất vọng. Đức Chúa Trời đã ban cho ngươi tố chất đủ dùng, cũng ban cho ngươi những điều kiện vượt trội, để ngươi có thể nhìn thấu một số chuyện và có thể đảm nhiệm công tác này. Thế mà ngươi không có thái độ đúng đắn đối với bổn phận, không có lòng thành, càng không có sự tận tụy, ngươi không muốn dốc hết sức mình để làm tốt nó. Chuyện này khiến Đức Chúa Trời quá thất vọng rồi. Cho nên, nếu người ta lười biếng, đối với công tác được giao thì luôn cảm thấy phiền phức và không muốn làm, trong lòng còn oán trách rằng: “Tại sao lại bảo tôi làm mà không bảo người khác làm?”, thì đây là một ý nghĩ ngu xuẩn. Bổn phận đến với ngươi đâu phải là chuyện xui xẻo, mà là chuyện vinh dự, là sự nâng cao của Đức Chúa Trời. Ngươi nên vui vẻ tiếp nhận nó và làm bổn phận mình nên làm, làm vậy đâu có mệt đến chết được. Ngược lại, nếu ngươi làm tốt bổn phận, hiểu lẽ thật và giải quyết được vấn đề, thì trong lòng ngươi sẽ bình an yên ổn, và ngươi sẽ không làm Đức Chúa Trời thất vọng. Trước mặt Đức Chúa Trời, ngươi sẽ có đức tin và có thể ngẩng cao đầu mà làm người. Nếu ngươi không làm tốt bổn phận, lúc nào cũng qua loa chiếu lệ, thì đây chính là vi phạm, ngay cả khi không gây ra tổn thất gì, thì vi phạm này cũng sẽ để lại trong lòng ngươi một sự hối tiếc suốt đời. Vi phạm này giống như một hố đen không đáy, bất kỳ lúc nào nhớ lại, ngươi đều cảm thấy đau khổ và bất an, cảm thấy đau đớn thấu tâm can. Ngươi chẳng những không có chút bình an hay vui vẻ nào, mà ngược lại, loại đau khổ do sự hối hận và giày vò này sẽ theo ngươi suốt đời, không có cách nào xóa bỏ. Đây chẳng phải là sự hối tiếc đời đời sao? Vậy trong mắt Đức Chúa Trời thì sao? Đức Chúa Trời xác định tính chất chuyện này theo nguyên tắc lẽ thật, nên tính chất của nó còn nghiêm trọng hơn rất nhiều so với những gì ngươi cảm nhận. Các ngươi đã hiểu chưa? (Thưa, đã hiểu rồi.) Cho nên, Đức Chúa Trời sẽ tổng hợp biểu hiện thường ngày của ngươi, cùng thái độ của ngươi đối với lẽ thật và bổn phận, để nhìn nhận con đường mà ngươi đi. Giả sử thái độ của ngươi đối với lẽ thật và bổn phận luôn là qua quýt cho xong chuyện, ngoài mặt thì đồng ý nhưng sau lưng lại không thực hành, lề mà lề mề, không có thái độ tích cực biết quan tâm đến tâm ý của Đức Chúa Trời. Mặc dù bề ngoài ngươi không gây gián đoạn hay nhiễu loạn, không hành ác, không tùy ý làm càn, cũng không làm xằng làm bậy, nhìn qua thì có vẻ ngươi là một người thật thà và khá an phận, nhưng đối với những gì Đức Chúa Trời yêu cầu ngươi làm thì ngươi không thể làm một cách tích cực và chủ động, thay vào đó lại giở trò trốn việc và không làm công tác thực tế. Vậy thì rốt cuộc ngươi đang đi con đường nào? Ngay cả khi đó không phải là con đường của kẻ địch lại Đấng Christ, thì ít nhất cũng là con đường của lãnh đạo giả.

Có những người khi làm bổn phận thì trông bề ngoài cũng có sự thuận phục, Bề trên sắp xếp thế nào thì họ làm thế ấy. Nhưng nếu hỏi họ: “Anh làm bổn phận có qua loa chiếu lệ không? Có làm theo nguyên tắc không?”, thì họ chẳng có câu trả lời chắc chắn nào, chỉ nói: “Bề trên bảo làm thế nào thì tôi làm thế ấy, tôi đâu dám làm xằng làm bậy”. Hỏi họ có làm tròn trách nhiệm hay không, thì họ nói: “Đằng nào tôi cũng đang làm những việc nên làm đây”. Họ luôn làm bổn phận với thái độ như vậy, thong thả và hời hợt. Mặc dù không xuất hiện vấn đề gì rõ ràng, nhưng nếu dùng nguyên tắc lẽ thật để đánh giá, thì họ làm bổn phận chẳng có hiệu suất, cũng chẳng đạt tiêu chuẩn. Nhưng họ đâu có quan tâm. Trước đây họ qua loa chiếu lệ thế nào thì bây giờ vẫn qua loa chiếu lệ thế ấy, những việc đáng lẽ nên chủ động làm thì họ vẫn cứ bị động như cũ, chẳng có chút thay đổi nào. Họ chẳng phải là thứ lỳ lợm sao? Họ luôn giữ thái độ: “Dù anh có trăm ngàn kế hay, tôi vẫn có quy tắc cố định của mình. Tôi là vậy thôi, xem anh làm gì được tôi chứ. Thái độ của tôi là vậy đấy!”. Mặc dù họ không làm ra những việc đại gian đại ác, nhưng cũng chẳng có được bao nhiêu việc lành. Ngươi nói xem, họ đang đi con đường gì vậy? Thái độ như vậy đối với việc tin Đức Chúa Trời và bổn phận thì có tốt không? (Thưa, không tốt.) Trong sách Khải Huyền của Kinh Thánh, Đức Chúa Trời từng phán một câu như thế này: “Vậy vì ngươi hâm hẩm, không nóng cũng không lạnh, nên Ta sẽ nhả ngươi ra khỏi miệng Ta.” (Khải Huyền 3:16). Hâm hẩm, không nóng không lạnh, thái độ này có tốt không? (Thưa, không tốt.) Trong lòng những người này cũng có tính toán riêng: “Khi làm bổn phận, chỉ cần tôi không hành ác, không gây nhiễu loạn công tác của hội thánh, thì sẽ không bị định tội. Nếu làm tốt bổn phận mà phải mệt quá, khổ quá, thì tôi không làm. Tôi không để mình bị mệt, nhưng cũng sẽ không phạm sai lầm lớn. Như vậy tôi sẽ không bị thanh trừ, không bị đào thải, vẫn tốt hơn những người không làm bổn phận. Cho nên tôi cứ hâm hẩm, không nóng không lạnh. Anh bảo tôi làm gì thì tôi làm một chút, còn những việc anh không bảo tôi làm thì tôi không mó tay vào. Như vậy, một mặt tôi không mệt, mặt khác người ta cũng không bới móc được khuyết điểm của tôi. Vậy chẳng phải rất tốt sao?”. Làm người như vậy có tốt không? (Thưa, không tốt.) Biết như vậy là không tốt thì ngươi nên thay đổi thế nào trong cách thực hành? Nếu ngươi mãi không tìm kiếm cách để đi con đường mưu cầu lẽ thật, vẫn khăng khăng sống theo triết lý của Sa-tan, thì ngươi đã bị định sẵn là không có hy vọng được cứu rỗi rồi. Nếu ở ngoài thế gian mà ngươi làm người theo kiểu như vậy, thì ngươi thực sự có được ưu thế. Triết lý xử thế và thái độ xử thế của ngươi có thể bảo vệ ngươi, và ngươi cũng không đắc tội ai. Hơn nữa, những nhân vật thượng lưu tai to mặt lớn cũng không cảm thấy ngươi là mối đe dọa đối với họ, thậm chí còn rất tán thưởng ngươi. Những người ở tầng lớp thấp không có địa vị cũng chẳng dám đắc tội ngươi. Vì thế ngươi rất được chào đón, ngươi là đối tượng mà cả người ở tầng lớp dưới lẫn tầng lớp trên đều muốn lôi kéo. Ngươi là “miếng bánh thơm”, chơi được với cả chiếu trên lẫn chiếu dưới, cả giới đàng hoàng lẫn giang hồ. Nhưng trong nhà Đức Chúa Trời và trước mặt Đức Chúa Trời, mà ngươi vẫn giữ kiểu thái độ xử thế đó thì không được. Đủ mọi nguyên tắc liên quan đến lẽ thật đều cần đến thái độ của ngươi, thái độ này không đúng thì sai, không đen thì trắng, không phải thì trái, vô cùng rõ ràng và có tính nguyên tắc cực mạnh. Cái cần là lập trường của ngươi, là quan điểm chính xác của ngươi, chứ không phải là con đường trung dung của ngươi. Người đi con đường trung dung thì không thể đứng vững trước lẽ thật. Ngươi đừng nghĩ rằng: “Xem cách sống của tôi cao minh biết bao! Từ nhỏ tôi đã học được cách dùng phương thức này để bảo vệ bản thân. Sống đến bây giờ, tôi càng thấy phương thức này quá thiết thực. Sau khi tin Đức Chúa Trời, tôi vẫn sống theo cách này. Tin Đức Chúa Trời mấy năm rồi mà tôi chưa bị tỉa sửa, làm bổn phận cũng chẳng gặp thất bại lớn lần nào, cũng chưa trải qua sự tinh luyện hay thử luyện lớn nào, Đức Chúa Trời cũng chưa từng định tội hay ghét bỏ tôi. Xem tôi làm người thành công thế nào, giỏi làm người thế nào này!”. Ngươi sai rồi! Ngươi đâu biết cách làm người, ngươi đang dùng cách lươn lẹo để đối đãi với mọi chuyện và với lẽ thật. Đây là cách làm hoàn toàn sai lầm và không thể đứng vững được. Đừng mang tâm lý cầu may mà nghĩ rằng: “Trước đây tôi làm như vậy đều thành công, chưa từng thất bại, cũng chưa từng mất mặt hay bị bẽ mặt. Bây giờ tin Đức Chúa Trời rồi, tôi vẫn phải kiên trì với thủ đoạn xử thế cao nhất này”. Ta nói cho ngươi biết, như vậy là ngu xuẩn! Tại sao Đức Chúa Trời lại phán nhiều lời như vậy để cứu rỗi con người? Chính là để làm cho con người dưới sự dẫn dắt của những lời đó mà hiểu được con đường nhân sinh đúng đắn là gì và con người nên đi con đường nào, chính là để ngươi lựa chọn, chứ không phải để ngươi đục nước béo cò ở đây. Nếu để ngươi đục nước béo cò, thì Đức Chúa Trời đã chẳng phán những lời này, chẳng làm những công tác này. Tại sao khi thông công về các loại sự việc, Ngài đều nói rõ ràng về những chuyện trái với lẽ thật? Chính là để nói cho ngươi biết điều tích cực là gì và điều tiêu cực là gì, để ngươi có thể phân biệt rõ ràng và thấy chúng rõ ràng. Trước mặt Đức Chúa Trời, những điều tích cực và những điều tiêu cực được công khai, tỏ lộ và sáng tỏ hoàn toàn, chứ không mập mờ. Cho nên bất kỳ việc gì Đức Chúa Trời yêu cầu ngươi làm, bất kỳ con đường nào Ngài yêu cầu ngươi lựa chọn, đều rất rõ ràng. Thái độ của ngươi phải rõ ràng, tư tưởng và quan điểm của ngươi phải rõ ràng, không có chuyện tưởng đúng mà sai. Hễ liên quan đến lẽ thật và nguyên tắc lẽ thật thì không có chuyện tưởng đúng mà sai, đen là đen, trắng là trắng, phải là phải, không phải là không phải. Lời nói dối được lặp lại ngàn lần thì vẫn là lời nói dối, không thể nào trở thành lẽ thật được. Lẽ thật, ngay cả khi chẳng có bao nhiêu người trên thế gian tiếp nhận, hoặc bị bao nhiêu quốc gia vứt bỏ và lên án, thì vẫn là lẽ thật. Lẽ thật mãi mãi là lẽ thật, tuyệt đối sẽ không trở thành lý lẽ méo mó và tà thuyết. Những điều tiêu cực thuộc về Sa-tan, cho dù được bao nhiêu người chạy theo, cho dù trở thành trào lưu của thế giới bao nhiêu năm đi nữa, thì nó vẫn là điều tiêu cực, vẫn thuộc về Sa-tan, mãi mãi sẽ không trở thành điều tích cực. Còn điều tích cực, cho dù ở thế gian này bị công kích, chèn ép và lên án, thì vẫn là điều tích cực, mãi mãi sẽ không trở thành điều tiêu cực. Đức Chúa Trời mãi mãi là Đức Chúa Trời, mãi mãi là hiện thân của sự chính nghĩa, và mãi mãi là đại diện của mọi điều tích cực. Địa vị của Đức Chúa Trời là bất biến, thực chất của Đức Chúa Trời là bất biến. Còn Sa-tan mãi mãi là Sa-tan, mãi mãi là hiện thân của sự tà ác, mãi mãi là đại diện của trục tà ác, mãi mãi tiêu cực, và sẽ không bao giờ trở thành điều tích cực.

