Câu hỏi 1: Đức Chúa Trời Toàn Năng đã bày tỏ mọi lẽ thật của công tác phán xét vào thời kỳ sau rốt của Đức Chúa Trời. Đó là những lời mà Đức Thánh Linh sẽ nói với các Hội Thánh trong thời kỳ sau rốt. Nhiều người đã đọc những lời của Đức Chúa Trời Toàn Năng, và nghe thấy tiếng Đức Chúa Trời. Họ đều đã được đưa đến trước Đức Chúa Trời, và đang dự tiệc cưới Chiên Con. Nhưng hôm nay, nhiều anh chị em vẫn không thể nhận định được tiếng Đức Chúa Trời. Vậy nên, hôm nay chúng tôi đã mời chị Hướng từ Hội Thánh Đức Chúa Trời Toàn Năng. Chúng tôi đã mời họ đến để thông công về cách nhận biết tiếng Đức Chúa Trời. Để chúng ta biết cách xác định Đức Chúa Trời Toàn Năng chính là sự tái lâm của Đức Chúa Jêsus.

Câu trả lời: Câu hỏi mà mọi người đã đặt ra, hết sức quan trọng. Để tiếp nhận công tác của Đức Chúa Trời vào thời kỳ sau rốt và chứng kiến sự xuất hiện của Ngài, chúng ta phải biết cách nhận biết tiếng của Đức Chúa Trời. Thực tế, nhận biết tiếng của Đức Chúa Trời nghĩa là nhận biết những lời và phán ngôn của Ngài, và nhận biết các đặc trưng của những lời của Đấng Tạo Hóa. Bất kể đó có phải là những lời của Đức Chúa Trời trở nên xác thịt hay lời bày tỏ của Thần của Đức Chúa Trời, đó đều là lời Đức Chúa Trời phán với nhân loại từ trên cao. Đó chính là giọng điệu và đặc trưng của lời Đức Chúa Trời. Ở đây, thẩm quyền và thân phận của Đức Chúa Trời đã được biểu lộ rõ ràng. Có thể nói rằng, đây là cách duy nhất mà Đấng Tạo Hóa nói. Những phán ngôn của Đức Chúa Trời mỗi lần Ngài trở nên xác thịt chắc chắn bao phủ khắp mọi nơi. Chúng liên hệ chủ yếu đến những yêu cầu và lời khuyên răn của Đức Chúa Trời cho con người, những lời về sắc lệnh quản trị và điều răn, lời phán xét và hành phạt của Ngài, sự mặc khải của Ngài cho nhân loại bại hoại. Cũng có những lời tiên tri và lời hứa của Đức Chúa Trời với nhân loại, vân vân. Những lời này đều là sự bày tỏ của lẽ thật, đường đi, và sự sống. Đó đều là sự mặc khải về thực chất sự sống của Ngài. Chúng đại diện cho tâm tính của Ngài và tất cả những gì Ngài có và là. Vậy nên, chúng ta có thể thấy từ những lời mà Đức Chúa Trời bày tỏ rằng lời Đức Chúa Trời là lẽ thật, có thẩm quyền, và quyền năng. Vì vậy, nếu muốn biết có phải lời Đức Chúa Trời Toàn Năng bày tỏ là tiếng của Đức Chúa Trời hay không, ta có thể xem lời của Đức Chúa Jêsus và của Đức Chúa Trời Toàn Năng. để có thể so sánh, và xem có phải chúng là lời bày tỏ bởi một Thần duy nhất, là công tác được Đức Chúa Trời duy nhất hoàn thành hay không. Nếu nguồn gốc của chúng là một, thì điều này chứng tỏ lời Đức Chúa Trời Toàn Năng là những phán ngôn của Đức Chúa Trời, và rằng Đức Chúa Trời Toàn Năng chính là sự xuất hiện của Đức Chúa Trời. Mọi người xem lời Đức Giê-hô-va phán trong Thời đại Luật pháp, và lời Đức Chúa Jêsus nói trong Thời đại Ân điển sẽ thấy. Đó đều là sự bày tỏ trực tiếp của Đức Thánh Linh, và là công tác của một Đức Chúa Trời. Điều này chứng tỏ Đức Chúa Jêsus chính là sự xuất hiện của Đức Giê-hô-va, sự xuất hiện của Đấng Tạo Hóa. Chiên của Đức Chúa Trời sẽ nghe thấy tiếng Ngài. Nnói đến cách để nhận biết cụ thể tiếng của Đức Chúa Trời, tất cả sẽ trở nên rõ ràng nếu chúng ta xem những lời của Đức Chúa Jêsus. Những ai đọc Kinh Thánh đều biết rằng, trong những lời Đức Chúa Jêsus bày tỏ vào Thời đại Ân điển, có những lời khuyên răn, yêu cầu của Đức Chúa Trời cho con người, và những lời đề cập đến sắc lệnh quản lí của Ngài. Cũng có nhiều lời tiên tri, và những lời hứa, vân vân. Đây là một giai đoạn công tác trọn vẹn mà Đức Chúa Trời thực hiện trong Thời đại Ân điển.

Đầu tiên, chúng ta sẽ xem những yêu cầu và khuyên răn của Đức Chúa Jêsus cho con người. Ví dụ như, Đức Chúa Jêsus phán: “Các ngươi hãy ăn năn, vì nước thiên đàng đã đến gần” (Ma-thi-ơ 4:17). “Các ngươi là muối của đất; song nếu mất mặn đi, thì sẽ lấy giống chi mà làm cho mặn lại? Muối ấy không dùng chi được nữa, chỉ phải quăng ra ngoài và bị người ta đạp dưới chơn. Các ngươi là sự sáng của thế gian; một cái thành trên núi thì không khi nào bị khuất được” (Ma-thi-ơ 5:13-14). “Ngươi hãy hết lòng, hết linh hồn, hết ý mà yêu mến Chúa, là Đức Chúa Trời ngươi. Ấy là điều răn thứ nhứt và lớn hơn hết. Còn điều răn thứ hai đây, cũng như vậy: Ngươi hãy yêu kẻ lân cận như mình. Hết thảy luật pháp và lời tiên tri đều bởi hai điều răn đó mà ra” (Ma-thi-ơ 22:37-40). “Phước cho những kẻ có lòng khó khăn, vì nước thiên đàng là của những kẻ ấy! … Phước cho những kẻ đói khát sự công bình, vì sẽ được no đủ! … Phước cho những kẻ chịu bắt bớ vì sự công bình, vì nước thiên đàng là của những kẻ ấy! Khi nào vì cớ Ta mà người Ta mắng nhiếc, bắt bớ, và lấy mọi điều dữ nói vu cho các ngươi, thì các ngươi sẽ được phước. Hãy vui vẻ, và nức lòng mừng rỡ, vì phần thưởng các ngươi ở trên trời sẽ lớn lắm” (Ma-thi-ơ 5:3, 6, 10-12).

