Chúng tôi chào đón tất cả những ai tìm kiếm lẽ thật liên hệ với chúng tôi.

Lời xuất hiện trong xác thịt

Màu Đồng nhất

Chủ đề

Phông

Kích cỡ Phông

Khoảng cách Dòng

Chiều rộng Trang

0 kết quả

Không tìm thấy kết quả nào

Công tác của Đức Chúa Trời và công việc của Con Người

Trong công việc của con người có bao nhiêu phần là công tác của Đức Thánh Linh và bao nhiêu phần là trải nghiệm của con người? Có thể nói mọi người vẫn chưa hiểu được những vấn đề này, và lí do cho việc đó là họ không hiểu được các nguyên tắc trong công tác của Đức Thánh Linh. Khi Ta nói “công việc của con người”, dĩ nhiên Ta đang nói đến công việc của những người có được công tác của Đức Thánh Linh, hay những người được Đức Thánh Linh tin dùng. Ta không ám chỉ công việc xuất phát từ ý chí của con người, mà là công tác của các sứ đồ, cộng sự, hay các anh chị em bình thường mà nằm trong phạm vi công tác của Đức Thánh Linh. Ở đây, “công việc của con người” không ám chỉ công tác của Đức Chúa Trời nhập thể, mà nói đến phạm vi và nguyên tắc của công tác mà Đức Thánh Linh thực hiện trên mọi người. Mặc dù những nguyên tắc này là những nguyên tắc và phạm vi công tác của Đức Thánh Linh, chúng không giống như các nguyên tắc và phạm vi công tác của Đức Chúa Trời nhập thể. Công việc của con người mang thực chất và nguyên tắc của con người, còn công tác của Đức Chúa Trời mang thực chất và nguyên tắc của Đức Chúa Trời.

Công tác trong dòng chảy của Đức Thánh Linh, bất kể là công tác của chính Đức Chúa Trời hay công tác của những người được tin dùng, thì nó vẫn là công tác của Đức Thánh Linh. Thực chất của chính Đức Chúa Trời là Thần, mà có thể gọi là Đức Thánh Linh hay Thần uy lực gấp bảy lần. Nói chung, Họ đều là Thần của Đức Chúa Trời, cho dù Thần của Đức Chúa Trời đã được gọi bằng các danh hiệu khác nhau trong các thời đại khác nhau. Thực chất của Họ vẫn là một. Vì thế, công tác của chính Đức Chúa Trời là công tác của Đức Thánh Linh, trong khi công tác của Đức Chúa Trời nhập thể không gì khác hơn là Đức Thánh Linh trong công tác. Công tác của những người được tin dùng cũng là công tác của Đức Thánh Linh. Tuy nhiên, công tác của Đức Chúa Trời là sự bày tỏ trọn vẹn của Đức Thánh Linh, điều tuyệt đối đúng, trong khi công việc của những người được tin dùng thì bị lẫn lộn với nhiều thứ của con người, và không phải là sự bày tỏ trực tiếp của Đức Thánh Linh, huống hồ một sự bày tỏ trọn vẹn của Ngài. Công tác của Đức Thánh Linh thì đa dạng và không bị giới hạn bởi bất cứ điều kiện gì. Công tác của Đức Thánh Linh biến đổi ở những người khác nhau; nó biểu hiện các thực chất khác nhau, và nó khác nhau theo thời đại, cũng như theo quốc gia. Dĩ nhiên, mặc dù Đức Thánh Linh làm việc bằng nhiều phương cách khác nhau và theo nhiều nguyên tắc, nhưng bất kể công tác được thực hiện như thế nào hay trên loại người nào, thì thực chất của nó luôn khác nhau; tất cả những công tác được thực hiện trên những người khác nhau đều có nguyên tắc của chúng, và hết thảy chúng đều có thể đại diện cho thực chất đối tượng của chúng. Điều này là bởi công tác của Đức Thánh Linh khá cụ thể về phạm vi và có chừng mực. Công tác được thực hiện trong xác thịt nhập thể không giống như công tác được thực hiện trên mọi người, và công tác cũng biến đổi theo tố chất của người mà nó được tiến hành. Công tác thực hiện trong xác thịt nhập thể thì không được thực hiện trên con người, và nó không phải là cùng công tác được thực hiện trên con người. Nói tóm lại, bất kể được làm như thế nào, công tác được thực hiện trên những đối tượng khác nhau thì không bao giờ giống nhau, và các nguyên tắc Ngài làm việc thay đổi theo các tình trạng và bản tính của những người khác nhau mà Ngài làm việc. Đức Thánh Linh làm việc trên những người khác nhau dựa trên thực chất vốn có của họ và không đòi hỏi ở họ nhiều hơn thực chất đó, Ngài cũng không làm công việc trên họ vượt quá tố chất vốn có của họ. Vì vậy, công tác của Đức Thánh Linh trên con người cho phép con người thấy được thực chất của đối tượng công tác đó. Thực chất vốn có của con người không thay đổi; tố chất vốn có của họ thì hạn chế. Đức Thánh Linh sử dụng con người hay làm việc trên họ phù hợp với những hạn chế trong tố chất của họ, hầu cho họ có thể được lợi từ việc đó. Khi Đức Thánh Linh làm việc trên những người được tin dùng, tài năng và tố chất vốn có của những người đó đều được giải phóng, không bị kìm hãm. Tố chất vốn có của họ được sử dụng trong việc phụng sự cho công tác. Có thể nói rằng Ngài sử dụng những phần của con người mà có thể sử dụng được trong công tác của Ngài, nhằm đạt được các kết quả trong công tác đó. Ngược lại, công tác được thực hiện trong xác thịt nhập thể thì trực tiếp bày tỏ công tác của Thần và không bị pha trộn với tâm trí và những suy nghĩ của con người; những ân tứ, trải nghiệm hay trạng thái bẩm sinh của con người đều không thể với tới công tác đó. Hết thảy vô vàn công tác của Đức Thánh Linh đều là để làm lợi và khai trí cho cho con người. Tuy nhiên, một số người có thể được hoàn thiện trong khi những người khác thì không sở hữu những điều kiện cho sự hoàn thiện, có nghĩa là họ không thể được hoàn thiện và khó có thể được cứu rỗi, và cho dù họ có thể có được công tác của Đức Thánh Linh, thì cuối cùng họ cũng bị loại bỏ. Điều này có nghĩa là mặc dù công tác của Đức Thánh Linh là khai trí cho mọi người, thì người ta cũng không thể nói rằng tất cả những ai có được công tác của Đức Thánh Linh đều sẽ được hoàn thiện một cách trọn vẹn, bởi vì con đường mà nhiều người đi theo trong sự theo đuổi của họ chẳng phải là con đường để được hoàn thiện. Họ chỉ có phần việc đơn phương của Đức Thánh Linh, mà không có sự hợp tác chủ quan từ phía con người hay sự theo đuổi đúng đắn của con người. Do vậy, công tác của Đức Thánh Linh trên những người này trở thành phục vụ những người đang được hoàn thiện. Công tác của Đức Thánh Linh không thể được mọi người trực tiếp nhìn thấy, cũng không thể được chính mọi người trực tiếp chạm vào. Nó chỉ có thể được bày tỏ bởi những ai có ân tứ làm việc, có nghĩa là công tác của Đức Thánh Linh được cung cấp cho các môn đệ thông qua những bày tỏ mà mọi người thể hiện.

Công tác của Đức Thánh Linh được hoàn tất và hoàn thiện thông qua nhiều kiểu người và nhiều điều kiện khác nhau. Mặc dù công tác của Đức Chúa Trời nhập thể có thể đại diện cho công tác của cả một thời đại, và có thể đại diện cho sự bước vào của con người trong cả một thời đại, nhưng công việc về chi tiết lối vào của mọi người vẫn cần được thực hiện bởi những người được Đức Thánh Linh tin dùng, chứ không phải bởi Đức Chúa Trời nhập thể. Như thế, công tác của Đức Chúa Trời, hay công tác trong chức vụ riêng của Đức Chúa Trời, là công tác của xác thịt nhập thể của Đức Chúa Trời, điều mà con người không thể làm thay Ngài. Công tác của Đức Thánh Linh được hoàn tất thông qua nhiều kiểu người khác nhau; không một người nào có thể hoàn toàn đạt được điều đó, và không một người nào có thể bày tỏ trọn vẹn điều đó. Những người dẫn dắt các hội thánh cũng không thể hoàn toàn đại diện cho công tác của Đức Thánh Linh; họ chỉ có thể làm một số công tác lãnh đạo. Công tác của Đức Thánh Linh vì thế có thể được chia thành ba phần: công tác của chính Đức Chúa Trời, công tác của những người được tin dùng, và công tác được thực hiện trên những người trong dòng chảy của Đức Thánh Linh. Công tác của chính Đức Chúa Trời là dẫn dắt toàn bộ thời đại; công việc của những người được tin dùng là thông qua việc được sai phái hay được giao ủy nhiệm sau khi Đức Chúa Trời đã thực hiện công tác của chính Ngài, mà dẫn dắt toàn bộ các môn đệ của Đức Chúa Trời, và đây là những những người hợp tác với công tác của Đức Chúa Trời; công tác được Đức Thánh Linh thực hiện trên những người trong dòng chảy là để duy trì mọi công tác của chính Ngài, có nghĩa là để duy trì toàn bộ sự quản lý và lời chứng của Ngài, trong khi đồng thời hoàn thiện những ai có thể được hoàn thiện. Kết hợp lại, ba phần này là toàn bộ công tác của Đức Thánh Linh, nhưng nếu không có công tác của chính Đức Chúa Trời thì công tác quản lý sẽ trì trệ toàn bộ. Công tác của riêng Đức Chúa Trời bao gồm công tác của toàn nhân loại, và nó cũng đại diện cho công tác của cả một thời đại, có nghĩa là công tác của chính Đức Chúa Trời đại diện cho mọi động lực và khuynh hướng trong công tác của Đức Thánh Linh, trong khi công tác của các sứ đồ thì đến sau công tác của riêng Đức Chúa Trời và bắt nguồn từ đó, chứ không dẫn dắt thời đại, cũng không đại diện cho những khuynh hướng công tác của Đức Thánh Linh trong toàn thời đại. Họ chỉ thực hiện công việc mà con người phải làm, hoàn toàn không có gì liên quan đến công tác quản lý. Công tác chính Đức Chúa Trời thực hiện là một công trình trong phạm vi công tác quản lý. Công việc của con người chỉ là bổn phận mà những người được tin dùng thực hiện, và nó không liên quan đến công tác quản lý. Mặc dù chúng đều là công tác của Đức Thánh Linh, do những khác biệt trong thân phận và sự đại diện của công tác, nên có những khác biệt rõ ràng về thực chất giữa công tác của chính Đức Chúa Trời và công việc của con người. Hơn nữa, phạm vi công tác được Đức Thánh Linh thực hiện thay đổi trên các đối tượng mang thân phận khác nhau. Đây là các nguyên tắc và phạm vi công tác của Đức Thánh Linh.

