Lối vào sự sống VI

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày  Trích đoạn 556

Chỉ bằng cách mưu cầu lẽ thật con người mới có thể đạt được sự thay đổi trong tâm tính: Đây là điều mà mọi người phải thông tỏ và hiểu thấu đáo. Nếu ngươi không hiểu đầy đủ về lẽ thật, thì ngươi sẽ dễ mắc sai lầm và lầm lạc. Nếu ngươi muốn trưởng thành trong sự sống, thì ngươi phải tìm kiếm lẽ thật trong mọi điều. Bất kể ngươi đang làm gì, thì ngươi cũng nên tìm ra cách cư xử để được phù hợp với lẽ thật, và tìm ra những thứ pha tạp còn tồn tại trong ngươi là thứ vi phạm lẽ thật; ngươi phải hiểu rõ những điều này. Bất kể ngươi đang làm gì, ngươi nên cân nhắc xem liệu nó có phù hợp với lẽ thật hay không, và liệu nó có giá trị và ý nghĩa hay không. Ngươi có thể làm những việc phù hợp với lẽ thật, nhưng ngươi không thể làm những việc không phù hợp với lẽ thật. Đối với những việc ngươi có thể làm hoặc không, nếu có thể buông bỏ chúng, thì ngươi nên buông bỏ. Bằng không, nếu ngươi làm những điều này một thời gian và sau đó nhận thấy rằng ngươi nên buông bỏ chúng, thì hãy quyết định ngay lập tức và nhanh chóng buông bỏ chúng. Đây là nguyên tắc ngươi phải tuân theo trong mọi việc ngươi làm. Một số người đặt câu hỏi này: Tại sao việc tìm kiếm lẽ thật và đưa nó vào thực hành lại khó đến thế – như thể ngươi đang chèo thuyền ngược dòng, và sẽ trôi lùi lại sau nếu ngươi ngừng chèo về phía trước? Và ấy thế mà, tại sao làm những điều xấu xa hoặc vô nghĩa lại thực sự dễ dàng hơn nhiều – dễ như chèo thuyền xuôi dòng? Tại sao lại như vậy? Đó là bởi vì bản tính của loài người là phản bội Đức Chúa Trời. Bản tính của Sa-tan đã chiếm một vai trò thống trị trong con người, và đây là một thế lực đối lập. Tất nhiên, với bản tính phản bội Đức Chúa Trời, con người rất dễ làm những điều phản bội Ngài, và đương nhiên họ khó mà thực hiện những hành động tích cực. Điều này hoàn toàn do thực chất bản tính của con người quyết định. Một khi ngươi thực sự hiểu lẽ thật và bắt đầu yêu lẽ thật từ bên trong mình, thì ngươi sẽ thấy dễ làm những điều phù hợp với lẽ thật. Ngươi sẽ thực hiện bổn phận của mình và thực hành lẽ thật một cách bình thường – thậm chí một cách dễ dàng và vui vẻ, và ngươi sẽ cảm thấy rằng làm bất kỳ điều gì tiêu cực cũng sẽ đòi hỏi rất nhiều nỗ lực. Điều này là bởi vì lẽ thật đã chiếm một vai trò quan trọng trong lòng của ngươi. Nếu ngươi thực sự hiểu những lẽ thật về cuộc đời của con người, thì ngươi sẽ có một con đường để theo xét về việc sẽ là loại người nào, làm thế nào để trở thành một người thẳng thắn và thật thà, một người trung thực, và một người làm chứng cho Đức Chúa Trời và phụng sự Ngài. Và một khi ngươi hiểu những lẽ thật này thì ngươi sẽ không bao giờ có thể phạm phải hành động xấu xa chống đối Ngài, và ngươi cũng sẽ không bao giờ đóng vai trò của một người dẫn dắt giả, một người làm công giả, hoặc một kẻ địch lại Đấng Christ. Ngay cả khi Sa-tan mê hoặc ngươi, hoặc một kẻ ác xa nào đó xúi giục ngươi, thì ngươi sẽ không làm; dù ai có cố gắng ép buộc ngươi, thì ngươi vẫn sẽ không hành động theo cách đó. Nếu mọi người có được lẽ thật và lẽ thật trở thành sự sống của họ, thì họ sẽ có thể khinh ghét cái ác và có cảm giác ghê tởm ở bên trong đối với những điều tiêu cực. Họ sẽ khó phạm tội, bởi vì tâm tính sống của họ đã thay đổi và họ đã được Đức Chúa Trời hoàn thiện.

Nếu trong lòng ngươi, ngươi thực sự hiểu được lẽ thật, thì ngươi sẽ biết cách thực hành lẽ thật và thuận phục Đức Chúa Trời, và tự nhiên sẽ dấn bước trên con đường mưu cầu lẽ thật. Nếu con đường ngươi bước đi là con đường đúng và phù hợp tâm ý của Đức Chúa Trời, thì công tác của Đức Thánh Linh sẽ không rời khỏi ngươi – như thế sẽ có ngày càng ít nguy cơ ngươi phản bội Đức Chúa Trời. Không có lẽ thật thì rất dễ làm điều ác, và ngươi sẽ làm điều đó dù bản thân không muốn vậy. Chẳng hạn, nếu ngươi có một tâm tính kiêu ngạo và tự phụ, thì việc bảo ngươi đừng đối nghịch với Đức Chúa Trời sẽ chẳng kết quả gì, ngươi không thể cưỡng lại, nó nằm ngoài tầm kiểm soát của ngươi. Ngươi sẽ không chủ tâm làm điều đó; ngươi sẽ làm điều đó dưới sự chi phối của bản tính kiêu ngạo và tự phụ của mình. Sự kiêu ngạo và tự phụ của ngươi sẽ khiến ngươi coi thường Đức Chúa Trời và không xem Ngài ra gì; chúng sẽ khiến ngươi tự đề cao bản thân, không ngừng khoe khoang về bản thân; chúng sẽ khiến ngươi coi khinh những người khác, sẽ khiến ngươi không có ai trong lòng ngoài bản thân mình; chúng sẽ cướp vị trí của Đức Chúa Trời trong lòng ngươi, và cuối cùng sẽ khiến ngươi ngồi vào chỗ của Đức Chúa Trời và đòi hỏi mọi người phải thuận phục mình, khiến ngươi sùng bái suy nghĩ, ý tưởng và quan niệm của mình như là lẽ thật. Biết bao sự ác được thực hiện bởi những người chịu sự chi phối của bản tính kiêu ngạo và tự phụ của họ! Để giải quyết vấn đề hành ác, trước tiên họ phải giải quyết bản tính của họ. Nếu không có thay đổi trong tâm tính, sẽ không thể mang lại một giải pháp cơ bản cho vấn đề này. Khi ngươi có sự hiểu biết nào đó về Đức Chúa Trời, khi ngươi có thể thấy sự bại hoại của chính mình và nhận ra tính bỉ ổi và xấu xa của sự kiêu ngạo và tự phụ, khi ấy ngươi sẽ cảm thấy kinh tởm, phát ốm, và khó chịu. Ngươi sẽ có thể chủ ý làm một số việc để đáp ứng Đức Chúa Trời, và khi làm điều này, ngươi sẽ cảm thấy dễ chịu. Ngươi sẽ có thể chủ ý đọc lời Đức Chúa Trời, tôn vinh Đức Chúa Trời, làm chứng cho Đức Chúa Trời, và ngươi sẽ cảm nhận sự vui sướng trong lòng mình. Ngươi sẽ chủ ý lột mặt nạ chính mình, phơi bày sự xấu xa của chính mình, và bằng cách làm điều này, ngươi sẽ cảm thấy vui trong lòng và cảm thấy bản thân mình ở trong một trạng thái tinh thần khá hơn. Bước đầu tiên để tìm kiếm sự thay đổi trong tâm tính của ngươi là tìm cách hiểu lời Đức Chúa Trời và bước vào lẽ thật. Chỉ bằng cách hiểu được lẽ thật, ngươi mới có thể có được sự phân biện; chỉ với sự phân biện mà ngươi mới có thể hiểu mọi thứ một cách thấu đáo; chỉ bằng cách hiểu mọi thứ một cách thấu đáo thì ngươi mới có thể thực sự biết mình; chỉ khi ngươi thực sự biết mình ngươi mới có thể chống lại xác thịt và từ đó đưa lẽ thật vào thực hành, dần dần đưa ngươi đến sự thuận phục Đức Chúa Trời, và từng bước một, ngươi sẽ đi đúng hướng với niềm tin của ngươi vào Đức Chúa Trời. Điều này liên quan đến việc mọi người kiên quyết như thế nào khi mưu cầu lẽ thật. Nếu ai đó thực sự quyết tâm, thì sau sáu tháng hoặc một năm họ sẽ bắt đầu đi đúng hướng. Trong vòng ba hoặc năm năm, họ sẽ thấy kết quả và sẽ cảm thấy rằng họ đang tiến bộ trong sự sống. Nếu con người tin vào Đức Chúa Trời nhưng không mưu cầu lẽ thật, và không bao giờ tập trung thực hành lẽ thật, thì họ có thể tin trong mười hoặc hai mươi năm mà không trải nghiệm bất kỳ thay đổi nào. Và cuối cùng, họ sẽ nghĩ rằng tin vào Đức Chúa Trời là thế; họ sẽ nghĩ rằng nó khá giống với cách họ đã sống trong thế giới trần tục trước đây, nghĩ rằng chuyện sống không có ý nghĩa gì. Điều này thực sự cho thấy rằng không có lẽ thật thì cuộc sống trống rỗng. Họ có thể nói một số lời câu chữ đạo lý, nhưng họ vẫn sẽ cảm thấy không đạt được sự an ủi và cảm thấy bất an. Nếu con người có sự hiểu biết nào đó về Đức Chúa Trời, biết cách sống một cuộc đời có ý nghĩa và có thể làm được một số việc để thỏa lòng Đức Chúa Trời, thì họ sẽ cảm thấy rằng đây là cuộc sống đích thực, rằng chỉ bằng cách sống theo cách này thì cuộc sống của họ mới có ý nghĩa, và rằng họ phải sống theo cách này để thỏa lòng Đức Chúa Trời, đền đáp Đức Chúa Trời và cảm thấy thanh thản. Nếu họ có thể làm thỏa lòng Đức Chúa Trời một cách có ý thức, đưa lẽ thật vào thực hành, chống lại bản thân, từ bỏ những tư tưởng của riêng mình, thuận phục và quan tâm đến tâm ý của Đức Chúa Trời – nếu họ có thể làm hết thảy những điều này một cách có ý thức – thì điều này có nghĩa là đưa lẽ thật vào thực hành một cách đúng đắn, và thực sự đưa lẽ thật vào thực hành. Không giống như trước đây, chỉ đơn thuần dựa vào những tưởng tượng và tuân theo các quy định, rồi nghĩ rằng đây là thực hành lẽ thật. Trên thực tế, việc dựa vào những tưởng tượng và tuân theo các quy định rất mệt mỏi, việc không hiểu được lẽ thật và làm mọi việc không theo nguyên tắc cũng rất mệt mỏi, mù quáng làm mọi việc không có mục đích lại càng mệt mỏi hơn. Khi hiểu được lẽ thật, ngươi sẽ không bị bất kỳ con người, sự việc, sự vật nào chi phối, và ngươi sẽ thực sự có sự tự do, tự tại. Ngươi sẽ hành động một cách có nguyên tắc, được thoải mái và vui vẻ, và ngươi sẽ không cảm thấy việc này tốn quá nhiều công sức hay gây quá nhiều đau khổ. Nếu ngươi có kiểu trạng thái này, thì ngươi có lẽ thật và nhân tính, và là người có tâm tính đã thay đổi.

– Chỉ có mưu cầu lẽ thật mới đạt được sự thay đổi trong tâm tính, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày  Trích đoạn 557

Trong quá trình trải nghiệm sự sống, cho dù điều gì xảy ra, ngươi cũng phải học cách tìm kiếm lẽ thật và suy ngẫm thấu đáo vấn đề theo lời Đức Chúa Trời và lẽ thật. Khi ngươi biết cách làm mọi việc hoàn toàn phù hợp tâm ý của Đức Chúa Trời, ngươi sẽ có thể buông bỏ được những điều đến từ ý muốn của riêng mình. Một khi đã biết cách hành động phù hợp tâm ý của Đức Chúa Trời, ngươi sẽ chỉ đơn giản làm theo cách đó, như thể thuận theo tự nhiên, làm mọi việc theo cách này cảm giác rất thoải mái, dễ dàng. Đây là cách những người hiểu lẽ thật làm mọi việc. Nếu ngươi có thể cho mọi người thấy rằng ngươi thực sự hiệu quả khi thực hiện bổn phận của mình, rằng có những nguyên tắc trong cách ngươi làm mọi việc, rằng tâm tính sống của ngươi đã thực sự thay đổi, rằng ngươi đã làm nhiều điều tốt cho những người được Đức Chúa Trời chọn, thì ngươi là người hiểu lẽ thật, và chắc chắn có hình tượng giống con người; đồng thời chắc chắn sẽ có kết quả trong việc ăn uống lời Đức Chúa Trời của ngươi. Một khi ai đó đã thực sự hiểu lẽ thật, họ sẽ có thể phân định các trạng thái khác nhau của mình, họ sẽ có thể nhìn rõ những vấn đề phức tạp, và do đó họ sẽ biết cách thực hành thích hợp. Nếu một người không hiểu lẽ thật và không thể phân định được trạng thái của bản thân, thì nếu họ muốn chống lại chính mình, họ sẽ không biết phải chống lại cái gì hoặc bằng cách nào. Nếu muốn từ bỏ ý muốn của riêng mình, họ sẽ không biết ý muốn của riêng mình có gì sai, họ sẽ nghĩ rằng ý muốn của riêng mình hợp với lẽ thật, và thậm chí có thể coi ý muốn của riêng mình là sự khai sáng của Đức Thánh Linh. Làm sao người như vậy từ bỏ ý muốn của chính mình được? Họ sẽ không thể, và họ càng không thể chống lại xác thịt. Vì vậy, khi không hiểu lẽ thật, ngươi có thể dễ dàng lầm tưởng những thứ xuất phát từ ý muốn của chính mình, những thứ phù hợp với quan niệm của con người, lòng tốt, tình yêu, sự chịu đựng và trả giá của người ta là đúng đắn và phù hợp với lẽ thật. Vậy thì làm sao ngươi có thể chống lại những thứ này của con người được? Ngươi không hiểu lẽ thật, và ngươi không biết thực hành lẽ thật nghĩa là gì. Ngươi hoàn toàn tối tăm và không thể biết phải làm gì, vì vậy ngươi chỉ có thể làm những gì mình cho là tốt, và kết quả là hành động của ngươi bị lệch lạc. Một số trong số đó là vì tuân theo các quy định, một số là vì nhiệt tình, và một số là vì bị Sa-tan gây nhiễu loạn. Những người không hiểu lẽ thật là như vậy. Họ rất thất thường khi làm mọi việc, và luôn lệch lạc, không có chút chính xác nào. Những người không hiểu lẽ thật nhìn mọi thứ một cách vô lý, y như người ngoại đạo. Làm sao họ có thể thực hành lẽ thật được? Làm sao họ có thể giải quyết vấn đề được? Hiểu được lẽ thật không phải là một vấn đề đơn giản. Bất kể tố chất của một người cao hay thấp, thậm chí sau cả một đời trải nghiệm, lượng lẽ thật họ có thể hiểu được là có hạn, và lượng lời Đức Chúa Trời họ có thể hiểu được cũng có hạn. Những người tương đối nhiều trải nghiệm hơn là những người hiểu một số lẽ thật, và cùng lắm thì họ có thể ngừng làm những việc chống đối Đức Chúa Trời và ngừng làm những việc rõ ràng là điều ác. Họ không thể hành động mà không pha tạp những ý đồ riêng của mình. Bởi vì con người có tư duy bình thường và suy nghĩ của họ có thể không phải lúc nào cũng phù hợp với lời Đức Chúa Trời, nên không thể tránh khỏi sự pha tạp từ ý muốn riêng. Điều quan trọng là phải có sự phân định về tất cả những điều đến từ ý muốn riêng của một người và đi ngược lại lời Đức Chúa Trời, lẽ thật cũng như sự khai sáng của Đức Thánh Linh. Điều này đòi hỏi ngươi phải nỗ lực để hiểu lời Đức Chúa Trời; chỉ khi ngươi hiểu lẽ thật thì ngươi mới có sự phân định, và chỉ khi đó ngươi mới có thể đảm bảo mình sẽ không làm điều ác.

– Chỉ có mưu cầu lẽ thật mới đạt được sự thay đổi trong tâm tính, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày  Trích đoạn 558

Để biết chính mình, ngươi phải biết những sự bộc lộ bại hoại của bản thân, tâm tính bại hoại, những điểm yếu cốt tử, cùng thực chất bản tính của ngươi. Ngươi cũng phải biết, đến tận từng chi tiết một, những điều được bộc lộ trong cuộc sống hàng ngày của ngươi – động cơ của ngươi, quan điểm của ngươi, và thái độ của ngươi về từng thứ một – dù ngươi đang ở nhà hay ra ngoài, khi ngươi đang nhóm họp, khi ngươi đang ăn uống lời Đức Chúa Trời, hoặc trong mỗi một vấn đề ngươi gặp phải. Thông qua những khía cạnh này, ngươi phải đi đến hiểu biết về chính mình. Dĩ nhiên, để biết chính mình ở mức độ sâu hơn, ngươi phải kết hợp với lời Đức Chúa Trời; chỉ bằng cách biết chính mình dựa trên lời Ngài, ngươi mới có thể đạt được kết quả. Khi tiếp nhận sự phán xét của lời Đức Chúa Trời, đừng sợ phải chịu khổ hay đau đớn, và hơn thế nữa, đừng sợ lời Đức Chúa Trời xuyên thấu tâm can các ngươi và vạch trần tình trạng xấu xí của các ngươi. Sẽ có lợi khi chịu đựng những điều này. Nếu ngươi tin Đức Chúa Trời, ngươi nên đọc nhiều hơn nữa những lời Đức Chúa Trời phán xét và hình phạt con người, đặc biệt là những lời vạch rõ thực chất của sự bại hoại của loài người. Ngươi nên so sánh chúng với tình trạng thực tế của mình nhiều hơn, và ngươi nên liên hệ chúng với chính mình nhiều hơn và cho người khác ít hơn. Các loại trạng thái mà Đức Chúa Trời vạch rõ tồn tại trong mỗi người, và tất cả chúng đều có thể được tìm thấy nơi ngươi. Nếu ngươi không tin điều này, hãy thử trải nghiệm. Càng trải nghiệm, ngươi sẽ càng hiểu về bản thân mình, và ngươi sẽ càng cảm thấy rằng lời Đức Chúa Trời là rất chính xác. Sau khi đọc lời Đức Chúa Trời, một số người không có khả năng liên hệ chúng với bản thân mình; họ nghĩ rằng có những phần trong những lời này không phải về họ, mà là về những người khác. Ví dụ như, khi Đức Chúa Trời vạch trần con người là dâm phụ và đĩ điếm, thì một số chị em cảm thấy rằng vì họ đã hết mực chung thủy với chồng, nên những lời đó không phải ám chỉ họ; một số chị em cảm thấy rằng vì họ chưa lập gia đình và chưa từng quan hệ tình dục, nên những lời như thế cũng không phải là về họ. Một số anh em cảm thấy rằng những lời này chỉ nhằm vào phụ nữ, và không liên quan gì đến họ; một số người cho rằng những lời vạch rõ con ngườicủa Đức Chúa Trời quá gay gắt, rằng chúng không phù hợp với thực tế, do đó họ không chịu tiếp nhận chúng. Thậm chí có những người nói rằng trong một số trường hợp, lời Đức Chúa Trời không chính xác. Đây có phải là thái độ đúng đắn đối với lời Đức Chúa Trời không? Rõ ràng là sai. Mọi người đều xem xét bản thân dựa trên những hành vi bên ngoài của họ. Họ không có khả năng suy ngẫm về bản thân, và trở nên biết thực chất bại hoại của họ, giữa những lời của Đức Chúa Trời. Ở đây, “dâm phụ” và “đĩ điếm” ám chỉ thực chất của sự bại hoại, bẩn tưởi, và gian dâm của nhân loại. Dù là đàn ông hay phụ nữ, đã kết hôn hay chưa kết hôn, thì mọi người đều có những ý nghĩ bại hoại gian dâm – vậy làm sao nó có thể không liên quan gì đến ngươi chứ? Lời Đức Chúa Trời vạch trần những tâm tính bại hoại của con người; dù là nam hay nữ, thì mức độ bại hoại của con người cũng như nhau. Chẳng phải đây là một thực tế sao? Trước hết, chúng ta phải nhận ra rằng mọi điều Đức Chúa Trời phán đều là lẽ thật, và phù hợp với sự thật, và rằng bất kể những lời phán xét và vạch trần con người của Ngài gay gắt đến mức nào, hay những lời thông công lẽ thật hay khuyên nhủ con người của Ngài nhẹ nhàng đến mức nào, dù những lời này là sự phán xét hay phước lành, dù chúng là sự kết án hay rủa sả, dù chúng cho con người cảm giác cay đắng hay ngọt ngào, người ta cũng phải tiếp nhận tất cả. Đó là thái độ mà con người nên có đối với những lời của Đức Chúa Trời. Đây là loại thái độ gì? Nó là thái độ sùng đạo, thái độ thành kính, thái độ kiên nhẫn, hay thái độ đón nhận đau khổ? Các ngươi có phần bối rối. Ta nói với các ngươi rằng đó không phải là thái độ nào trong số này. Trong đức tin của mình, người ta phải khẳng định chắc chắn rằng lời Đức Chúa Trời là lẽ thật. Bởi vì chúng thật sự là lẽ thật, con người phải tiếp nhận chúng dựa trên lý trí. Dù họ có thể nhận thức hay thừa nhận điều đó hay không, thì thái độ đầu tiên của họ đối với lời Đức Chúa Trời cũng nên là thái độ tuyệt đối tiếp nhận. Nếu lời Đức Chúa Trời không vạch rõ ngươi hoặc tất cả các ngươi thì vạch rõ ai? Và nếu nó không phải để vạch rõ ngươi thì tại sao ngươi lại được yêu cầu tiếp nhận nó? Chẳng phải điều này là một sự mâu thuẫn sao? Đức Chúa Trời phán với toàn thể nhân loại, mỗi câu Đức Chúa Trời phán ra đều vạch rõ loài người bại hoại, và không ai được miễn trừ – điều này đương nhiên cũng bao gồm cả ngươi. Không một câu nào trong những lời phán của Đức Chúa Trời nói về hiện tượng bên ngoài, hay một dạng trạng thái, càng không nói về quy định bên ngoài hay một dạng hành vi đơn giản trong con người. Chúng không phải như vậy. Nếu ngươi nghĩ mỗi câu do Đức Chúa Trời phán ra chỉ vạch rõ một loại hành vi đơn giản của con người hoặc hiện tượng bên ngoài, thì ngươi không có sự hiểu biết thuộc linh và ngươi không hiểu lẽ thật là gì. Lời Đức Chúa Trời là lẽ thật. Con người có thể cảm nhận được sự sâu sắc trong lời Đức Chúa Trời. Chúng sâu sắc như thế nào? Mọi lời của Đức Chúa Trời đều vạch rõ những tâm tính bại hoại của con người và những điều thuộc về bản chất và ăn sâu trong sự sống của họ. Chúng là những điều thuộc về thực chất, không phải hiện tượng bên ngoài, và nhất là không phải là những hành vi bên ngoài. Nhìn mọi người từ dáng vẻ bên ngoài của họ thì có thể tất cả họ đều là người tốt. Nhưng vậy thì tại sao Đức Chúa Trời lại nói rằng một số người là tà linh và một số là ma quỷ ô uế? Đây là một vấn đề mà ngươi không thể nhìn thấy được. Vì thế, người ta không được phép đối đãi với lời Đức Chúa Trời theo quan niệm hay sự tưởng tượng của con người, hay theo lời đồn đại của con người, và chắc chắn không được theo những tuyên bố của đảng cầm quyền. Chỉ những lời Đức Chúa Trời mới là lẽ thật; lời nói của con người tất thảy đều là giả dối. Sau khi được thông công như thế này, thái độ của các ngươi đối với lời của Đức Chúa Trời có phải đã có chút thay đổi rồi không? Cho dù sự thay đổi lớn hay nhỏ, thì lần sau khi đọc những lời phán xét và vạch rõ con người của Đức Chúa Trời, ít nhất các ngươi không nên cố gắng lý sự với Đức Chúa Trời. Ngươi nên thôi than oán về Đức Chúa Trời, nói rằng: “Những lời vạch rõ và phán xét con người của Đức Chúa Trời thật sự gay gắt; Tôi sẽ không đọc trang này. Tôi sẽ bỏ qua nó. Hãy để tôi kiếm gì đó về các phước lành và lời hứa để đọc, hầu tìm được chút an ủi trong lòng”. Ngươi không nên đọc lời Đức Chúa Trời bằng cách cân nhắc kén chọn theo những khuynh hướng của riêng ngươi nữa. Ngươi phải tiếp nhận lẽ thật, sự phán xét và hình phạt của lời Đức Chúa Trời; chỉ khi đó tâm tính bại hoại của ngươi mới có thể được làm tinh sạch, chỉ khi đó ngươi mới có thể đạt được sự cứu rỗi.

