2. Các mục sư và trưởng lão của giới tôn giáo đều thông thạo Kinh Thánh và thường dẫn giải về Kinh Thánh cho người khác, yêu cầu mọi người tuân thủ Kinh Thánh. Khi làm như vậy, chẳng phải là họ đề cao và chứng thực cho Chúa sao? Làm sao các bạn có thể nói rằng họ đang lừa dối mọi người, rằng họ là những người Pha-ri-si giả hình?
Lời Đức Chúa Trời có liên quan:
Nhìn vào những người lãnh đạo của mỗi tôn giáo và giáo phái – họ đều kiêu ngạo và tự cho mình là đúng, và những giải thích của họ về Kinh Thánh theo kiểu cắt câu lấy nghĩa và được hướng dẫn bởi những quan niệm và trí tưởng tượng của chính họ. Hết thảy họ đều dựa vào các ân tứ và kiến thức để thực hiện công việc của mình. Nếu họ không thể giảng gì cả thì liệu mọi người có đi theo họ không? Xét cho cùng, họ có một số tri thức và có thể giảng một số đạo lý nào đó, hoặc họ biết cách lôi kéo người khác và sử dụng một số mưu mẹo nào đó. Họ sử dụng những thứ này để lừa dối mọi người và để đưa mọi người đến trước mặt họ. Trên danh nghĩa, những người đó tin vào Đức Chúa Trời, nhưng thực ra, họ đi theo những người lãnh đạo này. Khi họ gặp ai đó đang rao giảng về con đường thật, một số trong số họ nói rằng: “Chúng tôi phải hỏi ý kiến lãnh đạo của chúng tôi về những vấn đề đức tin”. Hãy xem người ta cần sự đồng tình và chấp thuận của người khác như thế nào khi nói đến việc tin Đức Chúa Trời và tiếp nhận con đường thật – chẳng phải đây là vấn đề sao? Vậy, những nhà lãnh đạo kia đã trở thành gì? Chẳng phải họ đã trở thành người Pha-ri-si, những kẻ chăn chiên giả, những kẻ địch lại Đấng Christ và những chướng ngại vật cản trở mọi người chấp nhận con đường thật sao?
– Phần 3, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt
Bất kỳ ai không hiểu mục đích công tác của Đức Chúa Trời đều là kẻ chống đối Ngài, và người nào đã hiểu được mục đích công tác của Đức Chúa Trời nhưng vẫn không mưu cầu để làm thỏa lòng Đức Chúa Trời thì thậm chí càng bị xem là người chống đối Đức Chúa Trời nhiều hơn. Có những người đọc Kinh Thánh trong những nhà thờ lớn và đọc thuộc lòng nó suốt cả ngày, nhưng không ai trong số họ hiểu được mục đích công tác của Đức Chúa Trời. Không ai trong số họ có thể biết Đức Chúa Trời; càng không ai trong số họ có thể phù hợp với tâm ý của Đức Chúa Trời. Họ đều là những người vô giá trị, hèn hạ, tất cả đều đứng trên cao để dạy bảo “Đức Chúa Trời”. Họ đều mượn danh nghĩa Đức Chúa Trời mà cố ý chống đối Ngài, đều mang cái mác là tin Đức Chúa Trời mà ăn thịt và uống huyết của con người. Tất cả những kẻ như thế là những ác quỷ nuốt linh hồn của con người, những ác quỷ cầm đầu cố tình quấy nhiễu con người trong việc đi trên con đường đúng đắn, và là những chướng ngại vật cản trở người ta tìm kiếm Đức Chúa Trời. Họ có thể ra vẻ có “thể phách tráng kiện”, nhưng làm sao những người đi theo họ biết rằng họ không ai khác hơn là những kẻ địch lại Đấng Christ, là những người dẫn dắt con người chống đối Đức Chúa Trời? Làm sao những người đi theo họ biết rằng họ là những con quỷ sống chuyên môn nuốt chửng linh hồn của con người? Những ai tự cho mình là cao quý trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời là những kẻ thấp hèn nhất, trong khi những ai nghĩ mình thấp hèn thì là những người cao quý nhất. Và những ai nghĩ rằng mình biết công tác của Đức Chúa Trời và, hơn nữa, có khả năng rao truyền công tác của Đức Chúa Trời cho những người khác với sự phô trương quá ầm ĩ khi họ nhìn thẳng vào Ngài – đây là những kẻ ngu dốt nhất. Những người như thế đều không có lời chứng về Đức Chúa Trời, đều kiêu ngạo và tự phụ. Những ai tin rằng họ có quá ít kiến thức về Đức Chúa Trời, mặc dù có kinh nghiệm thực tiễn và kiến thức thực tế về Ngài, là những người được Ngài yêu quý nhất. Chỉ những người như thế mới thực sự có lời chứng và thực sự có khả năng được Đức Chúa Trời làm cho hoàn thiện.