Hãy xem Đức Chúa Jêsus đã phán gì về sắc lệnh quản lí. Ma-thi-ơ 12:31-32, Đức Chúa Jêsus phán: “Ấy vậy, Ta phán cùng các ngươi, các tội lỗi và lời phạm thượng của người Ta đều sẽ được tha; song lời phạm thượng đến Ðức Thánh Linh thì sẽ chẳng được tha đâu. Nếu ai nói phạm đến Con người, thì sẽ được tha; song nếu ai nói phạm đến Ðức Thánh Linh, thì dầu đời nầy hay đời sau cũng sẽ chẳng được tha”. Cũng trong Ma-thi-ơ 5:22, Đức Chúa Jêsus phán: “Song Ta phán cho các ngươi: Hễ ai giận anh em mình thì đáng bị tòa án xử đoán; ai mắng anh em mình là ngu xuẩn, người ấy đáng bị đưa ra tòa; ai mắng anh em mình là đồ điên, thì đáng bị lửa địa ngục hình phạt”.

Cùng với những lời của sắc lệnh quản lí, còn có những lời phán xét và phơi bày những người Pha-ri-si của Đức Chúa Jêsus. Đức Chúa Jêsus phán: “Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi đóng nước thiên đàng trước mặt người ta; các ngươi không vào đó bao giờ, mà có ai muốn vào, thì lại ngăn trở” (Ma-thi-ơ 23:13). “Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi đi khắp dưới nước trên bộ để khuyên một người vào đạo mình; và khi đã khuyên được rồi, thì các ngươi làm cho họ trở nên người địa ngục gấp hai các ngươi” (Ma-thi-ơ 23:15).

Các anh chị em, Đức Chúa Jêsus cũng đã nói những lời tiên tri, và hứa hẹn với con người. Mọi người hãy giở tới Giăng 14:2-3 Đức Chúa Jêsus phán: “Ta đi sắm sẵn cho các ngươi một chỗ. Khi Ta đã đi, và sắm sẵn cho các ngươi một chỗ rồi, Ta sẽ trở lại đem các ngươi đi với Ta, hầu cho Ta ở đâu thì các ngươi cũng ở đó”. Cũng trong Giăng 12:47-48, Đức Chúa Jêsus đã phán, “Lại nếu kẻ nào nghe lời Ta mà không vâng giữ ấy chẳng phải Ta xét đoán kẻ đó; vì Ta đến chẳng để xét đoán thế gian, nhưng để cứu chuộc. Người nào bỏ Ta ra và không nhận lãnh lời Ta, đã có kẻ xét đoán rồi; lời Ta đã rao giảng, chính lời đó sẽ xét đoán họ nơi ngày sau cùng”. Trong Khải Huyền 21:3-4 cũng nói: “Nầy, đền tạm của Đức Chúa Trời ở giữa loài người! Ngài sẽ ở với chúng, và chúng sẽ làm dân Ngài; chính Đức Chúa Trời sẽ ở với chúng. Ngài sẽ lau ráo hết nước mắt khỏi mắt chúng, sẽ không có sự chết, cũng không có than khóc, kêu ca, hay là đau đớn nữa; vì những sự thứ nhứt đã qua rồi”.

Từ những lẽ thật khác nhau mà Đức Chúa Jêsus bày tỏ trong Thời đại Ân điển, chúng ta có thể thấy rằng Đức Chúa Jêsus chính là sự xuất hiện của Đấng Cứu thế, và rằng những lời của Đức Chúa Jêsus là những phán ngôn của Đức Chúa Trời với toàn bộ nhân loại. Ngài đã bày tỏ trực tiếp tâm tính và ý muốn của Đức Chúa Trời với nhân loại, để dẫn dắt nhân loại, cung ứng cho nhân loại và đích thân cứu chuộc nhân loại. Điều này đại diện hoàn hảo cho thân phận và thẩm quyền của chính Đức Chúa Trời. Đọc xong chúng ta ngay lập tức cảm thấy, những lời này chính là lẽ thật, có thẩm quyền và quyền năng. Những lời này là tiếng của Đức Chúa Trời, chúng là những phán ngôn của Đức Chúa Trời với nhân loại. Vào thời kỳ sau rốt, Đức Chúa Jêsus đã tái lâm: Đức Chúa Trời Toàn Năng đã đến để thực hiện công tác phán xét vào thời kỳ sau rốt. Ngài đã mở ra Thời đại Vương quốc và kết thúc Thời đại Ân điển. Dựa vào công tác cứu chuộc của Đức Chúa Jêsus, Đức Chúa Trời Toàn Năng đã hoàn thành giai đoạn công tác phán xét khởi từ nhà Đức Chúa Trời, và đã bày tỏ toàn bộ lẽ thật để làm tinh sạch và cứu rỗi nhân loại. Những lời mà Đức Chúa Trời Toàn Năng bày tỏ có nội dung phong phú và hoàn toàn dễ hiểu. Như Đức Chúa Trời Toàn Năng phán: “Công bằng mà nói đây là lần đầu tiên kể từ khi sáng thế, Đức Chúa Trời đã nói chuyện với toàn thể nhân loại. Trước đó, Đức Chúa Trời chưa bao giờ nói chuyện với loài người thọ tạo một cách chi tiết và hệ thống như vậy. Tất nhiên, đây cũng là lần đầu tiên Ngài nói chuyện với toàn thể nhân loại nhiều và lâu đến thế. Điều này hoàn toàn chưa có tiền lệ. Hơn nữa, những lời này tạo thành văn bản đầu tiên được bày tỏ bởi Đức Chúa Trời giữa loài người, trong đó Ngài phơi bày con người, chỉ dẫn họ, phán xét họ, và nói chuyện chân tình với họ; và đây cũng là những lời đầu tiên Đức Chúa Trời để con người biết về những bước chân của Ngài, nơi Ngài nằm, tâm tính của Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời có gì và là gì, những suy nghĩ của Đức Chúa Trời và sự quan tâm của Đức Chúa Trời đối với loài người. Có thể nói rằng đây là những lời đầu tiên Đức Chúa Trời phán với loài người từ tầng trời thứ ba kể từ khi sáng thế, và lần đầu tiên Đức Chúa Trời sử dụng thân phận vốn có của Ngài để xuất hiện và bày tỏ tiếng lòng của Ngài với loài người trong những lời phán” (Lời giới thiệu đến Những lời của Đức Chúa Trời với toàn vũ trụ trong Lời xuất hiện trong xác thịt). Những lời mà Đức Chúa Trời Toàn Năng bày tỏ rất sâu rộng và phong phú không gì sánh bằng. Trong những lời đó, chủ yếu là sự phán xét, sự phơi bày con người, những sắc lệnh quản trị và những điều răn của Thời đại Vương quốc, cũng như những lời khuyên răn, yêu cầu, và hứa hẹn của Đức Chúa Trời với con người, những lời tiên tri, vân vân. Ta hãy cùng đọc vài đoạn lời Đức Chúa Trời về những lời khuyên răn và yêu cầu Ngài cho con người cũng như về công tác của Ngài.

