D. Sự khác biệt giữa công tác của Đức Chúa Trời và của con người

451. Công tác của riêng Đức Chúa Trời bao gồm công tác của toàn nhân loại, và nó cũng đại diện cho công tác của cả một thời đại, có nghĩa là công tác của chính Đức Chúa Trời đại diện cho mọi động lực và khuynh hướng trong công tác của Đức Thánh Linh, trong khi công tác của các sứ đồ thì đến sau công tác của riêng Đức Chúa Trời và bắt nguồn từ đó, chứ không dẫn dắt thời đại, cũng không đại diện cho những khuynh hướng công tác của Đức Thánh Linh trong toàn thời đại. Họ chỉ thực hiện công việc mà con người phải làm, hoàn toàn không có gì liên quan đến công tác quản lý. Công tác chính Đức Chúa Trời thực hiện là một công trình trong phạm vi công tác quản lý. Công việc của con người chỉ là bổn phận mà những người được tin dùng thực hiện, và nó không liên quan đến công tác quản lý. Mặc dù chúng đều là công tác của Đức Thánh Linh, do những khác biệt trong thân phận và sự đại diện của công tác, nên có những khác biệt rõ ràng về thực chất giữa công tác của chính Đức Chúa Trời và công việc của con người. Hơn nữa, phạm vi công tác được Đức Thánh Linh thực hiện thay đổi trên các đối tượng mang thân phận khác nhau. Đây là các nguyên tắc và phạm vi công tác của Đức Thánh Linh.

Trích từ “Công tác của Đức Chúa Trời và công việc của Con Người” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

452. Lời của Đức Chúa Trời nhập thể mở ra một thời đại mới, dẫn dắt toàn bộ nhân loại, tiết lộ những mầu nhiệm, và cho con người thấy phương hướng mà họ sẽ đi trong thời đại mới. Sự khai sáng mà con người đạt được chỉ là những hướng dẫn đơn giản để thực hành hay có được kiến thức. Nó không thể dẫn dắt toàn nhân loại vào thời đại mới hay tiết lộ những mầu nhiệm của chính Đức Chúa Trời. Sau cùng, Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời, và con người là con người. Đức Chúa Trời có thực chất của Đức Chúa Trời, và con người có thực chất của con người.

Trích từ Lời tựa của Lời xuất hiện trong xác thịt

453. Đức Chúa Trời nhập thể thực chất khác với những người được Đức Chúa Trời sử dụng. Đức Chúa Trời nhập thể có khả năng làm các công tác của thần tính, trong khi những người được Đức Chúa Trời sử dụng thì không thể. Mở đầu mỗi thời đại, Thần của Đức Chúa Trời đích thân phán dạy và khởi động kỷ nguyên mới để đưa con người vào một sự khởi đầu mới. Khi Đức Chúa Trời đã phán dạy xong, cũng là lúc đánh dấu công tác của Đức Chúa Trời trong thần tính của Đức Chúa Trời được hoàn tất. Sau đó, tất cả mọi người đều theo sự dẫn dắt của những người được Đức Chúa Trời sử dụng đặng bước vào sự cảm nghiệm cuộc sống.

Trích từ “Sự khác nhau cơ bản giữa Đức Chúa Trời nhập thể và người được Đức Chúa Trời sử dụng” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

454. Công tác của Đức Chúa Trời nhập thể bắt đầu một kỷ nguyên mới, và những ai tiếp tục công tác của Ngài là những người được Ngài sử dụng. Tất cả công việc do con người thực hiện đều nằm trong chức vụ của Đức Chúa Trời trong xác thịt, và nó không thể vượt ngoài phạm vi này. Nếu Đức Chúa Trời nhập thể không đến để thực hiện công tác của Ngài, thì con người sẽ không thể kết thúc thời đại cũ và không thể mở ra một kỷ nguyên mới. Công tác được thực hiện bởi con người chỉ đơn thuần nằm trong phạm vi bổn phận mà con người có thể làm được, và nó không đại diện cho công tác của Đức Chúa Trời. Chỉ Đức Chúa Trời nhập thể mới có thể đến và hoàn tất công tác mà Ngài nên làm, và ngoài Ngài ra, không ai có thể làm công tác này thay cho Ngài. Tất nhiên, điều mà Ta phán liên quan đến công tác của sự nhập thể.