– Tầm quan trọng của việc mưu cầu lẽ thật và con đường mưu cầu lẽ thật, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày  Trích đoạn 559

Ngươi hiểu bản tính con người như thế nào? Hiểu bản tính thực ra có nghĩa là mổ xẻ những điều sâu thẳm trong tâm hồn ngươi – những gì trong sự sống của ngươi, và mọi lô-gic cũng như triết lý của Sa-tan mà ngươi đang sống theo – tức là sự sống Sa-tan mà ngươi đang sống theo. Chỉ bằng cách đào bới những điều trong sâu thẳm trong tâm hồn ngươi thì ngươi mới có thể hiểu được bản tính của mình. Làm thế nào để có thể đào bới những điều này? Chúng không thể được đào bới hoặc mổ xẻ chỉ bởi một hoặc hai vấn đề. Nhiều lần, sau khi ngươi hoàn thành việc gì đó, ngươi vẫn chưa hiểu được. Có thể mất ba hoặc năm năm, ngươi mới có thể nhận thức hoặc hiểu được thậm chí chỉ một chút. Do đó, trong nhiều tình huống, ngươi phải tự phản tỉnh và bắt đầu nhận biết về bản thân mình. Ngươi phải đào sâu và mổ xẻ bản thân mình phù hợp với lời Đức Chúa Trời thì mới thấy được kết quả. Khi sự hiểu biết của ngươi về lẽ thật ngày càng sâu sắc, ngươi sẽ dần dần biết được thực chất bản tính của chính mình thông qua việc tự phản tỉnh và nhận biết về bản thân.

Để biết được bản tính của mình, ngươi phải hiểu được nó thông qua một vài điều. Trước tiên, ngươi phải có một sự hiểu biết rõ ràng về những gì ngươi thích. Điều này không đề cập đến những gì ngươi muốn ăn hoặc mặc, mà đúng hơn, nó có nghĩa là những thứ ngươi thích, những thứ ngươi ghen tị, những thứ ngươi tôn thờ, những thứ ngươi tìm kiếm và những thứ ngươi chú ý đến trong lòng mình, những kiểu người mà ngươi thích tiếp xúc, và các kiểu người mà ngươi ngưỡng mộ và thần tượng trong lòng. Ví dụ, hầu hết mọi người thích những người cao quý, những người lịch lãm trong lời ăn tiếng nói và cách cư xử, hoặc thích những ai nói những lời tâng bốc hùng hồn hoặc những kẻ giỏi vờ vịt. Những điều nói ở trên là về những kiểu người mà họ muốn tiếp xúc. Còn đối với những điều mọi người thích, những điều này bao gồm sự sẵn lòng làm một số việc nào đó dễ làm, thích làm những việc mà người khác nghĩ là tốt và điều đó sẽ khiến mọi người tán dương và khen ngợi. Trong bản tính con người, có một đặc điểm chung trong những thứ họ thích. Đó là, họ thích những người, sự vật và sự việc mà người khác phải thèm muốn vì vẻ bề ngoài, họ thích những người, sự vật và sự việc trông rất đẹp đẽ và sang trọng, và họ thích những người, sự vật và sự việc khiến người khác tôn sùng. Những thứ mà mọi người yêu thích này thì tuyệt hảo, rực rỡ, lộng lẫy và cao sang. Hết thảy mọi người đều tôn sùng những điều này. Có thể thấy rằng người ta không sở hữu bất kỳ lẽ thật nào, và họ cũng không có hình tượng giống con người đích thực. Việc tôn sùng những điều này không có chút ý nghĩa nào, vậy mà mọi người vẫn thích chúng. Những điều này, điều mà mọi người thích, có vẻ đặc biệt tốt cho những ai không tin vào Đức Chúa Trời, và chúng đều là những thứ con người đặc biệt sẵn lòng theo đuổi. … Những thứ mà con người theo đuổi và khao khát thuộc về xu hướng thế gian, những thứ này là của Sa-tan và ma quỷ, chúng bị Đức Chúa Trời khinh ghét, và không có bất kỳ lẽ thật nào. Những thứ mà con người đang có xu hướng khao khát khiến cho thực chất bản tính của họ bị phát hiện. Sở thích của mọi người có thể nhìn thấy được từ cách họ ăn mặc. Một số người sẵn sàng mặc quần áo gây chú ý, sặc sỡ hoặc những trang phục kỳ quái. Họ sẵn lòng đeo những phụ kiện chưa ai từng đeo trước đây, và họ thích những thứ có thể thu hút người khác phái. Việc họ mặc những quần áo và phụ kiện này cho thấy sở thích của họ dành cho những thứ này trong sự sống và sâu thẳm trong lòng họ. Những thứ họ thích không đàng hoàng hay đứng đắn. Chúng không phải là những thứ mà một người bình thường nên theo đuổi. Trong việc họ yêu thích chúng, có sự bất chính. Quan điểm của họ giống y như quan điểm của con người trần tục. Không thể thấy được chút nào của điều này là gắn kết với lẽ thật cả. Do đó, những gì ngươi thích, những gì ngươi chú trọng, những gì ngươi thờ phượng, những gì ngươi thèm muốn, và những gì ngươi nghĩ đến trong lòng mình mỗi ngày đều đại diện cho bản tính của ngươi. Xu hướng của ngươi đối với những thứ phàm tục này đủ để chứng minh rằng bản tính của ngươi là thích sự bất chính, và trong những tình huống nghiêm trọng, bản tính của ngươi tà ác và vô phương cứu chữa. Ngươi nên mổ xẻ bản tính mình theo cách này. Xem xét mình thích gì và từ bỏ gì trong cuộc sống. Ngươi có thể tốt với ai đó trong một thời gian, nhưng điều này không chứng tỏ rằng ngươi thích họ. Điều ngươi thật sự thích chính là điều trong bản tính của ngươi; kể cả có bị đánh gãy xương đi nữa ngươi vẫn sẽ vui thích và không bao giờ từ bỏ nó. Điều này không dễ thay đổi. Hãy lấy việc tìm kiếm một người bạn đời làm ví dụ, người ta tìm kiếm người cùng loại với mình. Nếu một người phụ nữ thực sự yêu một ai đó, thì sẽ không ai có thể ngăn cản cô ấy. Thậm chí nếu có bị đánh gãy chân đi nữa thì cô vẫn muốn ở bên anh ta; cô vẫn sẽ muốn kết hôn với anh ta ngay cả khi điều đó có nghĩa là cô phải chết. Làm sao có thể như vậy được? Đó là vì không ai có thể thay đổi được những gì sâu thẳm bên trong xương tủy con người, sâu thẳm bên trong lòng họ. Ngay cả khi một người đã chết, linh hồn của họ vẫn sẽ thích những điều tương tự; đây là những điều thuộc bản tính con người và chúng đại diện cho bản chất của một người. Những thứ mà con người yêu thích chứa đựng sự bất chính nào đó. Một số cho thấy rõ là họ thích những thứ đó, trong khi một số thì không; một số rất thích chúng, trong khi những người khác thì không; một số người có khả năng tự chủ, trong khi những người khác không thể kiểm soát bản thân. Một số người có thể chìm sâu vào những điều đen tối và tà ác, điều này chứng tỏ rằng họ không sở hữu sự sống. Một số người có thể vượt qua những cám dỗ của xác thịt và không bị những thứ đó chiếm giữ hay kìm hãm, điều đó chứng tỏ rằng họ có chút vóc giạc và tâm tính của họ đã được biến chuyển đôi chút. Một số người hiểu một số lẽ thật và cảm thấy rằng họ có sự sống và rằng họ yêu kính Đức Chúa Trời, nhưng thực ra, điều đó vẫn còn quá sớm và việc trải qua sự biến đổi tâm tính của một người là vấn đề không đơn giản. Thực chất bản tính của một người có dễ hiểu không? Ngay cả khi ai đó hiểu một chút, họ cũng phải trải qua nhiều lần xoay vần mới đạt được sự hiểu biết đó, và ngay cả khi có một chút hiểu biết thì thay đổi cũng không phải chuyện dễ. Đây là tất cả những khó khăn mà con người phải đối mặt, và con người không thể biết mình nếu không có ý chí theo đuổi lẽ thật. Bất kể mọi người, các sự vật hoặc sự việc xung quanh ngươi có thể thay đổi như thế nào và bất kể thế giới có thể bị đảo lộn ra sao, nếu lẽ thật đang hướng dẫn ngươi từ bên trong, nếu lẽ thật đã bén rễ trong ngươi và lời Đức Chúa Trời dẫn dắt cuộc sống, sở thích, trải nghiệm và sự tồn tại của ngươi, thì tại thời điểm đó ngươi đã thực sự được biến đổi rồi. Hiện tại, cái gọi là sự biến đổi của con người chẳng qua là hợp tác một chút, có thể miễn cưỡng tiếp nhận việc bị tỉa sửa và xử lý, tích cực thực hiện bổn phận của mình, có chút nhiệt tình và đức tin, nhưng đây không thể được coi là sự biến đổi tâm tính và cũng không chứng tỏ rằng con người có sự sống. Đây chỉ là sở thích và khuynh hướng của con người – không gì hơn thế.

Để đạt được sự hiểu biết về bản tính, ngoài việc khám phá những điều mà con người thích trong bản tính của họ, một số khía cạnh quan trọng nhất gắn liền với bản tính của họ cũng cần được khám phá. Ví dụ, những quan điểm của con người về các sự việc, những phương pháp và mục tiêu của con người trong cuộc sống, những giá trị sống và cách nhìn cuộc sống của con người, cũng như những quan điểm và ý tưởng về mọi việc liên quan đến lẽ thật. Đây đều là những điều sâu thẳm trong tâm hồn con người và chúng có mối quan hệ trực tiếp với sự cải hóa tâm tính. Vậy thì, cách nhìn cuộc sống của nhân loại bại hoại là gì? Có thể nói như thế này: “Người không vì mình, trời tru đất diệt”. Mọi người đều sống cho bản thân mình; nói trắng ra, họ đang sống vì xác thịt. Họ đang sống chỉ để đưa thức ăn vào miệng mình. Sự tồn tại này thì khác với sự tồn tại của loài động vật như thế nào? Sống như thế này chẳng có giá trị gì chứ đừng nói đến ý nghĩa. Cách nhìn cuộc sống của một người liên quan đến những gì ngươi dựa vào để sống trên thế gian, ngươi sống vì điều gì và ngươi sống như thế nào – và đây là hết thảy những điều liên quan đến thực chất của bản tính con người. Thông qua việc mổ xẻ bản tính của con người, ngươi sẽ thấy rằng hết thảy mọi người đều chống đối Đức Chúa Trời. Họ đều là những con quỷ và không có người nào tốt thực sự. Chỉ bằng cách mổ xẻ bản tính của con người, ngươi mới có thể thực sự biết được sự bại hoại và thực chất của con người cũng như hiểu được con người thực sự thuộc về thứ gì, con người thực sự thiếu gì, họ nên được trang bị những gì và họ nên sống thể hiện ra một hình tượng giống con người như thế nào. Việc thực sự mổ xẻ bản tính của một người là điều không dễ dàng và không thể được thực hiện mà không trải nghiệm lời Đức Chúa Trời hoặc có những sự trải nghiệm thật.

– Những điều cần biết về việc biến đổi tâm tính, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày  Trích đoạn 560

Làm thế nào để biết bản tính của một người? Điều gì tạo nên bản tính của một người? Ngươi chỉ biết về những thiếu sót, khiếm khuyết, ý định, quan niệm, sự tiêu cực và sự phản nghịch của con người, nhưng ngươi không thể khám phá những điều bên trong bản tính con người. Ngươi chỉ biết lớp bên ngoài, mà không thể khám phá nguồn gốc của nó, và đây không phải là hiểu biết về bản tính con người. Một số người thừa nhận những khiếm khuyết cùng những sự tiêu cực của họ, nói rằng: “Tôi hiểu bản tính của mình. Thấy chưa, tôi thừa nhận sự kiêu ngạo của mình. Chẳng phải đó là nhận biết bản tính của mình sao?”. Sự kiêu ngạo là một phần của bản tính con người, bấy nhiêu đó là chắc chắn đúng. Tuy nhiên, chỉ thừa nhận điều này theo nghĩa giáo lý thôi thì chưa đủ. Biết bản tính của một người có nghĩa là gì? Nó có thể được biết đến như thế nào? Nó được biết đến từ khía cạnh nào? Bản tính con người nên được nhìn nhận một cách cụ thể như thế nào thông qua những điều mà con người tỏ lộ? Trước hết, ngươi có thể thấy bản tính của một người thông qua sở thích của họ. Ví dụ, một số người có sự sùng bái đối với những người nổi tiếng và lỗi lạc, một số đặc biệt yêu thích ca sĩ hoặc ngôi sao điện ảnh, và một số có sự mê thích đặc biệt đối với việc chơi trò chơi điện tử. Từ những sở thích này, chúng ta có thể thấy bản tính của những người này là gì. Đây là một ví dụ đơn giản: Một số người thực sự có thể thần tượng một ca sĩ nào đó. Họ thần tượng những người đó đến mức nào? Đến mức họ bị ám ảnh bởi từng động thái, nụ cười, và lời nói của người ca sĩ này. Họ mải mê người ca sĩ này, thậm chí còn chụp ảnh mọi thứ người ấy mặc, và rồi họ bắt chước theo. Mức độ thần tượng hóa một người này cho thấy vấn đề gì? Nó cho thấy rằng một người như thế chỉ có những điều ngoại đạo đó trong lòng họ, và họ không có lẽ thật, không có những điều tích cực, càng không có Đức Chúa Trời trong lòng. Tất cả những điều mà người này nghĩ đến, yêu thích và theo đuổi đều thuộc về Sa-tan. Những điều này chiếm giữ lòng người này, và lòng họ đã hoàn toàn giao nộp cho những thứ đó. Các ngươi có thể nói thực chất bản tính của họ là gì không? Nếu một thứ gì đó được yêu đến cực độ, thì thứ đó có thể trở thành sự sống của họ và chiếm giữ trái tim họ, hoàn toàn chứng minh rằng người đó là một người tôn thờ thần tượng, không muốn Đức Chúa Trời mà thay vào đó đi yêu ma quỷ. Do đó, có thể kết luận rằng bản tính của một người như thế là một bản tính yêu và tôn thờ ma quỷ, không yêu lẽ thật và không muốn Đức Chúa Trời. Đây chẳng phải là một cách đúng đắn để nhìn nhận bản tính của ai đó sao? Hoàn toàn đúng. Đây là cách bản tính con người nên được mổ xẻ. Ví dụ, một số người đặc biệt tôn sùng Phao-lô. Họ thích ra ngoài, diễn thuyết và làm việc, họ thích tham dự các buổi tụ họp và rao giảng, và họ thích được mọi người lắng nghe họ, tôn thờ họ, và xoay quanh họ. Họ thích có một vị trí trong lòng người khác, và họ đánh giá cao việc người khác coi trọng hình ảnh mà họ thể hiện. Hãy cùng mổ xẻ bản tính của họ từ những hành vi này. Bản tính của họ là gì? Nếu họ thực sự cư xử như vậy, thì cũng đủ cho thấy họ kiêu ngạo và tự phụ. Họ không thờ phụng Đức Chúa Trời chút nào; họ mưu cầu địa vị cao hơn và mong muốn có quyền lực trên người khác, chiếm hữu họ, và có một vị trí trong lòng họ. Đây là hình ảnh điển hình của Sa-tan. Các khía cạnh nổi bật trong bản tính của họ là sự kiêu ngạo và tự phụ, không sẵn lòng thờ phụng Đức Chúa Trời, và tham muốn được người khác tôn thờ. Những hành vi như vậy có thể cho ngươi một cái nhìn rất rõ ràng về bản tính của họ. Ví dụ, một số người thật sự thích chiếm lợi của người khác môt cách bất công, và những người này cố gắng đạt được lợi ích trong mọi sự. Bất cứ việc gì họ làm cũng phải có lợi cho họ, nếu không thì họ sẽ không làm. Họ không bận tâm bất kỳ thứ gì trừ khi nó cho họ lợi thế nào đó, và luôn có những động cơ ngầm đằng sau những hành động của họ. Họ nói tốt về bất kỳ ai làm lợi cho họ, và họ đề bạt bất kỳ ai tâng bốc họ. Ngay cả khi những người mà họ yêu thích có vấn đề, họ cũng sẽ nói những người đó đúng và cố gắng cật lực để bảo vệ và bao che cho họ. Những người đó có bản tính gì? Ngươi có thể hoàn toàn thấy rõ bản tính của họ từ những hành vi của họ. Họ cố gắng chiếm lợi bất công thông qua những hành động của họ, liên tục tham gia vào hành vi đổi chác trong mọi tình huống, và ngươi có thể chắc chắn rằng bản tính của họ là bản tính hết lòng thèm muốn lợi lộc. Họ vì bản thân trong mọi việc mình làm. Họ sẽ không thức dậy sớm trừ khi làm như vậy có lợi cho họ. Họ là những người ích kỷ nhất, và họ hoàn toàn vô độ. Bản tính của họ được minh họa thông qua tình yêu của họ đối với lợi lộc và sự thiếu vắng bất kỳ tình yêu nào dành cho lẽ thật. Một số người nam bị phụ nữ quyến rũ, luôn bỡn cợt với họ bất cứ nơi nào họ đi. Những người phụ nữ đẹp thì như thú cưng trong lòng những người như thế và có được sự quý trọng cao nhất trong lòng họ. Họ sẵn lòng trao cuộc đời mình và hy sinh mọi thứ cho những phụ nữ đẹp; phụ nữ chiếm ngự lòng họ. Bản tính của những người đàn ông này là gì? Bản tính của họ là yêu phụ nữ đẹp và tôn sùng họ cũng như yêu sự tà ác. Họ là những kẻ dâm đãng với bản tính tà ác, tham lam. Tại sao Ta nói đây là bản tính của họ? Những hành động của họ phơi bày một bản tính tham lam. Những hành vi của họ không đơn thuần là những vi phạm thỉnh thoảng, những người đó cũng không phải là chỉ tệ hơn một chút so với những người bình thường, thay vào đó, họ dần dà đã bị những thứ này chế ngự hoàn toàn và đã trở thành bản tính và bản chất của họ. Do đó, những điều này đã trở thành những sự bộc lộ của bản tính họ. Các thành phần trong bản tính của một người không ngừng tỏ lộ chính chúng. Bất cứ điều gì một người làm, bất kể đó là gì, đều có thể tiết lộ bản tính của người đó. Mọi người có động cơ và mục đích riêng cho mọi việc họ làm, và cho dù đó là tiếp đãi khách, giảng Phúc Âm hay bất kỳ loại công việc nào khác, họ có thể tỏ lộ những phần bản tính của mình mà không hề hay biết, bởi vì bản tính của một người là sự sống của họ, và mọi người được điều khiển bởi bản tính của họ trong suốt thời gian họ sống. Bản tính của một người không được tỏ lộ ngẫu nhiên hay tình cờ; đúng hơn, nó hoàn toàn có thể đại diện cho bản chất của con người. Tất cả mọi thứ chảy ra từ trong xương máu của con người đại diện cho bản tính và sự sống của họ. Một số người yêu phụ nữ đẹp. Những người khác thì yêu tiền. Một số thì có tình yêu đặc biệt đối với địa vị. Một số đặc biệt coi trọng danh tiếng và hình ảnh cá nhân của họ. Một số thì đặc biệt yêu thích hoặc tôn thờ thần tượng. Và một số người đặc biệt kiêu ngạo và tự phụ, không chịu khuất phục ai trong lòng và phấn đấu vì địa vị, họ thích nổi bật so với những người khác và có quyền lực đối với họ. Có rất nhiều bản tính khác nhau. Chúng có thể khác nhau tùy người, nhưng các yếu tố chung của chúng là chống đối và phản bội Đức Chúa Trời. Theo cách đó, tất cả chúng đều giống hệt nhau.

