Chúng tôi chào đón tất cả những ai tìm kiếm lẽ thật liên hệ với chúng tôi.

Lời xuất hiện trong xác thịt

Màu Đồng nhất

Chủ đề

Phông

Kích cỡ Phông

Khoảng cách Dòng

Chiều rộng Trang

0 kết quả

Không tìm thấy kết quả nào

Ngươi đứng ở đâu trong mười ba thư tín?

Tân Ước của Kinh Thánh chứa mười ba thư tín của Phao-lô. Trong suốt thời gian làm công tác, Phao-lô đã viết mười ba bức thư này cho các hội thánh tin vào Jêsus Christ. Nghĩa là, Phao-lô đã được cất lên và viết những bức thư này sau khi Jêsus thăng thiên. Các bức thư của ông là những chứng ngôn về sự phục sinh và thăng thiên của Đức Chúa Jêsus sau sự chết của Ngài, và chúng cũng loan báo cách thức ăn năn và vác thập tự giá. Dĩ nhiên, tất cả những thông điệp và chứng ngôn này nhằm để dạy các anh chị em ở những nơi khác nhau quanh Giu-đê vào thời đó, bởi khi ấy, Phao-lô là tôi tớ của Đức Chúa Jêsus, và ông đã được cất lên để làm chứng cho Đức Chúa Jêsus. Trong mỗi giai đoạn công tác của Đức Thánh Linh, nhiều người khác nhau đã được cất lên để thực hiện những công tác khác nhau của Ngài, nghĩa là, làm công tác của các sứ đồ nhằm tiếp tục công tác mà Đức Chúa Trời đích thân hoàn thành. Nếu Đức Thánh Linh đã làm việc ấy một cách trực tiếp, và không ai được cất lên, thì sẽ rất khó để công tác được thực hiện. Như thế, Phao-lô đã trở thành người bị ngã trên đường đến Đa-mách, và người sau đó đã được cất lên để làm chứng nhân cho Đức Chúa Jêsus. Ông là một sứ đồ bên cạnh mười hai môn đồ của Jêsus. Ngoài loan báo Phúc Âm, ông cũng đảm nhiệm công tác chăn dắt các hội thánh ở những nơi khác nhau, liên quan đến việc coi sóc các anh chị em của hội thánh – nói cách khác là dẫn dắt các anh chị em trong Chúa. Chứng ngôn của Phao-lô là để truyền ra sự kiện phục sinh và thăng thiên của Đức Chúa Jêsus, cũng như dạy mọi người ăn năn, xưng tội, và đi theo con đường thập tự giá. Ông là một trong những chứng nhân của Jêsus Christ vào thời đó.