Đức Chúa Trời Toàn Năng phán: “Hôm nay, những ai mang đến tình yêu chân thành cho Ta, người đó sẽ được ban phước; những ai quy phục Ta được ban phước, chắc chắn họ sẽ được ở lại trong Vương quốc của Ta; những ai biết Ta được ban phước, chắc chắn họ sẽ nắm quyền trong Vương quốc của Ta; những ai mưu cầu Ta được ban phước, chắc chắn họ sẽ thoát khỏi sự trói buộc của Sa-tan và tận hưởng phước lành của Ta; những ai có thể từ bỏ chính mình được ban phước, chắc chắn họ sẽ trở thành sở hữu của Ta và thừa hưởng sự giàu có trong Vương quốc của Ta. Những ai bôn ba vì Ta, Ta sẽ nhớ; những ai chịu phí tổn vì Ta, Ta sẽ vui mừng đón nhận; những người dâng hiến cho Ta, Ta sẽ ban cho những thú vui. Những ai tận hưởng lời nói của Ta, Ta sẽ ban phúc; chắc chắn họ sẽ là trụ cột trong Vương quốc của Ta, chắc chắn họ sẽ giàu có vô biên trong ngôi nhà của Ta và không ai có thể sánh bằng” (“Chương 19” của Những lời của Đức Chúa Trời với toàn vũ trụ trong Lời xuất hiện trong xác thịt).

Mặc dù Jêsus đã làm nhiều công tác giữa con người, nhưng Ngài chỉ hoàn thành việc cứu chuộc toàn thể nhân loại và trở thành của lễ chuộc tội cho con người; Ngài vẫn chưa loại bỏ khỏi con người tất cả những tâm tính bại hoại của họ. Để hoàn toàn cứu rỗi con người khỏi ảnh hưởng của Sa-tan, không chỉ cần Jêsus trở thành của lễ chuộc tội và gánh lấy những tội lỗi của con người, mà còn cần Đức Chúa Trời làm công tác vĩ đại hơn nữa để hoàn toàn loại bỏ khỏi con người tâm tính Sa-tan bại hoại của họ. Và vì thế, khi con người đã được tha thứ tội lỗi, Đức Chúa Trời đã trở lại xác thịt để dẫn dắt con người vào thời đại mới, và bắt đầu công tác của hình phạt và sự phán xét. Công tác này đã đưa con người vào một cõi cao hơn. Tất cả những ai quy phục dưới sự thống trị của Ngài sẽ được hưởng lẽ thật cao hơn và nhận lãnh những phước lành lớn hơn. Họ sẽ thực sự sống trong sự sáng, và họ sẽ đạt được lẽ thật, đường đi, và sự sống.

Nếu con người vẫn mắc kẹt trong Thời đại Ân điển, thì họ sẽ không bao giờ loại bỏ được tâm tính bại hoại của mình, chứ đừng nói đến biết được tâm tính vốn có của Đức Chúa Trời. Nếu con người luôn sống giữa ân điển dồi dào, nhưng không có con đường của sự sống cho phép họ biết về Đức Chúa Trời hoặc làm hài lòng Ngài, thì họ sẽ không bao giờ có được Ngài khi tin vào Ngài. Loại niềm tin này thật sự đáng thương” (Lời tựa của Lời xuất hiện trong xác thịt).

Trước khi con người được cứu chuộc, nhiều nọc độc của Sa-tan đã bị gieo vào bên trong họ, và sau hàng nghìn năm bị Sa-tan làm cho bại hoại, họ có trong mình một bản tính thâm căn chống lại Đức Chúa Trời. Do đó, khi con người đã được cứu chuộc, điều đó không hơn gì một trường hợp cứu chuộc mà con người được mua với giá cao, nhưng bản tính độc địa bên trong họ vẫn chưa được loại bỏ. Con người quá nhơ nhuốc phải trải qua một sự thay đổi trước khi trở nên xứng đáng để hầu việc Đức Chúa Trời. Thông qua công tác phán xét và hành phạt này, con người sẽ hoàn toàn biết được thực chất ô uế và bại hoại trong chính bản thân mình, họ sẽ có thể thay đổi hoàn toàn và trở nên thanh sạch. Chỉ bằng cách này, con người mới có thể trở nên xứng đáng để trở lại trước ngôi của Đức Chúa Trời” (“Lẽ mầu nhiệm của sự nhập thể (4)” trong Lời xuất hiện trong xác thịt).

Không ai tích cực tìm kiếm dấu chân của Đức Chúa Trời và sự xuất hiện của Ngài, và không ai sẵn lòng sống trong sự chăm sóc và gìn giữ của Đức Chúa Trời. Thay vào đó, họ muốn dựa vào sự mục ruỗng của Sa-tan, kẻ ác, để thích nghi với thế giới này và với những quy luật sinh tồn mà nhân loại đồi bại tuân theo. Tại thời điểm này, tấm lòng và linh hồn của con người đã trở thành cống vật cho Sa-tan và trở thành thức ăn cho Sa-tan. Thậm chí, tấm lòng và linh hồn con người đã trở thành một nơi mà Sa-tan có thể cư ngụ và sân chơi thích hợp của nó. Do đó, con người vô tình đánh mất sự hiểu biết của mình về những nguyên tắc làm người cũng như sự hiểu biết về giá trị và ý nghĩa sự tồn tại của con người. Luật pháp của Đức Chúa Trời và giao ước của Đức Chúa Trời với con người dần mờ nhạt trong lòng con người, và họ không còn tìm kiếm hay chú tâm đến Đức Chúa Trời nữa. Thời gian trôi qua, con người không còn hiểu tại sao Đức Chúa Trời lại tạo dựng mình, họ cũng không hiểu những lời từ miệng Đức Chúa Trời và tất cả những điều đến từ Đức Chúa Trời. Sau đó, con người bắt đầu chống đối luật pháp và sắc lệnh của Đức Chúa Trời, tấm lòng và linh hồn của họ trở nên u mê… Đức Chúa Trời mất đi loài người mà Ngài đã tạo ra từ ban đầu và con người thì đánh mất cội nguồn mình đã có ban đầu: Đây là một điều đáng buồn của loài người này” (“Đức Chúa Trời là nguồn sự sống của con người” trong Lời xuất hiện trong xác thịt).