Có người nói: “Sống trong hội thánh thì phải linh hoạt, đừng lệch theo hướng nào quá. Đối với lẽ thật thì đừng tiếp nhận mà cũng đừng chán ghét, đối với người tích cực hay người tiêu cực thì cũng đừng đắc tội với ai, làm người đứng giữa là tốt nhất. Điều tích cực thì tôi không phản đối, điều tiêu cực thì tôi cũng không phê phán. Đối với những người mưu cầu lẽ thật, tôi không nịnh bợ lấy lòng, cũng không thân cận, đối với kẻ địch lại Đấng Christ, tôi cũng không xa lánh. Các người có thể làm gì được tôi chứ? Các người xem tôi sống sáng suốt biết mấy!”. Đây là sáng suốt sao? Đây không phải là sáng suốt, mà là ngu xuẩn, là mơ mơ màng màng, là bất phân phải trái. Loại người này chính là kẻ hồ đồ. Ta nói cho mà biết, loại người hai mặt này chẳng phải là thứ tốt lành gì. Sống như vậy thì kết cục cuối cùng sẽ là gì? (Thưa, sẽ không có kết cục và đích đến.) Họ tự hủy đi đích đến của mình rồi. Mặc dù họ không phản đối điều tích cực, nhưng xét về thực chất thì họ cũng không tiếp nhận điều tích cực. Không phản đối đâu đồng nghĩa với tiếp nhận, không phê phán điều tiêu cực cũng đâu đồng nghĩa với buông bỏ nó. Ngươi cho rằng mình không tiếp nhận điều tích cực và không phê phán điều tiêu cực, thì ngươi đã buông bỏ những điều tiêu cực và những quan điểm tiêu cực rồi sao? Buông bỏ không nổi đâu. Chỉ khi người ta tiếp nhận điều tích cực và tiếp nhận lẽ thật, thì những tư tưởng và quan điểm tiêu cực, cùng những tư tưởng và quan điểm tà ác thuộc về Sa-tan đó, mới dần dần bị buông bỏ và đánh đổ, chỉ khi đó người ta mới có thể tiếp nhận những tư tưởng và quan điểm tích cực, cùng những sự thực hành, thấu suốt, nhận thức và tiêu chuẩn phù hợp với lẽ thật. Nói cách khác, nếu ngươi muốn tiếp nhận những tư tưởng và quan điểm tích cực, muốn tiếp nhận lẽ thật, muốn để lẽ thật đi vào trong ngươi và trở thành sự sống của ngươi, thì trước hết ngươi phải dọn trống những thứ đang có trong bản thân mình, sau đó tiếp nhận lẽ thật vào bên trong mình, để lẽ thật và nắm quyền trong lòng mình. Như vậy chính là có lẽ thật làm sự sống, và thực hành mưu cầu lẽ thật là như vậy. Con người tin Đức Chúa Trời, mục đích chính yếu là để đạt được lẽ thật. Ngươi phải biết phân định đủ loại tư tưởng và quan điểm trái với lẽ thật. Đặc biệt khi ngươi là dạng người tuân theo triết lý của Sa-tan, thì ngươi phải buông bỏ dạng tư tưởng và quan điểm lươn lẹo của con đường trung dung, phải chống lại nó một cách có ý thức. Khi ngươi gặp chuyện, và loại tư tưởng, quan điểm đó xuất hiện, thì ngươi phải ý thức được rằng nó không đúng, và ngươi phải suy nghĩ: “Lời Đức Chúa Trời nói thế nào? Đức Chúa Trời yêu cầu thế nào? Làm thế nào phù hợp với nguyên tắc lẽ thật thì mình sẽ chủ động và nỗ lực làm như thế. Mình không để tư tưởng và quan điểm trung dung chi phối mình, cũng không để nó cản trở mình thực hành lẽ thật. Thay vào đó, mình phải để lời Đức Chúa Trời và lẽ thật trở thành tiêu chuẩn làm người, hành động và làm bổn phận của mình”. Thực hành như vậy thì sẽ khác hẳn. Cho dù đây chỉ là một chuyện rất nhỏ, không đáng để Đức Chúa Trời ghi nhớ, nhưng ít nhất Đức Chúa Trời cũng không định tội. Cứ tích lũy từng chút một như thế, việc lành của ngươi sẽ được chuẩn bị dần dần. Nếu những việc ngươi làm có thể được xem là việc lành trong mắt Đức Chúa Trời, vậy thì ngươi có hy vọng rồi. Ngươi sẽ bắt đầu có phương hướng và mục tiêu đúng đắn, tích cực. Ngươi sẽ bắt đầu trở thành một người tích cực, một người đúng đắn. Như vậy, ngươi sẽ rời xa con đường dẫn đến sự diệt vong và địa ngục, dần dần chuyển sang con đường dẫn đến thiên quốc. Đây chính là kết quả tốt đẹp từ việc người ta có thể xoay chuyển. Chuyện này có dễ đạt được không? Còn tùy thuộc vào mức độ yêu thích lẽ thật của mỗi người. Nếu ngươi làm sai việc gì đó mà chỉ biết nói: “Tôi thực sự ghét mình! Sao tôi có thể làm ra chuyện đê tiện và bỉ ổi như vậy chứ? Tôi chỉ muốn tự tát mình vài cái!”, chỉ ghét mình thôi thì vô ích. Điều mấu chốt là khi làm sai, ngươi phải biết phân định xem mình sai ở đâu, bị điều gì chi phối, tại sao ngươi không thể thực hành lẽ thật, căn nguyên nằm ở đâu, căn cứ và nguyên tắc để ngươi làm việc đó là gì. Điều mấu chốt còn là khi gặp chuyện, ngươi có thực hành theo lời Đức Chúa Trời một cách có ý thức hay không, có chống lại những tư tưởng và quan điểm thuộc về Sa-tan, những dã tâm dục vọng, những ý định và tính toán riêng của mình, một cách có ý thức hay không. Nếu những việc “có ý thức” này ngươi đều làm được, thì ngươi đang chuẩn bị việc lành. Như vậy là chuyện tốt, là có thu hoạch. Kết quả như vậy có tốt không? Có phải là kết quả mà các ngươi muốn thấy không? Có phải là điều các ngươi muốn mưu cầu không? (Thưa, phải.) Hiện nay, đa số mọi người đang giữ quan điểm gì? Chính là: “Tôi không hành ác, không gây gián đoạn và nhiễu loạn. Chỉ cần tôi không bị thanh trừ khỏi hội thánh toàn thời gian là được rồi. Mặc dù tôi chưa chuẩn bị được nhiều việc lành cho lắm, khi làm bổn phận thì không trung thành cho lắm, không chân thành cho lắm, cũng chưa nghiêm túc thực hành theo nguyên tắc lẽ thật. Nhưng tôi không hành ác, không gây gián đoạn và nhiễu loạn, vậy chẳng phải là được rồi sao?”. Quan điểm này thế nào? Đây là tư tưởng và quan điểm sa đọa, không cầu tiến. Ngươi tuyệt đối đừng nghĩ rằng chỉ cần không hành ác, không gây gián đoạn và nhiễu loạn thì mình là người tốt, là người cao thượng, có thể đứng vững, và những gì mình làm phù hợp với lẽ thật. Ta nói cho ngươi biết, sai rồi, đây là cách nghĩ ngu xuẩn! Không hành ác đâu đồng nghĩa với đã chuẩn bị việc lành. Không hành ác và chuẩn bị việc lành là hai khái niệm khác nhau. Làm bổn phận mà không hành ác là việc đương nhiên phải làm của một loài thọ tạo, là biểu hiện mà một người có lương tâm và lý trí của nhân tính bình thường nên có. Ví dụ, có người nói: “Người khác giết người nhưng tôi không giết người, người khác trộm cắp nhưng tôi không trộm cắp, vậy tôi là người tốt.” Chuyện này có đáng để khoe khoang không? Nói như vậy có đúng không? (Thưa, không đúng.) Đây là đánh tráo khái niệm. Không ăn trộm, không giết người, không phóng hỏa, không gian dâm, đâu có đồng nghĩa với chuyện ngươi là người tốt. Không làm việc ác và không phạm pháp là khái niệm khác hẳn với chuyện làm người tốt. Có tiêu chuẩn riêng cho việc làm người tốt. Không hành ác và chuẩn bị việc lành cũng là hai khái niệm khác nhau. Làm bổn phận mà không hành ác là việc mà người bình thường nên làm được. Còn chuẩn bị việc lành thì nghĩa là ngươi cần phải chủ động và tích cực chiếu theo yêu cầu của Đức Chúa Trời và nguyên tắc lẽ thật mà thực hành lẽ thật và làm tốt bổn phận. Ngươi phải có lòng trung thành, sẵn sàng chịu khổ và trả giá, sẵn sàng gánh vác trách nhiệm, có thể hành động một cách tích cực và chủ động. Những gì được làm theo các nguyên tắc này về cơ bản đều là việc lành. Bất kể là chuyện lớn hay nhỏ, bất kể có đáng để con người ghi nhớ hay không, bất kể được con người xem trọng hay xem thường, bất kể đó có phải là việc đáng để người khác chú ý đến hay không, thì trong mắt Đức Chúa Trời, chúng đều là việc lành. Nếu ngươi chuẩn bị được việc lành, thì cuối cùng điều nó mang lại cho ngươi là phúc chứ không phải là họa. Có những người chẳng chuẩn bị được một việc lành nào, nhưng lại hài lòng với việc: “Bảo tôi làm gì thì tôi làm nấy, bảo tôi đi đâu thì tôi đi đó. Tôi chẳng bao giờ nói năng bừa bãi hay hành động bừa bãi, cũng chẳng bao giờ bày trò tai quái, chẳng gây nhiễu loạn hay gián đoạn. Tôi thực sự biết nghe lời và ngoan ngoãn.” Họ luôn giữ thái độ như vậy. Khi làm bổn phận, họ cũng không chủ động tìm kiếm lẽ thật hay tuân giữ nguyên tắc. Phát hiện ra sự lệch lạc và sai lầm của mình, họ cũng không kịp thời sửa chữa và thay đổi, phát hiện ra mình có sự phản nghịch hay sự bộc lộ tâm tính bại hoại thì họ chẳng bao giờ phản tỉnh bản thân, cũng chẳng chủ động tìm kiếm lẽ thật để giải quyết vấn đề, mà cứ muốn gì làm nấy. Mặc dù họ không làm ra việc đại ác khiến lợi ích của nhà Đức Chúa Trời bị tổn thất, nhưng họ cũng gây ảnh hưởng đến tiến độ công tác của hội thánh. Loại người này mà làm bổn phận thì cùng lắm cũng chỉ là đang đem sức lực phục vụ, và xét về tính chất thì việc đem sức lực phục vụ không đủ để được tính là việc lành. Vậy xét cho cùng, việc lành được định nghĩa như thế nào? Chính là việc ngươi làm ít nhất phải có ích cho lối vào sự sống của bản thân ngươi và của anh chị em, có ích cho công tác của nhà Đức Chúa Trời. Có ích cho bản thân ngươi, cho người khác và cho nhà Đức Chúa Trời, thì biểu hiện của ngươi có giá trị trước mặt Đức Chúa Trời và được Đức Chúa Trời khen ngợi, Đức Chúa Trời sẽ ghi nhận điểm cho ngươi. Vậy các ngươi hãy đánh giá xem: Trong những năm qua mình đã chuẩn bị được bao nhiêu việc lành? Những việc lành đó có thể bù trừ những vi phạm của các ngươi không? Sau khi bù trừ rồi thì còn lại bao nhiêu việc lành? Các ngươi phải tự chấm điểm cho mình, trong lòng phải rõ ràng, đừng cứ hồ đồ về chuyện này.

Các ngươi nói xem, Ta thông công những điều này có cần thiết không? (Thưa, cần thiết.) Ta cần phải nói những lời này với các ngươi, cần phải nhắc nhở các ngươi đôi chút. Mục đích của việc nhắc nhở không phải là để dập tắt tính tích cực của các ngươi, cũng không phải để đem các ngươi ra làm trò cười, càng không phải để định tội các ngươi, mà là để cảnh tỉnh các ngươi, gióng lên một hồi chuông cảnh báo cho các ngươi, để các ngươi biết hiện tại, ngay trước mắt và ngay lúc này, bối cảnh và tình trạng của các ngươi là gì, những nguy cơ tiềm ẩn là gì. Đối với những điều này, các ngươi phải rõ ràng trong lòng. Người ta tin Đức Chúa Trời thì phải thường xuyên và liên tục kiểm điểm tình trạng của mình trước mặt Đức Chúa Trời, phải liên tục biết rõ ràng mối quan hệ giữa mình với Đức Chúa Trời như thế nào, giữa mình với Đức Chúa Trời có mâu thuẫn hay ngăn cách nào không, mình có quan niệm, hiểu lầm hay đòi hỏi vô lý nào đối với Đức Chúa Trời không, và Đức Chúa Trời nhìn nhận tổng thể biểu hiện của mình như thế nào. Người ta phải hiểu rõ những điều này, phải biết những điều này. Đây là chuyện quá có ích cho lối vào sự sống của con người. Mục đích của việc thực hành như vậy chính là để người ta có thể hành động chính xác theo tâm ý của Đức Chúa Trời. Ngươi đừng đi đường vòng, đừng tự cảm thấy mình tốt đẹp, cũng đừng tự lừa người dối mình. Không đi đường vòng nghĩa là không đi theo con đường sai lệch của riêng mình. Ngươi cảm thấy biểu hiện của mình trong việc tin Đức Chúa Trời như thế này là không tệ, rồi cứ tiếp tục đi như vậy, nhưng hóa ra ngươi lại lệch khỏi con đường đúng đắn, Đức Chúa Trời đã sớm rời bỏ ngươi, và Đức Thánh Linh cũng không công tác trên ngươi nữa. Đức Chúa Trời đã ghê tởm ngươi rồi, vậy mà ngươi vẫn cảm thấy mình đang tin rất tốt: “Mình tin Đức Chúa Trời đã có thu hoạch rồi. Hiện giờ mình có thể chịu khổ rồi, hiện giờ mình không hành ác nữa, mình đã biết cách để không gây nhiễu loạn nữa, hiện giờ mình biết tại sao những người gây gián đoạn, nhiễu loạn lại bị thanh trừ, bị cách ly, tại sao họ không được làm bổn phận nữa”. Biết những điều đó vẫn chưa đủ. Ngươi phải biết bản thân nên hành động như thế nào mới là đang tuân theo con đường của Đức Chúa Trời, nên thực hành như thế nào mới là đang đi trên con đường đúng đắn, và nên hành động như thế nào mới có thể đạt được sự cứu rỗi. Những điều này đều rất quan trọng. Cứ qua một khoảng thời gian thì ngươi phải nhìn lại và tổng kết. Chủ đề này chúng ta nói đến đây thôi. Hãy tiếp tục thông công về chủ đề mà chúng ta đã thông công suốt thời gian qua.

Cách thực hành đầu tiên để mưu cầu lẽ thật: Buông bỏ

Buông bỏ những rào cản giữa bản thân và Đức Chúa Trời và sự thù địch đối với Ngài

1. Buông bỏ quan niệm và tưởng tượng về Đức Chúa Trời: Buông bỏ quan niệm và tưởng tượng về công tác của Đức Chúa Trời

F. Công tác của Đức Chúa Trời không phải là để thay đổi điều kiện bẩm sinh của con người, mà là để thay đổi tâm tính bại hoại của con người
6. Các biểu hiện khác nhau của điều kiện bẩm sinh, nhân tính và tâm tính bại hoại

Trong thời gian qua, chúng ta đã thông công về một chủ đề cụ thể liên quan đến nguyên tắc thực hành “buông bỏ” trong cách mưu cầu lẽ thật, chính là: điều kiện bẩm sinh, nhân tính và tâm tính bại hoại. Sau khi đã thông công về chủ đề này nhiều lần, đối với một số biểu hiện và sự bộc lộ cụ thể liên quan đến ba phương diện điều kiện bẩm sinh, nhân tính và tâm tính bại hoại này, có phải hiện nay các ngươi đã có chút phân định rồi không? (Thưa, con đã biết phân định hơn trước một chút. Trước đây con thường xuyên lẫn lộn giữa phẩm chất nhân tính và tâm tính bại hoại, nhưng thông qua mấy lần Đức Chúa Trời thông công, con đã phân biệt được phần nào rồi.) Tại sao phải phân biệt những điều này? (Thưa, để chúng con biết những vấn đề nào nơi bản thân mình buộc phải được giải quyết, và những vấn đề nào thì chỉ cần tiếp cận cho đúng đắn là được.) Nói hay lắm. Thông công chi tiết như vậy sẽ giúp làm rõ ràng hơn sự khác biệt giữa điều kiện bẩm sinh, nhân tính và tâm tính bại hoại. Người ta sẽ có nhận thức rõ ràng hơn đối với hai thứ khác loại với nhau là biểu hiện của phẩm chất nhân tính quá kém và tâm tính bại hoại. Nhất là người ta sẽ có thể phân biệt được phẩm chất nhân tính không tốt, tâm tính bại hoại và điều kiện bẩm sinh. Họ sẽ không xem một số khiếm khuyết trong nhân tính là tâm tính bại hoại nữa, đương nhiên cũng sẽ không xem một số thiếu sót và khiếm khuyết trong điều kiện bẩm sinh là tâm tính bại hoại nữa. Sau khi có được những sự phân định này, người ta sẽ ngày càng rõ ràng hơn về các loại biểu hiện khác nhau của tâm tính bại hoại, sẽ không vì một vài vấn đề không liên quan đến tâm tính bại hoại mà chuyện bé xé ra to, đồng thời cũng nhận biết rõ hơn rốt cuộc tâm tính bại hoại là gì. Vậy các ngươi có thể nói rõ rốt cuộc tâm tính bại hoại là gì không? Tâm tính bại hoại có liên quan đến điều kiện bẩm sinh hay không? Nó có chịu ảnh hưởng bởi điều kiện bẩm sinh hay không? (Thưa, không.) Nếu một người có ngoại hình xinh đẹp, da dẻ trắng trẻo, ngũ quan ngay ngắn, thì có thể nói rằng vì có ngoại hình đẹp nên họ không có tâm tính bại hoại, rằng nhân tính của họ cũng hoàn hảo và thuần khiết như ngoại hình của họ, không có chút gì là kiêu ngạo hay tà ác, mà đặc biệt thánh khiết, có thể nói vậy hay không? (Thưa, không thể.) Thông công như vậy thì về cơ bản các ngươi đã phân biệt rõ tâm tính bại hoại, điều kiện bẩm sinh và nhân tính rồi phải không? (Thưa, đã rõ rồi.) Chuyện này dễ phân định thôi.