Trích từ “Nhân loại bại hoại càng cần hơn sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời nhập thể” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

455. Công việc được thực hiện bởi người được Đức Chúa Trời sử dụng là để cộng tác với công việc của Đấng Christ hay của Đức Thánh Linh. Người này được Đức Chúa Trời dựng lên giữa con người, để dẫn dắt tất cả những người được chọn của Đức Chúa Trời, và ông cũng được Đức Chúa Trời dựng lên để làm công việc cộng tác của con người. Với một người có khả năng thực hiện công việc phối hợp của con người như thế, những yêu cầu của Đức Chúa Trời đối với con người và công việc của Đức Thánh Linh phải làm trong con người có thể được thành toàn nhiều hơn qua họ. Điều này nói một cách khác, chính là: Mục tiêu của Đức Chúa Trời trong việc dùng con người này là để cho tất cả những người theo Đức Chúa Trời có thể hiểu rõ hơn ý muốn của Ngài, và đạt được nhiều hơn những đòi hỏi của Đức Chúa Trời. Vì con người không có khả năng hiểu một cách trực tiếp lời của Đức Chúa Trời hay ý muốn của Ngài, cho nên Đức Chúa Trời đã lập nên một người được dùng để thực hiện công việc như thế. Người được dùng bởi Đức Chúa Trời này có thể được mô tả như là một người trung gian, mà qua họ Đức Chúa Trời hướng dẫn con người, với tư cách “người diễn giải” liên lạc giữa Đức Chúa Trời và con người. Do đó, một người như thế khác với những người làm việc trong nhà Đức Chúa Trời hay những người làm sứ đồ của Ngài. Giống như họ, người này có thể được gọi là người hầu việc Đức Chúa Trời, nhưng trong thực chất công việc của người đó và bối cảnh được Đức Chúa Trời dùng khác hơn rất nhiều so với những người làm công khác và các sứ đồ. Về mặt thực chất của công việc và bối cảnh được sử dụng, người được Đức Chúa Trời dùng được Ngài dấy lên, được Đức Chúa Trời chuẩn bị cho công việc của Ngài và người này phối hợp trong công việc của chính Đức Chúa Trời. Không ai có thể làm thay cho công việc của người này bao giờ – đây là sự phối hợp của con người, không thể thiếu bên cạnh công việc của thánh thần. Trong khi đó, công việc được những người làm công hay các sứ đồ thực hiện chỉ là truyền đạt và triển khai sự sắp xếp về nhiều phương diện cho các hội thánh trong mỗi giai đoạn, hoặc chỉ là công việc cung cấp sự sống đơn giản để duy trì đời sống hội thánh. Những người làm công và các sứ đồ ấy không được Đức Chúa Trời chỉ định, càng không thể được gọi là người được Đức Thánh Linh sử dụng. Họ được chọn lựa từ trong các hội thánh, và sau khi được huấn luyện và được bồi dưỡng một thời gian, những người thích hợp tiếp tục, còn những người không thích hợp bị trả về nơi xuất phát. Vì những người này được chọn lựa giữa vòng các hội thánh, có một số phô bày bản chất thật của họ sau khi trở thành người lãnh đạo, và một số hậm chí làm nhiều điều xấu và sau cùng bị loại ra. Người được Đức Chúa Trời dùng, mặt khác, chính là người được Đức Chúa Trời chuẩn bị, họ sở hữu một tố chất nhất định và có nhân tính. Họ đã được chuẩn bị và được làm cho hoàn thiện từ trước bởi Đức Thánh Linh, và được dẫn dắt hoàn toàn bởi Đức Thánh Linh, và đặc biệt khi nói đến công việc, họ được Đức Thánh Linh hướng dẫn và điều khiển – kết quả của việc này là chẳng có sự sai lệch nào trên con đường dẫn dắt những người được Đức Chúa Trời chọn, vì Đức Chúa Trời chắc chắn chịu trách nhiệm về công việc của chính Ngài, và trong mọi thời đại Đức Chúa Trời luôn làm công việc của chính Ngài.