– Tất cả những ai không biết Đức Chúa Trời đều là những người chống đối Đức Chúa Trời, Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời
Bởi vì ngươi tin Đức Chúa Trời, nên ngươi phải đặt đức tin mình vào mọi lời của Đức Chúa Trời và vào mọi công tác của Ngài. Điều đó có nghĩa là, vì ngươi tin Đức Chúa Trời, ngươi phải thuận phục Ngài. Nếu ngươi không thể làm điều này, thì ngươi có tin Đức Chúa Trời hay không cũng không quan trọng. Nếu ngươi đã tin Đức Chúa Trời trong nhiều năm, nhưng chưa từng thuận phục Ngài, và không chấp nhận toàn bộ những lời của Ngài, mà thay vào đó, ngươi lại yêu cầu Đức Chúa Trời phục tùng ngươi và hành động theo các quan niệm của ngươi, thì ngươi là kẻ phản nghịch nhất trong tất cả, ngươi là một người không tin. Làm sao những kẻ như thế có thể thuận phục công tác và lời của Đức Chúa Trời, những điều không phù hợp với các quan niệm của con người? Phản nghịch nhất trong tất cả là những kẻ cố ý không thuận phục và chống lại Đức Chúa Trời. Họ là những kẻ thù của Đức Chúa Trời, những kẻ địch lại Đấng Christ. Thái độ của họ luôn thù địch với công tác mới của Đức Chúa Trời; họ chưa bao giờ có một chút khuynh hướng thuận phục nào, cũng chưa bao giờ vui vẻ thuận phục hay hạ mình. Trước mặt mọi người, họ cho mình là cao nhất và không bao giờ thuận phục bất kỳ ai. Trước Đức Chúa Trời, họ tự cho mình là người giỏi nhất trong việc giảng đạo, và là người khéo nhất trong việc tác động đến người khác. Họ không bao giờ vứt bỏ “những báu vật” mình đang sở hữu, mà xem chúng như những vật gia truyền để thờ lạy, để giảng cho người khác nghe, và họ dùng chúng để lên lớp cho những kẻ ngu thần tượng họ. Thật sự có một số người như thế trong hội thánh. Có thể nói họ là “những anh hùng bất khuất”, tạm trú trong nhà Đức Chúa Trời từ thế hệ này sang thế hệ khác. Họ xem việc giảng đạo (giáo lý) là bổn phận cao cả nhất của họ. Năm này qua năm khác, thế hệ này đến thế hệ khác, họ lo thi hành mạnh mẽ bổn phận “thiêng liêng và bất khả xâm phạm” của mình. Không ai dám đụng đến họ; không một ai dám công khai trách cứ họ. Họ trở thành “những ông vua” trong nhà Đức Chúa Trời, họ lộng hành khi áp chế những người khác từ thời này đến thời khác. Bầy quỷ này tìm cách chung tay và phá hủy công tác của Ta; làm sao Ta có thể để mấy con quỷ sống này tồn tại trước mắt Ta? Ngay cả những người chỉ thuận phục nửa vời cũng không thể tiếp tục đến cuối cùng, chứ đừng nói đến những kẻ bạo ngược không hề có chút thuận phục nào trong lòng này! Công tác của Đức Chúa Trời không dễ gì đạt được bởi con người. Dù có dùng hết sức bình sinh, mọi người cũng chỉ có thể có được một phần của nó, cuối cùng cho phép họ được làm cho hoàn thiện. Vậy đối với con cháu của thiên sứ trưởng, những kẻ tìm cách phá hoại công tác của Đức Chúa Trời thì sao? Chẳng phải chúng càng chẳng có hy vọng được Đức Chúa Trời thu nhận sao?