Giỏi kinh doanh

Lần trước chúng ta đã thông công về chuyện thích kinh doanh. Biểu hiện thích kinh doanh và thích làm ăn nên được quy vào phương diện nào? (Thưa, điều kiện bẩm sinh.) Tại sao nói nó là điều kiện bẩm sinh? (Thưa, nó là hứng thú và sở thích của con người, nên được tính là điều kiện bẩm sinh.) Một mặt là hứng thú và sở thích, mặt khác, nếu một người thích kinh doanh, rất thạo về lĩnh vực kinh doanh, không cần học tập chuyên môn mà đã rất giỏi, không cần người khác chỉ dạy mà tự mình cũng có thể hiểu ra được và biết làm thế nào để kiếm tiền, để có lợi nhuận, làm thế nào để nắm bắt cơ hội làm ăn, v.v., thì trong điều kiện bẩm sinh của người đó có sở trường về kinh doanh. Bẩm sinh đã có sở trường ở phương diện này thì chắc chắn nó là điều kiện bẩm sinh, mà điều kiện bẩm sinh thì không liên quan lắm với các ảnh hưởng về sau trong đời. Ngươi xem, có những người mới mười lăm, mười sáu tuổi, đang còn đi học mà đã làm ăn buôn bán. Có chút đồ tốt là họ nghĩ cách đem bán lấy tiền. Ngay cả quà sinh nhật cha mẹ tặng, họ cũng có thể bán đi để kiếm tiền. Họ không tiêu cả tiền tiêu vặt của mình mà tích góp lại để làm vốn buôn bán. Đến mười tám, mười chín tuổi, họ đã có thể làm những thương vụ nhỏ. Thành tích học tập của họ cũng chỉ bình thường, nhưng rất có đầu óc kinh doanh, tính toán cực nhanh, đặc biệt có khiếu làm ăn, đây chính là sở trường. Thích kinh doanh nên được quy vào sở trường hoặc hứng thú và sở thích trong điều kiện bẩm sinh. Tóm lại, đây là một hạng mục trong điều kiện bẩm sinh, đây là chỗ của loại biểu hiện thích kinh doanh này. Có những người chưa chắc đã thích hoặc có sở trường về kinh doanh. Họ kinh doanh thì chủ yếu dựa vào việc lừa người gạt người. Họ không kiếm tiền thông qua nỗ lực phấn đấu của bản thân hay chiêu thức và phương thức kinh doanh chính đáng, mà lại thông qua việc lừa lọc và lợi dụng kẽ hở pháp luật để đạt được mục đích sinh lợi và kiếm tiền. Đây là dạng vấn đề gì?Loại người này luôn làm ăn theo kiểu như vậy, chẳng phải như thế là đã liên quan đến bản chất của nhân tính trong họ rồi hay sao? (Thưa, phải.) Dạng nhân tính này có tốt không? (Thưa, không tốt.) Không tốt ở chỗ nào? Xét tổng thể về nhân tính của loại người này, thì phẩm chất nhân tính của họ không tốt. Người ta làm ăn kinh doanh đều là để kiếm tiền, nếu tiền kiếm được bằng phương thức kinh doanh chính đáng thì đó là nhờ bản lĩnh của ngươi, là phúc lợi do sở trường mà Đức Chúa Trời ban cho ngươi mang lại. Nhưng nếu tiền và lợi kiếm được không phải bằng phương thức kinh doanh chính đáng, mà bằng cách lừa lọc, thì loại người này có nhân cách thấp hèn, phẩm chất nhân tính đê tiện. Loại người này có lương tâm không? (Thưa, không có.) Nói theo kiểu thông tục thì lương tâm của loại người này đã hỏng quá rồi, chẳng còn lương tâm nữa. Tại sao nói là không có lương tâm? (Thưa, thường thì người có lương tâm mà làm việc lừa người gạt người rồi thì sẽ cảm thấy cắn rứt lương tâm, sẽ không tiếp tục làm như vậy nữa. Còn người không có lương tâm thì chỉ cần có lợi là được, lương tâm họ hoàn toàn không có tri giác gì, nên họ cứ tiếp tục làm vậy mãi.) Lương tâm của họ không có tác dụng, cũng có thể nói là họ không có lương tâm. Nếu họ có lương tâm thì lương tâm sẽ phát huy tác dụng. Họ lừa người một lần thì sẽ bị lương tâm quở trách. Tuy kiếm được lợi nhưng trong lòng họ rất khó chịu, đến khi tiêu số tiền đó thì họ nóng bừng cả mặt, trong lòng chẳng dễ chịu chút nào, cảm thấy việc mình làm thật bẩn thỉu và hèn hạ, nên sau này họ sẽ không lừa người nữa, bất kể lợi nhuận lớn đến đâu cũng không bao giờ làm. Đây chính là tác dụng của lương tâm. Nhưng những kẻ giỏi lừa người, bịp người, gạt người, thì hễ muốn làm là làm được. Sau khi mưu kế thành công, họ tiêu số tiền kiếm được đó mà trong lòng cũng không thấy khó chịu. Tiền vào tay rồi thì họ cảm thấy mình thông minh và cao tay, vì thủ đoạn lừa bịp của mình thành công mà họ cảm thấy vui mừng và đặc biệt đắc ý. Họ bán hàng thì cân thiếu, họ bán thuốc giả, bán nhân sâm giả, bán thịt bơm nước, họ bán thứ gì cũng trộn đồ giả, bán thứ gì cũng có pha tạp. Họ kinh doanh thứ gì cũng có chiêu lừa lọc, có bẫy, số tiền họ kiếm được đều thông qua thủ đoạn gian trá mà có. Họ kinh doanh thứ gì cũng không theo quy tắc mà bán đúng giá. Ngươi thấy đấy, có những người làm ăn chuyên lừa khách quen. Chẳng hạn, ngươi thường xuyên đến chỗ họ mua hàng và họ biết ngươi có tiền, món đồ họ bán cho người khác mười đồng mà lại bán cho ngươi với giá một trăm đồng, còn nói rằng: “Món này tôi không bán cho người khác đâu, để dành cho anh đấy. Anh xem quan hệ giữa hai ta thân thiết biết bao? Anh mua món này là hời quá rồi nhỉ?”. Họ lừa người ta rồi, mà còn khiến người ta cảm kích họ, đúng là biết lừa gạt! Người không thấy cắn rứt lương tâm thì làm bất kỳ việc gì cũng không có sự quở trách hay tri giác của lương tâm, vậy có thể nói rằng loại người này không có lương tâm. Bất kể lý trí của họ thế nào, chỉ xét về lương tâm thì loại người này không có nhân tính và có nhân cách đê hèn. Đê hèn đến mức nào? Họ không có lương tâm, không có nhân tính, nghĩa là họ không có tri giác của lương tâm, tác dụng của lương tâm và sự ràng buộc của lương tâm mà người bình thường vốn có. Không có những sự ràng buộc này thì họ có thể làm bất kỳ chuyện gì. Kinh doanh thì họ có thể lừa người gạt người, làm bất kỳ ngành nghề nào họ cũng có thể giở thủ đoạn, có thể làm việc trái quy tắc. Việc thất đức nào họ cũng có thể làm. Ngay cả khi xây nhà, họ cũng dùng toàn vật liệu kém chất lượng. Ngươi xem, những “tòa nhà nghiêng”, những vụ sập nhà ở Trung Quốc đại lục do đâu mà có? Chính là do các nhà thầu xây dựng vì muốn kiếm lợi nhuận khổng lồ nên đã dùng tỷ lệ pha trộn bê tông và kỹ thuật cốt thép không đạt tiêu chuẩn, việc này đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng công trình. Kết quả là có những tòa nhà người ta mới vào ở chưa được bao lâu thì đã sập, chỉ cần xảy ra động đất cấp năm, cấp sáu thì phần lớn các tòa nhà đều sẽ đổ sập, hậu quả thật không thể tưởng tượng nổi. Những nhà thầu lòng dạ đen tối này hoàn toàn không có chút lương tâm nào. Thấy có người chết thì họ lập tức tìm thế lực chống lưng để đối phó tình hình, nếu thế lực đó đủ mạnh và có biện pháp đối phó thì chuyện đó có thể bị che giấu, chết vài người thì bồi thường ít tiền mai táng là xong, căn bản không ai truy cứu được đến họ. Lương tâm của họ không có chút tri giác nào, đừng nói chết vài người, cho dù chết vài chục người, vài trăm người hay vài vạn người thì trong mắt họ cũng chẳng là gì. Mạng người trong mắt họ chẳng khác gì loài kiến, chẳng đáng là gì. Các ngươi nói xem, dạng người như vậy còn có lương tâm không? Có thể nói, người không có lương tâm thì không có nhân tính. Vậy biểu hiện lừa người gạt người khi làm ăn của họ có phải là sự bộc lộ tâm tính bại hoại không? (Thưa, phải.) Ở đây đã có tâm tính bại hoại cụ thể rồi. Là tâm tính bại hoại gì vậy? (Thưa, hung ác và giả dối.) Những tâm tính bại hoại mang tính đặc trưng và đại diện của họ chính là giả dối và tà ác. Người có thể lừa lọc người khác thì đặc biệt giả dối. Thủ đoạn lừa người gạt người của họ đôi khi vượt ngoài sức tưởng tượng của ngươi. Ngươi bị lừa mà còn rất vui vẻ, còn cảm thấy người này đối xử với mình rất tốt. Đợi đến rất lâu sau, ngươi mới tỉnh ngộ, mới đột nhiên phát hiện mình đã bị lừa, ngươi quay lại tìm thì họ đã biến mất không dấu vết. Ngươi nói xem, thủ đoạn lừa người của họ cao tay đến mức nào! Vào những năm 1980, 1990, khu vực Quảng Đông của Trung Quốc có nền công thương nghiệp tương đối phát triển. Một số đồ điện gia dụng tiên tiến còn chưa được lưu thông đến nội địa, và có những người từ nội địa muốn chạy theo trào lưu nên đến Quảng Đông mua hàng. Đám thương nhân biết những người này từ nội địa đến, trong lòng lập tức nghĩ rằng cơ hội lừa đảo đã tới. Người nội địa mua máy ghi âm, ti-vi và các thiết bị điện khác, sau khi đã hoàn tất thanh toán, người bán còn cho biết thời hạn bảo hành là bao lâu, nếu có hỏng hóc thì có thể mang đến đổi, nên người mua nghe vậy cũng cảm thấy dịch vụ hậu mãi không tệ. Đến lúc người mua chuẩn bị đi, người bán nói sẽ đem hàng ra phía sau đóng gói. Thế nhưng, khi người ta về nhà mở kiện hàng ra thì bên trong toàn là gạch đá, hoàn toàn không phải đồ điện, đến lúc này họ mới biết hàng đã bị người bán đánh tráo, biết mình đã bị lừa. Họ muốn quay lại tìm thì đường quá xa, còn phải tốn thêm không ít chi phí đi lại, nên chỉ đành ngậm ngùi chịu thiệt, từ đó rút ra bài học rằng mua hàng thì phải một tay giao tiền một tay nhận hàng và kiểm tra tại chỗ thì mới chắc chắn được. Những người thường xuyên đi công tác cũng hay gặp phải chuyện này. Đến nay chuyện như thế này không còn chỉ thỉnh thoảng xảy ra ở một thành phố nữa, mà đã trở thành chuyện thường tình. Những chuyện lừa lọc ngày càng nhiều, những người lừa gạt trong kinh doanh cũng ngày càng nhiều. Tại sao trước đây không có nhiều như vậy? Đơn giản là vì lúc trước, có những người còn chưa phát hiện ra những chiêu trò lừa đảo này. Đến khi các chiêu trò này trở nên phổ biến trong xã hội thì các thương nhân này lần lượt bắt chước, noi theo, ai cũng làm như vậy. Họ đều làm như vậy, chẳng lẽ lương tâm của họ về sau mới bị bại hoại sao? Không phải. Bản thân những người này vốn đã chẳng có lương tâm gì, chỉ là trước đây sự từng trải và hiểu biết của họ còn hạn chế, nên chưa biết cách lừa người gạt người như thế. Sau này theo sự bại hoại của nếp sống xã hội, người ta ngày càng không nương tay, ngày càng tàn nhẫn khi làm những việc đó, và tính chất việc họ làm cũng ngày càng tồi tệ hơn.

Loại người này có thể dùng thủ đoạn lừa người gạt người trong kinh doanh, vậy khi làm những việc khác họ có lừa người gạt người không? (Thưa, có.) Thủ đoạn và phương thức kinh doanh của họ, cũng như thái độ của họ đối với những việc như lừa người gạt người, đại diện cho nhân tính của họ. Với loại nhân tính như vậy, bất kể việc gì họ làm, ngay cả khi không phải là lừa người gạt người, thì cũng chẳng tốt đẹp hơn việc lừa gạt là bao. Bởi vì chính trên nền tảng nhân tính như vậy mà họ làm ra những việc này, cho nên bất kể họ làm việc gì thì tính chất những việc này về cơ bản đều giống nhau, hoàn toàn không có bất kỳ tri giác nào của lương tâm. Những người này mà làm quan thì cách thức nói năng và hành động cũng giống hệt như lúc kinh doanh, lương tâm họ chẳng có tác dụng. Họ lừa người, gạt người, hại người, giết người, vi phạm pháp luật, họ có thể làm ra bất kỳ việc trái với nhân tính, trái với đạo đức và đạo nghĩa nào. Khi kinh doanh, họ như vậy, khi làm chính trị, họ cũng như vậy. Nếu họ làm nghiên cứu khoa học, thì có vì lĩnh vực họ tham gia khác đi mà nhân tính của họ cũng có sự thay đổi không? Không đâu. Các ngươi nói xem, loại người này có điều kiện vượt trội để làm công tác sự vụ trong hội thánh không? Có người nói: “Anh này chị kia ở ngoài thế gian từng là ông chủ lớn, hoặc là tổng giám đốc. Chiêu thức kinh doanh của họ đặc biệt cao tay, chỉ có điều có chút khó coi, đôi khi họ cũng có thể lừa người gạt người. Tôi không biết đề bạt dạng người này làm công tác sự vụ trong hội thánh thì có thích hợp không?” Các ngươi nói xem, dạng người này có phải là người tốt không? Có phải là nhân tài đích thực không? (Thưa, không phải.) Thế mà có những người luôn xem họ là nhân tài, cứ tiến cử những người có chút danh tiếng ngoài xã hội này, nói rằng người này là tổng giám đốc hoặc quản lý cấp cao, người kia là top 10 thanh niên kiệt xuất của xã hội, là người lao động tiên tiến, người khác nữa là thạc sĩ, tiến sĩ, hoặc từng là luật sư, nhà báo, từng là công chức hay quan chức. Những người tiến cử họ thực ra đều không có hiểu biết thuộc linh, cũng không hiểu lẽ thật, cứ nghĩ rằng các hạng mục công tác trong nhà Đức Chúa Trời cần những nhân tài và tinh anh từ mọi ngành nghề trong xã hội đảm nhiệm, nên đã tiến cử những người này làm người phụ trách các hạng mục công tác khác nhau trong nhà Đức Chúa Trời. Kết quả là sau khi làm người phụ trách, họ chẳng những không làm tốt công tác mà còn làm rối tinh rối mù, khiến công tác của hội thánh đầy rẫy hỗn loạn, quả thực là làm bừa bãi! Ngoài việc dám làm những công tác này theo kiểu làm bừa, làm xằng làm bậy, cả gan làm càn và ngang ngược ra, thì họ chẳng thể thực sự chiếu theo nguyên tắc lẽ thật mà làm bất kỳ hạng mục công tác nào. Đặc trưng lớn nhất của những người này là bất kể làm việc gì cũng chẳng bao giờ tìm kiếm lẽ thật và chẳng có lòng kính sợ Đức Chúa Trời. Tại sao họ có thể làm người phụ trách chứ? Một mặt, họ cho rằng mình là tinh anh, là nhân tài, là trụ cột trong các ngành nghề ở xã hội, nên khi đến nhà Đức Chúa Trời thì họ phải nhận việc chính, gánh việc nặng và đóng vai trò quan trọng, phải có máu mặt và nhà Đức Chúa Trời không thể thiếu họ, cho nên họ thấy mình phải xuất đầu lộ diện, làm người phụ trách và đảm đương công tác. Mặt khác, nhà Đức Chúa Trời cũng cho họ cơ hội, họ đã muốn làm thì cứ để họ thử, bất kể năng lực đến đâu thì cũng cho thử sức một phen. Thế nhưng những người này chẳng có chân tài thực học gì cả. Chưa nói đến chuyện họ có hiểu lẽ thật và có thể hành động theo nguyên tắc lẽ thật hay không, chỉ riêng về tố chất, tài cán, sự thấu suốt, năng lực lĩnh hội và nhìn nhận các loại sự việc và sự vật, cùng năng lực xử lý công chuyện của họ, thì đa số đều không có chân tài thực học. Họ đã không có chân tài thực học thì tại sao còn tích cực và chủ động muốn làm việc chính và gánh vác công tác đến vậy? Chính là do dã tâm và lòng hư vinh của họ chồm lên, cộng thêm tính họ mặt dày mày dạn, không biết lượng sức mình và lúc nào cũng muốn thể hiện. Kết quả là họ chẳng làm tốt công tác, chỉ toàn tự khiến mình mất mặt. Tại sao nói như vậy? Bởi vì sau khi đảm nhận công tác, những gì họ làm đều không đầu không đuôi, rối tinh rối mù, dùng hai chữ để mô tả thì chính là “hỗn loạn”. Họ dùng người không có nguyên tắc, xử lý sự việc không có nguyên tắc, chi tiêu của lễ không hợp lý, cũng không theo sát và xử lý các hạng mục công tác kịp thời. Ngay cả những công tác mang tính sự vụ cơ bản nhất mà đa số họ cũng không đảm đương nổi, khiến mọi thứ rối tung hỗn loạn. Trồng trọt, nuôi gà, nuôi cừu, v.v., những việc này chẳng có một ai trong số họ làm được. Họ không rõ mùa nào trồng cây gì, khi nào cày đất, bón phân, nhổ cỏ, khi nào thu hoạch. Họ làm công tác thành một mớ hỗn độn. Nếu ban đầu không dùng những người này thì họ lại cảm thấy nhà Đức Chúa Trời không cho họ cơ hội, và coi thường họ. Thế nhưng cho họ cơ hội rồi, dùng họ rồi thì kết quả thế nào? Họ làm công tác nát bét, cuối cùng vẫn phải để nhà Đức Chúa Trời đi thu dọn đống đổ nát đó. Hạng mục công tác nào cũng phải có Bề trên chỉ đạo và kiểm định, ngay cả những việc nhỏ như giữ gìn vệ sinh môi trường trong nhà và ngoài trời mà Bề trên cũng phải chỉ đạo. Cuối cùng, nhờ Bề trên giám sát, quy hoạch và điều phối nghiêm ngặt, từng bước chỉ đạo và chỉ huy bắt đầu từ con số không, mà đến nay mọi chuyện mới xem như cơ bản đi vào quỹ đạo đúng. Không nói chuyện khác, chỉ nói những vấn đề tồn tại ở nông trại thôi, nếu không có người thích hợp quản lý vệ sinh thì cũng không được. Đa số mọi người giống như thú hoang, vứt rác khắp nơi, khi nói chuyện thì chẳng cân nhắc xem mình đang ảnh hưởng xung quanh thế nào, cứ la hét om sòm, chẳng khác gì người ngoại đạo. Khi đối diện với các sự vụ cụ thể, chẳng ai trong số những người được gọi là nhân tài đó có thể quản lý tốt một cách có hệ thống, ngay cả việc nhỏ như quản lý vệ sinh và môi trường mà họ cũng làm không xong. Những việc bên ngoài này không liên quan đến lẽ thật, chỉ cần có chút tố chất và chút lương tâm là có thể làm tốt, người nào ngay cả những việc bên ngoài như vậy mà cũng không làm tốt được, thì chính là phế vật. Họ không có lương tâm và lý trí, cũng không có tố chất và tài cán, vậy mà còn muốn làm quan, muốn có tiếng nói quyết định. Không cho họ làm quan thì họ còn phản kháng, còn cãi lý và chẳng chịu phục ai. Họ chẳng phải là ma quỷ sao? Sau khi vạch trần và đào thải những ma quỷ này, nhà Đức Chúa Trời đã lựa chọn những người thích hợp để quản lý nông trại. Nhờ sự chỉ đạo và quy hoạch của Bề trên, hiện nay nông trại được xây dựng cực kỳ tốt, ai cũng thích, ngay cả người địa phương cũng rất ngưỡng mộ và tán thành. Có người nói: “Tôi chưa từng thấy nông trại nào được quản lý sạch sẽ và đẹp đẽ như thế này. Chúng tôi mười năm cũng không cải tạo được như vậy, sao các anh lại có thể quản lý tốt đến vậy trong thời gian ngắn như thế? Các anh mất mấy năm thì cải tạo được như thế này?”. Thực ra chỉ một năm đã đem lại thay đổi lớn đến vậy, biến một đống hoang tàn thành công viên và vườn hoa trong mắt anh chị em, thậm chí có người còn nói nơi này giống như tiên cảnh, giống như trong tranh vậy. Quy hoạch và xây dựng tốt rồi thì quả thật khác hẳn. Trước đây nơi này chỗ nào cũng là đất, là bùn, đầy rác rưởi và bừa bộn, về sau được chỉnh đốn và quản lý thì ngày càng tốt hơn. Lâu dần mọi người đã quen với môi trường sống như vậy, nếu bẩn hơn hay lộn xộn hơn một chút thì có người còn không thích ứng được. Ngươi xem, thông qua cách quản lý đó, đa số mọi người đều được hưởng lợi ích và hình thành được thói quen sinh hoạt tốt. Tất cả đều nhờ Bề trên đích thân chỉ đạo mới xây dựng được như vậy. Ngược lại, những người được gọi là nhân tài đó, thật ra chẳng có ai làm được việc thực tế, ngay cả công tác vệ sinh cơ bản nhất mà họ cũng quản lý không tốt. Họ không biết trong phòng nên bài trí thế nào cho thích hợp, họ cũng không nhìn thấu được ai thích hợp làm bổn phận nào. Dạng người như vậy có thể đảm đương công tác gì chứ? Công tác gì, họ cũng không làm được. Ngay cả môi trường sống của chính mình mà họ còn không biết quản lý, thì còn gọi là nhân tài gì chứ? Những người này ngay cả chút trí thông minh đó cũng không có, họ nói chuyện không rõ ràng, nhìn nhận sự việc cũng không chuẩn, chẳng có chủ kiến gì cả. Có thể thấy rằng cái “nhân tài” này phải để trong ngoặc kép, họ chẳng phải là người có chân tài thực học gì. Nhân tài thì trước hết phải có một vài thứ nhất định trong nhân tính, chẳng hạn như năng lực thưởng thức và giám định, năng lực thưởng thức và tán thưởng, sự thấu suốt, v.v.. Nếu ngay cả những thứ đó mà cũng không có thì khi làm việc cụ thể họ chỉ toàn tự làm mình mất mặt thôi. Ngay cả một khu vườn hay một hai mẫu đất mà cũng không biết quản lý và quy hoạch, không biết tận dụng hiệu quả, thì chẳng phải là nhân tài gì. Đâu cần ngươi quản lý cả trái đất, chỉ là giao một hai mẫu đất để ngươi quản lý cho tốt, nghĩa là chỉnh trang cho đẹp đẽ và sạch sẽ, tạo môi trường thanh nhã, để người sống trong đó cảm thấy thật tuyệt vời, đến cả chim chóc bay tới cũng chẳng muốn rời đi. Những người gọi là nhân tài đó chẳng là gì cả, họ không làm nổi bất kỳ công tác cụ thể nào, vậy thì họ đâu phải là nhân tài gì, mà là họ bị thiếu gì đó trong nhân tính. Chẳng làm được việc gì mà họ vẫn muốn phô trương bản thân, muốn làm lãnh đạo và người làm công, muốn đứng mũi chịu sào và làm người phụ trách. Đây là tâm tính gì? Đây chính là tâm tính kiêu ngạo.