Mười ba thư tín của Phao-lô được chọn để sử dụng trong Kinh Thánh. Ông đã viết tất cả mười ba thư tín để giải quyết những tình trạng khác nhau của mọi người ở những nơi khác nhau. Ông đã được Đức Thánh Linh cảm thúc để viết chúng, và đã dạy các anh chị em ở khắp nơi với tư cách là một sứ đồ (từ vị trí một kẻ tôi tớ của Đức Chúa Jêsus). Như vậy, các bức thư của Phao-lô đã không phát xuất từ những lời tiên tri hay trực tiếp từ các khải tượng, mà đến từ công tác mà ông đảm nhiệm. Những bức thư này không kỳ lạ, cũng không khó hiểu như những lời tiên tri. Chúng được viết đơn giản như những bức thư, và không bao gồm những lời tiên tri hay lẽ mầu nhiệm; chúng chỉ hàm chứa những lời hướng dẫn thông thường. Mặc dù nhiều lời lẽ trong ấy có thể khó để mọi người nắm bắt hay khó hiểu, chúng chỉ phát xuất từ sự diễn dịch của riêng Phao-lô và từ sự khai sáng của Đức Thánh Linh. Phao-lô chỉ là một sứ đồ; ông là một kẻ tôi tớ được Đức Chúa Jêsus sử dụng, chứ không phải là một tiên tri. Khi đi qua những vùng đất khác nhau, ông đã viết những bức thư gửi các anh chị em ở các hội thánh, hoặc, khi đau yếu, ông đã viết cho những hội thánh mà ông cho là đặc biệt nhưng lại không thể đến. Theo đó, những bức thư của ông được người ta giữ và sau đó được các thế hệ tương lai tập hợp, tổ chức và sắp xếp sau bốn sách Phúc Âm trong Kinh Thánh. Dĩ nhiên, họ chọn lựa và tổng hợp tất cả những bức thư hay nhất mà ông đã viết. Các bức thư này có lợi cho sự sống của các anh chị em ở các hội thánh, và đặc biệt có tiếng trong thời của ông. Khi Phao-lô viết chúng, mục đích của ông không phải là để viết một tác phẩm tôn giáo cho phép các anh chị em của ông tìm con đường thực hành hay một tiểu sử tôn giáo để bày tỏ những trải nghiệm của riêng mình; ông đã không dự định viết một cuốn sách để trở thành tác giả. Ông đơn thuần viết những bức thư cho các anh chị em ở hội thánh của Đức Chúa Jêsus Christ. Phao-lô đã dạy các anh chị em của ông, từ thân phận là một kẻ tôi tớ, để nói với họ về trọng trách của ông, về ý muốn của Đức Chúa Jêsus, và về những nhiệm vụ mà Ngài đã giao phó cho con người trong tương lai. Đây là công tác mà Phao-lô đã thực hiện. Những lời của ông khai trí tương đối cho trải nghiệm của tất cả các anh chị em trong tương lai. Những lẽ thật mà ông đã truyền đạt trong nhiều thư này là điều mà con người trong Thời đại Ân điển phải thực hành, đó là lý do tại sao những bức thư này được các thế hệ sau đó đưa vào Tân Ước. Dù kết cục của Phao-lô cuối cùng là thế nào, ông đã là người được sử dụng trong thời đại của mình, và là người đã hỗ trợ các anh chị em mình trong các hội thánh. Kết cục của ông được xác định bởi bản tính của ông, cũng như việc ông bị ngã lúc đầu. Ông có thể nói những lời đó vào khi ấy là bởi ông đã sở hữu công tác của Đức Thánh Linh, và chính bởi công tác này mà Phao-lô đã mang một trọng trách đối với các hội thánh. Như thế, ông có thể chu cấp cho các anh chị em mình. Tuy nhiên, do những hoàn cảnh đặc biệt nhất định, cá nhân Phao-lô không thể đi đến các hội thánh để làm công tác, do đó ông đã viết thư cho họ để khuyên bảo các anh chị em mình trong Chúa. Lúc đầu, Phao-lô đã ngược đãi các môn đồ của Đức Chúa Jêsus, nhưng sau khi Jêsus thăng thiên – nghĩa là, sau khi Phao-lô “nhìn thấy ánh sáng” – ông đã thôi ngược đãi các môn đồ của Đức Chúa Jêsus, và không còn ngược đãi những vị thánh rao giảng Phúc Âm vì con đường của Đức Chúa Trời. Sau khi Phao-lô trông thấy Jêsus hiện ra với ông như một quầng sáng rực rỡ, ông đã nhận sự ủy thác của Đức Chúa Trời, và do vậy đã trở thành người được Đức Thánh Linh sử dụng để loan báo Phúc Âm.