– Làm thế nào để biết bản tính con người, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày  Trích đoạn 561

Toàn thể nhân loại đã bị làm cho bại hoại bởi Sa-tan, và bản tính của con người là phản bội Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, trong số hết thảy những người đã bị bại hoại bởi Sa-tan, có một số người có thể thuận phục công tác của Đức Chúa Trời và chấp nhận lẽ thật. Đây là những người có thể có được lẽ thật và đạt được một sự chuyển hóa về tâm tính. Một số người không mưu cầu lẽ thật, và thay vào đó cứ gió chiều nào theo chiều ấy. Họ nghe lời và làm bất cứ điều gì ngươi bảo họ làm, họ có thể từ bỏ nhiều thứ và dâng mình, và họ có thể chịu đựng bất kỳ sự đau khổ nào. Những người như vậy có một chút lương tâm và lý trí, và họ có hi vọng được cứu rỗi và sống sót, nhưng tâm tính của họ thì không thể thay đổi bởi vì họ không theo đuổi lẽ thật và họ chỉ hài lòng với việc hiểu đạo lý. Họ không nói hay làm những điều trái với lương tâm, họ có thể chân thành thực hiện bổn phận của mình, và họ có thể tiếp nhận sự thông công về lẽ thật liên quan đến bất kỳ vấn đề nào. Tuy nhiên, họ không nghiêm túc đối với lẽ thật, tâm trí họ rối bời, và họ không bao giờ có thể hiểu được thực chất của lẽ thật. Tâm tính họ không thể thay đổi được. Nếu ngươi muốn được làm tinh sạch sự bại hoại và trải qua một sự thay đổi trong tâm tính sống của ngươi, thì ngươi phải có một tình yêu cho lẽ thật và khả năng chấp nhận lẽ thật. Chấp nhận lẽ thật có nghĩa là gì? Chấp nhận lẽ thật có nghĩa là cho dù ngươi có loại tâm tính bại hoại nào, hay những chất độc nào của con rồng lớn sắc đỏ – những chất độc của Sa-tan – có trong bản tính của ngươi, thì khi lời Đức Chúa Trời tỏ lộ những điều này, ngươi nên thừa nhận chúng và thuận phục, ngươi không thể có lựa chọn khác, và ngươi nên biết bản thân mình theo lời của Đức Chúa Trời. Điều này có nghĩa là có thể tiếp nhận lời Đức Chúa Trời và tiếp nhận lẽ thật. Bất kể Đức Chúa Trời phán gì, bất kể những lời phán của Ngài gay gắt như thế nào, và bất kể Ngài dùng những lời nào, thì ngươi cũng có thể chấp nhận chúng miễn là những gì Ngài phán là lẽ thật, và ngươi có thể thừa nhận chúng miễn là chúng phù hợp với chân tướng sự thật. Ngươi có thể thuận phục lời Đức Chúa Trời bất kể ngươi hiểu chúng sâu sắc như thế nào, và ngươi tiếp nhận và thuận phục sự sáng từ sự khai sáng của Đức Thánh Linh được các anh chị em thông công. Khi người như thế đã mưu cầu lẽ thật đến một điểm nhất định, thì họ có thể có được lẽ thật và đạt được sự chuyển biến trong tâm tính của họ. Ngay cả khi những người không yêu lẽ thật có chút nhân tính, có thể làm một số việc tốt, có thể từ bỏ và dâng mình cho Đức Chúa Trời, thì họ cũng mơ hồ về lẽ thật và không nghiêm túc với nó, do đó tâm tính sự sống của họ không bao giờ thay đổi. Ngươi có thể thấy Phi-e-rơ cũng có nhân tính tương tự như các môn đồ khác, nhưng ông nổi bật trong sự nhiệt thành mưu cầu lẽ thật. Bất kể Jêsus nói gì, ông đều nghiêm túc suy ngẫm. Jêsus hỏi: “Hỡi Si-môn, con Giô-na, ngươi có yêu Ta chăng?”, thì Phi-e-rơ thành thật trả lời: “Tôi chỉ yêu Cha trên trời, mà tôi chưa yêu Chúa trên đất”. Sau đó ông hiểu ra và nghĩ rằng: “Điều này không đúng, Đức Chúa Trời trên đất là Đức Chúa Trời trên trời. Chẳng phải Đức Chúa Trời trên trời lẫn trên đất là một sao? Nếu tôi chỉ yêu Đức Chúa Trời trên trời, thì tình yêu của tôi là không thực tế. Tôi phải yêu Đức Chúa Trời trên đất, chỉ khi đó tình yêu của tôi mới thực tế”. Như thế, Phi-e-rơ đã hiểu ra ý nghĩa thực sự của lời Đức Chúa Trời từ những gì Jêsus đã hỏi. Để yêu kính Đức Chúa Trời, và để cho tình yêu này được nên thực tế, thì con người phải yêu kính Đức Chúa Trời nhập thể trên đất. Yêu kính một Đức Chúa Trời mơ hồ và vô hình là không thực tế mà cũng không thiết thực, trong khi yêu kính một Đức Chúa Trời thiết thực và hữu hình là lẽ thật. Từ những lời của Jêsus, Phi-e-rơ đã có được lẽ thật và sự hiểu biết về tâm ý của Đức Chúa Trời. Rõ ràng, niềm tin của Phi-e-rơ nơi Đức Chúa Trời chỉ tập trung vào việc theo đuổi lẽ thật. Cuối cùng, ông cũng đã có được tình yêu đối với Đức Chúa Trời thực tế – Đức Chúa Trời trên đất. Phi-e-rơ đã đặc biệt nghiêm túc trong việc theo đuổi lẽ thật. Mỗi lần Jêsus khuyên bảo ông, ông đều suy ngẫm về những lời của Jêsus một cách sốt sắng. Có lẽ ông đã suy ngẫm trong nhiều tháng, một năm, hoặc thậm chí nhiều năm trước khi Đức Thánh Linh khai sáng cho ông và ông hiểu được thực chất của lời Đức Chúa Trời. Theo cách này, Phi-e-rơ đã bước vào lẽ thật, và khi ông làm như thế, tâm tính sống của ông đã được chuyển hóa và đổi mới. Nếu con người không theo đuổi lẽ thật, thì họ sẽ không bao giờ hiểu được lẽ thật. Ngươi có thể nói về các câu chữ và giáo lý hàng vạn lần, nhưng chúng sẽ vẫn chỉ là các câu chữ và giáo lý mà thôi. Một số người chỉ nói: “Đấng Christ là lẽ thật, đường đi và sự sống”. Ngay cả khi ngươi lặp lại những từ này hàng vạn lần, thì vẫn vô ích; ngươi vẫn không hiểu ý nghĩa của chúng. Tại sao nói rằng Đấng Christ là lẽ thật, đường đi và sự sống? Ngươi có thể diễn đạt rõ những hiểu biết mà ngươi đã đạt được về điều này từ việc trải nghiệm không? Ngươi đã bước vào hiện thực của lẽ thật, đường đi và sự sống chưa? Đức Chúa Trời đã phán những lời của Ngài để các ngươi có thể trải nghiệm chúng và có được sự hiểu biết. Việc chỉ đơn thuần nói những câu chữ và giáo lý là vô ích. Ngươi chỉ có thể biết chính mình một khi ngươi đã hiểu và bước vào trong lời Đức Chúa Trời. Nếu ngươi không hiểu lời Đức Chúa Trời, thì ngươi không thể biết chính mình. Ngươi chỉ có thể có được sự phân định khi ngươi hiểu lẽ thật. Khi không hiểu lẽ thật, ngươi không có khả năng phân định. Ngươi chỉ có thể nhìn rõ những vấn đề khi ngươi hiểu lẽ thật. Khi không hiểu lẽ thật, ngươi không thể nhìn rõ vấn đề. Ngươi chỉ có thể biết chính mình khi ngươi hiểu lẽ thật. Khi không hiểu lẽ thật, ngươi không thể biết chính mình. Tâm tính của ngươi chỉ có thể thay đổi khi ngươi đã đạt được lẽ thật. Không có lẽ thật, tâm tính của ngươi không thể thay đổi. Chỉ sau khi ngươi đã đạt được lẽ thật, ngươi mới có thể phục vụ theo tâm ý của Đức Chúa Trời. Khi không đạt được lẽ thật, ngươi không thể phục vụ theo tâm ý của Đức Chúa Trời. Chỉ sau khi ngươi đã đạt được lẽ thật, ngươi mới có thể thờ phượng Đức Chúa Trời. Nếu không hiểu lẽ thật, ngay cả khi ngươi thờ phượng Ngài, thì sự thờ phượng của ngươi cũng không hơn gì một sự thực hiện các nghi lễ tôn giáo. Khi không có lẽ thật thì không điều gì ngươi làm là thực tế. Bằng cách đạt được lẽ thật thì mọi điều ngươi làm đều là thực tế. Hết thảy những điều này phụ thuộc vào việc có được lẽ thật từ lời Đức Chúa Trời.

– Làm thế nào để biết bản tính con người, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày  Trích đoạn 562

Thực sự hiểu được lời Đức Chúa Trời không phải là vấn đề đơn giản. Đừng nghĩ theo cách này: “Tôi có thể giải thích nghĩa đen của lời Đức Chúa Trời, và mọi người đều nói sự giải thích của tôi hay, và ra hiệu đồng ý với tôi, vì vậy điều này có nghĩa là tôi hiểu lời Đức Chúa Trời”. Điều đó không phải là hiểu lời Đức Chúa Trời. Nếu ngươi đã có được một chút sự sáng từ bên trong những lời phán của Đức Chúa Trời, và ngươi đã hiểu được ý nghĩa thật của lời Ngài, và nếu ngươi có thể bày tỏ ý định đằng sau lời Ngài và cuối cùng những lời đó sẽ đạt được hiệu quả gì – nếu ngươi đã hiểu rõ về tất cả những điều này – ngươi có thể được coi là có một mức độ hiểu biết nào đó về lời Đức Chúa Trời. Do đó, việc hiểu lời Đức Chúa Trời hoàn toàn không đơn giản như thế. Chỉ vì ngươi có thể đưa ra một lời giải thích ba hoa chích chòe về nghĩa đen của lời Đức Chúa Trời không có nghĩa là ngươi hiểu được chúng. Cho dù ngươi có thể giải thích nghĩa đen của chúng đến mức nào, thì lời giải thích của ngươi vẫn dựa trên trí tưởng tượng của con người và lối suy nghĩ của con người. Điều đó thật vô ích! Làm thế nào ngươi có thể hiểu được lời Đức Chúa Trời? Chìa khóa là tìm kiếm lẽ thật từ bên trong những lời đó. Chỉ theo cách này ngươi mới có thể thực sự hiểu lời Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời không bao giờ phán những lời rỗng tuếch. Mỗi câu mà Ngài phán ra đều chứa những chi tiết mà chắc chắn sẽ được vạch rõ thêm trong lời Ngài, và chúng có thể được thể hiện khác nhau. Con người không thể dò lường được những cách mà Đức Chúa Trời bày tỏ lẽ thật. Những lời phán của Đức Chúa Trời rất sâu sắc và với suy nghĩ của con người thì không thể dễ dàng hiểu thấu được. Miễn là mọi người nỗ lực thì họ có thể khám phá ra gần như toàn bộ ý nghĩa trong mọi khía cạnh của lẽ thật. Những chi tiết còn lại sẽ được bổ sung trong trải nghiệm tiếp theo của họ, nhờ sự khai sáng của Đức Thánh Linh. Một mặt là suy ngẫm và hiểu lời Đức Chúa Trời và tìm kiếm nội dung cụ thể của chúng bằng cách đọc chúng. Mặt khác là hiểu được ý nghĩa của lời Đức Chúa Trời bằng cách trải nghiệm những lời đó và có được sự khai sáng từ Đức Thánh Linh. Thông qua sự đào sâu không ngừng trong hai khía cạnh này, ngươi có thể bắt đầu hiểu được lời Đức Chúa Trời. Nếu ngươi giải thích nó ở cấp độ nghĩa đen, câu chữ hoặc từ suy nghĩ và sự tưởng tượng của chính ngươi, thì ngay cả khi ngươi giải thích nó theo kiểu ba hoa chích chòe, ngươi vẫn không thực sự hiểu lẽ thật, và tất cả vẫn dựa trên suy nghĩ, tưởng tượng của con người. Điều đó không phải đạt được từ sự khai sáng của Đức Thánh Linh. Con người rất dễ giải thích lời Đức Chúa Trời dựa trên những quan niệm và tưởng tượng của mình, thậm chí còn có thể diễn dịch sai lời Đức Chúa Trời ra khỏi ngữ cảnh, khiến họ có thể hiểu lầm và phán xét Đức Chúa Trời, điều này thật phiền phức. Do đó, lẽ thật chủ yếu đạt được bằng cách hiểu lời Đức Chúa Trời và được Đức Thánh Linh khai sáng. Có thể hiểu và giải thích nghĩa đen của lời Đức Chúa Trời không có nghĩa là ngươi đã đạt được lẽ thật. Nếu hiểu nghĩa đen của lời Đức Chúa Trời có nghĩa là ngươi đã hiểu lẽ thật, thì ngươi chỉ cần có một chút học vấn và kiến thức, chứ sao lại cần đến sự khai sáng của Đức Thánh Linh? Công tác của Đức Chúa Trời có phải là điều mà trí óc con người có thể hiểu thấu được không? Vì vậy, việc hiểu lẽ thật không dựa trên những quan niệm hay sự tưởng tượng của con người. Ngươi cần sự khai sáng, soi sáng và dẫn dắt của Đức Thánh Linh để có sự hiểu biết trải nghiệm thực sự. Đây là quá trình hiểu và đạt được lẽ thật, đồng thời cũng là điều kiện cần thiết.

– Làm thế nào để biết bản tính con người, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày  Trích đoạn 563

Ngươi hiểu gì về bản tính của con người? Điều quan trọng nhất là phân biệt nó từ góc độ thế giới quan, nhân sinh quan, và những giá trị quan của con người. Những người thuộc về ma quỷ thì đều sống cho bản thân họ. Nhân sinh quan và những câu cách ngôn của họ chủ yếu đến từ những câu nói của Sa-tan, chẳng hạn như “Người không vì mình, trời tru đất diệt”, “Người chết vì của cải, chim chết vì miếng ăn” và những lời ngụy biện khác như thế. Tất cả những lời nói ra bởi các quỷ vương, các vĩ nhân, và các triết gia đã trở thành chính sự sống của họ. Đặc biệt, hầu hết những lời của Khổng Tử, người mà dân Trung Quốc xem như “nhà hiền triết”, đã trở thành sự sống của con người. Cũng có những châm ngôn nổi tiếng của Phật giáo và Đạo giáo, và những câu nói cửa miệng kinh điển của nhiều nhân vật nổi tiếng khác nhau. Tất cả những thứ này đều là những sự đúc kết các triết lý của Sa-tan và bản tính của Sa-tan. Chúng cũng là sự minh họa và giải thích hay nhất về bản tính Sa-tan. Những thứ độc hại này đã bị tiêm nhiễm vào lòng con người đều đến từ Sa-tan, và không có chút gì đến từ Đức Chúa Trời. Những lời tà ma ấy cũng trực tiếp chống đối lại lời Đức Chúa Trời. Tuyệt đối rõ ràng rằng những hiện thực của tất cả những điều tích cực đều đến từ Đức Chúa Trời, và tất cả những thứ tiêu cực đầu độc con người thì đến từ Sa-tan. Vì lẽ ấy, ngươi có thể phân định bản tính của một người và họ thuộc về ai bằng cách xem xét nhân sinh quan và giá trị quan của họ. Sa-tan làm bại hoại con người qua giáo dục, ảnh hưởng của các chính phủ quốc gia và của những người nổi tiếng cùng các vĩ nhân. Những lời tà ma của họ đã trở thành sự sống và bản tính của con người. “Người không vì mình, trời tru đất diệt” là một châm ngôn nổi tiếng của Sa-tan đã thấm nhuần vào trong mọi người, và điều này đã trở thành sự sống của con người. Có những câu triết lý xử thế khác cũng tương tự như thế. Sa-tan sử dụng nền văn hóa truyền thống của từng quốc gia để giáo dục, mê hoặc và làm bại hoại con người, khiến nhân loại rơi vào và bị nhấn chìm dưới vực sâu không đáy của sự hủy diệt, và cuối cùng con người bị Đức Chúa Trời hủy diệt bởi vì họ phục vụ Sa-tan và chống đối Đức Chúa Trời. Một số người đã làm việc công chức trong xã hội hàng chục năm. Nếu hỏi họ: “Anh đã làm quá tốt vai trò này, anh sống theo những câu châm ngôn nổi tiếng nào vậy?”. Họ có thể nói: “Một điều mà tôi hiểu được là thế này: ‘Quan chức không gây khó dễ cho người mang theo quà, và người không biết bợ đỡ thì không làm được gì’”. Đây là triết lý Sa-tan mà sự nghiệp của họ dựa vào. Chẳng phải những lời này đại diện cho bản tính của những người như vậy sao? Việc không ngần ngại sử dụng mọi phương tiện để đạt được địa vị đã trở thành bản tính của họ, nghiệp quan chức và sự thành công trong sự nghiệp là những mục tiêu của họ. Vẫn có nhiều độc tố Sa-tan trong đời sống, hạnh kiểm và hành vi của người ta. Ví dụ, những triết lý xử thế của họ, cách làm việc của họ, và những câu cách ngôn của họ đều đầy những độc tố của con rồng lớn sắc đỏ, và tất cả những điều này đều đến từ Sa-tan. Do đó, mọi thứ chảy trong xương và máu con người đều là của Sa-tan. Tất cả những quan chức ấy, những kẻ nắm quyền lực, và những kẻ thành đạt đều có con đường và những bí mật thành công của riêng họ. Chẳng phải những bí mật ấy đại diện cho bản tính họ một cách hoàn hảo sao? Họ đã làm những điều to tát như thế trên thế gian, và không ai có thể nhìn thấu những âm mưu và mưu đồ đằng sau chúng. Điều này cho thấy bản tính của họ xảo quyệt và hiểm độc như thế nào. Nhân loại đã bị Sa-tan làm cho bại hoại sâu sắc. Nọc độc của Sa-tan chảy trong máu của mỗi người, và có thể nói rằng bản tính con người là bại hoại, tà ác, phản động, đối nghịch với Đức Chúa Trời, đầy dẫy và chìm ngập trong những triết lý và chất độc của Sa-tan. Nó hoàn toàn đã trở thành thực chất bản tính của Sa-tan. Đây là lý do tại sao con người chống đối Đức Chúa Trời và ở trong tình trạng thù địch với Đức Chúa Trời. Con người có thể dễ dàng biết bản thân mình nếu bản tính của họ có thể được mổ xẻ theo cách này.

– Làm thế nào để biết bản tính con người, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày  Trích đoạn 564

Mấu chốt của phản tỉnh và biết mình là thế này: Ngươi càng cảm thấy rằng trong các lĩnh vực nhất định ngươi đã làm tốt hoặc làm đúng, và ngươi càng nghĩ rằng ngươi có thể thỏa mãn tâm ý của Đức Chúa Trời hoặc có thể khoe khoang trong những lĩnh vực nhất định, thì càng đáng để ngươi biết bản thân mình trong những lĩnh vực đó và càng đáng để ngươi đào sâu vào chúng để xem những sự ô uế nào tồn tại trong ngươi, cũng như những điều nào trong ngươi không thể thỏa mãn tâm ý của Đức Chúa Trời. Chúng ta hãy lấy Phao-lô làm ví dụ. Phao-lô là người có văn hóa tri thức đặc biệt cao, đã chịu nhiều đau khổ khi rao giảng và làm công tác. Nhiều người đặc biệt tôn sùng ông. Kết quả là, sau khi hoàn thành nhiều công tác, ông cho rằng sẽ có một mão triều thiên dành riêng cho ông. Điều này khiến ông càng ngày càng đi xa hơn trên con đường sai lầm, cho đến khi cuối cùng ông đã bị Đức Chúa Trời trừng phạt. Nếu tại thời điểm đó, ông phản tỉnh và mổ xẻ bản thân mình, thì ông đã không có suy nghĩ như thế. Nói cách khác, Phao-lô đã không tập trung vào việc tìm kiếm lẽ thật trong lời của Đức Chúa Jêsus; ông chỉ tin vào những quan niệm và trí tưởng tượng của chính mình. Ông đã nghĩ rằng chỉ cần ông làm một vài điều tốt và thể hiện một vài hành vi tốt, thì ông sẽ được Đức Chúa Trời khen ngợi và ban thưởng. Cuối cùng, chính những quan niệm và trí tưởng tượng của ông đã làm đui mù tâm linh của ông và che đậy sự thật về sự bại hoại của ông. Tuy nhiên, con người không thể phân biệt được điều này và không có hiểu biết về những vấn đề này và vì vậy trước khi Đức Chúa Trời vạch rõ việc này họ đã luôn lấy Phao-lô làm chuẩn mực để vươn tới, một tấm gương để sống theo, một thần tượng để họ tìm kiếm và khao khát trở thành. Trường hợp của Phao-lô là một lời cảnh cáo với mỗi một người trong số dân được Đức Chúa Trời chọn. Đặc biệt khi đi theo Đức Chúa Trời chúng ta có thể phải chịu đau khổ và trả giá trong bổn phận và khi phụng sự Đức Chúa Trời, chúng ta thấy rằng mình trung thành và yêu kính Đức Chúa Trời, vào những lúc như thế này, chúng ta nên tự phản tỉnh bản thân và hiểu mình hơn nữa về con đường chúng ta đang đi, đây là điều rất cần thiết. Điều này là do điều ngươi cho là tốt là điều ngươi sẽ mặc định là đúng, và ngươi sẽ không nghi ngờ, phản tỉnh về điều đó, hay mổ xẻ xem có điều gì trong đó chống đối Đức Chúa Trời hay không. Ví dụ, có những người tin rằng bản thân mình là người vô cùng tốt bụng. Họ không bao giờ căm ghét hay làm hại những người khác, và họ luôn giúp đỡ anh chị em nào mà gia đình đang gặp khó khăn, vì sợ rằng vấn đề của những người đó không được giải quyết; họ rất có thiện chí và làm mọi thứ theo sức của mình để giúp đỡ mọi người mà họ có thể giúp. Ấy thế nhưng họ chưa bao giờ chú tâm vào thực hành lẽ thật và họ không có lối vào sự sống. Kết quả của sự giúp đỡ như thế là gì? Họ làm trì hoãn sự sống của mình nhưng khá hài lòng với bản thân và vô cùng thỏa mãn với tất cả những gì họ đã làm. Hơn nữa, họ rất tự hào về điều đó, tin rằng trong tất cả những việc họ đã làm, không có gì trái với lẽ thật và chắc chắn sẽ thỏa mãn tâm ý của Đức Chúa Trời, và rằng họ là những người thực sự tin Đức Chúa Trời. Họ coi lòng tốt tự nhiên của họ như một thứ được dùng để làm vốn liếng, và ngay sau khi họ làm vậy, họ mặc nhiên coi nó là lẽ thật. Thực ra, tất cả những gì họ làm là lòng tốt của con người. Họ không hề thực hành lẽ thật chút nào, vì họ làm điều này trước mặt con người chứ không phải trước Đức Chúa Trời, và họ càng không thực hành theo các yêu cầu của Đức Chúa Trời và lẽ thật. Do đó, mọi hành động của họ đều vô ích. Không có việc nào trong số những việc họ làm là thực hành lẽ thật, và không việc nào họ làm là thực hành lời Đức Chúa Trời, càng không phải là đang tuân theo ý chỉ của Ngài; đúng hơn, họ sử dụng lòng tốt và cư xử tốt của con người để giúp đỡ người khác. Tóm lại, họ không tìm kiếm tâm ý của Đức Chúa Trời trong mọi việc họ làm, và cũng không hành động theo các yêu cầu của Ngài. Đức Chúa Trời không ngợi khen loại hành vi tốt này của con người; đối với Đức Chúa Trời, điều đó đáng bị định tội và không được Ngài ghi nhớ.