Công việc của con người biểu thị kinh nghiệm và nhân tính của họ. Những gì con người cung cấp và công việc mà họ thực hiện đại diện cho họ. Mọi sự thấu suốt, lý luận, lô-gic và óc tưởng tượng phong phú của con người đều được chứa đựng trong công việc của họ. Kinh nghiệm của con người đặc biệt có thể biểu thị công việc của họ, và những kinh nghiệm của một người trở thành những hợp phần trong công việc của họ. Công việc của con người có thể bày tỏ kinh nghiệm của họ. Khi một số người trải nghiệm một cách tiêu cực, thì hầu hết ngôn ngữ thông công của họ sẽ gồm những yếu tố tiêu cực. Nếu trải nghiệm của họ trong một giai đoạn là tích cực và họ đặc biệt có một con đường trên phương diện tích cực, thì sự thông công của họ đầy khích lệ, và mọi người có thể nhận được nguồn cung tích cực từ họ. Nếu một người làm công trở nên tiêu cực trong một giai đoạn, thì sự thông công của anh ta sẽ luôn mang các yếu tố tiêu cực. Loại thông công này thật chán ngắt, và những người khác sẽ vô thức trở nên buồn chán theo sự thông công của anh ta. Trạng thái của những môn đệ thay đổi dựa theo trạng thái của người dẫn dắt. Bất kể một người làm công như thế nào từ bên trong, thì đó là những gì anh ta bày tỏ, và công tác của Đức Thánh Linh thường thay đổi theo tình trạng của con người. Ngài làm việc theo kinh nghiệm của con người và không áp đặt họ, mà chỉ đưa ra những yêu cầu cho con người theo quá trình trải nghiệm bình thường của họ. Điều này có nghĩa là sự thông công của con người khác với lời Đức Chúa Trời. Những gì mọi người thông công truyền tải những điều thông sáng và kinh nghiệm cá nhân của họ, bày tỏ những điều thông sáng và kinh nghiệm của họ trên cơ sở công tác của Đức Chúa Trời. Trách nhiệm của họ là phải tìm ra được, sau khi Đức Chúa Trời làm việc hay phán dạy, những gì trong đó mà họ phải thực hành hay bước vào, và sau đó truyền đạt lại cho các môn đệ. Do đó, công việc của con người đại diện cho sự bước vào và thực hành của họ. Dĩ nhiên, những công việc như thế này bị pha trộn với những bài học và kinh nghiệm của con người, hoặc một số tư tưởng của họ. Bất kể Đức Thánh Linh làm việc như thế nào, dù là trên con người hay trong Đức Chúa Trời nhập thể, thì những người làm công luôn bày tỏ con người họ. Mặc dù là Đức Thánh Linh làm việc, nhưng công việc được đặt trên cơ sở những gì con người vốn có, bởi vì Đức Thánh Linh không làm việc gì mà không có cơ sở. Nói cách khác, công việc không đến từ hư vô, mà luôn được thực hiện phù hợp với các tình huống và điều kiện thực tế. Chỉ bằng cách này thì tâm tính của con người mới có thể được chuyển hóa và những quan niệm và tư tưởng cũ kỹ của họ mới có thể được thay đổi. Những gì con người bày tỏ là những gì họ nhìn thấy, cảm nghiệm và có thể tưởng tượng và có thể đạt được theo suy nghĩ của con người, cho dù đó có là học thuyết hay những quan niệm. Công việc của con người không thể vượt quá phạm vi kinh nghiệm của con người, những gì họ thấy, hay những gì họ có thể tưởng tượng hay nhận thức được bất kể quy mô của công việc đó thế nào. Tất cả những gì Đức Chúa Trời bày tỏ là những gì về chính Ngài, và điều này không thể đạt được bởi con người – nghĩa là vượt quá tầm suy nghĩ của con người. Ngài bày tỏ công tác dẫn dắt toàn nhân loại của Ngài, và điều này không liên quan đến các chi tiết trong kinh nghiệm của con người, mà thay vào đó là liên quan đến kế hoạch quản lý của riêng Ngài. Những gì con người bày tỏ là kinh nghiệm của họ, trong khi những gì Đức Chúa Trời bày tỏ là hữu thể của Ngài, đó là tâm tính cố hữu của Ngài, vượt ra khỏi tầm với của con người. Kinh nghiệm của con người là sự thông sáng và kiến thức lĩnh hội được dựa trên sự bày tỏ của Đức Chúa Trời về hữu thể của Ngài. Sự thông sáng và kiến thức như thế gọi là hữu thể của con người, và cơ sở cho sự bày tỏ chúng là tâm tính và tố chất cố hữu của con người; đây là lí do vì sao chúng cũng được gọi là hữu thể của con người. Con người có thể thông công những gì họ trải nghiệm và nhìn thấy. Không ai có thể thông công những gì họ chưa từng trải nghiệm, chưa từng nhìn thấy, hay tư duy của họ không thể đạt tới, đó là những thứ họ không thể có bên trong mình. Nếu những gì con người bày tỏ không phải từ kinh nghiệm của mình, thì đó là trí tưởng tượng của họ hoặc là giáo lý. Nói đơn giản là không có chút hiện thực nào trong lời họ. Nếu ngươi chưa từng tiếp xúc với những thứ trong xã hội, thì ngươi không thể nào thông công một cách rõ ràng về các mối quan hệ phức tạp trong xã hội. Nếu ngươi không có gia đình mà người khác lại nói về những chuyện gia đình thì ngươi sẽ không hiểu phần lớn những gì họ nói. Như thế, những gì con người thông công và công việc họ làm đại diện cho hữu thể nội tại của họ. Nếu ai đó thông công sự hiểu biết của họ về hành phạt và phán xét, nhưng ngươi lại không có kinh nghiệm gì về điều đó, thì ngươi sẽ không dám phủ nhận hiểu biết của họ, càng không dám chắc một trăm phần trăm về nó. Điều này là bởi sự thông công của họ là về thứ mà ngươi chưa từng trải nghiệm, thứ ngươi chưa từng biết đến, và tâm trí ngươi không thể mường tượng ra được. Từ hiểu biết của họ, tất cả những gì ngươi có thể thu được là một con đường trải qua hình phạt và phán xét trong tương lai. Nhưng con đường này chỉ có thể là một trong những kiến thức giáo lý; nó không thể thay thế cho hiểu biết của chính ngươi, càng không thể thay thế cho kinh nghiệm của ngươi. Có lẽ ngươi nghĩ rằng những gì họ nói là hoàn toàn đúng đắn, nhưng trong trải nghiệm của bản thân, ngươi nhận thấy nó phi thực tế trong nhiều mặt. Có lẽ ngươi cảm thấy một số điều mình nghe được là hoàn toàn phi thực tế; ngươi ấp ủ những quan niệm về nó tại thời điểm đó, và mặc dù ngươi chấp nhận nó, ngươi chỉ chấp nhận cách miễn cưỡng. Nhưng trong trải nghiệm của bản thân ngươi, những kiến thức tạo nên các quan niệm trong ngươi trở thành đường lối thực hành của ngươi, và càng thực hành, ngươi càng hiểu nhiều hơn về giá trị và ý nghĩa thật sự của những lời ngươi nghe được. Sau khi đã có kinh nghiệm của chính mình, ngươi lúc đó mới có thể nói về những kiến thức ngươi cần có về những gì ngươi vừa trải nghiệm. Thêm vào đó, ngươi còn có thể phân biệt được những người có kiến thức thật sự và thực tế với những người mà kiến thức chỉ dựa trên giáo lý và vô giá trị. Như thế, liệu kiến thức mà ngươi bày tỏ có đúng theo lẽ thật hay không, điều này phần lớn phụ thuộc vào việc liệu ngươi có kinh nghiệm thực tế về điều đó hay không. Một khi có lẽ thật trong kinh nghiệm của ngươi, thì kiến thức của ngươi sẽ thực tế và có giá trị. Thông qua trải nghiệm của mình, ngươi còn có thể đạt được sự thông sáng và sáng suốt, đào sâu kiến thức của mình, và tăng cường trí tuệ cũng như óc suy xét về cách ngươi nên hành xử. Những kiến thức được bày tỏ bởi những người không sở hữu lẽ thật thì chỉ là giáo lý, cho dù nó có thể cao xa thế nào đi nữa. Kiểu người này cũng có thể rất thông minh khi bàn đến các vấn đề trần tục, nhưng không thể rạch ròi khi nói về các vấn đề thuộc linh. Điều này là bởi những người như thế không có một chút kinh nghiệm gì về các vấn đề thuộc linh. Đây là những người không được khai sáng về các vấn đề thuộc linh và không hiểu về những việc tâm linh. Bất kể loại kiến thức nào ngươi bày tỏ, miễn nó là hữu thể của ngươi, thì đó là kinh nghiệm cá nhân của ngươi, kiến thức thật sự của ngươi. Những gì được thảo luận bởi những người chỉ nói về giáo lý – những người không sở hữu lẽ thật hay hiện thực – thì cũng có thể gọi đó là hữu thể của họ, bởi vì họ đã đạt được giáo lý của mình chỉ thông qua sự suy ngẫm sâu sắc, và đó là kết quả từ sự chiêm nghiệm sâu sắc của họ. Thế nhưng, đó cũng chỉ là giáo lý, không hơn gì một sự tưởng tượng! Trải nghiệm của hết thảy mọi kiểu người đều đại diện cho những điều bên trong họ. Bất cứ ai không có trải nghiệm thuộc linh thì không thể phát biểu những kiến thức về lẽ thật, hoặc kiến thức đúng đắn về những vấn đề thuộc linh khác nhau. Những gì con người bày tỏ là những gì về họ từ bên trong – điều này là chắc chắn. Nếu ai đó muốn có được tri thức về những vấn đề thuộc linh và lẽ thật, thì họ phải có kinh nghiệm thực tế. Nếu ngươi không thể nói rõ ràng về lẽ thường tình trong đời sống con người, thì ngươi càng ít có thể nói về các vấn đề thuộc linh như thế nào nữa? Những người có thể dẫn dắt các hội thánh, cung cấp sự sống cho con người, và làm sứ đồ cho con người, thì phải có được các kinh nghiệm thực tế; họ phải có hiểu biết đúng đắn về các vấn đề thuộc linh, một nhận thức đúng đắn và trải nghiệm về lẽ thật. Chỉ những người như thế mới đủ tư cách là người làm công hay sứ đồ dẫn dắt các hội thánh. Nếu không, họ chỉ có thể theo sau như những người thấp kém nhất và không thể dẫn dắt, càng không thể là những sứ đồ có thể cung cấp sự sống cho con người. Điều này là bởi vì chức năng của các sứ đồ không phải là chạy tất bật hay đấu tranh, mà là làm công tác chăm sóc sự sống và dẫn dắt người khác trong việc chuyển hóa tâm tính của họ. Những ai thực hiện chức năng này được ủy thác để gánh vác một trọng trách, là điều mà không phải ai cũng có thể gánh vác. Loại công việc này chỉ có thể được đảm nhận bởi những người có sự sống, có nghĩa là những người có trải nghiệm về lẽ thật. Nó không thể được đảm nhận đơn thuần bởi bất kỳ ai có thể từ bỏ, có thể chạy tất bật, hoặc sẵn lòng dâng trọn bản thân; những người không có trải nghiệm về lẽ thật, chưa được tỉa sửa hay phán xét, thì không thể làm loại công việc này. Những người không có kinh nghiệm, tức là những người không có hiện thực, thì không thể nhìn thấy hiện thực một cách rõ ràng, bởi vì bản thân họ không có dạng hiện hữu này. Vì vậy, kiểu người này không những không có khả năng làm công việc lãnh đạo, mà sẽ trở thành đối tượng bị loại bỏ nếu họ không có được lẽ thật trong một khoảng thời gian dài. Sự thấu suốt mà ngươi bày tỏ có thể là minh chứng cho những gian khổ mà ngươi đã trải qua trong cuộc sống, những điều mà vì nó ngươi đã bị hành phạt và những vấn đề mà vì nó ngươi đã bị phán xét. Điều này cũng đúng đối với những thử thách: một người được tinh luyện ở điểm nào, một người yếu kém ở điểm nào – thì đó đều là những lĩnh vực mà họ có trải nghiệm, mà trong đó họ có con đường. Chẳng hạn, nếu ai đó bị thất vọng trong hôn nhân thì họ sẽ thường xuyên thông công: “Tạ ơn Đức Chúa Trời, ngợi khen Đức Chúa Trời, con phải làm thỏa những mong muốn trong lòng Đức Chúa Trời, dâng hiến cả sự sống của con, và con phải đặt cuộc hôn nhân của con hoàn toàn vào tay Đức Chúa Trời. Con sẵn lòng thề nguyện dâng cả cuộc sống của con cho Đức Chúa Trời”. Mọi thứ bên trong con người có thể biểu lộ những gì về họ thông qua sự thông công. Nhịp độ nói của một người, họ nói to hay nhỏ – những chuyện như vậy vốn không phải vấn đề về kinh nghiệm và không thể đại diện cho họ có gì và là gì. Những điều này chỉ có thể nói lên liệu tính khí của một người là tốt hay xấu, hay liệu bản tính của họ tốt hay xấu, nhưng chúng không thể đánh đồng với việc liệu ai đó có kinh nghiệm hay không. Khả năng bày tỏ bản thân khi nói, hay kỹ năng hoặc tốc độ nói, chỉ là vấn đề tập luyện và không thể thay thế cho kinh nghiệm của một người. Khi ngươi nói về các kinh nghiệm cá nhân, ngươi thông công những gì mà ngươi thấy quan trọng và tất cả những gì bên trong ngươi. Lời nói của Ta đại diện cho hữu thể của Ta, nhưng những gì Ta nói vượt khỏi tầm của con người. Những gì Ta nói không phải những gì con người trải nghiệm, và nó không phải là thứ gì con người có thể nhìn thấy được, cũng chẳng phải thứ gì con người có thể chạm tới được, mà là những gì về Ta. Một số người chỉ thừa nhận rằng những gì Ta thông công là những gì Ta đã trải nghiệm, nhưng họ không nhận ra rằng đó là sự bày tỏ trực tiếp của Thần. Dĩ nhiên, những gì Ta nói là những gì Ta đã trải nghiệm. Chính Ta đã thực hiện công việc quản lý trong sáu ngàn năm. Ta đã trải nghiệm mọi thứ từ buổi đầu tạo dựng nhân loại cho đến nay; làm sao Ta không thể thảo luận về điều đó được? Khi nói về bản tính con người, Ta đã thấy rõ nó; Ta đã quan sát nó từ lâu. Làm sao Ta không thể nói về nó một cách rõ ràng được? Vì Ta đã thấy rõ bản chất của con người, Ta đủ tư cách để hành phạt con người và phán xét họ, bởi vì hết thảy con người đều đến từ Ta nhưng đã bị Sa-tan làm cho bại hoại. Dĩ nhiên, Ta cũng đủ tư cách để đánh giá công tác mà Ta đã thực hiện. Mặc dù công tác này không được thực hiện bởi xác thịt của Ta, nhưng đó là sự bày tỏ trực tiếp của Thần, và đây là những gì Ta có và những gì Ta là. Vì thế, Ta đủ tư cách để bày tỏ về nó và làm công việc mà Ta phải làm. Những gì con người nói là những gì họ đã trải nghiệm. Đó là những gì họ đã nhìn thấy, những gì tâm trí của họ có thể đạt tới, và những gì các giác quan của họ có thể cảm nhận được. Đó là những gì họ có thể thông công. Những lời do Đức Chúa Trời nhập thể phán ra là sự bày tỏ trực tiếp của Thần và chúng bày tỏ về công tác đã được thực hiện bởi Thần, điều mà xác thịt chưa từng trải nghiệm hay nhìn thấy, thế nhưng Ngài vẫn bày tỏ hữu thể của Ngài bởi vì thực chất của xác thịt là Thần, và Ngài bày tỏ công tác của Thần. Đó là công tác đã được Thần thực hiện, mặc dù nó vượt tầm xác thịt. Sau khi nhập thể, thông qua sự bày tỏ của xác thịt, Ngài đã khiến mọi người có thể biết được hữu thể của Đức Chúa Trời, và cho mọi người thấy được tâm tính của Đức Chúa Trời và công tác Ngài đã làm. Công việc của con người cho con người sự rõ ràng hơn về những gì họ nên bước vào và những gì họ nên hiểu biết; điều đó bao gồm việc dẫn dắt con người tới sự hiểu biết và trải nghiệm lẽ thật. Công việc của con người là nhằm giữ vững con người; còn công tác của Đức Chúa Trời là nhằm mở ra những con đường mới và những kỷ nguyên mới cho nhân loại, và mặc khải cho con người những điều mà người phàm không hay tỏ, giúp họ biết được tâm tính của Ngài. Công tác của Đức Chúa Trời là dẫn dắt toàn bộ nhân loại.

