IV. Sự nhập thể

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày Trích đoạn 99

“Sự nhập thể” là sự xuất hiện của Đức Chúa Trời trong xác thịt; Đức Chúa Trời làm việc giữa loài người thọ tạo trong hình ảnh của xác thịt. Vì vậy để Đức Chúa Trời nhập thể được, thì trước tiên Ngài phải trở nên xác thịt, một xác thịt với nhân tính bình thường; đây là điều kiện tiên quyết cơ bản nhất. Trên thực tế, sự nhập thể của Đức Chúa Trời có hàm ý rằng Đức Chúa Trời sống và làm việc trong xác thịt, rằng Đức Chúa Trời trong chính thực chất của mình trở nên xác thịt, trở nên một con người. Đời sống và công tác trong xác thịt của Ngài có thể được chia làm hai giai đoạn. Giai đoạn đầu tiên là đời sống mà Ngài sống trước khi thi hành chức vụ của mình. Ngài sống trong một gia đình của con người bình thường, trong một nhân tính hoàn toàn bình thường, tuân theo các đạo lý và luật lệ bình thường trong đời sống con người, với những nhu cầu bình thường của con người (thực phẩm, quần áo, sự nghỉ ngơi, nơi cư trú), có những khiếm khuyết và cảm xúc của con người bình thường. Nói cách khác, trong giai đoạn đầu tiên này Ngài sống trong nhân tính hoàn toàn bình thường, không mang thần tính, tham gia vào tất cả những hoạt động bình thường của con người. Giai đoạn thứ hai là đời sống mà Ngài sống sau khi bắt đầu thi hành chức vụ. Ngài vẫn ở trong nhân tính bình thường với một vỏ bọc con người bình thường, không tỏ ra bên ngoài một dấu hiệu nào về sự siêu nhiên. Tuy nhiên Ngài sống hoàn toàn vì chức vụ của mình, và trong thời gian này nhân tính bình thường của Ngài hiện hữu một cách trọn vẹn để duy trì công việc bình thường trong thần tính của Ngài, bởi khi đó nhân tính bình thường của Ngài đã chín chắn đến mức Ngài có thể thi hành chức vụ của mình. Vì vậy, giai đoạn thứ hai trong cuộc đời của Ngài là thi hành chức vụ của Ngài trong nhân tính bình thường của mình, khi đó là một đời sống của cả nhân tính bình thường lẫn hoàn toàn thần tính. Lý do tại mà Ngài sống trong một nhân tính hoàn toàn bình thường trong suốt giai đoạn đầu trong cuộc đời của mình là vì nhân tính của Ngài chưa thể duy trì toàn bộ công tác thần tính, vì nó chưa chín chắn; chỉ sau khi nhân tính của Ngài trở nên chín chắn, trở nên có khả năng gánh vác chức vụ của mình thì Ngài mới có thể bắt đầu thi hành chức vụ mà Ngài phải thi hành. Vì Ngài cần trưởng thành và trở nên chín chắn trong tư cách là xác thịt, nên giai đoạn đầu tiên trong cuộc đời của Ngài là một giai đoạn trong nhân tính bình thường – trong khi trong giai đoạn thứ hai, bởi vì nhân tính của Ngài đã có thể thực hiện công tác và thi hành chức vụ của mình, nên đời sống mà Đức Chúa Trời nhập thể sống trong thời gian thi hành chức vụ của Ngài là một đời sống trong cả nhân tính lẫn hoàn toàn thần tính. Nếu Đức Chúa Trời nhập thể chính thức bắt đầu chức vụ của mình từ ngay khi ra đời, thực hiện các phép lạ và dấu lạ siêu nhiên, thì Ngài sẽ không có một bản thể vật chất. Do đó, nhân tính của Ngài tồn tại vì bản thể vật chất của mình; không thể có xác thịt mà không có nhân tính, và một người không có nhân tính thì không phải là một con người. Theo cách này, nhân tính trong xác thịt của Đức Chúa Trời là một thuộc tính nội tại trong xác thịt nhập thể của Đức Chúa Trời. Nếu nói rằng “khi Đức Chúa Trời trở nên xác thịt thì Ngài là hoàn toàn là thần thánh, và hoàn toàn không phải con người”, thì đó là một sự phạm thượng, bởi vì những lời như thế hoàn toàn sáo rỗng, và trái với nguyên tắc nhập thể. Ngay cả sau khi Ngài bắt đầu thi hành chức vụ của mình, Ngài vẫn sống trong thần tính của Ngài dưới một vỏ bọc con người khi Ngài thực hiện công tác; chỉ là vào lúc đó, nhân tính của Ngài chỉ phục vụ mục đích duy nhất là cho phép thần tính của Ngài thực hiện công tác trong xác thịt bình thường. Vì vậy tác nhân của công việc là thần tính ngự trong nhân tính của Ngài. Thần tính của Ngài chứ không phải nhân tính của Ngài đang hành động, tuy nhiên thần tính này được ẩn giấu trong nhân tính của Ngài; về thực chất, công tác của Ngài được thực hiện hoàn toàn bởi thần tính của Ngài, không phải bởi nhân tính của Ngài. Nhưng người trình diễn công tác lại là xác thịt của Ngài. Người ta có thể nói rằng Ngài là một con người và cũng là Đức Chúa Trời, bởi Đức Chúa Trời trở thành một Đức Chúa Trời sống trong xác thịt, dưới một vỏ bọc con người và một thực chất con người nhưng cũng với thực chất của Đức Chúa Trời. Bởi vì Ngài là một con người có thực chất của Đức Chúa Trời, nên Ngài cao trọng hơn mọi con người được tạo dựng nên, cao hơn bất kỳ ai có thể thực hiện công tác của Đức Chúa Trời. Và vì thế, trong số tất cả những ai có vỏ bọc con người giống như Ngài, trong số tất cả những ai có nhân tính, thì chỉ mình Ngài là chính Đức Chúa Trời nhập thể – tất cả những người khác đều là con người được tạo dựng. Mặc dù họ đều có nhân tính, nhưng những con người được tạo dựng không có gì khác ngoài nhân tính, trong khi Đức Chúa Trời nhập thể thì lại khác: Trong xác thịt của Ngài thì Ngài không chỉ có nhân tính mà, quan trọng hơn, còn có thần tính. Nhân tính của Ngài có thể được nhìn thấy trong dáng vẻ bên ngoài của xác thịt Ngài và trong đời sống hàng ngày của Ngài, nhưng thần tính của Ngài thì khó nhận thấy được. Bởi vì thần tính của Ngài được bày tỏ chỉ khi Ngài có nhân tính, và nó không siêu nhiên như là con người tưởng tượng, nên con người rất khó mà nhìn thấy. Thậm chí hôm nay, việc hiểu được thực chất thực sự của Đức Chúa Trời nhập thể là vô cùng khó khăn đối với con người. Ngay cả sau khi Ta đã phán dạy về điều đó nhiều như thế, thì Ta nghĩ rằng điều đó vẫn còn là một điều huyền bí đối với hầu hết các ngươi. Thực ra, vấn đề này rất đơn giản: Vì Đức Chúa Trời trở nên xác thịt, nên thực chất của Ngài là sự kết hợp giữa nhân tính và thần tính. Sự kết hợp này được gọi là chính Đức Chúa Trời, chính Đức Chúa Trời trên đất.

Trích từ “Thực chất của xác thịt mà Đức Chúa Trời ngự vào” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày Trích đoạn 100

Cuộc sống mà Jêsus đã sống trên đất là một cuộc sống bình thường trong xác thịt. Ngài sống trong nhân tính bình thường của xác thịt Ngài. Thẩm quyền của Ngài – để làm công tác của Ngài và phán lời Ngài, hoặc để chữa lành kẻ đau và đuổi quỷ, để làm những việc phi thường như thế – phần lớn đã không tự thể hiện ra cho đến khi Ngài bắt đầu chức vụ của mình. Cuộc sống của Ngài trước hai mươi chín tuổi, trước khi Ngài thi hành chức vụ của mình, đủ chứng tỏ rằng Ngài chỉ là một thân thể xác thịt bình thường. Vì điều này, và vì Ngài chưa bắt đầu thi hành chức vụ của mình, nên con người đã không nhìn thấy điều gì thần thánh trong Ngài, không thấy gì hơn một con người bình thường, một con người bình dị – ngay tại thời điểm đó, một vài người tin rằng Ngài là con trai của Giô-sép. Người ta nghĩ rằng Ngài là con trai của một người bình thường, họ không thể nói rằng Ngài là xác thịt nhập thể của Đức Chúa Trời; ngay cả khi Ngài đã làm nhiều phép lạ trong khi thi hành chức vụ của mình, thì hầu hết mọi người vẫn nói rằng Ngài là con trai của Giô-sép, bởi Ngài là Đấng Christ trong vỏ bọc của nhân tính bình thường. Nhân tính bình thường của Ngài và công tác của Ngài đều tồn tại để hoàn thành ý nghĩa của việc nhập thể đầu tiên, để chứng minh rằng Đức Chúa Trời đã hoàn toàn đến trong xác thịt, rằng Ngài đã trở nên một con người hoàn toàn bình thường. Nhân tính bình thường của Ngài trước khi Ngài bắt đầu công tác của mình chứng tỏ rằng Ngài là một xác thịt bình thường; và việc Ngài làm công tác sau đó cũng chứng minh rằng Ngài là một xác thịt bình thường, bởi Ngài đã thực hiện các phép lạ và dấu lạ trong xác thịt với nhân tính bình thường. Lý do Ngài có thể làm phép lạ là vì xác thịt của Ngài mang thẩm quyền của Đức Chúa Trời, là xác thịt được mặc bởi Thần của Đức Chúa Trời. Ngài có thẩm quyền này bởi vì Thần của Đức Chúa Trời, và điều đó không có nghĩa là Ngài không phải là xác thịt. Chữa lành kẻ đau và đuổi quỷ là công việc Ngài cần thực hiện trong chức vụ của mình, đó là một sự bày tỏ của thần tính được ẩn giấu trong nhân tính của Ngài, và bất kể Ngài có bày tỏ chỉ dấu gì hoặc Ngài thể hiện thẩm quyền của mình như thế nào, thì Ngài vẫn sống trong nhân tính bình thường và vẫn là một xác thịt bình thường. Cho tới thời điểm Ngài được phục sinh sau khi chết trên thập tự giá, Ngài đã sống trong xác thịt bình thường. Tất cả những việc như ban ân điển, chữa lành kẻ đau, và đuổi quỷ đều là một phần trong chức vụ của Ngài, đó là tất cả những việc Ngài thực hiện trong xác thịt bình thường của Ngài. Trước khi Ngài lên thập tự giá, bất kể Ngài làm việc gì, thì Ngài chưa bao giờ ra khỏi xác thịt con người bình thường của mình. Ngài là chính Đức Chúa Trời, làm công tác của riêng Đức Chúa Trời, nhưng vì Ngài là xác thịt nhập thể của Đức Chúa Trời, nên Ngài cũng ăn, mặc, có những nhu cầu của con người bình thường, có lý trí của con người bình thường, và có một tâm trí của con người bình thường. Tất cả những điều này chứng tỏ rằng Ngài là một con người bình thường, chứng tỏ rằng xác thịt nhập thể của Đức Chúa Trời là một xác thịt với nhân tính bình thường, và không phải siêu nhiên. Công việc của Ngài là để hoàn tất công tác trong sự nhập thể đầu tiên của Đức Chúa Trời, để hoàn thành chức vụ mà sự nhập thể đầu tiên phải thực hiện. Ý nghĩa của sự nhập thể là một con người bình thường, bình dị thực hiện công tác của chính Đức Chúa Trời; nghĩa là, Đức Chúa Trời thực hiện công tác thần thánh của mình trong nhân tính và qua đó đánh bại Sa-tan. Sự nhập thể có nghĩa là Thần của Đức Chúa Trời trở nên xác thịt, nghĩa là, Đức Chúa Trời trở nên xác thịt; công tác mà xác thịt làm là công tác của Thần, là điều được thực hiện trong xác thịt, được bày tỏ bởi xác thịt. Không có ai ngoài xác thịt của Đức Chúa Trời có thể hoàn thành chức vụ của Đức Chúa Trời nhập thể; nghĩa là, chỉ có xác thịt nhập thể của Đức Chúa Trời, nhân tính bình thường này – và không một ai khác – mới có thể bày tỏ công tác thần thánh. Nếu trong lần đến đầu tiên của Ngài, Đức Chúa Trời không có nhân tính bình thường trước tuổi hai mươi chín – nếu ngay sau khi Ngài được sinh ra Ngài đã có thể làm phép lạ, nếu ngay sau khi Ngài biết nói Ngài đã có thể nói ngôn ngữ của thiên đàng, nếu ngay khi Ngài đặt chân trên đất lần đầu tiên Ngài có thể hiểu rõ tất cả những vấn đề của thế gian, nhận thức được những suy nghĩ và ý định của mọi người – thì một người như thế không thể được gọi là một con người bình thường, và một xác thịt như thế không thể được gọi là xác thịt của con người. Nếu điều này đúng với Đấng Christ, thì ý nghĩa và thực chất trong sự nhập thể của Đức Chúa Trời sẽ không còn. Việc Ngài có nhân tính bình thường chứng tỏ rằng Ngài là Đức Chúa Trời nhập thể trong xác thịt; việc Ngài trải qua một quá trình phát triển của một người bình thường chứng minh thêm rằng Ngài là một xác thịt bình thường; hơn nữa, công tác của Ngài đủ chứng minh rằng Ngài là Lời Đức Chúa Trời, Thần của Đức Chúa Trời, trở nên xác thịt. Đức Chúa Trời trở nên xác thịt bởi vì những nhu cầu trong công tác của Ngài; nói cách khác, giai đoạn công tác này phải được thực hiện trong xác thịt, nó phải được thực hiện trong nhân tính bình thường. Đây là điều kiện tiên quyết cho “Lời trở nên xác thịt”; cho “sự xuất hiện của Lời trong xác thịt”, và đó là câu chuyện thật đằng sau hai lần nhập thể của Đức Chúa Trời. Người ta có thể tin rằng Jêsus làm phép lạ trong suốt cuộc đời của mình, rằng Ngài đã không tỏ một dấu hiệu nhân tính nào tận đến khi công tác trên đất của Ngài kết thúc, rằng Ngài đã không có những nhu cầu hoặc những khuyết điểm của con người bình thường hoặc những cảm xúc của con người, không cần những nhu cầu cơ bản trong đời sống hoặc ấp ủ những suy nghĩ của con người bình thường. Họ tưởng tượng Ngài chỉ có một trí tuệ siêu phàm, một nhân tính siêu việt. Họ tin rằng vì Ngài là Đức Chúa Trời, thì Ngài không cần suy nghĩ và sống như một người bình thường, rằng chỉ có một con người bình thường, một con người đích thực, mới có thể có những suy nghĩ của một con người bình thường và sống một đời sống của một con người bình thường. Tất cả những điều này đều là những ý tưởng và ý niệm của con người, và những ý niệm này đi ngược với những ý định ban đầu trong công tác của Đức Chúa Trời. Tư duy của con người bình thường duy trì lý trí của con người bình thường và nhân tính bình thường; nhân tính bình thường duy trì những chức năng bình thường của xác thịt; và những chức năng bình thường của xác thịt làm cho một đời sống bình thường trong xác thịt được trọn vẹn. Chỉ bằng cách làm việc trong xác thịt như thế thì Đức Chúa Trời mới có thể hoàn thành mục đích trong sự nhập thể của Ngài. Nếu Đức Chúa Trời nhập thể chỉ sở hữu một vỏ bọc bên ngoài của xác thịt, nhưng không có những suy nghĩ của con người bình thường, thì xác thịt này sẽ không có lý trí của con người, càng không có nhân tính đích thực. Làm thế nào mà một xác thịt như thế này, không có nhân tính, có thể hoàn thành chức vụ mà Đức Chúa Trời nhập thể phải thực hiện? Một tâm trí bình thường duy trì mọi khía cạnh trong đời sống con người; không có một tâm trí bình thường, thì một người sẽ không phải là con người. Nói cách khác, một người không có những suy nghĩ bình thường thì người đó bị bệnh tâm thần, và một Đấng Christ không có nhân tính mà chỉ có thần tính thì không thể được gọi là xác thịt nhập thể của Đức Chúa Trời. Vậy thì, làm sao xác thịt nhập thể của Đức Chúa Trời lại không thể có nhân tính bình thường? Chẳng phải đó là sự phạm thượng khi nói rằng Đấng Christ không có nhân tính sao? Mọi hoạt động mà con người bình thường tham gia đều dựa vào hoạt động của tâm trí con người bình thường. Không có nó, con người sẽ hành xử một cách bất thường; họ thậm chí còn không thể phân biệt được trắng đen, tốt xấu; và họ sẽ không có đạo đức và nguyên tắc đạo đức của con người. Tương tự như vậy, nếu Đức Chúa Trời nhập thể không suy nghĩ giống một người bình thường, thì Ngài sẽ không phải là một xác thịt đích thực, một xác thịt bình thường. Một xác thịt không có tư duy như thế sẽ không thể đảm nhận công tác thần tính. Ngài sẽ không thể tham gia một cách bình thường vào những hoạt động của xác thịt bình thường, càng không thể sống cùng với con người trên đất. Và vì thế, ý nghĩa trong sự nhập thể của Đức Chúa Trời, chính thực chất của việc đến trong xác thịt của Đức Chúa Trời, sẽ bị mất đi. Nhân tính của Đức Chúa Trời nhập thể tồn tại để duy trì công tác thần thánh bình thường trong xác thịt; Việc suy nghĩ như con người bình thường của Ngài duy trì nhân tính bình thường của Ngài và tất cả những hoạt động của con người bình thường. Người ta có thể nói rằng việc suy nghĩ như con người bình thường của Ngài tồn tại để duy trì tất cả công tác của Đức Chúa Trời trong xác thịt. Nếu xác thịt không có một tâm trí của con người bình thường, thì Đức Chúa Trời không thể làm việc trong xác thịt, và những gì Ngài cần làm trong xác thịt không bao giờ có thể được hoàn tất. Mặc dù Đức Chúa Trời nhập thể sở hữu một tâm trí của con người bình thường, nhưng công tác của Ngài không bị pha trộn với suy nghĩ của con người; Ngài đảm nhận công tác trong nhân tính với một tâm trí bình thường, dưới điều kiện tiên quyết là sở hữu một nhân tính với một tâm trí, chứ không phải bằng cách thực hiện theo suy nghĩ của con người bình thường. Cho dù những suy nghĩ trong xác thịt của Ngài có cao quý thế nào, thì công tác của Ngài không bị làm vẩn đục bởi lý luận hoặc tư duy. Nói cách khác, công tác của Ngài không được hình thành bởi tâm trí trong xác thịt của Ngài, mà đó là một sự bày tỏ trực tiếp về công tác thần thánh trong nhân tính của Ngài. Tất cả công tác của Ngài là chức vụ Ngài phải hoàn thành, và trong đó không có gì được hình thành bởi trí não của Ngài. Ví dụ như việc chữa lành kẻ đau, đuổi quỷ, và việc chịu đóng đinh trên thập tự không phải là những sản phẩm thuộc tâm trí con người của Ngài, và không thể đạt được bởi bất kỳ ai có một tâm trí của con người. Tương tự như vậy, công tác chinh phục của ngày hôm nay là một chức vụ phải do Đức Chúa Trời nhập thể thực hiện, nhưng đó không phải là công tác trong ý muốn của con người, mà đó là công tác mà thần tính của Ngài phải thực hiện, là công tác mà không con người xác thịt nào có thể làm được. Vì vậy Đức Chúa Trời nhập thể phải sở hữu một tâm trí của con người bình thường, phải sở hữu nhân tính bình thường, bởi vì Ngài phải thực hiện công tác của Ngài trong nhân tính với một tâm trí bình thường. Đây là thực chất trong công tác của Đức Chúa Trời nhập thể, chính là thực chất của Đức Chúa Trời nhập thể.

Trích từ “Thực chất của xác thịt mà Đức Chúa Trời ngự vào” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày Trích đoạn 101

Trước khi Jêsus thực hiện công tác, Ngài chỉ sống trong nhân tính bình thường của Ngài. Không ai có thể nói rằng Ngài là Đức Chúa Trời, không ai phát hiện ra rằng Ngài là Đức Chúa Trời nhập thể; mọi người chỉ biết đến Ngài như là một người hoàn toàn bình thường. Nhân tính hoàn toàn bình thường, thông thường của Ngài chứng tỏ rằng Ngài là Đức Chúa Trời đã nhập thể trong xác thịt, và rằng Thời đại Ân điển là thời đại công tác của Đức Chúa Trời nhập thể, không phải thời đại công tác của Thần. Điều đó chứng tỏ rằng Thần của Đức Chúa Trời đã được hoàn toàn nhận ra trong xác thịt, rằng trong thời đại nhập thể của Đức Chúa Trời thì xác thịt của Ngài sẽ tiến hành toàn bộ công tác của Thần. Đấng Christ với nhân tính bình thường là một xác thịt trong đó Thần được nhận ra, và sở hữu nhân tính bình thường, ý thức bình thường, và tư duy của con người. “Được nhận ra” có nghĩa là Đức Chúa Trời trở thành người, Thần trở nên xác thịt; nói một cách rõ ràng hơn, đó là khi chính Đức Chúa Trời ngụ trong một xác thịt với một nhân tính bình thường, và qua đó bày tỏ công tác thần thánh của mình – thì đây là ý nghĩa của việc được nhận ra, hoặc nhập thể. Trong lần nhập thể đầu tiên của Ngài, Đức Chúa Trời cần phải chữa lành kẻ đau và đuổi quỷ, bởi vì công tác của Ngài là cứu chuộc. Để cứu chuộc toàn thể loài người, thì Ngài cần phải có lòng thương xót và khoan dung. Công tác Ngài đã làm trước khi Ngài chịu đóng đinh là chữa lành kẻ đau và đuổi quỷ, là điều báo trước việc Ngài cứu rỗi con người khỏi tội lỗi và sự ô uế. Bởi vì đó là Thời đại Ân điển, nên Ngài cần phải chữa lành kẻ đau, qua đó tỏ ra các dấu chỉ và phép lạ, những điều đại diện cho ân điển trong thời đại đó – bởi Thời đại Ân điển tập trung xung quanh việc ban ân điển, được tượng trưng bởi sự an vui và các phước lành về vật chất, tất cả dấu hiệu về đức tin của con người nơi Jêsus. Điều đó có nghĩa là, việc chữa lành kẻ đau, đuổi quỷ, và ban ân điển là những khả năng thuộc bản năng trong xác thịt của Jêsus trong Thời đại Ân điển, đó là công tác của Thần đã được thực hiện trong xác thịt. Nhưng trong khi Ngài thi hành công tác như thế, thì Ngài đang sống trong xác thịt, và đã không vượt lên khỏi xác thịt. Bất kể Ngài đã làm những hành động chữa lành gì, thì Ngài vẫn sở hữu nhân tính bình thường, vẫn sống một đời sống con người bình thường. Lý do Ta phán rằng trong suốt thời đại nhập thể của Đức Chúa Trời thì xác thịt đã thi hành toàn bộ công tác của Thần, là vì dù Ngài làm bất kỳ việc gì, Ngài cũng làm trong xác thịt. Tuy nhiên, bởi vì công tác của Ngài mà con người không xem xác thịt của Ngài là có một bản thể vật chất hoàn toàn, bởi xác thịt này có thể làm những phép lạ, và vào những thời điểm đặc biệt nhất định có thể làm những việc vượt lên khỏi xác thịt. Tất nhiên, những chuyện này xảy ra sau khi Ngài đã bắt đầu chức vụ của mình, như là việc hữu thể của Ngài bị thử thách trong bốn mươi ngày hoặc hóa hình trên núi. Vì thế với Jêsus, ý nghĩa trong sự nhập thể của Đức Chúa Trời chưa được hoàn tất, nhưng chỉ mới thực hiện một phần. Cuộc sống mà Ngài sống trong xác thịt trước khi bắt đầu công tác của Ngài thì hoàn toàn bình thường trong mọi khía cạnh. Sau khi Ngài bắt đầu công tác, Ngài chỉ giữ lại vỏ bọc bên ngoài của xác thịt mình. Bởi vì công tác của Ngài là một sự bày tỏ của thần tính, nên nó đã vượt quá các chức năng bình thường của xác thịt. Dầu gì đi nữa, xác thịt nhập thể của Đức Chúa Trời thì khác với con người của huyết nhục. Tất nhiên, trong đời sống hàng ngày của mình, Ngài cần có thực phẩm, quần áo, ngủ nghỉ và chốn trú ngụ, Ngài cần tất cả mọi nhu cầu bình thường, có ý thức của một người bình thường, và suy nghĩ như một người bình thường. Mọi người vẫn cho Ngài là một con người bình thường, ngoại trừ công việc Ngài làm là siêu nhiên. Thực ra, bất kể Ngài làm những gì, thì Ngài vẫn sống trong một nhân tính bình thường và thông thường, và trong chừng mực Ngài thi hành công tác, thì ý thức của Ngài đặc biệt bình thường, suy nghĩ của Ngài đặc biệt sáng suốt, hơn bất kỳ người bình thường nào khác. Đức Chúa Trời nhập thể cần có tư duy và ý thức như thế, vì công tác thần thánh cần được bày tỏ bởi một xác thịt có ý thức thật bình thường và suy nghĩ thật sáng suốt – chỉ theo cách này thì xác thịt của Ngài mới bày tỏ được công tác thần thánh. Trong suốt ba mươi ba năm rưỡi Jêsus sống trên đất, Ngài đã giữ nhân tính bình thường của Ngài, nhưng vì công tác của Ngài trong ba năm rưỡi làm chức vụ, nên con người đã nghĩ rằng Ngài quá siêu việt, rằng Ngài siêu nhiên hơn trước đây rất nhiều. Trên thực tế, nhân tính bình thường của Jêsus không hề thay đổi trước và sau khi Ngài bắt đầu chức vụ; nhân tính của Ngài vẫn như vậy từ đầu đến cuối, nhưng vì sự khác biệt trước và sau khi Ngài bắt đầu chức vụ, nên đã xuất hiện hai quan điểm khác nhau liên quan đến xác thịt của Ngài. Bất kể con người nghĩ gì, thì Đức Chúa Trời nhập thể vẫn giữ nhân tính bình thường ban đầu của Ngài trong suốt thời gian đó, bởi từ khi Đức Chúa Trời nhập thể, Ngài đã sống trong xác thịt, một xác thịt có nhân tính bình thường. Bất kể Ngài có thi hành chức vụ của mình hay không, thì nhân tính bình thường trong xác thịt của Ngài cũng không thể bị loại bỏ, bởi nhân tính là thực chất cơ bản của xác thịt. Trước khi Jêsus thi hành chức vụ của mình, thì xác thịt của Ngài vẫn hoàn toàn bình thường, vẫn tham gia vào mọi hoạt động bình thường của con người; Ngài đã không xuất hiện với một chút siêu nhiên nào, không tỏ ra bất kỳ dấu lạ nào. Khi đó, Ngài chỉ là một con người bình thường thờ phượng Đức Chúa Trời, mặc dù sự theo đuổi của Ngài trung thực hơn và chân thành hơn bất cứ người nào khác. Đây là cách nhân tính hoàn toàn bình thường của Ngài thể hiện chính mình. Vì Ngài hoàn toàn không làm công tác nào trước khi đảm nhận chức vụ của mình, nên không ai nhận ra được danh tính của Ngài, không ai có thể nói rằng xác thịt của Ngài khác với tất cả những người khác, bởi Ngài đã không làm dù chỉ một phép lạ, không thực hiện chút công việc nào của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, sau khi Ngài bắt đầu thi hành chức vụ của mình, thì Ngài đã giữ vỏ bọc của một nhân tính bình thường và vẫn sống với lý trí của con người bình thường, nhưng bởi vì Ngài đã bắt đầu làm công tác của chính Đức Chúa Trời, đảm nhận chức vụ của Đấng Christ, và làm công tác mà những con người trần tục, những con người của huyết nhục không có khả năng làm, nên con người cho rằng Ngài không có thân phận bình thường và không phải là một xác thịt hoàn toàn bình thường, mà là một xác thịt không trọn vẹn. Vì công tác mà Ngài thực hiện, nên con người nói rằng Ngài là một Đức Chúa Trời trong xác thịt không có nhân tính bình thường. Hiểu như thế thật là sai trật, bởi con người đã không nắm bắt được ý nghĩa trong sự nhập thể của Đức Chúa Trời. Sự hiểu lầm này xuất phát từ thực tế rằng công tác đã được bày tỏ bởi Đức Chúa Trời trong xác thịt là công tác thần thánh, được bày tỏ trong một xác thịt có nhân tính bình thường. Đức Chúa Trời đã mặc lấy xác thịt, Ngài ngự trong xác thịt, và công tác trong nhân tính của Ngài đã làm lu mờ sự bình thường trong nhân tính của Ngài. Vì lý do này mà con người đã tin rằng Đức Chúa Trời không có nhân tính, mà chỉ có thần tính.

Trích từ “Thực chất của xác thịt mà Đức Chúa Trời ngự vào” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày Trích đoạn 102

Đức Chúa Trời trong lần nhập thể đầu đã không hoàn tất công tác nhập thể; Ngài chỉ hoàn tất bước đầu tiên trong công tác mà Đức Chúa Trời cần thực hiện trong xác thịt. Vì vậy, để hoàn thành công tác nhập thể, Đức Chúa Trời đã trở lại với xác thịt một lần nữa, sống thể hiện ra tất cả tính bình thường và tính hiện thực của xác thịt, nghĩa là, làm cho Lời Đức Chúa Trời thể hiện trong một xác thịt hoàn toàn bình thường và thông thường, qua đó kết thúc công tác mà Ngài chưa thực hiện xong trong xác thịt. Về thực chất, xác thịt nhập thể lần thứ hai thì giống với lần đầu, tuy nhiên nó thậm chí còn thật hơn, thậm chí còn bình thường hơn lần đầu. Hậu quả là, sự đau khổ mà xác thịt nhập thể lần thứ hai phải chịu đựng thì to lớn hơn lần đầu, nhưng sự đau khổ này là kết quả của chức vụ trong xác thịt của Ngài, nó không giống như sự đau khổ của một con người bại hoại. Nó cũng xuất phát từ tính bình thường và tính hiện thực trong xác thịt của Ngài. Bởi vì Ngài thi hành chức vụ của mình trong một xác thịt hoàn toàn bình thường và thật, nên xác thịt phải chịu đựng rất nhiều gian khổ. Xác thịt này càng bình thường và càng thật, thì Ngài sẽ càng phải chịu đau khổ trong việc thi hành chức vụ của mình. Công tác của Đức Chúa Trời được bày tỏ trong một xác thịt rất bình thường, một xác thịt không có chút siêu nhiên nào. Bởi vì xác thịt của Ngài bình thường và cũng phải gánh vác công tác cứu rỗi con người, nên Ngài phải chịu khổ thậm chí còn nhiều hơn một xác thịt siêu nhiên phải chịu – và tất cả những đau khổ này xuất phát từ tính hiện thực và tính bình thường trong xác thịt của Ngài. Từ những đau khổ mà hai xác thịt nhập thể trải qua trong khi thi hành các chức vụ của Họ, con người có thể thấy được thực chất của xác thịt nhập thể. Xác thịt càng bình thường, thì Ngài càng phải chịu nhiều gian khổ hơn trong khi đảm nhận công tác; xác thịt đảm nhận công tác càng thật, thì các ý niệm của con người càng khe khắt hơn, và càng có nhiều nguy hiểm có thể xảy đến với Ngài hơn. Tuy nhiên, xác thịt càng thật, và xác thịt càng sở hữu những nhu cầu và ý thức hoàn chỉnh của một con người bình thường, thì Ngài càng có thể đảm nhận công tác của Đức Chúa Trời trong xác thịt. Chính xác thịt của Jêsus đã bị đóng đinh lên thập tự giá, xác thịt mà Ngài đã dâng phó như là một của lễ chuộc tội; chính bởi một xác thịt với nhân tính bình thường mà Ngài đã đánh bại Sa-tan và hoàn toàn cứu rỗi con người từ thập tự giá. Và đó chính là một xác thịt trọn vẹn mà Đức Chúa Trời trong lần nhập thể thứ hai thi hành công tác chinh phục và đánh bại Sa-tan. Chỉ có xác thịt hoàn toàn bình thường và thật mới có thể thi hành công tác chinh phục một cách trọn vẹn và mang lời chứng mạnh mẽ. Điều đó có nghĩa là, việc chinh phục con người được nên hiệu quả qua tính hiện thực và tính bình thường của Đức Chúa Trời trong xác thịt, chứ không qua các phép lạ và sự mặc khải siêu nhiên. Chức vụ của Đức Chúa Trời nhập thể là phán dạy, rồi qua đó chinh phục và hoàn thiện con người; nói cách khác, công tác của Thần được thực hiện trong xác thịt, bổn phận của xác thịt, là phán dạy và qua đó chinh phục, mặc khải, hoàn thiện, và loại bỏ con người một cách hoàn toàn. Và vì thế, chính trong công tác chinh phục mà công tác của Đức Chúa Trời trong xác thịt sẽ được hoàn thành một cách trọn vẹn. Công việc cứu chuộc ban đầu chỉ là sự khởi đầu trong công tác nhập thể; xác thịt thi hành công tác chinh phục sẽ hoàn tất toàn bộ công tác nhập thể. Về giới tính, một người là nam và người kia là nữ, như vậy làm trọn ý nghĩa về sự nhập thể của Đức Chúa Trời, và xua tan những quan niệm của con người về Đức Chúa Trời: Đức Chúa Trời có thể trở nên cả nam lẫn nữ, và về thực chất, Đức Chúa Trời nhập thể là phi giới tính. Ngài đã tạo nên cả người nam và người nữ, còn đối với Ngài thì không có sự phân chia giới tính. Trong giai đoạn công tác này, Đức Chúa Trời không làm các phép lạ và dấu lạ, để cho công tác sẽ đạt kết quả bằng lời. Hơn nữa, lý do cho điều này là vì công tác của Đức Chúa Trời nhập thể lần này không phải chữa lành kẻ đau và đuổi quỷ, mà là chinh phục con người qua việc phán lời, có nghĩa là khả năng tự nhiên được sở hữu bởi xác thịt nhập thể này của Đức Chúa Trời là phán lời và chinh phục con người, chứ không phải chữa lành kẻ đau và đuổi quỷ. Công tác của Ngài trong nhân tính bình thường không phải là làm phép lạ, không chữa lành kẻ đau và đuổi quỷ, mà là phán lời, và vì thế dường như đối với con người thì xác thịt nhập thể lần thứ hai bình thường hơn lần đầu rất nhiều. Con người thấy rằng sự nhập thể của Đức Chúa Trời không phải là dối trá; tuy nhiên Đức Chúa Trời nhập thể này khác với Jêsus nhập thể, và dù Họ cả hai đều là Đức Chúa Trời nhập thể, nhưng Họ không hoàn toàn giống nhau. Jêsus đã sở hữu nhân tính bình thường, nhân tính thông thường, tuy nhiên đi cùng Ngài là nhiều dấu lạ và phép lạ. Trong Đức Chúa Trời nhập thể này, mắt con người sẽ không nhìn thấy các dấu lạ hay phép lạ, cũng không thấy việc chữa lành kẻ đau hay đuổi quỷ, hay việc đi trên mặt biển, hay việc kiêng ăn trong bốn mươi ngày… Ngài không làm những việc giống như Jêsus đã làm, không phải vì xác thịt của Ngài về thực chất có chút gì khác với xác thịt của Jêsus, mà là vì chức vụ của Ngài không phải là chữa lành kẻ đau và đuổi quỷ. Ngài không phá hỏng công tác của chính mình, không làm nhiễu loạn công tác của chính mình. Vì Ngài chinh phục con người bằng những lời thực tế của Ngài, nên không cần chinh phục họ với những phép lạ, và vì thế giai đoạn này là để hoàn tất công tác nhập thể. Đức Chúa Trời nhập thể ngươi nhìn thấy ngày nay hoàn toàn là một xác thịt, và không có gì siêu nhiên về Ngài. Ngài đau ốm như những người khác, cần thực phẩm và quần áo cũng giống như những người khác; Ngài hoàn toàn là một xác thịt. Nếu lần này Đức Chúa Trời nhập thể làm các phép lạ và dấu lạ siêu nhiên, nếu Ngài chữa lành kẻ đau, đuổi quỷ, hay có thể giết chết bằng một lời nói, thì làm sao công tác chinh phục có thể được thực hiện? Làm sao công tác có thể được lan truyền giữa các nước dân ngoại? Chữa lành kẻ đau và đuổi quỷ là công tác trong Thời đại Ân điển, nó là bước đầu tiên trong công tác cứu chuộc, còn giờ đây vì Đức Chúa Trời đã cứu rỗi con người từ thập tự giá, nên Ngài không còn thực hiện công tác đó nữa. Trong những ngày sau rốt, nếu một vị “Đức Chúa Trời” giống như Jêsus xuất hiện, một người chữa lành kẻ đau, đuổi quỷ, và chịu đóng đinh vì con người, thì vị “Đức Chúa Trời” đó, dù có giống hệt như sự mô tả về Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh và con người dễ dàng chấp nhận, về thực chất sẽ không phải là xác thịt được mặc bởi Thần của Đức Chúa Trời, mà bởi một tà linh. Bởi nguyên tắc công tác của Đức Chúa Trời là không bao giờ làm lại những gì Ngài đã hoàn tất; và vì thế, công tác trong sự nhập thể lần thứ hai của Đức Chúa Trời khác với công tác trong lần đầu. Trong những ngày sau rốt, Đức Chúa Trời thực hiện công tác chinh phục trong một xác thịt bình thường và thông thường; Ngài không chữa lành kẻ đau, sẽ không bị đóng đinh vì con người, mà chỉ phán lời trong xác thịt, và chinh phục con người trong xác thịt. Chỉ có xác thịt như thế mới là xác thịt nhập thể của Đức Chúa Trời; chỉ có xác thịt như thế mới có thể hoàn tất công tác của Đức Chúa Trời trong xác thịt.