– Những ai thuận phục Đức Chúa Trời với một tấm lòng chân thật chắc chắn sẽ được Đức Chúa Trời thu nhận, Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời
Ngươi có thể nói về số lượng kiến thức nhiều như số lượng những hạt cát trên bãi biển, nhưng không kiến thức nào trong số đó có bất kỳ con đường thực sự nào. Chẳng phải ngươi đang tìm cách đánh lừa mọi người bằng cách này sao? Chẳng phải ngươi đang dựng nên một vẻ bề ngoài rỗng tuếch, không có thực chất nào hỗ trợ cho nó sao? Tất cả những hành vi như vậy đều có hại cho mọi người! Lý thuyết càng cao và càng không có hiện thực, thì càng không có khả năng đưa con người vào hiện thực. Lý thuyết càng cao, thì càng khiến cho ngươi phản nghịch và chống đối Đức Chúa Trời. Đừng nâng niu lý thuyết tâm linh – nó chẳng có ích lợi gì! Một số người đã nói về thuyết tâm linh trong nhiều thập kỷ, và họ đã trở thành những ông trùm về thuyết tâm linh, nhưng cuối cùng, họ vẫn không thể bước vào thực tế lẽ thật. Bởi vì họ chưa thực hành hoặc trải nghiệm lời Đức Chúa Trời, nên họ không có nguyên tắc hay con đường để thực hành. Những người như thế này là chính họ mà không có thực tế lẽ thật, vậy thì làm sao họ có thể đưa những người khác đi đúng hướng của đức tin nơi Đức Chúa Trời? Họ chỉ có thể dẫn mọi người đi lạc lối. Chẳng phải điều này làm hại người khác và hại chính họ sao? Chí ít, ngươi phải có thể giải quyết các vấn đề thực tế đang ở ngay trước mắt ngươi. Có nghĩa là, ngươi phải có thể thực hành và cảm nghiệm những lời của Đức Chúa Trời, và đưa lẽ thật vào thực hành. Chỉ như vậy mới là thuận phục Đức Chúa Trời. Chỉ khi có lối vào sự sống, ngươi mới có đủ tư cách để làm việc cho Đức Chúa Trời, và chỉ khi ngươi chân thành dâng mình cho Đức Chúa Trời thì ngươi mới được Đức Chúa Trời chấp thuận. Đừng luôn đưa ra những tuyên bố trọng đại và những bài nói về lý thuyết khoa trương; điều này là không thật. Việc làm ra vẻ biết tuốt về lý thuyết tâm linh để khiến mọi người ngưỡng mộ ngươi không phải là chứng thực cho Đức Chúa Trời, mà đúng hơn là phô trương bản thân ngươi. Điều này tuyệt đối không có lợi gì cho mọi người và không khai trí họ, và có thể dễ dẫn đến việc họ tôn thờ lý thuyết tâm linh và không tập trung vào việc thực hành lẽ thật – và chẳng phải điều này khiến người ta lạc lối sao? Tiếp tục như vậy sẽ làm phát sinh vô số lý thuyết và quy tắc sáo rỗng ràng buộc và đánh bẫy mọi người; điều này thực sự là đáng xấu hổ.
– Tập trung hơn vào hiện thực, Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời
Sở dĩ người Pha-ri-si giả hình, và tà ác vì họ chán ghét lẽ thật nhưng lại thích tri thức, nên họ chỉ nghiên cứu Thánh Kinh và mưu cầu tri thức Thánh Kinh, mà không hề tiếp nhận lẽ thật hay lời Đức Chúa Trời. Khi đọc lời Đức Chúa Trời, họ không cầu nguyện với Ngài, cũng không tìm kiếm hay thông công về lẽ thật. Thay vào đó, họ nghiên cứu lời Đức Chúa Trời, nghiên cứu những gì Đức Chúa Trời phán và làm, qua đó biến lời Đức Chúa Trời thành một dạng lý luận, một dạng học thuyết để dạy người khác, đây gọi là nghiên cứu học thuật. Tại sao họ lại nghiên cứu học thuật? Họ đang nghiên cứu cái gì? Trong mắt họ, đây không phải là lời Đức Chúa Trời hay sự bày tỏ của Đức Chúa Trời, càng không phải là lẽ thật, mà chỉ là một loại học vấn, hoặc thậm chí có thể nói nó là tri thức thần học. Trong mắt họ, truyền bá tri thức này, học vấn này, mới là rao truyền con đường của Đức Chúa Trời, là rao truyền phúc âm – đây là cái họ gọi là truyền đạo, nhưng tất cả những gì họ truyền đạo chỉ là tri thức thần học mà thôi.