Phải trải qua hàng chục nghìn năm lịch sử thì nhân loại mới có được vị trí như ngày hôm nay, nhưng loài người mà Ta đã tạo dựng nên lúc ban đầu đã chìm vào suy thoái từ lâu. Nhân loại không còn là nhân loại mà Ta mong muốn nữa, và do đó, trong mắt Ta, con người không còn xứng đáng với danh xưng loài người nữa. Thay vào đó, họ là cặn bã của loài người mà Sa-tan đã giam cầm, những xác chết thối rữa biết đi bị Sa-tan cư ngụ và Sa-tan mặc lấy cho chính nó. Mọi người không tin vào sự tồn tại của Ta, họ cũng không chào đón Ta đến. Nhân loại chỉ miễn cưỡng đáp ứng những yêu cầu của Ta, tạm thời tán thành chúng, và không chân thành chia sẻ với Ta những niềm vui và nỗi buồn trong cuộc sống. Vì mọi người thấy Ta bí hiểm, nên họ trao cho Ta những nụ cười gượng gạo, thái độ của họ là cố tỏ vẻ thân thiện với bậc cầm quyền, vì mọi người không có kiến thức về công tác của Ta, huống gì là ý muốn hiện tại của Ta. Ta sẽ thành thật với các ngươi: Khi ngày đó đến, nỗi khổ của bất kỳ ai thờ phượng Ta đều sẽ dễ chịu hơn của các ngươi. Mức độ các ngươi tin vào Ta, trên thực tế, không vượt quá Gióp – thậm chí đức tin của những người Pha-ri-si Do Thái còn trội hơn của các ngươi – và vì vậy, nếu ngày lửa giáng xuống, nỗi khổ của các ngươi sẽ còn trầm trọng hơn của những người Pha-ri-si khi bị Jêsus quở trách, của 250 quan tướng chống lại Môi-se, và của Sô-đôm dưới ngọn lửa thiêu đốt hủy diệt của nó” (“Một con người thực sự có nghĩa là gì” trong Lời xuất hiện trong xác thịt).

Loài người đã đánh mất lòng kính sợ Đức Chúa Trời sau khi bị Sa-tan làm cho bại hoại, và cả chức năng được ban cho các vật thọ tạo của Đức Chúa Trời, do đó đã trở thành kẻ thù không vâng lời Đức Chúa Trời. Sau đó loài người sống dưới quyền của Sa-tan và tuân theo mệnh lệnh của Sa-tan; vì thế, Đức Chúa Trời không có cách nào để làm việc giữa các vật thọ tạo của Ngài, và càng không thể giành được sự kính sợ của họ. Con người được Đức Chúa Trời tạo dựng, và phải thờ phượng Đức Chúa Trời, nhưng họ đã thực sự quay lưng lại với Ngài và thay vào đó lại thờ phượng Sa-tan. Sa-tan đã trở thành thần tượng trong lòng họ. Do đó, Đức Chúa Trời đã mất đi vị thế của Ngài trong lòng họ, điều đó có nghĩa rằng Ngài đã mất đi ý nghĩa đằng sau sự sáng tạo loài người của Ngài. Do đó, để khôi phục ý nghĩa đằng sau sự sáng tạo loài người của Ngài, Ngài phải khôi phục hình dạng ban đầu của họ và loại bỏ tâm tính bại hoại của loài người. Để giành lại con người từ Sa-tan, Ngài phải cứu họ ra khỏi tội lỗi. Chỉ bằng cách này thì Đức Chúa Trời mới có thể dần dần khôi phục hình dạng và chức năng ban đầu của họ, và cuối cùng, khôi phục vương quốc của Ngài. Sự hủy diệt sau cùng đối với các con trai của sự bất tuân sẽ được thực hiện để cho con người thờ phượng Đức Chúa Trời tốt hơn và sống tốt hơn trên đất. Bởi vì Đức Chúa Trời đã dựng nên con người, nên Ngài sẽ làm cho họ thờ phượng Ngài; Bởi vì Ngài muốn khôi phục chức năng ban đầu của loài người, nên Ngài sẽ khôi phục nó trọn vẹn và không có bất kỳ sự pha trộn nào. Khôi phục thẩm quyền của Ngài có nghĩa là làm cho con người thờ phượng Ngài và tuân phục Ngài; điều đó có nghĩa là Đức Chúa Trời sẽ làm cho con người sống vì Ngài và khiến kẻ thù của Ngài bị diệt vong bởi thẩm quyền của Ngài. Điều đó có nghĩa rằng Đức Chúa Trời sẽ khiến tất cả những gì thuộc về Ngài tiếp tục tồn tại giữa con người mà không có sự chống đối của bất kỳ ai. Vương quốc Đức Chúa Trời muốn thiết lập là vương quốc của chính Ngài. Nhân loại Ngài mong muốn là một nhân loại sẽ thờ phượng Ngài, một nhân loại sẽ tuân phục Ngài hoàn toàn và bày tỏ sự vinh hiển của Ngài. Nếu Đức Chúa Trời không cứu loài người bại hoại, thì ý nghĩa đằng sau sự sáng tạo loài người của Ngài sẽ bị mất đi; Ngài sẽ không còn thẩm quyền giữa con người, và vương quốc của Ngài sẽ không còn có thể tồn tại trên đất. Nếu Đức Chúa Trời không hủy diệt những kẻ thù không vâng phục Ngài, thì Ngài sẽ không thể có được sự vinh hiển trọn vẹn của Ngài, mà Ngài cũng không thể thiết lập vương quốc của Ngài trên đất. Đây sẽ là những dấu hiệu của sự hoàn thành công tác của Ngài và thành tựu vĩ đại của Ngài: hủy diệt hoàn toàn những ai trong loài người không vâng phục Ngài, và đem vào sự nghỉ ngơi đối với những ai đã được trở nên trọn vẹn” (“Đức Chúa Trời và con người sẽ cùng bước vào sự nghỉ ngơi” trong Lời xuất hiện trong xác thịt).

Ngươi chỉ biết rằng Jêsus sẽ ngự xuống trong thời kỳ sau rốt, nhưng chính xác Ngài sẽ ngự xuống như thế nào? Một tội nhân như các ngươi, người vừa mới được cứu chuộc, và chưa được thay đổi hoặc được Đức Chúa Trời hoàn thiện, ngươi có thể hợp lòng Đức Chúa Trời sao? Đối với ngươi, ngươi vẫn còn bản ngã cũ của mình, đúng là ngươi đã được Jêsus cứu rỗi, và ngươi không bị xem là một tội nhân nhờ sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời, nhưng điều này không chứng minh rằng ngươi vô tội và không ô uế. Làm sao ngươi có thể nên thánh nếu ngươi chưa được thay đổi? Bên trong, ngươi bị bủa vây bởi sự bất khiết, ích kỷ và hèn hạ, nhưng ngươi vẫn muốn được ngự xuống với Jêsus – ngươi chẳng thể may mắn vậy được! Ngươi đã bỏ qua một bước trong niềm tin của mình vào Đức Chúa Trời: Ngươi chỉ đơn thuần đã được cứu chuộc, nhưng ngươi vẫn chưa được thay đổi. Để ngươi hợp lòng Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời phải đích thân thực hiện công tác thay đổi và làm cho ngươi thanh sạch; nếu không thì ngươi, kẻ chỉ được cứu chuộc, sẽ không có khả năng đạt được sự nên thánh. Theo cách này, ngươi sẽ không đủ tư cách để dự phần trong những phước lành của Đức Chúa Trời, vì ngươi đã bỏ qua một bước trong công tác quản lý con người của Đức Chúa Trời, là bước then chốt để thay đổi và hoàn thiện. Và vì vậy, ngươi, một tội nhân vừa được cứu chuộc, không có khả năng trực tiếp thừa hưởng cơ nghiệp của Đức Chúa Trời” (“Xét về danh xưng và thân phận” trong Lời xuất hiện trong xác thịt).