Công tác của Phao-lô khi ấy đơn thuần là để hỗ trợ và chu cấp cho các anh chị em mình. Ông không giống như một số người muốn tạo dựng sự nghiệp hay sáng tác ra những tác phẩm văn chương, khám phá những lối thoát khác, hay tìm những con đường khác ngoài Kinh Thánh để dẫn dắt những người trong các hội thánh theo đó, hầu cho họ đều có thể đạt được lối vào mới. Phao-lô là một người được sử dụng; khi làm những việc ông đã làm, ông đơn thuần hoàn thành bổn phận của mình. Nếu ông không mang trọng trách đối với các hội thánh, thì ông sẽ bị coi là lơ là bổn phận của mình. Nếu điều gì đó gây rối xảy ra, hoặc có một trường hợp phản bội trong hội thánh dẫn tới trạng thái bất thường của những người ở đó, vậy thì ông có thể bị coi là đã không thực hiện công tác của mình một cách đúng đắn. Nếu một cộng sự mang trọng trách với hội thánh, và cũng làm hết khả năng mình, vậy thì điều này chứng tỏ rằng người này là một cộng sự đủ tư cách – đủ tư cách để được sử dụng. Nếu một người không cảm thấy có trọng trách với hội thánh, không đạt được kết quả gì trong công tác của mình, và hầu hết những người mà họ dẫn dắt đều yếu đuối hay thậm chí sa ngã, vậy thì người cộng sự ấy chưa hoàn thành bổn phận của mình. Tương tự, Phao-lô cũng không ngoại lệ, đây là lý do tại sao ông phải coi sóc các hội thánh và thường xuyên viết thư cho các anh chị em mình. Chỉ bằng cách này ông mới có thể chu cấp cho các hội thánh và coi sóc các anh chị em mình; chỉ bằng cách này các hội thánh mới có thể nhận được sự cung cấp và chăn dắt từ ông. Những lời trong các bức thư mà ông viết rất sâu sắc, nhưng chúng được viết cho các anh chị em với điều kiện là ông đã đạt được sự khai sáng của Đức Thánh Linh, và ông đã đan kết những trải nghiệm cá nhân và trọng trách mà mình cảm nhận vào trong bài viết của mình. Phao-lô đơn thuần là một người được Đức Thánh Linh sử dụng, và nội dung các bức thư của ông đều đan xen với những trải nghiệm cá nhân. Công tác mà ông đã làm đơn giản là đại diện cho công tác của một sứ đồ, không phải là công tác được thực hiện trực tiếp bởi Đức Thánh Linh, và nó cũng khác với công tác của Đấng Christ. Phao-lô đơn thuần hoàn thành bổn phận của mình, đó là lý do vì sao ông chu cấp cho các anh chị em trong Chúa bằng trọng trách của mình, cũng như những trải nghiệm cá nhân và sự thông sáng của mình. Phao-lô đơn giản đang thực hiện công tác được Đức Chúa Trời ủy thác bằng cách cung cấp những sự thông sáng và hiểu biết của cá nhân mình; đây hiển nhiên không phải là trường hợp công tác được chính Đức Chúa Trời thực hiện trực tiếp. Như thế, công tác của Phao-lô bị trộn lẫn với trải nghiệm con người và với những quan điểm cùng sự hiểu biết của con người về công tác của hội thánh. Tuy nhiên, không thể nói những quan điểm và sự hiểu biết của con người này là công tác của những tà linh hay công tác của thịt và huyết, mà chỉ có thể nói chúng là kiến thức và những trải nghiệm của một người đã được Đức Thánh Linh khai sáng. Ta nói thế nghĩa là những bức thư của Phao-lô không phải là những quyển sách từ trời. Chúng không thánh khiết, và hoàn toàn không được phán hay bày tỏ bởi Đức Thánh Linh; chúng đơn thuần là sự thể hiện trọng trách của Phao-lô đối với hội thánh. Mục đích của Ta khi nói tất cả điều này là để làm cho các ngươi hiểu sự khác biệt giữa công tác của Đức Chúa Trời và công tác của con người: công tác của Đức Chúa Trời đại diện cho chính Đức Chúa Trời, trong khi công tác của con người thì đại diện cho bổn phận và những trải nghiệm của con người. Người ta không nên coi công tác bình thường của Đức Chúa Trời là ý muốn của con người và công tác siêu nhiên của Ngài là ý muốn của Đức Chúa Trời; hơn nữa, người