– Nhận thức được quan điểm sai lầm của mình thì mới có thể thật sự thay đổi, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày  Trích đoạn 565

Chìa khóa để đạt được sự thay đổi trong tâm tính là phải biết bản tính của con người và điều này phải xảy ra theo những sự vạch rõ từ Đức Chúa Trời. Chỉ trong lời Đức Chúa Trời con người mới có thể biết được bản tính gớm ghiếc của chính mình, nhận ra những độc tố khác nhau của Sa-tan trong bản tính riêng của mình, nhận ra rằng họ ngu ngốc và thiếu hiểu biết, và nhận ra những yếu tố yếu đuối và tiêu cực trong bản tính của họ. Sau khi nhận biết đầy đủ những điều này, và ngươi thực sự có thể ghê tởm chính mình và chống lại xác thịt, kiên trì thực hành lời Đức Chúa Trời, kiên trì mưu cầu lẽ thật trong khi thực hiện bổn phận của mình, đạt được sự thay đổi trong tâm tính của mình, và trở thành một người thực sự yêu kính Đức Chúa Trời, thì ngươi sẽ dấn thân vào con đường của Phi-e-rơ. Không có ân điển của Đức Chúa Trời, và không có sự khai sáng và dẫn dắt từ Đức Thánh Linh, thì con đường này sẽ khó đi, bởi vì con người không sở hữu lẽ thật và không thể chống lại chính mình. Đi con đường hoàn thiện của Phi-e-rơ chủ yếu dựa vào việc có quyết tâm, có đức tin và tin cậy ở Đức Chúa Trời. Hơn nữa, con người phải thuận phục công tác của Đức Thánh Linh; trong mọi sự, con người không thể làm gì nếu không có lời Đức Chúa Trời. Đây là những khía cạnh then chốt, không thể vi phạm khía cạnh nào trong số đó. Trong trải nghiệm này, rất khó để biết mình; nếu không có công tác của Đức Thánh Linh thì chỉ vô ích. Để đi con đường của Phi-e-rơ, người ta phải tập trung vào việc biết mình và việc thay đổi tâm tính của mình. Con đường của Phao-lô không phải là con đường tìm kiếm sự sống hay tập trung vào việc biết mình; ông đặc biệt tập trung vào việc thực hiện công tác cũng như sự ảnh hưởng và khí thế của việc đó. Động cơ của ông là làm việc và chịu khổ để đổi lấy các phước lành của Đức Chúa Trời và nhận những phần thưởng từ Đức Chúa Trời. Động cơ này đã sai. Phao-lô không tập trung vào sự sống, cũng như không coi trọng việc đạt được sự thay đổi về tâm tính; ông chỉ tập trung vào phần thưởng. Bởi vì ông đã đặt sai mục tiêu, nên tất nhiên, con đường mà ông đã đi cũng sai. Điều này là do bản tính kiêu ngạo và tự phụ của ông gây ra. Rõ ràng là Phao-lô không sở hữu bất kỳ lẽ thật nào, ông cũng không có lương tâm hay lý trí. Khi cứu rỗi và thay đổi con người, Đức Chúa Trời chủ yếu thay đổi tâm tính của họ. Mục đích của lời Ngài là để thành tựu ở con người kết quả là sở hữu những tâm tính đã được thay đổi và khả năng biết đến Đức Chúa Trời, thuận phục Ngài và thờ phượng Ngài một cách bình thường. Đây là mục đích của lời Đức Chúa Trời và công tác của Ngài. Cách mưu cầu của Phao-lô trực tiếp vi phạm và mâu thuẫn với tâm ý của Đức Chúa Trời; hoàn toàn đi ngược với tâm ý của Ngài. Tuy nhiên, cách tìm kiếm của Phi-e-rơ hoàn toàn phù hợp với tâm ý của Đức Chúa Trời: ông tập trung vào sự sống, và những sự thay đổi trong tâm tính, đó chính xác là kết quả mà Đức Chúa Trời mong muốn thành tựu trong con người bởi công tác của Ngài. Do đó, con đường của Phi-e-rơ được ban phước và nhận được sự khen ngợi của Đức Chúa Trời. Bởi vì con đường của Phao-lô đi ngược lại tâm ý của Đức Chúa Trời, do đó Đức Chúa Trời ghê tởm và nguyền rủa nó. Để đi con đường của Phi-e-rơ, con người phải biết được tâm ý của Đức Chúa Trời. Nếu một người thực sự có thể hiểu đầy đủ tâm ý của Ngài qua lời Ngài – có nghĩa là hiểu được những gì Đức Chúa Trời muốn đạt được nơi con người và cuối cùng, kết quả nào mà Ngài mong muốn thành tựu – chỉ khi đó, con người mới có thể hiểu chính xác con đường nào họ nên đi theo. Nếu ngươi không hiểu đầy đủ về con đường của Phi-e-rơ và chỉ đơn thuần mong muốn đi theo con đường đó, thì ngươi sẽ không thể dấn thân vào con đường đó. Nói cách khác, ngươi có thể biết rất nhiều đạo lý, nhưng cuối cùng sẽ không thể bước vào thực tế. Dù ngươi có thể bước vào một cách hời hợt, nhưng ngươi sẽ không thể đạt được bất kỳ kết quả thực sự nào.

– Phần 3, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày  Trích đoạn 566

Ngày nay, hầu hết mọi người đều có sự hiểu biết rất hời hợt về bản thân họ. Họ chưa hề biết rõ những điều là một phần của bản tính họ. Họ chỉ nhận biết được một vài trạng thái bại hoại mà họ bộc lộ, những điều mà họ có khả năng làm, hay một vài khiếm khuyết của họ, và điều này khiến họ tin rằng họ biết bản thân mình. Hơn nữa, nếu họ vâng theo một vài quy tắc, đảm bảo rằng họ không phạm lỗi trong những phạm vi nhất định, và tránh phạm những vi phạm nhất định, thì họ xem là bản thân mình có thực tế trong niềm tin của họ nơi Đức Chúa Trời và cho rằng họ sẽ được cứu rỗi. Điều này hoàn toàn là tưởng tượng của con người. Nếu ngươi vâng theo những điều ấy, ngươi có thật sự có thể kiềm chế không phạm bất kỳ vi phạm nào không? Liệu ngươi sẽ đạt được một sự thay đổi thật trong tâm tính không? Liệu ngươi sẽ thật sự sống thể hiện ra hình tượng giống con người không? Ngươi có thể thật sự đáp ứng Đức Chúa Trời theo cách ấy không? Tuyệt đối là không, chắc chắn là như vậy. Niềm tin nơi Đức Chúa Trời chỉ có tác dụng khi người ta có những tiêu chuẩn cao và đã đạt được lẽ thật và sự thay đổi nào đó trong tâm tính sống của họ. Điều này trước tiên đòi hỏi phải biết mình. Nếu nhận thức của con người về bản thân họ quá nông cạn, thì họ sẽ thấy không thể giải quyết các vấn đề, và tâm tính sống của họ đơn thuần là sẽ không thay đổi. Điều cần thiết là nhận biết sâu sắc về chính mình, nghĩa là biết bản tính của riêng mình: những yếu tố nào được bao gồm trong bản tính đó, những thứ này phát xuất như thế nào, và chúng đến từ đâu. Hơn nữa, ngươi có thật sự có thể ghét những điều này không? Ngươi đã thấy linh hồn xấu xa và bản tính tà ác của mình chưa? Nếu ngươi thật sự có thể nhìn thấy chân tướng thật của bản thân mình, vậy thì ngươi sẽ ghê tởm bản thân mình. Khi ngươi ghê tởm bản thân mình và rồi thực hành lời Đức Chúa Trời, ngươi sẽ có thể chống lại xác thịt và có sức mạnh để thực hành lẽ thật mà không tin rằng điều này thật vất vả. Tại sao nhiều người lại đi theo những sở thích của xác thịt trong khi hành động? Bởi vì họ cho rằng bản thân mình khá tốt, cảm thấy rằng những hành động của họ là đúng và xác đáng, rằng họ không có lỗi, và thậm chí họ hoàn toàn đúng, bởi thế họ có khả năng hành động với giả định rằng công lý là ở phía họ. Khi một người nhận ra bản tính thật của họ là gì – xấu xa, hèn hạ, đáng thương như thế nào – khi ấy người ta sẽ không quá tự cao về bản thân nữa, không quá kiêu ngạo một cách ngông cuồng nữa, và không quá hài lòng với bản thân như trước nữa. Người như thế cảm thấy rằng: “Mình phải nghiêm chỉnh và thực tế trong việc thực hành một số lời Đức Chúa Trời. Nếu không, mình sẽ không đạt tiêu chuẩn làm người, và sẽ hổ thẹn khi sống trước mặt Đức Chúa Trời”. Sau đó họ thật sự thấy mình tầm thường, thật sự không đáng kể. Vào lúc này, người ta trở nên thực hành lẽ thật một cách dễ dàng, và người ta sẽ trông có phần giống như hình tượng một con người. Chỉ khi con người thật sự ghê tởm chính mình, họ mới có thể chống lại xác thịt. Nếu họ không ghê tởm bản thân mình, họ sẽ không thể chống lại xác thịt. Việc thật sự ghê tởm bản thân mình không phải là một vấn đề đơn giản. Có vài điều phải được tìm thấy nơi họ: Thứ nhất, nhận biết bản tính của riêng mình; và thứ hai, thấy mình như kẻ nghèo túng và đáng thương, thấy mình cực kỳ nhỏ bé và tầm thường, và thấy được linh hồn đáng thương và dơ bẩn của chính mình. Khi người ta hoàn toàn thấy mình thật sự là gì, và đạt được kết quả này, khi ấy người ta sẽ thật sự đạt đến biết mình, và có thể nói rằng người ta đã nhận biết bản thân mình một cách đầy đủ. Chỉ khi đó người ta mới thật sự coi thường bản thân mình, thậm chí đến mức nguyền rủa bản thân mình, và thật sự cảm thấy rằng mình đã bị Sa-tan làm bại hoại sâu sắc đến nỗi thậm chí không còn giống một con người nữa. Để rồi một ngày, khi sự đe dọa của cái chết đến bên, một người như thế sẽ nghĩ: “Đây là sự trừng phạt công chính của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời quả thật công chính; tôi thật sự đáng chết!”. Vào thời điểm này, họ sẽ không than oán, càng không đổ lỗi cho Đức Chúa Trời, mà đơn thuần cảm thấy mình thật nghèo nàn và đáng thương, thật nhơ bẩn và bại hoại đến nỗi mình nên bị Đức Chúa Trời đào thải và hủy diệt, và một linh hồn như của họ không phù hợp để sống trên thế gian. Do đó, người này sẽ không than oán hay chống đối Đức Chúa Trời, càng không phản bội Đức Chúa Trời. Nếu một người không biết bản thân mình, và vẫn coi mình là khá tốt, thì khi cái chết đe dọa họ, người này sẽ nghĩ rằng: “Tôi đã làm rất tốt trong đức tin của mình. Tôi đã mưu cầu khó khăn làm sao! Tôi đã cho đi rất nhiều, tôi đã chịu khổ rất nhiều, vậy mà cuối cùng, Đức Chúa Trời yêu cầu tôi chết. Tôi không biết sự công chính của Đức Chúa Trời ở đâu. Tại sao Ngài yêu cầu tôi chết? Nếu tôi phải chết, thì ai sẽ được cứu rỗi đây? Chẳng phải loài người sẽ kết thúc sao?”. Trước hết, người này có những quan niệm về Đức Chúa Trời. Thứ hai, người này đang phàn nàn, và không thể hiện bất kỳ sự đầu phục nào cả. Điều này cũng giống như Phao-lô: Khi ông sắp chết, ông đã không biết bản thân mình và vào lúc sự trừng phạt của Đức Chúa Trời gần kề, thì tất cả đã quá muộn.

– Phần 3, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày  Trích đoạn 567

Nói chính xác, đi theo con đường của Phi-e-rơ trong đức tin của con người có nghĩa là đi con đường theo đuổi lẽ thật, cũng là con đường của việc thật sự dần biết bản thân mình và thay đổi tâm tính của mình. Chỉ bằng cách đi theo con đường của Phi-e-rơ, con người mới bước lên con đường được hoàn thiện bởi Đức Chúa Trời. Cụ thể phải đi theo con đường của Phi-e-rơ như thế nào, có những cách thực hành nào, điều này cần phải được hiểu rõ. Trước tiên, con người phải gạt bỏ những ý định của chính mình, những sự theo đuổi không đúng đắn, thậm chí gia đình cũng như mọi sự của xác thịt bản thân. Dâng hiến hết lòng chính là phải hoàn toàn dâng hiến bản thân mình cho lời Đức Chúa Trời, tập trung ăn uống lời Đức Chúa Trời, tập trung tìm kiếm lẽ thật và ý của Đức Chúa Trời trong lời Ngài, và cố gắng nắm bắt tâm ý của Đức Chúa Trời trong mọi sự. Đây là phương pháp thực hành cơ bản và trọng yếu nhất. Đây là điều Phi-e-rơ đã làm sau khi gặp Jêsus, và chỉ có thực hành theo cách này mới có thể đạt được những kết quả tốt nhất. Dâng hiến hết lòng cho lời Đức Chúa Trời chủ yếu là tìm kiếm lẽ thật và những ý của Đức Chúa Trời trong lời Ngài, tập trung vào việc nắm bắt tâm ý của Đức Chúa Trời, hiểu và có được nhiều lẽ thật hơn từ lời Đức Chúa Trời. Khi đọc những lời của Đức Chúa Trời, Phi-e-rơ đã không tập trung vào việc hiểu các học thuyết, càng không tập trung vào việc có được kiến thức thần học. Thay vào đó, ông tập trung vào việc thấu hiểu lẽ thật và nắm bắt tâm ý của Đức Chúa Trời, cũng như đạt được sự hiểu biết về tâm tính và sự đáng mến của Ngài. Đồng thời, Phi-e-rơ cũng đã nhận biết nhiều trạng thái bại hoại khác nhau cũng như thực chất bản tính và những thiếu sót thật sự của con người từ lời Đức Chúa Trời, bởi đó dễ dàng đáp ứng yêu cầu của Đức Chúa Trời để thỏa lòng Ngài. Phi-e-rơ đã có rất nhiều sự thực hành đúng tuân theo lời Đức Chúa Trời. Đây là điều phù hợp nhất tâm ý của Đức Chúa Trời, và là cách hay nhất mà một người có thể hợp tác trong khi trải nghiệm công tác của Đức Chúa Trời. Khi trải nghiệm hàng trăm lần thử luyện của Đức Chúa Trời, phàm là lời Đức Chúa Trời dùng để phán xét, vạch rõ con người, phàm là lời Đức Chúa Trời dùng để yêu cầu con người, Phi-e-rơ đều đối chiếu với chính mình, tự kiểm điểm một cách nghiêm ngặt và nắm bắt chính xác ý nghĩa lời của Đức Chúa Trời. Ông đã sốt sắng cố gắng suy ngẫm và ghi nhớ mọi lời mà Jêsus đã phán với ông, và ông đã đạt được những kết quả rất tốt. Bằng cách thực hành theo cách này, ông đã có thể đạt được sự hiểu biết về chính mình từ lời Đức Chúa Trời, và ông không chỉ bắt đầu hiểu được những trạng thái bại hoại và thiếu sót khác nhau của con người, mà ông còn hiểu được thực chất và bản tính của con người. Đây là ý nghĩa của việc thật sự hiểu bản thân. Từ lời Đức Chúa Trời, Phi-e-rơ không chỉ đã đạt được sự hiểu biết thật sự về bản thân ông, mà ông còn nhìn thấy tâm tính công chính của Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời có gì và là gì, tâm ý của Đức Chúa Trời đối với công tác của Ngài, và những yêu cầu của Đức Chúa Trời với nhân loại. Từ những lời này, ông đã thật sự bắt đầu biết về Đức Chúa Trời. Ông đã bắt đầu biết được tâm tính của Đức Chúa Trời, và thực chất của Ngài; ông đã bắt đầu biết và hiểu Đức Chúa Trời có gì và là gì, cũng như sự đáng mến của Đức Chúa Trời và những yêu cầu của Đức Chúa Trời đối với con người. Mặc dù khi ấy Đức Chúa Trời đã không phán nhiều như Ngài làm ngày nay, những kết quả ở các phương diện này dẫu vậy đã đạt được ở Phi-e-rơ. Đây là điều hiếm có và quý giá. Phi-e-rơ đã trải qua hàng trăm sự thử luyện, nhưng ông đã không chịu khổ vô ích. Ông đã không chỉ hiểu được bản thân mình từ những lời và công tác của Đức Chúa Trời, mà ông còn bắt đầu biết được Đức Chúa Trời. Hơn nữa, ông tập trung chú ý đặc biệt vào những yêu cầu của Đức Chúa Trời đối với nhân loại chứa đựng trong lời Ngài. Trong bất kỳ phương diện nào mà con người nên thỏa lòng Đức Chúa Trời để phù hợp với tâm ý của Ngài thì Phi-e-rơ đều có thể bỏ ra nỗ lực to lớn ở những phương diện đó và đạt được đầy đủ sự rõ ràng. Đây là điều cực kỳ ích lợi cho lối vào sự sống của ông. Bất kể Đức Chúa Trời đã phán về điều gì, miễn sao những lời ấy có thể trở thành sự sống và là lẽ thật, Phi-e-rơ đều có thể khắc ghi chúng vào lòng để thường xuyên suy ngẫm và lĩnh hội chúng. Khi đã nghe những lời của Jêsus, ông đã có thể khắc ghi chúng vào lòng, điều cho thấy rằng ông đặc biệt tập trung vào lời Đức Chúa Trời, và cuối cùng ông đã thật sự đạt được kết quả. Nghĩa là, ông đã có thể tự do đưa lời Đức Chúa Trời vào thực hành, thực hành chính xác lẽ thật và phù hợp tâm ý của Đức Chúa Trời, hành động hoàn toàn theo ý của Đức Chúa Trời, từ bỏ những quan niệm và trí tưởng tượng cá nhân của chính mình. Theo cách này, Phi-e-rơ đã bước vào tính hiện thực của lời Đức Chúa Trời. Sự phục vụ của Phi-e-rơ phù hợp tâm ý của Đức Chúa Trời chủ yếu là vì ông đã làm điều này.

Nếu con người có thể làm hài lòng Đức Chúa Trời trong khi thực hiện bổn phận của mình, đúng theo nguyên tắc trong lời nói và hành động của họ, và bước vào thực tế của mọi phương diện của lẽ thật, thì họ là người được Đức Chúa Trời hoàn thiện. Có thể nói rằng công tác và lời Đức Chúa Trời đã hoàn toàn có hiệu quả đối với họ, rằng lời Đức Chúa Trời đã trở thành cuộc sống của họ, họ đã có được lẽ thật và rằng họ có thể sống theo lời Đức Chúa Trời. Sau việc này, bản chất xác thịt, cũng chính là nền tảng sinh tồn vốn có của họ bắt đầu lung lay sụp đổ. Chỉ sau khi mọi người có lời Đức Chúa Trời như sự sống của họ thì họ mới trở thành những người mới. Nếu lời Đức Chúa Trời trở thành cuộc sống của con người, nếu khải tượng về công tác của Đức Chúa Trời, những điều Ngài vạch rõ và yêu cầu của Ngài đối với loài người, và những tiêu chuẩn cho sự sống con người mà Đức Chúa Trời yêu cầu con người phải đáp ứng trở thành cuộc sống của họ, nếu con người sống theo những lời và lẽ thật này, thì họ được hoàn thiện bởi lời Đức Chúa Trời. Những người như thế được tái sinh và đã trở thành những con người mới thông qua lời Đức Chúa Trời. Đây là con đường mà Phi-e-rơ đã mưu cầu lẽ thật. Đây là con đường được hoàn thiện. Phi-e-rơ đã được hoàn thiện bởi lời Đức Chúa Trời, ông đã có được sự sống từ lời Đức Chúa Trời, lẽ thật được Đức Chúa Trời bày tỏ đã trở thành cuộc sống của ông, và ông đã trở thành một người có được lẽ thật.