Trích từ “Thực chất của xác thịt mà Đức Chúa Trời ngự vào” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày Trích đoạn 103

Dù trong giai đoạn này Đức Chúa Trời nhập thể đang chịu đựng gian khổ hay thi hành chức vụ của Ngài, thì Ngài làm vậy để làm trọn ý nghĩa của sự nhập thể, bởi đây là sự nhập thể cuối cùng của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời chỉ có thể nhập thể hai lần. Không thể có lần thứ ba. Sự nhập thể thứ nhất là nam, thứ hai là nữ, và vì thế hình tượng xác thịt của Đức Chúa Trời được hoàn chỉnh trong tâm trí của con người; hơn nữa, hai sự nhập thể đã hoàn thành công tác của Đức Chúa Trời trong xác thịt. Lần đầu, Đức Chúa Trời nhập thể sở hữu nhân tính bình thường để làm trọn ý nghĩa của sự nhập thể. Lần này Ngài cũng sở hữu nhân tính bình thường, nhưng ý nghĩa của sự nhập thể lần này thì lại khác: Nó sâu sắc hơn, và công tác của Ngài có ý nghĩa sâu xa hơn. Lý do Đức Chúa Trời đã trở nên xác thịt một lần nữa là để làm trọn ý nghĩa của sự nhập thể. Khi Đức Chúa Trời đã hoàn toàn kết thúc giai đoạn công tác này của Ngài, thì toàn bộ ý nghĩa của sự nhập thể, nghĩa là, công tác của Đức Chúa Trời trong xác thịt, sẽ hoàn tất, và sẽ không còn công tác nào được thực hiện trong xác thịt nữa. Điều đó có nghĩa là, từ giờ trở đi Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ đến trong xác thịt để thực hiện công tác của Ngài nữa. Đức Chúa Trời thực hiện công tác nhập thể chỉ để cứu rỗi và hoàn thiện con người mà thôi. Nói cách khác, việc Đức Chúa Trời đến trong xác thịt không thể nào là một công việc thường lệ, ngoại trừ vì mục đích công việc. Bằng việc đến trong xác thịt để làm công tác, Ngài cho Sa-tan thấy rằng Đức Chúa Trời là một xác thịt, một con người bình thường, một con người thông thường – nhưng mà Ngài có thể trị vì một cách đắc thắng trên cả thế giới, có thể đánh bại Sa-tan, cứu chuộc nhân loại, chinh phục nhân loại! Mục tiêu trong các việc làm của Sa-tan là làm cho nhân loại bại hoại, còn mục tiêu công tác của Đức Chúa Trời là cứu rỗi nhân loại. Sa-tan bẫy con người vào trong một vực sâu không đáy, còn Đức Chúa Trời giải thoát họ khỏi đó. Sa-tan làm cho tất cả mọi người thờ phượng nó, còn Đức Chúa Trời khiến họ tuân theo sự thống trị của Ngài, bởi Ngài là Đức Chúa Trời của tạo hóa. Tất cả công tác này đều đạt được qua hai lần nhập thể của Đức Chúa Trời. Về thực chất, xác thịt của Ngài là sự hiệp nhất của nhân tính và thần tính, và sở hữu nhân tính bình thường. Vì vậy, nếu không có xác thịt nhập thể của Đức Chúa Trời, thì Đức Chúa Trời không thể đạt được kết quả trong việc cứu rỗi nhân loại, và nếu không có nhân tính bình thường trong xác thịt của Ngài, thì công tác của Ngài trong xác thịt không thể đạt được kết quả. Thực chất trong sự nhập thể của Đức Chúa Trời là việc Ngài phải sở hữu nhân tính bình thường; bởi nếu không sẽ đi ngược lại với ý định ban đầu của Đức Chúa Trời trong việc nhập thể.

Trích từ “Thực chất của xác thịt mà Đức Chúa Trời ngự vào” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày Trích đoạn 104

Tại sao Ta phán rằng ý nghĩa của sự nhập thể chưa được hoàn tất trong công tác của Jêsus? Bởi vì Lời chưa hoàn toàn trở nên xác thịt. Những gì Jêsus đã làm chỉ là một phần công tác của Đức Chúa Trời trong xác thịt; Ngài chỉ thực hiện công tác cứu chuộc, và đã không thực hiện công tác hoàn toàn thu phục con người. Vì lý do này, Đức Chúa Trời đã trở nên xác thịt một lần nữa trong những ngày sau rốt. Giai đoạn công tác này cũng được thực hiện trong một xác thịt thông thường; nó được thi hành bởi một con người hoàn toàn bình thường, con người mà nhân tính không có chút gì là siêu việt. Nói cách khác, Đức Chúa Trời đã trở thành một con người hoàn toàn; Ngài là một con người có thân phận của Đức Chúa Trời, một con người hoàn toàn, một xác thịt hoàn toàn, là Đấng đang thi hành công tác. Mắt con người nhìn thấy một thân thể xác thịt hoàn toàn không siêu việt, một con người rất đỗi thông thường có thể nói ngôn ngữ của thiên đàng, không hề tỏ ra các dấu lạ, không làm phép lạ, càng không phơi bày lẽ thật bên trong về tôn giáo trong những hội đường lớn. Đối với con người, công tác của xác thịt nhập thể lần thứ hai dường như hoàn toàn không giống với lần đầu, khác nhiều đến nỗi cả hai dường như không có điểm gì chung, và không có gì trong công tác đầu tiên có thể thấy được trong lần này. Dù công tác của xác thịt nhập thể lần thứ hai khác với lần đầu, nhưng điều đó không chứng tỏ rằng nguồn gốc của Họ không phải là một và như nhau. Việc nguồn gốc của Họ có như nhau hay không phụ thuộc vào thực chất công tác được thực hiện bởi xác thịt, và không phụ thuộc vào các vỏ bọc bên ngoài của Họ. Suốt ba giai đoạn công tác của Đức Chúa Trời, Ngài đã nhập thể hai lần, và cả hai lần thì công tác của Đức Chúa Trời nhập thể đều mở ra một thời đại mới, khởi đầu một công tác mới; các lần nhập thể bổ sung cho nhau. Mắt con người không thể nhận biết rằng hai xác thịt thực sự xuất thân từ cùng một nguồn gốc. Không cần phải nói, điều này vượt quá khả năng của mắt con người hay tâm trí con người. Nhưng về thực chất của Họ, Họ là một, bởi công tác của họ bắt nguồn từ cùng một Thần. Việc hai xác thịt nhập thể có cùng nguồn gốc hay không thì không thể xét đoán theo thời kỳ và nơi chốn Họ được sinh ra, hoặc những yếu tố tương tự thế, mà phải theo công việc thần thánh do Họ bày tỏ. Xác thịt nhập thể thứ hai không thi hành bất kỳ công tác nào mà Jêsus đã làm, bởi công tác của Đức Chúa Trời không theo tập quán, mà mỗi lần đều mở ra một con đường mới. Xác thịt nhập thể thứ hai không nhằm đào sâu thêm hay củng cố ấn tượng về xác thịt thứ nhất trong tâm trí con người, mà nhằm bổ sung và hoàn thiện nó, làm sâu sắc thêm sự hiểu biết của con người về Đức Chúa Trời, phá vỡ mọi quy tắc tồn tại trong lòng của con người, và loại bỏ những hình tượng sai lệch về Đức Chúa Trời trong lòng họ. Có thể nói rằng không có một giai đoạn đơn lẻ nào trong công tác của chính Đức Chúa Trời có thể cho con người một sự hiểu biết trọn vẹn về Ngài; mỗi giai đoạn chỉ cho một phần, không phải toàn bộ. Dù Đức Chúa Trời đã bày tỏ đầy đủ tâm tính của Ngài, nhưng bởi vì khả năng hiểu biết hạn hẹp của con người, nên sự hiểu biết của họ về Đức Chúa Trời vẫn chưa trọn vẹn. Bằng ngôn ngữ con người thì không thể truyền tải toàn bộ tâm tính của Đức Chúa Trời; hơn nữa, làm sao một giai đoạn công tác đơn lẻ của Đức Chúa Trời lại có thể bày tỏ đầy đủ về Ngài? Ngài làm việc trong xác thịt dưới vỏ bọc nhân tính bình thường của Ngài, còn con người chỉ có thể biết đến Ngài qua những sự bày tỏ của thần tính Ngài, không phải vỏ bọc thân thể của Ngài. Đức Chúa Trời đến trong xác thịt để cho con người biết đến Ngài qua những công tác khác nhau của Ngài, và không giai đoạn công tác nào của Ngài giống giai đoạn nào. Chỉ theo cách này con người mới có thể có được một sự hiểu biết đầy đủ về công tác trong xác thịt của Đức Chúa Trời, không bị giới hạn trong một khía cạnh đơn lẻ nào. Dù công tác của hai xác thịt nhập thể là khác nhau, nhưng thực chất của xác thịt và nguồn gốc công tác của Họ lại y hệt nhau; chỉ là, Họ hiện hữu để thực hiện hai giai đoạn công tác khác nhau, và chổi dậy trong hai thời kỳ khác nhau. Bất kể thế nào, các xác thịt nhập thể của Đức Chúa Trời đều có cùng thực chất và cùng nguồn gốc – đây là một lẽ thật mà không một ai có thể phủ nhận.

Trích từ “Thực chất của xác thịt mà Đức Chúa Trời ngự vào” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày Trích đoạn 105

Đức Chúa Trời nhập thể được gọi là Đấng Christ, và Đấng Christ là xác thịt được mặc lấy bởi Thần của Đức Chúa Trời. Xác thịt này không giống như bất kỳ con người xác thịt nào. Sự khác biệt này là vì Đấng Christ không thuộc về thịt và huyết; Ngài là sự nhập thể của Thần. Ngài có cả một nhân tính bình thường lẫn một thần tính trọn vẹn. Thần tính của Ngài không được sở hữu bởi bất kỳ con người nào. Nhân tính bình thường của Ngài duy trì mọi hoạt động bình thường của Ngài trong xác thịt, trong khi thần tính của Ngài thực hiện công tác của chính Đức Chúa Trời. Dù là nhân tính hay thần tính của Ngài, cả hai đều quy phục ý muốn của Cha trên trời. Thực chất của Đấng Christ là Thần, nghĩa là thần tính. Do đó, thực chất của Ngài là của chính Đức Chúa Trời; thực chất này sẽ không làm gián đoạn công tác của riêng Ngài, và Ngài không thể làm bất cứ điều gì hủy hoại công tác của chính mình, Ngài cũng sẽ không bao giờ thốt ra bất cứ lời nào trái với ý muốn của Ngài. Do vậy, Đức Chúa Trời nhập thể tuyệt đối sẽ không bao giờ làm bất cứ công tác nào gây gián đoạn sự quản lý của riêng Ngài. Đây là điều mọi người nên hiểu. Thực chất công tác của Đức Thánh Linh là cứu rỗi con người, và vì sự quản lý của riêng Đức Chúa Trời. Tương tự, công tác của Đấng Christ cũng là cứu rỗi con người, và vì ý muốn của Đức Chúa Trời. Vì rằng Đức Chúa Trời trở nên xác thịt, Ngài nhận ra thực chất của Ngài bên trong xác thịt của Ngài, để xác thịt của Ngài có khả năng gánh vác công tác của Ngài. Do vậy, mọi công tác của Thần của Đức Chúa Trời được thay bằng công tác của Đấng Christ trong thời gian nhập thể, và trọng tâm của mọi công tác xuyên suốt thời gian nhập thể này là công tác của Đấng Christ. Nó không thể được trộn lẫn với công tác từ bất kỳ thời đại nào. Và bởi Đức Chúa Trời trở nên xác thịt, Ngài hoạt động trong thân phận của xác thịt Ngài; bởi Ngài đến trong xác thịt, nên Ngài hoàn thành công tác mà Ngài phải làm trong xác thịt. Dù là Thần của Đức Chúa Trời hay là Đấng Christ, cả hai đều chính là Đức Chúa Trời, và Ngài làm công tác mà Ngài phải làm và thực hiện chức vụ mà Ngài phải thực hiện.

Trích từ “Thực chất của Đấng Christ là vâng theo ý muốn của Cha trên trời” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày Trích đoạn 106

Chính thực chất của Đức Chúa Trời nắm giữ và thi hành thẩm quyền, nhưng Ngài có thể hoàn toàn quy phục thẩm quyền đến từ Ngài. Dù là công tác của Thần hay công tác của xác thịt, không cái nào mâu thuẫn với cái nào. Thần của Đức Chúa Trời là thẩm quyền trên mọi sự sáng tạo. Xác thịt với thực chất của Đức Chúa Trời cũng sở hữu thẩm quyền, nhưng Đức Chúa Trời trong xác thịt có thể làm tất cả mọi công tác vâng theo ý muốn của Cha trên trời. Điều này không thể đạt được hay hiểu thấu được bởi bất kỳ một con người nào. Chính Đức Chúa Trời là thẩm quyền, nhưng xác thịt của Ngài có thể quy phục thẩm quyền của Ngài. Đây là hàm ý khi nói rằng: “Đấng Christ vâng theo ý muốn của Đức Chúa Cha”. Đức Chúa Trời là Thần và có thể làm công tác cứu rỗi, cũng như Đức Chúa Trời có thể trở thành con người. Dù sao, chính Đức Chúa Trời làm công tác của riêng Ngài; Ngài không làm gián đoạn cũng không xen vào, Ngài càng không thực hiện công tác tự mâu thuẫn, bởi thực chất của công tác được thực hiện bởi Thần và xác thịt là giống nhau. Dù là Thần hay xác thịt, cả hai đều hoạt động để hoàn thành một ý muốn và để quản lý cùng một công tác. Mặc dù Thần và xác thịt có hai phẩm chất khác nhau, nhưng thực chất của họ là như nhau; cả hai đều có thực chất của chính Đức Chúa Trời, và thân phận của chính Đức Chúa Trời. Bản thân Đức Chúa Trời không có yếu tố bất tuân nào cả; thực chất của Ngài là tốt đẹp. Ngài là sự bày tỏ của mọi vẻ đẹp và điều thiện lành, cũng như mọi tình yêu thương. Ngay cả trong xác thịt, Đức Chúa Trời không làm bất cứ điều gì không vâng lời Đức Chúa Cha. Thậm chí với cái giá là sự hy sinh mạng sống của Ngài, Ngài vẫn sẽ hết lòng sẵn sàng làm như vậy và Ngài sẽ không chọn lựa khác đi. Đức Chúa Trời không có những yếu tố tự cho mình là đúng hay tự tôn, hay những yếu tố tự phụ hay kiêu ngạo; Ngài không có những yếu tố của sự quanh co. Mọi thứ không vâng lời Đức Chúa Trời đều đến từ Sa-tan; Sa-tan là nguồn gốc của mọi sự xấu xa và gian ác. Lý do con người có những phẩm chất tương tự như của Sa-tan là vì con người đã bị Sa-tan làm bại hoại và xử lý. Đấng Christ đã không bị Sa-tan làm bại hoại, do đó Ngài chỉ có những đặc điểm của Đức Chúa Trời, và không có đặc điểm nào của Sa-tan. Dù cho công tác có gian khổ hay xác thịt có yếu đuối như thế nào, Đức Chúa Trời, khi Ngài sống trong xác thịt, sẽ không bao giờ làm bất cứ điều gì gián đoạn công tác của chính Đức Chúa Trời, càng không từ bỏ ý muốn của Đức Chúa Cha bởi sự không vâng lời. Ngài thà chịu đau đớn xác thịt còn hơn là phản bội ý muốn của Đức Chúa Cha; cũng giống như Jêsus đã phán trong lời cầu nguyện: “Cha ơi! Nếu có thể được, xin cho chén nầy lìa khỏi Con! Song không theo ý muốn Con, mà theo ý muốn Cha”. Con người sẽ đưa ra chọn lựa của riêng họ, nhưng Đấng Christ thì không. Mặc dù Ngài có thân phận của chính Đức Chúa Trời, Ngài vẫn tìm kiếm ý muốn của Đức Chúa Cha, và hoàn thành điều đã được Đức Chúa Cha giao cho Ngài, từ góc độ xác thịt. Đây là điều con người không thể đạt được. Điều đến từ Sa-tan không thể có được thực chất của Đức Chúa Trời; nó chỉ có thể không vâng lời và phản nghịch Đức Chúa Trời. Nó không thể hoàn toàn vâng lời Đức Chúa Trời, càng không sẵn lòng vâng theo ý muốn của Đức Chúa Trời. Mọi con người ngoại trừ Đấng Christ đều có thể làm điều phản nghịch Đức Chúa Trời, và không một con người nào có thể trực tiếp gánh vác công tác mà Đức Chúa Trời giao cho; không ai có thể xem sự quản lý của Đức Chúa Trời là bổn phận của riêng mình phải thực hiện. Thực chất của Đấng Christ là sự quy phục ý muốn của Đức Chúa Cha; sự bất tuân Đức Chúa Trời là đặc điểm của Sa-tan. Hai phẩm chất này không thể tương hợp với nhau, và bất kỳ ai có những phẩm chất của Sa-tan thì không thể được gọi là Đấng Christ. Lý do con người không thể làm công tác của Đức Chúa Trời thay cho Ngài là vì con người không có bất kỳ thực chất nào của Đức Chúa Trời. Con người làm việc cho Đức Chúa Trời vì lợi ích và triển vọng tương lai của cá nhân họ, còn Đấng Christ thì làm việc để thực hiện ý muốn của Đức Chúa Cha.

Trích từ “Thực chất của Đấng Christ là vâng theo ý muốn của Cha trên trời” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày Trích đoạn 107

Nhân tính của Đấng Christ được chi phối bởi thần tính của Ngài. Mặc dù Ngài ở trong xác thịt, nhưng nhân tính của Ngài không hoàn toàn giống như nhân tính của con người trong xác thịt. Ngài có tính cách độc nhất của riêng Ngài, và điều này cũng được chi phối bởi thần tính của Ngài. Thần tính của Ngài không có điểm yếu; điểm yếu của Đấng Christ ám chỉ điểm yếu trong nhân tính của Ngài. Đến một mức độ nhất định, điểm yếu này chế ngự thần tính của Ngài, nhưng những giới hạn ấy nằm trong một phạm vi và thời gian nhất định, và không phải là vô hạn. Khi đến lúc thực hiện công tác của thần tính Ngài, điều ấy được thực hiện bất kể nhân tính của Ngài. Nhân tính của Đấng Christ hoàn toàn được chi phối bởi thần tính của Ngài. Bên cạnh đời sống thông thường của nhân tính Ngài, tất cả những hành động khác của nhân tính Ngài đều chịu ảnh hưởng, tác động, và chi phối bởi thần tính của Ngài. Mặc dù Đấng Christ có một nhân tính, nhưng điều đó không làm gián đoạn công tác của thần tính Ngài, và điều này chính là vì nhân tính của Đấng Christ được chi phối bởi thần tính của Ngài; mặc dù nhân tính của Ngài chưa trưởng thành trong cách cư xử với người khác, nhưng điều đó không ảnh hưởng đến công tác thông thường của thần tính Ngài. Khi Ta phán rằng nhân tính của Ngài không bị làm bại hoại, ý Ta là nhân tính của Đấng Christ có thể được điều khiển trực tiếp bởi thần tính của Ngài, và rằng Ngài sở hữu một ý thức cao hơn ý thức của một con người bình thường. Nhân tính của Ngài thích hợp nhất để được chi phối bởi thần tính trong công tác của Ngài; nhân tính của Ngài có thể bày tỏ tốt nhất công tác của thần tính, cũng như có thể quy phục tốt nhất công tác ấy. Bởi vì Đức Chúa Trời hoạt động trong xác thịt, Ngài không bao giờ quên bổn phận mà một con người trong xác thịt phải hoàn thành; Ngài có thể thờ phượng Đức Chúa Trời trên trời với tấm lòng chân thật. Ngài có thực chất của Đức Chúa Trời, và thân phận của Ngài là của chính Đức Chúa Trời. Chỉ là Ngài đã đến trần gian và trở thành một hữu thể thọ tạo, với lớp vỏ bên ngoài của một hữu thể thọ tạo, và giờ sở hữu một nhân tính mà Ngài không có trước kia. Ngài có thể thờ phượng Đức Chúa Trời trên trời; đây là hữu thể của chính Đức Chúa trời và con người không thể bắt chước được. Thân phận của Ngài là chính Đức Chúa Trời. Chính từ góc độ xác thịt mà Ngài thờ phượng Đức Chúa Trời; do vậy, những lời “Đấng Christ thờ phượng Đức Chúa Trời trên trời” là không sai. Điều Ngài yêu cầu ở con người chính là hữu thể của chính Ngài; Ngài đã đạt được hết thảy những gì Ngài yêu cầu ở con người trước khi yêu cầu họ những điều ấy. Ngài sẽ không bao giờ yêu cầu những người khác trong khi chính Ngài không thực hiện những yêu cầu ấy, bởi vì tất cả đều cấu thành hữu thể của Ngài. Bất kể Ngài thực hiện công tác của Ngài như thế nào, Ngài sẽ không hành động theo cách không vâng lời Đức Chúa Trời. Dù Ngài yêu cầu ở con người điều gì, không yêu cầu nào vượt quá điều mà con người có thể đạt được. Tất cả những gì Ngài làm là những gì thực hiện theo ý muốn của Đức Chúa Trời và vì lợi ích sự quản lý của Ngài. Thần tính của Đấng Christ cao hơn hết thảy mọi người; do vậy Ngài là Đấng có thẩm quyền cao nhất trong mọi loài thọ tạo. Thẩm quyền này là thần tính của Ngài, nghĩa là, tâm tính và hữu thể của chính Đức Chúa Trời, điều xác định thân phận của Ngài. Do vậy, dù nhân tính của Ngài có tầm thường như thế nào, không thể phủ nhận rằng Ngài có thân phận của chính Đức Chúa Trời; bất kể Ngài phán từ lập trường nào và Ngài vâng theo ý muốn của Đức Chúa Trời như thế nào, không thể nói rằng Ngài không phải là chính Đức Chúa Trời. Những kẻ dại dột và ngu dốt thường xem nhân tính bình thường của Đấng Christ là một khuyết điểm. Dù Ngài bày tỏ và tiết lộ hữu thể của thần tính của Ngài như thế nào, con người không thể công nhận rằng Ngài là Đấng Christ. Và Đấng Christ càng chứng tỏ sự vâng lời và khiêm nhường của Ngài, những kẻ ngu dốt càng xem nhẹ Đấng Christ. Thậm chí có những kẻ có thái độ loại trừ và khinh miệt Ngài, mà lại đặt những “con người vĩ đại” của những hình ảnh cao cả lên bàn để thờ. Sự phản nghịch và không vâng lời Đức Chúa Trời của con người đến từ thực tế rằng thực chất của Đức Chúa Trời nhập thể quy phục ý muốn của Đức Chúa Trời, cũng như từ nhân tính bình thường của Đấng Christ; đây là nguồn gốc sự phản nghịch và bất tuân Đức Chúa Trời của con người. Nếu Đấng Christ không có vẻ ngoài của nhân tính Ngài, cũng không tìm kiếm ý muốn của Đức Chúa Cha từ góc độ của một hữu thể thọ tạo, mà thay vào đó sở hữu một siêu nhân tính, khi đó khả năng cao sẽ không có sự bất tuân giữa con người. Lý do con người luôn sẵn lòng tin vào một Đức Chúa Trời vô hình trên trời là vì Đức Chúa Trời trên trời không có nhân tính, Ngài cũng không có dù chỉ một phẩm chất của một hữu thể thọ tạo. Do đó, con người luôn nhắc đến Ngài với lòng tôn kính cao nhất, nhưng lại giữ thái độ khinh miệt với Đấng Christ.

Trích từ “Thực chất của Đấng Christ là vâng theo ý muốn của Cha trên trời” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày Trích đoạn 108

Mặc dù Đấng Christ trên trần gian có thể hoạt động nhân danh chính Đức Chúa Trời, Ngài không đến với ý định cho hết thảy mọi người thấy hình ảnh của Ngài trong xác thịt. Ngài không đến để hết thảy mọi người nhìn thấy Ngài; Ngài đến để cho phép con người được dìu dắt bởi tay Ngài, và con người nhờ đó mà bước vào thời đại mới. Chức năng của xác thịt Đấng Christ là dành cho công tác của chính Đức Chúa Trời, nghĩa là, cho công tác của Đức Chúa Trời trong xác thịt, và không cho phép con người hoàn toàn hiểu thực chất của xác thịt Ngài. Dù Ngài hoạt động như thế nào, không có gì Ngài làm là vượt quá những gì xác thịt có thể đạt được. Dù Ngài hoạt động như thế nào, Ngài làm như vậy trong xác thịt với một nhân tính bình thường, và không tiết lộ hoàn toàn cho con người sắc diện thật của Đức Chúa Trời. Thêm vào đó, công tác của Ngài trong xác thịt không bao giờ siêu nhiên hay không thể đánh giá được như con người nhận thức. Mặc dù Đấng Christ đại diện cho chính Đức Chúa Trời trong xác thịt và đích thân thực hiện công tác mà chính Đức Chúa Trời phải làm, nhưng Ngài không phủ nhận sự hiện hữu của Đức Chúa Trời trên trời, Ngài cũng không luống cuống tuyên bố những việc làm của mình. Thay vào đó, Ngài cứ ẩn mình một cách khiêm nhường bên trong xác thịt của Ngài. Ngoài Đấng Christ, những kẻ mạo xưng là Đấng Christ không có những phẩm chất của Ngài. Khi đối chiếu tâm tính kiêu ngạo và tự tôn của các christ giả ấy, sự việc trở nên rõ ràng rằng dạng xác thịt nào thật sự là Đấng Christ. Họ càng giả mạo, các christ giả ấy càng khoe mẽ bản thân, và họ càng có khả năng thực hiện những dấu kỳ, phép lạ để lừa con người. Các christ giả không có những phẩm chất của Đức Chúa Trời; Đấng Christ không bị vấy bẩn bởi bất kỳ yếu tố nào thuộc về các christ giả. Đức Chúa Trời trở nên xác thịt chỉ để hoàn thành công tác của xác thịt, chứ không chỉ đơn thuần cho phép con người nhìn thấy Ngài. Thay vào đó, Ngài để cho công tác của Ngài khẳng định thân phận của Ngài, và để những gì Ngài tiết lộ làm chứng cho thực chất của Ngài. Thực chất của Ngài không phải không có cơ sở; thân phận của Ngài không do tay Ngài nắm giữ; nó được xác định bởi công tác và thực chất của Ngài. Mặc dù Ngài có thực chất của chính Đức Chúa Trời và có thể thực hiện công tác của chính Đức Chúa Trời, nhưng xét cho cùng, Ngài vẫn là xác thịt, không giống với Thần. Ngài không phải là Đức Chúa Trời với các phẩm chất của Thần; Ngài là Đức Chúa Trời với một vỏ bọc xác thịt. Do đó, dù Ngài bình thường và yếu đuối thế nào, và dù Ngài tìm kiếm ý muốn của Đức Chúa Cha như thế nào, thần tính của Ngài là không thể phủ nhận. Bên trong Đức Chúa Trời nhập thể không chỉ tồn tại một nhân tính bình thường và sự yếu đuối của nó; mà còn tồn tại sự kỳ diệu và khôn lường của thần tính Ngài, cũng như mọi việc làm của Ngài trong xác thịt. Do vậy, cả nhân tính và thần tính đều tồn tại trong Đấng Christ, một cách vừa thực sự và thực tế. Đây không hề là một điều gì vô nghĩa hay siêu nhiên. Ngài đến trần gian với mục tiêu chính là thực hiện công tác; bắt buộc phải sở hữu một nhân tính bình thường để thực hiện công tác trên trần gian; nếu không, dù quyền năng của thần tính Ngài có vĩ đại như thế nào, chức năng gốc của nó không thể được vận dụng tốt. Mặc dù nhân tính của Ngài có tầm quan trọng rất lớn, đó không phải là thực chất của Ngài. Thực chất của Ngài là thần tính; do vậy, khoảnh khắc Ngài bắt đầu thực hiện chức vụ của Ngài trên trần gian là khoảnh khắc Ngài bắt đầu bày tỏ hữu thể của thần tính Ngài. Nhân tính của Ngài tồn tại chỉ để duy trì sự sống bình thường của xác thịt Ngài hầu cho thần tính của Ngài có thể thực hiện công tác như bình thường trong xác thịt; chính thần tính điều khiển toàn bộ công tác của Ngài. Khi Ngài đã hoàn thành công tác của mình, Ngài sẽ hoàn thành chức vụ của Ngài. Điều con người phải biết là sự trọn vẹn của công tác của Ngài, và chính thông qua công tác của Ngài mà Ngài cho phép con người biết Ngài. Trong suốt quá trình làm việc của Ngài, Ngài bày tỏ rất đầy đủ hữu thể của thần tính Ngài, điều không phải là một tâm tính bị vấy bẩn bởi nhân tính, hay bị vấy bẩn bởi ý nghĩ và hành vi của con người. Khi đến lúc toàn bộ chức vụ của Ngài kết thúc, Ngài sẽ bày tỏ một cách hoàn thiện và đầy đủ tâm tính mà Ngài phải bày tỏ. Công tác của Ngài không có sự chỉ dẫn bởi bất kỳ con người nào; sự bày tỏ tâm tính của Ngài cũng hoàn toàn tự do, và không bị kiểm soát bởi tâm trí hay bị tác động bởi ý nghĩ, mà được tỏ lộ một cách tự nhiên. Đây là điều không con người nào có thể đạt được. Ngay cả khi môi trường xung quanh khắc nghiệt hay điều kiện không thuận lợi, Ngài vẫn có thể bày tỏ tâm tính của Ngài vào thời điểm thích hợp. Người là Đấng Christ bày tỏ hữu thể của Đấng Christ, trong khi những kẻ không phải là Đấng Christ thì không có tâm tính của Đấng Christ. Do vậy, ngay cả khi tất cả đều chống lại Ngài hay có những ý niệm về Ngài, không ai có thể phủ nhận trên cơ sở các ý niệm của con người rằng tâm tính bày tỏ ra bởi Đấng Christ là của Đức Chúa Trời. Hết thảy những ai theo đuổi Đấng Christ với tấm lòng chân thật hay cố ý tìm kiếm Đức Chúa Trời sẽ thừa nhận rằng Ngài là Đấng Christ dựa trên sự bày tỏ của thần tính Ngài. Họ sẽ không bao giờ phủ nhận Đấng Christ trên cơ sở của bất kỳ phương diện nào của Ngài mà không theo những ý niệm của con người. Mặc dù con người rất ngu ngốc, hết thảy đều biết chính xác ý muốn của con người là gì và điều gì phát xuất từ Đức Chúa Trời. Đơn thuần là nhiều người cố ý phản nghịch Đấng Christ do những ý định riêng của họ. Nếu không vì điều này, thì không một người nào có lý do để phủ nhận sự tồn tại của Đấng Christ, bởi vì thần tính được bày tỏ bởi Đấng Christ quả thật có tồn tại, và công tác của Ngài có thể được chứng kiến bởi mắt thường.

Trích từ “Thực chất của Đấng Christ là vâng theo ý muốn của Cha trên trời” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày Trích đoạn 109

Công tác và sự bày tỏ của Đấng Christ xác định thực chất của Ngài. Ngài có thể hoàn thành điều đã được giao cho Ngài với một tấm lòng chân thật. Ngài có thể thờ phượng Đức Chúa Trời trên trời với tấm lòng chân thật, và với tấm lòng chân thật tìm kiếm ý muốn của Đức Chúa Cha. Hết thảy điều này được xác định bởi thực chất của Ngài. Và sự bộc lộ tự nhiên của Ngài cũng được xác định bởi thực chất của Ngài; lý do Ta gọi đây là “sự bộc lộ tự nhiên” của Ngài là vì sự bày tỏ của Ngài không phải là sự bắt chước, hay kết quả của sự giáo dục bởi con người, hay kết quả của nhiều năm trau dồi bởi con người. Ngài đã không học điều đó hay tô điểm cho Ngài bằng điều đó; thay vào đó, nó vốn có trong Ngài. Con người có thể phủ nhận công tác của Ngài, sự bày tỏ của Ngài, nhân tính của Ngài, và toàn bộ đời sống của nhân tính bình thường của Ngài, nhưng không ai có thể phủ nhận rằng Ngài thờ phượng Đức Chúa Trời trên trời với tấm lòng chân thật; không ai có thể phủ nhận rằng Ngài đã đến để hoàn thành ý muốn của Cha trên trời, và không ai có thể phủ nhận sự chân thành của Ngài khi tìm kiếm ý muốn của Đức Chúa Cha. Mặc dù hình ảnh của Ngài không thu hút, nhưng sự giảng đạo của Ngài không mang khí chất phi phàm, và công tác của Ngài không làm long trời lở đất như con người tưởng tượng, Ngài quả thật là Đấng Christ, Đấng đã hoàn thành ý muốn của Cha trên trời với tấm lòng chân thật, hoàn toàn quy phục Cha trên trời, và vâng lời cho đến chết. Đây là vì thực chất của Ngài là thực chất của Đấng Christ. Lẽ thật này khó tin đối với con người, đó là sự thật. Khi chức vụ của Đấng Christ đã hoàn thành trọn vẹn, con người sẽ có thể nhìn thấy từ công tác của Ngài rằng tâm tính của Ngài và hữu thể của Ngài đại diện cho tâm tính và hữu thể của Đức Chúa Trời trên trời. Vào lúc đó, sự tổng hợp của hết thảy công tác của Ngài có thể khẳng định rằng Ngài quả thật là xác thịt mà Lời trở thành, và không giống với con người của thịt và huyết. Mỗi bước trong công tác của Đấng Christ trên đất đều có ý nghĩa đại diện, nhưng con người trải nghiệm công tác thực của từng bước không thể nắm bắt được ý nghĩa công tác của Ngài. Điều này đặc biệt đúng đối với một số bước của công tác được thực hiện bởi Đức Chúa Trời trong lần nhập thể thứ hai. Hầu hết những ai đã chỉ nghe hay thấy những lời của Đấng Christ nhưng chưa bao giờ thấy Ngài sẽ không có ý niệm nào về công tác của Ngài; những ai đã thấy Đấng Christ và nghe những lời của Ngài, cũng như đã trải nghiệm công tác của Ngài, thấy khó chấp nhận công tác của Ngài. Đây không phải là vì vẻ ngoài và nhân tính bình thường của Đấng Christ không hợp thị hiếu con người sao? Những ai chấp nhận công tác của Ngài sau khi Đấng Christ đã đi sẽ không có những sự khó khăn như vậy, bởi vì họ đơn thuần chấp nhận công tác của Ngài và không tiếp xúc với nhân tính bình thường của Đấng Christ. Con người không thể buông bỏ những ý niệm của mình về Đức Chúa Trời và thay vào đó lại săm soi Ngài một cách dữ dội; đây là do thực tế rằng con người chỉ tập trung vào diện mạo của Ngài và không thể nhận ra thực chất của Ngài dựa trên công tác và những lời của Ngài. Nếu con người phớt lờ diện mạo của Đấng Christ hoặc tránh bàn luận về nhân tính của Đấng Christ, và chỉ nói về thần tính của Ngài, với công tác và những lời mà không ai có thể đạt được, thì khi đó những ý niệm của con người sẽ giảm đi một nửa, thậm chí đến mức mọi khó khăn của con người đều sẽ được giải quyết.