Hết thảy công tác của Đức Thánh Linh đều được thực hiện để làm lợi lạc cho con người. Nó toàn bộ là để khai trí cho con người; chẳng có công tác nào mà không làm lợi cho con người. Bất kể là lẽ thật sâu sắc hay nông cạn, và bất kể tố chất của những người chấp nhận lẽ thật có ra sao, bất kể Đức Thánh Linh làm điều gì, nó đều có lợi cho con người. Nhưng công tác của Đức Thánh Linh không thể được thực hiện trực tiếp mà phải được bày tỏ thông qua những người hợp tác với Ngài. Chỉ có như vậy thì công tác của Đức Thánh Linh mới đạt được kết quả. Dĩ nhiên, khi Đức Thánh Linh trực tiếp làm việc, thì nó không hề bị pha tạp; nhưng khi Đức Thánh Linh làm việc thông qua con người, thì nó trở nên rất ô tạp và không còn là công tác ban đầu của Đức Thánh Linh. Vì vậy, lẽ thật thay đổi theo những cấp độ khác nhau. Các môn đệ không nhận lãnh được ý định ban đầu của Đức Thánh Linh mà là một tổ hợp gồm công tác của Đức Thánh Linh và kinh nghiệm cũng như kiến thức của con người. Phần việc của Đức Thánh Linh mà các môn đệ nhận lãnh được thì đúng đắn, trong khi kinh nghiệm và kiến thức của con người mà họ nhận lãnh được thì biến đổi bởi vì những người làm công khác nhau. Những người làm công có được sự khai sáng và chỉ dẫn của Đức Thánh Linh sẽ tiếp tục có những trải nghiệm dựa trên sự khai sáng và chỉ dẫn này. Bên trong những kinh nghiệm này là trí tuệ và kinh nghiệm của con người kết hợp lại, cũng như hữu thể của con người, và sau đó, họ đạt được tri thức hay sự thấu suốt mà họ nên có. Đây là đường lối thực hành của con người sau khi trải nghiệm lẽ thật. Lối thực hành này không phải luôn luôn giống nhau bởi vì con người trải nghiệm khác nhau, và những điều mà con người trải nghiệm cũng khác nhau. Theo cách này, cùng một sự khai sáng của Đức Thánh Linh cho ra những kiến thức và thực hành khác nhau, bởi những người nhận lãnh sự khai sáng là khác nhau. Một số người mắc những lỗi nhỏ lúc thực hành, trong khi một số khác thì mắc lỗi lớn, còn một số khác nữa thì chẳng làm được gì khác ngoài những lỗi lầm. Điều này là bởi khả năng hiểu biết của con người là khác nhau và cũng bởi những tố chất vốn có của họ là khác nhau. Một số người hiểu theo lối này sau khi nghe được một thông điệp, và một số người hiểu theo lối khác sau khi nghe được một lẽ thật. Một số người hơi đi trệch một chút, trong khi một số thì chẳng hiểu một chút gì về ý nghĩa thật sự của lẽ thật. Bởi thế, sự hiểu biết của một người quyết định người đó sẽ dẫn dắt người khác như thế nào; điều này đúng chính xác, bởi vì công việc của một người đơn giản là sự bày tỏ hữu thể của người đó. Những người được dẫn dắt bởi những ai có hiểu biết đúng đắn về lẽ thật thì cũng sẽ có được một hiểu biết đúng đắn về lẽ thật. Cho dù có những người mắc sai lầm trong hiểu biết, thì cũng chỉ có một số rất ít như vậy, và không phải mọi người đều có những sai lầm. Nếu một người có những hiểu biết sai lạc về lẽ thật, thì những người theo họ chắc chắn cũng sẽ trở nên sai lạc, và những người này sẽ sai lạc trong mọi ý nghĩa của lời. Mức độ hiểu biết lẽ thật của những môn đệ phần lớn phụ thuộc vào những người làm công. Dĩ nhiên, lẽ thật từ Đức Chúa Trời là đúng đắn và không sai lạc, và chắc chắn tuyệt đối. Nhưng những người làm công thì không hoàn toàn đúng đắn và không thể nói là hoàn toàn đáng tin cậy. Nếu những người làm công có một phương cách rất thực tế trong việc đưa lẽ thật vào thực hành lẽ thật, thì những môn đệ cũng sẽ có được một cách thực hành. Nếu những người làm công không có một phương cách thực hành lẽ thật mà chỉ có giáo lý, thì những môn đệ sẽ chẳng thể có được hiện thực. Tố chất và thực chất của các môn đệ được định đoạt bẩm sinh và không liên quan đến những người làm công. Nhưng mức độ mà các môn đệ hiểu biết về lẽ thật và biết Đức Chúa Trời lại phụ thuộc vào những người làm công (điều này chỉ đúng với một số người). Một người làm công như thế nào, thì những môn đệ mà anh ta dẫn dắt cũng sẽ như thế ấy. Những gì một người làm công bày tỏ là hữu thể của chính anh ta, không một chút dè dặt. Những yêu cầu anh ta đặt ra cho những môn đệ của mình là những gì bản thân anh ta sẵn sàng hoặc có thể đạt được. Hầu hết những người làm công sử dụng những gì bản thân làm như một cơ sở để đưa ra các yêu cầu cho các môn đệ của mình, dù cho có nhiều điều mà các môn đệ của họ không thể đạt được một chút nào – và những điều mà một người không thể đạt được trở thành vật cản cho sự bước vào của họ.