Giờ quay trở lại chủ đề thích lừa người gạt người trong kinh doanh. Lừa người gạt người thì thuộc về vấn đề gì? Một mặt, đây là vấn đề nhân tính không tốt, không có lương tâm và lý trí. Vậy xét từ hành vi của họ, điều họ bộc lộ ra là tâm tính bại hoại nào? Trước hết, loại người này có tâm tính giả dối và tà ác, tiếp theo là họ chán ghét lẽ thật và cương ngạnh. Khi lừa gạt người khác, sự tàn nhẫn của họ chính là sự hung ác, bất kể đối phương nghèo hay giàu, có tiền hay không có tiền, họ đều lừa như nhau, tuyệt đối không nương tay. Tâm tính bại hoại của loại người này ở phương diện nào cũng rất nghiêm trọng. Các ngươi nói xem, loại người này có dễ được cứu rỗi không? (Thưa, không dễ.) Xét từ tâm tính bại hoại thì họ không dễ được cứu rỗi. Vậy xét từ nhân tính thì phương diện nào khiến họ không dễ được cứu rỗi? Có phải chuyện này có căn nguyên không? (Thưa, họ không có lương tâm.) Đúng vậy, người không có lương tâm thì không dễ được cứu rỗi. Nơi họ, cơ quan gọi là lương tâm đó đã không còn nữa, không tồn tại nữa. Không có tác dụng của lương tâm, thì người ta không có điều kiện cơ bản để tiếp nhận và thực hành lẽ thật, cho nên họ rất khó được cứu rỗi, cũng có thể nói là không thể được cứu rỗi. Có lẽ loại người này sẵn lòng đem sức lực phục vụ và có thể đem sức lực phục vụ được đôi chút, cuối cùng vì đem sức lực phục vụ đạt tiêu chuẩn và đạt yêu cầu của Đức Chúa Trời mà họ trở thành người đem sức lực phục vụ trung thành và được sống sót, đây cũng là sự ân đãi của Đức Chúa Trời. Nhưng những người đem sức lực phục vụ trung thành được sống sót không đồng nghĩa với chuyện họ được cứu rỗi. Được sống sót và được cứu rỗi là hai khái niệm khác nhau, giữa chúng có khoảng cách và sự khác biệt. Nguyên tắc, ranh giới tối thiểu, phương hướng và mục tiêu trong hành động của người ta liên quan nhiều tới chuyện nhân tính người ta tốt hay xấu. Nếu người ta yêu thích những điều tích cực hoặc có chút ý thức chính nghĩa, thì điều đó cho thấy lương tâm họ có tri giác, cho thấy họ vẫn còn chút lương tâm. Có những người làm người mà không có chút ý thức chính nghĩa nào, cũng chẳng có lựa chọn tích cực nào. Họ chỉ thích làm những việc tà ác và thấy rất phản cảm với những điều tích cực. Nhất là khi ai đó nói một chút về những cách hành động chính diện, nói rằng trong việc làm người thì phải có nhân tính, có lương tâm, có ranh giới tối thiểu về đạo đức và phải giữ khuôn phép, là họ cho rằng người đó đang dạy đời. Dạy đời là cách nói dễ nghe, thực ra họ đang khinh miệt, đang chế giễu ngươi. Họ cho rằng ngươi làm người như vậy là thất bại: “Xem đi, anh sống chật vật biết bao! Không biết lừa lọc, cũng không biết kiếm lợi bằng thủ đoạn, làm người lúc nào cũng giữ khuôn phép đến vậy, lúc nào cũng nhát gan đến vậy. Thời buổi này, to gan thì ăn no, nhát gan thì chết đói. Anh nhát gan thì không được rồi!”. Họ cho rằng làm người theo lương tâm và nguyên tắc là nhát gan, còn dám lừa lọc mới là to gan. Thực sự là vì to gan sao? Có những người ở quốc gia của con rồng lớn sắc đỏ vì tin Đức Chúa Trời mà bị bách hại và bắt bớ, nhưng họ không sợ, vẫn kiên trì tin Đức Chúa Trời. Chuyện này có liên quan đến to gan hay nhát gan không? (Thưa, không.) Chuyện này liên quan đến sự mưu cầu của con người. Trong nhân tính của họ có nhu cầu và khao khát tin Đức Chúa Trời, đây không phải là chuyện to gan hay nhát gan. Có những người làm ăn bằng cách lừa lọc, nhiều lần đối mặt với nguy cơ bị truy bắt, bị tịch thu tài sản, thậm chí phá sản và đóng cửa, nhưng họ vẫn tiếp tục lừa đảo, thậm chí lừa đến mức gây chết người mà họ cũng chẳng quan tâm. Có những người làm ăn lừa đảo bằng cách lập công ty ma, thực ra công ty đó hoàn toàn không tồn tại, không có cơ sở sản xuất, cũng chẳng làm ra sản phẩm gì. Họ chỉ dựa vào cái miệng mà đi khắp nơi nhận đơn hàng, khi người ta giao tiền đặt cọc xong thì họ bỏ trốn mất tăm. Họ cứ lừa từng vụ như thế, rồi cả nhà họ ăn ngon mặc đẹp nhờ số tiền đó. Thậm chí có người lừa đến mức nào? Những cơ quan, đơn vị cấp cao mà họ cũng dám lừa. Có lúc họ rơi vào cảnh chỉ mành treo chuông, có lẽ có người đã nhìn thấu quỷ kế của họ và tố giác họ, trong lòng họ cũng biết làm vậy rất nguy hiểm, nhưng họ chẳng bận tâm. Nếu lần này may mắn thoát được thì lần sau họ vẫn tiếp tục lừa. Chỉ cần lừa được tiền là họ xem như mình đã thắng, đã “công thành danh toại” rồi. Nhưng bảo họ tin Đức Chúa Trời thì họ không dám. Họ nói: “Tin Đức Chúa Trời thì bị chính quyền kết tội, bị bắt, tôi không dám tin đâu!”. Nhưng họ đi lừa bịp đủ kiểu thì lại không sợ bị bắt. Thấy ngươi đi nhóm họp, họ còn nói: “Gan anh lớn thật đấy! Hiện giờ, nhà nước đang điên cuồng bắt bớ người tin Đức Chúa Trời, sao anh vẫn dám đi nhóm họp vậy?”. Ngươi nói: “Chúng tôi tin Đức Chúa Trời và đi con đường đúng đắn, thì không sợ bị bắt. Còn các anh lập công ty ma để lừa đảo mới thực sự nguy hiểm, sao anh không sợ vậy?”. Họ nói: “Chúng tôi làm ăn thì không sợ nguy hiểm. Nhưng chính quyền bắt bớ tín đồ gắt gao như vậy, mà các anh vẫn dám nhóm họp, thì đúng là to gan quá rồi!”. Thấy người tin Đức Chúa Trời bị bắt thì họ không dám tin, nhưng họ lừa đảo khi làm ăn thì lại không sợ bị bắt. Họ là thứ gì vậy? Đây chẳng phải là sự khác biệt trong nhân tính sao? Con người với nhau khác biệt ở chỗ đó. Tâm tính bại hoại của người ta đều giống nhau, đều là mấy loại tâm tính bại hoại đó, nhưng xét về sự khác biệt trong nhân tính thì có những người mãi mãi không thể nào tin Đức Chúa Trời, không thể nào trở thành người trong nhà Đức Chúa Trời. Dạng người này có tin Đức Chúa Trời thì cũng không thể nào được cứu rỗi. Có thể thấy được điều này từ khía cạnh nào? Chính là từ nhân tính của họ. Có người cũng ủng hộ khi vợ mình tin Đức Chúa Trời, nhưng khi vợ khuyên nên tin Đức Chúa Trời, thì họ nói tin Đức Chúa Trời quá nguy hiểm nên không dám tin. Thế mà khi làm ăn thì họ vẫn có thể lừa lọc, gặp phải nguy hiểm lớn đến đâu cũng mặc kệ. Việc gì trái pháp luật họ cũng có thể làm, thủ đoạn gì họ cũng dám dùng. Dù chính quyền giám sát nghiêm ngặt đến đâu, pháp luật kết tội và tuyên án đến đâu, họ cũng mặc kệ. Họ làm người thì không có ranh giới tối thiểu, hành động thì không nghĩ đến hậu quả, thấy chỉ cần có lợi là được. Dạng người này mà tin Đức Chúa Trời thì cũng không đạt được lẽ thật và không thể được cứu rỗi, bởi vì họ không yêu thích lẽ thật mà chỉ yêu thích tiền tài. Chỉ cần làm ăn là họ có thể lừa người gạt người, có thể giở thủ đoạn, lòng dạ đen tối của họ liền biểu hiện ra. Có dạng phẩm chất nhân tính như vậy thì người ta hoàn toàn tiêu tùng rồi, Đức Chúa Trời không cứu rỗi dạng người như vậy. Có người nói: “Dạng người như vậy mà kiếm được rất nhiều tiền rồi dâng hiến cho nhà Đức Chúa Trời thì sao?”. Nhà Đức Chúa Trời không cần loại tiền đó, nhà Đức Chúa Trời không cần thứ tiền không đến từ con đường chính đáng. Hễ kinh doanh là có thể lừa lọc người khác, nhân tính của loại người này quá kém. Kém đến mức nào? Ngươi bảo họ thử tìm lương tâm mình xem, thì họ nói: “Tôi chẳng cảm thấy gì cả. Tôi chẳng biết lương tâm ở đâu, cũng chẳng biết lương tâm là gì, lương tâm giá bao nhiêu tiền một cân chứ?”. Nghe vậy thì ngươi hiểu rồi: “Chẳng trách cùng làm ăn như nhau mà họ kiếm tiền nhanh hơn người khác. Chẳng trách khách hàng đều mua hàng của họ. Hóa ra họ có thủ đoạn, làm ăn có mánh khóe, hành vi lừa đảo của họ quá nghiêm trọng!”. Nhưng họ chẳng những không thấy đó là chuyện đáng xấu hổ, mà còn khoe khoang: “Nhìn các anh làm ăn nghiêm chỉnh chưa kìa. Lừa người ta một lần là tim đập chân run. Xem tôi đi, tôi chẳng sợ. Chỉ cần cục công thương hay cảnh sát không nắm được chứng cứ là ổn cả. Muốn kiện tôi à? Đâu có chứng cứ! Xem tôi lừa cao tay thế nào đi! Anh làm được không? Đâu có làm được! Anh vừa lừa người ta là lộ ngay. Anh đâu có thủ đoạn đó, tố chất anh kém quá đấy!”. Đây là hạng người gì? Đây là kẻ ác. Loại người này còn có hy vọng cứu vãn không? Họ đã vô phương cứu chữa rồi. Dạng người này không thể được cứu rỗi không phải vì họ có tâm tính bại hoại, mà vì nhân tính của họ quá kém. Kém ở chỗ nào? Kém ở chỗ họ không có nhân tính, không có lương tâm, họ đã đánh mất lương tâm rồi. Đánh mất lương tâm nghĩa là gì? Nghĩa là hành động mà không có ranh giới tối thiểu của lương tâm. Ranh giới tối thiểu này được xây dựng trên nền tảng của lương tâm, lương tâm chính là ranh giới tối thiểu đó. Bất kể người bị ngươi lừa lọc khi làm ăn là ai, người tốt hay kẻ xấu, thì hành vi đó đều trái đạo đức, trái lương tâm và trái nhân tính. Một khi ngươi làm việc đó rồi thì lương tâm ngươi sẽ mãi mãi bị cắn rứt. Đây là vết nhơ cả đời. Làm người thì đừng làm như vậy. Bất kể ngươi lừa ai, số tiền lớn hay nhỏ, ngay cả khi ngươi lừa kẻ ác hay người xấu thì đó vẫn là lừa. Vì thế, trong bất kỳ hoàn cảnh nào hoặc đối với bất kỳ ai, ngươi cũng không được lừa gạt. Đây chính là có ranh giới tối thiểu của lương tâm trong việc làm người, là sức ràng buộc đến từ tác dụng của lương tâm. Nếu lương tâm có tác dụng thì ngươi sẽ có ranh giới tối thiểu trong hành động. Nếu lương tâm không còn tác dụng thì ngươi sẽ vượt qua ranh giới tối thiểu đó, việc gì cũng có thể làm ra được. Có thể nói, dạng người này không có chút lương tâm và lý trí nào, còn không bằng cầm thú. Nếu có người cho rằng cách nói này quá nặng, thì chúng ta đổi cách nói khác: người không có chút lý trí nào thì giống như cầm thú. Người không có nhân tính thì chẳng phải là cầm thú sao? Là con người mà không có nhân tính, thì thực chất của người đó là gì? Chẳng phải chính là cầm thú sao? Khác với cầm thú ở chỗ ngươi có thể đứng thẳng, có ngôn ngữ, còn cầm thú không có năng lực ngôn ngữ như con người. Nhưng vì kiếm lợi cho bản thân, mà ngươi có thể dùng đủ loại thủ đoạn để lừa lọc, trong khi cầm thú đâu có những thủ đoạn đó. Vì thế, nói loại người này ngang với cầm thú đã là nhẹ lời rồi, thực ra họ còn không bằng cầm thú. Người không bằng cầm thú mà còn có thể được cứu rỗi sao? Họ không tiếp nhận lẽ thật chút nào, chỉ thích tiền tài. Đây là vấn đề về bản tính của họ, không ai có thể thay đổi được. Mong loại người này có thể tiếp nhận lẽ thật thì chẳng khác nào mong gà trống đẻ trứng, chuyện đó chẳng bao giờ xảy ra đâu. Cho nên, trong nhân loại bại hoại, ngoài những kẻ giết người cướp của, làm việc phi pháp ra, thì loại người chuyên lừa lọc này bị xem là có nhân tính kém nhất, là thứ rác rưởi và cặn bã trong nhân loại. Trong thời đại kinh tế phát triển mạnh mẽ hiện nay, loại người kinh doanh bằng cách lừa lọc đặc biệt nhiều. Nhưng dù họ có nhiều đến đâu, chỉ riêng dạng biểu hiện như vậy cũng đủ cho thấy một vấn đề của nhân tính. Lương tâm của một người như thế nào, họ có ranh giới tối thiểu của lương tâm hay không, đây chính là một tiêu chí để đánh giá nhân tính. Một người ngay cả nhân tính cũng không có thì còn nói gì đến chuyện được cứu rỗi? Ít nhất trong nhân tính của người ta phải có điều kiện để tiếp nhận lẽ thật. Mà loại người có thể lừa lọc thì trong nhân tính của họ căn bản không có điều kiện để tiếp nhận lẽ thật. Vì thế, bảo họ tiếp nhận lẽ thật để thoát khỏi tâm tính bại hoại là chuyện bất khả thi. Chỉ những người có lương tâm và lý trí mới có thể tiếp nhận lẽ thật, thoát khỏi tâm tính bại hoại và đạt được sự cứu rỗi. Bởi vì lương tâm của họ có mức độ tri giác nhất định, lương tâm của họ có thể phát huy tác dụng nhất định khi họ làm người và hành động. Thông công lẽ thật cho loại người như vậy, nói cho họ cách bước vào lẽ thật, cách thoát khỏi tâm tính bại hoại, điều gì hợp ý Đức Chúa Trời, điều gì không hợp ý Đức Chúa Trời và con người nên hành động thế nào, thì họ đều có thể tiếp nhận và thuận phục. Thông công lẽ thật với những người này thì thích hợp và đúng đối tượng. Nếu thông công lẽ thật với loại người lấy việc lừa người gạt người làm thủ đoạn chính trong kinh doanh thì chẳng khác nào đàn gảy tai trâu. Vì vậy, đối với loại người làm kinh doanh này, ngươi cứ xem khi họ làm ăn hoặc giao dịch và qua lại với người khác, thì thủ đoạn họ dùng có chính đáng hay không, họ có ranh giới tối thiểu và sự ràng buộc của lương tâm hay không, lương tâm của họ có thể phát huy tác dụng trong quá trình họ giao dịch và qua lại với người khác hay không. Nếu lương tâm họ phát huy tác dụng và có sức ràng buộc đối với họ, thì họ vẫn còn ổn và đáng để qua lại, có thể rao truyền phúc âm và thông công lẽ thật cho dạng người như vậy. Nếu họ có thể tiếp nhận lẽ thật thì họ còn có hy vọng đạt được sự cứu rỗi. Về phương diện thích kinh doanh, chúng ta nói đến đây thôi.