…Người Pha-ri-si xem những lý luận thần học mà họ nắm vững như là tri thức và là công cụ để đánh giá và kết tội mọi người, thậm chí còn sử dụng nó với Đức Chúa Jêsus. Đây chính là cách Đức Chúa Jêsus bị kết tội. Cách họ đánh giá và đối xử với người ta không bao giờ dựa trên thực chất của người đó, cũng không dựa trên việc liệu những điều người đó giảng có phải là lẽ thật hay không, càng không dựa trên nguồn gốc của lời người đó nói – họ chỉ dựa trên những quy định, câu chữ và đạo lý mà họ nắm vững trong Thánh Kinh Cựu Ước để đánh giá và kết tội. Mặc dù trong lòng người Pha-ri-si biết rằng những gì Đức Chúa Jêsus nói và làm không phải là phạm tội hay vi phạm luật pháp, nhưng họ vẫn muốn kết tội Ngài, bởi vì những lẽ thật Ngài bày tỏ và những dấu kỳ, phép lạ Ngài thực hiện khiến nhiều người đi theo và xưng tụng Ngài. Người Pha-ri-si ngày càng thù hận Ngài, thậm chí còn muốn diệt trừ Ngài. Họ không thừa nhận Đức Chúa Jêsus là Đấng Mê-si sẽ đến, cũng không thừa nhận lời Ngài có lẽ thật, càng không thừa nhận việc Ngài làm phù hợp với lẽ thật. Họ xét đoán Đức Chúa Jêsus là nói lời ngạo mạn và dựa vào quỷ vương Bê-ên-xê-bun mà trừ quỷ. Việc họ có thể gán những tội danh này cho Đức Chúa Jêsus cho thấy trong lòng họ thù hận Ngài đến mức nào. Vì thế, họ kịch liệt phủ nhận Đức Chúa Jêsus là do Đức Chúa Trời phái đến, phủ nhận Ngài là con của Đức Chúa Trời và là Đấng Mê-si. Ý họ là: “Đức chúa trời mà làm kiểu này sao? Nếu đức chúa trời nhập thể thì ngài phải sinh ra trong một gia tộc danh giá, phải nhận sự dạy dỗ từ các thầy thông giáo và từ người Pha-ri-si. Ngài phải nghiên cứu Thánh Kinh một cách hệ thống, nắm vững tri thức Thánh Kinh và có đủ toàn bộ tri thức Thánh Kinh, thì mới có thể mang danh ‘đức chúa trời nhập thể’”. Nhưng Đức Chúa Jêsus không có tri thức này, nên họ kết tội Ngài, nói rằng: “Thứ nhất, ngài không đủ tư cách như thế, nên ngài không thể là đức chúa trời được. Thứ hai, không có tri thức Thánh Kinh này, ngài không làm được công tác của đức chúa trời, càng không thể là đức chúa trời. Thứ ba, ngài không được công tác ngoài đền thờ – hiện nay ngài không làm việc trong đền thờ, mà luôn ở giữa những kẻ có tội, công tác ngài làm ở ngoài phạm vi của Thánh Kinh, nên ngài càng không thể là đức chúa trời”. Cơ sở kết tội của họ đến từ đâu? Từ Thánh Kinh, từ trí óc của con người, và từ sự giáo dục thần học mà họ nhận được. Bởi vì người Pha-ri-si chứa đầy những quan niệm, tưởng tượng và tri thức, nên họ cho rằng tri thức này là đúng đắn, là lẽ thật, là căn cứ, và Đức Chúa Trời không khi nào có thể công tác trái với những điều này. Họ có tìm kiếm lẽ thật không? Không. Họ tìm kiếm điều gì? Một đức chúa trời siêu nhiên hiện ra dưới dạng linh thể. Vì thế, họ dùng quan niệm, tưởng tượng và tri thức của con người mà quy định công tác của Đức Chúa Trời, phủ nhận công tác của Đức Chúa Trời, đánh giá Đức Chúa Trời đúng hay sai. Làm như vậy thì kết quả cuối cùng là gì? Họ không những kết tội công tác của Đức Chúa Trời, mà còn đóng đinh Đức Chúa Trời nhập thể lên thập tự giá.