Có ít sự sai lệch hơn nhiều trong công việc của những người đã qua tỉa sửa, xử lý, phán xét và hành phạt, và sự bày tỏ từ công việc của họ là chính xác hơn nhiều. Những ai dựa vào sự hồn nhiên của họ để làm việc thì gây ra khá nhiều lỗi nghiêm trọng. Công việc của những người chưa được hoàn thiện thể hiện quá nhiều sự hồn nhiên của bản thân họ, khiến công tác của Đức Thánh Linh gặp một trở ngại lớn. Cho dù tố chất của một người tốt đến đâu, họ vẫn phải trải qua sự tỉa sửa, xử lý và phán xét trước khi họ có thể thực hiện công việc được Đức Chúa Trời ủy nhiệm. Nếu họ chưa trải qua sự phán xét như thế, thì công việc của họ, cho dù có được thực hiện tốt thế nào đi nữa, cũng không thể phù hợp với các nguyên tắc của lẽ thật, và luôn là một sản phẩm của sự hồn nhiên và thiện lành của con người nơi chính bản thân họ. Công việc của những ai đã qua tỉa sửa, xử lý, và phán xét thì chính xác hơn nhiều so với công việc của những ai chưa được tỉa sửa, xử lý, và phán xét. Những ai chưa qua phán xét thì chẳng bày tỏ được gì ngoài nhục dục và những tư tưởng của con người, pha trộn với rất nhiều trí tuệ con người và tài năng thiên bẩm. Đây không phải là sự bày tỏ chuẩn xác của con người về công tác của Đức Chúa Trời. Những ai đi theo những người như vậy đến với họ bởi tố chất vốn có của họ. Bởi vì họ bày tỏ quá nhiều sự thấu suốt và kinh nghiệm của con người, những điều gần như chẳng can hệ gì với ý định ban đầu của Đức Chúa Trời, và lệch lạc quá xa khỏi nó, những công việc của kiểu người này thì không thể mang con người đến trước Đức Chúa Trời, mà thay vào đó là mang họ đến trước con người. Vì vậy, những ai chưa qua phán xét và hành phạt thì không đủ tư cách để thực hiện công việc được Đức Chúa Trời ủy nhiệm. Công việc của một người làm công đủ tư cách thì có thể mang con người đến đường lối đúng đắn và cho họ một lối rộng lớn hơn vào lẽ thật. Công việc của anh ta có thể mang con người đến trước Đức Chúa Trời. Thêm vào đó, công việc anh ta làm có thể biến đổi theo từng cá nhân và không bị trói buộc bởi các phép tắc, cho con người sự giải phóng, tự do, cũng như khả năng trưởng thành dần dần trong đời sống và có một lối vào lẽ thật sâu sắc hơn. Công việc của một người làm công không đủ tư cách thì thiếu sót rất nhiều. Công việc của anh ta thật xuẩn ngốc. Anh ta chỉ có thể đưa con người vào các phép tắc; và những gì anh ta đòi hỏi ở con người thì không biến đổi theo từng cá nhân; anh ta không làm việc theo các nhu cầu thực sự của con người. Trong kiểu công việc này, có quá nhiều phép tắc và quá nhiều giáo lý, và nó không thể đưa con người vào hiện thực hay vào các thực hành bình thường để trưởng thành trong đời sống. Nó chỉ có thể khiến con người bám lấy một vài phép tắc vô giá trị. Loại hướng dẫn như thế này chỉ có thể dẫn con người đi lạc lối. Anh ta dẫn dắt ngươi để trở nên giống như anh ta; anh ta có thể khiến ngươi trở thành những gì thuộc về anh ta và là anh ta. Để các môn đệ biết rõ liệu những người dẫn dắt có đủ tư cách hay không, bí quyết là hãy nhìn vào đường lối họ dẫn dắt và các kết quả từ công việc của họ, và hãy nhìn xem liệu các môn đệ có nhận lãnh được các nguyên tắc hợp với lẽ thật hay không, và liệu họ có nhận lãnh được các đường lối thực hành phù hợp để được chuyển hóa hay không. Ngươi nên phân biệt được các công việc khác nhau của những kiểu người khác nhau; ngươi không nên là một môn đệ ngốc nghếch. Điều này ảnh hưởng đến vấn đề về sự bước vào của mọi người. Nếu ngươi không có khả năng phân biệt được sự dẫn dắt của người nào là có đường lối và của người nào thì không, ngươi sẽ dễ bị lừa gạt. Toàn bộ điều này đều có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của chính ngươi. Có quá nhiều sự hồn nhiên trong công việc của những người chưa được hoàn thiện; nó được pha trộn với quá nhiều ý muốn của con người. Hữu thể của họ là sự hồn nhiên – những gì họ vốn sinh ra như vậy. Đó không phải sự sống sau khi đã được xử lý, hay hiện thực sau khi đã được chuyển hóa. Làm sao một người như thế này có thể hỗ trợ những ai đang theo đuổi sự sống được? Sự sống mà con người có ban đầu là trí tuệ hoặc tài năng bẩm sinh của họ. Loại trí tuệ hay tài năng này khác xa với những yêu cầu chính xác của Đức Chúa Trời đối với con người. Nếu một người chưa được làm cho hoàn thiện và tâm tính bại hoại của anh ta chưa được tỉa sửa và xử lý, thì sẽ có một khoảng cách lớn giữa những gì anh ta bày tỏ và lẽ thật; những gì anh ta bày tỏ sẽ bị pha trộn với những thứ mơ hồ như là sự tưởng tượng và kinh nghiệm phiến diện của anh ta. Hơn nữa, bất kể anh ta làm việc như thế nào, người ta vẫn cảm thấy rằng không có một mục tiêu chung và không có lẽ thật phù hợp để tất cả mọi người bước vào. Phần lớn những gì được yêu cầu đối với mọi người đều nằm ngoài khả năng của họ, như kiểu lùa vịt lên cây. Đây là công việc theo ý muốn của con người. Bản tính bại hoại của con người, những quan niệm và tư tưởng của họ xâm nhập khắp mọi phần cơ thể họ. Con người bẩm sinh không có bản năng thực hành lẽ thật, cũng không có bản năng để hiểu lẽ thật một cách trực tiếp. Cộng với tâm tính bại hoại của người đó – khi loại người hồn nhiên này làm việc, chẳng phải điều đó gây ra những gián đoạn sao? Nhưng một người đã được hoàn thiện thì có kinh nghiệm về lẽ thật mà con người cần hiểu, và kiến thức về những tâm tính bại hoại của họ, hầu cho những thứ mơ hồ và hư ảo trong công việc của anh ta giảm dần, những sự pha tạp của con người trở nên ít hơn, và công việc cũng như sự phụng sự của anh ta tiến gần hơn bao giờ hết tới những tiêu chuẩn mà Đức Chúa Trời yêu cầu. Vì thế mà công việc của anh ta đã bước vào hiện thực của lẽ thật và cũng đã trở nên thiết thực. Những tư tưởng trong tâm trí con người đặc biệt cản trở công tác của Đức Thánh Linh. Con người có trí tưởng tượng phong phú, lô-gic hợp lý và họ đã có kinh nghiệm dày dạn để xử lý các vấn đề. Nếu tất cả những khía cạnh này của con người không qua tỉa sửa và chấn chỉnh, thì chúng đều là những chướng ngại vật cho công việc. Vì thế mà công việc của con người không thể đạt đến mức độ chính xác cao nhất, đặc biệt là công việc của những người chưa được hoàn thiện.