ta không nên coi lời rao giảng cao quý của con người là những lời phán của Đức Chúa Trời hay những cuốn sách từ trời. Tất cả những quan điểm như thế đều trái luân lý. Khi nghe Ta mổ xẻ mười ba thư tín của Phao-lô, nhiều người tin rằng không nên đọc những bức thư của Phao-lô, và rằng Phao-lô là một người vô cùng tội lỗi. Thậm chí có nhiều người nghĩ rằng những lời của Ta là vô cảm, rằng đánh giá của Ta về các thư tín của Phao-lô là không chính xác, và rằng những bức thư ấy không thể được coi là những sự bày tỏ về các trải nghiệm và trọng trách của con người. Họ tin rằng thay vào đó, chúng nên được coi là lời Đức Chúa Trời, rằng chúng cũng quan trọng như Sách Khải Huyền của Giăng, rằng chúng không thể bị rút ngắn hay thêm thắt, và hơn nữa, chúng không thể được giải thích cách tùy tiện. Chẳng phải tất cả những sự quả quyết này của con người là không chính xác sao? Chẳng phải điều đó hoàn toàn là vì mọi người không có óc suy xét sao? Những bức thư của Phao-lô rất có lợi cho mọi người, và chúng đã có lịch sử hơn 2.000 năm. Tuy nhiên, cho đến hôm nay, vẫn có nhiều người không thể thấu rõ những gì ông nói vào lúc ấy. Người ta xem những bức thư của Phao-lô là những tuyệt tác vĩ đại nhất trong khắp Cơ Đốc giáo, và rằng không ai có thể làm sáng tỏ chúng, và không ai có thể hiểu chúng hoàn toàn. Trên thực tế, những bức thư này chỉ giống như tiểu sử của một người theo tôn giáo, và không thể được so sánh với lời của Jêsus hay những khải tượng vĩ đại mà Giăng đã nhìn thấy. Trái lại, điều mà Giăng đã thấy là những khải tượng vĩ đại từ trời – những lời tiên tri về công tác của riêng Đức Chúa Trời – điều mà con người không thể đạt được, trong khi những bức thư của Phao-lô thì đơn thuần là sự miêu tả về những gì con người đã thấy và trải nghiệm. Chúng là điều thuộc khả năng của con người, mà không phải là những lời tiên tri hay khải tượng; chúng đơn giản là những bức thư được gửi đến những nơi khác nhau. Tuy nhiên, đối với con người vào thời đó, Phao-lô là một cộng sự, và do vậy những lời của ông có giá trị, bởi ông là người đã chấp nhận những gì được giao phó cho ông. Do vậy, những bức thư của ông có lợi cho hết thảy những ai tìm kiếm Đấng Christ. Mặc dù những lời ấy không được Jêsus đích thân phán, nhưng sau hết, chúng vẫn thiết yếu đối với thời đại của chúng. Như thế, những người đi sau Phao-lô đã đưa những bức thư của ông vào Kinh Thánh, từ đó cho phép chúng được truyền lại cho đến ngày nay. Các ngươi có hiểu ý Ta không? Ta đơn giản là đang cho các ngươi lời giải thích chính xác về những bức thư này, và mổ xẻ chúng mà không phủ nhận lợi ích và giá trị tham khảo của chúng đối với mọi người. Nếu, sau khi đọc những lời của Ta, các ngươi không chỉ phủ nhận những bức thư của Phao-lô, mà còn xác định chúng là dị giáo hay vô giá trị, thì chỉ có thể nói rằng khả năng hiểu của các ngươi quá kém, và sự thông sáng, óc suy xét của các ngươi về mọi việc cũng vậy; tất nhiên không thể nói rằng những lời của Ta quá phiến diện. Bây giờ các ngươi hiểu chứ? Những điều quan trọng mà các ngươi cần hiểu rõ chính là tình hình thực tế trong công tác của Phao-lô vào thời ấy và bối cảnh viết những bức thư của ông. Nếu các ngươi có cái nhìn đúng về những hoàn cảnh này, thì các ngươi cũng sẽ có cái nhìn đúng về các thư tín của Phao-lô. Đồng thời, một khi các ngươi đã hiểu thấu thực chất của những bức thư ấy, sự đánh giá Kinh Thánh của ngươi sẽ đúng đắn, và khi ấy ngươi sẽ hiểu tại sao các thư tín của Phao-lô lại được các thế hệ sau thờ phượng trong nhiều năm như vậy, cũng như tại sao thậm chí nhiều người xem ông như Đức Chúa Trời. Đó chẳng phải là điều các ngươi cũng sẽ nghĩ, nếu các ngươi không hiểu sao?