– Làm thế nào để đi con đường của Phi-e-rơ, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày  Trích đoạn 568

Cho đến khi mọi người trải nghiệm công tác của Đức Chúa Trời và hiểu được lẽ thật, thì chính bản tính của Sa-tan chiếm hữu và thống trị họ từ bên trong. Cụ thể, bản tính đó bao gồm những gì? Ví dụ, tại sao ngươi ích kỷ? Tại sao ngươi bảo vệ vị trí của chính mình? Tại sao ngươi nặng tình cảm đến thế? Tại sao ngươi vui thích những điều bất chính đó? Tại sao ngươi thích những điều ác đó? Cơ sở để ngươi thích những điều như vậy là gì? Những điều này đến từ đâu? Tại sao ngươi vui đến vậy khi chấp nhận chúng? Đến bây giờ, các ngươi đều đã hiểu ra rằng lý do chính đằng sau tất cả những điều này là độc tố của Sa-tan ở trong con người. Vậy độc tố của Sa-tan là gì? Nó có thể được thể hiện ra như thế nào? Ví dụ, nếu ngươi hỏi: “Người ta nên sống thế nào? Người ta nên sống vì điều gì?” thì người ta sẽ trả lời: “Người không vì mình, trời tru đất diệt”. Chỉ một câu nói này đã thể hiện chính gốc rễ của vấn đề. Triết lý và lô-gic của Sa-tan đã trở thành sự sống của con người. Bất kể người ta theo đuổi điều gì thì họ cũng làm như vậy vì bản thân họ – và do đó họ sống chỉ cho bản thân họ. “Người không vì mình, trời tru đất diệt” – đây là triết lý xử thế của con người, và chúng cũng đại diện cho bản tính của con người. Những lời này đã trở thành bản tính của nhân loại bại hoại và chúng là chân dung thật của bản tính Sa-tan của nhân loại bại hoại. Bản tính Sa-tan này đã trở thành nền tảng tồn tại của nhân loại bại hoại. Trong vài ngàn năm qua, nhân loại bại hoại đã sống theo độc tố này của Sa-tan, mãi cho đến tận ngày nay. Mọi việc Sa-tan làm đều là vì dã tâm, dục vọng và mục đích của chính nó. Nó mong muốn vượt qua Đức Chúa Trời, thoát khỏi Đức Chúa Trời, và chiếm quyền kiểm soát muôn vật do Đức Chúa Trời tạo dựng. Ngày nay, con người đã bị Sa-tan làm cho bại hoại tới mức như vậy: Tất cả bọn họ đều có bản tính Sa-tan, tất cả đều cố chối bỏ và chống đối Đức Chúa Trời, và họ muốn tự kiểm soát số phận của mình và cố chống đối sự sắp đặt và dàn xếp của Đức Chúa Trời. Dã tâm và dục vọng của họ giống hệt của Sa-tan. Do đó, bản tính của con người là bản tính của Sa-tan. Trên thực tế, những phương châm và những câu cách ngôn của nhiều người thể hiện bản tính con người và phản ánh thực chất sự bại hoại của con người. Những thứ mà người ta chọn là sự ưu tiên của riêng họ, và tất cả đều đại diện cho những tâm tính và sự mưu cầu của con người. Trong mỗi lời một người nói, và mọi việc họ làm, dù ngụy trang đến đâu thì cũng không thể che đậy được bản tính của họ. Ví dụ, những người Pha-ri-si thường giảng đạo đặc biệt hay, nhưng khi họ nghe những bài giảng và lẽ thật do Jêsus bày tỏ, thay vì chấp nhận chúng thì họ lên án chúng. Điều này đã vạch trần bản tính và thực chất chán ghét và căm ghét lẽ thật của người Pha-ri-si. Một số người nói năng đặc biệt hay và giỏi ngụy trang, nhưng sau khi kết giao với họ một thời gian, những người khác nhận thấy rằng bản tính của họ vô cùng giả dối và không trung thực. Sau một thời gian dài kết giao với họ, những người khác phát hiện ra thực chất và bản tính của họ. Cuối cùng, những người khác sẽ đi đến kết luận như sau: Họ không bao giờ nói một lời thật nào, và là người giả dối. Câu nói này nói lên bản tính của những người như vậy và đó là minh họa và bằng chứng tốt nhất về bản tính và thực chất của họ. Triết lý xử thế của họ là không nói cho bất kỳ ai biết sự thật, và cũng không tin bất kỳ ai. Bản tính Sa-tan của con người chứa rất nhiều triết lý và chất độc Sa-tan. Đôi khi chính ngươi thậm chí cũng không biết chúng và không hiểu chúng, nhưng mọi giây phút trong cuộc sống của ngươi đều dựa trên những điều này. Hơn nữa, ngươi còn nghĩ rằng những điều này là khá chính xác, hợp lý và không sai trật chút nào. Điều này đủ để cho thấy rằng những triết lý của Sa-tan đã trở thành bản tính của con người, và họ đang hoàn toàn sống theo chúng, nghĩ rằng cách sống này là tốt, và không hề có bất kỳ ý thức ăn năn nào. Do đó, họ liên tục tỏ lộ bản tính Sa-tan của mình, và họ liên tục sống theo những triết lý của Sa-tan. Bản tính của Sa-tan là sự sống của nhân loại, và cũng là thực chất bản tính của nhân loại.

– Làm thế nào để đi con đường của Phi-e-rơ, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày  Trích đoạn 569

Bây giờ các ngươi đã phần nào có thể phân biệt được tâm tính bại hoại mà mình bộc lộ, đâu là những điều bại hoại bình thường ngươi vẫn dễ bộc lộ, đâu là những điều trái với lẽ thật ngươi vẫn dễ mắc phải. Khi ngươi đã nhìn rõ những điều này rồi thì việc làm tinh sạch tâm tính bại hoại của ngươi sẽ dễ dàng. Tại sao trong nhiều vấn đề con người không thể khống chế bản thân mình? Bởi vì ở mọi lúc, trong mọi vấn đề, họ đều bị những tâm tính bại hoại kiểm soát, điều này kìm kẹp và quấy nhiễu họ trong mọi việc. Có người lúc bình an vô sự, không gặp trắc trở, không bị tiêu cực, thì luôn cảm thấy bản thân họ có vóc giạc, và không nghĩ gì khi thấy một kẻ ác, một lãnh đạo giả hay một kẻ địch lại Đấng Christ bị tỏ lộ và đào thải. Thậm chí họ còn có thể khoe khoang với mọi người rằng: “Bất cứ ai cũng có thể vấp ngã, còn tôi thì không. Bất cứ ai cũng có thể không yêu Đức Chúa Trời, còn tôi thì có”. Họ nghĩ họ có thể đứng vững trong chứng ngôn của mình trong bất cứ hoàn cảnh hay bối cảnh nào. Và kết quả là gì? Tới một ngày khi họ bị thử luyện và họ than vãn về Đức Chúa Trời. Đây chẳng phải là thất bại, chẳng phải là vấp ngã sao? Không gì tỏ lộ con người nhiều hơn là khi họ bị thử luyện. Đức Chúa Trời dò xét thâm tâm của con người, và con người không được khoe khoang bất kỳ lúc nào. Con người khoe khoang ở chuyện gì thì sớm muộn cũng sẽ có ngày vấp ngã trong chuyện đó. Thấy người khác vấp ngã và thất bại trong một bối cảnh nhất định, họ không nghĩ gì về việc đó, và thậm chí còn nghĩ rằng bản thân họ không thể sai, rằng họ sẽ có thể đứng vững – nhưng cuối cùng họ cũng vấp ngã và thất bại trong cùng một bối cảnh. Thế là sao? Đó là vì con người không hiểu thấu đáo được bản tính và thực chất của họ; sự hiểu biết của họ về những vấn đề trong bản tính và thực chất của mình vẫn không đủ sâu, do đó với họ việc đưa lẽ thật vào thực hành là rất vất vả. Ví dụ, một số người rất giả dối, không trung thực trong lời nói và việc làm, thế nhưng nếu ngươi hỏi họ tâm tính bại hoại của họ nghiêm trọng nhất ở khía cạnh nào, họ sẽ nói: “Tôi hơi giả dối”. Họ sẽ chỉ nói họ hơi giả dối, chứ không nói rằng bản tính của họ là giả dối, và họ không nói họ là người giả dối. Hiểu biết của họ về tình trạng bại hoại của chính họ không sâu sắc đến thế, và họ không thấy nghiêm trọng hay thấu đáo như người khác thấy. Người khác thấy người này quá giả dối và quá lươn lẹo, rằng có sự dối trá trong từng lời nói của họ, rằng lời nói và hành động của họ không bao giờ trung thực – nhưng chính họ không thể biết mình sâu sắc như thế. Dù có chút hiểu biết thì cũng đều chỉ là hiểu biết bề ngoài. Bất cứ khi nào họ nói và hành động, họ đều tỏ lộ điều gì đó trong bản tính của mình, nhưng họ không ý thức được điều này. Họ tin rằng họ hành động như vậy không phải là tỏ lộ của sự bại hoại, họ nghĩ rằng mình đã đưa lẽ thật vào thực hành – nhưng đối với những người đang quan sát, người này khá gian dối và quanh co, lời nói và hành động của họ không trung thực đến thế. Tức là, con người có một sự hiểu biết quá nông cạn về bản tính của chính mình, và có một sự khác biệt rất lớn giữa điều này với lời Đức Chúa Trời phán xét và vạch rõ con người. Đây không phải là một sai lầm trong những gì Đức Chúa Trời vạch rõ, mà là sự thiếu hiểu biết sâu sắc của con người về bản tính của chính mình. Con người không có một sự hiểu biết từ gốc rễ, từ thực chất về bản thân họ; thay vào đó, họ chăm chăm và bỏ công sức để nhận thức những hành động hoặc sự bộc lộ bên ngoài của mình. Ngay cả khi ai đó thỉnh thoảng có thể nói chút gì về việc hiểu bản thân mình, thì cũng không quá sâu sắc. Chưa ai từng nghĩ rằng họ là loại người nào đó hoặc có loại bản tính nào đó do đã làm loại việc nào đó hoặc đã tỏ lộ một điều gì đó. Đức Chúa Trời đã vạch rõ bản tính và thực chất của con người, nhưng thứ con người nhận thức được là sai lầm và khuyết điểm trong cách làm việc và cách nói chuyện của họ; do đó, đưa lẽ thật vào thực hành là việc tương đối tốn sức với con người. Con người cho rằng những sai lầm của họ chỉ là những biểu hiện nhất thời bị tỏ lộ một cách khinh suất chứ không phải là những sự bộc lộ về bản tính của họ. Khi con người nghĩ theo cách này thì rất khó để họ thực sự biết được bản thân mình, và cũng rất khó để họ hiểu được và thực hành được lẽ thật. Vì họ không biết lẽ thật và không khao khát lẽ thật, nên khi đưa lẽ thật vào thực hành, họ chỉ tuân theo các quy định một cách qua loa chiếu lệ. Con người không thấy bản tính của mình quá xấu, và tin rằng họ không tệ đến nỗi sẽ bị hủy diệt hoặc trừng phạt. Thế nhưng theo tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời, sự bại hoại của con người là quá sâu sắc, họ còn xa mới đạt được tiêu chuẩn của sự cứu rỗi, bởi vì con người chỉ có một số hành động nhìn bề ngoài thì không vi phạm lẽ thật, trong khi thực tế thì họ không thực hành lẽ thật và không phải là người thuận phục Đức Chúa Trời.

Những thay đổi trong hành vi hoặc cách làm của một người không đồng nghĩa với một sự biến đổi trong bản tính của họ. Lý do nói vậy là vì những thay đổi trong cách làm của một người về cơ bản không thể làm thay đổi diện mạo ban đầu của họ, càng không thể làm thay đổi bản tính của họ. Chỉ khi con người hiểu được lẽ thật và có hiểu biết về bản tính và thực chất của chính mình, và có thể đưa lẽ thật vào thực hành, thì việc thực hành của họ mới có thể trở nên sâu sắc chứ không chỉ đang tuân theo quy định. Cách con người thực hành lẽ thật ngày nay vẫn chưa đạt tiêu chuẩn và không thể đạt được đầy đủ hết thảy những gì lẽ thật yêu cầu. Con người chỉ thực hành một phần của lẽ thật, và chỉ khi họ đang ở trong những trạng thái và hoàn cảnh nhất định họ mới có thể đưa được một chút lẽ thật vào thực hành; chứ không phải họ thực hành ra lẽ thật trong mọi hoàn cảnh và mọi tình huống. Đôi khi, khi một người đang vui và họ có tâm trạng tốt, hoặc khi mọi người đang thông công cùng nhau và họ có một con đường thực hành trong lòng, thì tạm thời họ có thể làm một số việc phù hợp với lẽ thật. Nhưng khi họ sống với những người tiêu cực và những người không mưu cầu lẽ thật, họ bị ảnh hưởng bởi những người này, và trong lòng họ lạc mất con đường, họ không thể thực hành ra lẽ thật. Điều này chứng tỏ rằng vóc giạc của họ quá nhỏ bé, rằng họ vẫn không thực sự hiểu được lẽ thật. Có một số cá nhân, nếu được hướng dẫn và dẫn dắt bởi người phù hợp, họ có thể thực hành ra lẽ thật; nhưng nếu họ bị một lãnh đạo giả hoặc một kẻ địch lại Đấng Christ mê hoặc và làm nhiễu loạn, thì họ không những không thể thực hành ra lẽ thật mà còn dễ bị mê hoặc đi theo người khác. Những người như vậy chẳng phải có nguy hiểm tiềm tàng sao? Những người như vậy, với kiểu vóc giạc này, không thể đạt đến mức thực hành ra lẽ thật trong mọi việc và mọi bối cảnh. Cho dù thực hành ra lẽ thật, thì cũng là trong lúc họ có tâm trạng tốt và có người chỉ đạo; tuy nhiên, nếu không có người tốt dẫn dắt, thì có những lúc họ vẫn có thể làm ra một số việc vi phạm lẽ thật và đi chệch hướng khỏi lời Đức Chúa Trời. Và điều này là do đâu? Đó là vì ngươi chỉ biết được một vài tình trạng của mình, mà không có hiểu biết về bản tính và thực chất của mình, và vẫn chưa thể đạt đến vóc giạc chống lại xác thịt và thực hành lẽ thật; do đó ngươi không nắm bắt được việc mình sẽ làm ra những chuyện gì trong tương lai, và không có gì bảo đảm tuyệt đối được rằng ngươi sẽ có thể đứng vững trong bất kỳ hoàn cảnh hay thử luyện nào. Có những lúc ngươi ở trong một trạng thái và ngươi có thể thực hành ra lẽ thật, và ngươi dường như tỏ ra có sự biến đổi nào đó, tuy nhiên, trong một môi trường khác, ngươi lại không thể thực hành ra lẽ thật. Đây là điều ngươi không có cách nào khống chế được. Đôi khi ngươi có thể thực hành lẽ thật, và đôi khi ngươi không thể thực hành ra lẽ thật. Lúc này ngươi hiểu, và lúc khác ngươi lại bối rối. Hiện tại, ngươi không làm việc xấu, nhưng nói không chừng một lát sau ngươi sẽ làm. Điều này chứng tỏ rằng những điều bại hoại vẫn tồn tại bên trong con người, và nếu không có khả năng thực sự biết mình, thì sẽ không dễ gì giải quyết những thứ bại hoại đó. Nếu ngươi không thể hiểu thấu đáo về tâm tính bại hoại của chính mình, và cuối cùng còn có khả năng làm ra những việc chống đối Đức Chúa Trời, thì nguy đấy. Nếu ngươi có thể có được sự nhận biết thấu đáo về bản tính của mình và ghê tởm nó, thì ngươi sẽ có thể kiểm soát chính mình, chống lại chính mình và thực hành ra lẽ thật.

– Phần 3, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày  Trích đoạn 570

Mục đích của việc thông công lẽ thật cho rõ ràng là để giúp mọi người hiểu, thực hành lẽ thật và đạt được những thay đổi trong tâm tính của họ. Nó không đơn thuần là mang lại sự sáng và một chút vui mừng cho lòng họ khi họ hiểu lẽ thật. Nếu ngươi hiểu lẽ thật nhưng không thực hành lẽ thật, thì thông công và hiểu lẽ thật cũng chẳng có ý nghĩa gì. Khi người ta hiểu lẽ thật nhưng không đưa nó vào thực hành thì đây là vấn đề gì? Đây là bằng chứng cho thấy họ không yêu lẽ thật, rằng lòng họ không tiếp nhận lẽ thật, thế là họ sẽ bỏ lỡ phước lành của Đức Chúa Trời và cơ hội được cứu rỗi. Về việc con người có thể đạt được sự cứu rỗi hay không, điều cốt yếu là liệu họ có thể tiếp nhận và thực hành lẽ thật hay không. Nếu ngươi đã đưa vào thực hành mọi lẽ thật mà ngươi hiểu, ngươi sẽ nhận được sự khai sáng, soi sáng và hướng dẫn của Đức Thánh Linh, sẽ có thể bước vào thực tế của lẽ thật, sẽ đạt được sự hiểu biết sâu sắc hơn về lẽ thật, đạt đến đạt được lẽ thật và sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Một số người không có khả năng thực hành lẽ thật, họ luôn oán trách rằng Đức Thánh Linh không khai sáng hay soi sáng họ, rằng Đức Chúa Trời không ban cho họ sức mạnh. Như thế là sai; đây là hiểu lầm Đức Chúa Trời. Sự khai sáng và soi sáng của Đức Thánh Linh được xây dựng trên nền tảng hợp tác của con người. Con người phải thành tâm, và sẵn lòng thực hành lẽ thật, và cho dù sự hiểu biết của họ là sâu sắc hay hời hợt, họ cũng phải có thể đưa lẽ thật vào thực hành. Chỉ khi đó, họ mới được Đức Thánh Linh khai sáng và soi sáng. Nếu người ta hiểu lẽ thật nhưng không đưa nó vào thực hành, mà cứ đợi Đức Thánh Linh tác động và buộc họ đưa nó vào thực hành, thì chẳng phải họ quá thụ động sao? Đức Chúa Trời không bao giờ ép buộc con người làm bất kỳ điều gì. Nếu người ta hiểu lẽ thật nhưng không sẵn lòng đưa nó vào thực hành, thì điều này cho thấy họ không yêu lẽ thật, hoặc tình trạng của họ không bình thường và có sự cản trở nào đó. Nhưng nếu người ta có thể cầu nguyện với Đức Chúa Trời, thì Đức Chúa Trời cũng sẽ hành động; chỉ khi họ không sẵn lòng thực hành lẽ thật, cũng không cầu nguyện với Đức Chúa Trời thì Đức Thánh Linh mới không có cách nào hoạt động trong họ. Kỳ thực, bất luận người ta gặp dạng khó khăn gì thì cũng đều có thể giải quyết được; quan trọng là liệu họ có thể thực hành theo lẽ thật hay không. Hiện nay, các vấn đề bại hoại nơi các ngươi không phải là ung thư hay bệnh nan y. Nếu các ngươi có thể quyết tâm thực hành lẽ thật thì sẽ nhận được công tác của Đức Thánh Linh, và những tâm tính bại hoại này sẽ có thể thay đổi. Tất cả phụ thuộc vào việc ngươi có thể quyết tâm thực hành lẽ thật hay không, đây là điều mấu chốt. Nếu ngươi thực hành lẽ thật, nếu ngươi bước đi con đường mưu cầu lẽ thật, thì ngươi sẽ có thể nhận được công tác của Đức Thánh Linh, và nhất định có thể được cứu rỗi. Nếu con đường ngươi đi là sai, thì ngươi sẽ đánh mất công tác của Đức Thánh Linh, sai lầm hết bước này đến bước khác, và ngươi sẽ kể như xong, cho dù ngươi có tiếp tục tin bao nhiêu năm thì cũng sẽ không thể đạt được sự cứu rỗi. Ví dụ như khi đang làm việc, một số người không bao giờ cân nhắc chuyện làm thế nào để thực hiện công việc theo cách có lợi cho nhà Đức Chúa Trời và phù hợp với tâm ý của Đức Chúa Trời – kết quả là họ làm nhiều việc ích kỷ và thấp hèn, khiến Đức Chúa Trời khinh miệt và ghê tởm; và khi làm như vậy, họ đã bị phơi bày và đào thải. Nếu người ta có thể tìm kiếm lẽ thật và thực hành phù hợp với lẽ thật trong mọi việc, thì họ đã bước vào con đường đúng đắn trong đức tin nơi Đức Chúa Trời, và vì vậy họ có hy vọng trở thành người phù hợp với tâm ý của Đức Chúa Trời. Một số người hiểu lẽ thật nhưng không đưa nó vào thực hành. Thay vào đó, họ tin rằng lẽ thật chỉ như thế này mà thôi, và không có khả năng giải quyết các ý riêng cũng như tâm tính bại hoại của riêng họ. Chẳng phải những người như vậy đáng cười nhạo sao? Chẳng phải họ lố bịch sao? Chẳng phải họ nghĩ mình thông minh sao? Nếu người ta có thể hành động theo lẽ thật, thì tâm tính bại hoại của họ có thể thay đổi. Nếu họ tin và phụng sự Đức Chúa Trời theo cá tính tự nhiên của chính họ, thì không một ai trong số họ có thể đạt được những thay đổi trong tâm tính. Có người dành cả ngày để âu lo về những lựa chọn sai lầm của chính mình. Trước một lẽ thật sẵn có, họ không hề tìm hiểu hay thực hành, mà kiên quyết chọn con đường của riêng mình. Đây thật là một cách hành động vô lý; thực sự, họ có phúc mà không biết hưởng, và sinh ra đã mang mệnh khổ rồi. Thực hành lẽ thật chỉ đơn giản như thế; ngươi có thực hành hay không mới là quan trọng. Nếu ngươi là người quyết tâm thực hành lẽ thật, thì những sự tiêu cực, yếu đuối và tâm tính bại hoại của ngươi sẽ dần dần được giải quyết và thay đổi; điều này phụ thuộc vào việc lòng ngươi có yêu lẽ thật hay không, liệu ngươi có thể tiếp nhận lẽ thật hay không, có thể chịu đựng và trả giá để đạt được lẽ thật hay không. Nếu thực sự yêu lẽ thật, ngươi sẽ có thể chịu đủ loại đau đớn để đạt được lẽ thật, cho dù đó là bị mọi người phỉ báng, xét đoán hay ruồng bỏ. Ngươi nên chịu đựng tất cả những điều này bằng sự kiên nhẫn và khoan dung; và Đức Chúa Trời sẽ ban phước và bảo vệ ngươi, Ngài sẽ không bỏ rơi hay bỏ mặc ngươi – tuyệt đối là vậy. Nếu ngươi cầu nguyện với Đức Chúa Trời với lòng kính sợ Ngài, trông cậy vào Đức Chúa Trời và ngưỡng vọng Ngài, thì sẽ không có gì ngươi không thể vượt qua được. Có lẽ ngươi có tâm tính bại hoại và có thể có vi phạm trong quá khứ, nhưng nếu ngươi có lòng kính sợ Đức Chúa Trời, và thận trọng bước đi con đường mưu cầu lẽ thật, thì chắc chắn ngươi sẽ có thể đứng vững, chắc chắn sẽ được Đức Chúa Trời dẫn dắt và bảo vệ.