Trích từ “Thực chất của Đấng Christ là vâng theo ý muốn của Cha trên trời” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày Trích đoạn 110

Đấng là Đức Chúa Trời nhập thể sẽ sở hữu thực chất của Đức Chúa Trời, và Đấng là Đức Chúa Trời nhập thể sẽ sở hữu biểu hiện của Đức Chúa Trời. Bởi vì Đức Chúa Trời trở thành xác thịt, Ngài sẽ đưa ra công tác mà Ngài định làm, và bởi vì Đức Chúa Trời trở thành xác thịt, Ngài sẽ bày tỏ mình là ai, và sẽ đem đến lẽ thật cho con người, ban sự sống cho con người, và chỉ lối cho con người. Thể xác không có thực chất của Đức Chúa Trời thì dứt khoát không phải là Đức Chúa Trời nhập thể; điều này không nghi ngờ gì nữa. Nếu con người định tìm hiểu đó có phải là xác thịt nhập thể của Đức Chúa Trời hay không, thì họ phải chứng thực điều này từ tâm tính mà Ngài thể hiện và những lời mà Ngài nói ra. Nghĩa là, để chứng thực đó có phải xác thịt nhập thể của Đức Chúa Trời hay không và đó có phải là con đường thật hay không, thì người ta phải phân biệt dựa trên thực chất của Ngài. Và như thế, khi xác định đó có phải là xác thịt nhập thể của Đức Chúa Trời hay không, điều chính yếu nằm ở thực chất của Ngài (công tác của Ngài, lời của Ngài, tâm tính của Ngài và nhiều khía cạnh khác), thay vì hình dáng bên ngoài. Nếu con người chỉ soi xét ngoại hình của Ngài, và vì thế bỏ qua thực chất của Ngài, thì điều này thể hiện con người thật tối tăm và dốt nát. Hình dáng bên ngoài không thể quyết định thực chất bên trong; hơn thế nữa, công tác của Đức Chúa Trời chẳng bao giờ tuân theo những ý niệm của con người. Chẳng phải bề ngoài của Jêsus trái ngược với những ý niệm của con người hay sao? Chẳng phải diện mạo và trang phục của Ngài chẳng thể đưa ra manh mối nào về thân phận thật sự của Ngài hay sao? Chẳng phải những người Pha-ri-si đầu tiên đã chống đối Jêsus chính vì họ chỉ nhìn vào hình dáng bên ngoài của Ngài và không khắc ghi những lời từ miệng Ngàihay sao? Ta hy vọng rằng mỗi một anh chị em, những người tìm kiếm sự xuất hiện của Đức Chúa Trời sẽ không lặp lại bi kịch lịch sử đó. Các ngươi không được trở thành những người Pha-ri-si của thời hiện đại và đóng đinh Đức Chúa Trời lên thập tự giá lần nữa. Các ngươi phải suy xét thấu đáo làm thế nào để đón tiếp sự trở lại của Đức Chúa Trời, và các ngươi phải có tư tưởng rõ ràng về việc làm thế nào để trở thành người vâng phục lẽ thật. Đây là trách nhiệm của tất cả những ai đang mong đợi sự tái lâm của Jêsus trên đám mây. Chúng ta phải dụi cặp mắt tâm linh của mình cho sáng ra, và đừng trở nên sa lầy trong những lời hoang tưởng cường điệu. Chúng ta phải suy nghĩ về những công tác thực tế của Đức Chúa Trời, và nhìn vào khía cạnh thực tế của Đức Chúa Trời. Đừng bị cuốn theo hay đánh mất chính mình trong những mơ tưởng hão huyền, cứ mãi ngóng chờ ngày mà Đức Chúa Jêsus cưỡi mây bất thình lình giáng xuống giữa các ngươi, và mang các ngươi đi, những người chưa bao giờ biết đến hay nhìn thấy Ngài, và những người không biết làm thế nào để thực hiện ý muốn của Ngài. Tốt hơn là hãy suy nghĩ về những vấn đề thực tế hơn!

Trích từ Lời tựa của Lời xuất hiện trong xác thịt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày Trích đoạn 111

Đức Chúa Trời trở nên xác thịt chỉ biểu lộ chính mình Ngài cho một bộ phận những người theo Ngài trong giai đoạn này khi Ngài đích thân thực hiện công tác của Ngài, chứ không phải cho mọi sinh vật. Ngài đã trở nên xác thịt chỉ để hoàn thành một giai đoạn trong công tác của Ngài, chứ không phải để cho con người thấy hình ảnh của Ngài. Tuy nhiên, công tác của Ngài phải được chính Ngài thực hiện, do đó Ngài cần thiết phải làm như vậy trong xác thịt. Khi công tác này kết thúc, Ngài sẽ rời khỏi thế giới loài người; Ngài không thể ở lại lâu dài ở giữa nhân loại vì sợ cản trở công tác sắp đến. Những gì Ngài biểu lộ cho dân chúng chỉ là tâm tính công chính và mọi việc làm của Ngài, chứ không phải là hình ảnh khi Ngài đã hai lần trở nên xác thịt, vì hình ảnh của Đức Chúa Trời chỉ có thể được thể hiện thông qua tâm tính của Ngài, chứ không thể bị thay thế bằng hình ảnh của xác thịt nhập thể của Ngài. Ảnh tượng của xác thịt Ngài chỉ được bày tỏ cho một số lượng người giới hạn, chỉ cho những người theo Ngài khi Ngài hành động trong xác thịt mà thôi. Đây là lý do tại sao công tác đang được thực hiện giờ đây được làm trong bí mật. Theo cách tương tự, Jêsus đã chỉ bày tỏ chính mình Ngài cho người Do Thái khi Ngài làm công tác của mình, và không bao giờ công khai bày tỏ chính mình Ngài cho bất kỳ quốc gia nào khác. Do đó, một khi Ngài đã hoàn thành công tác của mình, Ngài nhanh chóng rời khỏi nhân gian và không ở lại; sau đó, không phải Ngài, hình ảnh này của con người, là Đấng đã bày tỏ chính mình Ngài cho con người, mà là Đức Thánh Linh, là Đấng đã trực tiếp thực hiện công tác. Một khi công tác của Đức Chúa Trời trở nên xác thịt được hoàn thành trọn vẹn, Ngài sẽ rời khỏi thế giới phàm tục, và Ngài sẽ không bao giờ làm công tác tương tự như những gì Ngài đã làm khi còn ở trong xác thịt nữa. Sau đấy, tất cả công tác đều được Đức Thánh Linh trực tiếp thực hiện. Trong giai đoạn này, con người hầu như không thể nhìn thấy hình ảnh thân thể xác thịt của Ngài; Ngài không hề bày tỏ chính mình Ngài cho con người, mà vẫn luôn ẩn giấu. Thời gian cho công tác của Đức Chúa Trời trở nên xác thịt có hạn. Nó được thực hiện trong một thời đại, giai đoạn, quốc gia cụ thể, và ở giữa những con người cụ thể. Công tác này chỉ đại diện cho công tác trong giai đoạn nhập thể của Đức Chúa Trời, và cụ thể theo thời đại; nó đại diện cho công tác của Thần của Đức Chúa Trời trong một thời đại cụ thể, chứ không phải cho toàn bộ công tác của Ngài. Do đó, hình ảnh của Đức Chúa Trời trở nên xác thịt sẽ không được thể hiện cho mọi dân tộc. Những gì được thể hiện cho dân chúng là sự công chính của Đức Chúa Trời và toàn bộ tâm tính của Ngài, thay vì hình ảnh của Ngài khi Ngài đã hai lần trở nên xác thịt. Đó không phải là một hình ảnh đơn lẻ được tỏ ra cho con người, cũng không phải là hai hình ảnh kết hợp lại. Do đó, xác thịt nhập thể của Đức Chúa Trời buộc phải rời khỏi trần gian sau khi hoàn thành công tác mà Ngài cần phải làm, vì Ngài chỉ đến để làm công tác mà Ngài phải làm, chứ không phải để cho mọi người thấy hình ảnh của Ngài. Mặc dù ý nghĩa của sự nhập thể đã được Đức Chúa Trời làm trọn qua hai lần trở nên xác thịt, nhưng Ngài vẫn sẽ không công khai biểu lộ chính mình Ngài cho bất kỳ quốc gia nào chưa từng thấy Ngài trước đây. Jêsus sẽ không bao giờ thể hiện chính mình Ngài là Mặt Trời công chính cho người Do Thái lần nào nữa, và Ngài cũng sẽ không lên núi Ô-li-ve và hiện ra cho mọi dân tộc; tất cả những gì người Do Thái đã thấy là chân dung của Jêsus trong thời gian Ngài ở Giu-đê. Điều này là do công tác của Jêsus trong sự nhập thể của Ngài đã kết thúc hai nghìn năm trước; Ngài sẽ không trở lại Giu-đê trong hình ảnh của một người Do Thái, càng không thể hiện bản thân trong hình ảnh của một người Do Thái cho bất kỳ quốc gia dân ngoại nào, vì hình ảnh của Jêsus trở nên xác thịt chỉ là hình ảnh của một người Do Thái, chứ không phải hình ảnh của Con người mà Giăng đã nhìn thấy. Mặc dù Jêsus đã hứa với các môn đồ của Ngài rằng Ngài sẽ trở lại, nhưng Ngài sẽ không chỉ đơn giản bày tỏ bản thân trong hình ảnh của một người Do Thái cho tất cả những người ở các quốc gia dân ngoại. Các ngươi phải biết rằng công tác của Đức Chúa Trời trở nên xác thịt là để mở ra một thời đại. Công tác này được giới hạn trong một vài năm, và Ngài không thể hoàn thành mọi công tác của Thần của Đức Chúa Trời được. Theo cách tương tự, hình ảnh của Jêsus như một người Do Thái chỉ có thể đại diện cho hình ảnh của Đức Chúa Trời khi Ngài làm việc tại Giu-đê, và Ngài đã chỉ có thể làm công tác chịu đóng đinh trên thập tự giá. Trong giai đoạn Jêsus ở trong xác thịt, Ngài đã không thể làm công tác chấm dứt thời đại hoặc hủy diệt loài người. Do đó, sau khi Ngài đã bị đóng đinh trên thập tự giá và kết thúc công tác của mình, Ngài đã ngự lên trên cao và mãi mãi che giấu bản thân Ngài khỏi con người. Từ đó trở đi, các tín hữu trung tín từ các quốc gia dân ngoại đã không thể nhìn thấy sự biểu lộ của Jêsus, mà chỉ có bức chân dung của Ngài mà họ đã dán trên tường. Bức chân dung này chỉ là một thứ được vẽ bởi con người, chứ không phải là hình ảnh mà chính Đức Chúa Trời đã tỏ ra cho con người. Đức Chúa Trời sẽ không công khai tỏ hiện chính mình cho dân chúng trong hình ảnh như khi Ngài đã hai lần trở nên xác thịt. Công tác mà Ngài thực hiện ở giữa nhân loại là để cho phép họ hiểu được tâm tính của Ngài. Tất cả điều này được tỏ ra cho con người bằng công tác của các thời đại khác nhau; nó được hoàn thành thông qua tâm tính mà Ngài đã cho biết và công tác mà Ngài đã thực hiện, hơn là thông qua sự biểu lộ của Jêsus. Điều đó có nghĩa là, hình ảnh của Đức Chúa Trời được con người biết đến không phải thông qua hình ảnh nhập thể, mà đúng hơn là thông qua công tác được thực hiện bởi Đức Chúa Trời nhập thể, là Đấng có cả hình và ảnh; và thông qua công tác của Ngài, hình ảnh của Ngài được tỏ ra và tâm tính của Ngài được biết đến. Đây là ý nghĩa của công tác mà Ngài muốn thực hiện trong xác thịt.

Một khi công tác của hai lần nhập thể của Đức Chúa Trời kết thúc, Ngài sẽ bắt đầu cho thấy tâm tính công chính của Ngài trên khắp các quốc gia dân ngoại, cho phép dân chúng nhìn thấy hình ảnh của Ngài. Ngài sẽ biểu lộ tâm tính của Ngài và bằng cách này làm rõ kết cục của những loại người khác nhau, từ đó hoàn toàn khép lại thời đại cũ. Lý do công tác trong xác thịt của Ngài không mở rộng (cũng như Jêsus đã chỉ làm việc tại Giu-đê, và ngày nay Ta chỉ làm việc ở giữa các ngươi) là vì công tác của Ngài trong xác thịt có những ranh giới và giới hạn. Ngài chỉ đơn thuần là đang thực hiện một giai đoạn ngắn của công tác trong hình ảnh của một xác thịt thông thường và bình thường; Ngài không sử dụng xác thịt nhập thể này để làm công tác đời đời hoặc công tác hiện ra cho các dân tộc của các quốc gia dân ngoại. Công tác trong xác thịt này chỉ có thể giới hạn trong một phạm vi (chẳng hạn như chỉ làm việc tại Giu-đê hoặc chỉ ở giữa các ngươi), và sau đó, bằng công tác được thực hiện bên trong các ranh giới này, phạm vi của nó có thể được mở rộng. Tất nhiên, công tác mở rộng sẽ được thực hiện trực tiếp bởi Thần của Ngài và khi đó sẽ không còn là công tác của xác thịt nhập thể của Ngài nữa. Vì công tác trong xác thịt có những ranh giới và không mở rộng ra mọi ngóc ngách của vũ trụ – điều này nó không thể thực hiện được. Thông qua công tác trong xác thịt, Thần của Ngài thực hiện công tác tiếp theo. Do đó, công tác được thực hiện trong xác thịt có tính chất mở đầu, được thực hiện bên trong những giới hạn nhất định; sau đấy, chính Thần của Ngài tiếp tục công tác này, và hơn thế nữa, Ngài làm điều đó trong một phạm vi mở rộng.

Trích từ “Lẽ mầu nhiệm của sự nhập thể (2)” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày Trích đoạn 112

Công tác mà Đức Chúa Trời đến để làm trên đất này chỉ là hướng dẫn thời đại, mở ra một thời đại mới và kết thúc thời đại cũ. Ngài đã không đến để sống bày tỏ ra cuộc đời của một con người trên đất, để tự mình trải nghiệm những niềm vui và nỗi buồn của cuộc sống trong nhân thế, hoặc để hoàn thiện một người nào đó bởi tay Ngài, hoặc đích thân quan sát sự trưởng thành của một người nào đó. Đây không phải là công tác của Ngài; công tác của Ngài chỉ đơn thuần là bắt đầu thời đại mới và kết thúc thời đại cũ. Nghĩa là, Ngài sẽ đích thân bắt đầu một thời đại, đích thân kết thúc thời đại cũ, và đánh bại Sa-tan bằng cách đích thân thực hiện công tác của Ngài. Mỗi lần Ngài đích thân thực hiện công tác của mình, nó như thể Ngài đang đặt một chân lên chiến trường. Đầu tiên, Ngài chinh phục thế gian và đánh bại Sa-tan trong khi ở trong xác thịt; Ngài sở hữu mọi vinh quang và vén màn về toàn bộ công tác của hai nghìn năm, làm vậy hầu cho tất cả mọi người trên đất có con đường đúng đắn để bước đi cùng một cuộc sống bình an và niềm vui để sống. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời không thể sống với con người trên đất lâu dài, vì Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời, và xét cho cùng vẫn khác với con người. Ngài không thể sống cả cuộc đời của một người bình thường, nghĩa là Ngài không thể sống trên đất như một người không có gì phi thường, vì Ngài chỉ có được phần tối thiểu trong nhân tính bình thường của một người bình thường để duy trì cuộc sống con người của Ngài. Nói cách khác, làm thế nào Đức Chúa Trời có thể lập một gia đình, có một sự nghiệp, và nuôi dạy con cái trên trần gian được? Chẳng phải điều này sẽ là một sự hổ thẹn đối với Ngài sao? Việc Ngài được ban cho nhân tính bình thường chỉ nhằm mục đích thực hiện công tác một cách bình thường, chứ không phải để Ngài có thể có gia đình và sự nghiệp như một người bình thường. Ý thức bình thường, tâm trí bình thường, và cách ăn mặc bình thường của Ngài trong xác thịt của Ngài đủ để chứng minh rằng Ngài có một nhân tính bình thường; Ngài không cần phải có một gia đình hoặc một sự nghiệp để chứng minh rằng Ngài được trang bị một nhân tính bình thường. Điều này hoàn toàn không cần thiết! Đức Chúa Trời đến trần gian là Lời trở nên xác thịt; Ngài chỉ đơn giản là cho phép con người hiểu lời của Ngài và nhận biết lời của Ngài, nghĩa là cho phép con người nhận biết công tác được thực hiện bởi xác thịt. Ý định của Ngài không phải là để mọi người đối xử với xác thịt của Ngài theo một cách nhất định, mà chỉ để con người vâng lời cho đến cùng, nghĩa là tuân theo mọi lời phán ra từ miệng của Ngài, và phục tùng mọi công tác Ngài làm. Ngài chỉ đơn thuần là đang làm việc trong xác thịt; Ngài không chủ ý yêu cầu con người tôn cao sự vĩ đại và thánh khiết của xác thịt Ngài, mà thay vào đó, cho con người thấy sự khôn ngoan trong công tác của Ngài và mọi thẩm quyền mà Ngài nắm giữ. Do đó, mặc dù Ngài có một nhân tính xuất chúng, nhưng Ngài chẳng loan báo điều gì, mà chỉ tập trung vào công tác mà Ngài nên làm. Các ngươi nên biết lý do tại sao Đức Chúa Trời đã trở nên xác thịt mà vẫn không công khai hay chứng thực cho nhân tính bình thường của Ngài, mà thay vào đó chỉ đơn giản thực hiện công tác mà Ngài muốn làm. Vì vậy, tất cả những gì các ngươi có thể nhìn thấy từ Đức Chúa Trời nhập thể là những gì thuộc về thần tính Ngài; điều này là do Ngài không bao giờ tuyên bố nhân tính của Ngài là gì để con người tranh đua. Chỉ khi con người lãnh đạo con người, thì họ mới phải nói về nhân tính của họ, để có được nhiều hơn sự ngưỡng mộ và phục tùng họ và qua đó đạt được vai trò lãnh đạo người khác. Ngược lại, Đức Chúa Trời chinh phục con người chỉ thông qua công tác của Ngài (nghĩa là công tác mà con người không thể đạt được); không thể nào có chuyện Ngài được con người ngưỡng mộ, hoặc bắt con người ngưỡng mộ Ngài. Tất cả những gì Ngài làm là truyền vào con người một cảm giác tôn kính dành cho Ngài hoặc một ý thức về sự không thể dò lường của Ngài. Đức Chúa Trời không có nhu cầu gây ấn tượng với con người; tất cả những gì Ngài cần là để ngươi tôn kính Ngài một khi ngươi đã chứng kiến tâm tính của Ngài. Công tác Đức Chúa Trời làm là của riêng Ngài; con người không thể làm được điều đó thay cho Ngài, và con người cũng không thể đạt được điều đó. Chỉ đích thân Đức Chúa Trời mới có thể thực hiện công tác của chính Ngài và mở ra một thời đại mới để dẫn dắt con người vào đời sống mới. Công tác Ngài làm là giúp con người có được một đời sống mới và bước vào một thời đại mới. Phần còn lại của công tác được bàn giao lại cho những người có nhân tính bình thường được người khác ngưỡng mộ. Do đó, trong Thời đại Ân điển, Ngài đã hoàn tất công tác hai nghìn năm chỉ trong ba năm rưỡi trong số ba mươi ba năm trong xác thịt của Ngài. Khi Đức Chúa Trời đến thế gian để thực hiện công tác của Ngài, Ngài luôn hoàn tất công tác của hai nghìn năm hoặc của toàn bộ thời đại trong khoảng thời gian ngắn nhất chỉ một vài năm. Ngài không chậm trễ, và Ngài không trì hoãn; Ngài chỉ đơn giản là cô đọng công tác của nhiều năm hầu cho nó được hoàn thành chỉ trong một vài năm ngắn ngủi. Điều này là do công tác mà Ngài đích thân thực hiện hoàn toàn là để mở ra một lối thoát mới và dẫn dắt một thời đại mới.

Trích từ “Lẽ mầu nhiệm của sự nhập thể (2)” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày Trích đoạn 113

Khi Đức Chúa Trời thực hiện công tác của mình, Ngài đến không phải để tham gia vào bất kỳ việc xây dựng hoặc phong trào nào, mà là để thi hành chức vụ của Ngài. Mỗi lần Ngài trở nên xác thịt, đó chỉ là để hoàn tất một giai đoạn công tác và khởi đầu một thời đại mới. Giờ đây, Thời đại Vương quốc đã đến, cũng như việc đào tạo cho vương quốc. Giai đoạn công tác này không phải là công tác của con người, và nó không phải để nhào nặn con người đến một mức độ cụ thể; mà chỉ là để hoàn tất một phần công tác của Đức Chúa Trời. Những gì Ngài làm không phải là công tác của con người, nó không phải để đạt được một kết quả nhất định trong việc nhào nặn con người trước khi Ngài rời khỏi thế gian; nó là để thi hành chức vụ của Ngài và hoàn thành công tác Ngài phải làm, đó là sắp xếp hợp lý cho công tác của Ngài trên đất, và qua đó trở nên vinh hiển. Công tác của Đức Chúa Trời nhập thể không giống với của những người được Đức Thánh Linh sử dụng. Khi Đức Chúa Trời đến để làm công tác của Ngài trên đất, Ngài chỉ quan tâm đến việc thi hành chức vụ của Ngài. Đối với mọi vấn đề khác không liên quan đến chức vụ của Ngài, Ngài hầu như không tham gia, thậm chí đến mức nhắm mắt làm ngơ. Ngài chỉ đơn giản thực hiện công tác Ngài phải làm, và Ngài đặc biệt không quan tâm đến công việc con người phải làm. Công tác Ngài làm chỉ là công tác liên quan đến thời đại Ngài đang sống và đến chức vụ Ngài phải thi hành, như thể mọi vấn đề khác đều nằm ngoài phạm vi của Ngài. Ngài không trang bị cho mình kiến thức cơ bản hơn về việc sống như một con người giữa nhân loại, Ngài cũng không học thêm các kỹ năng xã hội, cũng không trang bị cho mình bất kỳ điều gì khác mà con người hiểu. Mọi thứ con người phải sở hữu không hề làm Ngài bận tâm và Ngài chỉ đơn giản làm công tác là bổn phận của Ngài. Và vì vậy, như con người nhận thấy, Đức Chúa Trời nhập thể còn thiếu rất nhiều đến nỗi Ngài thậm chí không chú ý đến nhiều thứ con người phải sở hữu, và Ngài không có sự hiểu biết về những vấn đề như thế. Những thứ như kiến thức thông thường về cuộc sống, cũng như các nguyên tắc điều chỉnh hành vi cá nhân và sự tương tác với người khác, dường như không liên quan đến Ngài. Nhưng ngươi hoàn toàn không thể cảm nhận được từ Đức Chúa Trời nhập thể một chút dấu hiệu của sự bất thường nào. Điều đó có nghĩa là, nhân tính của Ngài chỉ duy trì cuộc sống của Ngài như một người bình thường và sự suy luận bình thường của bộ não Ngài, cho Ngài khả năng phân biệt đúng sai. Tuy nhiên, Ngài không được trang bị thêm bất kỳ điều gì khác, mọi thứ đó đều là những thứ mà chỉ riêng con người (những loài thọ tạo) nên sở hữu. Đức Chúa Trời trở nên xác thịt chỉ để thi hành chức vụ của riêng Ngài. Công tác của Ngài nhắm đến cả một thời đại, không phải đến bất kỳ một người nào hoặc một nơi nào, mà là toàn bộ vũ trụ. Đây là phương hướng cho công tác của Ngài và là nguyên tắc Ngài làm việc. Không ai có thể thay đổi điều này, và con người không có cách nào tham gia vào. Mỗi lần Đức Chúa Trời trở nên xác thịt, Ngài mang theo công tác của thời đại đó, và không có ý định sống bên cạnh con người trong hai mươi, ba mươi, bốn mươi, hoặc thậm chí bảy mươi hay tám mươi năm để họ có thể hiểu rõ hơn và có được sự thông sáng về Ngài. Không cần như thế! Làm vậy sẽ không cách nào đào sâu thêm kiến thức con người có về tâm tính vốn có của Đức Chúa Trời; thay vào đó, nó sẽ chỉ làm tăng thêm các ý niệm của họ và khiến cho các ý niệm và suy nghĩ của họ trở nên hủ lậu. Vì vậy, tất cả các ngươi phải hiểu chính xác công tác của Đức Chúa Trời nhập thể là gì. Chắc chắn các ngươi không thể không hiểu những lời Ta đã phán cùng các ngươi rằng: “Ta đã đến không phải để trải nghiệm cuộc sống của một con người bình thường” chứ? Các ngươi đã quên những lời rằng: “Đức Chúa Trời đến thế gian không phải để sống cuộc đời của một con người bình thường” rồi sao? Các ngươi không hiểu mục đích của Đức Chúa Trời trong việc trở nên xác thịt, và các ngươi cũng không biết ý nghĩa của câu: “Làm sao Đức Chúa Trời có thể đến thế gian với ý định trải nghiệm cuộc sống của một loài thọ tạo được?” Đức Chúa Trời đến thế gian chỉ để hoàn tất công tác của Ngài, và vì vậy, công tác của Ngài trên đất thật ngắn ngủi. Ngài đến thế gian không phải với ý định khiến cho Thần của Đức Chúa Trời trau dồi thân thể xác thịt của Ngài để trở thành một con người siêu việt, người sẽ dẫn dắt hội thánh. Khi Đức Chúa Trời đến thế gian, đó là Lời trở nên xác thịt; tuy nhiên, con người không biết về công tác của Ngài và quy mọi thứ cho Ngài một cách cưỡng ép. Nhưng tất cả các ngươi nên nhận ra rằng Đức Chúa Trời là “Lời trở nên xác thịt”, không phải là một thân thể xác thịt đã được Thần của Đức Chúa Trời trau dồi để đảm nhận vai trò của Đức Chúa Trời trong một thời gian. Bản thân Đức Chúa Trời không phải là sản phẩm của sự trau dồi, mà là Lời trở nên xác thịt, và ngày nay, Ngài chính thức thực hiện công tác của Ngài giữa tất cả các ngươi. Tất cả các ngươi đều biết và thừa nhận rằng sự nhập thể của Đức Chúa Trời là một việc có thật, thế mà các ngươi làm như các ngươi hiểu điều đó rồi. Từ công tác của Đức Chúa Trời nhập thể cho đến ý nghĩa và thực chất sự nhập thể của Ngài, các ngươi không có khả năng nắm bắt được những điều này một chút nào và chỉ làm theo người khác liến thoắng đọc thuộc lòng những câu từ. Ngươi có tin là Đức Chúa Trời nhập thể giống như ngươi tưởng tượng không?

Trích từ “Lẽ mầu nhiệm của sự nhập thể (3)” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày Trích đoạn 114

Đức Chúa Trời trở nên xác thịt chỉ để dẫn dắt thời đại và khởi động công tác mới. Các ngươi cần hiểu được điểm này. Điều này khác biệt rất nhiều so với chức năng của con người, và cả hai không thể được đánh đồng. Con người cần phải được trau dồi và hoàn thiện qua một thời gian dài trước khi họ có thể được sử dụng để thực hiện công việc, và loại nhân tính cần có là một loại đặc biệt cao. Con người không chỉ phải có khả năng duy trì ý thức của con người bình thường, mà họ còn phải hiểu thêm nhiều nguyên tắc và quy tắc điều chỉnh hành vi của mình trong mối quan hệ với người khác, và hơn nữa, họ còn phải cam kết học hỏi nhiều hơn về sự khôn ngoan và hiểu biết về đạo đức của con người. Đây là những gì con người nên được trang bị. Tuy nhiên, đối với Đức Chúa Trời trở nên xác thịt thì không như vậy, vì công tác của Ngài không đại diện cho con người, cũng không phải là công tác của con người; đúng hơn, đó là một sự thể hiện trực tiếp hữu thể của Ngài và là một sự thực hiện trực tiếp công tác Ngài phải làm. (Đương nhiên, công tác của Ngài được thực hiện vào thời điểm thích hợp, chứ không phải một cách tình cờ hay ngẫu nhiên, và nó được bắt đầu khi đến lúc thi hành chức vụ của Ngài.) Ngài không tham gia vào cuộc sống của con người hoặc công việc của con người, nghĩa là, nhân tính của Ngài không được trang bị bất kỳ điều nào trong số này (mặc dù việc này không ảnh hưởng đến công tác của Ngài). Ngài chỉ thi hành chức vụ của mình khi đến lúc Ngài phải làm như vậy; bất kể địa vị của Ngài là gì, Ngài chỉ đơn giản tiến lên với công tác Ngài phải làm. Bất kể con người biết gì về Ngài và bất kể ý kiến của họ về Ngài ra sao, công tác của Ngài hoàn toàn không bị ảnh hưởng. Chẳng hạn, khi Jêsus thực hiện công tác của Ngài, đã không ai biết chính xác Ngài là ai, nhưng Ngài chỉ đơn giản tiến lên trong công tác của Ngài. Chẳng điều gì trong số này cản trở Ngài thực hiện công tác Ngài phải làm. Do đó, ban đầu, Ngài đã không xưng nhận hoặc công bố thân phận của chính Ngài, mà chỉ đơn thuần để cho con người đi theo Ngài. Đương nhiên, đây không chỉ là sự khiêm nhường của Đức Chúa Trời, mà còn là cách Đức Chúa Trời đã làm việc trong xác thịt. Ngài chỉ có thể làm việc theo cách này, vì con người không cách nào nhận ra Ngài bằng mắt thường. Và kể cả con người có nhận ra Ngài, họ cũng sẽ không thể giúp gì được trong công tác của Ngài. Hơn nữa, Ngài đã không trở nên xác thịt để cho con người biết đến xác thịt của Ngài; mà là để thực hiện công tác và thi hành chức vụ của Ngài. Vì lý do này, Ngài đã không đặt nặng việc công khai thân phận của Ngài. Khi Ngài đã hoàn tất mọi công tác Ngài phải làm, toàn bộ thân phận và địa vị của Ngài tự nhiên trở nên rõ ràng đối với con người. Đức Chúa Trời trở nên xác thịt giữ im lặng và không bao giờ đưa ra bất kỳ lời tuyên bố nào. Ngài cũng không để tâm đến con người, cũng như đến tình hình họ đang theo Ngài như thế nào, mà chỉ đơn giản tiến lên trong việc thi hành chức vụ của Ngài và thực hiện công tác Ngài phải làm. Không ai có thể cản trở công tác của Ngài. Khi đến lúc Ngài kết thúc công tác của Ngài, nó chắc chắn sẽ được kết thúc và chấm dứt, và không ai có thể ra lệnh khác đi. Chỉ sau khi Ngài rời khỏi con người lúc hoàn tất công tác của mình thì con người mới hiểu được công tác Ngài làm, mặc dù vẫn chưa hoàn toàn rõ ràng. Và sẽ mất một thời gian dài để con người hoàn toàn hiểu được ý định Ngài đã thực hiện công tác của mình lúc ban đầu. Nói cách khác, công tác của thời đại Đức Chúa Trời nhập thể được chia làm hai phần. Một phần bao gồm công tác mà xác thịt nhập thể của chính Đức Chúa Trời thực hiện và những lời mà xác thịt nhập thể của chính Đức Chúa Trời phán. Một khi chức vụ của xác thịt Ngài được thi hành trọn vẹn, phần còn lại của công tác vẫn được thực hiện bởi những người được Đức Thánh Linh sử dụng. Đây chính là lúc con người nên thực hiện chức năng của mình, vì Đức Chúa Trời đã mở đường, và con người cần phải tự bước đi trên đó. Điều đó có nghĩa là, Đức Chúa Trời trở nên xác thịt thực hiện một phần của công tác, và sau đó, Đức Thánh Linh cùng những người được Đức Thánh Linh sử dụng sẽ nối tiếp công tác này. Do đó, con người nên biết những gì mà công tác chủ yếu được Đức Chúa Trời trở nên xác thịt thực hiện ở giai đoạn này đòi hỏi, họ phải hiểu chính xác ý nghĩa của việc Đức Chúa Trời trở nên xác thịt và công tác Ngài phải làm là gì, và không được đưa ra những đòi hỏi ở Đức Chúa Trời theo những đòi hỏi được đặt ra cho con người. Sai lầm của con người, ý niệm của họ, và thậm chí cả sự bất tuân của họ nằm ở đây.

Trích từ “Lẽ mầu nhiệm của sự nhập thể (3)” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày Trích đoạn 115

Đức Chúa Trời trở nên xác thịt không phải với ý định để cho con người biết đến xác thịt của Ngài, hoặc để cho con người phân biệt những điểm khác nhau giữa xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể và của con người; Đức Chúa Trời cũng không trở nên xác thịt để rèn luyện năng lực phân biệt của con người, và Ngài càng không làm như vậy với ý định để cho con người thờ phượng xác thịt nhập thể của Đức Chúa Trời, qua đó có được sự vinh hiển to lớn. Không điều nào trong số này là ý định ban đầu của Đức Chúa Trời khi trở nên xác thịt. Đức Chúa Trời cũng không trở nên xác thịt để kết án con người, cũng không cố tình vạch trần con người, cũng không làm khó họ. Không điều nào trong số này là ý định ban đầu của Đức Chúa Trời. Mỗi lần Đức Chúa Trời trở nên xác thịt, đó là một hình thức công tác không thể tránh khỏi. Chính vì công tác vĩ đại hơn và sự quản lý vĩ đại hơn của Ngài mà Ngài hành động như vậy, và không phải vì những lý do con người tưởng tượng ra. Đức Chúa Trời đến thế gian chỉ khi công tác của Ngài đòi hỏi, và chỉ khi cần thiết. Ngài không đến thế gian với ý định đơn giản để nhìn quanh, mà là để thực hiện công tác Ngài phải làm. Nếu không thì tại sao Ngài lại mang một gánh nặng lớn như vậy và chịu những rủi ro lớn như vậy để thực hiện công tác này? Đức Chúa Trời trở nên xác thịt chỉ khi Ngài phải như thế, và luôn với ý nghĩa độc nhất. Nếu chỉ vì để cho con người nhìn Ngài và mở mang tầm nhìn của họ, thì chắc chắn tuyệt đối là Ngài sẽ không bao giờ đến giữa con người một cách dễ dàng như vậy. Ngài đến thế gian vì sự quản lý của Ngài và công tác vĩ đại hơn của Ngài, và để Ngài có thể thu nhận được nhiều người hơn trong nhân loại. Ngài đến để đại diện cho thời đại, Ngài đến để đánh bại Sa-tan, và Ngài mặc lấy xác thịt để đánh bại Satan. Thậm chí, Ngài còn đến để hướng dẫn toàn thể loài người sống cuộc đời họ. Tất cả những điều này liên quan đến sự quản lý của Ngài, và nó liên quan đến công tác của toàn vũ trụ. Nếu Đức Chúa Trời trở nên xác thịt chỉ đơn thuần để cho con người biết đến xác thịt của Ngài và để mở mắt mọi người, thì tại sao Ngài không đi đến mọi quốc gia? Chẳng phải đây sẽ là một việc quá đỗi dễ dàng sao? Nhưng Ngài đã không làm như vậy, mà thay vào đó chọn một nơi thích hợp để an cư và bắt đầu công tác Ngài phải làm. Chỉ xác thịt này thôi cũng đã có ý nghĩa to lớn. Ngài đại diện cho cả một thời đại, và cũng thực hiện công tác của cả một thời đại; Ngài vừa kết thúc thời đại cũ, vừa mở ra thời đại mới. Tất cả những điều này là một vấn đề quan trọng liên quan đến sự quản lý của Đức Chúa Trời, và tất cả những điều này là ý nghĩa của một giai đoạn công tác mà Đức Chúa Trời đến thế gian để thực hiện.