Công việc của con người nằm trong một phạm vi và bị hạn chế. Một người chỉ có thể làm công việc của một giai đoạn nhất định, và không thể làm công việc của cả một thời đại – nếu không, anh ta sẽ dẫn dắt con người vào giữa các phép tắc. Công việc của con người chỉ có thể áp dụng cho một thời gian hoặc một giai đoạn cụ thể. Đó là bởi trải nghiệm của con người có phạm vi của nó. Không thể so sánh công việc của con người với công tác của Đức Chúa Trời. Lối thực hành và kiến thức của con người về lẽ thật đều khả dụng trong một phạm vi nhất định. Ngươi không thể nói rằng con đường mà con người đang bước đi hoàn toàn là ý muốn của Đức Thánh Linh, bởi vì con người chỉ có thể được khai sáng bởi Đức Thánh Linh, và không thể hoàn toàn được đầy dẫy Đức Thánh Linh. Những thứ mà con người có thể trải nghiệm đều nằm trong phạm vi nhân tính bình thường và không thể vượt khỏi giới hạn của những tư tưởng trong tâm trí con người bình thường. Tất cả những người có thể sống trọn hiện thực của lẽ thật đều trải nghiệm nội trong phạm vi này. Khi họ trải nghiệm lẽ thật, đó luôn là một trải nghiệm của đời sống con người bình thường được Đức Thánh Linh khai sáng; đó không phải một cách trải nghiệm lệch lạc với đời sống con người bình thường. Họ trải nghiệm lẽ thật được khai sáng bởi Đức Thánh Linh trên cơ sở sống cuộc sống con người của họ. Hơn nữa, lẽ thật này biến đổi theo từng người, và chiều sâu của nó liên quan đến trạng thái của con người. Một người chỉ có thể nói rằng con đường họ đi là cuộc sống con người bình thường của một người đang theo đuổi lẽ thật, và nó có thể được gọi là con đường được đi bởi một người bình thường được Đức Thánh Linh khai sáng. Một người không thể nói rằng con đường họ bước đi là con đường của Đức Thánh Linh đi. Trong trải nghiệm bình thường của con người, bởi vì những người theo đuổi là không giống nhau, nên công tác của Đức Thánh Linh cũng không giống nhau. Thêm vào đó, bởi vì môi trường con người trải nghiệm và các phạm vi kinh nghiệm của họ là không giống nhau, và bởi sự pha trộn của tâm trí và tư tưởng của họ, nên kinh nghiệm của họ bị pha trộn ở các cấp độ khác nhau. Mỗi người hiểu về lẽ thật theo các điều kiện cá nhân khác nhau của họ. Hiểu biết của họ về ý nghĩa thật sự của lẽ thật là không trọn vẹn, và đó chỉ là một hay một vài phương diện của nó. Phạm vi lẽ thật mà con người trải nghiệm khác nhau giữa người này với người khác, phù hợp với những điều kiện của mỗi người. Theo cách này, kiến thức về cùng một lẽ thật, khi được bày tỏ bởi những người khác nhau thì không giống nhau. Điều này có nghĩa là, kinh nghiệm của con người luôn có những hạn chế và không thể đại diện trọn vẹn cho ý chí của Đức Thánh Linh, công việc của con người cũng không thể được hiểu như là công tác của Đức Chúa Trời, cho dù những gì con người bày tỏ rất gần với ý muốn của Đức Chúa Trời, và cho dù trải nghiệm của con người rất gần với công việc hoàn thiện mà Đức Thánh Linh thực hiện. Con người chỉ có thể là tôi tớ của Đức Chúa Trời, thực hiện các công việc mà Đức Chúa Trời tín thác cho họ. Con người chỉ có thể bày tỏ kiến thức được Đức Thánh Linh khai sáng và những lẽ thật đạt được từ những trải nghiệm cá nhân của họ. Con người không đủ tư cách và không đáp ứng các điều kiện để làm phương tiện bày tỏ của Đức Thánh Linh. Họ không được quyền nói rằng công việc của họ là công tác của Đức Chúa Trời. Con người có các nguyên tắc làm việc của con người, và hết thảy mọi người đều có các kinh nghiệm khác nhau và sở hữu các điều kiện khác nhau. Công việc của con người bao gồm toàn bộ các trải nghiệm của họ dưới sự khai sáng của Đức Thánh Linh. Những kinh nghiệm này chỉ có thể đại diện cho hữu thể của con người và không đại diện cho hữu thể của Đức Chúa Trời hay ý chí của Đức Thánh Linh. Do đó, con đường mà con người đi không thể được cho là con đường mà Đức Thánh Linh đi, bởi vì công việc của con người không thể đại diện cho công tác của Đức Chúa Trời, và công việc cũng như kinh nghiệm của con người không phải là toàn bộ ý chí của Đức Thánh Linh. Công việc của con người có xu hướng rơi vào những phép tắc, cách thức làm việc của họ dễ bị gò bó vào một phạm vi hạn chế, và không thể dẫn dắt con người đến một đường lối tự do. Hầu hết các môn đệ sống trong một phạm vi giới hạn, và cách trải nghiệm của họ cũng bị hạn chế trong phạm vi đó. Kinh nghiệm của con người luôn bị hạn chế; phương pháp làm việc của họ cũng bị giới hạn vào một số kiểu và không thể so sánh với công tác của Đức Thánh Linh hay công tác của chính Đức Chúa Trời. Điều này là bởi kinh nghiệm của con người rốt cuộc cũng bị hạn chế. Dù Đức Chúa Trời thực hiện công tác của Ngài như thế nào đi nữa, nó cũng không bị bó buộc bởi các phép tắc; cho dù nó được thực hiện như thế nào đi nữa cũng không bị giới hạn vào một phương pháp nào. Không có bất cứ phép tắc nào cho công tác của Đức Chúa Trời – mọi công tác của Ngài đều được giải phóng và tự do. Cho dù con người có theo Ngài bao lâu thì họ cũng không thể chắt lọc được bất cứ quy luật nào chi phối cách làm việc của Đức Chúa Trời. Mặc dù công tác của Ngài có nguyên tắc, nhưng nó luôn được thực hiện theo những cách mới và luôn có những phát triển mới, và nó vượt quá tầm với của con người. Trong một thời kỳ, Đức Chúa Trời có thể có vài kiểu công tác khác nhau và những cách dẫn dắt con người khác nhau, khiến con người luôn có được những lối vào và những thay đổi mới mẻ. Ngươi không thể nhận thấy được các quy luậttrong công tác của Ngài bởi vì Ngài luôn làm việc theo những cách mới và chỉ có như vậy mà những môn đệ của Đức Chúa Trời mới không trở nên bị bó buộc bởi các phép tắc. Công tác của chính Đức Chúa Trời luôn tránh những quan niệm của con người và ngược lại với chúng. Chỉ những ai đi theo và theo đuổi Ngài với tấm lòng chân thật mới có thể chuyển hóa được tâm tính của họ và có thể sống cách tự do, không phải chịu bất kỳ các phép tắc nào, hay bị bó buộc bởi bất kỳ các quan niệm tôn giáo nào. Công việc của con người đưa ra các đòi hỏi cho con người dựa trên kinh nghiệm của chính họ và những gì bản thân họ có thể đạt được. Tiêu chuẩn cho những yêu cầu này được giới hạn trong một phạm vi nhất định, và các phương cách thực hành cũng rất hạn chế. Những môn đệ vì vậy mà sống nội trong phạm vi giới hạn này một cách vô thức; qua thời gian, những điều này trở thành những phép tắc và nghi thức. Nếu công việc của một giai đoạn được dẫn dắt bởi một người chưa từng trải qua sự hoàn thiện bởi đích thân Đức Chúa Trời, và chưa nhận lãnh sự phán xét, thì những môn đệ của anh ta hết thảy sẽ trở thành những người cuồng tín và những chuyên gia trong việc chống lại Đức Chúa Trời. Do đó, nếu ai đó là một người dẫn dắt đủ tư cách, thì người đó đã phải trải qua sự phán xét và đã nhận lãnh việc được hoàn thiện. Những ai chưa từng trải qua sự phán xét, thì cho dù họ có được công tác của Đức Thánh Linh, họ cũng chỉ bày tỏ được những thứ mơ hồ và hão huyền. Theo thời gian, họ sẽ dẫn dắt con người vào các phép tắc mơ hồ và siêu nhiên. Công việc mà Đức Chúa Trời thể hiện không hợp với xác thịt của con người. Nó không hợp với những tư tưởng của con người mà còn trái ngược với các quan niệm của họ; nó không bị nhuốm màu sắc tôn giáo mơ hồ. Các kết quả công tác của Đức Chúa Trời không thể được gặt hái bởi một người chưa được Ngài làm cho hoàn thiện; chúng vượt khỏi tầm tư duy của con người.