– Phần 3, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày  Trích đoạn 571

Muốn hiểu được lẽ thật thì điều quan trọng là ngươi phải biết cách ăn uống lời Đức Chúa Trời. Nếu ngươi đọc quá ít lời Đức Chúa Trời, không đọc nghiêm túc và không dùng tấm lòng mà suy nghĩ, thì ngươi sẽ không có cách nào hiểu được lẽ thật. Ngươi chỉ có thể hiểu một chút đạo lý nên sẽ rất khó để hiểu được tâm ý và dụng ý trong lời Đức Chúa Trời. Nếu ngươi không hiểu mục đích và kết quả mà lời Đức Chúa Trời muốn hướng tới, không hiểu lời Ngài muốn thành tựu và hoàn thiện điều gì ở con người, thì chứng tỏ rằng ngươi chưa hiểu lẽ thật. Ngươi có hiểu tại sao Ngài nói những lời đó, tại sao Ngài nói với giọng điệu đó, tại sao mọi lời của Ngài đều rất khẩn thiết, tại sao Ngài chọn dùng những lời nhất định hay không? Nếu ngươi không thể lý giải một cách chắc chắn thì chứng tỏ ngươi không hiểu tâm ý hoặc dụng ý của Đức Chúa Trời. Nếu ngươi không hiểu bối cảnh đằng sau lời Ngài thì làm sao ngươi có thể hiểu lẽ thật, thực hành lẽ thật? Để có được lẽ thật, trước tiên ngươi phải hiểu ý nghĩa của từng lời Đức Chúa Trời phán. Lĩnh hội được rồi thì phải thực hành, để lời Đức Chúa Trời được sống thể hiện ra nơi ngươi và trở thành thực tế của ngươi. Bằng cách đó, ngươi sẽ bước vào thực tế lẽ thật. Chỉ khi hiểu thấu lời Ngài thì ngươi mới có thể thực sự hiểu được lẽ thật. Nếu chỉ đơn thuần hiểu một vài câu chữ và đạo lý mà ngươi cho rằng mình hiểu lẽ thật và có được thực tế thì đó là ngươi đang tự lừa dối bản thân. Ngươi thậm chí không hiểu tại sao Đức Chúa Trời yêu cầu con người thực hành lẽ thật. Điều này chứng tỏ ngươi chưa hiểu được tâm ý của Đức Chúa Trời, đồng thời vẫn chưa hiểu lẽ thật. Đức Chúa Trời yêu cầu con người như vậy thật ra là để làm tinh sạch và cứu rỗi họ, giúp họ thoát khỏi tâm tính bại hoại và trở thành người thuận phục Ngài, biết Ngài. Đây chính là mục đích mà Đức Chúa Trời muốn đạt được khi yêu cầu con người thực hành lẽ thật.

Đức Chúa Trời bày tỏ lẽ thật cho những ai yêu lẽ thật, khao khát lẽ thật, và tìm kiếm lẽ thật. Còn đối với những người quan tâm đến các câu chữ và đạo lý và thích nói năng dông dài, khoa trương, thì họ sẽ không bao giờ có được lẽ thật; họ đang tự lừa dối mình. Quan điểm của họ về lẽ thật và lời Đức Chúa Trời là sai, họ trẹo cổ đọc lấy những gì chính trực – quan điểm của họ đều sai. Một số người thích nghiên cứu lời Đức Chúa Trời hơn. Họ luôn nghiên cứu lời Đức Chúa Trời nói về đích đến như thế nào hoặc về cách được ban phước. Họ quan tâm nhất đến những dạng lời này. Nếu lời Đức Chúa Trời không phù hợp với những quan niệm của họ và không đáp ứng được ham muốn phước lành của họ, thì họ sẽ trở nên tiêu cực, không còn theo đuổi lẽ thật và không muốn dâng mình cho Đức Chúa Trời. Điều này cho thấy rằng họ không quan tâm đến lẽ thật. Do đó, họ không nghiêm túc với lẽ thật; họ chỉ có khả năng tiếp nhận lẽ thật phù hợp với các quan niệm và sự tưởng tượng của mình. Mặc dù những người như vậy rất nhiệt thành trong niềm tin của mình vào Đức Chúa Trời và cố gắng mọi cách có thể để làm một số việc lành và thể hiện tốt bản thân, nhưng họ chỉ đang làm điều đó để có một đích đến tốt đẹp trong tương lai. Mặc dù thực tế là họ cũng tham gia vào đời sống hội thánh, ăn uống lời Đức Chúa Trời, họ sẽ không thực hành lẽ thật hay đạt được nó. Có một số người ăn uống lời Đức Chúa Trời, nhưng chỉ đơn thuần làm cho có lệ; họ nghĩ rằng họ đã có được lẽ thật chỉ bằng việc hiểu được một vài câu chữ và đạo lý. Họ là những kẻ thật ngu ngốc! Lời Đức Chúa Trời là lẽ thật. Tuy nhiên, không phải lúc nào người ta cũng sẽ hiểu và có được lẽ thật sau khi họ đọc lời Đức Chúa Trời. Nếu ngươi không có được lẽ thật qua việc ăn uống lời Đức Chúa Trời, thì những gì ngươi có được sẽ chỉ là những câu chữ và đạo lý. Nếu ngươi không biết cách thực hành lẽ thật hoặc cách hành động phù hợp với các nguyên tắc, thì ngươi vẫn không có thực tế lẽ thật. Ngươi có thể đọc lời Đức Chúa Trời thường xuyên, nhưng sau đó, ngươi vẫn không hiểu tâm ý của Đức Chúa Trời, và chỉ có được một số câu chữ và đạo lý mà thôi. Ăn uống lời Đức Chúa Trời như thế nào để hiểu được lẽ thật? Trước hết, ngươi nên nhận ra rằng lời Đức Chúa Trời không đơn giản như vậy; lời Đức Chúa Trời hoàn toàn sâu sắc. Ngay cả một câu trong lời Đức Chúa Trời cũng đòi hỏi ngươi phải trải qua cả đời để trải nghiệm. Không có vài năm trải nghiệm, thì làm sao ngươi có thể hiểu được lời Đức Chúa Trời? Nếu, khi đọc lời Đức Chúa Trời, ngươi không hiểu tâm ý của Đức Chúa Trời, và ngươi không hiểu dụng ý của lời Ngài, nguồn gốc của chúng, hiệu quả mà chúng cố gắng để thành tựu, hoặc những gì chúng cố gắng để đạt được, thì điều đó có nghĩa là ngươi hiểu được lẽ thật không? Ngươi có thể đã đọc lời Đức Chúa Trời nhiều lần và có lẽ ngươi có thể đọc thuộc lòng nhiều phân đoạn, nhưng ngươi không thể thực hành lẽ thật và chưa hề thay đổi gì cả, và mối quan hệ của ngươi với Đức Chúa Trời vẫn xa cách và lạnh nhạt y như mọi khi. Khi gặp một điều gì đó trái ngược với những quan niệm của mình, ngươi vẫn nghi ngờ đối với Ngài, và ngươi không hiểu Ngài, mà lại lý luận với Ngài, nuôi những quan niệm về Ngài và những sự hiểu lầm về Ngài, chống đối Ngài và thậm chí báng bổ Ngài. Đây là loại tâm tính gì? Tâm tính này là tâm tính kiêu ngạo, chán ghét lẽ thật. Làm sao những người quá kiêu ngạo và quá chán ghét lẽ thật có thể tiếp nhận hoặc thực hành lẽ thật được? Những người như vậy tuyệt đối không bao giờ có thể có được lẽ thật hoặc Đức Chúa Trời.

– Phần 3, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày  Trích đoạn 572

Trước đây đã nói rằng “kẻ nào đi theo đến cuối cùng thì chắc chắn sẽ được cứu rỗi”, nhưng điều này có dễ đưa vào thực hành không? Điều đó không dễ và nhiều người bị con rồng lớn sắc đỏ săn lùng và bức hại trở nên quá rụt rè và sợ hãi để đi theo Đức Chúa Trời. Tại sao họ lại gục ngã? Bởi vì họ thiếu đức tin chân chính. Một số người có thể tiếp nhận lẽ thật, cầu nguyện với Đức Chúa Trời, nương cậy Đức Chúa Trời và họ đứng vững trong những thử luyện và hoạn nạn, trong khi những người khác thì không thể đi theo đến cùng. Đến một lúc nào đó trong thử luyện và hoạn nạn, họ sẽ gục ngã, đánh mất chứng ngôn, và không thể tự đứng dậy và tiếp tục được. Hết thảy những điều phát sinh mỗi ngày, dù lớn hay nhỏ, những điều có thể làm lung lay sự quyết tâm của ngươi, chiếm giữ tâm ngươi, hoặc kìm kẹp ngươi trong việc thực hiện bổn phận và tiến tới phía trước, thì ngươi nên nghiêm túc với chúng; ngươi nên kiểm điểm chúng cẩn thận và tìm kiếm lẽ thật. Đây đều là những vấn đề phải được giải quyết khi ngươi trải nghiệm. Một số người trở nên tiêu cực, phàn nàn, và thôi thực hiện bổn phận khi gặp phải khó khăn, và họ không thể vực dậy trên đôi chân mình sau mỗi lần thất bại. Hết thảy những người này đều là những kẻ ngốc không yêu lẽ thật, và thậm chí họ có tin cả đời cũng sẽ không có được lẽ thật. Làm sao những kẻ ngốc như thế có thể đi theo đến cùng? Nếu cùng một điều xảy ra với ngươi mười lần, nhưng ngươi không thu được gì từ điều đó, thì ngươi là một kẻ tầm thường, vô dụng. Những người tinh khôn và những người có tố chất thực sự có hiểu biết thuộc linh đều là những người tìm kiếm lẽ thật; nếu điều gì đó xảy ra với họ mười lần, thì có lẽ tám lần trong đó họ có thể có được sự khai sáng nào đó, học được bài học nào đó, hiểu được lẽ thật nào đó và đạt được sự tiến bộ nào đó. Khi mọi thứ xảy đến với một kẻ dại mười lần – một kẻ không có hiểu biết thuộc linh – thì không một lần nào nó sẽ có lợi cho sự sống của họ, không một lần nào nó thay đổi họ và không một lần nào nó khiến họ biết được bộ mặt xấu xí của mình, thế là chấm hết đối với họ. Mỗi lần có chuyện gì xảy ra với họ, họ lại ngã xuống, và mỗi lần ngã xuống, họ lại cần có người khác nâng đỡ và dỗ dành mình; nếu không có sự nâng đỡ và dỗ dành, thì họ không thể gượng dậy được, và mỗi lần có một điều gì đó xảy ra, họ có nguy cơ vấp ngã và sa ngã. Đây chẳng phải là họ tiêu tùng rồi sao? Có lý do nào khác để những người vô dụng như thế được cứu rỗi không? Sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời đối với nhân loại là sự cứu rỗi những người yêu lẽ thật, sự cứu rỗi phần trong họ có ý chí và quyết tâm, và phần trong họ là sự khao khát lẽ thật và sự chính nghĩa trong lòng mình. Quyết tâm của một người là phần trong lòng họ khao khát sự chính nghĩa, điều tốt lành và lẽ thật, và có lương tâm. Đức Chúa Trời cứu rỗi phần này trong con người, và qua đó, Ngài thay đổi tâm tính bại hoại của họ, để họ có thể hiểu và có được lẽ thật, để sự bại hoại của họ được làm cho tinh sạch, và tâm tính sự sống của họ có thể được chuyển hóa. Nếu trong ngươi không có những thứ này, thì ngươi không thể được cứu rỗi. Nếu trong ngươi không có tình yêu đối với lẽ thật hoặc khát vọng đối với chính nghĩa và sự sáng; nếu bất kỳ lúc nào ngươi gặp những thứ tà ác, ngươi đều không có ý chí loại bỏ những điều xấu xa và cũng không quyết tâm chịu đựng gian khổ; hơn nữa, nếu lương tâm của ngươi bị tê liệt; nếu năng lực lĩnh hội lẽ thật của ngươi cũng bị tê liệt, và ngươi không nhạy bén với lẽ thật và các sự việc nảy sinh; và nếu ngươi thiếu sự phân định trong mọi vấn đề và khi đối mặt với bất cứ chuyện gì xảy đến, ngươi không thể tìm kiếm lẽ thật để giải quyết vấn đề và thường xuyên tiêu cực, thì không có cách nào để ngươi được cứu rỗi. Một người như thế không có điểm gì đáng khen, không có gì đáng để Đức Chúa Trời làm công tác. Lương tâm của họ tê liệt, tâm trí của họ bị vẩn đục, và họ không yêu lẽ thật, sâu thẳm trong lòng họ cũng không khao khát sự chính nghĩa, và bất kể Đức Chúa Trời có phán về lẽ thật một cách rõ ràng hay minh bạch thế nào, thì họ cũng không chút phản ứng nào; cứ như thể trái tim họ đã chết rồi. Chẳng phải mọi thứ đã kết thúc với họ rồi sao? Một người còn một chút hơi tàn thì có thể được cứu sống bằng cách hô hấp nhân tạo, nhưng nếu họ đã chết và linh hồn của họ đã bỏ đi, thì hô hấp nhân tạo sẽ không có tác dụng gì cả. Một người khi đối mặt với vấn đề và khó khăn, nếu họ lùi bước và né tránh chúng, họ không hề tìm kiếm lẽ thật, và họ chọn cách tiêu cực và chểnh mảng trong công việc, thì họ đã tỏ lộ con người thật của mình. Những người như vậy không hề có lời chứng trải nghiệm gì. Họ chỉ là những kẻ ăn bám, là phế vật, họ vô dụng trong nhà Đức Chúa Trời và họ đã hoàn toàn tận số. Chỉ những ai có thể tìm kiếm lẽ thật để giải quyết vấn đề mới là người có vóc giạc, và chỉ có họ mới có thể đứng vững trong chứng ngôn. Khi gặp phải vấn đề và khó khăn, ngươi phải bình tĩnh đối mặt, phản ứng đúng cách và ngươi phải đưa ra lựa chọn. Ngươi nên học cách dùng lẽ thật để giải quyết các vấn đề. Cho dù lẽ thật ngươi thường hiểu là sâu sắc hay nông cạn, ngươi cũng nên tận dụng chúng. Lẽ thật không đơn thuần chỉ là những câu chữ phát ra từ miệng ngươi khi có chuyện gì đó xảy đến với ngươi, cũng không phải là dùng để chuyên giải quyết các vấn đề của người khác; mà thay vào đó là dùng chúng để giải quyết các vấn đề và khó khăn mà ngươi gặp phải. Đó là điều quan trọng nhất. Và chỉ khi ngươi giải quyết được vấn đề của chính mình thì ngươi mới có thể giải quyết được vấn đề của người khác. Tại sao nói rằng Phi-e-rơ là một bông trái? Bởi vì trong ông có những điều đáng giá, những điều đáng được hoàn thiện. Ông tìm kiếm lẽ thật trong mọi sự, có quyết tâm và ý chí kiên định; ông có lý trí, sẵn lòng chịu đựng gian khổ, và yêu lẽ thật trong lòng mình; ông không bỏ qua những gì đã xảy ra và ông có thể rút ra những bài học trong mọi sự. Đây đều là những điểm mạnh. Nếu ngươi không có điểm mạnh nào trong số này, thì sẽ rắc rối. Sẽ không dễ dàng để ngươi đạt được lẽ thật và được cứu rỗi. Nếu ngươi không biết cách trải nghiệm hoặc không có trải nghiệm, ngươi sẽ không thể giải quyết những khó khăn của người khác. Vì ngươi không thể thực hành và trải nghiệm lời Đức Chúa Trời, không biết phải làm gì khi có việc xảy đến với mình, và cảm thấy khó chịu và bật khóc khi gặp phải vấn đề, trở nên tiêu cực và bỏ chạy khi phải chịu chút thất bại nhỏ, và mãi mãi không có khả năng phản ứng đúng cách. Bởi tất cả những điều này nên ngươi không thể đạt được lối vào sự sống. Làm sao ngươi có thể cung cấp cho người khác nếu không có lối vào sự sống? Để cung cấp cho sự sống của mọi người, ngươi phải thông công lẽ thật một cách rõ ràng và có thể thông công các nguyên tắc thực hành rõ ràng để giải quyết các vấn đề. Đối với người có tâm và có linh, ngươi chỉ cần nói một chút và họ sẽ hiểu. Nhưng chỉ hiểu được một chút lẽ thật sẽ chẳng ích gì. Họ cũng phải có con đường và các nguyên tắc thực hành. Chỉ điều này mới giúp họ thực hành lẽ thật. Ngay cả khi con người có hiểu biết thuộc linh, và chỉ cần nghe vài lời là họ hiểu, nhưng nếu họ không thực hành lẽ thật thì sẽ không có lối vào sự sống. Nếu họ không thể tiếp nhận lẽ thật thì mọi thứ đã chấm dứt đối với họ, và họ sẽ không bao giờ có thể bước vào những thực tế lẽ thật. Ngươi có thể cầm tay chỉ việc một số người, và khi đó họ có vẻ hiểu được, nhưng ngay khi ngươi buông tay, họ lại trở nên bối rối. Đây không phải là người có hiểu biết thuộc linh. Bất kể vấn đề gì ngươi gặp phải, nếu ngươi đều tiêu cực và yếu đuối, không hề có chứng ngôn, và ngươi không hợp tác trong những việc ngươi nên làm và nên hợp tác, thì điều này chứng tỏ rằng ngươi không có Đức Chúa Trời trong lòng mình, và ngươi không phải là người yêu lẽ thật. Đừng bận tâm đến việc công tác của Đức Thánh Linh cảm thúc con người như thế nào, chỉ đơn thuần dựa vào việc trải nghiệm công tác của Đức Chúa Trời trong nhiều năm, lắng nghe rất nhiều lẽ thật, có chút lương tâm và dựa vào sự tự kiềm chế, chí ít con người cũng có thể đạt được những tiêu chuẩn tối thiểu và không bị lương tâm quở trách, chứ không tê liệt và yếu đuối như bây giờ, chuyện này đúng là không nghĩ đến nổi. Có lẽ trong vài năm qua các ngươi đã trải qua tình trạng hồ đồ, không mưu cầu bất cứ lẽ thật nào hay không có tiến bộ gì cả. Nếu không phải vậy, sao ngươi lại có thể quá tê liệt và đờ đẫn đến vậy? Khi ngươi như thế này là hoàn toàn do sự ngu ngốc và thiếu hiểu biết của ngươi, và ngươi không thể trách ai khác được. Lẽ thật không thiên vị ai, nếu ngươi không tiếp nhận lẽ thật và ngươi không tìm kiếm lẽ thật để giải quyết vấn đề, làm sao ngươi có thể thay đổi được? Một số người cảm thấy tố chất họ quá thấp kém và họ không có năng lực lĩnh hội nên họ tự quy định bản thân, và họ cảm thấy rằng dù họ có mưu cầu lẽ thật đến đâu, họ cũng sẽ không bao giờ có thể đáp ứng được yêu cầu của Đức Chúa Trời. Họ nghĩ rằng dù họ có cố gắng đến đâu thì cũng vô ích, và chỉ đến thế mà thôi, nên họ luôn tiêu cực, và kết quả là thậm chí sau nhiều năm tin Đức Chúa Trời họ vẫn không đạt được lẽ thật nào. Không nỗ lực mưu cầu lẽ thật, mà ngươi nói rằng tố chất của mình quá kém, ngươi buông xuôi bản thân, và luôn sống trong tình trạng tiêu cực. Kết quả là ngươi không hiểu được lẽ thật ngươi nên hiểu hay thực hành lẽ thật trong khả năng của mình, chẳng phải ngươi là người tự cản trở mình sao? Nếu ngươi luôn nói tố chất ngươi không đủ tốt, thì đây chẳng phải là lẩn trốn và né tránh trách nhiệm sao? Nếu ngươi có thể chịu khổ, trả giá và đạt được công tác của Đức Thánh Linh thì chắc chắn ngươi sẽ có thể hiểu được một số lẽ thật và có thể bước vào một số thực tế. Nếu ngươi không trông cậy hay nương cậy nơi Đức Chúa Trời và nếu ngươi buông xuôi bản thân mà không nỗ lực hay trả giá, chỉ đơn giản đầu hàng, thì ngươi là phế vật, không có chút lương tâm và lý trí nào. Dù cho tố chất ngươi kém cỏi hay nổi bật, nếu ngươi có chút lương tâm và lý trí, thì ngươi nên hoàn thành tốt những việc ngươi phải làm và sứ mạng của ngươi; làm một kẻ đào ngũ là một điều khủng khiếp và là một sự phản bội với Đức Chúa Trời. Đây là vô phương cứu vãn. Theo đuổi lẽ thật đòi hỏi một ý chí kiên định, và những người quá tiêu cực hoặc yếu đuối sẽ không đạt được gì. Họ sẽ không thể tin vào Đức Chúa Trời cho đến cùng, và nếu họ mong muốn có được lẽ thật và đạt được sự thay đổi về tâm tính, thì lại càng không có hy vọng. Chỉ những ai có quyết tâm và theo đuổi lẽ thật mới có thể có được nó và được hoàn thiện bởi Đức Chúa Trời.