Trích từ “Lẽ mầu nhiệm của sự nhập thể (3)” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày Trích đoạn 116

Việc cứu rỗi con người của Đức Chúa Trời không được thực hiện trực tiếp bằng phương cách của Thần và thân phận của Thần, vì con người không thể chạm vào hay nhìn thấy Thần của Ngài, cũng không thể đến gần. Nếu Ngài cố gắng cứu con người trực tiếp theo cách của Thần, thì con người sẽ không thể nhận lãnh sự cứu rỗi của Ngài. Nếu Đức Chúa Trời không mặc lấy hình dáng bên ngoài của một con người thọ tạo, thì sẽ không có cách nào để con người nhận được sự cứu rỗi này. Vì con người không có cách nào tiếp cận Ngài, cũng như không ai có thể đến gần đám mây của Đức Giê-hô-va. Chỉ bằng cách trở thành một con người thọ tạo, nghĩa là, chỉ bằng cách đặt lời của Ngài vào trong thân thể xác thịt mà Ngài sắp trở thành, thì Ngài mới có thể đích thân làm thấm nhuần lời này bên trong tất cả những ai theo Ngài. Chỉ khi đó con người mới có thể đích thân nhìn và nghe thấy lời Ngài, và hơn nữa mới có thể sở hữu được lời Ngài, và bằng cách này, họ mới đi đến chỗ được cứu rỗi hoàn toàn. Nếu Đức Chúa Trời không trở nên xác thịt, sẽ không một con người nào của thịt và huyết có thể nhận được sự cứu rỗi lớn lao như thế, cũng không một người nào sẽ được cứu rỗi. Nếu Thần của Đức Chúa Trời hoạt động trực tiếp giữa nhân loại, thì toàn bộ nhân loại sẽ bị hạ gục, nếu không, không có cách nào để tiếp xúc được với Đức Chúa Trời, họ sẽ hoàn toàn bị Sa-tan bắt giữ. Lần nhập thể đầu tiên là để cứu chuộc con người khỏi tội lỗi, để cứu chuộc họ bằng thân thể xác thịt của Jêsus, nghĩa là Ngài đã cứu con người khỏi thập tự giá, nhưng tâm tính sa-tan bại hoại vẫn còn trong con người. Lần nhập thể thứ hai không còn để làm một của lễ chuộc tội nữa, mà là để cứu rỗi hoàn toàn những ai đã được cứu chuộc khỏi tội lỗi. Điều này được thực hiện hầu cho những ai đã được tha thứ có thể được giải thoát khỏi tội lỗi của mình và được làm thanh sạch hoàn toàn, và qua việc đạt được một tâm tính thay đổi, mà thoát khỏi ảnh hưởng bóng tối của Sa-tan và trở lại trước ngôi của Đức Chúa Trời. Chỉ bằng cách này, con người mới có thể được nên thánh hoàn toàn. Sau khi Thời đại Luật pháp kết thúc, và bắt đầu với Thời đại Ân điển, Đức Chúa Trời đã bắt đầu công tác cứu rỗi, tiếp tục cho đến thời kỳ sau rốt, khi mà thông qua việc phán xét và hành phạt loài người vì sự phản nghịch của họ, Ngài sẽ hoàn toàn làm tinh sạch loài người. Chỉ khi đó Đức Chúa Trời mới kết thúc công tác cứu rỗi của Ngài và bước vào sự nghỉ ngơi. Do đó, trong ba giai đoạn công tác, chỉ có hai lần Đức Chúa Trời đã đích thân trở nên xác thịt để thực hiện công tác của Ngài giữa con người. Đó là bởi vì chỉ có một trong ba giai đoạn công tác là hướng dẫn con người sống cuộc sống của họ, trong khi hai giai đoạn còn lại bao gồm công tác cứu rỗi. Chỉ bằng cách trở nên xác thịt, Đức Chúa Trời mới có thể sống bên cạnh con người, trải nghiệm sự đau khổ của trần gian, và sống trong một thân thể xác thịt bình thường. Chỉ bằng cách này, Ngài mới có thể cung cấp cho con người con đường thực tế mà loài thọ tạo như họ cần. Chính nhờ thông qua sự nhập thể của Đức Chúa Trời mà con người nhận được sự cứu rỗi hoàn toàn từ Đức Chúa Trời, chứ không phải trực tiếp từ thiên đàng để đáp lại những lời cầu nguyện của họ. Vì con người thuộc về xác thịt, nên họ không có cách nào nhìn thấy Thần của Đức Chúa Trời, càng không tiếp cận được Thần của Ngài. Tất cả những gì con người có thể tiếp xúc là xác thịt nhập thể của Đức Chúa Trời, và chỉ bằng cách này, con người mới có thể nắm bắt được mọi con đường cùng mọi lẽ thật và nhận được sự cứu rỗi trọn vẹn. Lần nhập thể thứ hai sẽ đủ để gột sạch những tội lỗi của con người và để hoàn toàn làm tinh sạch họ. Do đó, với lần nhập thể thứ hai, toàn bộ công tác của Đức Chúa Trời trong xác thịt sẽ được khép lại và ý nghĩa sự nhập thể của Đức Chúa Trời sẽ được làm trọn vẹn. Từ đó, công tác của Đức Chúa Trời trong xác thịt sẽ hoàn toàn kết thúc. Sau lần nhập thể thứ hai, Ngài sẽ không trở nên xác thịt lần thứ ba cho công tác của Ngài. Vì toàn bộ sự quản lý của Ngài khi đó đã kết thúc. Sự nhập thể của thời kỳ sau rốt khi ấy đã hoàn toàn thu phục được những người được chọn của Ngài, và loài người trong thời kỳ sau rốt đã được phân theo loại. Ngài sẽ không còn làm công tác cứu rỗi nữa, Ngài cũng sẽ không trở lại xác thịt để thực hiện bất kỳ công tác nào nữa.

Trích từ “Lẽ mầu nhiệm của sự nhập thể (4)” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày Trích đoạn 117

Những gì con người đã đạt được lúc này – vóc giạc hiện tại, kiến thức, tình yêu thương, lòng trung thành, sự vâng lời và sự thông sáng của họ – đây là những kết quả đạt được thông qua sự phán xét của lời. Việc ngươi có thể có lòng trung thành và vẫn đứng vững cho đến ngày nay là đạt được thông qua lời. Giờ đây con người thấy rằng công tác của Đức Chúa Trời nhập thể thực sự phi thường, và có nhiều điều trong đó mà con người không thể đạt được; đây là những lẽ mầu nhiệm và phép lạ. Do đó, nhiều người đã quy phục. Một số người chưa từng quy phục bất kỳ ai kể từ khi sinh ra, nhưng khi họ thấy những lời của Đức Chúa Trời ngày nay, họ hoàn toàn quy phục tự lúc nào không hay, và họ không mạo muội dò xét hoặc nói bất kỳ điều gì khác. Loài người đã chịu phục dưới lời và phủ phục dưới sự phán xét bằng lời. Nếu Thần của Đức Chúa Trời phán trực tiếp với con người, toàn nhân loại sẽ quy phục trước tiếng phán, sấp mình xuống mà không cần lời mặc khải, cũng giống như cách Phao-lô đã ngã xuống đất trong ánh sáng trên đường đến Đa-mách. Nếu Đức Chúa Trời tiếp tục làm việc theo cách này, con người sẽ không bao giờ có thể biết được sự bại hoại của chính mình thông qua sự phán xét của lời và nhờ đó đạt được sự cứu rỗi. Chỉ thông qua việc trở nên xác thịt, Đức Chúa Trời mới có thể đích thân truyền lời của Ngài đến tai của mỗi một con người, hầu cho tất cả những ai có tai đều có thể nghe thấy lời Ngài và nhận lấy công tác phán xét bằng lời của Ngài. Chỉ đây mới là kết quả đạt được bằng lời Ngài, thay vì Thần trở nên hiển hiện để khiến con người sợ hãi mà quy phục. Chỉ qua công tác thực tế mà phi thường này, thì tâm tính cũ của con người, ẩn sâu bên trong nhiều năm, mới có thể bị phơi bày hoàn toàn, hầu cho con người có thể nhận ra nó và làm cho nó thay đổi. Tất cả những điều này đều là công tác thực tế của Đức Chúa Trời nhập thể, mà trong đó, với việc phán dạy và thi hành sự phán xét một cách thực tế, Ngài đạt được những kết quả của sự phán xét con người bằng lời. Đây là thẩm quyền của Đức Chúa Trời nhập thể và là ý nghĩa sự nhập thể của Đức Chúa Trời. Nó được thực hiện để cho biết thẩm quyền của Đức Chúa Trời nhập thể, để cho biết những kết quả đạt được bởi công tác của lời, và để cho biết Thần đã đến trong xác thịt và thể hiện thẩm quyền của Ngài thông qua việc phán xét con người bằng lời. Mặc dù xác thịt của Ngài là hình thức bên ngoài của một nhân tính thông thường và bình thường, nhưng chính những kết quả mà lời Ngài đạt được đã cho con người thấy rằng Ngài đầy thẩm quyền, rằng Ngài là chính Đức Chúa Trời, và rằng những lời của Ngài là sự bày tỏ của chính Đức Chúa Trời. Bằng cách này, toàn thể nhân loại được cho thấy rằng Ngài là chính Đức Chúa Trời, rằng Ngài là chính Đức Chúa Trời đã trở nên xác thịt, và rằng không ai được xúc phạm Ngài, và rằng không ai có thể vượt qua sự phán xét bằng lời của Ngài, và không một thế lực bóng tối nào có thể lấn át thẩm quyền của Ngài. Con người quy phục Ngài hoàn toàn vì Ngài là Lời trở nên xác thịt, vì thẩm quyền của Ngài, và vì sự phán xét bằng lời của Ngài. Công tác do xác thịt nhập thể của Ngài mang lại là thẩm quyền mà Ngài sở hữu. Lý do Ngài trở nên xác thịt là bởi vì xác thịt cũng có thể sở hữu thẩm quyền, và Ngài có khả năng thực hiện công tác một cách thực tế giữa nhân loại, theo cách hiển hiện và hữu hình đối với con người. Công tác này thiết thực hơn nhiều so với công tác được thực hiện trực tiếp bởi Thần của Đức Chúa Trời, Đấng sở hữu mọi thẩm quyền, và những kết quả của nó cũng rõ ràng. Điều này là do xác thịt nhập thể của Đức Chúa Trời có thể phán dạy và làm việc một cách thực tế. Hình dạng bên ngoài của xác thịt Ngài không có thẩm quyền, và con người có thể tiếp cận, trong khi thực chất của Ngài mang thẩm quyền, nhưng không ai có thể thấy được thẩm quyền của Ngài. Khi Ngài phán và làm việc, con người không thể phát hiện ra sự tồn tại của thẩm quyền của Ngài; điều này tạo điều kiện cho Ngài thực hiện công tác mang tính chất thực tế. Tất cả công tác thực tế này có thể đạt được kết quả. Mặc dù không ai nhận ra Ngài nắm giữ thẩm quyền, hoặc thấy rằng Ngài không thể bị xúc phạm, hoặc nhìn thấy cơn thịnh nộ của Ngài, nhưng Ngài đạt được những kết quả dự định của lời Ngài thông qua thẩm quyền được che giấu của Ngài, cơn thịnh nộ ẩn giấu của Ngài, và những lời mà Ngài phán công khai. Nói cách khác, qua giọng điệu của Ngài, sự nghiêm khắc trong lời nói của Ngài, và tất cả sự khôn ngoan của lời Ngài, con người hoàn toàn được thuyết phục. Theo cách này, con người quy phục lời của Đức Chúa Trời nhập thể, Đấng dường như không có thẩm quyền gì, qua đó hoàn thành mục tiêu cứu rỗi con người của Đức Chúa Trời. Đây là một khía cạnh khác về ý nghĩa sự nhập thể của Ngài: để phán một cách thiết thực hơn và để cho hiện thực của lời Ngài có ảnh hưởng đến con người, hầu cho con người có thể chứng kiến quyền năng của lời Đức Chúa Trời. Do đó, nếu công tác này không được thực hiện thông qua sự nhập thể, thì sẽ không đạt được một chút kết quả nào và sẽ không thể hoàn toàn cứu được những tội nhân. Nếu Đức Chúa Trời không trở nên xác thịt, Ngài sẽ vẫn là Thần, Đấng vừa không thể nhìn thấy, vừa không thể tiếp cận đối với con người. Con người là một loài thọ tạo thuộc xác thịt, họ và Đức Chúa Trời thuộc về hai thế giới khác nhau và sở hữu những bản chất khác nhau. Thần của Đức Chúa Trời không tương hợp với con người, những kẻ thuộc về xác thịt, và đơn giản là không cách nào thiết lập được mối quan hệ giữa họ, chưa kể rằng con người không có khả năng biến hóa thành thần. Như vậy, Thần của Đức Chúa Trời phải trở thành một loài thọ tạo để làm công tác ban đầu của Ngài. Đức Chúa Trời có thể vừa thăng lên nơi cao nhất, vừa hạ mình xuống để trở thành một con người thọ tạo, làm việc giữa loài người và sống giữa họ, nhưng con người không thể thăng lên nơi cao nhất và trở thành thần, họ càng không thể giáng xuống nơi thấp nhất. Đây là lý do Đức Chúa Trời phải trở nên xác thịt để thực hiện công tác của Ngài. Cũng vậy, trong lần nhập thể đầu tiên, chỉ xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể mới có thể cứu chuộc con người thông qua việc chịu đóng đinh của Ngài, trong khi sẽ không có cách nào để Thần của Đức Chúa Trời bị đóng đinh như một của lễ chuộc tội cho con người. Đức Chúa Trời có thể trực tiếp trở nên xác thịt để làm của lễ chuộc tội cho con người, nhưng con người không thể trực tiếp thăng thiên để nhận lấy của lễ chuộc tội mà Đức Chúa Trời đã chuẩn bị cho họ. Như vậy, tất cả những gì khả thi là cầu xin Đức Chúa Trời di chuyển qua lại vài lần giữa trời và đất, chứ không phải để con người thăng thiên để nhận lấy sự cứu rỗi này, vì con người đã sa ngã và hơn nữa, con người đơn giản là không thể thăng thiên, càng không thể có được của lễ chuộc tội. Do đó, Jêsus đã cần phải đến giữa loài người và đích thân làm công tác mà con người đơn giản là không thể thực hiện được. Mỗi lần Đức Chúa Trời trở nên xác thịt, đó là điều tuyệt đối cần thiết. Nếu bất kỳ giai đoạn nào cũng có thể được thực hiện trực tiếp bởi Thần của Đức Chúa Trời, thì Ngài đã không phải chịu sự nhục nhã của việc nhập thể.

Trích từ “Lẽ mầu nhiệm của sự nhập thể (4)” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày Trích đoạn 118

Đức Chúa Trời trở nên xác thịt bởi vì đối tượng công tác của Ngài không phải là linh hồn của Sa-tan, hoặc bất kỳ vật vô hình nào, mà là con người, của xác thịt và đã bị làm bại hoại bởi Sa-tan. Chính xác là vì xác thịt của con người đã bị làm cho bại hoại nên Đức Chúa Trời đã lấy con người xác thịt làm đối tượng công tác của Ngài; hơn nữa, bởi vì con người là đối tượng của sự bại hoại, nên Đức Chúa Trời đã lấy con người làm đối tượng công tác duy nhất của Ngài xuyên suốt tất cả các giai đoạn trong công tác cứu rỗi của Ngài. Con người là phàm nhân, của thịt và huyết, và Đức Chúa Trời là Đấng duy nhất có thể cứu rỗi con người. Bằng cách này, Đức Chúa Trời phải trở nên một xác thịt sở hữu những thuộc tính giống như con người để thực hiện công tác của Ngài, để cho công tác của Ngài có để đạt hiệu quả tốt hơn. Đức Chúa Trời phải trở nên xác thịt để làm công tác của Ngài chính xác vì con người là thuộc xác thịt, và không có khả năng chiến thắng tội lỗi hoặc tháo gỡ bản thân khỏi xác thịt. Mặc dù thực chất và thân phận của Đức Chúa Trời nhập thể khác biệt rất nhiều so với thực chất và thân phận của con người, nhưng vẻ bề ngoài của Ngài thì giống hệt với vẻ bề ngoài của con người; Ngài có vẻ bề ngoài của một người bình thường, và sống đời sống của một người bình thường, và những ai gặp Ngài không thể nhận ra sự khác biệt với một người bình thường. Vẻ bề ngoài bình thường và nhân tính bình thường này đủ để Ngài thực hiện công tác thần thánh trong nhân tính bình thường. Xác thịt của Ngài cho phép Ngài thực hiện công tác trong nhân tính bình thường, và giúp Ngài thực hiện công tác giữa con người, và nhân tính bình thường của Ngài, hơn nữa, giúp Ngài tiến hành công tác cứu rỗi giữa con người. Mặc dù nhân tính bình thường của Ngài đã gây nhiều xáo động giữa con người, nhưng sự xáo động như thế không ảnh hưởng đến những hiệu quả bình thường trong công tác của Ngài. Nói tóm lại, công tác trong xác thịt bình thường của Ngài vô cùng có lợi cho con người. Mặc dù phần lớn mọi người không chấp nhận nhân tính bình thường của Ngài, nhưng công tác của Ngài vẫn có thể đạt được kết quả, và những kết quả này đạt được nhờ vào nhân tính bình thường của Ngài. Không nghi ngờ gì về điều này. Từ công tác của Ngài trong xác thịt, con người thu được nhiều thứ hơn gấp mười lần hoặc hàng chục lần những quan niệm tồn tại giữa con người về nhân tính bình thường của Ngài, và tất cả những quan niệm như thế cuối cùng đều sẽ bị nuốt chửng bởi công tác của Ngài. Và hiệu quả mà công tác của Ngài đã đạt được, có nghĩa là, sự hiểu biết mà con người có về Ngài, vượt xa những quan niệm của con người về Ngài. Không có cách nào để tưởng tượng hoặc đo lường công tác mà Ngài thực hiện trong xác thịt, bởi xác thịt của Ngài không giống như của bất kỳ con người xác thịt nào; mặc dù lớp vỏ bề ngoài thì giống hệt nhau, nhưng thực chất thì không giống nhau. Xác thịt của Ngài gây ra nhiều quan niệm giữa con người về Đức Chúa Trời, nhưng xác thịt của Ngài cũng có thể cho phép con người có được nhiều sự hiểu biết, và thậm chí còn có thể chinh phục bất kỳ con người nào sở hữu lớp vỏ bề ngoài tương tự. Bởi Ngài không chỉ đơn thuần là một con người, mà còn là Đức Chúa Trời với lớp vỏ bề ngoài của một con người, và không ai hoàn toàn có thể dò lường hoặc hiểu được Ngài. Một Đức Chúa Trời không thể thấy được và vô hình được mọi người yêu mến và chào đón. Nếu Đức Chúa Trời chỉ là một Thần vô hình đối với con người, thì quá dễ dàng để con người tin vào Đức Chúa Trời. Người ta có thể tự do tưởng tượng, có thể chọn bất kỳ hình ảnh nào họ muốn làm hình tượng của Đức Chúa Trời để làm hài lòng chính mình và khiến mình cảm thấy vui. Bằng cách này, người ta có thể làm bất kỳ điều gì mà Đức Chúa Trời của bản thân họ thích và muốn họ làm nhất, mà không có bất kỳ sự đắn đo nào. Còn nữa, người ta tin rằng không ai trung thành và sùng đạo hơn họ đối với Đức Chúa Trời, và rằng tất cả những kẻ khác là những con chó ngoại lai và bất trung với Đức Chúa Trời. Có thể nói rằng đây là điều được tìm kiếm bởi những ai có niềm tin nơi Đức Chúa Trời mơ hồ và dựa trên giáo lý; những gì họ tìm kiếm đều giống nhau, rất ít sự khác biệt. Đơn thuần là những hình ảnh về Đức Chúa Trời trong trí tưởng tượng của họ thì khác nhau, nhưng thực chất của chúng thực sự đều như nhau.

Trích từ “Nhân loại bại hoại càng cần hơn sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời nhập thể” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày Trích đoạn 119

Lý do duy nhất mà Đức Chúa Trời nhập thể đã đến trong xác thịt là vì nhu cầu của con người bại hoại. Đó là vì nhu cầu của con người, chứ không phải của Đức Chúa Trời, và tất cả những sự hy sinh và đau khổ của Ngài là vì lợi ích của con người, chứ không vì lợi ích của chính Đức Chúa Trời. Không có sự thiệt hơn hoặc phần thưởng nào đối với Đức Chúa Trời; Ngài sẽ không gặt hái vụ mùa nào đó trong tương lai, mà là những thứ màban đầu đã thuộc sở hữu của Ngài. Tất cả những gì Ngài làm và hy sinh cho nhân loại không phải là để Ngài có thể nhận được những phần thưởng to lớn, mà hoàn toàn là vì lợi ích của nhân loại. Mặc dù công tác trong xác thịt của Đức Chúa Trời bao gồm nhiều khó khăn không thể tưởng tượng được, nhưng cuối cùng hiệu quả nó đạt được vượt xa những công việc được thực hiện trực tiếp bởi Thần. Công tác của xác thịt đòi hỏi nhiều khó khăn, và xác thịt không thể có thân phận vĩ đại giống như Thần, Ngài không thể thực hiện những việc siêu phàm giống như Thần, càng không thể có thẩm quyền giống như Thần. Tuy nhiên, thực chất công tác thực hiện bởi xác thịt tầm thường này lại vượt trội hơn nhiều so với công tác được Thần trực tiếp thực hiện, và chính xác thịt này là sự đáp ứng cho những nhu cầu của cả nhân loại. Đối với những người sẽ được cứu rỗi, giá trị sử dụng của Thần thấp hơn nhiều so với xác thịt: Công tác của Thần có thể bao trùm toàn thể vũ trụ, xuyên khắp tất cả núi non, sông hồ, và đại dương, nhưng công tác của xác thịt liên quan một cách hiệu quả hơn đến từng người Ngài tiếp xúc. Hơn nữa, xác thịt của Đức Chúa Trời với hình dạng hữu hình có thể được con người hiểu và tin cậy hơn, có thể làm sâu sắc hơn sự hiểu biết của con người về Đức Chúa Trời, và có thể để lại cho con người một ấn tượng sâu sắc hơn về những việc làm thực sự của Đức Chúa Trời. Công tác của Thần bị phủ màn huyền bí; người phàm khó mà dò lường được, và thậm chí họ còn khó thấy hơn, và vì thế họ chỉ có thể dựa vào những tưởng tượng rỗng tuếch. Tuy nhiên, công tác của xác thịt thì bình thường, dựa trên hiện thực, giàu sự khôn ngoan, và là một sự thật có thể nhìn thấy bằng mắt trần của con người; con người có thể tự mình trải nghiệm sự khôn ngoan trong công tác của Đức Chúa Trời, và không cần sử dụng trí tưởng tượng phong phú của họ. Đây là tính chính xác và giá trị thực trong công tác của Đức Chúa Trời trong xác thịt. Thần chỉ có thể làm những điều con người không thể thấy và khó tưởng tượng ra, ví dụ như sự khai sáng của Thần, sự lay động của Thần, và sự hướng dẫn của Thần, nhưng đối với con người có trí tuệ, thì những điều này không mang lại bất kỳ ý nghĩa rõ ràng nào. Chúng chỉ mang lại một sự lay động, hoặc một ý nghĩa tổng quát, và không thể đưa ra chỉ dẫn bằng lời. Tuy nhiên, công tác của Đức Chúa Trời trong xác thịt thì khác biệt rất nhiều: Nó đòi hỏi sự hướng dẫn chính xác của lời, nó có ý muốn rõ ràng, và có những mục tiêu yêu cầu rõ ràng. Và vì thế con người không cần phải dò dẫm xung quanh, hoặc sử dụng trí tưởng tượng của mình, càng không cần phải suy đoán. Đây là sự rõ ràng của công tác trong xác thịt, và nó khác nhiều so với công tác của Thần. Công tác của Thần chỉ phù hợp cho một phạm vi giới hạn và không thể thay thế công tác của xác thịt. Công tác của xác thịt mang lại cho con người những mục tiêu chính xác, cần thiết hơn nhiều và sự hiểu biết thực hơn, có giá trị hơn nhiều so với công tác của Thần. Công tác có giá trị lớn nhất đối với con người bại hoại là cung cấp những lời chính xác, những mục tiêu rõ ràng để theo đuổi, và những điều có thể trông thấy và chạm vào. Chỉ có công tác thực tế và sự hướng dẫn đúng lúc mới phù hợp với thị hiếu của con người, và chỉ có công tác thực tế mới có thể cứu rỗi con người khỏi tâm tính bại hoại và suy đồi của họ. Điều này chỉ có thể đạt được bởi Đức Chúa Trời nhập thể; chỉ có Đức Chúa Trời nhập thể mới có thể cứu rỗi con người khỏi tâm tính bại hoại và suy đồi của họ trước đây. Mặc dù Thần là thực chất vốn có của Đức Chúa Trời, nhưng công việc như thế này chỉ có thể được thực hiện bởi xác thịt của Ngài. Nếu Thần chỉ đơn phương làm việc, thì công tác của Ngài không thể có hiệu quả – đây là một sự thật hiển nhiên. Mặc dù hầu hết con người đã trở thành kẻ thù của Đức Chúa Trời bởi vì xác thịt này, nhưng khi Ngài kết thúc công tác của mình, thì những ai chống đối Ngài sẽ không chỉ không còn là kẻ thù của Ngài, mà trái lại sẽ trở thành chứng nhân của Ngài. Họ sẽ trở thành những chứng nhân đã được Ngài chinh phục, những chứng nhân tương hợp với Ngài và không thể tách rời khỏi Ngài. Ngài sẽ khiến con người biết về tầm quan trọng của công tác Ngài trong xác thịt đối với con người, và con người sẽ biết tầm quan trọng của xác thịt này đối với ý nghĩa tồn tại của con người, sẽ biết giá trị thực của Ngài đối với sự trưởng thành trong đời sống con người, và hơn thế nữa, sẽ biết rằng xác thịt này sẽ trở thành một nguồn nước hằng sống trong đời sống mà con người không chịu rời xa. Mặc dù xác thịt nhập thể của Đức Chúa Trời thua xa thân phận và tâm tính của Đức Chúa Trời, và dường như đối với con người thì không tương xứng với địa vị thực sự của Ngài, nhưng xác thịt này, thứ không sở hữu hình tượng thực sự của Đức Chúa Trời, hoặc thân phận thực sự của Đức Chúa Trời, có thể thực hiện công tác mà Thần của Đức Chúa Trời không thể trực tiếp thực hiện. Đó chính là ý nghĩa và giá trị thực sự trong sự nhập thể của Đức Chúa Trời, và chính ý nghĩa và giá trị này mà con người không thể cảm kích và thừa nhận. Mặc dù toàn thể nhân loại đều kính trọng Thần của Đức Chúa Trời và xem thường xác thịt của Đức Chúa Trời, bất kể họ nhìn nhận và suy nghĩ thế nào, thì ý nghĩa và giá trị thực sự của xác thịt vượt xa những gì của Thần. Tất nhiên, điều này chỉ liên quan đến nhân loại bại hoại. Đối với tất cả những ai tìm kiếm lẽ thật và khao khát sự xuất hiện của Đức Chúa Trời, thì công tác của Thần chỉ cung cấp sự cảm thúc hoặc linh hứng, và một cảm giác kỳ diệu không thể giải thích và tưởng tượng được, một cảm giác vĩ đại, siêu việt và đáng ngưỡng mộ, nhưng cũng không thể với tới và đạt được đối với tất cả. Con người và Thần của Đức Chúa Trời chỉ có thể nhìn nhau từ xa, như thể có một khoảng cách rất xa giữa họ, và họ không bao giờ có thể tương đồng, như thể con người và Đức Chúa Trời bị chia cách bởi một ranh giới vô hình. Trên thực tế, đây là một ảo giác mà Thần mang lại cho con người, đó là vì Thần và con người không cùng một loại và sẽ không bao giờ đồng tồn tại trong cùng một thế giới, và bởi vì Thần không có gì thuộc về con người. Vì vậy, con người không cần Thần, bởi Thần không thể trực tiếp thực hiện những công việc mà con người cần nhất. Công tác của xác thịt cung cấp cho con người những mục tiêu thực sự để theo đuổi, những lời rõ ràng, và một cảm nhận rằng Ngài có thật và bình thường, rằng Ngài khiêm nhường và bình dị. Mặc dù con người có thể sợ Ngài, nhưng đối với hầu hết mọi người thì Ngài dễ gần: Con người có thể thấy mặt Ngài, nghe tiếng Ngài, và họ không cần phải nhìn Ngài từ xa. Đối với con người, xác thịt này cảm giác dễ tiếp cận, không xa cách, không khó dò lường, mà hữu hình và có thể chạm tới, bởi xác thịt này ở trong cùng một thế giới với con người.

Trích từ “Nhân loại bại hoại càng cần hơn sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời nhập thể” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày Trích đoạn 120

Đối với tất cả những ai sống trong xác thịt, việc thay đổi tâm tính của họ đòi hỏi phải có mục tiêu để theo đuổi, và việc biết về Đức Chúa Trời đòi hỏi phải chứng kiến những việc làm thực tế và thấy gương mặt thực sự của Ngài. Cả hai điều đều chỉ có thể đạt được bởi xác thịt nhập thể của Đức Chúa Trời, và cả hai chỉ có thể được hoàn thành bởi xác thịt bình thường và có thực. Đây là lý do tại sao sự nhập thể là cần thiết, và tại sao nó là nhu cầu của tất cả nhân loại bại hoại. Vì con người cần phải biết đến Đức Chúa Trời, nên hình ảnh về những vị Đức Chúa Trời mơ hồ và siêu phàm phải được gạt bỏ khỏi lòng họ, và vì họ phải loại bỏ tâm tính bại hoại của mình, nên trước tiên họ phải biết tâm tính bại hoại của mình. Nếu chỉ có con người làm công tác để gạt bỏ hình ảnh về những vị Đức Chúa Trời mơ hồ ra khỏi lòng họ, thì họ sẽ không đạt được hiệu quả thích đáng. Hình ảnh của những vị Đức Chúa Trời mơ hồ trong lòng con người không thể bị phơi bày, loại bỏ, hoặc hoàn toàn trục xuất chỉ bằng lời. Làm như vậy thì cuối cùng vẫn không thể xua đi những thứ đã ăn sâu này khỏi con người. Chỉ bằng cách thay thế những điều mơ hồ và siêu phàm này bằng Đức Chúa Trời thực tế và hình tượng thật của Đức Chúa Trời, và để cho con người dần dần biết đến chúng, thì mới có thể đạt được hiệu quả thích đáng. Con người nhận ra rằng vị Đức Chúa Trời mà họ đã tìm kiếm trong quá khứ thì mơ hồ và siêu phàm. Điều có thể đạt được hiệu quả này không phải là sự dẫn dắt trực tiếp của Thần, càng không phải là sự dạy dỗ của một cá nhân nào đó, mà là Đức Chúa Trời nhập thể. Những quan niệm của con người được phơi bày khi Đức Chúa Trời nhập thể chính thức thực hiện công tác của Ngài, vì tính bình thường và tính hiện thực của Đức Chúa Trời nhập thể là sự tương phản với Đức Chúa Trời mơ hồ và siêu phàm trong trí tưởng tượng của con người. Những quan niệm ban đầu của con người chỉ có thể được tỏ lộ khi đặt tương phản với Đức Chúa Trời nhập thể. Không có sự so sánh với Đức Chúa Trời nhập thể, thì những quan niệm của con người không thể được tỏ lộ; nói cách khác, không có hiện thực làm nền, thì những điều mơ hồ không thể được tỏ lộ. Không ai có khả năng dùng lời để thực hiện công việc này, và không ai có khả năng nói rõ công việc này bằng lời. Chỉ chính Đức Chúa Trời mới có thể thực hiện công tác của chính Ngài, và không ai khác có thể thực hiện công tác này thay cho Ngài. Cho dù ngôn ngữ của con người có phong phú thế nào, họ cũng không có khả năng nói rõ tính hiện thực và tính bình thường của Đức Chúa Trời. Con người chỉ có thể biết Đức Chúa Trời một cách thực tế hơn, và chỉ có thể thấy Ngài rõ ràng hơn nếu đích thân Đức Chúa Trời làm việc giữa con người và bày tỏ hoàn toàn hình tượng của Ngài và hữu thể của Ngài. Hiệu quả này không thể đạt được bởi bất kỳ con người xác thịt nào. Tất nhiên, Thần của Đức Chúa Trời cũng không có khả năng đạt được hiệu quả này. Đức Chúa Trời có thể cứu rỗi con người bại hoại ra khỏi sự ảnh hưởng của Sa-tan, nhưng công tác này không thể được hoàn thành trực tiếp bởi Thần của Đức Chúa Trời, đúng hơn, nó chỉ có thể được thực hiện bởi xác thịt mặc bởi Thần của Đức Chúa Trời, bởi xác thịt nhập thể của Đức Chúa Trời. Xác thịt này là một con người và cũng là Đức Chúa Trời, là một con người sở hữu nhân tính bình thường và cũng là Đức Chúa Trời sở hữu đầy đủ thần tính. Và vì thế, mặc dù xác thịt này không phải là Thần của Đức Chúa Trời, và khác xa so với Thần, đó vẫn là chính Đức Chúa Trời nhập thể cứu rỗi con người, là Thần và cũng là xác thịt. Bất kể Ngài được gọi bằng gì, cuối cùng thì vẫn là chính Đức Chúa Trời cứu rỗi nhân loại. Bởi Thần của Đức Chúa Trời không thể tách rời khỏi xác thịt, và công tác của xác thịt cũng là công tác của Thần của Đức Chúa Trời; chỉ là công tác này không được thực hiện bằng cách sử dụng thân phận của Thần, mà được thực hiện bằng cách sử dụng thân phận của xác thịt. Công tác cần được thực hiện trực tiếp bởi Thần không cần đến sự nhập thể, và công tác cần xác thịt thực hiện thì không thể được thực hiện trực tiếp bởi Thần, và chỉ có thể được thực hiện bởi Đức Chúa Trời nhập thể. Đây là những yêu cầu đối với công tác này, và đây là những gì được yêu cầu bởi nhân loại bại hoại. Trong ba giai đoạn công tác của Đức Chúa Trời, chỉ có một giai đoạn được thực hiện trực tiếp bởi Thần, và hai giai đoạn còn lại được thực hiện bởi Đức Chúa Trời nhập thể, và không trực tiếp bởi Thần. Công tác trong Thời đại Luật pháp được thực hiện bởi Thần không bao gồm việc thay đổi tâm tính bại hoại của con người, và cũng không liên quan gì đến sự hiểu biết của con người về Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, công tác của xác thịt của Đức Chúa Trời trong Thời đại Ân điển và Thời đại Vương quốc thì liên quan đến tâm tính bại hoại của con người và sự hiểu biết của họ về Đức Chúa Trời, và là một phần quan trọng và thiết yếu trong công tác cứu rỗi. Do đó, nhân loại bại hoại cần sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời nhập thể nhiều hơn, và cần công tác trực tiếp của Đức Chúa Trời nhập thể nhiều hơn. Loài người cần Đức Chúa Trời nhập thể chăn dắt họ, hỗ trợ họ, cho họ uống, cho họ ăn, phán xét và hành phạt họ, và họ cần nhiều ân điển và sự cứu chuộc vĩ đại hơn từ Đức Chúa Trời nhập thể. Chỉ có Đức Chúa Trời trong xác thịt mới có thể là người bạn thân tín của con người, người chăn dắt con người, sự trợ giúp trong chính hiện tại cho con người, và tất cả điều này là sự cần thiết của việc nhập thể trong cả ngày nay và những thời đại đã qua.

Trích từ “Nhân loại bại hoại càng cần hơn sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời nhập thể” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày Trích đoạn 121

Con người đã bị Sa-tan làm cho bại hoại và là vật thọ tạo cao nhất trong số những vật thọ tạo của Đức Chúa Trời, vì thế con người cần sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Đối tượng trong công tác cứu rỗi của Đức Chúa Trời là con người, không phải Sa-tan, và thứ sẽ được cứu rỗi là xác thịt của con người và linh hồn của con người, chứ không phải của quỷ. Sa-tan là đối tượng hủy diệt của Đức Chúa Trời, con người là đối tượng cứu rỗi của Đức Chúa Trời, và xác thịt của con người đã bị Sa-tan làm cho bại hoại, vì thế thứ cần cứu rỗi trước tiên phải là xác thịt của con người. Xác thịt của con người đã bị Sa-tan làm cho bại hoại sâu sắc nhất, và chúng đã trở thành thứ chống lại Đức Chúa Trời, đến nỗi chúng thậm chí còn chống đối công khai và phủ nhận sự tồn tại của Đức Chúa Trời. Xác thịt bại hoại này chỉ quá cứng đầu, và không có điều gì khó xử trí hoặc thay đổi hơn là tâm tính bại hoại của xác thịt. Sa-tan đi vào xác thịt của con người để khuấy động những nhiễu loạn, và nó sử dụng xác thịt của con người để làm nhiễu loạn công tác của Đức Chúa Trời cũng như làm suy yếu kế hoạch của Đức Chúa Trời, do đó con người đã trở thành Sa-tan và trở thành kẻ thù của Đức Chúa Trời. Để con người được cứu rỗi, trước tiên họ phải được chinh phục. Chính vì điều này mà Đức Chúa Trời vượt qua thử thách và nhập thể vào xác thịt để thực hiện công tác Ngài định làm và để chiến đấu với Sa-tan. Mục tiêu của Ngài là sự cứu rỗi con người, những kẻ đã bị bại hoại, cũng như đánh bại và hủy diệt Sa-tan, kẻ phản nghịch chống lại Ngài. Ngài đánh bại Sa-tan qua công tác chinh phục con người của Ngài, trong khi đồng thời Ngài cứu rỗi nhân loại bại hoại. Như vậy, đó là một công tác đạt được hai mục đích cùng lúc. Ngài làm việc trong xác thịt, phán dạy trong xác thịt, và đảm nhận mọi công tác trong xác thịt để gắn kết với con người hơn và chinh phục con người tốt hơn. Lần cuối cùng Đức Chúa Trời trở nên xác thịt, thì công tác của Ngài trong những ngày sau rốt sẽ được kết thúc trong xác thịt. Ngài sẽ phân chia mọi người theo từng loại, kết thúc toàn bộ sự quản lý của Ngài, và cũng kết thúc mọi công tác của Ngài trong xác thịt. Sau khi tất cả công tác của Ngài trên đất kết thúc, thì Ngài sẽ hoàn toàn chiến thắng. Làm việc trong xác thịt, Đức Chúa Trời sẽ hoàn toàn chinh phục nhân loại và hoàn toàn thu phục nhân loại. Chẳng phải điều này có nghĩa là toàn bộ sự quản lý của Ngài sẽ đi đến kết thúc sao? Khi Đức Chúa Trời kết thúc công tác của Ngài trong xác thịt, vì Ngài đã hoàn toàn đánh bại Sa-tan và chiến thắng, Sa-tan sẽ không còn cơ hội nào để làm bại hoại con người. Công tác của sự nhập thể lần đầu của Đức Chúa Trời là sự cứu chuộc và tha thứ tội lỗi cho con người. Bây giờ là công tác chinh phục và hoàn toàn thu phục nhân loại, vì vậy Sa-tan sẽ không còn cách nào để làm công việc của nó, và sẽ hoàn toàn thất bại, và Đức Chúa Trời cũng sẽ hoàn toàn chiến thắng. Đây là công tác của xác thịt và là công tác được thực hiện bởi chính Đức Chúa Trời.