Công việc trong tâm trí con người thì quá dễ để con người đạt được. Các mục sư và lãnh đạo trong giới tôn giáo chẳng hạn, họ dựa vào tài năng và chức vụ để làm công việc của họ. Những người theo họ trong thời gian dài sẽ bị nhiễm bởi những tài năng của họ và chịu ảnh hưởng bởi một số thứ thuộc về hữu thể của họ. Họ tập trung vào tài năng, khả năng, và tri thức của con người, và họ chú ý đến vào những thứ siêu nhiên và nhiều giáo lý cao xa hão huyền (dĩ nhiên, những giáo lý cao xa này là không thể đạt được). Họ không tập trung vào việc thay đổi tâm tính con người, mà thay vào đó tập trung vào huấn luyện con người để giảng đạo và làm việc, nâng cao kiến thức và các giáo lý tôn giáo phong phú của họ. Họ không tập trung vào việc tâm tính của con người đã thay đổi bao nhiêu, hay con người hiểu được bao nhiêu về lẽ thật. Họ không liên hệ bản thân họ với thực chất của con người, càng không cố gắng để biết được các trạng thái bình thường và bất thường của con người. Họ không phản đối các quan niệm của con người hay tỏ lộ các quan niệm của họ, càng không tỉa sửa mọi người vì những khiếm khuyết hay sự bại hoại của họ. Hầu hết những người theo họ phục vụ vì tài năng tự nhiên của họ, và những gì họ đưa ra là những quan niệm tôn giáo và lí thuyết thần học, những điều hoàn toàn không thực tế và hoàn toàn không thể trao sự sống cho con người. Thực ra, thực chất công việc của họ là nuôi dưỡng tài năng, nuôi dưỡng một người từ không có gì trở thành một cử nhân trường dòng tài năng, để sau đó lại tiếp tục làm việc và lãnh đạo. Ngươi có thể nhận ra được bất kỳ quy luật nào trong sáu ngàn năm công việc của Đức Chúa Trời không? Có nhiều phép tắc và hạn chế trong công việc mà con người thực hiện, và bộ óc con người thì quá giáo điều. Vì vậy, những gì con người bày tỏ là kiến thức và những nhận thức trong phạm vi kinh nghiệm của họ. Con người không thể bày tỏ bất cứ thứ gì ngoài thứ này. Kinh nghiệm và kiến thức của con người không tăng lên nhờ những tài năng bẩm sinh hay bản năng của họ, mà tăng lên bởi sự hướng dẫn và sự chăn dắt trực tiếp của Đức Chúa Trời. Con người chỉ có khả năng nhận lãnh sự chăn dắt này, và không có khả năng bày tỏ trực tiếp được những gì thuộc về thần tính. Con người không thể là nguồn cung, họ chỉ có thể là một chiếc bình để nhận lãnh nước từ nguồn cung. Đây là bản năng của con người, là khả năng mà một người cần có khi là một con người. Nếu một người đánh mất khả năng nhận lãnh lời Đức Chúa Trời và đánh mất bản năng con người, thì người đó cũng mất đi điều quý giá nhất, và mất đi bổn phận của loài người thọ tạo. Nếu một người không có kiến thức hay kinh nghiệm gì về lời Đức Chúa Trời hay công tác của Ngài, thì người đó đánh mất bổn phận của họ, bổn phận họ phải thực hiện với tư cách một loài thọ tạo, và đánh mất phẩm giá của một loài thọ tạo. Chính bản năng của Đức Chúa Trời là bày tỏ những gì thuộc về thần tính, dù cho nó được bày tỏ trong xác thịt hay trực tiếp bởi Thần; đây là chức vụ của Đức Chúa Trời. Con người bày tỏ những kinh nghiệm hoặc kiến thức của chính họ (nghĩa là bày tỏ những gì về họ) trong lúc thực hiện công tác của Đức Chúa Trời hoặc sau đó; đây là bản năng của con người, bổn phận của con người, và đó là điều con người nên đạt được. Mặc dù sự bày tỏ của con người còn nhiều thiếu sót so với những gì Đức Chúa Trời bày tỏ, và mặc dù sự bày tỏ của con người bị bó buộc bởi nhiều phép tắc, con người vẫn phải thực hiện bổn phận họ phải thực hiện và làm những gì họ phải làm. Con người nên làm mọi thứ có thể đối với con người để thực hiện bổn phận của họ, và họ không nên có một chút dè dặt nào dù là nhỏ nhất.