Ngươi phải biết Ta mong muốn loại người nào; những kẻ bất khiết không được phép bước vào vương quốc, những kẻ bất khiết không được phép làm ô uế vùng đất thánh. Mặc dù ngươi có thể đã làm rất nhiều việc và đã làm việc trong nhiều năm, nhưng cuối cùng nếu ngươi vẫn còn ô uế một cách tệ hại – thì luật Trời sẽ không thể dung thứ nếu ngươi muốn bước vào vương quốc của Ta! Từ khi sáng thế cho đến nay, Ta chưa bao giờ cho những kẻ nịnh hót Ta dễ dàng vào vương quốc của Ta. Đây là luật Trời, và không ai có thể phá vỡ nó! Ngươi phải tìm kiếm sự sống. Ngày nay, những người sẽ được làm cho hoàn thiện giống như Phi-e-rơ: Họ là những người tìm kiếm sự thay đổi trong tâm tính của bản thân mình, sẵn sàng làm chứng cho Đức Chúa Trời và thực hiện bổn phận của mình như một loài thọ tạo của Đức Chúa Trời. Chỉ những người như vậy mới được làm cho hoàn thiện. Nếu ngươi chỉ chăm chăm vào phần thưởng, mà không cố gắng thay đổi tâm tính sống của chính mình, thì tất cả mọi nỗ lực của ngươi sẽ vô ích – và đây là một lẽ thật bất di bất dịch!” (“Thành công hay thất bại phụ thuộc vào con đường mà con người đi” trong Lời xuất hiện trong xác thịt).

Nói về công tác phán xét của Đức Chúa Trời Toàn Năng trong Thời đại Vương quốc, hãy cùng đọc vài đoạn lời của Đức Chúa Trời Toàn Năng nhé.

Đấng Christ của thời kỳ sau rốt dùng nhiều lẽ thật khác nhau để dạy dỗ con người, để phơi bày bản chất của con người, và để mổ xẻ những lời nói và hành động của con người. Những lời này bao gồm nhiều dạng lẽ thật, chẳng hạn như bổn phận của con người, con người nên vâng lời Đức Chúa Trời như thế nào, con người nên trung thành với Đức Chúa Trời ra sao, con người phải sống trọn nhân tính bình thường, cũng như sự khôn ngoan và tâm tính của Đức Chúa Trời như thế nào, v.v. Tất cả những lời này đều nhắm vào bản chất của con người và tâm tính bại hoại của họ. Cụ thể, những lời vạch trần cách con người hắt hủi Đức Chúa Trời, được phán ra liên quan đến việc con người là hiện thân của Sa-tan và là một thế lực thù địch chống lại Đức Chúa Trời như thế nào. Trong quá trình thực hiện công tác phán xét của mình, Đức Chúa Trời không chỉ đơn giản làm rõ bản tính của con người bằng một vài lời; Ngài phơi bày, xử lý và tỉa sửa qua thời gian dài. Tất cả những phương pháp phơi bày, xử lý và tỉa sửa khác nhau này không thể được thay thế bằng những lời thông thường, mà phải bằng lẽ thật con người tuyệt đối không bao giờ có. Chỉ có những phương pháp như thế này mới có thể được gọi là sự phán xét; chỉ thông qua kiểu phán xét này thì con người mới có thể bị khuất phục và hoàn toàn bị thuyết phục về Đức Chúa Trời, và hơn nữa mới có được kiến thức thực sự về Đức Chúa Trời. Điều mà công tác phán xét mang lại là sự hiểu biết của con người về diện mạo thật của Đức Chúa Trời và sự thật về sự phản nghịch của chính mình. Công tác phán xét cho phép con người đạt được nhiều hiểu biết về ý muốn của Đức Chúa Trời, về mục đích công tác của Đức Chúa Trời, và về những lẽ mầu nhiệm mà họ không thể hiểu được. Nó cũng cho phép con người nhận ra và biết được thực chất bại hoại và nguồn gốc sự bại hoại của mình, cũng như khám phá ra sự xấu xa của con người. Những tác dụng này đều do công tác phán xét mang lại, vì thực chất của công tác này thực ra là công tác mở ra lẽ thật, đường đi và sự sống của Đức Chúa Trời cho tất cả những ai có đức tin vào Ngài. Công tác này là công tác phán xét được thực hiện bởi Đức Chúa Trời” (“Đấng Christ thực hiện công tác phán xét bằng lẽ thật” trong Lời xuất hiện trong xác thịt).

Đức Chúa Trời thực hiện công tác phán xét và hành phạt hầu cho con người có thể đạt được kiến thức về Ngài, và vì lời chứng của Ngài. Thiếu sự phán xét của Ngài về tâm tính bại hoại của con người, con người không thể nào biết được tâm tính công chính của Ngài, điều không được phép xúc phạm, và con người cũng sẽ không thể nào biến kiến thức cũ của họ về Đức Chúa Trời thành một kiến thức mới. Vì lời chứng của Ngài, và vì sự quản lý của Ngài, nên Ngài công khai toàn bộ về Ngài, do đó cho phép con người, thông qua sự xuất hiện công khai của Ngài, đạt được kiến thức về Đức Chúa Trời, được chuyển hóa trong tâm tính mình, và làm chứng vang dội cho Đức Chúa Trời. Sự chuyển hóa tâm tính con người đạt được thông qua nhiều loại công tác khác nhau của Đức Chúa Trời; nếu thiếu những thay đổi như vậy trong tâm tính mình, thì con người sẽ không thể làm chứng cho Đức Chúa Trời và hợp lòng Đức Chúa Trời được. Sự chuyển hóa trong tâm tính của con người biểu thị rằng con người đã tự giải thoát khỏi sự trói buộc của Sa-tan và khỏi ảnh hưởng của sự tối tăm, và đã thực sự trở thành một kiểu mẫu và hình mẫu cho công tác của Đức Chúa Trời, một chứng nhân của Đức Chúa Trời, và là người hợp lòng Đức Chúa Trời” (“Chỉ những ai biết Đức Chúa Trời mới có thể làm chứng cho Đức Chúa Trời” trong Lời xuất hiện trong xác thịt).