Yêu thích văn nghệ

Chúng ta hãy xem tiếp biểu hiện yêu thích văn nghệ. Loại người yêu thích văn nghệ thì bẩm sinh đã thích ca hát nhảy múa, chơi đủ các loại nhạc cụ, lại còn thích biểu diễn. Càng đông người thì họ càng hưng phấn, sẽ muốn biểu diễn chút tiết mục nào đó, như diễn tấu nói, diễn tiểu phẩm, ca hát, nhảy múa hoặc chơi nhạc cụ, để giúp mọi người vui vẻ, thư giãn một chút. Yêu thích văn nghệ thuộc về phương diện biểu hiện nào? Trước hết phải xem nội dung của văn nghệ là những điều tích cực hay tiêu cực. Nếu các ngươi chưa nói rõ được thì Ta hỏi các ngươi: Ca hát nhảy múa có phải là nhu cầu chính đáng của nhân tính không? (Thưa, phải.) Nó là nhu cầu chính đáng của nhân tính, nghĩa là con người thông qua tiếng hát, ngôn ngữ cơ thể hoặc một phương thức mang tính nghệ thuật nào đó để làm cho cuộc sống thêm thú vị, gia tăng niềm vui trong cuộc sống hoặc diễn đạt một tâm trạng của mình. Như vậy có được xem là chính đáng không? (Thưa, được.) Vậy quay lại chủ đề ban đầu, yêu thích văn nghệ, thích ca hát nhảy múa, chơi các loại nhạc cụ và biểu diễn, những biểu hiện này thuộc phạm trù nào? (Thưa, hứng thú và sở thích.) Đã là hứng thú và sở thích thì được quy vào phương diện nào? (Thưa, điều kiện bẩm sinh.) Có những đứa trẻ từ năm, sáu tuổi đã thích nghe nhạc, xem múa, chỉ cần nghe thấy nhịp nhạc là tay chân chúng cử động, muốn nhảy múa, đây là thứ bẩm sinh. Có người đã mười mấy tuổi, hai mươi mấy tuổi rồi, khi nghe ca khúc hay điệu nhạc nào đó, muốn học cũng không học được. Họ muốn học nhảy múa cũng rất vất vả, tay chân đặc biệt vụng về, đây cũng là thứ bẩm sinh. Ngược lại, những người bẩm sinh yêu thích ca múa thì vừa nghe tiếng nhạc đã có thể múa may nhảy nhót theo, vừa nghe người khác hát đã có thể học hát theo, học vài lần là thuộc. Điều này chứng tỏ trong xương tủy của loại người này bẩm sinh đã có những thứ đó, trong lòng họ vốn thích những thứ đó, và họ cũng giỏi những thứ đó, không cần ai dạy cũng biết. Thậm chí có một số người đặc biệt xuất chúng, mới bảy tám tuổi đã biết hát vài câu hí khúc địa phương, lại còn hát rất có hồn, cao độ chuẩn, tiết tấu chuẩn, thật hiếm có! Có những đứa trẻ còn biết hát các ca khúc thịnh hành, có đứa còn biết nhảy múa, như múa Ấn Độ, múa Tân Cương hoặc các điệu múa hiện đại. Chúng vừa nghe thấy vũ khúc hay âm nhạc là trong lòng đã thấy thích, cơ thể lập tức chuyển động theo. Nếu không cho chúng hát thì chúng sẽ lén hát thầm hoặc tìm một nơi thích hợp để hát thật to. Chúng muốn hát, thích hát, không ai hạn chế được. Chúng không chịu ảnh hưởng từ cha mẹ, cũng không có ai dạy dỗ, từ nhỏ chúng đã có những sở trường hoặc sở thích đó rồi. Rất rõ ràng, đây chính là điều kiện bẩm sinh, bẩm sinh chúng đã có hứng thú với văn nghệ. Vậy có hứng thú với văn nghệ thì chúng nhất định phải làm công việc này, nhất định cả đời này phải làm trong ngành này sao? Cũng chưa chắc, chuyện này còn phải xem sự ấn định của Đức Chúa Trời, xem Ngài tể trị và an bài thế nào. Nếu Đức Chúa Trời an bài cho người đó làm công việc về văn nghệ thì cả đời họ sẽ không rời khỏi ngành này. Còn nếu Đức Chúa Trời không an bài, không ấn định cho họ làm nghề này thì họ chỉ đơn thuần có hứng thú và sở thích này mà thôi, dù có thích cũng chưa chắc sẽ làm công việc này. Có những người từ nhỏ đã yêu thích văn nghệ, cha mẹ thấy con có hứng thú và sở thích này thì ngẫm nghĩ: “Vậy thì bồi dưỡng cho nó một chút thôi. Có lẽ nhà mình sẽ đào tạo ra một tài năng văn nghệ, biết đâu còn nổi tiếng và thành danh nữa!”. Thế là họ bắt đầu bồi dưỡng con cái học ca hát nhảy múa, cuối cùng con họ cũng thi đỗ vào trường nghệ thuật. Sau khi tốt nghiệp, tuy niềm yêu thích văn nghệ của những đứa trẻ này không hề giảm sút, nhưng chuyện chúng có thể làm trong ngành này hay không thì chưa chắc. Cũng có thể đến lúc chuẩn bị vào nghề thì tâm trạng của chúng thay đổi, thái độ và cách nhìn đối với công việc này cũng thay đổi, hoặc vì các nguyên nhân của hoàn cảnh khách quan bên ngoài mà cuối cùng chúng lỡ mất cơ hội bước vào ngành đó. Những chuyện này đều có thể xảy ra. Chuyện này tùy vào sự tiền định của Đức Chúa Trời. Nhưng xét từ căn nguyên thì hứng thú và sở thích của người này chính là điều kiện bẩm sinh của họ, tức là trước khi họ được sinh ra, Đức Chúa Trời đã an bài cho họ sở trường như vậy, đã thêm vào trong nhân tính của họ một vài phẩm chất đặc biệt nào đó, khiến họ bẩm sinh đặc biệt nhạy bén và có khiếu về âm nhạc, vũ đạo và những lĩnh vực văn nghệ khác. Vì vậy, điều họ bộc lộ trong cuộc sống chính là đặc biệt thích ca hát và nhảy múa. Bất kể tính cách của họ hoạt bát hay rụt rè, thích nói chuyện hay không thích nói chuyện, thì trong xương tủy họ luôn có một thứ không thể xóa đi được, chính là thích hát, thích nhảy, thích biểu diễn. Có những người khi cất tiếng hát thì đặc biệt hăng hái và tâm hồn được giải phóng, nhưng khi trò chuyện với người khác thì lại vô cùng rụt rè, họ không giỏi ăn nói, cũng không giỏi giao tiếp với người khác. Khi qua lại với mọi người, họ đặc biệt dè dặt, thậm chí còn căng thẳng và sợ hãi, không biết phải ứng phó với những hoàn cảnh đó thế nào. Nhưng một khi bước lên sân khấu biểu diễn thì họ lại tự nhiên thành thạo, như biến thành một con người khác vậy. Người ngoại đạo nói rằng đó là tổ nghề ban cho họ cần câu cơm này, nói vậy có đúng không? Thực ra đây là sự ấn định của Đức Chúa Trời. Một người bẩm sinh có sở trường, hứng thú và sở thích gì đều có liên quan đến sự tiền định của Đức Chúa Trời. Chuyện người ta có sở trường và sở thích gì đều đã được Đức Chúa Trời tiền định. Đức Chúa Trời ban cho ngươi một hứng thú và sở thích nào đó thì từ sâu thẳm nội tâm ngươi sẽ thích nó, tán thưởng nó, đặc biệt say mê nó. Khi ngươi làm công việc này hoặc làm những việc có liên quan đến công việc này thì nội tâm ngươi đặc biệt yên bình, ung dung, cũng đặc biệt có hứng thú. Vì vậy, nếu ngươi có một sở trường nào đó, khi công tác của nhà Đức Chúa Trời có nhu cầu thì ngươi nên làm bổn phận tương ứng với sở trường đó. Đối với ngươi, đây chính là cơ hội tốt nhất để phát huy sở trường của mình. Cũng vậy, vì sở trường đó là do Đức Chúa Trời ban cho nên nó không phải tài sản riêng của ngươi, ngươi không được tùy ý dùng bừa. Khi công tác của nhà Đức Chúa Trời cần đến, ngươi nên phát huy nó và dâng lên Đức Chúa Trời, dùng nó trong việc làm bổn phận. Đây là một điều kiện có lợi cho việc ngươi được cứu rỗi, cũng là một điều kiện vượt trội mà Đức Chúa Trời ban cho ngươi. Ngươi nên phát huy và vận dụng nó cho tốt, không được giữ lại cho riêng mình. Làm như vậy, một mặt ngươi có thể phát huy sở trường của mình, mặt khác ngươi còn có thể làm bổn phận của mình để báo đáp tình yêu thương của Đức Chúa Trời. Như vậy chẳng phải rất tốt sao? (Thưa, phải.)

Đức Chúa Trời ban cho con người một số sở trường nhất định. Trong đó, sở trường về văn nghệ, bất kể ở thời cổ đại hay thời hiện đại, đều không được người ta coi trọng, và bị xếp vào hàng thấp kém. Nhất là trong một số môi trường xã hội tương đối truyền thống và phong kiến, người ta luôn nhìn văn nghệ bằng cái nhìn thành kiến, và từ trước đến nay văn nghệ vẫn luôn bị một số người kỳ thị. Sở dĩ văn nghệ bị xác định tính chất như vậy, có cấp bậc, địa vị và định nghĩa như vậy giữa loài người, là do những quan niệm của con người, những tư tưởng phong kiến của con người, hoặc những quan điểm tư tưởng lệch lạc, sai lầm mà Sa-tan đã tiêm nhiễm vào con người gây ra. Ngoài ra còn có một nguyên nhân khác, đó là do bầu không khí xấu hình thành trong ngành nghề này bởi ảnh hưởng của xã hội tà ác và các trào lưu tà ác, cho nên người ta mới có những đánh giá không tốt về ngành văn nghệ. Do một số người hoạt động trong ngành này đã lợi dụng hứng thú và sở trường văn nghệ của mình để làm ra nhiều việc tiêu cực và tà ác, làm cho văn nghệ bị bôi nhọ và biến chất. Kết quả là mọi người có rất nhiều cái nhìn tiêu cực về giới văn nghệ, đồng thời cũng xem những người làm công việc về văn nghệ hoặc có hứng thú và sở thích về phương diện này là những nhân vật tiêu cực. Nhưng bất kể xã hội và nhân loại này nhìn nhận sở trường này như thế nào, thì tóm lại, bất kỳ ai, dù ở trong nhà Đức Chúa Trời hay ngoài nhà Đức Chúa Trời, nếu có sở trường hoặc hứng thú và sở thích về văn nghệ, thì không thể phủ nhận rằng sở trường và sở thích đó chính là điều kiện bẩm sinh. Chính vì là điều kiện bẩm sinh, nên chúng không phải là thứ tiêu cực, cũng không phải là thứ tà ác. Chỉ là vì trong một thời đại đặc biệt nào đó, dưới sự dẫn dắt của những tư tưởng và lý luận sai lầm nào đó mà người ta xác định tính chất văn nghệ cùng những người làm văn nghệ là tà ác và tiêu cực. Chuyện này thường xuyên xảy ra trong lịch sử. Cũng giống như hạt đậu nành làm thành đậu phụ thì rất thơm ngon, mọi người thích ăn, nhưng sau khi đậu phụ được lên men bởi nấm mốc và các vi sinh vật khác thì biến thành đậu phụ thối. Ngươi không thể vì không muốn ăn đậu phụ thối mà nói rằng đậu nành cũng không tốt. Lô-gic lý luận như vậy có đúng không? (Thưa, không đúng.) Rõ ràng là không đúng, đó là lô-gic lệch lạc. Cho nên, mặc dù trong các đoàn thể văn nghệ trên xã hội đều có những chuyện ô uế và xấu xí, nhưng ngươi không thể nói rằng bản thân văn nghệ là ô uế, xấu xí và tiêu cực, càng không thể nói rằng những người thích hoặc giỏi văn nghệ đều là những nhân vật phản diện tà ác và xấu xí. Đó là suy luận sai lầm, không phải là sự lĩnh hội đúng đắn. Nếu vì trong số họ có một số người tà ác mà nói rằng thứ văn nghệ sở trường của họ cũng là thứ tà ác, thì hoàn toàn sai lầm. Mọi loại sở trường mà Đức Chúa Trời ban cho con người đều là để phục vụ thế giới của nhân loại. Nếu nhân loại không có đời sống văn hóa thì sẽ quá tẻ nhạt. Đức Chúa Trời an bài cho con người có đời sống văn hóa là chuyện không sai. Những thứ tà ác đều là do ma quỷ Sa-tan nhân cơ hội quấy nhiễu mà ra. Cho dù so với nhân loại hoàn hảo - nhân loại cuối cùng sẽ được làm cho hoàn thiện, thì nhân loại mà Đức Chúa Trời tạo dựng hiện nay vẫn chưa hoàn hảo và còn có khiếm khuyết, nhưng không thể vì thế mà nói rằng nhân loại do Đức Chúa Trời tạo dựng là tà ác hay tiêu cực. Đây là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Các ngươi đã hiểu chưa? (Thưa, đã hiểu.) Bất kể thời đại tà ác hay thế giới tà ác này định vị văn nghệ thế nào, định vị hứng thú, sở thích hoặc sở trường ca hát nhảy múa ra sao, thì tóm lại, không thể phủ nhận đây là một nhu cầu của nhân tính, đồng thời cũng là một phương diện hứng thú và sở thích của một số người đặc biệt. Đã là hứng thú và sở thích thì nó là thứ con người có từ khi sinh ra, là thứ bẩm sinh vốn có của họ, nghĩa là nó đến từ Đức Chúa Trời và do Đức Chúa Trời ban cho. Trước khi con người được sinh ra, Đức Chúa Trời đã định sẵn nghề nghiệp mà mỗi người sẽ làm. Có người được đặt vào giới thương nghiệp để làm ăn, có người được đặt vào nhà máy để làm công nhân, có người được đặt vào lĩnh vực nông nghiệp để làm việc đồng áng, có người được đặt trong ngành giáo dục để làm giáo viên, có người được đặt trong ngành văn nghệ để làm diễn viên. Đến khi người ta được sinh ra, Đức Chúa Trời đã đặt những sở trường khác nhau đó vào trong những người khác nhau rồi. Nghĩa là trong sự sống xác thịt của con người, hứng thú, sở thích và sở trường của mỗi người đều khác nhau. Trước khi ngươi được sinh ra, Đức Chúa Trời đã đặt vào ngươi một vài thứ đặc biệt và khác biệt. Nếu ngươi không có hứng thú, sở thích và sở trường nào đó thì cũng không được oán trách Đức Chúa Trời đã không ban cho ngươi. Dù không có những điều đó, ngươi vẫn sống được và vẫn có thể làm bổn phận như thường. Ngươi không thua kém người khác điều gì, bởi vì ngươi và người khác cũng có cùng cơ hội để làm bổn phận. Tâm tính bại hoại của ngươi và của người khác đều như nhau, chẳng qua là điều kiện bẩm sinh khác nhau, mỗi người có sở trường và sở đoản riêng. Vậy điểm mấu chốt là gì? Điểm mấu chốt là sự khác biệt về nhân tính. Người có một số hứng thú, sở thích và sở trường đặc biệt trong điều kiện bẩm sinh không phải là nhân tài đặc biệt gì, còn người không có hứng thú, sở thích hay sở trường gì trong điều kiện bẩm sinh cũng không phải là hạng người tầm thường. Mọi người đều gần giống nhau. Chỉ là Đức Chúa Trời ban cho ngươi điều gì thì Ngài sẽ yêu cầu ngươi điều đó, và ngươi nên dùng nó trong bổn phận của mình, còn điều Ngài không ban cho ngươi thì Ngài cũng không yêu cầu thêm ở ngươi. Tuy Đức Chúa Trời không ban cho ngươi hứng thú, sở thích hay sở trường đặc biệt nào, nhưng những thứ hoặc điều kiện thuộc các phương diện khác nhau mà nhân tính của ngươi có cũng đủ để ngươi đảm đương một hạng mục công tác hay một bổn phận nào đó. Nếu ngươi không thể đảm đương được, thì có lẽ ngươi là người nằm ngoài hàng ngũ làm bổn phận, trường hợp đó lại là chuyện khác.