– Phần 3, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày  Trích đoạn 573

Có nhiều người, ngay khi việc thực hiện bổn phận trở nên bận rộn, thì họ không biết trải nghiệm và không thể duy trì trạng thái bình thường, thế là họ liên tục yêu cầu nhóm họp và thông công lẽ thật cho họ. Chuyện gì đang xảy ra ở đây vậy? Là họ không hiểu lẽ thật, không có nền tảng trên con đường thật, những người như vậy dùng nhiệt huyết mà thực hiện bổn phận, và không thể trụ được lâu. Khi con người không hiểu được lẽ thật thì họ làm việc gì cũng không có nguyên tắc. Nếu sắp xếp cho họ làm chút việc thì họ sẽ làm rối tung nó lên, khi làm việc thì chẳng đâu vào đâu, cũng không tìm kiếm nguyên tắc, trong lòng họ không có sự thuận phục – điều này chứng tỏ rằng họ không yêu lẽ thật và không biết trải nghiệm công tác của Đức Chúa Trời. Bất kể làm việc gì, trước tiên ngươi nên hiểu lý do tại sao ngươi làm việc đó, ý định nào chi phối ngươi, việc ngươi làm có ý nghĩa gì, việc này có tính chất gì, và liệu những gì ngươi đang làm là điều tích cực hay tiêu cực. Những điều này ngươi phải hiểu rõ; chúng là điều tất yếu để ngươi đạt đến hành động có nguyên tắc. Nếu đang làm việc gì đó nằm trong chuyện thực hiện bổn phận, thì ngươi nên suy ngẫm: “Mình nên làm thế nào để có thể làm tốt bổn phận, làm cho tròn mà không qua loa chiếu lệ?”. Trong chuyện này, ngươi nên cầu nguyện và thân cận với Đức Chúa Trời. Cầu nguyện với Đức Chúa Trời chính là để tìm kiếm lẽ thật, tìm kiếm con đường thực hành, ý của Đức Chúa Trời, và cách thỏa mãn Đức Chúa Trời. Cầu nguyện là để đạt được những hiệu quả này. Thực hành cầu nguyện với Đức Chúa Trời, thân cận với Đức Chúa Trời và đọc lời Đức Chúa Trời không phải là nghi thức tôn giáo hay những hành động bề ngoài, mà là để căn cứ theo lẽ thật mà thực hành sau khi tìm kiếm tâm ý của Đức Chúa Trời. Nếu ngươi luôn nói “tạ ơn Đức Chúa Trời” khi ngươi chưa làm bất cứ điều gì, nếu ngươi có vẻ rất thuộc linh và nhìn thấu mọi chuyện, nhưng đến lúc phải hành động, ngươi vẫn làm theo ý mình mà không hề tìm kiếm lẽ thật, thì câu “tạ ơn Đức Chúa Trời” này chỉ là câu cửa miệng, là thuộc linh giả. Khi thực hiện bổn phận, ngươi nên luôn luôn nghĩ rằng: “Tôi nên thực hiện bổn phận này như thế nào? Ý của Đức Chúa Trời là gì?”. Cầu nguyện với Đức Chúa Trời và thân cận với Đức Chúa Trời để tìm kiếm các nguyên tắc và lẽ thật cho những hành động của ngươi, tìm kiếm ý của Đức Chúa Trời trong lòng ngươi, và không rời xa khỏi lời Đức Chúa Trời hay các nguyên tắc của lẽ thật trong bất kỳ điều gì ngươi làm – chỉ đây mới là người thực sự tin Đức Chúa Trời; những người không yêu lẽ thật không làm được những việc này. Có rất nhiều người, bất kể làm gì cũng đều làm theo những ý nghĩ riêng của mình, và nhìn nhận mọi chuyện theo cách rất đơn giản, cũng không tìm kiếm lẽ thật. Họ hoàn toàn không có nguyên tắc nào, và trong lòng họ không nghĩ đến việc làm thế nào để hành động theo những gì Đức Chúa Trời yêu cầu, làm thế nào để thỏa mãn Đức Chúa Trời, mà chỉ biết ngang ngạnh làm theo ý mình. Đức Chúa Trời không có địa vị trong lòng những người như thế. Một số người nói: “Tôi chỉ cầu nguyện với Đức Chúa Trời khi gặp khó khăn, nhưng vẫn cảm thấy như làm thế không có tác dụng gì cả – vì vậy, bây giờ khi gặp chuyện gì đó, tôi không cầu nguyện với Đức Chúa Trời, bởi vì cầu nguyện với Đức Chúa Trời chẳng có ích gì”. Đức Chúa Trời hoàn toàn vắng bóng trong lòng những người như vậy. Bình thường, bất kể họ đang làm gì, họ cũng không tìm kiếm lẽ thật, mà chỉ làm theo những ý riêng của mình. Vậy họ có thể hành động có nguyên tắc không? Chắc chắn là không. Chuyện gì họ cũng nhìn nhận rất đơn giản. Ngay cả khi người ta thông công các nguyên tắc của lẽ thật với họ, họ cũng không tiếp nhận được, bởi từ đầu đến cuối họ hành động không có nguyên tắc, lòng họ không có Đức Chúa Trời mà chỉ có bản thân họ thôi. Họ cảm thấy ý của họ là tốt, cũng không phải là làm việc ác, không bị coi là vi phạm lẽ thật, họ nghĩ rằng hành động theo ý riêng là thực hành lẽ thật, rằng hành động như vậy là thuận phục Đức Chúa Trời. Thực ra, trong chuyện này, họ không thật sự tìm kiếm hay cầu nguyện với Đức Chúa Trời, mà lại dùng nhiệt tâm hành động bốc đồng theo ý riêng, chứ không thực hiện bổn phận như Đức Chúa Trời yêu cầu, họ không có lòng thuận phục Đức Chúa Trời, không có mong muốn này. Đây là sai lầm lớn nhất trong việc thực hành của con người. Nếu ngươi tin Đức Chúa Trời nhưng trong lòng lại không có Ngài, thì chẳng phải ngươi đang cố lừa dối Đức Chúa Trời sao? Và ngươi tin Đức Chúa Trời như vậy thì có thể có tác dụng gì? Ngươi có thể đạt được gì chứ? Và đức tin như vậy vào Đức Chúa Trời thì có ý nghĩa gì?

– Phần 3, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày  Trích đoạn 574

Khi đã làm điều gì đó vi phạm nguyên tắc lẽ thật và làm Đức Chúa Trời không hài lòng, thì ngươi nên phản tỉnh và biết mình như thế nào? Khi chuẩn bị làm điều đó, ngươi có cầu nguyện với Ngài không? Ngươi đã bao giờ ngẫm nghĩ: “Làm theo cách này thì có phù hợp với lẽ thật không? Nếu nó được đưa đến trước mặt Đức Chúa Trời thì Ngài sẽ nhìn vấn đề này như thế nào? Nếu biết về nó, Ngài sẽ vui vẻ hay ác cảm? Ngài có căm ghét, ghê tởm nó không?”. Ngươi đã không tìm kiếm điều đó, phải không? Ngay cả khi được người khác nhắc nhở ngươi, ngươi vẫn sẽ nghĩ rằng chuyện này đâu có gì to tát, không đi ngược lại bất kỳ nguyên tắc nào, cũng không phải là phạm tội. Kết quả là, ngươi đã xúc phạm tâm tính của Đức Chúa Trời và khiến Ngài nổi giận, thậm chí đến mức Ngài khinh ghét ngươi. Điều này là do sự phản nghịch của con người gây ra. Vì vậy, ngươi nên tìm kiếm lẽ thật trong mọi chuyện, đây là điều ngươi phải tuân thủ. Nếu ngươi có thể sốt sắng đến trước Đức Chúa Trời để cầu nguyện trước, và sau đó tìm kiếm lẽ thật theo lời Đức Chúa Trời, ngươi sẽ không sai trật. Ngươi có thể có chút sai lệch trong việc thực hành lẽ thật, nhưng đây là chuyện không thể tránh khỏi, trải nghiệm một vài lần thì ngươi sẽ thực hành chính xác được. Tuy nhiên, nếu ngươi biết hành động như thế nào là phù hợp lẽ thật, nhưng lại không thực hành, thì vấn đề là ngươi không yêu thích lẽ thật. Những ai không yêu lẽ thật thì bất kể gặp chuyện gì cũng không biết tìm kiếm lẽ thật. Chỉ những ai yêu lẽ thật mới có lòng kính sợ Đức Chúa Trời, và khi gặp chuyện mà họ không hiểu, thì họ biết tìm kiếm lẽ thật. Nếu không thể nắm bắt được tâm ý của Đức Chúa Trời và không biết cách thực hành, thì ngươi nên thông công với một vài người hiểu lẽ thật. Nếu không thể tìm được những người hiểu lẽ thật, ngươi nên tìm một vài người có sự lĩnh hội thuần túy để cùng nhau đồng tâm hợp ý cầu nguyện với Đức Chúa Trời, tìm kiếm từ Đức Chúa Trời, chờ đợi thời điểm của Đức Chúa Trời, và chờ Đức Chúa Trời mở ra một con đường cho ngươi. Miễn là tất cả các ngươi đều khao khát lẽ thật, tìm kiếm lẽ thật, và cùng nhau thông công về lẽ thật, thì chưa biết chừng sẽ đến lúc ai đó trong các ngươi nghĩ ra một biện pháp hay. Nếu tất cả các ngươi đều thấy biện pháp đó thích hợp và là một con đường tốt, thì điều này có thể là do sự khai sáng và soi sáng của Đức Thánh Linh. Nếu sau đó các ngươi tiếp tục thông công cùng nhau để tìm ra một con đường thực hành chính xác hơn thì chắc chắn nó sẽ phù hợp với nguyên tắc lẽ thật. Trong khi thực hành, nếu phát hiện ra cách thực hành đó vẫn còn phần nào chưa phù hợp thì ngươi cần mau chóng chỉnh đốn nó. Nếu ngươi phạm lỗi nhẹ, Đức Chúa Trời sẽ không định tội ngươi vì những ý định của ngươi trong việc ngươi làm là đúng đắn và ngươi đang thực hành theo lẽ thật, chỉ là ngươi chưa rõ về các nguyên tắc và mắc lỗi khi thực hành, điều này có thể bỏ qua được. Nhưng hầu hết mọi người khi làm việc, họ làm dựa trên cơ sở họ tưởng tượng chúng sẽ được thực hiện như thế nào. Họ không dùng lời Đức Chúa Trời làm cơ sở để suy ngẫm về cách thực hành sao cho phù hợp với lẽ thật hay là được Đức Chúa Trời khen ngợi. Thay vào đó, họ chỉ nghĩ đến việc làm thế nào để mang lại lợi ích cho bản thân mình, cách để người khác đánh giá cao mình và khâm phục mình. Họ làm mọi việc hoàn toàn dựa trên ý riêng và hoàn toàn là để thỏa mãn bản thân họ, như thế thì phiền phức rồi. Những người như vậy khi làm việc sẽ không có cách nào đạt đến phù hợp với lẽ thật, và Đức Chúa Trời sẽ luôn luôn ghê tởm họ. Nếu ngươi là người thực sự có lương tâm và lý trí, thì dù gặp chuyện gì, ngươi đều nên đến trước Đức Chúa Trời để cầu nguyện và tìm kiếm, có thể nghiêm túc kiểm điểm ý định và sự uế tạp trong việc làm của mình, có thể căn cứ theo lời và yêu cầu của Đức Chúa Trời mà xác định điều gì là phù hợp, đồng thời ngẫm đi ngẫm lại xem hành động nào làm đẹp lòng Đức Chúa Trời, hành động nào làm Đức Chúa Trời căm ghét, và hành động nào được Đức Chúa Trời khen ngợi. Ngươi phải ngẫm đi ngẫm lại những vấn đề này trong đầu cho đến khi hiểu rõ chúng. Nếu biết mình có ý đồ khi làm việc gì đó thì ngươi phải phản tỉnh xem ý đồ đó là gì, liệu đó là để thỏa mãn bản thân ngươi hay để thỏa mãn Đức Chúa Trời, liệu nó là để vì lợi ích cho bản thân ngươi hay cho dân được Đức Chúa Trời chọn, và hậu quả của nó gây ra là gì… Nếu ngươi tìm kiếm và suy ngẫm như thế này nhiều hơn trong lời cầu nguyện, và tự hỏi bản thân nhiều câu hỏi hơn để tìm kiếm lẽ thật, thì những sai lệch trong hành động của ngươi sẽ ngày càng nhỏ hơn. Chỉ những ai có thể tìm kiếm lẽ thật theo cách này mới là người quan tâm đến tâm ý của Đức Chúa Trời và là người kính sợ Đức Chúa Trời. Bởi vì ngươi đang tìm kiếm với căn cứ là yêu cầu của lời Đức Chúa Trời và với tấm lòng thuận phục, thì kết luận ngươi đạt được từ việc tìm kiếm theo cách này sẽ phù hợp với nguyên tắc lẽ thật.

Nếu những hành động của một người tin Đức Chúa Trời mà không liên kết với lẽ thật, thì họ cũng y hệt một người ngoại đạo. Đây là dạng người không có Đức Chúa Trời trong lòng và rời xa Đức Chúa Trời, dạng người này giống như một người làm công được thuê trong nhà Đức Chúa Trời, là người làm một số việc vặt cho chủ, nhận chút tiền công rồi rời đi. Đây căn bản là không phải người tin Đức Chúa Trời. Phải làm gì để có được sự chấp thuận của Đức Chúa Trời là điều nên kiểm điểm đầu tiên và làm cho trọn; nó nên là nguyên tắc và phạm vi làm việc của ngươi. Lý do ngươi nên đánh giá xem những gì ngươi đang làm có hợp với lẽ thật hay không là vì nếu nó hợp với lẽ thật thì nó chắc chắn là hợp tâm ý của Đức Chúa Trời. Không phải là ngươi nên đánh giá vấn đề đúng hay sai, hoặc có hợp thị hiếu của người khác không, có hợp với dục vọng của riêng ngươi không; mà thay vào đó, ngươi nên đánh giá xem liệu nó có hợp với lẽ thật không, có lợi cho công tác và lợi ích của hội thánh không. Nếu cân nhắc những khía cạnh này, thì ngươi sẽ ngày càng hợp tâm ý của Đức Chúa Trời khi làm việc. Nếu ngươi không cân nhắc những khía cạnh này, mà chỉ dựa vào ý mình khi làm việc, thì ngươi đảm bảo sẽ làm sai, bởi ý của con người không phải là lẽ thật, và dĩ nhiên không tương hợp với Đức Chúa Trời. Nếu muốn được Đức Chúa Trời chấp thuận, thì ngươi phải thực hành theo lẽ thật chứ đừng theo ý riêng ngươi. Một số người lấy danh nghĩa là thực hiện bổn phận mà làm việc riêng. Các anh chị em của họ khi ấy thấy làm vậy là không thích hợp thì chỉ trích họ, nhưng những người này không tiếp nhận sự chỉ trích. Họ nghĩ rằng đó là chuyện cá nhân không liên quan đến công tác của hội thánh, không dùng đến tiền bạc hay nhân lực của hội thánh và đó không phải là hành ác, do đó mọi người không nên can dự vào. Một số việc đối với ngươi dường như là chuyện cá nhân, không liên quan đến bất kỳ nguyên tắc hay lẽ thật nào. Tuy nhiên, nhìn vào việc ngươi đã làm, thì ngươi đã rất ích kỷ. Khi làm việc, ngươi không suy xét gì đến công tác của hội thánh hay lợi ích của nhà Đức Chúa Trời, cũng như không quan tâm xem liệu điều này có thỏa mãn Đức Chúa Trời hay không; ngươi chỉ quan tâm đến lợi ích riêng của mình. Chuyện này đã liên quan đến thể thống thánh đồ, cũng như nhân tính của một con người. Cho dù việc ngươi làm không liên quan đến lợi ích của hội thánh, cũng không liên quan đến lẽ thật, nhưng lấy danh nghĩa thực hiện bổn phận để làm việc riêng là điều không hợp với lẽ thật. Bất kể ngươi làm việc gì, bất kể là chuyện lớn hay nhỏ, bất kể là thực hiện bổn phận của ngươi trong nhà Đức Chúa Trời hay làm việc riêng của bản thân, ngươi đều phải xem xét liệu những gì ngươi đang làm có hợp tâm ý của Đức Chúa Trời hay không, cũng như liệu đó có phải là điều mà một người có nhân tính nên làm hay không. Nếu ngươi tìm kiếm lẽ thật như thế trong mọi việc ngươi làm, thì ngươi là một người thực sự tin Đức Chúa Trời. Nếu nghiêm túc với mỗi một chuyện và mỗi một lẽ thật theo cách này, thì ngươi sẽ có thể đạt đến thay đổi tâm tính. Có những người nghĩ rằng: “Bắt tôi thực hành lẽ thật khi tôi thực hiện bổn phận cũng được thôi, nhưng khi lo việc riêng của mình thì tôi không quan tâm lẽ thật nói gì – tôi muốn sao thì làm vậy, làm sao có lợi cho bản thân thì làm”. Trong những lời này, ngươi có thể thấy rằng họ không phải là người yêu lẽ thật, họ làm việc không có nguyên tắc, chỉ cần việc đó có lợi cho họ là được, thậm chí họ còn không màng đến ảnh hưởng của việc đó đối với nhà Đức Chúa Trời. Kết quả là, khi họ đã xong việc gì đó, Đức Chúa Trời không hiện diện với họ, và họ cảm thấy tối tăm và buồn bã, cũng không biết chuyện gì đang xảy ra. Đây chẳng phải là báo ứng họ đáng nhận sao? Nếu ngươi không thực hành lẽ thật trong hành động của mình và làm ô danh Đức Chúa Trời thì ngươi đang đắc tội với Ngài. Nếu người ta không yêu lẽ thật và thường xuyên hành động theo ý mình, thì họ sẽ thường xuyên đắc tội với Đức Chúa Trời, sẽ bị Ngài ghét bỏ và gạt sang một bên. Những gì dạng người như vậy làm thường không được Đức Chúa Trời chấp thuận, và nếu họ không biết hối cải thì sự trừng phạt sẽ không còn xa.

– Phần 3, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày  Trích đoạn 575

Dù ngươi thực hiện bổn phận nào thì bổn phận đó cũng liên quan đến lối vào sự sống. Cho dù bổn phận của ngươi đều đặn hay thất thường, buồn tẻ hay sôi động, ngươi cũng phải luôn có được lối vào sự sống. Một số người thực hiện những bổn phận khá đơn điệu; ngày nào họ cũng làm cùng một việc. Tuy nhiên, khi thực hiện các bổn phận đó, những người này tỏ lộ những trạng thái không hoàn toàn đồng nhất như thế. Đôi lúc, khi tâm trạng tốt, người ta sẽ siêng năng hơn một chút và làm tốt hơn một chút. Khi khác thì do một số ảnh hưởng nào đó, những tâm tính Sa-tan bại hoại của họ kích động bên trong họ, khiến họ có những quan điểm không đúng đắn, khiến họ ở trong trạng thái xấu và tâm trạng xấu; điều này khiến họ thực hiện bổn phận theo cách chiếu lệ. Trạng thái bên trong của con người liên tục thay đổi; chúng có thể thay đổi mọi lúc mọi nơi. Cho dù trạng thái của ngươi thay đổi như thế nào thì hành động dựa trên tâm trạng cũng luôn là cách hành động sai. Giả sử như ngươi làm tốt hơn một chút khi tâm trạng tốt và làm tệ hơn một chút khi tâm trạng xấu – đây có phải là cách làm việc có nguyên tắc không? Liệu làm như vậy, ngươi có thực hiện bổn phận đạt tiêu chuẩn không? Bất kể tâm trạng của con người như thế nào, họ cũng phải biết cầu nguyện trước Đức Chúa Trời và tìm kiếm lẽ thật; chỉ như thế thì họ mới có thể tránh bị tâm trạng của mình chi phối và kìm kẹp. Khi thực hiện bổn phận, ngươi nên luôn tự xem xét liệu mình có đang làm việc theo nguyên tắc hay không, liệu ngươi có thực hiện bổn phận đạt tiêu chuẩn hay không, có đang thực hiện theo cách qua loa chiếu lệ hay không, có cố trốn tránh trách nhiệm không, và liệu có bất kỳ vấn đề nào với thái độ và cách ngươi suy nghĩ không. Một khi ngươi đã tự phản tỉnh và những điều này trở nên rõ ràng đối với ngươi, ngươi sẽ dễ làm tốt bổn phận hơn. Bất kể ngươi gặp phải chuyện gì trong khi thực hiện bổn phận – đang tiêu cực và yếu đuối hay đang ở trong tâm trạng tồi tệ sau khi bị tỉa sửa – thì ngươi cũng phải đối đãi một cách đúng đắn, tìm kiếm lẽ thật và hiểu được tâm ý của Đức Chúa Trời. Như thế, ngươi sẽ có một con đường để thực hành. Nếu ngươi muốn thực hiện bổn phận thật tốt thì ngươi không được để tâm trạng ảnh hưởng mình. Cho dù cảm thấy tiêu cực hay yếu đuối như thế nào, trong mọi việc ngươi làm, ngươi nên thực hành lẽ thật, nghiêm túc tuyệt đối và tuân theo nguyên tắc. Nếu ngươi làm như vậy thì không chỉ những người khác sẽ tán thành ngươi mà cả Đức Chúa Trời cũng sẽ thích ngươi. Như vậy, ngươi sẽ là người có trách nhiệm và gánh vác trọng trách; ngươi sẽ là một người tốt thực sự, thực sự thực hiện bổn phận đạt tiêu chuẩn và là người hoàn toàn sống thể hiện ra hình tượng giống một con người đích thực. Những người như vậy được làm tinh sạch và đạt được sự thay đổi thực sự khi thực hiện bổn phận, và chúng ta có thể nói rằng trong mắt Đức Chúa Trời, họ là người trung thực. Chỉ những ai trung thực mới có thể kiên trì thực hành lẽ thật, hành động có nguyên tắc và có thể thực hiện bổn phận đạt tiêu chuẩn. Những ai hành động theo nguyên tắc thì khi tâm trạng tốt, họ thực hiện bổn phận một cách nghiêm túc tuyệt đối; họ không làm việc theo cách chiếu lệ, không kiêu ngạo và phô trương bản thân để khiến người khác đánh giá cao về họ. Khi tâm trạng tồi tệ, họ có thể hoàn thành các nhiệm vụ hàng ngày theo cách nghiêm túc và có trách nhiệm, ngay cả khi họ gặp phải điều gì đó gây bất lợi cho việc thực hiện bổn phận, gây chút áp lực cho họ hoặc gây nhiễu loạn trong khi họ thực hiện bổn phận, thì họ vẫn có thể lắng lòng trước Đức Chúa Trời và cầu nguyện, thưa rằng: “Cho dù con có gặp phải vấn đề lớn đến mức nào đi chăng nữa – ngay cả khi trời có sập xuống – miễn là con còn sống thì con quyết tâm làm hết sức để làm tròn bổn phận của con. Mỗi ngày con sống là một ngày con phải làm tròn bổn phận, hầu cho con xứng đáng với bổn phận này mà Đức Chúa Trời ban cho con, cũng như hơi thở này mà Ngài đã đưa vào thân thể con. Bất kể có thể gặp phải bao nhiêu khó khăn, con cũng sẽ gạt tất cả sang một bên, bởi vì điều quan trọng nhất là làm tròn bổn phận của con!”. Những ai không bị ảnh hưởng bởi bất kỳ con người, sự việc, sự vật hoặc hoàn cảnh nào, những ai không bị kìm kẹp bởi bất kỳ tâm trạng hoặc hoàn cảnh bên ngoài nào, những ai đặt bổn phận và sự ủy thác mà Đức Chúa Trời đã giao phó cho họ lên trên hết – họ là những người trung thành với Đức Chúa Trời và thực sự quy phục Ngài. Những người như thế này đã có được lối vào sự sống và đã bước vào thực tế lẽ thật. Đây là một trong những biểu hiện chân thực và thực tế nhất của việc sống thể hiện ra lẽ thật.