Trích từ “Nhân loại bại hoại càng cần hơn sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời nhập thể” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày Trích đoạn 122

Công tác khởi đầu trong ba giai đoạn công tác của Đức Chúa Trời đã được thực hiện trực tiếp bởi Thần, chứ không phải là xác thịt. Tuy nhiên, công tác cuối cùng trong ba giai đoạn công tác của Đức Chúa Trời được thực hiện bởi Đức Chúa Trời nhập thể, và không trực tiếp bởi Thần. Công tác cứu chuộc trong giai đoạn giữa cũng đã được thực hiện bởi Đức Chúa Trời trong xác thịt. Xuyên suốt toàn bộ công tác quản lý, thì công tác quan trọng nhất là cứu rỗi con người khỏi ảnh hưởng của Sa-tan. Công tác chính là việc hoàn toàn chinh phục con người bại hoại, theo đó khôi phục sự tôn kính ban đầu đối với Đức Chúa Trời trong lòng của con người được chinh phục, và để cho họ đạt được một đời sống bình thường, nghĩa là, đời sống bình thường của một tạo vật của Đức Chúa Trời. Công tác này quan trọng và nó là trọng tâm của công tác quản lý. Trong ba giai đoạn của công tác cứu rỗi, giai đoạn công tác đầu tiên của Thời đại Luật pháp khác xa với trọng tâm của công tác quản lý; nó chỉ thoáng có sự xuất hiện của công tác cứu rỗi, và không phải là sự khởi đầu công tác cứu rỗi con người khỏi quyền hạn của Sa-tan của Đức Chúa Trời. Giai đoạn đầu tiên của công tác do Thần trực tiếp thực hiện bởi vì dưới luật pháp, con người chỉ biết tuân theo luật pháp và con người không có thêm lẽ thật, và bởi vì công tác trong Thời đại Luật pháp hầu như không liên quan đến những sự thay đổi trong tâm tính của con người, nó càng không liên quan đến việc làm thế nào để cứu con người khỏi lãnh thổ của Sa-tan. Do đó, Thần của Đức Chúa Trời đã hoàn thành giai đoạn công tác cực kỳ đơn giản này mà không liên quan đến tâm tính bại hoại của con người. Giai đoạn công tác này ít liên quan đến trọng tâm của sự quản lý, và nó không có mối tương quan nhiều đến công tác chính thức cứu rỗi con người, và vì thế nó không cần Đức Chúa Trời trở nên xác thịt để tự thực hiện công tác của Ngài. Công tác do Thần thực hiện được thì ẩn tàng và không thể dò lường được, nó vô cùng khủng khiếp và không thể tiếp cận đối với con người; Thần không phù hợp để trực tiếp thực hiện công tác cứu rỗi và không phù hợp để trực tiếp ban sự sống cho con người. Phù hợp nhất cho con người là sự chuyển đổi công tác của Thần sang một cách tiếp cận gần gũi với con người, nghĩa là, điều thích hợp nhất cho con người là để Đức Chúa Trời trở thành một con người bình dị, bình thường để thực hiện công tác của Ngài. Điều này đòi hỏi Đức Chúa Trời phải nhập thể để thay thế Thần trong công tác của Ngài, và đối với con người, thì không có cách nào phù hợp hơn là để Đức Chúa Trời làm việc. Trong ba giai đoạn công tác này, hai giai đoạn được thực hiện bởi xác thịt, và hai giai đoạn này là những giai đoạn quan trọng trong công tác quản lý. Hai sự nhập thể bổ sung cho nhau và chúng bổ khuyết cho nhau một cách hoàn hảo. Giai đoạn đầu tiên trong sự nhập thể của Đức Chúa Trời đã đặt nền tảng cho giai đoạn thứ hai, và có thể nói rằng hai sự nhập thể của Đức Chúa Trời tạo thành một tổng thể và không phải không tương thích với nhau. Hai giai đoạn này trong công tác của Đức Chúa Trời được thực hiện bởi Đức Chúa Trời trong thân phận nhập thể của Ngài bởi vì chúng rất quan trọng đối với toàn bộ công tác quản lý. Gần như có thể nói rằng, không có công tác của hai sự nhập thể của Đức Chúa Trời, thì toàn bộ công tác quản lý cũng đã bị đình trệ, và công tác cứu rỗi nhân loại sẽ không là gì ngoài việc nói suông. Liệu công tác này có quan trọng hay không dựa trên nhu cầu của nhân loại, dựa trên hiện thực suy thoái của nhân loại, và dựa trên tính nghiêm trọng trong sự bất tuân của Sa-tan và sự quấy rối công tác của nó. Một người phù hợp với nhiệm vụ được khẳng định dựa trên bản chất công việc được thực hiện bởi Người làm và tầm quan trọng của công việc. Khi nói đến tầm quan trọng của công việc này, xét về phương pháp làm việc cần áp dụng – công việc được Thần của Đức Chúa Trời trực tiếp thực hiện, hoặc công việc do Đức Chúa Trời nhập thể thực hiện, hoặc công việc được thực hiện qua con người – thì phương pháp đầu tiên bị loại bỏ đó là công việc được thực hiện qua con người, và, dựa trên bản chất công việc và bản chất công tác của Thần so với của xác thịt, thì quyết định cuối cùng là công việc được thực hiện bởi xác thịt thì có lợi cho con người hơn là công việc được thực hiện trực tiếp bởi Thần, và nó mang lại nhiều thuận lợi hơn. Đây là suy nghĩ của Đức Chúa Trời vào thời điểm Ngài quyết định xem liệu công tác sẽ được thực hiện bởi Thần hay bởi xác thịt. Có một ý nghĩa và một cơ sở cho mỗi giai đoạn công tác. Chúng không phải là những tưởng tượng không có cơ sở, cũng như chúng không được thực hiện một cách tùy tiện; có một sự khôn ngoan nhất định đối với chúng. Đó là lẽ thật đằng sau tất cả những công tác của Đức Chúa Trời. Đặc biệt là, thậm chí còn nhiều hơn là kế hoạch của Đức Chúa Trời trong những công tác vĩ đại như thế khi Đức Chúa Trời nhập thể đích thân làm việc giữa con người. Vì vậy, sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời và toàn bộ hữu thể của Ngài được phản chiếu trong từng hành động, suy nghĩ, và ý tưởng trong công tác của Ngài; đây là hữu thể cụ thể và có hệ thống hơn của Đức Chúa Trời. Những suy nghĩ và ý niệm tinh tế này khó cho con người tưởng tượng, khó cho con người tin tưởng, và hơn thế nữa, khó cho con người biết đến. Công việc được thực hiện bởi con người thì được làm theo nguyên tắc chung, điều mà đối với con người, là rất thỏa đáng. Tuy nhiên so với công tác của Đức Chúa Trời, thì hoàn toàn có sự khác biệt quá lớn; mặc dù các việc làm của Đức Chúa Trời là vĩ đại và công tác của Đức Chúa Trời có quy mô rất rộng lớn, nhưng phía sau nó là nhiều kế hoạch chi ly và chính xác và những sự sắp xếp mà con người không thể tưởng tượng được. Mỗi giai đoạn công tác của Ngài không chỉ được thực hiện theo nguyên tắc, mà mỗi giai đoạn còn chứa đựng nhiều điều không thể lột tả bằng ngôn ngữ con người, và đây là những điều con người không thể thấy được. Bất kể đó là công tác của Thần hay công tác của Đức Chúa Trời nhập thể, mỗi công tác đều chứa đựng những kế hoạch công tác của Ngài. Ngài không làm việc vô căn cứ, và Ngài không thực hiện những công tác không quan trọng. Khi Thần làm việc trực tiếp, thì đó là với các mục đích của Ngài, và khi Ngài trở thành người (nghĩa là, khi Ngài thay đổi lớp vỏ bọc bên ngoài của Ngài) để làm việc, thì thậm chí còn đúng mục đích của Ngài hơn. Nếu không tại sao Ngài lại sẵn sàng thay đổi danh tính của Ngài? Nếu không tại sao Ngài lại sẵn sàng trở thành một người bị coi là thấp hèn và bị áp bức?

Trích từ “Nhân loại bại hoại càng cần hơn sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời nhập thể” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày Trích đoạn 123

Công tác của Ngài trong xác thịt vô cùng quan trọng, điều được nói về công tác này, và Đấng sau cùng kết thúc công tác là Đức Chúa Trời nhập thể, chứ không phải Thần. Một vài người tin rằng Đức Chúa Trời có thể một lúc nào đó đến trái đất và xuất hiện trước con người, rồi sau đó Ngài sẽ đích thân phán xét toàn thể nhân loại, thử thách họ từng người một, không bỏ sót bất kỳ ai. Những ai suy nghĩ theo cách này không biết về giai đoạn công tác nhập thể này. Đức Chúa Trời không phán xét con người từng người một, và Ngài không thử thách con người từng người một; làm như thế không phải là công tác phán xét. Chẳng phải sự bại hoại của cả nhân loại cũng như nhau sao? Chẳng phải thực chất của cả nhân loại đều như nhau sao? Những điều bị phán xét là thực chất bại hoại của nhân loại, thực chất của con người bị Sa-tan làm cho bại hoại, và tất cả tội lỗi của con người. Đức Chúa Trời không phán xét những lỗi lầm nhỏ nhặt và không hệ trọng của con người. Công tác phán xét mang tính đại diện, và nó không được thực hiện đặc biệt đối với một con người nhất định nào. Đúng hơn, đó là công tác trong đó một nhóm người bị phán xét để đại diện cho sự phán xét toàn nhân loại. Bằng cách đích thân thực hiện công tác của Ngài đối với một nhóm người, Đức Chúa Trời trong xác thịt dùng công tác của Ngài để đại diện cho công tác trong toàn thể nhân loại, sau đó nó dần dần được lan truyền. Đây cũng là cách thức của công tác phán xét. Đức Chúa Trời không phán xét một loại người nào đó hoặc một nhóm người nào đó, mà thay vào đó, phán xét sự bất chính của toàn thể nhân loại – ví dụ như sự chống đối của con người đối với Đức Chúa Trời, hoặc sự bất kính của con người đối với Ngài, hoặc việc con người làm nhiễu loạn công tác của Đức Chúa Trời, v.v. Điều bị phán xét là thực chất chống đối Đức Chúa Trời của con người, và công tác này là công tác chinh phục của những ngày sau rốt. Công tác và lời của Đức Chúa Trời nhập thể được con người chứng kiến là công tác phán xét trước chiếc ngai trắng lớn trong những ngày sau rốt, điều đã được con người tưởng tượng trong thời gian qua. Công tác hiện đang được thực hiện bởi Đức Chúa Trời nhập thể chính xác là sự phán xét trước chiếc ngai trắng lớn. Đức Chúa Trời nhập thể của ngày hôm nay là Đức Chúa Trời phán xét toàn thể nhân loại trong những ngày sau rốt. Xác thịt này và công tác, lời phán, cùng toàn bộ tâm tính của Ngài là trọn vẹn về Ngài. Mặc dù phạm vi công tác của Ngài bị giới hạn, và không liên quan trực tiếp đến toàn thể vũ trụ, nhưng thực chất của công tác phán xét là sự phán xét trực tiếp đối với toàn nhân loại – không chỉ vì những dân sự được chọn của Trung Quốc, cũng không phải vì một số ít người. Trong công tác của Đức Chúa Trời trong xác thịt, mặc dù phạm vi công tác này không bao gồm toàn thể vũ trụ, nhưng nó đại diện cho công tác của toàn vũ trụ, và sau khi Ngài kết thúc công việc trong phạm vi công tác của xác thịt Ngài, thì Ngài sẽ ngay lập tức mở rộng công tác này cho toàn vũ trụ, giống như cách mà phúc âm của Jêsus được truyền bá khắp vũ trụ sau khi Ngài phục sinh và thăng thiên. Bất kể đó là công tác của Thần hay công tác của xác thịt, đó là công tác được thực hiện trong một phạm vi giới hạn, nhưng nó đại diện cho công tác của toàn vũ trụ. Trong những ngày sau rốt, Đức Chúa Trời thực hiện công tác của Ngài bằng cách xuất hiện trong danh tính nhập thể của Ngài, và Đức Chúa Trời trong xác thịt là vị Đức Chúa Trời phán xét con người trước chiếc ngai trắng lớn. Bất kể Ngài là Thần hay là xác thịt, thì Đấng thực hiện công tác phán xét là Đức Chúa Trời, phán xét nhân loại trong những ngày sau rốt. Điều này được xác định dựa trên công tác của Ngài, và nó không được xác định theo hình thức bên ngoài của Ngài hoặc một số yếu tố khác. Mặc dù con người chứa chấp những quan niệm về những lời này, nhưng không ai có thể phủ nhận thực tế về sự phán xét và chinh phục cả nhân loại của Đức Chúa Trời nhập thể. Bất kể con người nghĩ gì về nó, sau cùng thì sự thật vẫn là sự thật. Không ai có thể nói rằng “Công tác được thực hiện bởi Đức Chúa Trời, nhưng xác thịt không phải là Đức Chúa Trời”. Điều này là vô lý, bởi công tác này không thể được thực hiện bởi bất kỳ người nào ngoại trừ Đức Chúa Trời trong xác thịt. Vì công tác này đã được hoàn tất, nên sau công tác này, công tác phán xét con người của Đức Chúa Trời sẽ không xuất hiện lần thứ hai; Đức Chúa Trời trong lần nhập thể lần thứ hai đã kết thúc toàn bộ công tác quản lý, và sẽ không có giai đoạn thứ tư trong công tác của Đức Chúa Trời. Bởi vì người bị phán xét là con người, con người của xác thịt và đã bị làm cho bại hoại, và không phải là linh hồn của Sa-tan bị phán xét trực tiếp, công tác phán xét do đó không được thực hiện trong cõi tâm linh, mà ở giữa con người.

Trích từ “Nhân loại bại hoại càng cần hơn sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời nhập thể” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày Trích đoạn 124

Không ai phù hợp và đủ tư cách hơn Đức Chúa Trời trong xác thịt cho công tác phán xét sự bại hoại của con người xác thịt. Nếu sự phán xét được thực hiện trực tiếp bởi Thần của Đức Chúa Trời, thì nó sẽ không bao quát toàn diện. Hơn nữa, công tác như thế sẽ khó cho con người chấp nhận, bởi Thần thì không thể mặt đối mặt với con người, và vì điều này, hiệu quả sẽ không xảy ra ngay lập tức, con người sẽ càng không thể thấy tâm tính không thể xúc phạm của Đức Chúa Trời một cách rõ ràng hơn. Sa-tan chỉ có thể bị đánh bại hoàn toàn nếu Đức Chúa Trời trong xác thịt phán xét sự bại hoại của nhân loại. Giống như con người sở hữu nhân tính bình thường, Đức Chúa Trời trong xác thịt có thể trực tiếp phán xét sự bất chính của con người; đây là dấu hiệu của sự thánh khiết vốn có của Ngài, và của sự phi thường của Ngài. Chỉ có Đức Chúa Trời mới có đủ tư cách và ở vị trí để phán xét con người, bởi vì Ngài sở hữu lẽ thật và sự công chính, và vì thế Ngài có thể phán xét con người. Những ai không có lẽ thật và sự công chính thì không phù hợp để phán xét những người khác. Nếu công tác này được thực hiện bởi Thần của Đức Chúa Trời, thì nó sẽ không có ý nghĩa là sự chiến thắng trước Sa-tan. Thần vốn cao quý hơn người phàm, và Thần của Đức Chúa Trời vốn thánh khiết, và chiến thắng xác thịt. Nếu Thần trực tiếp thực hiện công tác này, thì Ngài sẽ không thể phán xét tất cả sự bất tuân của con người và không thể tỏ lộ tất cả sự bất chính của con người. Bởi công tác phán xét cũng được thực hiện qua những ý niệm của con người về Đức Chúa Trời, và con người chưa bao giờ có bất kỳ ý niệm nào về Thần, và vì thế Thần không có khả năng tỏ lộ sự bất chính của con người tốt hơn, càng không thể hoàn toàn phơi bày sự bất chính đó. Đức Chúa Trời nhập thể là kẻ thù của tất cả những ai không biết đến Ngài. Qua việc phán xét những quan niệm và sự chống đối của con người đối với Ngài, Ngài phơi bày tất cả sự bất tuân của nhân loại. Hiệu quả của công tác Ngài làm trong xác thịt rõ ràng hơn hiệu quả trong công tác của Thần. Và vì vậy, sự phán xét toàn nhân loại không được thực hiện trực tiếp bởi Thần mà là công tác của Đức Chúa Trời nhập thể. Con người có thể nhìn thấy và chạm vào Đức Chúa Trời trong xác thịt, và Đức Chúa Trời trong xác thịt có thể hoàn toàn chinh phục con người. Trong mối quan hệ của họ với Đức Chúa Trời trong xác thịt, con người tiến triển từ chống đối sang vâng phục, từ áp bức sang chấp nhận, từ quan niệm sang hiểu biết, và từ chối bỏ sang yêu thương – đây là những hiệu quả trong công tác của Đức Chúa Trời nhập thể. Con người chỉ được cứu rỗi thông qua việc chấp nhận sự phán xét của Ngài, con người chỉ dần dần biết đến Ngài qua những lời phán từ miệng Ngài, con người được Ngài chinh phục trong khi chống đối Ngài, và họ nhận được sự sống do Ngài ban cho trong khi chấp nhận hình phạt của Ngài. Tất cả những công tác này là công tác của Đức Chúa Trời trong xác thịt, và không phải là công tác của Đức Chúa Trời trong thân phận của Ngài là Thần. Công tác được thực hiển bởi Đức Chúa Trời nhập thể là công tác vĩ đại nhất, và công tác sâu sắc nhất, và phần cốt yếu trong ba giai đoạn công tác của Đức Chúa Trời là hai giai đoạn trong công tác nhập thể. Sự bại hoại sâu sắc của con người là một trở ngại lớn đối với công tác của Đức Chúa Trời nhập thể. Đặc biệt, công tác được thực hiện đối với con người của những ngày sau rốt thì vô cùng khó khăn, môi trường thì đối địch, còn phẩm chất của từng loại người thì quá kém. Tuy nhiên, khi công tác này kết thúc, nó vẫn sẽ đạt được hiệu quả thích đáng, không có bất kỳ sai sót nào; đây là hiệu quả trong công tác của xác thịt, và hiệu quả này thuyết phục hơn hiệu quả trong công tác của Thần. Ba giai đoạn công tác của Đức Chúa Trời sẽ được kết thúc trong xác thịt, và chúng phải được kết thúc bởi Đức Chúa Trời nhập thể. Công tác quan trọng và cốt yếu nhất được thực hiện trong xác thịt, và sự cứu rỗi con người phải được Đức Chúa Trời trong xác thịt đích thân thực hiện. Mặc dù toàn nhân loại cảm thấy rằng Đức Chúa Trời trong xác thịt dường như không liên quan tới con người, nhưng thực ra xác thịt này liên quan đến số phận và sự tồn tại của toàn thể nhân loại.

Trích từ “Nhân loại bại hoại càng cần hơn sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời nhập thể” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày Trích đoạn 125

Mỗi giai đoạn công tác của Đức Chúa Trời đều được thực hiện vì lợi ích của cả nhân loại và nhắm vào toàn thể nhân loại. Mặc dù nó là công tác của Ngài trong xác thịt, nhưng nó vẫn nhắm vào cả nhân loại; Ngài là Đức Chúa Trời của cả nhân loại, và Ngài là Đức Chúa Trời của tất cả các vật thọ tạo và không thọ tạo. Mặc dù công tác của Ngài trong xác thịt nằm trong một phạm vi giới hạn, và đối tượng của công tác này cũng bị giới hạn, nhưng mỗi lần Ngài trở nên xác thịt để thực hiện công tác của mình thì Ngài chọn một đối tượng công việc mang tính đại diện cao nhất. Ngài không chọn một nhóm người đơn giản và không có gì nổi bật để làm việc, mà thay vào đó chọn đối tượng cho công tác của Ngài là một nhóm người có khả năng là những hình mẫu đại diện cho công tác của Ngài trong xác thịt. Nhóm người này được chọn bởi vì phạm vi công tác của Ngài trong xác thịt có giới hạn, và được đặc biệt chuẩn bị cho xác thịt nhập thể của Ngài, và được chọn đặc biệt cho công tác của Ngài trong xác thịt. Việc Đức Chúa Trời lựa chọn đối tượng cho công tác của Ngài không phải là không có cơ sở, mà được thực hiện theo nguyên tắc: Đối tượng công tác phải có lợi cho công tác của Đức Chúa Trời trong xác thịt, và phải có khả năng đại diện cho toàn thể nhân loại. Ví dụ như, người Do Thái có thể đại diện cho toàn thể nhân loại trong việc chấp nhận sự đích thân cứu chuộc của Jêsus, và người Trung Quốc có thể đại diện toàn thể nhân loại trong việc chấp nhận sự đích thân chinh phục của Đức Chúa Trời nhập thể. Có cơ sở để người Do Thái đại diện cho toàn thể nhân loại, và cũng có cơ sở để người Trung Quốc đại diện cho toàn thể nhân loại trong việc chấp nhận sự đích thân chinh phục của Đức Chúa Trời. Không có gì tỏ lộ ý nghĩa của sự cứu chuộc hơn là công tác cứu chuộc được thực hiện giữa những người Do Thái, và không có gì tỏ lộ tính triệt để và sự thành công của công tác chinh phục hơn công tác chinh phục được thực hiện giữa người dân Trung Quốc. Công tác và lời của Đức Chúa Trời nhập thể dường như chỉ nhắm vào một nhóm người nhỏ, nhưng thực tế, công tác của Ngài giữa nhóm nhỏ này là công tác của toàn vũ trụ, và lời Ngài nhắm vào toàn thể nhân loại. Sau khi công tác trong xác thịt của Ngài kết thúc, thì những ai theo Ngài sẽ bắt đầu truyền bá về công tác mà Ngài đã thực hiện giữa họ. Điều tốt nhất ở công tác trong xác thịt của Ngài là Ngài có thể để lại những lời chính xác và những khuyến giục, và ý muốn cụ thể của Ngài đối với loài người cho những ai theo Ngài, để sau đó những người theo Ngài có thể truyền đạt lại chính xác hơn và cụ thể hơn về tất cả công tác của Ngài trong xác thịt và ý muốn của Ngài đối với toàn thể nhân loại cho những ai chấp nhận đường lối này. Chỉ có công tác của Đức Chúa Trời trong xác thịt giữa con người mới thực sự đạt tới thực tế là Đức Chúa Trời ở cùng và sống cùng con người. Chỉ công tác này mới thỏa mong ước của con người được thấy mặt Đức Chúa Trời, chứng kiến công việc của Đức Chúa Trời, và nghe chính lời của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời nhập thể kết thúc thời đại khi mà chỉ có phần lưng của Đức Giê-hô-va xuất hiện trước loài người, và Ngài cũng chấm dứt thời đại loài người đặt niềm tin vào một Đức Chúa Trời mơ hồ. Đặc biệt, công tác của Đức Chúa Trời nhập thể sau cùng mang cả nhân loại vào một thời đại thực tế hơn, thiết thực hơn, và tươi đẹp hơn. Ngài không chỉ kết thúc Thời đại Luật pháp và giáo lý mà quan trọng hơn, Ngài mặc khải cho loài người một Đức Chúa Trời thật và bình thường, Đấng công chính và thánh khiết, Đấng mở ra công tác của kế hoạch quản lý và Đấng cho thấy những lẽ mầu nhiệm và đích đến của loài người, Đấng đã tạo nên loài người và kết thúc công tác quản lý, và Đấng đã ẩn đi hàng ngàn năm. Ngài kết thúc hoàn toàn thời đại của sự mơ hồ, Ngài chấm dứt thời đại mà toàn nhân loại ước muốn tìm biết mặt Đức Chúa Trời nhưng đã không thể, Ngài kết thúc thời đại toàn nhân loại phục vụ Sa-tan, và Ngài dẫn dắt toàn nhân loại suốt con đường bước vào một kỷ nguyên hoàn toàn mới. Tất cả những điều này là kết quả công tác của Đức Chúa Trời trong xác thịt thay vì của Thần của Đức Chúa Trời. Khi Đức Chúa Trời làm việc trong xác thịt, thì những ai theo Ngài sẽ không còn tìm kiếm và dò dẫm những điều dường như vừa tồn tại, vừa không tồn tại, và họ thôi không đoán về ý muốn của Đức Chúa Trời mơ hồ. Khi Đức Chúa Trời truyền bá công tác của Ngài trong xác thịt, thì những ai theo Ngài sẽ truyền lại công tác mà Ngài đã thực hiện trong xác thịt cho mọi tôn giáo và giáo phái, và họ sẽ truyền đạt toàn bộ lời Ngài tới tai của toàn thể nhân loại. Tất cả những gì nghe được bởi những ai tiếp nhận Phúc Âm của Ngài sẽ là thực tế trong công tác của Ngài, sẽ là những điều đích thân con người nhìn và nghe được, và sẽ là sự thật chứ không phải lời đồn. Những sự thật này là chứng cứ Ngài dùng khi truyền bá công tác, và chúng cũng là những công cụ mà Ngài sử dụng trong việc truyền bá công tác. Không có sự tồn tại của sự thật, thì Phúc Âm của Ngài sẽ không được truyền bá ra tất cả các quốc gia và khắp mọi nơi; không có sự thật mà chỉ có sự tưởng tượng của con người, thì Ngài sẽ không bao giờ có thể thực hiện công tác chinh phục toàn thể vũ trụ. Thần thì khó nhận thấy và vô hình đối với con người, và công việc của Thần thì không có khả năng để lại thêm bất kỳ chứng cứ hoặc sự thật nào về công tác của Đức Chúa Trời đối với con người. Con người sẽ không bao giờ được thấy khuôn mặt thật sự của Đức Chúa Trời, và họ sẽ luôn luôn tin vào một Đức Chúa Trời mơ hồ không tồn tại. Con người sẽ không bao giờ thấy được mặt Đức Chúa Trời, cũng sẽ không bao giờ nghe được những lời do Đức Chúa Trời đích thân phán dạy. Sau cùng, sự tưởng tượng của con người là trống rỗng, và không thể thay thế khuôn mặt thật của Đức Chúa Trời; tâm tính vốn có của Đức Chúa Trời, và công tác của chính Đức Chúa Trời, không thể bị mạo danh bởi con người. Đức Chúa Trời vô hình trên trời và công tác của Ngài chỉ có thể được đem đến trái đất bởi Đức Chúa Trời nhập thể, đích thân thực hiện công tác của Ngài giữa con người. Đây là cách lý tưởng nhất để Đức Chúa Trời xuất hiện với con người, mà con người thấy được Đức Chúa Trời và biết được khuôn mặt thật của Đức Chúa Trời, và điều đó không thể đạt được bởi một Đức Chúa Trời không nhập thể. Sau khi đã thực hiện công tác của Ngài đến giai đoạn này, công tác của Đức Chúa Trời đã đạt được hiệu quả tối ưu, và hoàn toàn thành công. Công tác của đích thân Đức Chúa Trời trong xác thịt đã hoàn thành chín mươi phần trăm công tác quản lý tổng thể của Ngài. Xác thịt này đã mang lại một khởi đầu tốt hơn và một sự tổng kết cho toàn bộ công tác của Ngài, đã truyền bá toàn bộ công tác của Ngài, và bổ sung đầy đủ lần cuối cùng cho toàn bộ công tác này. Từ nay trở đi, sẽ không có một Đức Chúa Trời nhập thể nào khác thực hiện giai đoạn thứ tư trong công tác của Đức Chúa Trời, và sẽ không bao giờ có bất kỳ công tác kỳ diệu nào trong sự nhập thể lần thứ ba của Đức Chúa Trời.

Trích từ “Nhân loại bại hoại càng cần hơn sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời nhập thể” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày Trích đoạn 126

Mỗi giai đoạn công tác của Đức Chúa Trời trong xác thịt đại diện cho công tác của Ngài trong toàn bộ thời đại, và nó không đại diện cho một thời kỳ nào đó như công tác của con người. Và vì thế, sự kết thúc của công tác trong lần nhập thể cuối của Ngài không có nghĩa là công tác của Ngài đã hoàn toàn kết thúc, bởi công tác của Ngài trong xác thịt đại diện cho cả thời đại, và không chỉ đại diện cho thời kỳ Ngài thực hiện công tác của mình trong xác thịt. Chỉ là Ngài hoàn thành công tác cho cả thời đại trong thời gian Ngài ở trong xác thịt, sau đó nó lan ra khắp mọi nơi. Sau khi Đức Chúa Trời nhập thể hoàn thành chức vụ của Ngài, thì Ngài sẽ giao phó công tác tương lai của mình cho những ai theo Ngài. Bằng cách này, công tác của Ngài trong cả thời đại sẽ được tiếp tục không gián đoạn. Công tác của cả thời đại nhập thể sẽ chỉ được coi là hoàn tất một khi nó đã lan rộng ra toàn vũ trụ. Công tác của Đức Chúa Trời nhập thể bắt đầu một kỷ nguyên mới, và những ai tiếp tục công tác của Ngài là những người được Ngài sử dụng. Tất cả công việc do con người thực hiện đều nằm trong chức vụ của Đức Chúa Trời trong xác thịt, và nó không thể vượt ngoài phạm vi này. Nếu Đức Chúa Trời nhập thể không đến để thực hiện công tác của Ngài, thì con người sẽ không thể kết thúc thời đại cũ và không thể mở ra một kỷ nguyên mới. Công tác được thực hiện bởi con người chỉ đơn thuần nằm trong phạm vi bổn phận mà con người có thể làm được, và nó không đại diện cho công tác của Đức Chúa Trời. Chỉ Đức Chúa Trời nhập thể mới có thể đến và hoàn tất công tác mà Ngài nên làm, và ngoài Ngài ra, không ai có thể làm công tác này thay cho Ngài. Tất nhiên, điều mà Ta phán liên quan đến công tác của sự nhập thể. Đức Chúa Trời nhập thể này trước tiên thực hiện một bước công tác mà không phù hợp với những quan niệm của con người, sau đó Ngài thực hiện thêm nhiều công tác không phù hợp với quan niệm con người. Mục tiêu của công tác là chinh phục con người. Một mặt, sự nhập thể của Đức Chúa Trời không phù hợp với quan niệm của con người, ngoài ra, Ngài thực hiện thêm nhiều công tác không phù hợp với quan niệm của con người, và vì thế con người thậm chí còn có thêm nhiều quan điểm chỉ trích về Ngài. Ngài chỉ làm công tác chinh phục giữa những người có vô số quan niệm về Ngài. Bất kể họ đối xử với Ngài như thế nào, một khi Ngài đã hoàn thành chức vụ của mình, thì tất cả mọi người sẽ trở nên tuân phục sự thống trị của Ngài. Thực tế về công việc này không chỉ được phản ánh giữa những người Trung Quốc, mà nó còn đại diện cho cách toàn thể nhân loại sẽ bị chinh phục. Hiệu quả đạt được trên những người này là một điềm báo cho những hiệu quả sẽ đạt được trên toàn thể nhân loại, và những hiệu quả của công tác Ngài làm trong tương lai sẽ ngày càng vượt xa ngay cả những hiệu quả trên những người này. Công tác của Đức Chúa Trời trong xác thịt không bao gồm sự phô trương mạnh mẽ, cũng không bị bao phủ trong sự mịt mờ. Nó có thực và thực tế, và nó là công tác trong đó một với một là hai. Nó không giấu giếm ai, cũng không lừa gạt ai. Những gì con người nhìn thấy là thật và đích thực, và những gì con người đạt được là lẽ thật và sự hiểu biết thật. Khi công tác kết thúc, con người sẽ có một sự hiểu biết mới về Ngài, và những ai thực sự mưu cầu sẽ không còn bất kỳ quan niệm nào về Ngài. Điều này không chỉ là hiệu quả trong công tác của Ngài đối với người Trung Quốc, mà nó còn đại diện cho hiệu quả công tác của Ngài trong việc chinh phục toàn thể nhân loại, bởi không gì có lợi cho công tác chinh phục toàn thể nhân loại hơn xác thịt này, công tác của xác thịt này, và mọi thứ của xác thịt này. Chúng có lợi cho công tác của Ngài ngày hôm nay, và có lợi cho công tác của Ngài trong tương lai. Xác thịt này sẽ chinh phục toàn thể nhân loại và sẽ thu phục toàn thể nhân loại. Không có công tác nào tốt hơn mà qua đó toàn thể nhân loại sẽ thấy được Đức Chúa Trời, vâng phục Đức Chúa Trời, và biết đến Đức Chúa Trời. Công tác được thực hiện bởi con người chỉ đại diện cho một phạm vi giới hạn, và khi Đức Chúa Trời thực hiện công tác của Ngài thì Ngài không phán với một người nhất định nào, mà phán với toàn thể nhân loại, và tất cả những ai chấp nhận những lời của Ngài. Kết cục mà Ngài tuyên bố là kết cục của cả nhân loại, không chỉ là kết cục của một người nào đó. Ngài không đối xử đặc biệt đối với bất kỳ ai, mà Ngài cũng không khiển trách bất kỳ ai, Ngài làm việc và phán với toàn thể nhân loại. Đức Chúa Trời nhập thể này do đó đã phân chia toàn thể nhân loại theo từng loại, đã phán xét toàn thể nhân loại, và đã sắp xếp một đích đến phù hợp cho toàn thể nhân loại. Mặc dù Đức Chúa Trời chỉ thực hiện công tác của mình ở Trung Quốc, nhưng thực tế, Ngài đã giải quyết công tác của toàn thể vũ trụ. Ngài không thể đợi đến khi công tác của Ngài được truyền bá giữa toàn thể nhân loại rồi Ngài mới phán dạy và sắp xếp từng bước một. Chẳng phải điều đó sẽ là quá trễ sao? Bây giờ Ngài hoàn toàn có thể hoàn thành trước công tác tương lai. Bởi vì Đấng đang làm việc là Đức Chúa Trời trong xác thịt, Ngài đang thực hiện công tác vô hạn trong một phạm vi giới hạn, và sau đó Ngài sẽ khiến con người thực hiện bổn phận mà con người phải thực hiện; đây là nguyên tắc trong công tác của Ngài. Ngài chỉ có thể sống với con người một thời gian và không thể đồng hành cùng con người cho đến khi công tác của cả kỷ nguyên kết thúc. Chính vì Ngài là Đức Chúa Trời nên Ngài báo trước công tác tương lai của Ngài. Sau đó, Ngài sẽ phân chia toàn thể nhân loại theo từng loại bởi những lời của Ngài, và nhân loại sẽ bước vào công tác từng bước một của Ngài theo lời Ngài. Không ai sẽ thoát được, và tất cả phải thực hành theo điều này. Vì vậy, trong tương lai, thời đại sẽ được hướng dẫn bởi lời của Ngài, mà không chịu sự hướng dẫn của Thần.