Sau vài năm làm việc, con người sẽ tổng kết được kinh nghiệm nhiều năm làm việc của mình, cũng như sự khôn ngoan và các phép tắc họ đã tích lũy được. Người làm việc lâu năm thì biết cảm nhận sự biến chuyển trong công tác của Đức Thánh Linh; anh ta biết được khi nào thì Đức Thánh Linh đang làm việc và khi nào thì không; anh ta biết cách thông công trong khi đang mang trọng trách, và anh ta nhận biết được trạng thái bình của công việc Đức Chúa Trời và trạng thái bình thường của sự trưởng thành trong đời sống của con người. Người như vậy thì làm việc đã nhiều năm và biết về công việc của Đức Thánh Linh. Những người đã làm việc lâu năm thì nói chuyện một cách chắc chắn và từ tốn; thậm chí khi họ không có gì để nói họ vẫn điềm tĩnh. Từ bên trong, họ có thể tiếp tục cầu nguyện để tìm kiếm công tác của Đức Thánh Linh. Họ có kinh nghiệm làm việc. Một người đã làm việc lâu năm, người đã có nhiều kinh nghiệm và đã học nhiều bài học, thì có nhiều thứ bên trong cản trở công tác của Đức Thánh Linh; đây là một khuyến khuyết của sự làm việc lâu năm của anh ta. Một người vừa mới bắt đầu làm việc thì chưa bị pha tạp bởi những bài học hay kinh nghiệm của con người, và nhất là không biết gì về cách Đức Thánh Linh làm việc. Tuy nhiên, trong quá trình làm việc, anh ta dần học cách cảm nhận Đức Thánh Linh làm việc như thế nào, và trở nên nhận biết được những gì cần làm để có được công tác của Đức Thánh Linh, những gì cần làm để đánh trúng những điểm trọng yếu của người khác, và những kiến thức chung khác mà những ai làm việc đều nên sở hữu. Qua thời gian, anh ta bắt đầu biết được những điều khôn ngoan và kiến thức chung về làm việc như trong lòng bàn tay, và dường như sử dụng nó dễ dàng khi làm việc. Tuy nhiên, khi Đức Thánh Linh thay đổi cách Ngài làm việc, anh ta vẫn bám lấy những kiến thức và phép tắc làm việc cũ của anh ta, và biết rất ít về những động lực mới trong công việc. Nhiều năm làm việc và có đầy đủ sự hiện diện và hướng dẫn của Đức Thánh Linh đã cho anh ta ngày càng nhiều bài học và kinh nghiệm làm việc hơn bao giờ hết. Những điều như thế trang bị cho anh ta một sự tự tin mà không phải kiêu hãnh. Nói cách khác, anh ta khá hài lòng với công việc của chính mình và hài lòng với kiến thức chung mà anh ta đã đạt được về công tác của Đức Thánh Linh. Cụ thể, việc đạt được hoặc nhận ra được những thứ mà người khác chưa làm được đã cho anh ta thêm nhiều sự tự tin hơn nữa về bản thân mình; dường như công tác của Đức Thánh Linh bên trong anh ta không thể nào bị chấm dứt; trong khi những người khác không đủ tư cách cho sự biệt đãi này. Chỉ có những người thuộc loại như anh ta, những người đã làm việc nhiều năm và việc sử dụng họ có giá trị đáng kể, mới đủ tư cách để vui hưởng điều này. Những điều này trở thành một chướng ngại lớn cho anh ta để tiếp nhận công tác mới của Đức Thánh Linh. Thậm chí nếu anh ta có thể chấp nhận công tác mới, anh ta không thể làm vậy một sớm một chiều. Anh ta chắc chắn phải trải qua vài gian truân trắc trở trước khi chấp nhận nó. Tình huống này chỉ có thể đảo ngược dần sau khi những quan niệm cũ của anh ta được xử lý và tâm tính cũ của anh ta được phán xét. Nếu không trải qua các bước này, anh ta sẽ không từ bỏ và không dễ chấp nhận những lời huấn dạy và công việc mới mà không hợp với các quan niệm cũ của anh ta. Đây là điều khó xử lý nhất trong con người, và điều này không dễ thay đổi. Là một người làm công, nếu anh ta vừa có được hiểu biết về công tác của Đức Thánh Linh, vừa đúc kết được về động lực của nó, và nếu anh ta có khả năng không bị hạn chế bởi kinh nghiệm làm việc của mình và có thể chấp nhận công việc mới nhờ lợi thế từ công việc cũ, thì anh ta là một người làm công khôn ngoan và đủ tư cách. Mọi người thường như thế này: Họ làm việc vài năm mà vẫn không thể đúc kết được kinh nghiệm làm việc cho mình, hoặc sau khi đã đúc kết kinh nghiệm và mưu trí trong công việc, họ gặp trở ngại trong việc tiếp nhận công việc mới, và không thể hiểu đúng hay xử lý thích hợp việc cũ và việc mới. Mọi người thật khó để đối phó! Hầu hết các ngươi đều như thế này. Những kẻ đã trải nghiệm nhiều năm công tác của Đức Thánh Linh thấy khó chấp nhận công việc mới, và họ luôn chất chứa những quan niệm mà họ không thể gạt bỏ, trong khi đó một người vừa bắt đầu làm việc thì lại thiếu kiến thức chung về công việc, và thậm chí không biết cách xử lý vài chuyện đơn giản nhất. Con người các ngươi thật sự là khó! Những kẻ có một ít thâm niên thì quá kiêu hãnh và tự đắc đến mức họ quên mất họ đến từ đâu. Họ luôn coi thường người trẻ hơn, vậy mà họ không thể tiếp nhận công việc mới và không thể từ bỏ các quan niệm họ đã tích lũy và nắm giữ qua nhiều năm. Mặc dù những người trẻ thiếu hiểu biết thì có thể chấp nhận một ít công tác mới của Đức Thánh Linh, và họ khá là hăng hái, nhưng họ luôn trở nên rối bời và không biết phải làm gì khi các vấn đề nảy sinh. Họ hăng hái nhưng lại thiếu hiểu biết. Họ chỉ có một chút kiến thức về công tác của Đức Thánh Linh và không thể sử dụng nó trong đời sống của họ; đó chỉ toàn là giáo lý vô dụng. Có quá nhiều người như các ngươi; bao nhiêu người phù hợp để sử dụng đây? Bao nhiêu người có thể tuân phục sự khai sáng và soi sáng của Đức Thánh Linh và phù hợp được với ý muốn của Đức Chúa Trời đây? Có vẻ như những người trong các ngươi là môn đệ cho đến ngày nay đã rất vâng phục, nhưng thực ra các ngươi chưa từ bỏ các quan niệm của mình, các người vẫn tìm kiếm trong Kinh Thánh, tin vào những điều mơ hồ, và lan man trong các quan niệm. Chẳng có một ai nghiên cứu cẩn thận công việc thực sự của ngày nay hay đi sâu vào nó. Các ngươi đang chấp nhận đường lối của ngày nay cùng với những quan niệm cũ của các ngươi. Các ngươi có thể đạt được gì với một niềm tin như vậy? Có thể nói rằng trong các ngươi có nhiều quan niệm ẩn giấu và chưa được tỏ lộ, chỉ là các ngươi đang cố gắng tột độ để giấu giếm mà không tiết lộ chúng một cách dễ dàng. Các ngươi không chấp nhận công việc mới một cách chân thành, và không có ý định từ bỏ các quan niệm cũ của các ngươi; các ngươi có quá nhiều những triết lý sống, và chúng quá nặng nề. Các ngươi không từ bỏ các quan niệm cũ của mình và miễn cưỡng đối phó với công việc mới. Tâm các ngươi thật nham hiểm, và các ngươi đơn giản chẳng khắc ghi vào lòng các bước của công việc mới. Liệu những kẻ vô dụng như các ngươi có thể làm công việc lan truyền phúc âm được không? Liệu các ngươi có thể đảm nhận công việc lan truyền nó cho toàn cõi vũ trụ hay không? Những tập quán này của các ngươi đang cản trở các ngươi trong việc chuyển hóa tâm tính của mình và biết đến Đức Chúa Trời. Nếu các ngươi cứ tiếp tục như thế này, các ngươi buộc phải bị loại bỏ.

Các ngươi phải biết phân biệt giữa công việc của Đức Chúa Trời và công việc của con người. Ngươi có thể thấy gì trong công việc của con người? Có nhiều yếu tố về kinh nghiệm của con người trong công việc của họ; những gì con người bày tỏ là những gì về họ. Công tác của chính Đức Chúa Trời cũng bày tỏ Ngài là gì, nhưng hữu thể của Ngài thì khác với của con người. Hữu thể của con người đại diện cho kinh nghiệm và cuộc sống của con người (những gì con người trải nghiệm hoặc gặp phải trong cuộc sống, hoặc những triết lý sống mà họ có), và những người sống ở các môi trường khác nhau thì bày tỏ những hữu thể khác nhau. Liệu rằng ngươi có kinh nghiệm xã hội hay không, và ngươi thực sự đang sống và trải nghiệm thế nào trong gia đình của ngươi, đều có thể thấy được trong những gì ngươi bày tỏ, trong khi đó ngươi không thể thấy được trong công tác của Đức Chúa Trời nhập thể liệu rằng Ngài có các kinh nghiệm xã hội hay không. Ngài nhận thức rõ về bản chất của con người, và có thể tỏ lộ đủ loại thói quen thuộc về đủ loại người. Ngài thậm chí còn giỏi hơn trong việc vạch trần những tâm tính bại hoại và hành vi nổi loạn của con người. Ngài không sống giữa những con người trần tục, nhưng Ngài nhận thức được về bản tính của người phàm và mọi điều bại hoại của con người trần tục. Đây là hữu thể của Ngài. Mặc dù Ngài không ứng phó với thế giới, Ngài vẫn biết các qui tắc để ứng phó với thế giới, vì Ngài hoàn toàn hiểu bản tính của con người. Ngài biết về công tác của Thần mà mắt người thường không thể thấy và tai người thường không thể nghe, cả ngày nay và trong quá khứ. Điều này bao gồm cả sự khôn ngoan mà không phải là một triết lý sống và điều kỳ diệu mà con người cảm thấy khó hiểu thấu. Đây là hữu thể của Ngài, cởi mở với con người và cũng ẩn giấu khỏi con người. Những gì Ngài bày tỏ không phải hữu thể của một con người phi thường, mà là những thuộc tính vốn có và hữu thể của Thần. Ngài không đi du hành thế giới nhưng biết mọi thứ về nó. Ngài tiếp xúc với những “dã nhân" chẳng có chút kiến thức hay sự thông sáng nào, nhưng Ngài bày tỏ lời cao hơn kiến thức và trên tầm những vĩ nhân. Ngài sống giữa một nhóm người đần độn và trơ lì, những kẻ chẳng có nhân tính và chẳng hiểu về tập tục và đời sống của con người, nhưng Ngài có thể yêu cầu nhân loại sống trọn nhân tính bình thường, đồng thời vạch trần nhân tính thấp hèn của nhân loại. Tất cả những điều này là hữu thể của Ngài, cao cả hơn hữu thể của bất cứ con người bằng xương bằng thịt nào. Đối với Ngài, chẳng cần thiết phải trải nghiệm một đời sống xã hội phức tạp, cồng kềnh và bẩn thỉu mới có thể làm công tác mà Ngài cần làm và vạch trần được triệt để bản chất của nhân loại sa ngã. Một đời sống xã hội bẩn thỉu không bù đắp được xác thịt Ngài. Công việc và lời Ngài chỉ vạch trần sự bất tuân của con người và không cung cấp cho con người kinh nghiệm và các bài học để ứng phó với thế giới. Ngài chẳng cần phải dò xét xã hội hay gia đình của con người khi Ngài cung cấp cho con người sự sống. Phơi bày và phán xét con người không phải là sự bày tỏ những kinh nghiệm của xác thịt Ngài; đó là sự tỏ lộ của Ngài về sự bất chính của con người sau khi đã biết về sự bất tuân của con người trong một thời gian dài và ghê tởm sự bại hoại của loài người. Công việc Ngài làm đều nhằm phơi bày tâm tính của con người và bày tỏ hữu thể của Ngài. Chỉ có Ngài mới có thể làm công tác này, đây không phải là thứ mà một con người bằng xương bằng thịt có thể đạt được. Từ công tác của Ngài, con người không thể biết Ngài thuộc loại người nào. Con người cũng không thể phân loại Ngài như một con người thọ tạo dựa trên công tác của Ngài. Hữu thể của Ngài cũng khiến Ngài không thể được phân loại như một con người thọ tạo. Con người chỉ có thể xem Ngài như một đối tượng phi nhân loại, nhưng không biết xếp Ngài vào tiêu chí nào, vì vậy con người buộc phải xếp Ngài vào cùng tiêu chí với Đức Chúa Trời. Con người không vô lý khi làm như vậy, bởi Đức Chúa Trời đã làm nhiều việc giữa mọi người mà con người không thể làm.