– Lối vào sự sống bắt đầu bằng việc thực hiện bổn phận, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày  Trích đoạn 576

Đối với một số người, dù cho họ gặp phải vấn đề gì khi thực hiện bổn phận, thì họ cũng không tìm kiếm lẽ thật và họ luôn luôn hành động theo suy nghĩ, quan niệm, trí tưởng tượng và mong muốn của bản thân. Từ đầu đến cuối, họ luôn thỏa mãn tư dục và tâm tính bại hoại của họ kiểm soát hành động của họ. Mặc dù bề ngoài có vẻ họ luôn thực hiện bổn phận nhưng vì họ chưa bao giờ tiếp nhận lẽ thật và không thể làm việc theo các nguyên tắc lẽ thật, nên cuối cùng họ cũng không đạt được lẽ thật và sự sống, trở thành một kẻ đem sức lực phục vụ đúng nghĩa. Vậy thì, những người như thế đang dựa vào điều gì khi thực hiện bổn phận của họ? Họ đang không dựa vào lẽ thật cũng như vào Đức Chúa Trời. Một chút lẽ thật mà họ hiểu được đó đã không nắm được quyền tối thượng trong lòng họ; họ đang dựa vào những ân tứ và tài năng của bản thân, vào bất kỳ sự hiểu biết nào họ có được, cũng như vào nghị lực hay thiện ý của họ để thực hiện những bổn phận này. Và nếu vậy thì, liệu họ có thể thực hiện bổn phận theo một tiêu chuẩn có thể chấp nhận được không? Khi con người dựa vào tính tự nhiên, quan niệm, trí tưởng tượng, chuyên môn và học hỏi để thực hiện bổn phận, thì mặc dù có vẻ như họ đang thực hiện bổn phận và không hành ác, nhưng họ đang không thực hành lẽ thật, và chưa làm được bất kỳ điều gì thỏa lòng Đức Chúa Trời. Cũng còn một vấn đề nữa không thể bỏ qua: Trong quá trình thực hiện bổn phận của mình, nếu các quan niệm, trí tưởng tượng và mong muốn cá nhân của ngươi không bao giờ thay đổi và không bao giờ được thay thế bằng lẽ thật, và nếu hành động và việc làm của ngươi không bao giờ được thực hiện theo các nguyên tắc lẽ thật, thì kết quả cuối cùng sẽ như thế nào? Ngươi sẽ không có lối vào sự sống, ngươi sẽ trở thành một kẻ đem sức lực phục vụ, do đó ứng nghiệm lời của Đức Chúa Jêsus: “Ngày đó, sẽ có nhiều người thưa cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, chúng tôi chẳng từng nhơn danh Chúa mà nói tiên tri sao? Nhơn danh Chúa mà trừ quỉ sao? Và lại nhơn danh Chúa mà làm nhiều phép lạ sao? Khi ấy, ta sẽ phán rõ ràng cùng họ rằng: Hỡi kẻ làm gian ác, ta chẳng biết các ngươi bao giờ, hãy lui ra khỏi ta!” (Ma-thi-ơ 7:22-23). Tại sao Đức Chúa Trời gọi những kẻ ra sức và đem sức lực phục vụ này là những kẻ hành ác? Có một điểm chúng ta có thể chắc chắn, và đó là dù cho những người này thực hiện bổn phận hay công tác gì, thì động cơ, động lực, ý định và suy nghĩ của họ hoàn toàn xuất phát từ tư dục, và chúng hoàn toàn là để bảo vệ lợi ích và tiền đồ của họ, để bảo vệ thể diện và địa vị, để thỏa mãn lòng tham hư vinh của họ. Suy xét và tính toán của họ đều xoay quanh những thứ này, trong lòng họ không có lẽ thật, họ không có tấm lòng kính sợ và thuận phục Đức Chúa Trời. Đây là gốc rễ của vấn đề. Ngày hôm nay, điều gì là quan trọng để các ngươi mưu cầu? Trong mọi sự, ngươi phải tìm kiếm lẽ thật, và ngươi phải thực hiện bổn phận của mình một cách đúng đắn theo tâm ý của Đức Chúa Trời và theo yêu cầu của Đức Chúa Trời. Nếu ngươi làm vậy, ngươi sẽ nhận được sự khen ngợi của Đức Chúa Trời. Vậy, cụ thể thì điều gì liên quan đến việc thực hiện bổn phận theo yêu cầu của Đức Chúa Trời? Trong mọi việc ngươi làm, ngươi phải học cách cầu nguyện với Đức Chúa Trời, ngươi phải suy ngẫm về ý định của mình, suy nghĩ của mình, và liệu những ý định và suy nghĩ này có phù hợp với lẽ thật không; nếu chúng không phù hợp thì phải gạt sang một bên, sau đó ngươi nên hành động theo các nguyên tắc lẽ thật, và chấp nhận sự dò xét của Đức Chúa Trời. Việc này sẽ đảm bảo rằng ngươi đưa lẽ thật vào thực hành. Nếu ngươi có những ý định và mục đích riêng, và nhận thức rõ rằng chúng vi phạm lẽ thật và trái với tâm ý của Đức Chúa Trời nhưng vẫn không cầu nguyện với Đức Chúa Trời và tìm kiếm lẽ thật để có giải pháp thì điều này thật nguy hiểm, ngươi dễ phạm điều ác và làm những việc chống đối Đức Chúa Trời. Nếu ngươi hành ác một hoặc hai lần và ăn năn thì ngươi vẫn còn hy vọng được cứu rỗi. Nếu ngươi cứ liên tục hành ác, nghĩa là phạm đủ mọi kiểu việc ác, mà vẫn không ăn năn, thì ngươi đang gặp phiền phức rồi: Đức Chúa Trời sẽ gạt ngươi sang một bên hoặc từ bỏ ngươi, tức là ngươi có nguy cơ bị đào thải; những người phạm mọi kiểu việc ác chắc chắn sẽ bị trừng phạt và đào thải.

– Phần 3, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày  Trích đoạn 577

Người ta phải hiểu rằng Đấng Tạo Hóa đối xử với các loài thọ tạo thì có một nguyên tắc cơ bản, cũng là nguyên tắc tối cao. Cách Đấng Tạo Hóa đối xử với các loài thọ tạo hoàn toàn dựa trên kế hoạch quản lý của Ngài và theo các yêu cầu công tác của Ngài; Ngài không cần hỏi ý kiến bất kỳ một ai và Ngài cũng không cần bất kỳ một ai đồng ý với Ngài. Ngài nên làm thế nào, nên đối xử thế nào thì Ngài sẽ làm như vậy và đối xử như vậy, và cho dù Ngài làm thế nào hay đối xử với mọi người thế nào thì hết thảy đều phù hợp với các nguyên tắc lẽ thật và các nguyên tắc làm việc của Đấng Tạo Hóa. Là một loài thọ tạo, điều duy nhất cần làm là thuận phục Đấng Tạo Hóa; người ta không nên đưa ra bất kỳ sự lựa chọn nào của riêng mình. Đây là lý trí mà loài thọ tạo phải có, và nếu một người không có nó, thì họ không xứng được gọi là người nữa. Người ta phải hiểu rằng Đấng Tạo Hóa sẽ luôn luôn là Đấng Tạo Hóa; Ngài có quyền lực và tư cách để tùy ý sắp đặt và tể trị bất kỳ loài thọ tạo nào mà không cần lý do. Đây là thẩm quyền của Ngài. Không một loài thọ tạo nào có quyền hoặc tư cách để phán xét xem những gì Đấng Tạo Hóa làm là đúng hay sai, hay Ngài nên hành động như thế nào mới thích hợp. Không một loài thọ tạo nào có tư cách lựa chọn có tiếp nhận sự tể trị và sắp đặt của Đấng Tạo Hóa hay không; và không một loài thọ tạo nào có tư cách đòi hỏi Đấng Tạo Hóa tể trị và sắp đặt số phận họ như thế nào. Đây là lẽ thật tối cao. Dù cho Đấng Tạo Hóa đã làm gì và làm như thế nào với những loài thọ tạo của Ngài, thì loài người thọ tạo chỉ nên làm một việc: tìm kiếm, thuận phục, nhận biết và tiếp nhận mọi sự mà Đấng Tạo Hóa đã làm. Kết quả cuối cùng sẽ là Đấng Tạo Hóa hoàn thành kế hoạch quản lý của Ngài và hoàn tất công tác của Ngài, khiến cho kế hoạch quản lý của Ngài tiến triển mà không gặp bất kỳ trở ngại nào; trong khi đó, bởi vì các loài thọ tạo đã tiếp nhận sự tể trị và sự sắp xếp của Đấng Tạo Hóa, và đã thuận phục sự tể trị và sắp xếp của Ngài, nên họ sẽ đạt được lẽ thật, hiểu được tâm ý của Đấng Tạo Hóa và nhận biết được tâm tính của Ngài. Vẫn còn một nguyên tắc nữa Ta phải nói cho các ngươi biết: Dù cho Đấng Tạo Hóa làm gì, dù Ngài có biểu hiện như thế nào và dù điều Ngài làm là một việc lớn hay việc nhỏ, thì Ngài vẫn là Đấng Tạo Hóa; trong khi hết thảy loài người mà Ngài tạo ra, bất kể họ đã làm những gì và bất kể họ có thể có tài và ân tứ của họ cao đến đâu, thì họ vẫn là loài thọ tạo. Đối với loài người thọ tạo, cho dù họ đã nhận được bao nhiêu ân điển và bao nhiêu phước lành từ Đấng Tạo Hóa, hay bao nhiêu lòng thương xót, từ ái, hay ân đãi thì họ cũng không nên cho rằng bản thân mình nổi trội hơn số đông, hoặc nghĩ rằng họ có thể đứng ngang hàng với Đức Chúa Trời và rằng họ đã trở nên có thứ hạng cao trong số những loài thọ tạo. Bất kể Đức Chúa Trời đã ban cho ngươi bao nhiêu ân tứ, hay Ngài đã ban cho ngươi bao nhiêu ân điển, hay Ngài ân đãi ngươi nhiều đến đâu, hay Ngài đã ban cho ngươi một vài tài năng đặc biệt, thì không điều gì trong số này là vốn liếng của ngươi. Ngươi là một loài thọ tạo và do đó ngươi sẽ mãi mãi là một loài thọ tạo. Ngươi đừng bao giờ nghĩ rằng: “Tôi là một đứa trẻ được yêu chiều trong tay của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ gạt tôi sang một bên, Đức Chúa Trời sẽ luôn có thái độ yêu thương, chăm sóc và âu yếm dịu dàng đối với tôi, bằng những lời thì thầm ấm áp của sự an ủi và khích lệ”. Trái lại, trong mắt của Đấng Tạo Hóa, ngươi cũng giống như hết thảy các loài thọ tạo khác; Đức Chúa Trời có thể sử dụng ngươi theo ý Ngài muốn, và cũng có thể sắp đặt ngươi theo ý Ngài muốn, và Ngài có thể sắp xếp theo ý Ngài để ngươi đóng bất cứ vai trò nào giữa mọi loại người, sự vật, và sự việc. Đây là sự hiểu biết mà mọi người nên có và là lý trí mà họ nên sở hữu. Nếu một người có thể hiểu và tiếp nhận những lời này, thì mối quan hệ của họ với Đức Chúa Trời sẽ phát triển bình thường hơn, và họ sẽ thiết lập một mối quan hệ hợp lý nhất với Ngài; nếu một người có thể hiểu và tiếp nhận những lời này, họ sẽ xác định vị trí của mình một cách thích hợp, đứng đúng vị trí đó và giữ vững bổn phận của mình.

– Chỉ bằng cách hiểu lẽ thật thì mới có thể nhận thức những việc làm của Đức Chúa Trời, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày  Trích đoạn 578

Việc nhận biết Đức Chúa Trời phải dựa vào việc đọc lời Đức Chúa Trời, thực hành và trải nghiệm lời Đức Chúa Trời cũng như trải nghiệm nhiều sự thử luyện, tinh luyện và tỉa sửa; như thế mới có thể có được nhận biết chân thực về công tác của Đức Chúa Trời và tâm tính của Đức Chúa Trời. Có người nói: “Tôi chưa nhìn thấy Đức Chúa Trời nhập thể, vậy thì tôi nên nhận biết Đức Chúa Trời như thế nào?”. Thực ra, lời Đức Chúa Trời là một sự bày tỏ về tâm tính của Ngài. Từ trong lời Đức Chúa Trời, ngươi có thể thấy được tình yêu thương và sự cứu rỗi của Ngài đối với nhân loại, cũng như phương pháp Ngài cứu rỗi họ… Điều này là bởi vì lời Đức Chúa Trời được bày tỏ ra bởi chính Ngài, không phải do con người viết ra. Chúng đã được Đức Chúa Trời đích thân bày tỏ; Đức Chúa Trời đang bày tỏ lời của chính Ngài và tiếng nói của trái tim Ngài, cũng có thể được gọi là lời từ trái tim Ngài. Tại sao chúng được gọi là lời từ trái tim Ngài? Chính vì chúng là những lời được bày tỏ ra từ tận đáy lòng, và chúng bày tỏ tâm tính của Ngài, tâm ý của Ngài, tâm tư và ý niệm của Ngài, tình yêu thương của Ngài đối với nhân loại, sự cứu rỗi của Ngài đối với nhân loại, và sự trông đợi của Ngài đối với nhân loại… Trong những lời phán của Đức Chúa Trời, có một vài lời gay gắt, một vài lời dịu dàng và quan tâm, cũng như một số lời vạch rõ không gần với ý của con người. Nếu chỉ nhìn vào những lời vạch rõ, thì ngươi sẽ cảm thấy rằng Đức Chúa Trời rất nghiêm khắc. Nếu chỉ nhìn vào những lời dịu dàng, thì ngươi sẽ lại cảm thấy rằng Đức Chúa Trời chẳng có bao nhiêu thẩm quyền. Do đó ngươi không thể cắt câu lấy nghĩa; mà phải xem xét chúng từ mọi góc độ. Đôi khi Đức Chúa Trời phán từ một góc độ thương xót con người, thì lúc ấy con người thấy được tình yêu thương của Ngài đối với con người; đôi khi Ngài phán từ một góc độ nghiêm khắc, và lúc ấy con người sẽ thấy rằng tâm tính của Ngài không thể bị xúc phạm, rằng con người bẩn thỉu không chịu nổi, và không xứng đáng được nhìn thấy diện mạo của Đức Chúa Trời hoặc đến trước Ngài, và rằng giờ đây họ đến trước Ngài đơn thuần là ân đãi của Ngài. Một mặt khôn ngoan của Đức Chúa Trời có thể được nhìn thấy qua cách Ngài làm việc và ý nghĩa của công tác của Ngài. Con người vẫn có thể thấy những điều này từ trong lời Đức Chúa Trời, ngay cả khi không tiếp xúc với Ngài. Khi ai đó thật sự có nhận biết về Đức Chúa Trời tiếp xúc với Đấng Christ, thì cuộc gặp gỡ giữa họ với Đấng Christ có thể khớp với những nhận biết của họ về Đức Chúa Trời; tuy nhiên, khi một người chỉ có nhận biết về mặt đạo lý tiếp xúc với Đấng Christ, thì họ không thể nhìn thấy sự tương quan. Lẽ thật về Đức Chúa Trời nhập thể là phương diện sâu sắc nhất của những lẽ mầu nhiệm; con người khó mà lường được. Hãy quy nạp lại những lời Đức Chúa Trời về lẽ mầu nhiệm của sự nhập thể với nhau, nhìn nhận chúng từ mọi góc độ, sau đó hãy cùng nhau cầu nguyện, suy ngẫm và thông công nhiều hơn về phương diện này của lẽ thật. Khi làm như vậy, ngươi sẽ có thể nhận được sự khai sáng của Đức Thánh Linh và khiến cho ngươi có nhận biết. Bởi vì con người không có cơ hội tiếp xúc với Đức Chúa Trời, nên họ phải dựa vào trải nghiệm như thế này để tìm tòi và bước vào từng chút một, cuối cùng mới có thể đạt đến có nhận biết thực sự về Đức Chúa Trời.

– Phần 3, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày  Trích đoạn 579

Nhận biết Đức Chúa Trời có nghĩa là gì? Có nghĩa là có thể hiểu rõ niềm vui, nỗi buồn, sự giận dữ và vui sướng của Ngài, đạt đến nhận biết tâm tính của Ngài – đấy chính là đã thật sự nhận biết Đức Chúa Trời. Ngươi nói rằng ngươi đã nhìn thấy Ngài, nhưng ngươi không hề hiểu rõ niềm vui, nỗi buồn, sự giận dữ và vui sướng của Ngài và ngươi không hiểu rõ tâm tính của Ngài. Ngươi cũng không nhận biết được sự công chính của Ngài cũng như lòng thương xót của Ngài, ngươi cũng không nhận biết được Ngài yêu thích những gì hay Ngài căm ghét những gì. Đây không phải là sự nhận biết về Đức Chúa Trời. Một số người có thể đi theo Đức Chúa Trời nhưng chưa chắc đã thực sự tin Đức Chúa Trời. Thực sự tin Đức Chúa Trời là thuận phục Đức Chúa Trời. Những ai không thực sự thuận phục Đức Chúa Trời thì không thực sự tin Đức Chúa Trời – sự khác biệt nằm ở đây. Khi ngươi đã đi theo Đức Chúa Trời được mấy năm, đã có nhận biết và hiểu biết về Đức Chúa Trời, khi ngươi hiểu và nắm chắc một chút tâm ý của Đức Chúa Trời, khi ngươi biết được sự dụng tâm vất vả của Đức Chúa Trời trong việc cứu rỗi con người, ngươi sẽ có thể thực sự tin Đức Chúa Trời, thực sự thuận phục Đức Chúa Trời, thực sự yêu kính Đức Chúa Trời và thực sự thờ phượng Đức Chúa Trời. Nếu ngươi tin Đức Chúa Trời nhưng không mưu cầu nhận biết Ngài, và không hiểu rõ tâm ý của Đức Chúa Trời, tâm tính của Đức Chúa Trời cùng công tác của Đức Chúa Trời một chút nào, thì ngươi chỉ là một người đi theo, đi theo chạy việc vặt và thuận theo đám đông. Đó không thể được gọi là sự thuận phục chân thực, càng không thể gọi là sự thờ phượng chân thực. Sự thờ phượng chân thực nảy sinh như thế nào? Tất cả những người nhìn thấy Đức Chúa Trời và thực sự nhận biết Đức Chúa Trời không một ai là không thờ phượng và kính sợ Ngài; họ đều phải phủ phục và cúi lạy Ngài. Hiện tại, trong khi Đức Chúa Trời nhập thể đang làm việc, con người càng nhận biết về tâm tính của Ngài và về những gì Ngài có và là gì, họ sẽ càng cảm thấy trân trọng những điều này và họ sẽ càng kính sợ Ngài. Nói chung, con người càng ít nhận biết về Đức Chúa Trời, họ càng bất cẩn và vì thế họ đối xử với Đức Chúa Trời như với con người. Nếu con người thực sự nhận biết và nhìn thấy Đức Chúa Trời, họ sẽ kinh sợ, run rẩy và cúi rạp xuống đất. “Ðấng đến sau ta có quyền phép hơn ta, ta không đáng xách giày Ngài” (Ma-thi-ơ 3:11) – tại sao Giăng nói điều này? Mặc dù trong lòng ông không có một sự nhận biết quá sâu sắc về Đức Chúa Trời, nhưng ông biết rằng Đức Chúa Trời đáng kính sợ. Hiện tại có bao nhiêu người có thể kính sợ Đức Chúa Trời? Nếu họ không nhận biết tâm tính của Đức Chúa Trời, thì làm sao họ có thể kính sợ Ngài? Nếu con người không nhận biết thực chất của Đấng Christ cũng như không hiểu rõ tâm tính của Đức Chúa Trời, họ sẽ càng không thể thực sự thờ phượng Đức Chúa Trời thực tế. Nếu họ chỉ nhìn thấy bề ngoài phổ thông và bình thường của Đấng Christ, nhưng không nhận biết thực chất của Ngài, thì họ dễ dàng đối xử với Đấng Christ như là một người bình thường. Họ có thể dùng thái độ khinh mạn đối với Ngài và có thể lừa dối Ngài, chống đối Ngài, phản nghịch Ngài và xét đoán Ngài. Họ có thể tự cho mình là đúng và không coi trọng lời Ngài; họ thậm chí có thể nảy sinh các quan niệm, lên án và báng bổ Đức Chúa Trời. Để giải quyết những vấn đề này, người ta phải nhận biết thực chất và thần tính của Đấng Christ. Đây là phương diện chính của việc nhận biết Đức Chúa Trời; đó là những gì người tin Đức Chúa Trời thực tế phải bước vào và đạt được.

– Phần 3, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt

Trước: Lối vào sự sống V

Tiếp theo: Đích đến và kết cục

Hồi chuông thời sau hết báo động đã vang lên, đại thảm họa đã ập xuống, bạn có muốn cùng gia đình nghênh đón được Thiên Chúa, và có cơ hội nhận được sự che chở của Thiên Chúa không?

Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời Về việc biết Đức Chúa Trời Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt Vạch rõ kẻ địch lại Đấng Christ Chức trách của lãnh đạo và người làm công Về việc mưu cầu lẽ thật Về việc mưu cầu lẽ thật Sự phán xét khởi từ nhà Đức Chúa Trời Những lời trọng yếu từ Đức Chúa Trời Toàn Năng, Đấng Christ của thời kỳ sau rốt Lời Đức Chúa Trời Hằng Ngày Các thực tế lẽ thật mà người tin Đức Chúa Trời phải bước vào Theo Chiên Con Và Hát Những Bài Ca Mới Những chỉ dẫn cho việc truyền bá phúc âm của vương quốc Chiên của Đức Chúa Trời nghe tiếng của Đức Chúa Trời Lắng nghe tiếng Đức Chúa Trời thấy được sự xuất hiện của Đức Chúa Trời Những câu hỏi và câu trả lời thiết yếu về Phúc Âm của Vương quốc Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 1) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 2) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 3) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 4) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 5) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 6) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 7) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 8) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 9) Tôi Đã Quay Về Với Đức Chúa Trời Toàn Năng Như Thế Nào

Cài đặt

  • Văn bản
  • Chủ đề

Màu Đồng nhất

Chủ đề

Phông

Kích cỡ Phông

Khoảng cách Dòng

Khoảng cách Dòng

Chiều rộng Trang

Mục lục

Tìm kiếm

  • Tìm kiếm văn bản này
  • Tìm kiếm cuốn sách này

Liên hệ với chúng tôi qua Messenger