Về phương diện yêu thích văn nghệ này, chúng ta tạm dừng tại đây. Đối với việc xác định tính chất loại sở trường này, giờ các ngươi hẳn đã rõ ràng rồi. Đừng cho rằng những người yêu thích văn nghệ là hạng người lạc loài hay tà ác, nếu ngươi cho là vậy thì sự lĩnh hội của ngươi quá lệch lạc rồi. Ngươi phải đối đãi với những người như thế một cách đúng đắn, phải qua lại với họ một cách đúng đắn, khích lệ họ vận dụng những kỹ năng nghiệp vụ mà mình giỏi và hiểu vào trong việc làm bổn phận. Nếu là lãnh đạo hay người làm công, thì ngươi phải học cách dùng phương thức đúng đắn để giúp đỡ, hướng dẫn và dìu dắt họ phát huy sở trường của mình, giúp họ bước vào đúng quỹ đạo, thực hiện những bổn phận có liên quan đến hứng thú và sở thích của bản thân, trở thành một loài thọ tạo đạt tiêu chuẩn, không phụ những hứng thú, sở thích và sở trường đủ mọi mặt mà Đức Chúa Trời đã ban cho họ. Nếu không thể làm những bổn phận có liên quan đến hứng thú và sở thích của mình thì họ làm những bổn phận khác cũng được, nhưng ngươi cũng đừng hạn chế chuyện họ có hứng thú và sở thích riêng, bởi vì đó là một phần của nhân tính.

Nói đến đây, Ta nghĩ tới một chuyện. Hiện nay trong nhà Đức Chúa Trời có một số ca sĩ mới đã thu âm các bài hát. Những ca sĩ mới này, sau một thời gian nỗ lực học hỏi kỹ năng chuyên môn và luyện tập ca hát, cuối cùng đã có thể thu âm ca khúc thành phẩm, từ hậu trường bước ra sân khấu. Dù giọng hát của họ vẫn còn khoảng cách nhất định so với tiêu chuẩn chuyên nghiệp, chưa đạt tới tầm của các ca sĩ chuyên nghiệp, vẫn còn không ít chỗ có thể cải thiện, có một số bài họ hát chưa thực sự thuần thục lão luyện, có người giọng hát chưa thực sự hay, phần biểu diễn cũng chưa hẳn khiến người ta mãn nhãn, nhưng thái độ làm bổn phận của họ rất đáng được khích lệ. Từ một tay mơ trong lĩnh vực này, họ đã trở thành một ca sĩ mới xuất hiện trên màn ảnh, một ca sĩ còn non nớt, như vậy là đã rất đáng được khích lệ rồi. Vậy trong chuyện này, Ta muốn nói với các ngươi điều gì? Chính là khi những video thánh ca do các ca sĩ mới này thu âm được đăng tải lên mạng, các ngươi nên dành cho họ sự khích lệ, cũng có thể đưa ra một vài góp ý tốt để giúp ích cho họ, nhưng đừng bới móc, đừng khinh thường và hạ thấp họ, đừng bình phẩm quá đáng về họ. Thái độ như vậy là không tốt, ít nhất như vậy là không có lòng yêu thương, không có sự bao dung, không phải là thái độ nên có khi đối đãi với anh chị em. Vậy đối đãi thế nào mới thích hợp? Nên khích lệ họ, vỗ tay tán thưởng họ một chút, sau đó đưa ra một vài góp ý thích hợp, như vậy mới có ích cho người khác. Dù sao người ta cũng đã có dũng khí đứng trên sân khấu ca hát để ngợi ca Đức Chúa Trời, như vậy là có ích cho dân được Đức Chúa Trời chọn. Vì vậy mọi người nên giúp đỡ họ làm tốt bổn phận của mình, tuyệt đối đừng nói ra nói vào, cũng đừng đố kỵ với họ. Nhà Đức Chúa Trời có thêm nhiều nhân tài ca hát thì chúng ta nên vui, nên mừng, đây là chuyện tốt. Hãy để những người có sở trường trong lĩnh vực này đều phát huy công dụng của mình, họ đều nên được trao cơ hội. Bản thân họ vốn không có bao nhiêu sự tự tin, chút hứng thú và sở thích ít ỏi của họ cũng không có chỗ để phát huy. Nếu họ có lòng muốn làm tốt bổn phận này, đã thu âm video thánh ca rồi, thì khi các ngươi xem, ít nhất cũng nên nghe hai, ba lần, nghe cho nghiêm túc, nghe cho kỹ càng, rồi cho họ đôi lời khích lệ, đừng phá đám sau lưng họ, mà nên bảo các anh chị em khác nghe thêm bài hát của họ, bấm “thích” cho họ. Có người hát rất hay, có tình cảm chân thật, từng câu đều hát rất rõ ràng, trang phục và cử chỉ cũng đoan trang đứng đắn, nhìn vào thấy rất thích hợp. Có người thì có giọng hát hoặc kỹ thuật hơi thiếu thành thục. Nếu ngươi hiểu đôi chút về âm nhạc và có thể nhìn ra vài khuyết điểm, thì cũng đừng chế giễu họ, hãy đối đãi đúng đắn, còn phải khích lệ và ủng hộ họ. Đây là thái độ mà người trong một nhà và anh chị em nên có với nhau. Đừng học theo kẻ xấu mà làm những chuyện hạ thấp và đả kích người khác. Bản thân mình không lên được sân khấu, người khác lên sân khấu thì lại ganh ghét, phá đám, nói xấu sau lưng người ta, như vậy là không có nhân tính, làm người như vậy là không tốt, là đê tiện. Dù ngươi có thể nhìn ra khuyết điểm của họ, thì cũng phải khích lệ họ. Bởi vì họ là anh chị em, chứ đâu phải dân chuyên nghiệp, cũng chưa từng được đào tạo chuyên môn, có thể hát được đến mức hiện nay hoàn toàn là thành quả của quá trình khổ công tự mình mày mò học hỏi và luyện tập, tại sao lại không khích lệ họ chứ? Nếu ngươi học cách khích lệ và bao dung, cho dù thấy họ hát còn có chút thiếu sót, ngươi vẫn có thể dùng lòng yêu thương và sự bao dung để đối đãi đúng đắn với họ, thì như vậy cho thấy ngươi là người có nhân tính. Có những người luôn đem ca sĩ của nhà Đức Chúa Trời ra so sánh với ca sĩ chuyên nghiệp ngoài thế gian, rồi coi thường ca sĩ của nhà Đức Chúa Trời, bắt lỗi chỗ này, soi mói chỗ kia. Như vậy chính là không có nhân tính. Luôn bới móc khuyết điểm của người khác, luôn cảm thấy mình giỏi hơn người khác, cao hơn người khác, vậy tại sao ngươi lại không hát nổi một bài khiến cho người ta cảm động? Ngươi đừng bới móc lỗi của người khác. Những ca sĩ trong hội thánh đều không có xuất thân chuyên nghiệp, nhưng có một điểm đặc biệt là họ làm công tác này không phải để làm một ngành nghề, mà là để làm bổn phận. Bổn phận của họ là dùng tiếng hát để hát lời Đức Chúa Trời, để làm chứng và loan truyền lời Đức Chúa Trời, cho nên ngươi phải khích lệ họ. Làm như vậy có tốt không? (Thưa, tốt.) Như vậy là có nhân tính. Đừng vừa nghe ca sĩ mới hát liền soi mói: “Giọng người này không được, chưa thành thục, tiết tấu không đúng, cao độ cũng lệch. Thôi khỏi nghe, ai cũng đừng nghe, đừng ai bấm ‘thích’ cho họ!”. Sao trong việc này ngươi lại kỹ càng đến vậy? Hát chưa hay lắm, chưa thành thục, chưa lão luyện, chưa chuyên nghiệp, như vậy là vi phạm nguyên tắc lẽ thật sao? Đâu phải. Người ta đang làm bổn phận, nên ngươi phải dùng nguyên tắc làm bổn phận để đánh giá, chứ không thể dùng thị hiếu và cái nhìn cá nhân của mình để đánh giá. Nói khó nghe một chút là, ngươi hiểu được bao nhiêu chứ? Nếu thực sự hiểu ca hát, vậy tại sao ngươi lại không hát nổi một bài đạt tới trình độ kinh điển? Nếu bản thân ngươi chưa hát được bài nào đạt tới trình độ đó, thì ngươi không có tư cách chỉ trích người khác. Đương nhiên, cho dù ngươi có thể hát được những bài đạt trình độ kinh điển thì cũng không nên chỉ trích người ta. Bởi vì bản thân họ làm công tác này không phải là đang theo đuổi ngành văn nghệ hay làm một công việc chuyên môn về văn nghệ, mà họ đang làm bổn phận để loan truyền lời Đức Chúa Trời, tính chất hai chuyện này khác nhau. Bất kể người ta hát hay hay dở thế nào, thì họ đều đang để lòng vào việc đó, đang làm bổn phận. Còn trình độ chuyên môn thế nào là chuyện khác. Muốn đạt tới trình độ chuyên nghiệp thì cần phải học tập và thực hành lâu dài mới dần dần đạt được. Các ca sĩ mới của nhà Đức Chúa Trời hiện nay đang ở trình độ như vậy, cho nên mọi người phải đối đãi một cách đúng đắn, phải dành cho họ sự khích lệ và ủng hộ. Đừng bới lông tìm vết, đừng khoe khoang bản thân. Ngươi càng khoe khoang, người khác càng ghê tởm ngươi. Còn nếu ngươi không khoe khoang mà chịu khó nghe thêm vài lần, thì người ta sẽ cảm thấy ngươi là người tốt, là người có lòng kính sợ Đức Chúa Trời, có tấm lòng hướng về nhà Đức Chúa Trời và biết bao dung, đây chính là điểm mạnh và ưu điểm trong nhân tính của ngươi. Ngươi làm như vậy thì người khác sẽ thích ngươi, Đức Chúa Trời cũng sẽ thích ngươi. Nếu ngươi phô trương bản thân, luôn bới móc người khác để thể hiện mình giỏi, thể hiện mình là dân trong nghề, thì đó chính là phá đám và quấy nhiễu công tác của nhà Đức Chúa Trời. Ngươi phá đám như vậy thì Đức Chúa Trời còn có thể thích ngươi sao? (Thưa, không thể.) Đức Chúa Trời không thích ngươi, anh chị em cũng không thích ngươi. Ca sĩ đó đã đắc tội gì với ngươi chứ? Tại sao ngươi cứ phải phô trương bản thân và phá đám người ta như vậy? Ngươi chỉ đang phá đám một người sao? Ngươi đang phá đám công tác của nhà Đức Chúa Trời, đang phá đám chính Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời còn có thể yêu thích ngươi sao? Những bài hát đó, cho dù ngươi nghe ra có khuyết điểm thì cũng đừng xét đoán, bởi vì bất kỳ công việc chuyên môn nào cũng không thể một sớm một chiều mà đạt tới trình độ chuyên nghiệp được. Chúng đều không dễ, đều phải trải qua sự tôi luyện, luyện tập và sự hướng dẫn của người chuyên nghiệp, hơn nữa tư chất của mỗi người cũng khác nhau. Đức Chúa Trời còn chưa lấy trình độ chuyên nghiệp làm tiêu chuẩn mà đòi hỏi họ, vậy thì ngươi lấy tư cách gì mà đòi hỏi người ta? Luôn đòi hỏi người khác phải đạt tới một tầm nào đó là không có lý trí, là kiêu ngạo, và đang phô trương bản thân. Hễ thấy người khác được xuất đầu lộ diện thì trong lòng ngươi không thoải mái, đố kỵ không thôi, luôn muốn buông vài lời mỉa mai châm chích để thỏa mãn lòng hư vinh của bản thân. Làm như vậy chẳng phải quá hèn hạ sao? Làm vậy là đê tiện, bỉ ổi. Người như vậy thì không có lương tâm hay lý trí gì. Ngươi nên làm chút việc có ích cho người khác, làm chút việc đáng để người ta khâm phục và được Đức Chúa Trời ghi nhớ, đừng làm những việc phá đám. Nhớ chưa? (Thưa, đã nhớ.) Nếu ngươi không thể khoan dung, ủng hộ, khích lệ, không thể bảo vệ và gìn giữ công tác của hội thánh, nếu ngươi không có nhân tính như vậy, thì ngươi cũng đừng làm những việc phá đám, đừng nói những lời phá đám. Đây là điều ít ra ngươi nên làm được, là ranh giới tối thiểu.