Trong công tác cuối cùng kết thúc thời đại của Đức Chúa Trời, tâm tính của Ngài là một tâm tính hành phạt và phán xét, mà qua đó, Ngài vạch trần tất cả mọi điều bất chính, để công khai phán xét tất cả mọi người, và hoàn thiện những ai yêu mến Ngài với một tấm lòng chân thành. Chỉ một tâm tính như vậy mới có thể kết thúc thời đại. Thời kỳ sau rốt đã đến rồi. Mọi thứ trong tạo vật sẽ được phân chia theo loại của chúng, và được chia thành các loại khác nhau dựa trên bản tính của chúng. Đây là thời điểm Đức Chúa Trời tiết lộ kết cục của loài người và đích đến của họ. Nếu mọi người không trải qua hình phạt và phán xét, thì sẽ không có cách nào phơi bày sự bất tuân và bất chính của họ. Chỉ thông qua hình phạt và phán xét, kết cục của muôn loài thọ tạo mới có thể được tiết lộ. Con người chỉ thể hiện bản chất thật của mình khi bị hành phạt và phán xét. Ác sẽ được xếp với ác, thiện với thiện, và toàn thể nhân loại sẽ được phân chia theo loại của họ. Thông qua hình phạt và phán xét, kết cục của muôn loài thọ tạo sẽ được tiết lộ, hầu cho kẻ ác có thể bị trừng phạt và người thiện có thể được ban thưởng, và tất cả mọi người đều trở nên khuất phục sự thống trị của Đức Chúa Trời. Toàn bộ công tác này phải đạt được thông qua hình phạt và phán xét công chính. Bởi vì sự bại hoại của con người đã lên đến đỉnh điểm và sự bất tuân của họ trở nên cực kỳ nghiêm trọng, chỉ có tâm tính công chính của Đức Chúa Trời, tâm tính chủ yếu được kết hợp bởi hình phạt và phán xét và được tỏ lộ trong thời kỳ sau rốt, mới có thể chuyển hóa hoàn toàn và làm cho con người trọn vẹn. Chỉ có tâm tính này mới có thể vạch trần cái ác và qua đó trừng phạt nghiêm khắc tất cả những kẻ bất chính. … Trong thời kỳ sau rốt, chỉ có sự phán xét công chính mới có thể phân chia con người theo loại của họ và đưa con người vào một cõi mới. Theo cách này, toàn bộ thời đại được kết thúc thông qua tâm tính phán xét và hành phạt công chính của Đức Chúa Trời” (“Khải tượng về công tác của Đức Chúa Trời (3)” trong Lời xuất hiện trong xác thịt).

Bây giờ thì ngươi đã hiểu sự phán xét là gì và lẽ thật là gì chưa? Nếu ngươi đã hiểu, thì Ta khuyên ngươi hãy ngoan ngoãn quy phục để chịu phán xét, nếu không thì ngươi sẽ không bao giờ có cơ hội được Đức Chúa Trời khen ngợi hoặc được Ngài đưa vào vương quốc của Ngài. Những kẻ chỉ chấp nhận sự phán xét nhưng không bao giờ có thể được làm cho tinh sạch, nghĩa là những kẻ bỏ trốn giữa chừng công tác phán xét, thì sẽ mãi mãi bị Đức Chúa Trời khinh ghét và loại bỏ. Tội lỗi của chúng nhiều hơn và nặng hơn tội lỗi của những người Pha-ri-si, vì chúng đã phản bội Đức Chúa Trời và là những kẻ phản nghịch chống lại Đức Chúa Trời. Những kẻ thậm chí không xứng đáng để làm công việc phục vụ như thế sẽ phải nhận sự trừng phạt nặng hơn, hơn nữa đó còn là sự trừng phạt đời đời. Đức Chúa Trời sẽ không tha cho bất kỳ kẻ phản bội nào đã từng tỏ ra trung thành bằng lời nhưng sau đó lại phản bội Ngài. Những kẻ như vậy sẽ nhận lấy quả báo thông qua sự trừng phạt về tinh thần, tâm hồn, và thể xác. Đây chẳng phải chính là một sự tỏ lộ tâm tính công chính của Đức Chúa Trời hay sao? Đây chẳng phải là mục đích của Đức Chúa Trời trong việc phán xét con người và phơi bày họ hay sao? Đức Chúa Trời tống khứ tất cả những kẻ thực hiện đủ loại hành vi xấu xa trong thời gian phán xét đến một nơi đầy dẫy ác linh, và để những ác linh này tùy ý hủy hoại thể xác của họ, và thân thể của những kẻ đó bốc ra mùi hôi thối của xác chết. Đó là quả báo thích đáng cho chúng. Đức Chúa Trời ghi từng tội lỗi một của các tín đồ giả mạo bất trung, các sứ đồ giả, và các cộng sự giả vào sổ của chúng; sau đó, khi đến đúng thời điểm, Ngài ném chúng ra giữa những tà linh, để những tà linh này tùy ý làm ô uế toàn bộ thân thể của chúng, hầu cho chúng không bao giờ có thể được tái sinh và không bao giờ nhìn thấy lại sự sáng. Những kẻ giả hình phục vụ trong một thời gian nhưng không có khả năng giữ trung thành cho đến cuối cùng sẽ bị Đức Chúa Trời liệt vào hàng những kẻ dữ, hầu cho chúng cấu kết với kẻ dữ và trở thành một phần trong đám đông hỗn loạn của chúng; cuối cùng, Đức Chúa Trời sẽ tiêu diệt chúng. Đức Chúa Trời gạt bỏ và không để ý gì đến những kẻ chưa bao giờ trung thành với Đấng Christ hoặc chưa bao giờ đóng góp chút sức lực nào, và khi thời đại thay đổi, Ngài sẽ tiêu diệt tất cả bọn chúng. Chúng sẽ không còn tồn tại trên trái đất nữa, càng không có được lối vào trong vương quốc của Đức Chúa Trời. Những kẻ chưa bao giờ thành tâm với Đức Chúa Trời, nhưng bị hoàn cảnh ép buộc phải đối phó với Ngài một cách chiếu lệ, bị liệt vào hàng những kẻ phục vụ cho dân sự của Ngài. Chỉ một số ít người như thế sẽ sống sót, trong khi đa số sẽ diệt vong cùng với những kẻ dâng sự phục vụ không đạt tiêu chuẩn. Cuối cùng, Đức Chúa Trời sẽ đưa vào vương quốc của Ngài tất cả những người có cùng tâm tình với Đức Chúa Trời, dân sự và các con trai của Đức Chúa Trời, cùng những người được Đức Chúa Trời định trước để làm thầy tế lễ. Họ sẽ là tinh túy công tác của Đức Chúa Trời. Đối với những người không thể xếp được vào bất kỳ loại nào do Đức Chúa Trời đặt ra, họ sẽ bị liệt vào hàng những người ngoại đạo – và các ngươi chắc chắn có thể tưởng tượng được kết cục của họ sẽ ra sao. Ta đã phán với các ngươi mọi điều Ta nên phán; con đường các ngươi chọn là sự lựa chọn của riêng các ngươi. Điều các ngươi nên hiểu là: Công tác của Đức Chúa Trời không bao giờ chờ đợi bất kỳ ai không thể theo kịp Ngài, và tâm tính công chính của Đức Chúa Trời không tỏ lòng thương xót đối với bất kỳ ai” (“Đấng Christ thực hiện công tác phán xét bằng lẽ thật” trong Lời xuất hiện trong xác thịt).