Công tác Đức Chúa Trời làm không đại diện cho kinh nghiệm của xác thịt Ngài; công việc con người làm thì lại đại diện cho kinh nghiệm của họ. Mọi người đều nói về kinh nghiệm cá nhân của họ. Đức Chúa Trời có thể trực tiếp bày tỏ lẽ thật, trong khi con người chỉ có thể bày tỏ những kinh nghiệm tương ứng sau khi trải nghiệm lẽ thật. Công tác của Đức Chúa Trời không có các quy tắc và không chịu các ràng buộc về thời gian hay địa lý. Ngài có thể bày tỏ Ngài là gì bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu. Ngài làm việc khi Ngài muốn. Công việc của con người có những điều kiện và bối cảnh; nếu không có chúng, họ sẽ không thể làm việc và không thể bày tỏ kiến thức của họ về Đức Chúa Trời hay trải nghiệm của họ về lẽ thật. Để biết được liệu một việc gì đó là công việc của chính Đức Chúa Trời hay công việc của con người, ngươi chỉ cần so sánh những khác biệt giữa hai công việc. Nếu không có công tác nào do chính Đức Chúa Trời thực hiện, và chỉ có công việc của con người, thì ngươi sẽ chỉ đơn giản biết rằng những lời dạy của con người là cao xa, vượt khỏi khả năng của bất kỳ ai khác; giọng điệu họ nói, những nguyên tắc của họ khi xử lý mọi việc, và phong cách làm việc từng trải và chắc chắn của họ đều vượt khỏi tầm với của người khác. Hết thảy các ngươi đều ngưỡng mộ những người có tố chất tốt đẹp và kiến thức cao xa này, nhưng ngươi không thể nhìn thấy từ công tác và những lời của Đức Chúa Trời rằng nhân tính của Ngài cao xa ra sao. Thay vào đó, Ngài thật bình thường, và khi làm việc thì Ngài bình thường và thực tế nhưng cũng khó lường đối với người phàm, điều đó khiến con người có cảm giác tôn kính đối với Ngài. Có thể kinh nghiệm của một người trong công việc của họ là đặc biệt dày dạn, hay sức tưởng tượng và lý luận của anh ta đặc biệt giỏi, và nhân tính của anh ta đặc biệt tốt; những thuộc tính như thế chỉ khiến con người ngưỡng mộ, chứ không gợi lên ở họ sự kính sợ hay sợ hãi. Con người chỉ ngưỡng mộ những người có thể làm việc tốt, người có kinh nghiệm đặc biệt sâu sắc và có thể thực hành lẽ thật, nhưng họ không bao giờ có thể gợi lên niềm kính sợ, mà chỉ có ngưỡng mộ và ghen tỵ. Nhưng những người đã trải nghiệm công tác của Đức Chúa Trời thì không ngưỡng mộ Ngài; thay vào đó họ cảm thấy rằng công tác của Ngài là vượt khỏi tầm của con người và không thể hiểu thấu đối với con người, và rằng nó thật tươi mới và kỳ diệu. Khi con người trải nghiệm công tác của Đức Chúa Trời, hiểu biết đầu tiên của họ về Ngài là Ngài thật không thể hiểu thấu, khôn ngoan và kỳ diệu, và họ vô thức tôn kính Ngài và cảm thấy sự mầu nhiệm trong công tác Ngài làm, điều vượt khỏi tầm của tâm trí con người. Con người chỉ mong muốn có thể đáp ứng các yêu cầu của Ngài, thỏa các ước muốn của Ngài; họ không mong muốn vượt qua Ngài bởi vì công tác mà Ngài làm vượt khỏi suy nghĩ và tưởng tượng của con người, và không thể được con người thực hiện thay Ngài. Ngay cả bản thân con người còn không biết được những khiếm khuyết của chính họ, thế mà Đức Chúa Trời đã mở ra một con đường mới và đã đến để đưa con người vào một thế giới mới hơn và đẹp hơn, và vì vậy mà nhân loại đã có được bước tiến mới và có được một khởi đầu mới. Những gì con người cảm nhận về Ngài không phải là sự ngưỡng mộ, mà đúng hơn, không chỉ là sự ngưỡng mộ. Cảm nghiệm sâu sắc nhất của họ là sự kính sợ và tình yêu thương, cảm giác của họ là Đức Chúa Trời thật sự kỳ diệu. Ngài làm những việc con người không thể làm và nói những điều con người không thể nói. Những người đã trải nghiệm công tác của Ngài luôn có một cảm xúc không thể tả. Những người có những trải nghiệm đủ sâu thì có thể hiểu tình yêu của Đức Chúa Trời; họ có thể cảm nhận được sự đáng yêu của Ngài, cảm nhận rằng công tác của Ngài thật quá trí tuệ, quá kỳ diệu, và do đó có một sức mạnh vô hạn được tạo ra giữa họ. Đó không phải là sự sợ hãi hay một tình yêu và sự tôn kính thảng hoặc, mà là một ý thức sâu sắc về lòng ắc trẩn của Đức Chúa Trời dành cho con người và sự bao dung của Ngài. Tuy nhiên, những người đã trải qua hình phạt và phán xét của Ngài thì cảm nhận được sự oai nghi của Ngài và rằng Ngài không dung thứ cho bất kỳ sự xúc phạm nào. Thậm chí những người đã trải nghiệm nhiều công tác của Ngài cũng không thể hiểu thấu Ngài; tất cả những ai thực sự tôn kính Ngài đều biết rằng công tác của Ngài không hợp với những quan niệm của con người mà luôn đi ngược lại các quan niệm của họ. Ngài không cần con người phải ngưỡng mộ Ngài tuyệt đối hay tỏ vẻ vâng phục với Ngài, mà thay vào đó họ phải có lòng tôn kính thực sự và sự vâng phục thực sự. Trong rất nhiều công tác của Ngài, bất cứ ai có kinh nghiệm thực sự đều cảm thấy tôn kính đối với Ngài, điều còn cao hơn cả sự ngưỡng mộ. Con người đã thấy được tâm tính của Ngài qua công tác hành phạt và phán xét của Ngài, và họ vì vậy mà tôn kính Ngài trong lòng họ. Đức Chúa Trời là để được tôn kính và vâng phục, bởi hữu thể và tâm tính của Ngài không giống như của một loài thọ tạo, và cao cả hơn của một loài thọ tạo. Đức Chúa Trời là tự hữu và bất diệt, Ngài không phải là một loài thọ tạo, và chỉ có Đức Chúa Trời mới xứng đáng với sự tôn kính và vâng phục; con người không đủ tư cách cho điều này. Như vậy, hết thảy những người đã trải nghiệm công tác của Ngài và thực sự biết Ngài đều cảm thấy sự tôn kính đối với Ngài. Tuy nhiên, những ai không từ bỏ các quan niệm của họ về Ngài – những ai đơn giản không xem Ngài là Đức Chúa Trời – thì không có bất kỳ sự tôn kính nào đối với Ngài, và mặc dù họ theo Ngài, họ không được chinh phục; họ là những kẻ bất tuân từ trong bản chất. Những gì Ngài muốn đạt được bằng cách làm việc như vậy là để cho muôn loài thọ tạo đều có lòng tôn kính Đấng Tạo Hóa, thờ phượng Ngài, và vâng phục vô điều kiện trước sự thống trị của Ngài. Đây là kết quả cuối cùng mà mọi công tác của Ngài đều nhằm đạt được. Nếu những người đã trải nghiệm công tác như thế mà không tôn kính Đức Chúa Trời, dù chỉ một chút, và nếu sự bất tuân của họ trong quá khứ không thay đổi chút nào, thì họ chắc chắn sẽ bị loại bỏ. Nếu thái độ của một người đối với Đức Chúa Trời chỉ là ngưỡng mộ Ngài, hoặc bày tỏ sự kính trọng từ xa và không yêu thương dù một chút nào, thì đây là kết quả mà một người không có lòng yêu thương Đức Chúa Trời đã đạt được, và người đó thiếu các điều kiện để được làm cho hoàn hiện. Nếu quá nhiều công việc vẫn không thể nhận được tình yêu thương chân thật của một người, thì người đó chưa có được Đức Chúa Trời và không thực sự theo đuổi lẽ thật. Một người không yêu thương Đức Chúa Trời thì không yêu lẽ thật và như thế không thể có được Đức Chúa Trời, càng không thể nhận lãnh sự chấp thuận của Đức Chúa Trời. Những người như thế, bất kể họ trải nghiệm công tác của Đức Thánh Linh như thế nào, và bất kể họ trải nghiệm sự phán xét như thế nào, vẫn không thể tôn kính Đức Chúa Trời. Đây là những người có bản tính không thể thay đổi và là những người có tâm tính cực kỳ gian ác. Hết thảy những ai không tôn kính Đức Chúa Trời đều sẽ bị loại bỏ, là đối tượng của sự trừng phạt, và sẽ bị trừng phạt y như những kẻ làm việc xấu xa, phải chịu đựng thậm chí còn hơn những kẻ đã làm những điều bất chính.

Trước:Biết ba giai đoạn công tác của Đức Chúa Trời là con đường để biết Đức Chúa Trời

Tiếp theo:Nhân loại bại hoại càng cần hơn sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời nhập thể

Nội dung liên quan