Thích theo đuổi thần tượng

Chúng ta đã nói xong về phương diện yêu thích văn nghệ, tiếp theo hãy nói đến phương diện thích quan tâm đến chuyện riêng tư của nghệ sĩ. Có những người đặc biệt thích quan tâm đến chuyện riêng tư của các nghệ sĩ, ngôi sao, chẳng hạn như nghệ sĩ ăn gì, mặc gì, đi đâu chơi, có từng phẫu thuật thẩm mỹ không, yêu đương với ai, có những người bạn khác giới nào, có những bạn tình nào, thậm chí có bao nhiêu con ngoài giá thú khi cặp kè với quan chức cấp cao hay đại gia nào – họ đặc biệt quan tâm đến những chuyện riêng tư này của nghệ sĩ. Loại người này vừa quan tâm đến chuyện riêng tư của nghệ sĩ, vừa đặc biệt muốn bắt chước cách sinh hoạt, lời nói, hành vi và thái độ sống của họ, đồng thời cũng đặc biệt thích theo dõi hành tung cùng đủ loại tư tưởng, quan điểm của họ. Ví dụ, nghệ sĩ thích nuôi một giống cún cưng nào đó thì họ cũng nuôi. Nghệ sĩ mặc nhãn hiệu quần áo nào đang đặc biệt thịnh hành trên thị trường thì họ cũng phải mua đúng mẫu đó, nếu không đủ tiền mua hàng thật thì cũng phải mua hàng nhái để mặc. Nghệ sĩ dùng loại mỹ phẩm nào thì dù không có tiền, họ cũng sẵn sàng bán thận, bán máu để mua về trang điểm. Thậm chí nghệ sĩ đi biểu diễn ở đâu, mở họp báo hay tổ chức buổi ra mắt phim ảnh ở đâu thì họ cũng đi theo đến đó. Họ chú ý và theo dõi từng lời nói, hành động, nhất cử nhất động, từng hành tung của nghệ sĩ mà họ theo đuổi, thậm chí đến mức si mê, không còn cuộc sống riêng của mình, không còn tư tưởng, quan điểm hay lối sống đúng đắn của riêng mình, mà hoàn toàn bị tư tưởng, quan điểm và lối sống của nghệ sĩ mê hoặc và khống chế. Đây là vấn đề gì? Có phải là điều kiện bẩm sinh không? (Thưa, không phải.) Chuyện này có liên quan đến hoàn cảnh xã hội mà người ta đang sống hiện nay không? (Thưa, có.) Có liên quan phần nào. Nhưng trong cùng một môi trường sống như hiện nay, tại sao chỉ có một bộ phận người theo đuổi thần tượng, chứ không phải tất cả mọi người? Chuyện này có liên quan đến điều gì? Ngươi nói xem, những người theo đuổi thần tượng đó có thích văn nghệ không? Chưa chắc. Họ có sở trường về văn nghệ không? Cũng chưa chắc. Nhưng những việc họ làm lại đều có liên quan đến người trong giới văn nghệ, liên quan đến trào lưu văn nghệ. Đây là vấn đề gì? Có phải là vấn đề về tâm tính bại hoại không? Đây chính là sự bộc lộ của tâm tính bại hoại. Loại người này tôn sùng sự tà ác và chạy theo trào lưu tà ác. Vậy nhân tính của họ có vấn đề không? (Thưa, có.) Tại sao giữa vô số con đường để lựa chọn trong đời, họ lại chọn một con đường như vậy? Chuyện này có liên quan đến vấn đề về phẩm chất nhân tính không? (Thưa, có.) Có người nói: “Đây là khiếm khuyết trong nhân tính, là bẩm sinh thiếu suy nghĩ, ngu muội, và dễ bị người khác mê hoặc”. Có phải là nguyên nhân này không? (Thưa, không phải.) Còn có người nói: “Có phải vì phần lớn những người theo đuổi thần tượng này còn trẻ tuổi, non nớt và phù phiếm, không chống lại được sự cám dỗ của các trào lưu xã hội hay không?”. Có phải vì vấn đề tuổi đời còn trẻ không? (Thưa, không phải.) Có những người theo đuổi thần tượng là người trung niên, người cao tuổi, tuổi nào cũng có. Xét từ điểm này thì rõ ràng những người này theo đuổi thần tượng không phải vì còn trẻ dại và chưa hiểu chuyện đời nên mới bị các trào lưu xã hội mê hoặc. Vì vậy, câu nói “người theo đuổi thần tượng đều là những người trẻ tuổi, non nớt” không đứng vững được. Đã không phải vì trẻ tuổi, non nớt thì đây chính là vấn đề về nhân tính. Vậy đây là vấn đề thuộc phương diện nào của nhân tính? Có phải là không chuyên tâm vào việc chính đáng không? (Thưa, phải.) Một mặt là không chuyên tâm vào việc chính đáng, mặt khác là có phần không đứng đắn, không an phận. Còn gì nữa? (Thưa, không đi con đường đúng đắn.) Nói đúng rồi, không đi con đường đúng đắn. Chuyện này liên quan đến con đường mà người ta lựa chọn. Sau khi trưởng thành, người ta làm nghề nghiệp gì, chọn con đường nào trong xã hội và giữa mọi người, đây là bài học bắt buộc được đặt ra trước mặt mỗi người. Một người có phải là người an phận thủ thường và sống đứng đắn hay không, có làm nghề nghiệp đàng hoàng hay không, có chuyên tâm vào việc chính đáng và đi con đường đúng đắn hay không, chuyện này tùy vào việc trong nhân tính của họ thích điều gì và chạy theo điều gì. Ngươi thấy đấy, các ngành nghề trong xã hội rất đa dạng: có người luyện võ, có người học dưỡng sinh, có người làm trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật, có người làm trong ngành thời trang, có người làm trong ngành điện ảnh và truyền hình, có người kinh doanh, có người làm chính trị, có người tin Phật giáo, có người tham gia vào Đạo giáo, cũng có người chọn tin Đức Chúa Trời. Nhưng có những người không có nghề nghiệp chính đáng, cũng không tìm kiếm mục tiêu cuộc đời của mình, ngày ngày chỉ chăm chăm theo đuổi thần tượng. Họ theo đuổi đến mức nào? Đến mức chán ăn chán uống. Nếu ngôi sao họ theo đuổi là người tình trong mộng của họ, thì họ thậm chí có thể bỏ rơi bạn đời bất kỳ lúc nào. Nếu việc theo đuổi thần tượng đã đến mức si mê, đến mức có thể chi phối cuộc sống và chi phối con đường họ chọn, trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của họ, thì hiện trạng sống của họ sẽ như thế nào? Họ không còn sống an phận thủ thường nữa. Nếu người theo đuổi thần tượng là phụ nữ, liệu cô ta có thể trở thành một người nội trợ an phận hay một người vợ hiền mẹ tốt biết giúp đỡ chồng và dạy dỗ con cáihay không? (Thưa, không thể.) Người theo đuổi thần tượng đến mức si mê thì đơn giản là đã phát điên rồi. Người trong mộng của họ mở buổi hòa nhạc ở đâu, tổ chức họp báo ở đâu thì họ đều phải đến xin chữ ký, dù phải bay ngàn dặm hay ra nước ngoài cũng theo đến nơi, người nhà cũng không ngăn nổi. Họ luôn theo dõi lịch trình của nghệ sĩ trên mạng rồi đến tận nơi để canh chờ, nếu không gặp được thì mấy ngày mấy đêm không ăn không ngủ, khóc lóc không thôi. Bình thường, những điều họ quan tâm trên mạng và trên truyền hình toàn là những chuyện liên quan đến nghệ sĩ. Đương nhiên, có người không chỉ chú ý theo dõi một nghệ sĩ mà là nhiều nghệ sĩ, cả nam lẫn nữ, từ trẻ tuổi, đến trung niên, cao tuổi. Họ quan tâm đến ngoại hình, tình trạng hôn nhân, trạng thái tình cảm, và đời tư của những người đó, vắt óc tìm kiếm mọi thông tin về những người đó. Họ xem việc theo đuổi thần tượng là nguồn vui, nguồn hứng thú trong cuộc sống, là một việc chính đáng để làm. Trạng thái sống của những người này như thế nào? Họ giống như xác sống, tư tưởng, trạng thái sống, biểu hiện hằng ngày, tâm trạng vui buồn của họ đều hoàn toàn bị ảnh hưởng bởi nghệ sĩ mà họ theo đuổi và bắt chước. Nếu nghệ sĩ họ theo đuổi có người yêu thì họ đau khổ mấy ngày mấy đêm không muốn ăn uống, nếu nghệ sĩ đó chia tay người yêu thì họ vui sướng hân hoan, mở tiệc tưng bừng, khui sâm panh và đăng bài chúc mừng trên mạng xã hội. Đêm nào họ cũng mơ thấy mình ở bên nghệ sĩ đó, toàn mơ những giấc mộng đẹp thôi! Nghệ sĩ mà họ theo đuổi chính là người trong mộng của họ, và họ nhìn ai cũng thấy không vừa mắt bằng người đó. Chẳng phải trạng thái sống như vậy bất bình thường sao? (Thưa, phải.) Si mê đến mức độ đó thì có phải là đã bị một dạng tà linh khống chế rồi không? (Thưa, phải.) Vậy nhân tính của những người này là có khiếm khuyết, có khuyết điểm hay là có vấn đề? (Thưa, có vấn đề.) Như vậy là thần kinh có chút không bình thường rồi. Người bình thường đôi khi nghe vài tin tức về giới văn nghệ, lúc rảnh rỗi cũng nói dăm ba câu về giới đó cho vui, nhưng khi trở về đời sống thực tế thì nên sống thế nào, họ vẫn sống thế ấy. Là mẹ thì họ làm tròn trách nhiệm của người mẹ, là cha họ thì làm tròn trách nhiệm của người cha, công việc của họ không hề bị ảnh hưởng hay trì hoãn chút nào. Ngôi sao mà họ yêu thích mở buổi hòa nhạc ở đâu thì họ cũng cảm thấy chuyện đó chẳng liên quan gì đến mình, nên sống thế nào thì họ vẫn sống thế ấy, chẳng bị ảnh hưởng. Dù có đôi chút hâm mộ, ngưỡng mộ, hay yêu thích người nổi tiếng, nhưng khi trở lại cuộc sống thực tế, họ vẫn có tư tưởng độc lập, cuộc sống, sự nghiệp, tín ngưỡng, điều nên mưu cầu và con đường nên đi của họ đều không bị ảnh hưởng chút nào. Đây chính là có tư duy bình thường của nhân tính và có thần kinh bình thường. Nhưng những người thích theo đuổi thần tượng thì trong quá trình đó đã đánh mất chính mình và mất năng lực kiểm soát bản thân, hoàn toàn bị những người gọi là ngôi sao này dẫn dắt, dắt mũi. Tư tưởng và trạng thái sống của họ hoàn toàn đã bị từng lời nói, hành động và hỷ nộ ai lạc của các ngôi sao đó kiểm soát và chi phối. Như vậy thì không chỉ là vấn đề về nhân tính nữa, mà là thần kinh của họ cũng có vấn đề rồi. Hỷ nộ ai lạc của họ đều bất thường, trạng thái sinh hoạt hằng ngày của họ cũng trở nên rối loạn, hoàn toàn mất phương hướng. Đối với họ, chỉ có việc theo đuổi thần tượng mới là toàn bộ cuộc sống, mới là thứ không thể thiếu trên con đường sinh tồn của mình. Họ sống là để theo đuổi thần tượng, dùng việc đó để giết thời gian mỗi ngày. Nếu không theo đuổi thần tượng thì họ cảm thấy trống rỗng, vô vị, sống không có mục tiêu hay phương hướng, và lòng đầy hoang mang. Vì vậy, thỉnh thoảng họ lại phải lên mạng tìm xem nghệ sĩ mình thích hiện giờ ra sao, đang ăn gì uống gì, cuộc sống hiện tại thế nào, khi nào mở buổi hòa nhạc, bộ phim gần đây diễn ra sao, tình trạng hôn nhân và gia đình như thế nào. Họ cứ lúc này lúc kia tìm kiếm những thông tin đó để giết thời gian, lấp đầy cuộc sống trống rỗng, hoang mang và mù mịt của mình. Như vậy chẳng phải họ đã hoàn toàn bị những người đó khống chế sao? Chẳng phải họ đã bị tư tưởng và trào lưu theo đuổi thần tượng khống chế sao? (Thưa, phải.) Vậy loại người này còn có lương tâm và lý trí không? Thần kinh của họ đã rối loạn rồi, đã không còn bình thường nữa. Sau khi bị dạng trào lưu hay hiện tượng bên ngoài này mê hoặc và quấy nhiễu, họ đã mất phương hướng, không còn biết việc mình làm là đúng hay sai, không còn biết phân biệt tốt xấu nữa. Nếu có người khuyên ngăn thì họ căn bản không để vào tai, cũng không hiểu nổi. Để tham dự buổi hòa nhạc của ngôi sao mình thần tượng, họ sẵn sàng tiêu hết ba đến năm tháng tiền lương, thậm chí có phải cầm cố đồ đạc có giá trị hoặc vay tiền thì họ cũng phải tham dự, đến khi quay về thì còn phải gánh nợ. Họ trả giá như vậy chỉ để đạt được mục đích theo đuổi thần tượng. Loại người như vậy có phải là người bình thường không? (Thưa, không phải.) Xét từ mức độ si mê và khó kiểm soát bản thân đó, thì họ đã đánh mất lương tâm và lý trí, không còn kiểm soát nổi bản thân. Để theo đuổi thần tượng, dù phải chi bao nhiêu tiền, phải đi bao xa, họ cũng chẳng để tâm. Cho nên, xét từ những biểu hiện này, rất khó xếp họ vào hạng người bình thường. Không thể không nói rằng nhân tính của họ có vấn đề, rằng họ đã đánh mất lý trí rồi. Vậy lương tâm của những người này còn tác dụng không? Họ còn có lương tâm không? (Thưa, không còn nữa.) Vậy những người này là loại người gì? Họ không có lương tâm cũng không có lý trí, trong nhân tính của họ chỉ còn lại một cái vỏ rỗng. Cuộc sống thực tế của nhân tính bình thường ngày càng xa rời họ. Họ rất khó hòa nhập vào đời sống thực tế, rất khó tĩnh tâm để làm những việc bình thường trong cuộc sống, vì trong cuộc sống của họ chỉ có mỗi việc theo đuổi thần tượng. Vậy chẳng phải thế giới tinh thần của họ đã bị việc theo đuổi thần tượng khống chế rồi sao? (Thưa, phải.) Nhìn bề ngoài, họ vẫn là con người, nhưng về thực chất, chẳng phải họ chỉ còn lại một cái vỏ rỗng sao? (Thưa, phải.) Những người chỉ còn lại cái vỏ rỗng thì là loại người gì? (Thưa, là xác sống.) Đúng vậy, là xác sống. Họ có tín ngưỡng không? (Thưa, không có.) Có mưu cầu điều gì tích cực không? (Thưa, không.) Họ có hiểu điều tích cực là gì, điều tiêu cực là gì, chính nghĩa là gì và tà ác là gì không? (Thưa, không hiểu.) Làm sao thấy được rằng họ không hiểu? Hiện nay các ca sĩ ngôi sao trên sân khấu ăn mặc ngày càng hở hang, ngày càng khêu gợi, động tác ngày càng tà ác, còn những người theo đuổi thần tượng dưới khán đài thì càng xem càng hăng hái, càng say mê, càng đắm đuối. Nhất là khi ca sĩ ngôi sao hưng phấn đến mức cởi quần áo ném xuống cho khán giả thì đám người bên dưới lập tức phát rồ. Có người kích động đến mức tim ngừng đập rồi ngất xỉu. Cảnh tượng theo đuổi thần tượng thậm chí có thể cuồng nhiệt đến vậy đấy! Thậm chí có lúc còn xảy ra giẫm đạp, có người bị thương, không cứu được mà mất mạng, đó đều là những điều không may do theo đuổi thần tượng gây nên. Vì theo đuổi thần tượng mà bị thương hoặc mất mạng, các ngươi nói xem, mạng sống đó có hèn mọn không? Có đáng giá không? Xét từ những hỷ nộ ai lạc của họ, từ những thứ họ thích và những cảnh tượng khiến họ hò hét phấn khích, thì những người này có biết xấu hổ không? Có biết điều tích cực và chính nghĩa là gì, điều tà ác là gì không? (Thưa, không biết.) Họ không biết nữa rồi. Người bình thường nhìn thấy những cảnh tượng đó thì thấy phản cảm: “Sao thế giới bây giờ tà ác đến mức này? Thật quá tà ác!”. Nhưng những người theo đuổi thần tượng mà thấy những cảnh đó thì lại cảm thấy vui sướng, đắc ý, thỏa mãn và mãn nguyện, cảm thấy đời này không còn gì hối tiếc, và họ có thể vì điều đó mà reo hò, hoan hô. Từ đó có thể thấy sâu thẳm linh hồn họ đã không còn biết điều tà ác là gì, điều chính nghĩa là gì, điều tích cực là gì và điều tiêu cực là gì. Thậm chí có những phụ nữ hâm mộ ca sĩ hay diễn viên, còn theo đuổi nam minh tinh mình yêu thích đến tận nơi ở rồi đòi hiến thân cho người ta, lúc bị từ chối thì còn tức giận, mắng đối phương là đồ hèn nhát. Dạng người như vậy còn biết xấu hổ hay không? Họ có hiểu hai chữ “liêm sỉ” là gì không? Có hiểu điều tích cực là gì và điều tiêu cực là gì không? (Thưa, không hiểu.) Ngay cả hai chữ “liêm sỉ” mà còn không hiểu, bị người ta từ chối thì còn chửi mắng người ta, như vậy mà còn là con người sao? Đây không phải chỉ là trong nhân tính thiếu mất điều gì đó, mà là họ bị bệnh thần kinh, họ là ô quỷ, tà linh rồi!