Ta sẽ trút cơn thịnh nộ lên các quốc gia, công khai ban hành các sắc lệnh quản trị trên khắp vũ trụ, bất cứ ai xúc phạm sẽ bị hành phạt:

Khi Ta nói chuyện trên toàn vũ trụ, tất cả con người đều nghe thấy tiếng của Ta, nghĩa là nhìn thấy tất cả công tác của Ta trong khắp vũ trụ. Những người đi ngược lại ý muốn của Ta, nghĩa là, người có hành động chống đối Ta, sẽ vấp phải sự hình phạt của Ta. Ta sẽ thay đổi các vì sao trên các tầng trời, và nhờ có Ta, mặt trời và mặt trăng sẽ được thay đổi, bầu trời không còn là như trước kia nữa; vạn vật trên trần gian sẽ được thay đổi. Tất cả sẽ được hoàn thành bởi lời của Ta. Tất cả các quốc gia trong toàn vũ trụ sẽ được phân chia lại và được thay thế bằng Vương quốc của Ta, làm cho các quốc gia trên trái đất sẽ biến mất mãi mãi và tôn sùng Vương quốc của Ta. Tất cả các quốc gia trên trần gian sẽ bị hủy diệt và không còn tồn tại. Trong số con người trên toàn vũ trụ, tất thảy những kẻ thuộc về ma quỷ đều bị tiêu diệt; tất thảy những kẻ tôn sùng Sa-tan đều bị gục ngã dưới ngọn lửa thiêu đốt của Ta, ngoại trừ những con người hiện đang trong dòng chảy, còn lại sẽ biến thành tro bụi. Khi Ta hành phạt các dân sự, những người trong giới tôn giáo trở về Vương quốc của Ta với những mức độ khác nhau, được chinh phục bởi các công tác của Ta, bởi vì họ đều đã nhìn thấy sự xuất hiện của ‘Đấng Thánh cưỡi đám mây trắng’. Tất cả con người sẽ được phân loại và phải chịu hình phạt khác nhau vì những gì họ đã làm. Kẻ chống đối Ta đều phải diệt vong; với kẻ có những hành động trên trần gian không liên quan tới Ta, do được tha bổng nên họ sẽ tiếp tục tồn tại trên trần gian dưới sự cai quản của các con trai và dân sự của Ta. Ta sẽ mặc khải với các quốc gia và các dân sự, bày tỏ tiếng nói của chính mình trên trần gian, tuyên bố công việc vĩ đại của Ta đã hoàn thành để cả nhân loại tận mắt chứng kiến” (“Chương 26” của Những lời của Đức Chúa Trời với toàn vũ trụ trong Lời xuất hiện trong xác thịt).

Trong Vương quốc, vạn vật đều bắt đầu hồi sinh và lấy lại sức sống. Do những thay đổi về trạng thái của trái đất, ranh giới giữa vùng đất này và vùng đất khác cũng bắt đầu thay đổi. Ta từng dự đoán: Khi đất đai bị chia cắt, khi đất đai được hợp lại, đây là lúc Ta sẽ đập tan các nước thành nhiều mảnh vụn. Tại thời điểm này, Ta sẽ đổi mới vạn vật và phân chia lại toàn bộ vũ trụ, từ đó chỉnh đốn lại toàn vũ trụ, thay đổi diện mạo cũ sang diện mạo mới. Đây là kế hoạch của Ta, là các công tác của Ta. Khi tất cả các quốc gia và các dân sự trên thế giới trở về trước ngai vàng của Ta, Ta sẽ lấy mọi thứ trên thiên đàng và ban tặng cho thế giới loài người, để nhờ có Ta mà nhân gian trở nên vô cùng phong phú” (“Chương 26” của Những lời của Đức Chúa Trời với toàn vũ trụ trong Lời xuất hiện trong xác thịt).

Khi những lời của Ta được thành toàn, vương quốc dần được hình thành trên đất và con người dần trở lại trạng thái bình thường, và do đó, vương quốc trong lòng Ta cũng được thiết lập trên đất. Trong vương quốc, tất cả dân sự của Đức Chúa Trời đều khôi phục sự sống của con người bình thường. Mùa đông băng giá đi qua và thay vào đó là một thế giới những thành phố của mùa xuân, nơi quanh năm là mùa xuân. Người ta không còn phải đối mặt với thế giới ảm đạm, khốn khổ của con người nữa, và không còn phải chịu đựng sự lạnh giá của thế gian nữa. Mọi người không tranh đấu với nhau, các quốc gia không tham chiến với nhau, không còn tàn sát và máu chảy từ sự tàn sát; mọi miền đất đều tràn ngập hạnh phúc, tình người ấm áp tràn ngập muôn nơi” (“Chương 20” của Những lời của Đức Chúa Trời với toàn vũ trụ trong Lời xuất hiện trong xác thịt).

Khi con người đã được khôi phục lại hình dạng ban đầu của họ, và khi họ có thể hoàn thành bổn phận của riêng mình, giữ đúng vị trí của mình và tuân phục mọi sự sắp xếp của Đức Chúa Trời, thì Đức Chúa Trời sẽ có được một nhóm người trên đất thờ phượng Ngài, và Ngài cũng đã thiết lập một vương quốc trên đất thờ phượng Ngài. Sau đó Ngài sẽ có chiến thắng đời đời trên đất, và tất cả những ai chống đối Ngài sẽ bị diệt vong cho đến đời đời. Điều này sẽ khôi phục ý định ban đầu của Ngài trong việc dựng nên loài người; nó sẽ khôi phục ý định của Ngài trong việc dựng nên muôn vật, và nó cũng sẽ khôi phục thẩm quyền của Ngài trên đất, giữa muôn vật, và giữa những kẻ thù của Ngài. Những điều này sẽ là các biểu tượng cho chiến thắng hoàn toàn của Ngài. Từ đó, loài người sẽ bước vào sự nghỉ ngơi và bắt đầu một đời sống theo đúng hướng. Đức Chúa Trời cũng sẽ bước vào sự nghỉ ngơi đời đời với loài người, và bắt đầu một đời sống đời đời được chia sẻ bởi chính Ngài lẫn con người. Sự ô uế và bất tuân hiện tại trên đất đã biến mất, và tất cả sự khóc than đã tiêu tan, và mọi thứ trên thế giới chống lại Đức Chúa Trời đã không còn tồn tại. Chỉ có Đức Chúa Trời và những người Ngài đã mang đến sự cứu rỗi sẽ còn mãi; chỉ có sự sáng tạo của Ngài sẽ còn mãi” (“Đức Chúa Trời và con người sẽ cùng bước vào sự nghỉ ngơi” trong Lời xuất hiện trong xác thịt).