– Mục 7. Họ tà ác, nham hiểm và giả dối (Phần 3), Lời, Quyển 4 – Vạch rõ kẻ địch lại Đấng Christ
Nhiều người giữ lời Đức Chúa Trời để đọc ngày qua ngày, thậm chí tới mức cẩn thận ghi nhớ tất cả các đoạn kinh điển trong đó như thể đó là tài sản quý giá nhất của họ, và ngoài ra còn rao giảng lời Đức Chúa Trời khắp nơi, cung cấp và trợ giúp những người khác bằng phương tiện là lời Ngài. Họ nghĩ rằng làm như vậy là làm chứng cho Đức Chúa Trời, làm chứng cho lời Ngài, rằng làm như vậy là tuân theo con đường của Đức Chúa Trời; họ nghĩ rằng làm như vậy là sống theo lời Đức Chúa Trời, rằng làm như vậy là đưa lời Ngài vào đời sống thực tế của họ, rằng làm như vậy sẽ cho phép họ nhận được sự khen ngợi của Đức Chúa Trời, được cứu rỗi và hoàn thiện. Nhưng, ngay cả khi họ rao giảng lời Đức Chúa Trời, họ không bao giờ tuân theo lời Đức Chúa Trời trong thực hành, hay cố gắng so bản thân với những gì được vạch rõ trong lời Đức Chúa Trời. Thay vào đó, họ dùng lời Đức Chúa Trời để có được sự mến mộ và tin tưởng của những người khác bằng thủ đoạn gian trá, để tự mình bước vào sự quản lý, để biển thủ và cướp đi vinh quang của Đức Chúa Trời. Một cách hão huyền, họ hy vọng sử dụng cơ hội có được bằng cách loan truyền lời Đức Chúa Trời để đạt được công tác của Đức Chúa Trời và sự khen ngợi của Ngài. Bao nhiêu năm đã trôi qua, nhưng những người này không chỉ không thể nhận được sự khen ngợi của Đức Chúa Trời trong quá trình rao giảng lời Đức Chúa Trời, và họ không chỉ không thể khám phá con đường mà họ nên tuân theo trong quá trình làm chứng cho lời Đức Chúa Trời, và họ không chỉ không trợ giúp hay cung cấp cho bản thân trong quá trình trợ giúp và cung cấp cho những người khác bằng phương tiện là lời Đức Chúa Trời, và họ không chỉ không thể biết Đức Chúa Trời, hay đánh thức sự kính sợ đích thực trong bản thân họ đối với Đức Chúa Trời, trong quá trình thực hiện hết thảy những điều này; mà trái lại, những sự hiểu lầm của họ về Đức Chúa Trời ngày càng sâu hơn bao giờ hết, sự ngờ vực của họ với Ngài càng trầm trọng hơn bao giờ hết, và những sự tưởng tượng của họ về Ngài càng cường điệu hơn bao giờ hết. Được cung cấp và hướng dẫn bởi những lý thuyết của họ về lời Đức Chúa Trời, họ trông như thể hoàn toàn làm chủ tình hình, như thể ra sức vận dụng các kỹ năng của họ một cách dễ dàng, như thể họ đã tìm thấy mục đích trong cuộc đời, sứ mệnh của họ, và như thể họ đã giành được sự sống mới và được cứu rỗi, như thể, với những lời của Đức Chúa Trời vanh vách tuôn ra từ miệng lưỡi khi trích giảng, họ đã có được lẽ thật, nắm bắt được tâm ý của Đức Chúa Trời, và khám phá ra con đường biết Đức Chúa Trời, như thể, trong quá trình rao giảng lời Đức Chúa Trời, họ thường đối diện với Đức Chúa Trời. Ngoài ra, họ cũng thường “xúc động” đến phát khóc, và thường được dẫn dắt bởi “Đức Chúa Trời” trong lời Đức Chúa Trời, họ trông như liên tục nắm bắt được sự lao tâm khổ tứ của Ngài, và đồng thời nắm bắt được sự cứu rỗi con người của Đức Chúa Trời và việc quản lý của Ngài, biết được thực chất của Ngài, và hiểu tâm tính công chính của Ngài. Trên cơ sở này, họ dường như càng vững tin hơn vào sự tồn tại của Đức Chúa Trời, biết rõ hơn