Trích từ “Nhân loại bại hoại càng cần hơn sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời nhập thể” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày Trích đoạn 127

Xác thịt của con người đã bị Sa-tan làm cho bại hoại, và chúng đã bị mù quáng trầm trọng nhất và bị tổn hại sâu sắc nhất. Lý do cơ bản nhất tại sao Đức Chúa Trời đích thân làm việc trong xác thịt là bởi vì đối tượng cứu rỗi của Ngài là con người, con người của xác thịt, và bởi vì Sa-tan cũng sử dụng xác thịt con người để làm nhiễu loạn công tác của Đức Chúa Trời. Cuộc chiến với Sa-tan thực sự là công tác chinh phục con người, và đồng thời, con người cũng là đối tượng cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Theo cách này, công tác của Đức Chúa Trời nhập thể là cần thiết. Sa-tan đã làm bại hoại xác thịt của con người, và con người đã trở thành hiện thân của Sa-tan, và trở thành đối tượng bị Đức Chúa Trời đánh bại. Theo cách này, công việc chiến đấu với Sa-tan và cứu rỗi con người xảy ra trên đất, và Đức Chúa Trời phải trở thành con người để chiến đấu với Sa-tan. Đây là công tác vô cùng thực tế. Khi Đức Chúa Trời đang làm việc trong xác thịt, Ngài thực sự đang chiến đấu với Sa-tan trong xác thịt. Khi Ngài làm việc trong xác thịt, Ngài đang thực hiện công tác của mình trong lĩnh vực thuộc linh, và Ngài biến toàn bộ công tác của Ngài trong lĩnh vực thuộc linh trở thành hiện thực trên đất. Người được chinh phục là con người, những kẻ không vâng lời Ngài; kẻ bị đánh bại là hiện thân của Sa-tan (tất nhiên, đây cũng là con người), những kẻ thù địch với Ngài; và người cuối cùng được cứu rỗi cũng là con người. Theo cách này, điều thậm chí cần thiết hơn nữa là Đức Chúa Trời phải trở thành một con người có một lớp vỏ bên ngoài của một vật thọ tạo, để Ngài có thể chiến đấu thực sự với Sa-tan, để chinh phục con người, những kẻ không vâng lời Ngài và sở hữu lớp vỏ bên ngoài giống như Ngài, và để cứu rỗi con người, những người có lớp vỏ bên ngoài giống như Ngài và đã bị Sa-tan làm hại. Kẻ thù của Ngài là con người, đối tượng chinh phục của Ngài là con người, và đối tượng cứu rỗi của Ngài là con người, những người do Ngài tạo ra. Vì thế Ngài phải trở thành con người, và bằng cách này, công tác của Ngài trở nên dễ dàng hơn. Ngài có thể đánh bại Sa-tan và chinh phục nhân loại, và hơn nữa, có thể cứu rỗi nhân loại. Mặc dù xác thịt này là bình thường và có thật, nhưng Ngài không phải là xác thịt thông thường: Ngài không phải xác thịt chỉ là con người, mà là xác thịt của cả người và thần. Đây là sự khác biệt giữa Ngài với con người, và nó là dấu hiệu về thân phận của Đức Chúa Trời. Chỉ có xác thịt như thế mới có thể thực hiện công tác mà Ngài định thực hiện, hoàn thành chức vụ của Ngài trong xác thịt, và hoàn thành trọn vẹn công tác của Ngài giữa con người. Nếu không phải như vậy, công tác của Ngài giữa con người sẽ luôn luôn trống rỗng và thiếu sót. Ngay cả khi Đức Chúa Trời có thể chiến đấu với linh hồn của Sa-tan và chiến thắng, thì bản chất cũ của con người bại hoại không bao giờ có thể được giải quyết, và những ai không vâng lời Đức Chúa Trời và chống đối Ngài không bao giờ có thể thực sự tuân phục sự thống trị của Ngài, điều đó có nghĩa là, Ngài không bao giờ có thể chinh phục nhân loại, và không bao giờ có thể thu phục toàn thể nhân loại. Nếu công tác của Ngài trên đất không thể được giải quyết, thì sự quản lý của Ngài sẽ không bao giờ được kết thúc, và toàn thể nhân loại sẽ không thể bước vào sự nghỉ ngơi. Nếu Đức Chúa Trời không thể bước vào sự nghỉ ngơi với tất cả vật thọ tạo của Ngài, thì sẽ không bao giờ có kết quả cho công tác quản lý như thế, và sự vinh hiển của Đức Chúa Trời vì vậy sẽ biến mất. Mặc dù xác thịt của Ngài không có thẩm quyền, nhưng công tác Ngài thực hiện sẽ đạt được hiệu quả của nó. Đây là hướng đi chắc chắn trong công tác của Ngài. Bất kể việc xác thịt của Ngài có thẩm quyền hay không, miễn là Ngài còn khả năng thực hiện công tác của chính Đức Chúa Trời thì Ngài là chính Đức Chúa Trời. Bất kể xác thịt này bình thường và bình dị thế nào, thì Ngài vẫn có thể thực hiện công tác Ngài nên thực hiện, bởi xác thịt này là Đức Chúa Trời và không chỉ là một con người. Lý do mà xác thịt này có thể thực hiện công tác mà con người không thể thực hiện là vì thực chất bên trong của Ngài không giống như của bất kỳ con người nào, và lý do Ngài có thể cứu rỗi con người là vì thân phận của Ngài khác với của bất kỳ con người nào. Xác thịt này rất quan trọng đối với nhân loại bởi vì Ngài là con người, và còn hơn thế nữa, Ngài là Đức Chúa Trời, bởi vì Ngài có thể thực hiện công tác mà không con người bình thường nào trong xác thịt có thể làm, và bởi vì Ngài có thể cứu rỗi con người bại hoại, những người sống cùng với Ngài trên đất. Mặc dù Ngài giống hệt con người, nhưng Đức Chúa Trời nhập thể quan trọng đối với nhân loại hơn bất kỳ con người có giá trị nào, bởi Ngài có thể thực hiện công tác mà Thần của Đức Chúa Trời không thể thực hiện, càng có thể làm chứng về chính Đức Chúa Trời hơn là Thần của Đức Chúa Trời để hoàn toàn thu phục nhân loại. Kết quả là, mặc dù xác thịt này bình thường và bình dị, đóng góp của Ngài cho nhân loại và tầm quan trọng của Ngài đối với sự tồn tại của nhân loại làm cho Ngài trở nên vô cùng quý giá, và giá trị cùng ý nghĩa thực của xác thịt này là không thể đo lường được đối với bất kỳ con người nào. Mặc dù xác thịt này không thể trực tiếp hủy diệt Sa-tan, nhưng Ngài có thể sử dụng công tác của Ngài để chinh phục nhân loại và đánh bại Sa-tan, và khiến Sa-tan hoàn toàn đầu phục sự thống trị của Ngài. Chính vì Đức Chúa Trời là nhập thể nên Ngài có thể đánh bại Sa-tan và có thể cứu rỗi nhân loại. Ngài không trực tiếp hủy diệt Sa-tan, mà thay vào đó, trở nên xác thịt để thực hiện công tác chinh phục nhân loại, những người đã bị Sa-tan làm cho bại hoại. Bằng cách này, Ngài có thể làm chứng tốt hơn cho chính Ngài giữa các vật thọ tạo của Ngài, và Ngài có thể cứu rỗi con người bại hoại tốt hơn. Việc đánh bại Sa-tan của Đức Chúa Trời nhập thể mang lại lời chứng mạnh mẽ hơn, và có tính thuyết phục hơn là việc trực tiếp hủy diệt Sa-tan bởi Thần của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời trong xác thịt có khả năng tốt hơn trong việc giúp con người biết đến Đấng Tạo Hóa và có thể làm chứng tốt hơn cho chính Ngài giữa các vật thọ tạo của Ngài.

Trích từ “Nhân loại bại hoại càng cần hơn sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời nhập thể” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày Trích đoạn 128

Đức Chúa Trời đã đến thế gian để làm công tác của Ngài giữa con người, để đích thân mặc khải chính Ngài cho con người và để cho con người thấy được Ngài; liệu đây có phải là một chuyện nhỏ nhặt không? Đây là điều thực sự đặc biệt! Không như là con người tưởng tượng rằng Đức Chúa Trời đến để con người có thể quan sát Ngài, để con người có thể hiểu được rằng Đức Chúa Trời có thật và không mơ hồ hoặc xáo rỗng, và rằng Đức Chúa Trời cao cả nhưng cũng khiêm nhu. Có thể nào đơn giản thế không? Chính vì Sa-tan đã làm bại hoại xác thịt của con người, và con người là đối tượng mà Đức Chúa Trời dự định cứu, nên Đức Chúa Trời phải mặc lấy xác thịt để chiến đấu với Sa-tan và để đích thân chăn dắt con người. Chỉ điều này là có lợi cho công tác của Ngài. Hai xác thịt nhập thể của Đức Chúa Trời đã tồn tại để đánh bại Sa-tan, và cũng đã tồn tại để cứu con người cách tốt hơn. Đó là vì người chiến đấu với Sa-tan chỉ có thể là Đức Chúa Trời, dù đó là Thần của Đức Chúa Trời hoặc là xác thịt nhập thể của Đức Chúa Trời. Tóm lại, người chiến đấu với Sa-tan không thể là các thiên sứ, càng không thể là con người, những kẻ đã bị Sa-tan làm cho bại hoại. Các thiên sứ không có quyền năng để làm điều đó, và con người thậm chí còn bất lực hơn nữa. Như vậy, nếu Đức Chúa Trời muốn chế tác đời sống con người, nếu Ngài muốn đích thân đến thế gian để cứu rỗi con người, thì Ngài phải đích thân trở nên xác thịt, nghĩa là, Ngài phải đích thân mặc lấy xác thịt, và với thân phận vốn có của Ngài và công tác mà Ngài phải làm, đến giữa con người và đích thân cứu con người. Nếu không, nếu là Thần của Đức Chúa Trời hoặc con người thực hiện công tác này, thì cuộc chiến này sẽ chẳng bao giờ đi đến đâu, và nó sẽ không bao giờ kết thúc. Chỉ khi Đức Chúa Trời trở nên xác thịt để đích thân chiến đấu chống lại Sa-tan giữa con người thì con người mới có cơ hội được cứu rỗi. Hơn nữa, chỉ khi đó thì Sa-tan mới bị hổ thẹn, và không còn bất kỳ cơ hội nào để lợi dụng hoặc bất kỳ kế hoạch nào để thực hiện. Công tác do Đức Chúa Trời nhập thể thực hiện không thể đạt được bởi Thần của Đức Chúa Trời, và càng không có khả năng được thực hiện bởi bất kỳ con người xác thịt nào thay cho Đức Chúa Trời, bởi công tác mà Ngài làm là vì sự sống của con người, và để thay đổi tâm tính bại hoại của con người. Nếu con người phải tham gia vào cuộc chiến này, họ sẽ chỉ còn cách là tháo chạy cách thiểu não, và đơn giản là không có khả năng thay đổi tâm tính bại hoại của mình. Họ sẽ không có khả năng cứu con người từ thập tự giá, hoặc chinh phục toàn nhân loại phản nghịch, mà chỉ có thể làm ít công việc cũ kỹ không vượt quá các nguyên tắc, hoặc là công việc không liên quan đến việc đánh bại Sa-tan. Vậy thì tại sao phải bận lòng? Công tác mà không thể thu phục nhân loại, càng không thể đánh bại Sa-tan thì có ý nghĩa gì? Và vì vậy, cuộc chiến với Sa-tan chỉ có thể được thực hiện bởi chính Đức Chúa Trời, và đơn giản là không có khả năng được thực hiện bởi con người. Bổn phận của con người là vâng lời và làm theo, bởi con người không thể làm công việc tương tự như khai thiên lập địa, hơn nữa, cũng không thể thực hiện công việc chiến đấu với Sa-tan. Con người chỉ có thể làm thỏa lòng Đấng Tạo Hóa dưới sự dẫn dắt của chính Đức Chúa Trời, qua đó Sa-tan bị đánh bại; đây là việc duy nhất mà con người có thể làm. Và vì thế, mỗi khi một trận chiến mới bắt đầu, điều đó có nghĩa là, mỗi khi công tác trong thời đại mới bắt đầu, thì công tác này được chính Đức Chúa Trời đích thân thực hiện, qua đó Ngài dẫn dắt toàn bộ thời đại, và mở ra một con đường mới cho toàn nhân loại. Buổi bình minh của mỗi thời đại mới là một sự khởi đầu mới trong cuộc chiến với Sa-tan, qua đó con người bước vào một cõi mới hơn, tươi đẹp hơn, và một thời đại mới được chính Đức Chúa Trời đích thân dẫn dắt. Con người là chủ của muôn vật, nhưng những ai đã được giành lại sẽ trở thành thành quả trong mọi cuộc chiến với Sa-tan. Sa-tan là kẻ làm cho muôn vật bị bại hoại, là kẻ bại trận khi mọi cuộc chiến kết thúc, và cũng là kẻ sẽ bị hành phạt sau những cuộc chiến này. Giữa Đức Chúa Trời, con người và Sa-tan, chỉ mình Sa-tan là kẻ bị gớm ghiếc và chối bỏ. Trong khi đó, những ai đã bị Sa-tan đoạt được nhưng không được Đức Chúa Trời giành lại, thì trở thành những kẻ sẽ nhận trừng phạt thay cho Sa-tan. Trong ba bản thể này, chỉ có Đức Chúa Trời đáng được thờ phượng bởi muôn vật. Trong khi đó, những ai đã bị Sa-tan làm cho tha hóa nhưng được Đức Chúa Trời giành lại và đi theo đường lối Đức Chúa Trời, lại trở thành những người sẽ nhận được lời hứa của Đức Chúa Trời và phán xét những kẻ ác cho Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời chắc chắn sẽ chiến thắng và Sa-tan chắc chắn sẽ bị đánh bại, tuy nhiên trong loài người thì có những người sẽ thắng và có những người sẽ thua. Những ai thắng sẽ thuộc về người đắc thắng, còn những ai thua sẽ thuộc về kẻ thất bại; đây là sự phân chia từng người theo loại, là sự kết thúc cuối toàn bộ công tác của Đức Chúa Trời. Nó cũng là mục tiêu trong tất cả công tác của Đức Chúa Trời, và sẽ không bao giờ thay đổi. Cốt lõi của công tác chính trong kế hoạch quản lý của Đức Chúa Trời tập trung vào sự cứu rỗi con người, và Đức Chúa Trời trở nên xác thịt chủ yếu vì cốt lõi này, vì công tác này, và để đánh bại Sa-tan. Lần đầu tiên Đức Chúa Trời trở nên xác thịt cũng là để đánh bại Sa-tan: Ngài đã đích thân trở nên xác thịt, và đích thân chịu đóng đinh lên thập tự, để hoàn thành công tác trong cuộc chiến đầu tiên, đó là công tác cứu chuộc loài người. Tương tự như vậy, giai đoạn công tác này cũng được thực hiện bởi đích thân Đức Chúa Trời, Đấng đã trở nên xác thịt để làm công tác của Ngài giữa con người, để đích thân phán lời Ngài và để cho con người nhìn thấy Ngài. Tất nhiên, không thể tránh khỏi việc Ngài cũng thực hiện một vài công việc khác trong suốt quá trình, nhưng lý do chính Ngài đích thân thực hiện công tác của Ngài là để đánh bại Sa-tan, để chinh phục toàn thể nhân loại, và để thu phục những con người này. Và vì vậy, công tác của Đức Chúa Trời nhập thể thật đặc biệt. Nếu mục đích của Ngài chỉ là cho con người thấy rằng Đức Chúa Trời khiêm nhu và ẩn giấu, và rằng Đức Chúa Trời là có thật, nếu chỉ vì làm việc này, thì đã không cần phải trở nên xác thịt. Ngay cả khi Đức Chúa Trời không trở nên xác thịt, thì Ngài vẫn có thể mặc khải trực tiếp cho con người sự khiêm nhu và ẩn giấu của Ngài, sự vĩ đại và thánh khiết của Ngài, nhưng những điều như thế không liên quan gì đến công tác quản lý nhân loại. Chúng không có khả năng cứu rỗi con người hoặc làm cho họ trọn vẹn, lại càng không thể đánh bại Sa-tan. Nếu việc đánh bại Sa-tan chỉ liên quan đến việc Thầnchiến đấu với một quỷ, thì công việc như thế càng có ít giá trị thực tế hơn; nó sẽ không có khả năng thu phục con người và sẽ hủy hoại số phận và những triển vọng của con người. Như vậy, công tác của Đức Chúa Trời ngày hôm nay có ý nghĩa sâu sắc. Nó không chỉ để con người có thể nhìn thấy Ngài, hoặc để mắt con người có thể được mở ra, hoặc để ban cho họ chút cảm động và khích lệ; công việc như thế không có ý nghĩa. Nếu ngươi chỉ có thể nói về loại kiến thức này, thì điều đó chứng tỏ rằng ngươi không biết ý nghĩa thực sự trong sự nhập thể của Đức Chúa Trời.

Trích từ “Khôi phục lại đời sống bình thường của con người và đưa họ đến một đích đến tuyệt vời” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày Trích đoạn 129

Mỗi giai đoạn của công việc được Đức Chúa Trời thực hiện đều có ý nghĩa thực tế riêng của nó. Thời xưa, khi Jêsus đến, Ngài là người nam, và khi Đức Chúa Trời đến lần này, Ngài là người nữ. Từ điều này, ngươi có thể thấy rằng Đức Chúa Trời đã tạo dựng nên cả người nam và người nữ vì công việc của Ngài, và với Ngài không có sự phân biệt giới tính. Khi Thần của Ngài đến, Ngài có thể mang lấy bất kỳ xác thịt nào mà Ngài muốn, và xác thịt đó có thể đại diện cho Ngài; dù là nam hay nữ, nó có thể đại diện cho Đức Chúa Trời miễn nó là xác thịt nhập thể của Ngài. Nếu Jêsus đã xuất hiện trong thân phận một người nữ khi Ngài đến, nói cách khác, nếu một bé gái sơ sinh, chứ không phải một bé trai, đã được thai dựng bởi Đức Thánh Linh, thì giai đoạn công việc đó sẽ được hoàn thành dù thế nào đi chăng nữa. Nếu đúng là như thế, thì giai đoạn công việc hiện tại thay vào đó sẽ phải được hoàn thành bởi một người nam, nhưng công việc sẽ được hoàn thành dù thế nào đi chăng nữa. Công việc được thực hiện trong giai đoạn nào cũng đều quan trọng như nhau; không có giai đoạn công việc nào bị lặp lại, chúng cũng không mâu thuẫn với nhau. Vào thời điểm đó, Jêsus, khi thực hiện công việc của Ngài, đã được gọi là Con trai một, và “Con trai” ám chỉ giới tính nam. Tại sao Con trai một không được đề cập trong giai đoạn hiện tại này? Bởi vì những yêu cầu của công việc đã đòi hỏi một sự thay đổi về giới tính so với của Jêsus. Với Đức Chúa Trời, không có sự phân biệt giới tính. Ngài làm công việc của Ngài như Ngài muốn, và khi thực hiện công việc của mình thì Ngài không phải chịu bất kỳ sự hạn chế nào, mà đặc biệt được tự do. Tuy nhiên, mỗi giai đoạn của công việc có ý nghĩa thực tế riêng của nó. Đức Chúa Trời đã trở nên xác thịt hai lần, và điều hiển nhiên là sự nhập thể của Ngài trong những ngày sau rốt là lần cuối cùng. Ngài đã đến để khiến cho mọi việc làm của Ngài được biết đến. Nếu trong giai đoạn này Ngài không trở nên xác thịt để đích thân làm việc cho con người chứng kiến, thì con người sẽ mãi mãi bám lấy quan niệm cho rằng Đức Chúa Trời chỉ là nam, chứ không phải là nữ. Trước đó, toàn thể nhân loại đều đã tin rằng Đức Chúa Trời chỉ có thể là nam và rằng một người nữ thì không thể được gọi là Đức Chúa Trời, vì toàn thể nhân loại đều xem người nam có thẩm quyền hơn người nữ. Họ tin rằng không người nữ nào có thể nắm quyền, chỉ có người nam mà thôi. Hơn thế nữa, họ thậm chí còn nói rằng người nam là đầu của người nữ và rằng người nữ phải vâng lời người nam và không thể vượt qua người nam. Trong quá khứ, khi người ta nói rằng người nam là đầu của người nữ, điều này nhắm vào A-đam và Ê-va, những người đã bị con rắn cám dỗ – không phải nhắm vào người nam và người nữ như khi họ được Đức Giê-hô-va tạo dựng nên lúc ban đầu. Tất nhiên, một người phụ nữ phải vâng lời và yêu thương chồng mình, còn một người chồng phải học cách nuôi dưỡng và chu cấp cho gia đình mình. Đây là những luật lệ và sắc lệnh do Đức Giê-hô-va đặt ra mà loài người phải tuân theo trong cuộc sống của họ trên đất. Đức Giê-hô-va đã phán với người nữ: “Sự dục vọng ngươi phải xu hướng về chồng, và chồng sẽ cai trị ngươi”. Ngài chỉ phán như vậy hầu cho loài người (nghĩa là, cả người nam và người nữ) có thể sống cuộc đời bình thường dưới sự thống trị của Đức Giê-hô-va, và hầu cho cuộc sống của loài người có thể có được một kết cấu, và không chệch ra khỏi trật tự đúng đắn của chúng. Do đó, Đức Giê-hô-va đã đưa ra các quy tắc phù hợp về cách người nam và người nữ nên hành động, mặc dù điều này chỉ liên quan đến mọi tạo vật sống trên đất, và không liên quan gì đến xác thịt nhập thể của Đức Chúa Trời. Làm sao Đức Chúa Trời có thể giống như những tạo vật của Ngài được? Những lời của Ngài chỉ nhắm vào loài người được Ngài sáng tạo mà thôi; chính vì để cho loài người sống cuộc đời bình thường mà Ngài đã thiết lập các quy tắc cho người nam và người nữ. Ban đầu, khi Đức Giê-hô-va dựng nên loài người, Ngài đã dựng nên hai loại người, cả nam và nữ; và do đó có sự phân chia giữa nam và nữ trong xác thịt nhập thể của Ngài. Ngài đã không quyết định công việc của Ngài dựa trên những lời Ngài đã phán với A-đam và Ê-va. Hai lần Ngài trở nên xác thịt đã được quyết định hoàn toàn dựa theo suy nghĩ của Ngài tại thời điểm Ngài tạo dựng nên loài người lần đầu tiên; nghĩa là, Ngài đã hoàn tất công việc của hai lần nhập thể của Ngài dựa trên người nam và người nữ trước khi họ bị bại hoại. Nếu loài người lấy những lời Đức Giê-hô-va đã phán với A-đam và Ê-va, là những người đã bị con rắn cám dỗ, và áp dụng chúng cho công việc nhập thể của Đức Chúa Trời, thì chẳng phải Jêsus cũng sẽ phải yêu vợ như Ngài phải làm hay sao? Theo cách này, Chúa có còn là Đức Chúa Trời hay không? Và như vậy, liệu Ngài vẫn sẽ có thể hoàn tất công việc của Ngài chứ? Nếu việc xác thịt nhập thể của Đức Chúa Trời trở thành người nữ là sai trật, thì chẳng phải việc Đức Chúa Trời đã tạo dựng nên người nữ cũng sẽ là một sai lầm nghiêm trọng nhất hay sao? Nếu mọi người vẫn tin rằng việc Đức Chúa Trời nhập thể thành người nữ là sai trật, thì chẳng phải Jêsus, người không kết hôn và do đó không thể yêu vợ mình, cũng sai lầm như sự nhập thể hiện tại hay sao? Vì ngươi dùng những lời Đức Giê-hô-va đã phán với Ê-va để đo lường lẽ thật về sự nhập thể của Đức Chúa Trời trong thời đại ngày nay, nên ngươi phải dùng những lời Đức Giê-hô-va đã phán với A-đam để phán xét Đức Chúa Jêsus, là Đấng đã trở nên xác thịt trong Thời đại Ân điển. Chẳng phải những điều này là một hay sao? Vì ngươi đo lường Đức Chúa Jêsus dựa theo người nam chưa bị con rắn cám dỗ, nên ngươi không thể phán xét lẽ thật của sự nhập thể ngày nay dựa theo người nữ đã bị con rắn cám dỗ được. Điều này sẽ là bất công! Đo lường Đức Chúa Trời dựa theo cách này chứng tỏ rằng ngươi thiếu hợp lý. Khi Đức Giê-hô-va hai lần trở nên xác thịt, giới tính của xác thịt Ngài có liên quan đến người nam và người nữ chưa bị con rắn cám dỗ; chính vì để phù hợp với người nam và người nữ chưa bị con rắn lừa gạt mà Ngài đã hai lần trở nên xác thịt. Đừng nghĩ rằng nam tính của Jêsus cũng giống như của A-đam, người đã bị con rắn cám dỗ. Hai người hoàn toàn không liên quan, họ là hai người nam với hai bản chất khác nhau. Chắc chắn không thể nào nam tính của Jêsus lại chứng minh Ngài là đầu của mọi người nữ mà không phải là đầu của mọi người nam? Chẳng phải Ngài là Vua của tất cả người Do Thái (bao gồm cả nam và nữ) sao? Ngài chính là Đức Chúa Trời, không chỉ là đầu của người nữ mà cũng là đầu của người nam. Ngài là Đức Chúa trời của mọi tạo vật và là đầu của mọi tạo vật. Làm sao ngươi có thể định đoạt nam tính của Jêsus là biểu tượng cho người đứng đầu người nữ? Điều này chẳng phải là phạm thượng sao? Jêsus là một người nam chưa bị bại hoại. Ngài là Đức Chúa Trời; Ngài là Đấng Christ; Ngài là Chúa. Làm sao Ngài có thể là một người nam giống như A-đam, là người đã bị bại hoại được? Jêsus là xác thịt được mặc lấy bởi Thần thánh khiết nhất của Đức Chúa Trời. Làm sao ngươi có thể nói Ngài là một Đức Chúa Trời sở hữu nam tính của A-đam? Trong trường hợp đó, chẳng phải mọi công việc của Đức Chúa Trời đều đã sai trật ư? Liệu Đức Giê-hô-va có thể kết hợp bên trong Jêsus nam tính của A-đam, là người đã bị con rắn cám dỗ không? Chẳng phải sự nhập thể của thời hiện tại là một ví dụ khác về công việc của Đức Chúa Trời nhập thể, khác giới tính với Jêsus nhưng giống Ngài về bản chất sao? Ngươi vẫn dám nói rằng Đức Chúa Trời nhập thể không thể là người nữ, bởi vì người nữ là người đầu tiên bị con rắn cám dỗ sao? Ngươi vẫn dám nói rằng, vì người nữ là người ô uế nhất và là nguồn gốc cho sự bại hoại của loài người, nên Đức Chúa Trời không thể nào trở nên xác thịt như một người nữ sao? Ngươi có dám khăng khăng nói rằng “người nữ phải luôn vâng lời người nam và không bao giờ có thể biểu lộ hay đại diện trực tiếp cho Đức Chúa Trời” không? Ngươi đã không hiểu trong quá khứ, nhưng bây giờ ngươi có thể tiếp tục nói phạm đến công việc của Đức Chúa Trời, đặc biệt là xác thịt nhập thể của Đức Chúa Trời sao? Nếu ngươi không thấy rõ điều này, thì tốt nhất hãy để ý lưỡi của mình, kẻo sự dại dột và ngu dốt của ngươi bị lộ ra và sự xấu xí của ngươi bị phơi bày. Đừng nghĩ rằng ngươi hiểu hết mọi thứ. Ta bảo ngươi rằng mọi thứ ngươi đã nhìn thấy và trải nghiệm không đủ để ngươi hiểu được dù là một phần nghìn trong kế hoạch quản lý của Ta. Vậy thì tại sao ngươi lại hành động ngạo mạn như vậy? Một chút tài năng và một ít kiến thức nhỏ bé mà ngươi có đó không đủ để Jêsus sử dụng dù chỉ là một giây trong công việc của Ngài! Ngươi thực sự có được bao nhiêu kinh nghiệm? Những gì ngươi đã thấy và mọi điều ngươi đã nghe trong suốt cuộc đời mình cùng những gì ngươi đã tưởng tượng còn ít hơn cả công việc mà Ta thực hiện trong một khoảnh khắc! Tốt nhất là ngươi đừng bới lông tìm vết. Ngươi có thể kiêu ngạo tùy ý, nhưng ngươi chẳng hơn gì một tạo vật thậm chí còn không bằng một con kiến! Mọi thứ ngươi giữ trong bụng mình còn ít hơn những thứ ở trong bụng một con kiến! Đừng nghĩ rằng ngươi có quyền khoa tay múa chân và huênh hoang chỉ vì ngươi đã có được một ít kinh nghiệm và thâm niên. Chẳng phải kinh nghiệm và thâm niên của ngươi là sản phẩm của những lời mà Ta đã phán ra hay sao? Ngươi tin rằng chúng đã đổi lấy công lao khó nhọc của ngươi sao? Ngày nay, ngươi thấy rằng Ta đã trở nên xác thịt, và chỉ vì lý do này mà trong ngươi có tràn ngập những khái niệm và từ đó là những quan điểm vô tận. Nếu không phải vì sự nhập thể của Ta, thì cho dù ngươi sở hữu những tài năng phi thường, ngươi cũng sẽ không có được quá nhiều khái niệm; và chẳng phải từ những điều này mà các ý niệm của ngươi phát sinh hay sao? Nếu Jêsus không trở nên xác thịt lần đầu tiên ấy, thì ngươi thậm chí có biết về sự nhập thể hay không? Chẳng phải vì lần nhập thể đầu tiên đã cho ngươi kiến thức nên ngươi có hành động láo xược cố gắng phán xét lần nhập thể thứ hai hay sao? Tại sao, thay vì là một môn đồ ngoan ngoãn, ngươi lại đang phải học điều đó? Khi ngươi đã bước vào dòng chảy này và đến trước mặt Đức Chúa Trời nhập thể, liệu Ngài có cho phép ngươi nghiên cứu về Ngài không? Ngươi có thể nghiên cứu lịch sử gia đình của mình, nhưng nếu ngươi cố gắng nghiên cứu “lịch sử gia đình” của Đức Chúa Trời thì liệu Đức Chúa Trời của ngày nay có cho phép ngươi thực hiện một nghiên cứu như vậy hay không? Chẳng phải ngươi bị mù sao? Chẳng phải ngươi tự chuốc lấy sự khinh miệt cho chính mình sao?

Trích từ “Hai lần nhập thể hoàn tất ý nghĩa của sự nhập thể” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày Trích đoạn 130

Jêsus và Ta đến từ một Thần. Mặc dù xác thịt của Chúng Ta không liên quan đến nhau, nhưng Thần của Chúng Ta là một; mặc dù nội dung của những gì Chúng Ta làm và công việc Chúng Ta đảm nhận không giống nhau, nhưng Chúng Ta giống nhau về thực chất; xác thịt của Chúng Ta mang hình dạng khác nhau, nhưng điều này là do sự thay đổi trong thời đại và các yêu cầu khác nhau trong công việc của Chúng Ta; mục vụ của Chúng Ta không giống nhau, vì vậy công việc Chúng Ta làm ra và những tâm tính mà Chúng Ta bộc lộ ra cho con người cũng khác nhau. Đó là lý do tại sao những gì con người thấy và hiểu ngày nay không giống như trong quá khứ, là do sự thay đổi trong thời đại. Mặc dù Họ khác nhau về giới tính và hình dạng xác thịt của Họ, và Họ không được sinh ra trong cùng một gia đình, càng không sống trong cùng một khoảng thời gian, nhưng Thần của Họ vẫn là một. Mặc dù xác thịt của Họ không có mối quan hệ về huyết thống cũng như về thể chất dưới bất kỳ hình thức nào, nhưng không thể phủ nhận rằng Họ là xác thịt nhập thể của Đức Chúa Trời trong hai khoảng thời gian khác nhau. Việc Họ là xác thịt nhập thể của Đức Chúa Trời là một sự thật không thể chối cãi, mặc dù Họ không cùng huyết thống và không dùng chung một thứ ngôn ngữ con người (một người là nam nói tiếng Do Thái còn người kia là nữ chỉ nói tiếng Trung Quốc). Chính vì những lý do này mà Họ đã sống ở những quốc gia khác nhau để thực hiện công việc mà từng người cần phải làm, và còn trong những khoảng thời gian khác nhau nữa. Mặc dù thực tế rằng Họ là cùng một Thần, có cùng thực chất chất, nhưng không có những sự tương đồng tuyệt đối giữa vẻ bề ngoài của xác thịt Họ. Tất cả những gì Họ có chung là cùng một nhân tính, nhưng xét về hình dạng bên ngoài của xác thịt Họ và hoàn cảnh sinh ra của Họ, thì Họ không giống nhau. Những điều này không ảnh hưởng đến công việc tương ứng của Họ hoặc đến kiến thức mà con người có về Họ, vì xét cho cùng, Họ là cùng một Thần và không ai có thể tách rời Họ. Mặc dù Họ không có quan hệ huyết thống, nhưng toàn bộ hữu thể của Họ chịu trách nhiệm về Thần của họ, phân bổ cho Họ những công việc khác nhau trong những khoảng thời gian khác nhau, và xác thịt của Họ theo các dòng dõi huyết thống khác nhau. Thần của Đức Giê-hô-va không phải là cha của Thần của Jêsus, và Thần của Jêsus không phải là con trai của Thần của Đức Giê-hô-va: Họ là cùng một Thần. Tương tự như vậy, Đức Chúa Trời nhập thể ngày nay và Jêsus không có quan hệ về huyết thống, nhưng Họ là một, điều này là do Thần của Họ là một. Đức Chúa Trời có thể làm công việc của sự thương xót và nhân từ, cũng như công việc của sự phán xét công chính và hành phạt con người, và việc giáng sự rủa sả xuống cho con người; và cuối cùng, Ngài có thể làm công việc hủy diệt thế gian và trừng phạt kẻ ác. Chẳng phải chính Ngài làm tất cả những điều này sao? Đây chẳng phải là sự toàn năng của Đức Chúa Trời sao?

Trích từ “Hai lần nhập thể hoàn tất ý nghĩa của sự nhập thể” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày Trích đoạn 131

Đức Chúa Trời là vĩ đại nhất trong cả vũ trụ trong cõi trên, liệu Ngài có thể giải thích đầy đủ về chính Ngài bằng cách dùng hình tượng của một xác thịt không? Đức Chúa Trời mặc lấy xác thịt này để thực hiện một giai đoạn công tác của Ngài. Không có ý nghĩa đặc biệt gì trong hình tượng xác thịt này, nó không liên quan đến các thời đại đã qua, cũng không liên quan gì đến tâm tính của Đức Chúa Trời. Tại sao Jêsus không duy trì hình tượng của Ngài? Tại sao Ngài không để con người họa lại ảnh tượng của Ngài hầu cho nó có thể được truyền lại cho các thế hệ sau? Tại sao Ngài không cho phép mọi người thừa nhận rằng ảnh tượng của Ngài là ảnh tượng của Đức Chúa Trời? Mặc dù hình tượng của con người đã được dựng nên theo ảnh tượng của Đức Chúa Trời, nhưng liệu diện mạo của con người có thể đại diện cho ảnh tượng cao quý của Đức Chúa Trời không? Khi Đức Chúa Trời trở nên xác thịt, Ngài chỉ giáng xuống từ trời vào một xác thịt cụ thể. Chính Thần của Ngài giáng xuống thành xác thịt, qua đó Ngài làm công tác của Thần. Chính Thần được bày tỏ trong xác thịt, và chính Thần làm công tác của Ngài trong xác thịt. Công tác được thực hiện trong xác thịt đại diện trọn vẹn cho Thần, và xác thịt là vì mục đích công tác, nhưng điều đó không có nghĩa là hình tượng của xác thịt thay thế cho ảnh tượng thật của chính Đức Chúa Trời; đây không phải là mục đích hoặc ý nghĩa của việc Đức Chúa Trời trở nên xác thịt. Ngài trở nên xác thịt chỉ để Thần có thể tìm được một nơi cư ngụ thích hợp cho việc Ngài làm công tác, để đạt được công tác trong xác thịt của Ngài tốt hơn, hầu cho mọi người có thể nhìn thấy những việc làm của Ngài, hiểu được tâm tính của Ngài, nghe lời của Ngài và biết sự kỳ diệu trong công tác của Ngài. Danh của Ngài đại diện cho tâm tính của Ngài, công tác của Ngài đại diện cho thân phận của Ngài, nhưng Ngài chưa bao giờ phán rằng diện mạo của Ngài trong xác thịt đại diện cho ảnh tượng của Ngài; đó chỉ đơn thuần là một quan niệm của con người. Và như vậy, các khía cạnh quan trọng trong sự nhập thể của Đức Chúa Trời là danh của Ngài, công tác của Ngài, tâm tính của Ngài và giới tính của Ngài. Những điều này được dùng để đại diện cho sự quản lý của Ngài trong thời đại này. Diện mạo của Ngài trong xác thịt không liên quan đến sự quản lý của Ngài, mà chỉ đơn thuần là vì công tác của Ngài vào thời điểm đó. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời không thể không có diện mạo cụ thể, và vì vậy Ngài chọn gia đình thích hợp để xác định diện mạo của mình. Nếu diện mạo của Đức Chúa Trời phải có ý nghĩa đại diện, thì tất cả những ai sở hữu các đặc điểm trên khuôn mặt tương tự như của Ngài cũng sẽ đại diện cho Đức Chúa Trời. Chẳng phải đó sẽ là một sai lầm nghiêm trọng sao? Chân dung của Jêsus đã được con người vẽ lấy để họ có thể thờ phượng Ngài. Vào thời điểm đó, Đức Thánh Linh đã không đưa ra những chỉ dẫn đặc biệt nào, và vì thế con người đã truyền lại chân dung tưởng tượng đó cho đến ngày nay. Thật ra, theo ý định ban đầu của Đức Chúa Trời, con người lẽ ra không nên làm điều này. Chỉ vì lòng sốt sắng của con người đã khiến chân dung của Jêsus tồn tại cho đến ngày nay. Đức Chúa Trời là Thần và con người sẽ không bao giờ có khả năng bao quát được hình tượng của Ngài là gì trong phân tích sau cùng. Hình tượng của Ngài chỉ có thể được đại diện bởi tâm tính của Ngài. Đối với diện mạo về mũi, miệng, mắt và tóc của Ngài, những điều này vượt quá khả năng bao quát của ngươi. Khi sự mặc khải đến với Giăng, người đã trông thấy ảnh tượng của Con người: Từ miệng Ngài là một thanh gươm sắc hai lưỡi, đôi mắt Ngài như hai ngọn lửa, đầu và tóc Ngài trắng như len, chân Ngài giống như đồng bóng láng, và có một dây đai bằng vàng quanh ngực Ngài. Mặc dù những lời của ông vô cùng sống động, nhưng hình ảnh của Đức Chúa Trời mà ông mô tả không phải là hình ảnh của một loài thọ tạo. Những gì ông đã nhìn thấy chỉ là một khải tượng, chứ không phải là hình tượng của một con người từ thế giới vật chất. Giăng đã nhìn thấy một khải tượng, nhưng ông đã không chứng kiến sự xuất hiện thực sự của Đức Chúa Trời. Hình tượng xác thịt nhập thể của Đức Chúa Trời, là hình tượng của một loài thọ tạo, không có khả năng đại diện cho toàn bộ tâm tính của Đức Chúa Trời. Khi Đức Giê-hô-va dựng nên loài người, Ngài phán rằng Ngài làm như vậy theo hình tượng của chính Ngài và đã dựng nên người nam và người nữ. Vào thời điểm đó, Ngài đã phán rằng Ngài dựng nên người nam và người nữ theo hình tượng của Đức Chúa Trời. Mặc dù hình tượng của con người giống với ảnh tượng của Đức Chúa Trời, nhưng điều này không thể được hiểu với ý nghĩa là diện mạo của con người là ảnh tượng của Đức Chúa Trời. Ngươi cũng không thể dùng ngôn ngữ của loài người để tóm lược hoàn toàn ảnh tượng của Đức Chúa Trời, vì Đức Chúa Trời quá cao quý, quá vĩ đại, quá kỳ diệu và không thể dò lường!