Người không phải là chính Đức Chúa Trời không thể đại diện cho chính Đức Chúa Trời. Công tác của Phao-lô chỉ có thể được nói là một phần cái nhìn của con người và một phần trong sự khai sáng của Đức Thánh Linh. Phao-lô đã viết những lời này từ quan điểm của con người, với sự khai sáng từ Đức Thánh Linh. Đây không phải là điều hiếm thấy. Do đó, không thể tránh được việc những lời của ông bị trộn lẫn với một số trải nghiệm con người, và sau đó ông dùng những trải nghiệm cá nhân của riêng mình để chu cấp và hỗ trợ các anh chị em vào thời ấy. Những bức thư ông viết không thể được phân loại là nghiên cứu cuộc sống, cũng không thể được phân loại là tiểu sử hay sứ điệp. Hơn nữa, chúng cũng không phải là những lẽ thật được hội thánh thực hành và cũng không phải là các sắc lệnh quản trị hội thánh. Là người có trọng trách – một người được Đức Thánh Linh phân công làm công tác – đây là điều họ đơn giản phải làm. Nếu Đức Thánh Linh nâng con người lên và ban cho họ một trọng trách, nhưng họ không đảm nhận công tác của hội thánh, và không thể quản lý tốt các sự vụ, hay giải quyết thỏa đáng mọi vấn đề của hội thánh, vậy thì điều này chứng tỏ rằng những người đó không hoàn thành bổn phận của mình một cách đúng đắn. Do đó, không phải là điều mầu nhiệm khi một sứ đồ có thể viết những bức thư trong thời gian công tác của mình. Đây là một phần công việc của họ; họ buộc phải làm điều đó. Mục đích của họ khi viết những bức thư này không phải là để viết bài nghiên cứu về cuộc sống hay một tiểu sử tôn giáo, và tuyệt đối chắc chắn không phải là để mở ra một lối thoát mới cho các thánh đồ. Thay vào đó, họ làm việc ấy để hoàn thành chức năng của mình và là kẻ tôi tớ trung thành với Đức Chúa Trời, hầu cho họ có thể giải trình với Đức Chúa Trời bằng cách hoàn thành các nhiệm vụ mà Ngài đã giao phó cho họ. Họ phải có trách nhiệm với chính mình và các anh chị em trong công tác của họ, và họ phải làm tốt công việc của mình cũng như tận tâm với các sự vụ của hội thánh: Toàn bộ điều này chỉ là một phần công việc của họ.