Giờ chúng ta đã nghe được lời của Đức Chúa Trời Toàn Năng, chúng ta đã thấy rằng Đức Chúa Trời Toàn Năng và Đức Chúa Jêsus là một và duy nhất. Các Ngài đều là Đức Chúa Trời nhập thể đứng trên cao và phán xuống nhân loại. Điều mà các Ngài tỏ lộ là tâm tính của Đức Chúa Trời và thực chất thánh khiết của Ngài. Điều này đã chứng minh hoàn hảo thẩm quyền và thân phận của Đức Chúa Trời. Từ những lời của Đức Chúa Jêsus về sự phán xét và phơi bày với những người Pha-ri-si và lời của Đức Chúa Trời Toàn Năng về sự phán xét và phơi bày nhân loại bại hoại, chúng ta thấy Đức Chúa Trời căm ghét tội lỗi, và khinh bỉ sự bại hoại của nhân loại. Chúng ta thấy tâm tính thánh khiết và công chính của Ngài, và hơn thế nữa, Ngài giám sát tâm can của con người. Sự bại hoại của chúng ta quen thuộc với Ngài, giống như lòng bàn tay Ngài vậy. Từ những lời khuyên răn và yêu cầu của Đức Chúa Jêsus và Đức Chúa Trời Toàn Năng cho nhân loại, chúng ta thấy kỳ vọng của Đức Chúa Trời đối với nhân loại, Đức Chúa Trời thích người thật thà, và Ngài ban phước cho những ai thật lòng dâng mình cho Ngài. Điều này cho chúng ta thấy sự quan tâm và cứu rỗi nhân loại của Đức Chúa Trời. Từ những lời hứa của Đức Chúa Jêsus và Đức Chúa Trời Toàn Năng với nhân loại, chúng ta thấy tình yêu nhân loại của Đức Chúa Trời, hơn nữa, chúng ta chứng kiến thẩm quyền và quyền năng, mà Ngài dùng để làm chủ số phận của nhân loại và cai quản vạn vật. Những lời phán của Đức Chúa Jêsus, và Đức Chúa Trời Toàn Năng giống nhau cả về giọng điệu và cách nói, đều là sự bày tỏ tâm tính của Đức Chúa Trời. Điều này minh chứng hoàn hảo, cho thân phận và thực chất của Đức Chúa Trời. Các anh chị em, chúng ta thử nghĩ mà xem: Còn ai ngoài Đấng Tạo Hóa có thể bày tỏ lời phán với toàn bộ nhân loại? Ai có thể bày tỏ trực tiếp ý muốn của Đức Chúa Trời và yêu cầu nhân loại? Ai có thể quyết định kết cục của con người? Ai có thể kiểm soát sự sống chết của con người? Ai có thể điều khiển các vì sao trong vũ trụ, nắm quyền thống trị vạn vật? Còn ai khác, có thể nhìn thấu lẽ thật của thực chất bại hoại của nhân loại? Ai có thể phơi bày bản tính Sa-tan ẩn sâu bên trong tâm can của chúng ta? Ai có thể hoàn thành công tác phán xét của Đức Chúa Trời vào thời kỳ sau rốt và triệt để cứu chúng ta khỏi sự ảnh hưởng của Sa-tan? Chỉ có Đấng Tạo Hóa mới có thẩm quyền và quyền năng như thế! Lời Đức Chúa Trời Toàn Năng biểu lộ hoàn hảo thẩm quyền và thân phận độc nhất vô nhị của Đức Chúa Trời. Các anh chị em, sau khi nghe lời Đức Chúa Trời Toàn Năng, lòng chúng ta đều cảm thấy chắc chắn rằng: Những lời này đều được Đức Chúa Trời bày tỏ, đó là tiếng của Đức Chúa Trời. Đó đều là những lẽ thật được Đấng Tạo Hóa bày tỏ trong công tác phán xét vào thời kỳ sau rốt. Trong lòng chúng ta, lập tức có lòng tôn kính chân thành với Đức Chúa Trời. Sau khi nghe lời của Đức Chúa Trời Toàn Năng, mọi người có cảm giác tương tự như vậy không? Điều này đủ để chứng tỏ rằng lời của Đức Chúa Trời Toàn Năng và lời của Đức Chúa Jêsus cùng chung nguồn gốc. Đó đều là sự bày tỏ của một Thần. Đó là phán ngôn của một Đức Chúa Trời tới nhân loại ở các thời đại khác nhau. Trong thời kỳ sau rốt, Đức Chúa Trời Toàn Năng thực hiện công tác phán xét khởi từ nhà Đức Chúa Trời dựa trên công tác cứu chuộc của Đức Chúa Jêsus. Đức Chúa Trời Toàn Năng bày tỏ, mọi lẽ thật để cứu rỗi và làm tinh sạch nhân loại, và mặc khải mọi lẽ nhiệm mầu trong kế hoạch quản lý cho việc cứu rỗi nhân loại, và nói rõ với chúng ta thực chất của những khía cạnh khác nhau về lẽ thật. Những lời đó khai sáng chúng ta, và cực kỳ thuyết phục. Lời và công tác của Đức Chúa Trời Toàn Năng đã ứng nghiệm và hoàn thành mọi lời tiên tri của Đức Chúa Jêsus. Trong tất cả những lời mà Đức Chúa Trời Toàn Năng bày tỏ đối với công tác phán xét vào thời kỳ sau rốt, chúng ta nhận ra tiếng của Đức Chúa Trời, và xác định rằng Đức Chúa Trời Toàn Năng chính là Đức Chúa Jêsus tái lâm, Đức Chúa Trời thật duy nhất đã tạo ra trời đất và vạn vật, đến để thực hiện công tác phán xét vào thời kỳ sau rốt. Ngài đến để kết thúc sự thống trị của Sa-tan trên trái đất, kỷ nguyên của tà ác và tối tăm, mở ra sự trị vì của Đức Chúa Trời trên trái đất, Thời đại Vương quốc Một nghìn năm. Điều này biến ước muốn tốt đẹp được bước vào vương quốc thiên đàng của chúng ta thành hiện thực. Các anh chị em, có phải công tác của Đức Chúa Trời Toàn Năng vào thời kỳ sau rốt đã ứng nghiệm mọi lời tiên tri của Đức Chúa Jêsus không?

Trích từ kịch bản phim Chờ đợi

Trước: Câu hỏi 2: Bác đã tin Chúa hơn nửa đời mình. Bác đã làm việc không mệt mỏi vì Chúa và đã không ngừng tìm kiếm sự tái lâm của Ngài. Nếu Chúa đến, sao bác không nhận được sự mặc khải của Ngài? Ngài đã loại trừ bác sao? Điều này khiến bác rất hoang mang. Các cháu giải thích điều này sao đây?

Tiếp theo: Câu hỏi 4: Đức Chúa Jêsus đã nói nhiều lẽ nhiệm mầu của vương quốc thiên đàng cho các môn đồ, vậy, là sự tái lâm của Đức Chúa Jêsus, Đức Chúa Trời Toàn Năng có tiết lộ nhiều lẽ nhiệm mầu không? Các em có thể thông công một số lẽ nhiệm mầu mà Đức Chúa Trời Toàn Năng tiết lộ không? Điều này sẽ giúp chúng tôi rất nhiều trong việc nhận biết tiếng Đức Chúa Trời.

Hồi chuông thời sau hết báo động đã vang lên, đại thảm họa đã ập xuống, bạn có muốn cùng gia đình nghênh đón được Thiên Chúa, và có cơ hội nhận được sự che chở của Thiên Chúa không?

Cài đặt

  • Văn bản
  • Chủ đề

Màu Đồng nhất

Chủ đề

Phông

Kích cỡ Phông

Khoảng cách Dòng

Khoảng cách Dòng

Chiều rộng Trang

Mục lục

Tìm kiếm

  • Tìm kiếm văn bản này
  • Tìm kiếm cuốn sách này

Liên hệ với chúng tôi qua Messenger