về trạng thái cao quý của Ngài, và cảm nhận sâu hơn sự vĩ đại và siêu phàm của Ngài. Chìm trong nhận thức hời hợt về lời Đức Chúa Trời, trông có vẻ như đức tin của họ đã phát triển, quyết tâm chịu khổ của họ đã được củng cố, và nhận thức của họ về Đức Chúa Trời đã sâu xa hơn. Họ ít nhận biết rằng, cho đến khi họ thật sự trải nghiệm lời Đức Chúa Trời, toàn bộ nhận thức của họ về Đức Chúa Trời và những ý tưởng của họ về Ngài đều phát xuất từ trí tưởng tượng và sự phỏng đoán theo mong muốn của họ. Đức tin của họ sẽ không qua được bất kỳ dạng thử thách nào từ Đức Chúa Trời, cái gọi là thuộc linh và vóc giạc của họ sẽ đơn giản là không qua được sự thử luyện hoặc kiểm nghiệm của Đức Chúa Trời, quyết tâm của họ chỉ như một lâu đài xây trên cát, và cái gọi là nhận thức của họ về Đức Chúa Trời thì không hơn một sự tưởng tượng. Trên thực tế, những người này, những người đã bỏ rất nhiều nỗ lực vào lời Đức Chúa Trời, chưa từng nhận ra đức tin thật sự là gì, sự thuận phục thật sự là gì, sự quan tâm thật sự là gì, hay nhận thức thật sự về Đức Chúa Trời là gì. Họ lấy lý thuyết, trí tưởng tượng, kiến thức, ân tứ, truyền thống, sự mê tín, và thậm chí cả những giá trị đạo đức của loài người, biến chúng thành “vốn” và “vũ khí” cho việc tin vào Đức Chúa Trời và đi theo Ngài, thậm chí biến chúng thành những nền tảng cho đức tin vào Đức Chúa Trời và việc đi theo Ngài của họ. Đồng thời, họ cũng lấy vốn và vũ khí này và biến chúng thành bùa phép để biết Đức Chúa Trời, để đối mặt và đối phó với những sự kiểm nghiệm, thử luyện, hình phạt, và phán xét của Đức Chúa Trời. Cuối cùng, điều họ thu được vẫn không gì khác hơn là những kết luận về Đức Chúa Trời nhuốm màu ý nghĩa tôn giáo, sự mê tín phong kiến, và tất cả những gì lãng mạn, kỳ dị, và khó hiểu. Cách nhận biết và định nghĩa Đức Chúa Trời của họ được đóng trong cùng một khuôn mẫu như của những người chỉ tin vào Trời Cao, hay Ông Trời, trong khi sự thực tế của Đức Chúa Trời, thực chất của Ngài, tâm tính của Ngài, những gì Ngài có và là, v.v. – hết thảy những gì liên quan tới chính Đức Chúa Trời thật – là những điều mà nhận thức của họ đã không nắm bắt được, hoàn toàn không liên quan và thậm chí đối lập. Theo cách này, mặc dù họ sống dưới sự cung cấp và nuôi dưỡng của lời Đức Chúa Trời, thế nhưng họ vẫn không thể thật sự bước trên con đường kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác. Nguyên nhân thật sự cho điều này là họ chưa bao giờ trở nên quen với Đức Chúa Trời, họ cũng chưa bao giờ có sự tiếp xúc hay tương giao đích thực với Ngài, và do đó họ không thể đạt được sự hiểu biết qua lại với Đức Chúa Trời, hay đánh thức trong họ đức tin, sự đi theo, hay thờ phượng đích thực đối với Đức Chúa Trời. Quan điểm và thái độ của họ đối với lời Đức Chúa Trời và Đức Chúa Trời như vậy đã định rằng họ sẽ chẳng có được thu hoạch gì, chẳng bao giờ có thể đi trên con đường kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác. Mục tiêu mà họ đang nhắm tới, và đường hướng mà họ đang đi, biểu thị họ là kẻ thù của Đức Chúa Trời suốt muôn đời, và họ suốt muôn đời sẽ không bao giờ có thể nhận lãnh sự cứu rỗi.
– Lời tựa, Lời, Quyển 2 – Về việc biết Đức Chúa Trời