Trong các nhóm người khác nhau luôn có một bộ phận si mê theo đuổi thần tượng. Nói chính xác thì dạng người này là những xác sống biết đi, nói cụ thể hơn nữa, thì họ là thứ phi nhân. Họ xem những ngôi sao thường xuất hiện trên sân khấu và màn ảnh là đối tượng để theo đuổi, thậm chí còn coi việc theo đuổi thần tượng là sự nghiệp chính đáng. Họ dùng cách thức đó để tiêu phí thời gian của cuộc đời mình. Phải nói rằng trong toàn xã hội, loại người này là một nhóm người đặc biệt, chẳng khác mấy những kẻ không chuyên tâm vào việc chính đáng ở tầng đáy xã hội, đều là cặn bã của nhân loại, chẳng đáng một xu! Họ không có tín ngưỡng, không có sự mưu cầu tích cực, trong nhân tính không hề có lấy một chút nhu cầu tích cực, khát vọng tích cực hay điều tích cực nào. Giới văn nghệ có tà ác thế nào, đen tối thế nào, họ cũng mặc kệ, chẳng thấy ghê tởm, trái lại còn có thể tiếp nhận và công nhận, hơn nữa còn cuồng nhiệt chạy theo. Đây là loại người gì? Có thể nói họ chính là cặn bã của nhân loại, xét từ góc độ của cõi thuộc linh, loại người này chính là ô quỷ và tà linh. Ô quỷ và tà linh đầu thai làm người thì cũng phải ăn uống, làm việc như người bình thường, nhưng họ không chuyên tâm vào việc chính đáng, không tiếp nhận lẽ thật chút nào, chỉ thích tìm những kẻ cùng loại với mình để ăn chơi hưởng lạc, sống bừa chờ chết. Nếu không thể tham gia vào ngành văn nghệ thì họ chạy theo những người trong ngành đó, chạy theo đủ mọi trào lưu tà ác trong ngành đó để thỏa mãn nhu cầu của mình. Vì vậy, bất kể loại người này có sở trường gì, chỉ cần nhìn vào chuyện họ có thể có sự mưu cầu như vậy, lựa chọn con đường sống và phương thức sinh tồn như vậy trong xã hội, thì họ tuyệt đối chẳng phải người tốt gì, cũng chẳng phải là người có thể được cứu rỗi. Sở dĩ Ta nói loại người này không thể được cứu rỗi là vì trong nhân tính của họ “trống rỗng”. Chữ “trống rỗng” này phải đặt trong ngoặc kép. Tại sao phải đặt trong ngoặc kép? Bởi vì trong nhân tính của họ không có những điều tích cực, lại có những thứ mà ô quỷ và tà linh có: chạy theo tà ác và tôn sùng tà ác, chạy theo bóng tối và tôn sùng bóng tối. Họ là những kẻ cuồng nhiệt nhất trong việc chạy theo các trào lưu tà ác trong toàn bộ xã hội đen tối này, cũng là những kẻ truyền bá chúng. Các loại luận điệu sai lầm tà ác và các loại tư tưởng, quan điểm lệch lạc của giới văn nghệ được truyền đến công chúng thông qua máy tính, truyền hình, tạp chí, báo chí, phim ảnh và đủ loại hình thức khác, rồi dần dần lan rộng giữa mọi người, sau đó được truyền bá rộng rãi. Trong đó, những kẻ tiên phong nhất trong việc truyền bá các tư tưởng tà ác, các trào lưu và cách làm tà ác trong những tác phẩm phim ảnh và tác phẩm văn nghệ chính là đám người theo đuổi thần tượng này. Họ là lớp người đầu tiên tiếp nhận rồi truyền bá các loại tư tưởng tà ác cùng các loại tư tưởng và quan điểm lệch lạc đó. Thông qua việc truyền miệng của họ, thông qua hành động và biểu hiện cụ thể của họ, đại chúng dần dần công nhận và tiếp nhận các tư tưởng tà ác và trào lưu tà ác đó, rồi từng chút một bị hun đúc và tiêm nhiễm. Cuối cùng, các trào lưu tà ác, tư tưởng tà ác và tư tưởng, quan điểm lệch lạc đó dần dần đứng vững và thành hình trong đủ loại chế độ xã hội và trong đủ loại nhóm người. Hãy nhìn vào chuyện hôn nhân thời trước. Khi đến tuổi kết hôn, nam nữ thường thông qua người mai mối giới thiệu, còn phải được cha mẹ hai bên đồng ý, sau đó mới định ngày rồi bước vào lễ đường thành hôn. Trong bối cảnh xã hội trước đây, đa số mọi người đều tôn trọng và thận trọng với hôn nhân nam nữ, xem hôn nhân là đại sự, đối đãi một cách nghiêm túc và sốt sắng, nhất là họ yêu cầu con cái không được buông thả, loạn luân hay gian dâm, phải giữ vững những yêu cầu này. Ít ra đa số mọi người đều có khái niệm đó trong lòng. Như thế, dưới sự ràng buộc của lương tâm trong nhân tính, rất nhiều người đã tránh được những loại hành vi ác là gian dâm, dâm loạn, từ đó, ở một mức độ nào đó, điều này đã bảo vệ cả nam giới lẫn nữ giới. Đương nhiên nó cũng có tác dụng và ảnh hưởng tích cực nhất định đối với nếp sống của xã hội. Nhưng cùng với sự phát triển của thời đại và sự xuất hiện của đủ loại tác phẩm văn nghệ, thì đủ loại tư tưởng và quan niệm như giải phóng tình dục, tự do hôn nhân, v.v., liên tục xuất hiện. Một mặt, có những người cá biệt cổ xúy cho chúng, mặt khác, xã hội đề cao và truyền bá rộng rãi những tư tưởng này thêm một bậc thông qua sự diễn giải và biểu diễn của các hình thức văn nghệ khác nhau. Các tư tưởng nàyđược một bộ phận người theo đuổi thần tượng tiếp nhận và công nhận trước tiên, nói cách khác, nhóm đối tượng tiếp nhận đầu tiên của chúng chính là những người theo đuổi thần tượng này. Vì theo đuổi thần tượng, họ nhanh chóng tiếp nhận và công nhận những tư tưởng được cổ xúy bởi các ngôi sao trên sân khấu, màn ảnh hoặc trong các hình thức văn nghệ nào đó. Sau khi hoàn toàn tán thành, họ lại gây ra sự ảnh hưởng lên con cái mình và những người xung quanh trong cuộc sống thường nhật. Cứ vậy một người truyền cho mười người, mười người truyền cho trăm người, trăm người truyền cho ngàn người, ngàn người truyền cho vạn người, từ một điểm lan rộng thành một mặt. Rồi một năm, hai năm người ta nói về chúng, năm năm, mười năm người ta vẫn nói về chúng. Sau hai mươi, ba mươi năm, khi những tư tưởng tà ác này ngày càng thành hình giữa mọi người, ngày càng được truyền bá rộng rãi đến mọi ngóc ngách xã hội, và được tiêm nhiễm sâu hơn vào lòng mỗi một người, thì các tư tưởng và trào lưu tà ác này dần dần được người ta công nhận, dần dần được đại chúng tiếp nhận. Từ đó, đối với hôn nhân và quan hệ nam nữ, người ta ngày càng làm theo ý thích, ngày càng buông thả và không chịu sự ràng buộc. Người ta cho rằng đó là cởi mở, là hiểu biết rộng, là biểu hiện của nhân tính trưởng thành. Họ nói về điều tiêu cực như thể là điều tích cực và chính đáng. Đến lúc đó, các trào lưu tà ác trong toàn xã hội đã leo thang dữ dội, chiếm thế thượng phong và trở thành xu hướng chủ đạo. Đa số mọi người không còn tư tưởng và quan điểm đúng đắn về hôn nhân nam nữ và quan hệ nam nữ nữa, họ cảm thấy chúng chẳng có gì to tát. Nhất là chuyện đồng tính luyến ái ngày càng nhiều, ngoại tình ngày càng nhiều, tỷ lệ ly hôn ngày càng cao, ngày càng có nhiều trẻ em mất đi tình thương của cha hoặc mẹ, sống trong gia đình đơn thân hoặc gia đình có cha dượng, mẹ kế. Nhiều người trước khi kết hôn đều có bạn tình khác giới mà chẳng hề cảm thấy xấu hổ, còn cảm thấy đó là chuyện bình thường, vì xã hội là vậy, có là gì đâu. Bất kể là lúc nào, tà ác mãi mãi là tà ác, và điều tích cực mãi mãi là điều tích cực. Ngay cả khi ngươi cho rằng chuyện đó chẳng là gì thì đó cũng là do trào lưu tà ác này và sự sa đọa của xã hội này gây ra, là hậu quả của việc nhân loại bị Sa-tan làm bại hoại, bị các tư tưởng và trào lưu tà ác tiêm nhiễm và lấp đầy, chứ không phải là điều tích cực có thể bị biến thành điều tiêu cực, hay điều tiêu cực ngày nay có thể biến thành điều tích cực. Nếu ngươi cho là vậy, thì đó là vì ngươi không hiểu lẽ thật, không hiểu điều tích cực là gì, nên trong trường hợp đó, ngươi đã bị ép phải tiếp nhận các trào lưu tà ác và tư tưởng tà ác làm nguyên tắc và nền tảng để làm người. Xã hội và nhân loại này đã từng chút một bị làm bại hoại sâu sắc như vậy. Do đó, trong chuyện các trào lưu tà ác được truyền bá rộng khắp và thâm nhập vào lòng người, những người theo đuổi thần tượng này đóng vai trò là đội tiên phong truyền bá các trào lưu tà ác và các tư tưởng, quan điểm tà ác này. Họ chính là những người đầu tiên truyền bá chúng. Nếu nói Sa-tan làm bại hoại con người thì có phần mơ hồ hoặc trừu tượng, nhưng nếu nói những người theo đuổi thần tượng này là những người thực tế cổ xúy việc truyền bá tư tưởng của Sa-tan và các trào lưu tà ác của Sa-tan, thì đây là cách nói chính xác nhất. Bởi vì họ là nhóm người ở gần nhất với giới văn nghệ hoặc các tư tưởng và trào lưu tà ác, họ là những người tiếp xúc gần gũi với các ngôi sao điện ảnh và danh ca này. Nếu không có họ theo đuổi, không có họ si mê và tung hô, thì những người được gọi là danh ca và ngôi sao điện ảnh đó sẽ không có sức hấp dẫn lớn đến thế, cũng không có danh tiếng, sức ảnh hưởng và sức mê hoặc lớn đến thế. Chính vì sự săn đón và cực lực bắt chước của họ mà đủ loại trào lưu tà ác và tư tưởng tà ác được lan truyền với tốc độ bất thường trong xã hội. Họ dùng hành động thực tế để nói với đại chúng rằng đủ loại chuyện tà ác và đủ loại tư tưởng, quan điểm lệch lạc xuất hiện trong giới văn nghệ đều là những điều mà người ta nên tiếp nhận, rằng những thứ đó rất bình thường, rất chính đáng. Cuối cùng, đa số mọi người dần dần tiếp nhận những cách làm tà ác, những tư tưởng và quan điểm tà ác này. Những chuyện ngoại tình, dâm loạn hay bất kỳ tư tưởng, quan điểm và cách làm tà ác nào của những người được gọi là người nổi tiếng, danh ca, ngôi sao điện ảnh này đều bị giảm nhẹ, không còn ai đưa ra ý kiến hay bình luận đúng đắn về chúng nữa. Vì vậy, những người nổi tiếng, danh ca và ngôi sao điện ảnh này có dâm loạn thế nào thì cũng không bị đào thải, không bị kết tội, vẫn tiếp tục phô trương trên sân khấu. Điều này vừa hay ứng với câu nói đang thịnh hành trong xã hội: “Cười người nghèo khổ, không cười kỹ nữ”. Đây chính là phản ánh chân thực về sự sa đọa của nhân loại, cũng là bằng chứng cho sự sa đọa đó. Ngươi thấy đấy, khi ngươi tin Đức Chúa Trời mà bị bắt bớ, ngồi tù, thì người ta lại chế giễu và khinh thường ngươi. Thực ra họ cũng biết ngươi không làm việc xấu, tin Đức Chúa Trời là có tín ngưỡng, là muốn làm người tốt, muốn được lên thiên đàng, nữ tín đồ thì không bán thân, không làm gái điếm, nam tín đồ thì không đi cướp, thì làm người một cách có khuôn phép. Thế nhưng họ cứ thấy ngươi chướng mắt. Nếu nhìn thấy một mỹ nữ cặp kè với quan chức cấp cao hoặc đại gia, ngày ngày ngồi xe sang dạo phố, họ lại ngưỡng mộ và nể phục, nói rằng: “Cô thật có bản lĩnh, có năng lực, kiếm được nhiều tiền để cha mẹ được ăn ngon mặc đẹp. Dung mạo này của cô thật đáng giá!”. Nhưng nếu ngươi có ngoại hình đẹp rồi kết hôn với một người tin Đức Chúa Trời thì họ lại cười nhạo ngươi, chẳng những cười nhạo, mà khi thấy ngươi bị bách hại thì họ còn ức hiếp ngươi. Chẳng phải là vậy sao? (Thưa, phải.)

Đám người theo đuổi thần tượng này chẳng làm một việc nào có ý nghĩa, trái lại còn thúc đẩy việc truyền bá các tư tưởng tà ác và các trào lưu tà ác của Sa-tan. Các ngươi xem những người theo đuổi thần tượng ngày nay đi, có những phụ nữ bước lên sân khấu là sẵn sàng hát, sẵn sàng múa, hễ gặp danh ca thì sùng bái đến mức không còn biết gì nữa. So với phụ nữ những năm 1940, 1950 thì khác hẳn. Theo cách nói của người ngoại đạo, thì đây là “cởi mở” rồi, tư tưởng cởi mở, tình dục cởi mở, cái gì cũng được giải phóng. Có người nói: “Thời đại nào rồi mà còn phải suốt đời giữ lấy một người chồng? Ai lại cứ phải quanh quẩn bên con cái mãi? Nên tìm thì cứ tìm, nên hưởng thụ thì cứ hưởng thụ!”. Các ngươi xem, đó là những tư tưởng gì vậy? Thật quá đáng sợ! Người tin Đức Chúa Trời mà cũng nghĩ như vậy, thì có phải là dấu hiệu tốt không? Nếu người tin Đức Chúa Trời có những quan điểm và tư tưởng đó, ngưỡng mộ và sùng bái những người như thế, muốn trở thành những người như thế, thì có phải rất đáng sợ, rất nguy hiểm không? (Thưa, phải.) Trước hết, chúng ta chưa bàn đến chuyện nó đáng sợ hay nguy hiểm thế nào. Chỉ xét từ thực chất của những người này, thì trong sâu thẳm linh hồn họ đặc biệt ngưỡng mộ, khâm phục và yêu mến các ngôi sao đó, họ có thể tiếp nhận đủ loại hành vi, đủ loại tư tưởng và quan điểm của các ngôi sao, tư tưởng tà ác đến đâu họ cũng tiếp nhận được. Họ cho rằng: “Làm người phải như vậy mới tự do. Bất kỳ tư tưởng và quan điểm nào cũng phải được tồn tại, xã hội mà, loại người nào cũng phải có”. Trong tư tưởng của họ không phân biệt chính tà, không phân biệt phải trái đúng sai. Như vậy chẳng phải là thần kinh không bình thường rồi sao? Nếu là do tố chất kém mà người ta không có năng lực phân biệt đúng sai, nhưng vẫn biết liêm sỉ, biết việc gì đúng thì có thể giữ, biết việc gì sai thì tuyệt đối không làm, biết việc gì tà ác thì trong lòng có thể căm ghét, như vậy thì vẫn còn là người bình thường. Nhưng nếu rõ ràng biết việc đó là sai trái, là tà ác mà chẳng những không phản kháng, lại còn có thể tiếp nhận không chút do dự, còn ngưỡng mộ, chạy theo, ngày càng lún sâu, thì họ không còn là con người nữa mà là xác sống, người như vậy là hỏng rồi, không thể được cứu rỗi. Do đó, không thể nói loại người này có nhân tính kém, nhân cách thấp hèn, phẩm chất nhân tính tồi tệ hoặc là không có lương tâm và lý trí, không phải vấn đề đó. Vấn đề lớn nhất là họ căn bản không có nhân tính. Vậy họ là gì? Là ô quỷ tà linh, là xác sống. Họ là những kẻ cổ xúy, tiếp sức và truyền bá đủ loại trào lưu tà ác, đủ loại tư tưởng và quan điểm tà ác, lệch lạc. Cũng giống như dịch bệnh vậy, một người mang theo vi-rút đi khắp nơi truyền nhiễm, đi đến đâu thì vi-rút lan rộng đến đó. Những người theo đuổi thần tượng cũng chính là những người mang và phát tán vi-rút như thế. Cho nên, những người này tuyệt đối không phải là một thành viên trong nhân loại, họ là thứ phi nhân. Định nghĩa của thứ gọi là “thứ phi nhân” là gì? Chính là những người này là kẻ cổ xúy và truyền bá các trào lưu tà ác cùng các tư tưởng và quan điểm tà ác. Ngươi đã hiểu chưa? Nếu trong lòng ngươi vẫn còn ngưỡng mộ những ngôi sao đó, hoặc từng muốn trở thành loại người đó, thì Ta nói cho ngươi biết: đây là con đường không lối về, tuyệt đối đừng làm loại người đó! Nếu ngươi từng đảm nhận một vai diễn trong bộ phim nào đó, từng muốn trở thành ngôi sao điện ảnh hay người nổi tiếng, từng dự tính bước đi trên con đường như vậy, thì Ta nói cho ngươi biết: hãy lập tức dừng bước. Đây không còn là vấn đề bị trừng phạt hay được ban thưởng nữa, mà là một con đường dẫn đến sự diệt vong muôn đời, tuyệt đối không được đi! Nếu vì nhất thời bị mê hoặc hay là nhất thời yếu đuối, nhất thời ngưỡng mộ và khao khát, mà ngươi muốn chạy theo loại người đó, thì hãy nghe lời cảnh báo và lời khuyên của Ta: mau chóng dừng lại. Ngươi tuyệt đối đừng bước vào ngành nghề đó, đừng gia nhập hàng ngũ đó, đừng trở thành một thành viên trong số họ. Nếu ngươi không thể kiên trì đi con đường đúng đắn hoặc làm những việc có ý nghĩa, thì cũng đừng trở thành kẻ truyền bá các trào lưu tà ác và các tư tưởng, quan điểm tà ác, vì đây là con đường chuốc lấy sự rủa sả. Do đó, bất kể trước đây ngươi từng đảm nhận vai diễn gì trong các tác phẩm phim ảnh, cho dù tự cho mình là nhân vật quan trọng, là người nổi tiếng hay là nhân vật cao cấp, bất kể ngươi định vị bản thân thế nào, thì mọi điều đó đều đã trở thành quá khứ, và đều là sai lầm. Nếu hiện nay ngươi đã biết dừng lại, thì chỉ có thể nói rằng khi đó ngươi còn non nớt về vóc giạc và chưa hiểu lẽ thật. Về sau tuyệt đối đừng nghĩ như thế nữa, cũng đừng đi trên con đường đó nữa. Nếu ngươi muốn trở thành nhân vật quan trọng, muốn làm người nổi tiếng, muốn được người khác sùng bái và chạy theo, thì hãy mau nhớ lại những lời Ta nói hôm nay. Đối với bất kỳ ai thì “diệt vong muôn đời” cũng là một tin bất hạnh nhất, nó là tin xấu nhất. Nó là con đường chuốc lấy sự rủa sả, tuyệt đối đừng đi theo, tuyệt đối đừng để mình bị vấy bẩn bởi những thứ ô uế đó. Một khi bước lên con đường đó thì chính là diệt vong muôn đời! Hãy làm người theo đúng chuẩn mực, bởi vì ngươi là loài thọ tạo, là một thành viên trong nhân loại thọ tạo. Bất kể trong nhà Đức Chúa Trời, ngươi từng đảm nhiệm vai trò gì, từng làm công tác gì, từng có đóng góp gì, cuối cùng ngươi cũng phải xác định đúng vị trí của mình. Là vị trí nào? Ngươi là loài thọ tạo, là một thành viên của nhân loại thọ tạo. Ngươi phải làm tốt bổn phận của loài thọ tạo. Khi làm bổn phận, ngươi phải đạt tiêu chuẩn, phải làm Đức Chúa Trời hài lòng, phải làm chứng cho Đức Chúa Trời, loan truyền lời Đức Chúa Trời, trở thành người làm chứng cho Ngài, và đạt được sự cứu rỗi. Đây là trách nhiệm và nghĩa vụ không thể thoái thác trong suốt cuộc đời ngươi, cũng là con đường mà ngươi nên lựa chọn. Ngươi không nên chạy theo các trào lưu tà ác của Sa-tan hay làm kẻ truyền bá, tiếp sức cho những tư tưởng và quan điểm tà ác. Những kẻ như vậy là thứ cặn bã của nhân loại, là tà linh, ô quỷ, bị rủa sả và bị diệt vong muôn đời! Nếu người ta đã bước lên con đường đó thì dù mười con trâu cũng không kéo lại được, họ bị vậy là đáng đời, và họ sẽ chẳng có kết cục tốt đẹp gì. Do đó, bất kỳ lúc nào, ngươi cũng phải biết mình là nhân loại thọ tạo, biết vị trí vốn có của mình là gì, biết mình nên làm gì và nên đi con đường nào. Đây là điều quan trọng nhất. Thông công những lời này có cần thiết không? (Thưa, có.) Những chủ đề liên quan đến con đường nhân sinh này rất quan trọng. Thỉnh thoảng các ngươi phải nghe lại, phải suy ngẫm lại. Chúng có ích, đem lại sự giúp đỡ, có tác dụng tốt và tích cực cho lối vào sự sống của các ngươi, cho việc các ngươi đi con đường nhân sinh đúng đắn. Những lời này, các ngươi chớ quên.

Hôm nay, chúng ta thông công đến đây thôi. Tạm biệt!

Ngày 30 tháng 12 năm 2023

Trước: Cách mưu cầu lẽ thật (10)

Tiếp theo: Cách mưu cầu lẽ thật (12)

Hồi chuông thời sau hết báo động đã vang lên, đại thảm họa đã ập xuống, bạn có muốn cùng gia đình nghênh đón được Thiên Chúa, và có cơ hội nhận được sự che chở của Thiên Chúa không?

Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời Về việc biết Đức Chúa Trời Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt Vạch rõ kẻ địch lại Đấng Christ Chức trách của lãnh đạo và người làm công Về việc mưu cầu lẽ thật Về việc mưu cầu lẽ thật Sự phán xét khởi từ nhà Đức Chúa Trời Những lời trọng yếu từ Đức Chúa Trời Toàn Năng, Đấng Christ của thời kỳ sau rốt Lời Đức Chúa Trời Hằng Ngày Các thực tế lẽ thật mà người tin Đức Chúa Trời phải bước vào Theo Chiên Con Và Hát Những Bài Ca Mới Những chỉ dẫn cho việc truyền bá phúc âm của vương quốc Chiên của Đức Chúa Trời nghe tiếng của Đức Chúa Trời Lắng nghe tiếng Đức Chúa Trời thấy được sự xuất hiện của Đức Chúa Trời Những câu hỏi và câu trả lời thiết yếu về Phúc Âm của Vương quốc Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 1) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 2) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 3) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 4) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 5) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 6) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 7) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 8) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 9) Tôi Đã Quay Về Với Đức Chúa Trời Toàn Năng Như Thế Nào

Cài đặt

  • Văn bản
  • Chủ đề

Màu Đồng nhất

Chủ đề

Phông

Kích cỡ Phông

Khoảng cách Dòng

Khoảng cách Dòng

Chiều rộng Trang

Mục lục

Tìm kiếm

  • Tìm kiếm văn bản này
  • Tìm kiếm cuốn sách này

Liên hệ với chúng tôi qua Messenger