Trích từ “Khải tượng về công tác của Đức Chúa Trời (3)” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày Trích đoạn 132

Lần này trở lại, Đức Chúa Trời đến để thực hiện công tác không phải trong một thân thể thuộc linh, mà trong một thân thể rất bình thường. Hơn nữa, đó không những là thân thể của Đức Chúa Trời nhập thể lần thứ hai, mà còn là thân thể mà thông qua đó Đức Chúa Trời trở lại trong xác thịt. Đó là một xác thịt rất bình thường. Ngươi không thể thấy bất cứ điều gì khiến Ngài nổi bật hơn những người khác, nhưng ngươi có thể nhận từ Ngài những lẽ thật chưa từng được nghe thấy trước đây. Xác thịt tầm thường này là hiện thân của tất cả những lời của lẽ thật từ Đức Chúa Trời, đảm nhận công tác của Đức Chúa Trời trong thời kỳ sau rốt, và bày tỏ toàn bộ tâm tính của Đức Chúa Trời cho con người hiểu được. Chẳng phải ngươi rất ham muốn được nhìn thấy Đức Chúa Trời trên trời sao? Chẳng phải ngươi rất ham muốn hiểu được Đức Chúa Trời trên trời sao? Chẳng phải ngươi rất ham muốn nhìn thấy đích đến của nhân loại sao? Ngài sẽ nói với ngươi tất cả những điều huyền bí này – những huyền bí mà không con người nào đã có thể nói với ngươi, và Ngài cũng sẽ nói với ngươi về những lẽ thật mà ngươi không hiểu. Ngài là cánh cổng vào vương quốc của ngươi, và người hướng dẫn của ngươi vào thời đại mới. Một xác thịt bình thường như thế nắm giữ nhiều lẽ mầu nhiệm khôn lường. Những việc làm của Ngài có thể khó hiểu với ngươi, nhưng toàn bộ mục tiêu của công tác Ngài làm thì đủ để ngươi thấy rằng Ngài không phải là một xác thịt đơn giản như người ta tưởng. Vì Ngài đại diện cho ý muốn của Đức Chúa Trời và sự chăm sóc được Đức Chúa Trời thể hiện đối với nhân loại trong thời kỳ sau rốt. Mặc dù ngươi không thể nghe thấy những lời của Ngài mà dường như làm rung chuyển các tầng trời và đất hoặc nhìn thấy đôi mắt Ngài như những ngọn lửa hừng, và dù ngươi không thể cảm nhận được sự sửa dạy của cây gậy sắt của Ngài, tuy nhiên, ngươi có thể nghe thấy từ những lời của Ngài rằng Đức Chúa Trời đầy phẫn nộ và biết rằng Đức Chúa Trời đang thể hiện lòng thương xót với nhân loại; ngươi có thể thấy tâm tính công chính của Đức Chúa Trời và sự khôn ngoan của Ngài, và hơn thế nữa, nhận ra sự quan tâm lo lắng của Đức Chúa Trời dành cho cả nhân loại. Công tác của Đức Chúa Trời trong thời kỳ sau rốt là để cho phép con người thấy được Đức Chúa Trời trên trời đang sống giữa những con người trên đất, và để giúp con người biết đến, vâng lời, tôn kính, và yêu mến Đức Chúa Trời. Đây là lý do tại sao Ngài đã trở lại trong xác thịt lần thứ hai. Dù những gì con người nhìn thấy ngày nay là một Đức Chúa Trời giống như con người, một Đức Chúa Trời có một cái mũi và hai con mắt, và một Đức Chúa Trời không có gì nổi bật, nhưng cuối cùng, Đức Chúa Trời sẽ cho các ngươi thấy rằng nếu con người này không tồn tại, thì trời và đất sẽ trải qua một sự thay đổi vô cùng lớn; nếu con người này không tồn tại, thì các tầng trời sẽ trở nên mờ mịt, đất sẽ rơi vào hỗn loạn, và cả nhân loại sẽ sống giữa nạn đói và bệnh dịch. Ngài sẽ cho các ngươi thấy rằng nếu Đức Chúa Trời nhập thể không đến để cứu rỗi các ngươi trong thời kỳ sau rốt, thì Đức Chúa Trời hẳn đã hủy diệt cả nhân loại trong địa ngục từ lâu; nếu xác thịt này không tồn tại, thì các ngươi sẽ mãi mãi là những tội nhân truyền kiếp, và sẽ muôn thuở là những xác chết. Các ngươi nên biết rằng nếu xác thịt này không tồn tại, thì cả nhân loại sẽ đối mặt với một tai họa không thể tránh khỏi và sẽ thấy không thể nào thoát khỏi sự trừng phạt thậm chí còn nghiêm trọng hơn của Đức Chúa Trời dành cho loài người trong thời kỳ sau rốt. Nếu xác thịt bình thường này đã không được sinh ra, thì tất cả các ngươi sẽ ở trong tình trạng muốn sống cũng không được mà muốn chết cũng không xong; nếu xác thịt này không tồn tại, thì ngày nay các ngươi sẽ không thể nhận được lẽ thật và đến trước ngôi của Đức Chúa Trời, mà thay vào đó, các ngươi sẽ bị Đức Chúa Trời trừng phạt bởi vì những tội lỗi ghê tởm của mình. Các ngươi có biết rằng nếu không nhờ sự trở lại của Đức Chúa Trời trong xác thịt, thì không ai sẽ có một cơ hội được cứu rỗi; và nếu không nhờ sự hiện đến của xác thịt này, thì Đức Chúa Trời hẳn đã chấm dứt thời đại cũ từ lâu. Như thế, các ngươi vẫn còn có thể chối bỏ sự nhập thể lần thứ hai của Đức Chúa Trời sao? Vì các ngươi có thể được lợi rất nhiều từ con người bình thường này, tại sao các ngươi lại không vui mừng chấp nhận Ngài?

Trích từ “Ngươi đã biết chưa? Đức Chúa Trời đã làm một việc vĩ đại giữa con người” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày Trích đoạn 133

Công tác của Đức Chúa Trời là điều ngươi không thể lĩnh hội được. Nếu ngươi không thể hoàn toàn nắm được liệu lựa chọn của mình có đúng hay không, hay ngươi cũng không thể biết được liệu công tác của Đức Chúa Trời có thể thành công hay không, thì tại sao ngươi không thử vận may của mình và xem liệu con người bình thường này có thể giúp ngươi được nhiều hay không, và liệu Đức Chúa Trời đã thực sự làm công tác vĩ đại hay không? Tuy nhiên, Ta phải nói với ngươi rằng vào thời của Nô-ê, con người đã ăn, uống, cưới, gả đến mức Đức Chúa Trời không thể chịu đựng được khi chứng kiến, vì thế, Ngài đã trút một trận lụt lớn để hủy diệt loài người, chỉ tha cho gia đình tám người của Nô-ê cùng tất cả các loài chim và thú. Tuy nhiên, trong thời kỳ sau rốt, những ai được Đức Chúa Trời tha là những người đã trung thành với Ngài cho đến cuối cùng. Mặc dù cả hai thời đại đều là những thời kỳ vô cùng bại hoại mà Đức Chúa Trời không chịu đựng nổi khi chứng kiến, và loài người trong cả hai thời đại đã trở nên bại hoại đến nỗi họ phủ nhận Đức Chúa Trời là Chúa của họ, nhưng Đức Chúa Trời đã chỉ hủy diệt con người trong thời của Nô-ê. Nhân loại trong cả hai thời đại đã khiến Đức Chúa Trời vô cùng đau buồn, tuy nhiên cho đến bây giờ, Đức Chúa Trời vẫn kiên nhẫn với con người của thời kỳ sau rốt. Tại sao lại như vậy? Các ngươi đã bao giờ tự hỏi tại sao chưa? Nếu các ngươi thực sự không biết, thì để Ta nói cho các ngươi biết. Lý do mà Đức Chúa Trời có thể ban ân điển cho con người trong thời kỳ sau rốt không phải là vì họ ít bại hoại hơn con người trong thời của Nô-ê, hay họ đã tỏ ra ăn năn với Đức Chúa Trời, càng không phải vì công nghệ trong thời kỳ sau rốt đã quá tiến bộ đến nỗi Đức Chúa Trời không đành hủy diệt họ. Thay vào đó, chính là vì Đức Chúa Trời có công tác phải làm trong một nhóm người trong thời kỳ sau rốt, và vì Đức Chúa Trời mong muốn đích thân thực hiện công tác này trong sự nhập thể của Ngài. Hơn nữa, Đức Chúa Trời muốn chọn một bộ phận trong nhóm này để trở thành đối tượng cứu rỗi của Ngài và thành quả của kế hoạch quản lý của Ngài, và mang những con người này vào trong thời đại kế tiếp. Do đó, cho dù thế nào đi nữa, cái giá mà Đức Chúa Trời phải trả này đã hoàn toàn nằm trong sự chuẩn bị cho công tác mà xác thịt nhập thể của Ngài sẽ làm trong thời kỳ sau rốt. Việc các ngươi đã đến được ngày hôm nay là nhờ xác thịt này. Chính bởi Đức Chúa Trời sống trong xác thịt mà các ngươi có cơ hội sống sót. Toàn bộ điều may mắn này đã có được nhờ con người bình thường này. Không chỉ có thế, cuối cùng, mọi quốc gia sẽ thờ phượng con người bình thường này, cũng như dâng lời tạ ơn và vâng lời con người tầm thường này, bởi vì chính lẽ thật, sự sống, và đường đi Ngài mang đến đã cứu rỗi toàn thể nhân loại, xoa dịu mâu thuẫn giữa con người và Đức Chúa Trời, thu hẹp khoảng cách giữa họ, và đã mở ra một sự kết nối giữa những suy nghĩ của Đức Chúa Trời và con người. Cũng chính Ngài là Đấng đã đạt được vinh hiển còn lớn lao hơn cho Đức Chúa Trời. Chẳng lẽ một người bình thường như thế này không xứng đáng với sự tin cậy và tôn thờ của ngươi sao? Chẳng lẽ một xác thịt bình thường như thế không phù hợp để được gọi là Đấng Christ sao? Chẳng lẽ một người bình thường như thế không thể trở thành sự hiển lộ của Đức Chúa Trời giữa con người sao? Chẳng lẽ một người như thế, người đã tha cho nhân loại khỏi chịu thảm họa, lại không xứng đáng với tình yêu của các ngươi và khao khát giữ lấy Ngài của các ngươi sao? Nếu các ngươi chối bỏ những lẽ thật được bày tỏ từ miệng Ngài và ghét sự tồn tại của Ngài ở giữa các ngươi, thì cuối cùng, các ngươi sẽ trở nên ra sao?

Toàn bộ công tác của Đức Chúa Trời trong thời kỳ sau rốt được thực hiện thông qua con người bình thường này. Ngài sẽ ban cho ngươi mọi thứ, và hơn nữa, Ngài sẽ có thể quyết định mọi thứ liên quan đến ngươi. Một người như thế có thể nào như các ngươi nghĩ: một người đơn giản đến mức không đáng được đề cập? Chẳng lẽ lẽ thật của Ngài không đủ để hoàn toàn thuyết phục các ngươi sao? Chẳng lẽ chứng ngôn về những việc làm của Ngài không đủ để hoàn toàn thuyết phục các ngươi sao? Hay chẳng lẽ con đường mà Ngài dẫn dắt các ngươi không xứng đáng để các ngươi đi sao? Xét cho cùng thì điều gì khiến các ngươi căm ghét Ngài, từ bỏ Ngài và lánh xa Ngài? Chính con người này bày tỏ lẽ thật, chính con người này cung cấp lẽ thật, và chính con người này cho các ngươi một con đường để đi theo. Lẽ nào các ngươi vẫn không thể tìm được dấu vết công tác của Đức Chúa Trời trong những lẽ thật này? Không có công tác của Jêsus, thì loài người đã không thể bước xuống khỏi thập tự giá, nhưng không có sự nhập thể của ngày hôm nay, thì những người bước xuống khỏi thập tự giá không bao giờ có thể nhận được sự chấp thuận của Đức Chúa Trời hoặc bước vào thời đại mới. Không có sự hiện đến của con người bình thường này, thì các ngươi sẽ không bao giờ có cơ hội hoặc đủ tư cách để nhìn thấy diện mạo thực của Đức Chúa Trời, vì hết thảy các ngươi đều là những đối tượng đáng bị hủy diệt từ lâu. Bởi vì sự hiện đến của sự nhập thể thứ hai của Đức Chúa Trời, nên Đức Chúa Trời đã tha thứ cho các người và tỏ lòng thương xót các ngươi. Dẫu vậy, những lời Ta phải để lại cho các ngươi cuối cùng vẫn là những lời này: Con người bình thường này, Đức Chúa Trời nhập thể, có tầm quan trọng sống còn đối với các ngươi. Đây là việc vĩ đại Đức Chúa Trời đã làm giữa con người.

Trích từ “Ngươi đã biết chưa? Đức Chúa Trời đã làm một việc vĩ đại giữa con người” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày Trích đoạn 134

Ngươi nên biết gì về Đức Chúa Trời thực tế? Thần, Thân vị, và Lời là các yếu tố làm nên chính Đức Chúa Trời thực tế, và đây chính là ý nghĩa thực sự của chính Đức Chúa Trời thực tế. Nếu ngươi chỉ biết đến Thân vị – tức ngươi chỉ biết đến những thói quen và tính cách của Đức Chúa Trời – nhưng không biết về công việc của Thần, hoặc những điều Thần làm trong xác thịt, và nếu ngươi chỉ chú ý đến Thần và Lời, và chỉ cầu nguyện trước Thần mà không hề biết gì đến công việc của Thần của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Trời thực tế, thì điều đó vẫn chứng tỏ rằng ngươi chẳng biết đến Đức Chúa Trời thực tế. Kiến thức về Đức Chúa Trời thực tế bao gồm việc biết đến và trải nghiệm lời Ngài, và nắm bắt được các luật lệ và nguyên tắc trong công việc của Đức Thánh Linh, và cách mà Thần của Đức Chúa Trời làm việc trong xác thịt. Nó cũng bao gồm việc biết được rằng mỗi một hành động của Đức Chúa Trời trong xác thịt đều được Thần chi phối, và rằng những lời Ngài phán ra đều là sự bày tỏ trực tiếp của Thần. Như thế, để biết về Đức Chúa Trời thực tế, điều tối quan trọng là phải biết Đức Chúa Trời hoạt động trong nhân tính và thần tính như thế nào; điều này lần lượt liên quan đến những sự bày tỏ của Thần, mà hết thảy mọi người đều tiếp xúc.

Những khía cạnh bày tỏ của Thần là gì? Đôi lúc Đức Chúa Trời làm việc trong nhân tính, và đôi lúc trong thần tính – nhưng trong cả hai trường hợp, Thần đều điều khiển. Tinh thần bên trong con người ra sao, thì biểu hiện bên ngoài của họ cũng như vậy. Thần hoạt động một cách bình thường, nhưng có hai phần Ngài được hướng dẫn bởi Thần: Một phần là công tác Đức Chúa Trời trong nhân tính, và phần kia là công tác Đức Chúa Trời trong thần tính. Ngươi nên biết rõ điều này. Công việc của Thần biến đổi tùy theo hoàn cảnh: Khi cần công tác con người của Ngài, thì Thần sẽ chỉ dẫn công tác con người này, và khi cần công tác thần thánh của Ngài, thì thần tính xuất hiện trực tiếp để triển khai công việc. Bởi vì Đức Chúa Trời hoạt động trong xác thịt và xuất hiện trong xác thịt, nên Ngài làm việc cả trong nhân tính và thần tính. Công tác của Ngài trong nhân tính được Thần chỉ dẫn và được thực hiện nhằm thỏa mãn các nhu cầu xác thịt của con người, tạo điều kiện cho họ tiếp xúc với Đức Chúa Trời, cho họ thấy được tính hiện thực và sự bình thường của Đức Chúa Trời, và cho họ thấy rằng Thần của Đức Chúa Trời đã đến trong xác thịt và ở giữa con người, sống cùng con người, và tương tác với con người. Công tác của Đức Chúa Trời trong thần tính được thực hiện nhằm chu cấp cho sự sống của con người và hướng dẫn con người trong mọi việc từ góc độ tích cực, làm thay đổi tâm tính con người và cho họ thực sự thấy được sự xuất hiện của Thần trong xác thịt. Hầu hết sự phát triển trong đời sống con người đạt được trực tiếp thông qua công tác và lời Đức Chúa Trời trong thần tính. Chỉ khi con người chấp nhận công tác trong thần tính của Đức Chúa Trời thì họ mới có thể đạt được những thay đổi trong tâm tính của mình, và chỉ khi đó họ mới được thỏa mãn trong tinh thần mình; chỉ khi thêm vào việc này công tác trong nhân tính – tức sự chăn dắt, hỗ trợ, và chu cấp của Đức Chúa Trời trong nhân tính – thì kết quả công tác của Đức Chúa Trời mới có thể đạt được đầy đủ. Chính Đức Chúa Trời thực tế được nói đến ngày hôm nay hoạt động trong cả nhân tính và thần tính. Thông qua sự xuất hiện của Đức Chúa Trời thực tế, công tác và cuộc sống con người bình thường cũng như công tác hoàn toàn thần thánh của Đức Chúa Trời mới đạt được. Nhân tính và thần tính của Đức Chúa Trời được hợp nhất, và công tác của cả hai đều được thực hiện thông qua lời; dù là trong nhân tính hay thần tính thì Đức Chúa Trời cũng phán ra lời. Khi Đức Chúa Trời hoạt động trong nhân tính, Ngài phán dạy theo ngôn ngữ của nhân tính, hầu cho con người có thể tiếp xúc và hiểu được. Lời Đức Chúa Trời được phán rõ ràng và dễ hiểu, theo cách mà chúng có thể đến được với tất cả mọi người; bất kể những người có tri thức hay ít học, họ đều có thể nhận lãnh lời Đức Chúa Trời. Công tác của Đức Chúa Trời trong thần tính cũng được thực hiện thông qua lời, nhưng nó tràn đầy sự chu cấp, tràn đầy sự sống, và không bị vấy bẩn bởi quan niệm của con người, nó không dính líu gì đến những sở thích của con người, và không có những hạn chế của con người, nó nằm ngoài mọi giới hạn của bất kỳ nhân tính bình thường nào; nó được thực hiện trong xác thịt, nhưng lại là sự bày tỏ trực tiếp của Thần. Nếu con người chỉ chấp nhận công tác của Đức Chúa Trời trong nhân tính, thì họ sẽ gò bó mình vào một phạm vi nhất định, và rồi sẽ cần đến sự xử lý, tỉa sửa và sửa dạy quanh năm nhằm có được thậm chí một chút ít thay đổi trong họ. Tuy vậy, nếu không có công tác hay sự hiện diện của Đức Thánh Linh thì họ sẽ cứ luôn dùng đến những phương cách cũ; chỉ có cách thông qua công tác của thần tính mà những thói tật và khiếm khuyết này mới có thể được chỉnh đốn, và chỉ đến lúc đó thì con người mới có thể được làm cho trọn vẹn. Thay vì liên tục xử lý và tỉa sửa, điều cần thiết là sự chu cấp tích cực, dùng lời để bù đắp cho mọi thiếu sót, dùng lời để vạch trần mọi trạng thái của con người, dùng lời để chỉ dẫn đời sống cũng như mọi lời nói và hành động của họ, để phơi bày mọi ý định và động cơ của họ. Đây là công tác thực sự của Đức Chúa Trời thực tế. Như thế, trong thái độ của ngươi với Đức Chúa Trời thực tế, ngươi phải vâng phục nhân tính của Đức Chúa Trời, đồng thời nhận ra và công nhận Đức Chúa Trời, và hơn thế nữa, ngươi nên chấp nhận và vâng phục công tác và những lời thánh thần của Đức Chúa Trời. Sự xuất hiện của Đức Chúa Trời trong xác thịt có nghĩa rằng mọi công tác và lời của Thần Đức Chúa Trời đều được thực hiện thông qua nhân tính bình thường của Ngài và thông qua xác thịt nhập thể của Ngài. Nói cách khác, Thần của Đức Chúa Trời vừa chỉ dẫn công tác con người của Ngài, vừa thực hiện công vitácệc của thần tính trong xác thịt, và ở Đức Chúa Trời nhập thể, ngươi có thể thấy được cả công tác của Đức Chúa Trời trong nhân tính và công tác hoàn toàn mang thần tính của Đức Chúa Trời. Đây là ý nghĩa thực sự của sự xuất hiện của Đức Chúa Trời thực tế trong xác thịt. Nếu ngươi có thể thấy rõ điều này, thì ngươi sẽ có khả năng kết nối mọi phần khác nhau của Đức Chúa Trời; ngươi sẽ thôi không quá đặt nặng vào công tác trong thần tính của Ngài, và ngươi sẽ thôi không quá xem nhẹ công tác trong nhân tính của Đức Chúa Trời, và ngươi sẽ không bị cực đoan hay đi chệch hướng. Nhìn chung, ý nghĩa của Đức Chúa Trời thực tế là công tác nhân tính và thần tính của Đức Chúa Trời, theo như Thần chỉ dẫn, được bày tỏ thông qua xác thịt của Ngài, hầu cho con người có thể thấy được rằng Đức Chúa Trời đầy sức sống và sống động, có thật và thực tế.

Công tác của Thần của Đức Chúa Trời trong nhân tính có những giai đoạn chuyển tiếp. Bằng cách hoàn thiện nhân tính, Đức Chúa Trời tạo điều kiện cho nhân tính Ngài nhận lãnh được sự chỉ dẫn của Thần, sau đó thì nhân tính Ngài mới có thể chu cấp và chăn dắt các hội thánh. Đây là một sự bày tỏ về công tác bình thường của Đức Chúa Trời. Như vậy, nếu ngươi có thể thấy rõ những nguyên tắc của công tác trong nhân tính của Đức Chúa Trời, thì ngươi sẽ khó có thể nuôi những ý niệm về công tác của Đức Chúa Trời trong nhân tính. Bất kể điều gì khác, Thần của Đức Chúa Trời không thể nào sai. Ngài luôn đúng, và không mắc một lỗi nào; Ngài không làm bất cứ điều gì không chuẩn xác. Công việc thần thánh là sự bày tỏ trực tiếp ý muốn của Đức Chúa Trời mà không có sự can dự của nhân tính. Việc này không trải qua quá trình hoàn thiện mà đến trực tiếp từ Thần. Tuy nhiên, việc Ngài có thể hoạt động trong thần tính là nhờ nhân tính bình thường của Ngài; nó không có một chút gì siêu nhiên, và nó có vẻ như được thực hiện bởi một con người bình thường; Đức Chúa Trời từ thiên đàng đến với trần thế chủ yếu để bày tỏ lời của Đức Chúa Trời thông qua xác thịt, để hoàn tất công tác của Thần của Đức Chúa Trời bằng phương tiện xác thịt.

Trích từ “Ngươi phải biết rằng Đức Chúa Trời thực tế chính là Đức Chúa Trời” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày Trích đoạn 135

Ngày nay, kiến thức của con người về Đức Chúa Trời thực tế vẫn còn quá phiến diện, và hiểu biết của họ về tầm quan trọng của sự nhập thể vẫn còn quá ít ỏi. Nhờ xác thịt của Đức Chúa Trời, con người thấy được qua công tác và lời Ngài rằng Thần của Đức Chúa Trời bao hàm quá nhiều, rằng Đức Chúa Trời quá dư dật. Tuy nhiên, dù sao đi nữa, lời chứng về Đức Chúa Trời cuối cùng vẫn đến từ Thần của Đức Chúa Trời: những gì Đức Chúa Trời làm trong xác thịt, những nguyên tắc nào Đức Chúa Trời sử dụng, những gì Đức Chúa Trời làm trong nhân tính, và những gì Đức Chúa Trời làm trong thần tính. Con người phải có kiến thức về những điều này. Ngày nay, ngươi có thể thờ phượng thân vị này, trong khi về thực chất, ngươi đang thờ phượng Thần, và đó là điều tối thiểu con người phải đạt được trong tri thức của họ về Đức Chúa Trời nhập thể: biết về bản chất của Thần thông qua xác thịt, biết về công việc thần thánh của Thần trong xác thịt và công việc của con người trong xác thịt, chấp nhận mọi lời và lời phán của Thần trong xác thịt, và thấy được cách mà Thần của Đức Chúa Trời chỉ dẫn xác thịt và biểu thị quyền năng của Ngài trong xác thịt. Điều này có nghĩa là con người biết đến Thần trên trời thông qua xác thịt; sự xuất hiện của chính Đức Chúa Trời thực tế giữa nhân loại đã xua tan Đức Chúa Trời mơ hồ trong quan niệm của con người. Sự thờ phượng của con người đối với chính Đức Chúa Trời thực tế đã làm gia tăng sự vâng phục của họ đối với Đức Chúa Trời, và thông qua công việc thần thánh của Thần của Đức Chúa Trời trong xác thịt, cũng như công việc con người của Ngài trong xác thịt, mà con người nhận lãnh được sự mặc khải và được chăn dắt, và đạt được những đổi thay trong tâm tính sống của con người. Đây là ý nghĩa thực sự của việc Thần đến trong xác thịt, mà mục đích chủ yếu là để con người có thể được tiếp xúc với Đức Chúa Trời, nương tựa vào Đức Chúa Trời, và đạt đến sự hiểu biết về Đức Chúa Trời.

Nhìn chung, con người nên có thái độ nào đối với Đức Chúa Trời thực tế? Ngươi biết gì về sự nhập thể, về sự xuất hiện của Lời trong xác thịt, về sự xuất hiện của Đức Chúa Trời trong xác thịt, về những việc làm của Đức Chúa Trời thực tế? Các chủ đề chính của cuộc thảo luận hôm nay là gì? Sự nhập thể, sự xuất hiện của Lời trong xác thịt, và sự xuất hiện của Đức Chúa Trời trong xác thịt đều là những vấn đề cần được thông suốt. Các ngươi phải dần hiểu ra những vấn đề này và có được hiểu biết rõ ràng về chúng trong kinh nghiệm sống của các ngươi, dựa trên vóc giạc của các ngươi và dựa trên thời đại. Quá trình để con người cảm nghiệm lời Đức Chúa Trời cũng giống như quá trình mà họ biết đến sự xuất hiện của lời Đức Chúa Trời trong xác thịt. Con người càng cảm nghiệm lời Đức Chúa Trời, họ càng biết đến Thần của Đức Chúa Trời; thông qua việc cảm nghiệm lời Đức Chúa Trời, con người nắm bắt được các nguyên tắc công việc của Thần và biết đến chính Đức Chúa Trời thực tế. Thực ra, khi Đức Chúa Trời làm con người trở nên hoàn thiện và thu phục họ, Đức Chúa Trời để cho họ biết đến những việc làm của Đức Chúa Trời thực tế; Ngài dùng công tác của Đức Chúa Trời thực tế để cho con người thấy tầm quan trọng thực sự của sự nhập thể, để cho họ thấy rằng Thần của Đức Chúa Trời thực sự đã xuất hiện trước con người. Khi con người được Đức Chúa Trời thu phục và làm cho hoàn thiện, những sự bày tỏ của Đức Chúa Trời thực tế đã chinh phục được họ; lời của Đức Chúa Trời thực tế đã thay đổi được họ, và đưa sự sống của chính Đức Chúa Trời vào bên trong họ, lấp đầy họ với Ngài là gì (bất kể Ngài là gì trong nhân tính của Ngài, hay Ngài là gì trong thần tính của Ngài), lấp đầy họ với bản chất của lời Đức Chúa Trời, và khiến con người sống thể hiện ra lời Đức Chúa Trời. Khi Đức Chúa Trời thu phục con người, Đức Chúa Trời chủ yếu dùng lời và lời phán của Đức Chúa Trời thực tế như một cách để để xử lý những khiếm khuyết của con người và để phán xét và phơi bày tâm tính dấy loạn của họ, khiến họ đạt được những gì họ cần và cho họ thấy rằng Đức Chúa Trời đã đến giữa con người. Quan trọng hơn hết thảy, công tác do Đức Chúa Trời thực tế thực hiện là cứu rỗi mọi người khỏi sự ảnh hưởng của Sa-tan, đưa họ ra khỏi vùng đất bẩn thỉu, và xua tan tâm tính bại hoại của họ. Tầm quan trọng sâu sắc nhất trong việc được Đức Chúa Trời thực tế thu phục là có thể sống trọn nhân tính bình thường với tấm gương và hình mẫu là Đức Chúa Trời thực tế, có thể thực hành theo những lời và yêu cầu của Đức Chúa Trời thực tế không chút chểnh mảng hay lạc lối, thực hành theo bất cứ cách nào Ngài dạy, và có thể đạt được bất cứ điều gì Ngài yêu cầu. Bằng cách này, ngươi sẽ được Đức Chúa Trời thu phục. Khi ngươi được Đức Chúa Trời thu phục, ngươi không chỉ sở hữu công tác của Đức Thánh Linh; chủ yếu là ngươi có thể sống thể hiện ra những yêu cầu của Đức Chúa Trời thực tế. Chỉ đơn thuần có được công tác của Đức Thánh Linh không có nghĩa rằng ngươi có được sự sống. Mấu chốt là ngươi có thể hành động theo yêu cầu của Đức Chúa Trời thực tế đối với ngươi hay không, nó liên quan đến việc ngươi có thể được thu phục bởi Đức Chúa Trời hay không. Những điều này mới là ý nghĩa to lớn nhất của công tác của Đức Chúa Trời thực tế trong xác thịt. Điều này có nghĩa là Đức Chúa Trời thu phục một nhóm người bằng cách thực sự xuất hiện trong xác thịt và trở nên sống động và rất thật, được con người diện kiến, thực sự làm những công tác của Thần trong xác thịt, và bằng cách làm gương mẫu cho con người trong xác thịt. Sự hiện đến của Đức Chúa Trời trong xác thịt chủ yếu là để giúp con người thấy được những việc làm thực tế của Đức Chúa Trời, để cho Thần vô hình một hình dạng xác thịt, và để cho phép con người có thể nhìn thấy và chạm vào Ngài. Theo cách này, những ai được Đức Chúa Trời làm cho trọn vẹn sẽ sống thể hiện ra Đức Chúa Trời, sẽ được Đức Chúa Trời thu phục, và sẽ hợp lòng Đức Chúa Trời. Nếu Đức Chúa Trời chỉ phán từ trên trời và đã không thực sự đến trên đất, thì con người vẫn sẽ không có khả năng biết đến Đức Chúa Trời; họ chỉ có thể truyền giảng về những việc làm của Đức Chúa Trời qua lý thuyết sáo rỗng và sẽ không có được lời Đức Chúa Trời như hiện thực. Đức Chúa Trời đã đến trên đất chủ yếu để làm gương mẫu và hình mẫu cho những ai Đức Chúa Trời sẽ thu phục; chỉ như vậy, con người mới có thể thực sự biết đến Đức Chúa Trời, chạm vào Đức Chúa Trời, nhìn thấy được Đức Chúa Trời, và chỉ khi đó họ mới thực sự được Đức Chúa Trời thu phục.

Trích từ “Ngươi phải biết rằng Đức Chúa Trời thực tế chính là Đức Chúa Trời” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày Trích đoạn 136

Công tác của Đức Chúa Trời nhập thể bao gồm hai phần. Lần đầu tiên Ngài trở nên xác thịt, mọi người đã không tin Ngài, cũng chẳng biết Ngài, và họ đã đóng đinh Jêsus trên thập tự giá. Sau đó, Ngài đã trở nên xác thịt lần thứ hai, mọi người vẫn không tin vào Ngài, càng không biết về Ngài, và một lần nữa, họ đã đóng đinh Đấng Christ trên thập tự giá. Chẳng phải con người là kẻ thù của Đức Chúa Trời sao? Nếu con người không biết Đức Chúa Trời, thì làm sao con người có thể thân tín với Ngài được? Và làm sao họ có thể đủ tư cách để làm chứng cho Đức Chúa Trời? Chẳng phải những lời tuyên bố yêu kính Đức Chúa Trời, hầu việc Đức Chúa Trời, và tôn vinh Đức Chúa Trời của con người hết thảy đều là những lời dối trá lừa gạt sao? Nếu ngươi tận hiến cuộc đời mình cho những điều phi hiện thực, phi thực tế này, thì chẳng phải ngươi nhọc công vô ích sao? Làm sao ngươi có thể trở thành thân tín của Đức Chúa Trời khi ngươi thậm chí còn không biết Đức Chúa Trời là ai? Chẳng phải một sự theo đuổi như vậy là mơ hồ và trừu tượng sao? Chẳng phải điều đó là lừa gạt sao? Làm sao người ta có thể trở thành thân tín của Đức Chúa Trời được? Ý nghĩa thiết thực của việc được nên một người thân tín của Đức Chúa Trời là gì? Ngươi có thể là một người thân tín của Thần của Đức Chúa Trời không? Ngươi có thể thấy Thần vĩ đại và cao quý ra sao không? Trở thành người thân tín của một Đức Chúa Trời không thể nhìn thấy, không thể chạm vào – chẳng phải điều đó thật mơ hồ và trừu tượng sao? Ý nghĩa thiết thực của một sự theo đuổi như vậy là gì? Chẳng phải tất cả đều là một lời dối trá lừa gạt sao? Điều ngươi theo đuổi là trở thành người thân tín của Đức Chúa Trời, nhưng trên thực tế thì ngươi lại là con chó cảnh của Sa-tan, vì ngươi không biết Đức Chúa Trời, và theo đuổi “Đức Chúa Trời của muôn vật” không hề tồn tại, là điều không thể nhìn thấy, không thể chạm vào, và là sản phẩm của các ý niệm của riêng ngươi. Nói mang máng thì một “Đức Chúa Trời” như vậy chính là Sa-tan, và nói một cách thực tế, đó là chính bản thân ngươi. Ngươi cố gắng để trở thành thân tín của riêng mình, nhưng vẫn nói rằng ngươi theo đuổi để trở thành thân tín của Đức Chúa Trời – điều đó chẳng phải là báng bổ sao? Giá trị của một sự theo đuổi như thế là gì? Nếu Thần của Đức Chúa Trời không trở nên xác thịt, thì thực chất của Đức Chúa Trời chỉ đơn thuần là một Thần của sự sống không thể nhìn thấy, không thể chạm vào, không hình không dạng, thuộc loại phi vật chất, không thể tiếp cận và không thể hiểu được đối với con người. Làm sao con người có thể là thân tín của một Thần vô hình vô thể, lạ lùng, không thể dò lường như vậy? Đây chẳng phải là một trò đùa sao? Lý luận vô lý như vậy là bất hợp lệ và phi thực tế. Con người thọ tạo vốn đã khác loại với Thần của Đức Chúa Trời, vậy thì làm sao hai người họ có thể trở thành thân tín với nhau được? Nếu Thần của Đức Chúa Trời không được nhận ra trong xác thịt, nếu Đức Chúa Trời không trở nên xác thịt và hạ mình xuống bằng cách trở thành một loài thọ tạo, thì con người được tạo dựng nên sẽ vừa không đủ tư cách vừa không có khả năng trở thành thân tín của Ngài, và ngoại trừ những tín đồ tin kính, là những người có thể có cơ hội trở thành thân tín của Đức Chúa Trời sau khi linh hồn của họ đã bước vào thiên đàng, thì hầu hết mọi người sẽ không thể trở thành thân tín của Thần của Đức Chúa Trời. Và nếu con người ao ước trở thành thân tín của Đức Chúa Trời trên trời dưới sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời nhập thể, thì họ chẳng phải là kẻ không phải con người dại dột một cách đáng kinh ngạc hay sao? Con người chỉ đơn thuần theo đuổi “sự thành tín” đối với một Đức Chúa Trời vô hình, mà không hề chú ý gì đến Đức Chúa Trời có thể nhìn thấy được, vì thật dễ dàng để theo đuổi một Đức Chúa Trời vô hình. Con người có thể làm như vậy theo bất kỳ cách nào mà họ thích, nhưng sự theo đuổi Đức Chúa Trời hữu hình lại không dễ dàng như vậy. Người mà tìm kiếm một Đức Chúa Trời mơ hồ thì hoàn toàn không thể có được Đức Chúa Trời, vì những điều mơ hồ và trừu tượng đều là do con người tưởng tượng ra, và con người không có khả năng đạt được. Nếu Đức Chúa Trời đến giữa các ngươi là một Đức Chúa Trời cao cả và cao quý, là Đấng mà các ngươi không thể tiếp cận, thì làm sao các ngươi có thể nắm bắt được ý muốn của Ngài? Và làm sao các ngươi có thể biết và hiểu được Ngài? Nếu Ngài chỉ làm công tác của Ngài, và không có sự tiếp xúc bình thường với con người, hoặc không sở hữu nhân tính bình thường và người phàm không thể tiếp cận được, thì ngay cả khi Ngài làm nhiều việc cho các ngươi nhưng các ngươi không có sự tiếp xúc với Ngài, và không thể nhìn thấy Ngài, làm sao các ngươi có thể biết Ngài được? Nếu không phải vì xác thịt sở hữu nhân tính bình thường này, thì con người sẽ không có cách nào biết đến Đức Chúa Trời; chỉ nhờ sự nhập thể của Đức Chúa Trời mà con người mới có đủ tư cách để trở thành thân tín của Đức Chúa Trời trong xác thịt. Con người trở thành những người thân tín của Đức Chúa Trời bởi vì con người có tiếp xúc với Ngài, bởi vì họ sống cùng với Ngài, bầu bạn với Ngài, và vì thế dần dần biết đến Ngài. Nếu không phải như vậy, thì sự theo đuổi của con người chẳng phải sẽ là vô ích sao? Điều đó có nghĩa là, không phải tất cả đều là nhờ công tác của Đức Chúa Trời mà con người có thể trở thành thân tín của Đức Chúa Trời, nhưng là nhờ tính hiện thực và tính bình thường của Đức Chúa Trời nhập thể. Chỉ vì Đức Chúa Trời trở nên xác thịt mà con người mới có cơ hội thực hiện bổn phận của mình, và có cơ hội để thờ phượng Đức Chúa Trời thật. Đây chẳng phải là lẽ thật thiết thực và thật nhất hay sao? Bây giờ ngươi vẫn ao ước được làm người thân tín của Đức Chúa Trời trên trời chứ? Chỉ khi Đức Chúa Trời hạ mình xuống một mức độ nhất định, nghĩa là, chỉ khi Đức Chúa Trời trở nên xác thịt, thì con người mới có thể làm người thân tín và bạn tâm tình của Ngài. Đức Chúa Trời là Thần: Làm sao con người đủ tư cách để trở thành thân tín của Thần này, là Đấng rất cao quý và không thể dò lường? Chỉ khi Thần của Đức Chúa Trời giáng ngự vào trong xác thịt, và trở thành một sinh vật có bề ngoài giống như con người, thì con người mới có thể hiểu được ý muốn của Ngài và thực sự được Ngài thu nhận. Ngài phán dạy và làm việc trong xác thịt, chia sẻ những niềm vui, nỗi buồn và những hoạn nạn của con người, sống trong cùng một thế giới với con người, bảo vệ con người, hướng dẫn họ, và thông qua điều này Ngài làm thanh sạch con người, cho phép con người có được sự cứu rỗi và phước lành của Ngài. Khi đã đạt được những điều này, con người mới thực sự hiểu ý muốn của Đức Chúa Trời, và chỉ khi đó họ mới có thể trở thành người thân tín của Đức Chúa Trời. Chỉ điều này mới là thiết thực. Nếu Đức Chúa Trời là Đấng mà con người không thể nhìn thấy và không thể chạm vào, thì làm sao họ có thể trở thành thân tín của Ngài? Đây chẳng phải là giáo lý trống rỗng sao?