Nếu các ngươi đã có được sự hiểu biết về những bức thư của Phao-lô, các ngươi cũng sẽ có sự hiểu biết và đánh giá đúng về các thư tín của cả Phi-e-rơ lẫn Giăng. Các ngươi sẽ không bao giờ xem những bức thư này là những cuốn sách từ trời, thánh khiết và bất khả xâm phạm nữa, càng không coi Phao-lô là Đức Chúa Trời. Suy cho cùng, công tác của Đức Chúa Trời khác với công tác của con người và, hơn nữa, làm sao những sự bày tỏ của Ngài có thể giống như của họ được? Đức Chúa Trời có tâm tính riêng của Ngài, trong khi con người có những bổn phận mà họ phải hoàn thành. Tâm tính của Đức Chúa Trời được bày tỏ trong công tác của Ngài, trong khi bổn phận của con người được biểu hiện trong những trải nghiệm của con người và được thể hiện trong những sự mưu cầu của con người. Do vậy, thông qua công tác được thực hiện, việc liệu một điều gì đó là sự bày tỏ của Đức Chúa Trời hay sự bày tỏ của con người trở nên rõ ràng. Điều này không cần chính Đức Chúa Trời phải giải thích, cũng không cần con người cố gắng làm chứng; hơn nữa, điều này không cần chính Đức Chúa Trời phải áp chế bất kỳ ai. Toàn bộ điều này đến như một sự mặc khải tự nhiên, không bị ép buộc và cũng không phải là điều mà con người có thể xen vào. Bổn phận của con người có thể được biết đến thông qua những trải nghiệm của họ, và không yêu cầu mọi người làm bất cứ công tác thực nghiệm nào thêm. Toàn bộ thực chất của con người có thể được bộc lộ khi họ thực hiện bổn phận của mình, trong khi Đức Chúa Trời có thể bày tỏ tâm tính vốn có của Ngài trong lúc thực hiện công tác của Ngài. Nếu đó là công tác của con người, thì nó không thể bị che đậy. Nếu đó là công tác của Đức Chúa Trời, thì tâm tính của Đức Chúa Trời thậm chí càng không thể bị che giấu bởi bất kỳ ai, càng không bị kiểm soát bởi con người. Không thể nói một con người nào là Đức Chúa Trời, và công tác cũng như những lời của họ cũng không thể được coi là thánh khiết hay bất biến. Có thể nói Đức Chúa Trời là con người bởi Ngài mặc lấy xác thịt, nhưng không thể coi công tác của Ngài là công tác hay bổn phận của con người. Hơn nữa, những lời phán của Đức Chúa Trời và những bức thư của Phao-lô không thể được đánh đồng, và sự phán xét, hình phạt của Đức Chúa Trời không thể được nói đến ngang hàng với những lời hướng dẫn của con người. Do vậy, có những nguyên tắc phân biệt công tác của Đức Chúa Trời với công tác của con người. Những điều này được phân biệt theo thực chất của chúng, chứ không phải bởi phạm vi công tác hay tính hiệu quả nhất thời. Về chủ đề này, hầu hết mọi người đều nhầm lẫn về nguyên tắc. Đây là vì con người nhìn vào bề ngoài, điều mà họ có thể đạt được, trong khi Đức Chúa Trời thì nhìn vào thực chất, là điều không thể được quan sát bởi mắt thường của nhân loại. Nếu ngươi coi những lời và công tác của Đức Chúa Trời là những bổn phận của một người bình thường, và coi công tác quy mô lớn của con người là công tác của Đức Chúa Trời mặc lấy xác thịt, hơn là bổn phận mà con người hoàn thành, vậy thì chẳng phải ngươi đang nhầm lẫn về nguyên tắc sao? Những bức thư và tiểu sử của con người có thể được viết dễ dàng, nhưng chỉ trên nền tảng công tác của Đức Thánh Linh. Tuy nhiên, những lời phán và công tác của Đức Chúa Trời không thể được làm trọn một cách dễ dàng bởi con người hay đạt được bởi sự khôn ngoan và tư duy của con người, và con người cũng không thể giải thích chúng một cách thấu đáo sau khi khám phá chúng. Nếu những vấn đề nguyên tắc này không gợi lên bất kỳ phản ứng nào trong các ngươi, vậy thì đức tin của các ngươi rõ ràng là không chân thật hay chưa được tinh luyện cho lắm. Chỉ có thể nói rằng đức tin của các ngươi đầy sự mơ hồ, vừa rối mù và vừa vô luân lý. Khi thậm chí không hiểu những vấn đề thiết yếu cơ bản nhất về Đức Chúa Trời và con người, chẳng phải dạng đức tin này là dạng hoàn toàn thiếu khả năng nhận thức sao? Làm sao Phao-lô có thể là người duy nhất được sử dụng xuyên suốt toàn bộ lịch sử? Làm sao ông có thể là người duy nhất từng làm việc cho hội thánh? Làm sao ông có thể là người duy nhất đã viết cho các hội thánh để hỗ trợ họ? Bất kể quy mô hay tầm ảnh hưởng của công tác của những người này, hay thậm chí những kết quả công tác của họ, chẳng phải các nguyên tắc và thực chất của công tác ấy đều tương tự nhau sao? Chẳng phải có những điều về nó hoàn toàn khác với công tác của Đức Chúa Trời sao? Mặc dù có những điểm khác biệt rõ ràng giữa từng giai đoạn trong công tác của Đức Chúa Trời, và mặc dù nhiều phương pháp hoạt động của Ngài không hoàn toàn như nhau, nhưng chẳng phải tất cả đều chỉ có một thực chất và nguồn gốc duy nhất sao? Theo đó, nếu một người vẫn không rõ về những điều này lúc này, vậy thì họ quá thiếu lý trí. Sau khi đọc những lời này, nếu một người vẫn nói những bức thư của Phao-lô là thánh khiết, bất khả xâm phạm và khác với các tiểu sử của bất kỳ nhân vật tôn giáo nào, vậy thì sự lý luận của người này quá bất thường, và một người như thế hẳn là một chuyên gia giáo điều hoàn toàn thiếu óc suy xét. Ngay cả khi ngươi thờ phượng Phao-lô, ngươi không thể dùng những tình cảm nồng nhiệt của mình với ông để bóp méo sự thật về sự việc hay bác bỏ sự tồn tại của lẽ thật. Hơn nữa, những điều Ta đã nói không khi nào thiêu hủy toàn bộ công tác và những bức thư của Phao-lô hay hoàn toàn phủ nhận giá trị tham khảo của chúng. Dù thế nào, ý định của Ta khi nói những lời này là để các ngươi có được sự hiểu biết đúng đắn và sự đánh giá hợp lý về mọi sự và mọi người: Chỉ đây mới là lý trí bình thường; chỉ đây mới là điều mà những người công chính sở hữu lẽ thật phải trang bị cho mình.

Trước:Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời của muôn loài thọ tạo

Tiếp theo:Thành công hay thất bại phụ thuộc vào con đường mà con người đi

Nội dung liên quan