Trích từ “Chỉ những ai biết Đức Chúa Trời và công tác của Ngài mới có thể làm hài lòng Đức Chúa Trời” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày Trích đoạn 137

Khi Đức Chúa Trời đến trần thế, Ngài chỉ làm công tác của Ngài trong thần tính, là những gì mà Thần trên trời đã phó thác cho Đức Chúa Trời nhập thể. Khi Ngài đến, Ngài chỉ phán dạy khắp các vùng đất, để bày tỏ lời Ngài bằng những phương cách khác nhau và từ những góc độ khác nhau. Ngài chủ yếu lấy việc chu cấp và dạy bảo con người làm mục tiêu và nguyên tắc làm việc của Ngài, và không bận lòng về những thứ như các mối quan hệ nhân sinh hay những chi tiết trong đời sống của mọi người. Chức vụ chính của Ngài là phán thay cho Thần. Nghĩa là, khi Thần của Đức Chúa Trời xuất hiện hữu hình trong xác thịt, Ngài chỉ chu cấp cho sự sống của con người và ban phát lẽ thật. Ngài không can dự vào công việc của con người, tức là Ngài không tham gia vào công việc của nhân tính. Con người không thể làm công tác thần thánh, và Đức Chúa Trời không tham gia vào công việc của con người. Trong suốt những năm tháng kể từ khi Đức Chúa Trời đến thế gian này để thực hiện công tác của Ngài, Ngài đã luôn thực hiện nó thông qua những con người. Nhưng những con người này không thể được xem là Đức Chúa Trời nhập thể – mà chỉ là những người được Đức Chúa Trời sử dụng. Trong khi đó, Đức Chúa Trời của ngày nay có thể phán dạy trực tiếp từ góc độ của thần tính, phán tiếng của Thần và làm việc nhân danh Thần. Tương tự, tất cả những ai từng được Đức Chúa Trời sử dụng qua các thời đại cũng đều là những trường hợp Thần của Đức Chúa Trời làm việc trong thân thể xác thịt – vậy thì tại sao họ không thể được gọi là Đức Chúa Trời? Nhưng Đức Chúa Trời của ngày nay cũng là Thần của Đức Chúa Trời đang làm việc trực tiếp trong thể xác, và Jêsus cũng là Thần của Đức Chúa Trời làm việc trong xác thịt; cả hai đều được gọi là Đức Chúa Trời. Vậy sự khác biệt là gì? Những người được Đức Chúa Trời sử dụng qua các thời đại đều có khả năng tư duy và lý trí bình thường. Họ đều hiểu những nguyên tắc đối nhân xử thế của con người. Họ đã có những tư tưởng bình thường của con người, và sở hữu tất cả những thứ mà người bình thường nên sở hữu. Hầu hết họ đều có tài năng kiệt suất và trí thông minh bẩm sinh. Khi làm việc trên những người này, Thần của Đức Chúa Trời khai thác những tài năng của họ, chính là những ân tứ đã được Đức Chúa Trời ban cho. Thần của Đức Chúa Trời phát huy tài năng của họ, sử dụng những điểm mạnh của họ vào việc phục vụ Đức Chúa Trời. Thế nhưng, thực chất của Đức Chúa Trời thì không có những ý niệm hay suy nghĩ, không bị pha trộn với những ý định của con người, và thậm chí còn thiếu những gì mà con người bình thường sở hữu. Tức là, Ngài thậm chí còn không rành những nguyên tắc đối nhân xử thế của con người. Đức Chúa Trời của ngày nay đến trần thế như vậy đó. Công tác của Ngài và những lời của Ngài không bị trộn lẫn với những ý định hay suy nghĩ của con người, mà là sự biểu lộ trực tiếp những ý định của Thần, và Ngài làm việc trực tiếp thay mặt Đức Chúa Trời. Điều này có nghĩa là Thần trực tiếp phán dạy, tức là thần tính trực tiếp thực hiện công tác, mà không lẫn dù chỉ một chút những ý định của con người. Nói cách khác, Đức Chúa Trời nhập thể là hiện thân trực tiếp của thần tính, không mang suy nghĩ hay những ý niệm của con người, và không hiểu gì về những nguyên tắc đối nhân xử thế của con người. Nếu chỉ có thần tính làm việc (tức là nếu chỉ có bản thân Đức Chúa Trời làm việc), thì sẽ chẳng có cách nào để công tác của Đức Chúa Trời được triển khai trên đất. Bởi vậy, khi Đức Chúa Trời đến trần thế, Ngài phải có một số ít người Ngài sử dụng để làm việc trong nhân tính, kết hợp với công tác Đức Chúa Trời làm trong thần tính. Nói cách khác, Ngài dùng công việc của con người để duy trì công tác thần thánh của Ngài. Nếu không, sẽ chẳng có cách nào để con người tiếp xúc trực tiếp được với công tác thánh thần. Điều này cũng tương tự như Jêsus với các môn đồ của Ngài. Trong thời gian Ngài tại thế, Jêsus đã bãi bỏ các luật lệ cũ và thiết lập những nhiều răn mới. Ngài cũng phán dạy nhiều lời. Tất cả những việc này đều được làm trong thần tính. Những người khác như Phi-e-rơ, Phao-lô, và Giăng, tất cả đều đặt những công tác sau đó của họ trên nền tảng những lời của Jêsus. Tức là, Đức Chúa Trời đã khởi động công tác của Ngài trong thời đại đó, mở ra Thời đại Ân điển; tức là Ngài đã mở ra một kỷ nguyên mới, bãi bỏ cái cũ, và cũng làm ứng nghiệm câu “Đức Chúa Trời là Đầu tiên và Cuối cùng”. Nói cách khác, con người phải thực hiện công tác của con người trên nền tảng của công tác thần thánh. Một khi Jêsus đã phán hết những gì Ngài cần phán và hoàn tất công tác của Ngài trên đất, thì Ngài rời khỏi con người. Sau đó, tất cả mọi người, khi làm việc, đã làm theo những nguyên tắc được bày tỏ trong lời Ngài, và thực hành theo những lẽ thật Ngài phán dạy. Tất cả những người này đều làm việc cho Jêsus. Nếu chỉ có một mình Jêsus làm công tác, thì cho dù Ngài có phán dạy bao nhiêu lời đi nữa, mọi người vẫn sẽ không có cách nào tiếp xúc được với lời Ngài, bởi Ngài đang làm việc trong thần tính và chỉ có thể nói những lời của thần tính, và Ngài không thể giải thích mọi thứ đến độ những con người bình thường có thể hiểu được lời Ngài. Vì thế, Ngài phải có những sứ đồ và những tiên tri đến sau Ngài để bổ trợ cho công tác của Ngài. Đây là nguyên tắc Đức Chúa Trời nhập thể thực hiện công tác của Ngài – sử dụng xác thịt nhập thể để phán dạy và làm việc nhằm hoàn tất công tác của thần tính, và sau đó sử dụng một vài người, hoặc có thể nhiều hơn, những người hợp lòng với chính Đức Chúa Trời, để bổ trợ cho công tác của Ngài. Có nghĩa là, Đức Chúa Trời sử dụng những người hợp lòng Ngài để làm công tác chăn dắt và chăm tưới trong nhân tính hầu cho dân sự được Đức Chúa Trời chọn có thể bước vào hiện thực của lẽ thật.

Nếu khi Đức Chúa Trời nhập vào xác thịt, Ngài chỉ làm công tác của thần tính, và không có những người hợp lòng Ngài để làm việc phối hợp với Ngài, thì con người sẽ không thể hiểu được ý muốn của Đức Chúa Trời hay tiếp xúc được với Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời phải sử dụng những con người bình thường hợp lòng Ngài để hoàn tất công tác này, để trông nom và chăn dắt các hội thánh, hầu cho có thể đạt được mức độ mà quá trình nhận thức của con người, trí não của họ, có khả năng hình dung ra. Nói cách khác, Đức Chúa Trời sử dụng một số ít người hợp lòng Ngài để “dịch” công tác Ngài làm trong thần tính của Ngài, hầu cho nó có thể được mở ra – để chuyển thể ngôn ngữ thánh thần sang ngôn ngữ của con người, khiến cho mọi người có thể lĩnh hội và hiểu được. Nếu Đức Chúa Trời không làm vậy, sẽ chẳng ai hiểu ngôn ngữ thánh thần của Đức Chúa Trời, bởi những người hợp lòng Đức Chúa Trời, xét cho cùng, chỉ là thiểu số, và khả năng lĩnh hội của con người thì kém. Đó là lý do tại sao Đức Chúa Trời chọn phương pháp này chỉ khi làm việc trong xác thịt nhập thể. Nếu chỉ có công tác thánh thần, sẽ chẳng có cách nào để con người biết đến hay tiếp xúc được với Đức Chúa Trời, bởi con người không hiểu ngôn ngữ của Đức Chúa Trời. Con người chỉ có thể hiểu được ngôn ngữ này thông qua những người hợp lòng Đức Chúa Trời, những người làm sáng tỏ lời Ngài. Tuy nhiên, nếu chỉ có những người như vậy làm việc trong nhân tính, thì việc đó chỉ có thể duy trì cuộc sống bình thường của con người, chứ không thể chuyển hóa tâm tính của con người. Công tác của Đức Chúa Trời hẳn sẽ không thể có một khởi điểm mới nào; sẽ chỉ có những bài ca cũ, những lời vô vị cũ rích. Chỉ bằng cách thông qua Đức Chúa Trời nhập thể, Đấng phán những gì cần phán và làm những gì cần làm trong thời gian nhập thể của Ngài, mà sau đó mọi người mới làm việc và cảm nghiệm theo lời Ngài, chỉ bằng cách ấy thì tâm tính sự sống của họ mới có thể thay đổi, và chỉ bằng cách ấy họ mới có thể đi theo thời đại. Đấng làm việc trong thần tính thì đại diện cho Đức Chúa Trời, trong khi những ai làm việc trong nhân tính là những người được sử dụng bởi Đức Chúa Trời. Có nghĩa là, Đức Chúa Trời nhập thể thực chất khác với những người được Đức Chúa Trời sử dụng. Đức Chúa Trời nhập thể có khả năng làm công tác của thần tính, trong khi những người được Đức Chúa Trời sử dụng thì không thể. Vào đầu mỗi thời đại, Thần của Đức Chúa Trời đích thân phán dạy và mở ra kỷ nguyên mới để đưa con người vào một sự khởi đầu mới. Khi Ngài đã phán dạy xong, cũng là lúc đánh dấu công tác của Đức Chúa Trời trong thần tính của Ngài được hoàn tất. Sau đó, tất cả mọi người đều theo sự dẫn dắt của những người được Đức Chúa Trời sử dụng mà bước vào sự cảm nghiệm cuộc sống. Tương tự như vậy, đây cũng là giai đoạn Đức Chúa Trời đưa con người vào thời đại mới và cho mọi người một xuất phát điểm mới – khi công tác trong xác thịt của Đức Chúa Trời kết thúc.

Trích từ “Sự khác biệt cơ bản giữa Đức Chúa Trời nhập thể và người được Đức Chúa Trời sử dụng” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày Trích đoạn 138

Đức Chúa Trời không đến trần thế để hoàn thiện nhân tính bình thường của Ngài, cũng không phải để thực hiện công tác của nhân tính bình thường. Ngài đến chỉ để làm công tác của thần tính trong nhân tính bình thường. Những gì Đức Chúa Trời phán về nhân tính bình thường không như mọi người tưởng tượng. Con người định nghĩa “nhân tính bình thường” là có vợ, hoặc có chồng, và có con trai con gái, như một bằng chứng cho thấy một người là người bình thường; nhưng Đức Chúa Trời không thấy như vậy. Ngài nhìn nhận nhân tính bình thường là có những suy nghĩ của con người bình thường, có đời sống của con người bình thường, và được sinh ra bởi những con người bình thường. Nhưng sự bình thường của Ngài không bao gồm việc có vợ, hay có chồng, và có con cái, theo cách mà con người nói về sự bình thường. Có nghĩa là, đối với con người, nhân tính bình thường mà Đức Chúa Trời nói đến là những gì con người sẽ xem như không có nhân tính, hầu như không có cảm xúc và dường như không có những nhu cầu xác thịt, cũng như Jêsus, Đấng chỉ có vẻ ngoài của một người bình thường và mang ngoại diện của một người bình thường, nhưng về bản chất thì không hoàn toàn sở hữu mọi thứ mà một con người bình thường nên có. Từ đây có thể thấy rằng thực chất của Đức Chúa Trời nhập thể không chứa đựng toàn bộ nhân tính bình thường, mà chỉ có một phần những gì con người nên có, nhằm hỗ trợ những hoạt động hằng ngày của đời sống con người bình thường và duy trì năng lực lý trí của con người bình thường. Nhưng những điều này không liên quan gì đến những thứ mà con người xem là nhân tính bình thường. Chúng là những gì Đức Chúa Trời nhập thể nên có. Tuy nhiên, có những người cứ khăng khăng rằng Đức Chúa Trời nhập thể chỉ có thể được cho là sở hữu nhân tính bình thường khi Ngài có vợ, có con trai con gái, có một gia đình; họ cho rằng không có những thứ này thì Ngài không phải là một người bình thường. Vậy thì ta hỏi ngươi: “Đức Chúa Trời có vợ không? Có thể nào Đức Chúa Trời có chồng không? Đức Chúa Trời có thể có con cái không?” Những điều này chẳng phải là ngụy biện sao? Tuy thế, Đức Chúa Trời nhập thể chẳng thể nhảy ra từ khe nứt vách đá hay từ trên trời rơi xuống. Ngài chỉ có thể được sinh ra trong một gia đình con người bình thường. Đó là lí do vì sao Ngài có bố mẹ và các chị em. Đây là những điều mà nhân tính bình thường của Đức Chúa Trời nhập thể nên có. Đó là trường hợp của Jêsus; Jêsus có bố mẹ, có anh chị em, và tất cả những điều này đều bình thường. Nhưng nếu Ngài có vợ và có con trai con gái, thì nhân tính Ngài sẽ không thể là nhân tính bình thường mà Đức Chúa Trời dự định cho Đức Chúa Trời nhập thể sở hữu. Nếu như vậy, thì Ngài sẽ không thể nào làm việc nhân danh thần tính. Chính vì Ngài không có vợ con, và lại được sinh ra bởi người bình thường trong một gia đình bình thường, cho nên Ngài mới có thể thực hiện công tác của thần tính. Để làm rõ hơn điểm này, những gì Đức Chúa Trời xem là một người bình thường chính là một người được sinh ra trong một gia đình bình thường. Chỉ có một người như vậy mới có đủ điều kiện làm công tác thánh thần. Mặt khác, nếu một người có vợ con, hoặc có chồng, thì người đó sẽ không thể nào làm được công tác thánh thần, bởi vì họ chỉ sở hữu nhân tính bình thường mà con người đòi hỏi, chứ không phải nhân tính bình thường mà Đức Chúa Trời đòi hỏi. Những gì Đức Chúa Trời nhìn nhận, và những gì con người hiểu, thường khác nhau một trời một vực. Trong giai đoạn công tác này của Đức Chúa Trời, có nhiều điều đi ngược lại và khác xa những ý niệm của mọi người. Có thể nói rằng giai đoạn công tác này của Đức Chúa Trời bao gồm toàn bộ thần tính làm việc thực địa, cùng với nhân tính đóng vai trò hỗ trợ. Bởi vì Đức Chúa Trời đến trần thế để tự Ngài thực hiện công tác của mình, hơn là để con người nhúng tay vào, nên Ngài nhập thể vào xác thịt (vào một con người bình thường, bất toàn) để thực hiện công tác của Ngài. Ngài sử dụng sự nhập thể này để mang đến cho nhân loại một thời đại mới, để nói với nhân loại về bước tiếp theo trong công tác của Ngài, và để yêu cầu mọi người thực hành theo con đường đã được vạch ra trong lời Ngài. Nhờ vậy mà công tác của Đức Chúa Trời trong xác thịt được kết thúc; Ngài sắp sửa rời khỏi nhân loại, không còn ở trong xác thịt của nhân tính bình thường, mà rời xa con người để tiến hành phần việc khác trong công tác của Ngài. Sau đó, bằng cách sử dụng những người hợp lòng Ngài, Ngài tiếp tục công tác của Ngài trên đất giữa nhóm người này, nhưng trong nhân tính của họ.

Trích từ “Sự khác biệt cơ bản giữa Đức Chúa Trời nhập thể và người được Đức Chúa Trời sử dụng” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày Trích đoạn 139

Đức Chúa Trời nhập thể không thể ở cùng con người mãi được bởi vì Đức Chúa Trời còn rất nhiều công việc khác phải làm. Ngài không thể bị trói buộc trong xác thịt; Ngài phải thoát khỏi xác thịt để làm những công việc Ngài phải làm, mặc dù Ngài làm việc đó trong ảnh tượng của xác thịt. Khi Đức Chúa Trời đến trần thế, Ngài không đợi cho đến khi Ngài đạt tới hình thái mà một con người bình thường nên đạt được trước khi chết và rời khỏi nhân loại. Bất kể xác thịt của Ngài bao nhiêu tuổi, khi công tác của Ngài được hoàn tất, Ngài ra đi và rời khỏi con người. Không có gì gọi là tuổi tác đối với Ngài, Ngài không tính tuổi đời của Ngài theo tuổi thọ của con người; thay vào đó, Ngài kết thúc cuộc sống của Ngài trong xác thịt theo các bước trong công tác của Ngài. Có thể có những người cho rằng Đức Chúa Trời, khi nhập vào xác thịt, phải già đi ở một mức độ nhất định, phải lớn lên thành một người trưởng thành, đến tuổi già, và chỉ rời đi khi thể xác không còn sử dụng được nữa. Đây chỉ là trí tưởng tượng của con người; Đức Chúa Trời không hoạt động như vậy. Ngài nhập vào xác thịt chỉ để thực hiện công tác Ngài phải làm, chứ không phải để sống một cuộc đời của con người bình thường như là được bố mẹ sinh ra, lớn lên, lập gia đình và bắt đầu sự nghiệp, có con và nuôi con, hoặc trải qua những thăng trầm trong cuộc sống – tất cả những hoạt động của một con người bình thường. Khi Đức Chúa Trời đến trần thế, đây là Thần của Đức Chúa Trời mặc lấy xác thịt, nhập vào xác thịt, nhưng Đức Chúa Trời không sống cuộc sống của một con người bình thường. Ngài chỉ đến để hoàn tất một phần trong kế hoạch quản lý của Ngài. Sau đó Ngài sẽ rời khỏi nhân loại. Khi Đức Chúa Trời nhập vào xác thịt, Thần của Ngài không hoàn thiện nhân tính bình thường của xác thịt. Thay vào đó, vào một thời điểm mà Đức Chúa Trời đã định trước, thần tính sẽ làm việc trực tiếp. Rồi sau khi làm tất cả mọi việc Ngài cần làm và hoàn thành đầy đủ chức vụ của Ngài, công tác của Thần Đức Chúa Trời ở giai đoạn này được hoàn tất, cũng là thời điểm mà sự sống của Đức Chúa Trời nhập thể kết thúc, bất kể thân thể xác thịt của Ngài đã sống hết tuổi thọ của nó hay chưa. Điều đó có nghĩa là, cho dù thân thể xác thịt đang ở giai đoạn nào của sự sống, cho dù nó đã sống bao lâu trên đất, thì mọi thứ đều được quyết định bởi công tác của Thần. Điều đó không liên quan đến những gì con người xem là nhân tính bình thường. Lấy Jêsus làm ví dụ. Ngài đã sống trong xác thịt trong ba mươi ba năm rưỡi. Xét về tuổi thọ của thân xác con người, Ngài đáng lẽ đã không mất ở tuổi đó, và Ngài đáng lẽ đã không rời đi. Nhưng đây không phải việc Thần của Đức Chúa Trời bận tâm. Công tác của Ngài được hoàn tất, tại thời điểm đó thân xác đã được mang đi, biến mất cùng Thần. Đây là nguyên tắc Đức Chúa Trời làm việc trong xác thịt. Vì vậy, nói đúng ra, nhân tính của Đức Chúa Trời nhập thể không phải là điều quan trọng hàng đầu. Nhắc lại, Ngài đến trần thế không phải để sống cuộc sống của một con người bình thường. Ngài không tạo lập một cuộc sống con người bình thường trước rồi mới bắt đầu làm việc. Thay vào đó, miễn là Ngài được sinh ra trong một gia đình con người bình thường, thì Ngài có thể thực hiện công tác thánh thần, công tác không bị ô tạp bởi những ý định của con người, không thuộc về xác thịt, chắc chắn không theo những lề thói của xã hội hay liên quan đến những suy nghĩ hoặc ý niệm của con người, và hơn nữa, không liên quan đến những triết lý sống của con người. Đây là công tác mà Đức Chúa Trời nhập thể dự định làm, và cũng là ý nghĩa thực tế của việc Ngài nhập thể. Đức Chúa Trời nhập vào xác thịt chủ yếu để thực hiện một giai đoạn công tác cần phải làm trong xác thịt, mà không trải qua những quy trình vặt vãnh khác, và về những trải nghiệm của một con người bình thường thì Ngài không có. Công tác mà xác thịt nhập thể của Đức Chúa Trời cần phải làm không bao gồm những trải nghiệm của con người bình thường. Vì vậy, Đức Chúa Trời đến trong xác thịt chỉ để hoàn tất công tác Ngài cần phải hoàn tất trong xác thịt. Những thứ còn lại chẳng liên quan gì đến Ngài. Ngài không trải qua quá nhiều quy trình vặt vãnh. Một khi công tác của Ngài được hoàn tất, thì ý nghĩa sự nhập thể của Ngài cũng kết thúc. Hoàn tất giai đoạn này tức là công tác Ngài cần thực hiện trong xác thịt đã khép lại, và chức vụ của xác thịt Ngài đã hoàn thành. Nhưng Ngài không thể cứ làm việc trong xác thịt vô thời hạn. Ngài phải tiếp tục đến một nơi khác để làm việc, một nơi ngoài xác thịt. Chỉ như vậy thì công tác của Ngài mới có thể được thực hiện đầy đủ và tiến tới hiệu quả hơn. Đức Chúa Trời làm việc theo kế hoạch ban đầu của Ngài. Những việc gì Ngài cần làm và những gì Ngài đã hoàn tất, Ngài nắm rõ như lòng bàn tay. Đức Chúa Trời dẫn dắt mọi cá nhân bước trên con đường mà Ngài đã định trước. Không ai có thể tránh khỏi điều này. Chỉ những ai làm theo sự chỉ dạy của Thần Đức Chúa Trời mới có thể bước vào sự nghỉ ngơi. Có thể là trong công tác sau này, sẽ không phải là Đức Chúa Trời phán trong xác thịt để dẫn dắt con người, mà là một Thần hữu hình sẽ hướng dẫn đời sống của con người. Chỉ khi ấy con người mới có thể thực sự chạm vào Đức Chúa Trời, nhìn thấy Đức Chúa Trời, và bước vào hiện thực mà Đức Chúa Trời đòi hỏi một cách hiệu quả hơn, để trở nên được hoàn thiện bởi Đức Chúa Trời thực tế. Đây là công tác mà Đức Chúa Trời dự định hoàn tất, và là điều mà Ngài đã lên kế hoạch từ lâu. Từ đây, hết thảy các ngươi đều phải thấy con đường mình nên đi!

Trích từ “Sự khác biệt cơ bản giữa Đức Chúa Trời nhập thể và người được Đức Chúa Trời sử dụng” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

Lời Đức Chúa Trời hằng ngày Trích đoạn 140

Đức Chúa Trời trở nên xác thịt được gọi là Đấng Christ, và vì vậy, Đấng Christ mà có thể ban cho con người lẽ thật được gọi là Đức Chúa Trời. Điều này chẳng có gì thái quá, bởi Ngài sở hữu thực chất của Đức Chúa Trời, sở hữu tâm tính của Đức Chúa Trời, và sự khôn ngoan trong công tác của Ngài, điều mà con người không thể đạt được. Những kẻ tự xưng là Đấng Christ, mà không thể thực hiện được công tác của Đức Chúa Trời đều là những kẻ giả mạo. Đấng Christ không chỉ là hiện thân của Đức Chúa Trời ở trần thế, mà còn là xác thịt cụ thể Đức Chúa Trời mang khi Ngài thực hiện và hoàn tất công tác của Ngài giữa con người. Xác thịt này không thể thay thế được bởi bất kỳ con người nào, mà là một xác thịt có khả năng gánh vác trọn công tác của Đức Chúa Trời trên đất, thể hiện được tâm tính của Đức Chúa Trời, và đại diện được cho Đức Chúa Trời, cũng như cung cấp được sự sống cho con người. Sớm muộn gì những kẻ mạo nhận Đấng Christ hết thảy cũng sẽ gục ngã, bởi cho dù họ có tự xưng là Đấng Christ, nhưng họ không sở hữu chút gì thực chất của Đấng Christ. Và bởi thế mà Ta nói rằng tính xác thực của Đấng Christ không thể được định nghĩa bởi con người, mà chỉ có thể được trả lời và quyết định bởi bản thân Đức Chúa Trời. Bằng cách này, nếu ngươi thực sự mong muốn tìm kiếm con đường sự sống, ngươi trước hết phải thừa nhận rằng Đức Chúa Trời, bằng cách giáng thế, ban cho con người con đường sự sống, và ngươi phải thừa nhận rằng chính trong thời kỳ sau rốt mà Ngài giáng thế để ban con đường sự sống cho con người. Đây không phải là quá khứ; mà là điều đang diễn ra ngày hôm nay.

Đấng Christ của thời kỳ sau rốt mang đến sự sống, và mang đến con đường lẽ thật bền vững và vĩnh cửu. Lẽ thật này là con đường mà thông qua đó con người đạt được sự sống, và đây là con đường duy nhất mà qua đó con người mới biết đến Đức Chúa Trời và được Đức Chúa Trời chấp thuận. Nếu ngươi không kiếm tìm con đường sự sống được Đấng Christ của thời kỳ sau rốt cung cấp, thì ngươi sẽ không bao giờ có được sự chấp thuận của Jêsus, và sẽ không bao giờ đủ tư cách để bước vào cánh cổng của vương quốc thiên đàng, bởi ngươi vừa là con rối, vừa là tù nhân của lịch sử. Những ai bị chi phối bởi phép tắc, bởi câu chữ, và bị trói buộc bởi lịch sử sẽ không bao giờ có thể có được sự sống, cũng như không thể đạt được con đường sự sống đời đời. Đó là bởi vì tất cả những gì họ có được chỉ là nước đục mà họ đã bám vào hàng ngàn năm nay, thay vì nước sự sống tuôn chảy từ ngôi. Những ai không được cung cấp nước sự sống thì sẽ vẫn mãi là những xác chết, là những món đồ chơi của Sa-tan, và là con cái của địa ngục. Vậy thì làm sao họ có thể nhìn thấy Đức Chúa Trời? Nếu ngươi chỉ cố bám víu vào quá khứ, chỉ cố giữ mọi thứ nguyên trạng bằng cách đứng yên, và không thử thay đổi hiện trạng cũng như buông bỏ lịch sử, thì chẳng phải ngươi sẽ luôn luôn chống lại Đức Chúa Trời sao? Các bước trong công tác của Đức Chúa Trời lớn lao và vĩ đại, như sóng trào và sấm dội – mà ngươi thì ngồi thụ động chờ đợi sự hủy diệt, bám lấy sự dại dột của mình và chẳng làm gì cả. Bằng cách này, làm sao ngươi có thể được xem là một người đang theo bước chân của Chiên Con? Làm sao ngươi có thể biện hộ rằng Đức Chúa Trời mà ngươi đang bám víu vào là một Đức Chúa Trời luôn mới mẻ và không bao giờ cũ? Và làm sao những câu chữ trong những trang sách ố vàng của ngươi có thể đưa ngươi sang một thời đại mới? Làm sao chúng có thể dẫn dắt ngươi tìm kiếm các bước trong công tác của Đức Chúa Trời? Và làm sao chúng có thể dẫn ngươi lên được thiên đàng? Thứ ngươi đang giữ trong tay là những câu chữ có thể đem lại chút khuây khỏa tạm bợ, chứ không phải là lẽ thật có thể ban sự sống. Thánh kinh mà ngươi đọc chỉ có thể làm phong phú cho miệng lưỡi của ngươi và không phải là những lời khôn ngoan có thể giúp ngươi biết được sự sống của con người, càng không phải là những con đường có thể dẫn dắt ngươi đến sự hoàn thiện. Sự khác biệt này không cho ngươi lý do để suy ngẫm sao? Nó không khiến ngươi nhận ra được những mầu nhiệm ẩn chứa trong đó sao? Ngươi có khả năng tự mình lên thiên đàng để gặp Đức Chúa Trời không? Không có sự hiện đến của Đức Chúa Trời, ngươi có thể tự mình vào thiên đàng để tận hưởng niềm vui gia đình với Đức Chúa Trời không? Giờ ngươi vẫn đang mơ hay sao? Vậy thì ta đề nghị ngươi hãy thôi mơ mộng, và hãy nhìn xem ai đang làm việc lúc này – nhìn để thấy ai đang thực hiện công tác cứu rỗi con người trong thời kỳ sau rốt. Nếu không làm thế, ngươi sẽ không bao giờ có được lẽ thật, và sẽ không bao giờ có được sự sống.

Những ai mong muốn có được sự sống mà không dựa vào lẽ thật do Đấng Christ phán dạy là những kẻ nực cười nhất thế gian, và những ai không chấp nhận con đường sự sống do Đấng Christ mang lại đều bị lạc trong mộng tưởng. Và vì vậy, Ta nói rằng những kẻ không chấp nhận Đấng Christ của thời kỳ sau rốt sẽ mãi bị Đức Chúa Trời khinh miệt. Đấng Christ là cổng vào vương quốc của con người trong thời kỳ sau rốt, và không có ai có thể đi vòng sau Ngài. Không ai có thể được Đức Chúa Trời hoàn thiện mà không thông qua Đấng Christ. Ngươi tin vào Đức Chúa Trời, vậy thì ngươi phải chấp nhận những lời của Ngài và vâng phục con đường của Ngài. Ngươi không thể chỉ nghĩ tới việc nhận lãnh ân phước trong khi không có khả năng nhận lãnh lẽ thật, và không có khả năng chấp nhận sự cung cấp sự sống. Đấng Christ đến trong thời kỳ sau rốt để cho tất cả những ai thực sự tin ở Ngài có thể được cung cấp sự sống. Công tác của Ngài là để khép lại thời đại cũ và bước vào thời đại mới, và công tác của Ngài là con đường mà tất cả những ai sẽ bước vào thời đại mới phải đi qua. Nếu ngươi không thể thừa nhận Ngài, mà thay vào đó chỉ trích, báng bổ, hay thậm chí hành hạ Ngài, thì ngươi chắc chắn sẽ bị thiêu đốt đời đời, và sẽ không bao giờ bước vào được vương quốc của Đức Chúa Trời. Bởi Đấng Christ này, chính Ngài là sự tỏ hiện của Đức Thánh Linh, sự tỏ hiện của Đức Chúa Trời, là Đấng mà Đức Chúa Trời đã giao phó để làm công tác của Ngài trên trần thế. Và vì vậy, Ta nói rằng nếu ngươi không chấp nhận tất cả những gì được thực hiện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt, thì ngươi đang báng bổ Đức Thánh Linh. Quả báo mà những kẻ báng bổ Đức Thánh Linh phải chịu là điều hiển nhiên với tất cả mọi người. Ta cũng nói cho ngươi biết rằng nếu ngươi chống lại Đấng Christ của thời kỳ sau rốt, nếu ngươi bác bỏ Đấng Christ của thời kỳ sau rốt, thì sẽ không có ai khác chịu hậu quả thay ngươi cả. Hơn nữa, từ hôm nay trở đi, ngươi sẽ không còn cơ hội nào khác để có được sự chấp thuận của Đức Chúa Trời; ngay cả khi ngươi cố chuộc lỗi, thì ngươi cũng sẽ không bao giờ thấy được dung nhan Đức Chúa Trời lần nữa. Bởi điều ngươi chống lại chẳng phải một con người, điều ngươi bác bỏ chẳng phải một sinh linh yếu đuối, mà là Đấng Christ. Ngươi có biết hậu quả của việc này sẽ là gì không? Ngươi sẽ không phải là gây ra một lỗi nhỏ, mà phạm một tội tày trời. Và vì vậy, Ta khuyên mọi người đừng cố giương nanh chống lại lẽ thật, hay đưa ra những lời chỉ trích bừa bãi, bởi chỉ có lẽ thật mới mang lại cho ngươi sự sống, và không gì ngoài lẽ thật có thể giúp ngươi được tái sinh và chiêm ngưỡng dung nhan Đức Chúa Trời một lần nữa.

Trích từ “Chỉ Đấng Christ của thời kỳ sau rốt mới có thể ban cho con người con đường sự sống vĩnh cửu” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

Trước: III. Sự phán xét trong thời kỳ sau rốt

Tiếp theo: V. Biết về công tác của Đức Chúa Trời

Bạn có muốn biết cách gột bỏ xiềng xích tội lỗi và được làm tinh sạch? Hãy liên hệ chúng tôi để tìm được lối đi đúng đắn.
Liên hệ với chúng tôi
Liên hệ với chúng tôi qua Messenger

Nội dung liên quan

Cài đặt

  • Văn bản
  • Chủ đề

Màu Đồng nhất

Chủ đề

Phông

Kích cỡ Phông

Khoảng cách Dòng

Khoảng cách Dòng

Chiều rộng Trang

Mục lục

Tìm kiếm

  • Tìm kiếm văn bản này
  • Tìm kiếm cuốn sách này