Trích từ “Về Việc Đức Chúa Trời Sử Dụng Con Người” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

456. Ngay cả một người được Đức Thánh Linh sử dụng cũng không thể đại diện cho chính Đức Chúa Trời được. Điều này không chỉ có nghĩa là một người như vậy không thể đại diện cho Đức Chúa Trời, mà còn có nghĩa là công việc họ làm không thể đại diện trực tiếp cho Đức Chúa Trời được. Nói cách khác, kinh nghiệm của con người không thể được đặt trực tiếp vào trong sự quản lý của Đức Chúa Trời, và nó không thể đại diện cho sự quản lý của Đức Chúa Trời. Công tác mà chính Đức Chúa Trời thực hiện hoàn toàn là công tác mà Ngài dự định thực hiện trong kế hoạch quản lý của chính Ngài và nó gắn liền với sự quản lý vĩ đại. Công tác được con người thực hiện bao gồm việc cung cấp kinh nghiệm cá nhân của họ. Nó bao gồm việc tìm ra một con đường trải nghiệm mới vượt ra khỏi con đường mà những người đi trước đã đặt chân, và việc hướng dẫn anh chị em của họ trong khi chịu sự hướng dẫn của Đức Thánh Linh. Những gì mà những người này cung cấp là kinh nghiệm cá nhân của họ hoặc các tác phẩm tâm linh của những con người tâm linh. Mặc dù những người này được Đức Thánh Linh sử dụng, nhưng công việc họ làm không liên quan đến công tác quản lý vĩ đại trong kế hoạch sáu nghìn năm. Họ chỉ đơn thuần là những người đã được Đức Thánh Linh dấy lên trong các thời kỳ khác nhau để dẫn dắt mọi người trong dòng chảy của Đức Thánh Linh, cho đến khi các chức năng mà họ có thể thực hiện đã chấm dứt hoặc cho đến khi cuộc sống của họ kết thúc. Công việc họ làm chỉ là chuẩn bị một con đường thích hợp cho chính Đức Chúa Trời hoặc tiếp tục một khía cạnh nhất định trong sự quản lý của chính Đức Chúa Trời trên đất. Tự bản thân họ, những người này không thể làm công tác quản lý vĩ đại hơn của Ngài, họ cũng chẳng thể mở ra những lối thoát mới, càng chẳng có ai trong số họ có thể khép lại tất cả công tác của Đức Chúa Trời từ thời đại trước. Do đó, công việc họ làm chỉ đại diện cho một tạo vật đang thực hiện chức năng của mình và không thể đại diện cho chính Đức Chúa Trời thực hiện chức vụ của Ngài được. Điều này là do công tác họ làm khác với công tác do chính Đức Chúa Trời làm. Công tác mở ra một thời đại mới không phải là điều có thể được thực hiện bởi con người thay cho Đức Chúa Trời. Nó không thể được thực hiện bởi bất kỳ ai khác ngoài bản thân Đức Chúa Trời. Tất cả các công tác do con người thực hiện bao gồm việc thực hiện nghĩa vụ của họ như một tạo vật và được thực hiện khi họ được Đức Thánh Linh cảm thúc hoặc khai sáng. Sự hướng dẫn mà những người này cung cấp hoàn toàn bao gồm việc cho con người thấy con đường thực hành trong đời sống hàng ngày và cách họ nên hành động cho hòa hợp với ý muốn của Đức Chúa Trời. Công tác của con người không bao hàm sự quản lý của Đức Chúa Trời, cũng không đại diện cho công tác của Thần. … vì công tác của những người được Đức Thánh Linh sử dụng khác với công tác do chính Đức Chúa Trời thực hiện, nên thân phận của họ và chủ thể mà họ thay mặt hành động cũng khác nhau như thế. Điều này là do các công tác mà Đức Thánh Linh dự định thực hiện là khác nhau, và vì lý do này, những người cùng làm công tác được ban cho các thân phận và địa vị khác nhau. Những người được Đức Thánh Linh sử dụng cũng có thể làm một số công tác mới và cũng có thể loại bỏ một số công tác đã được thực hiện trong thời đại trước, nhưng những gì họ làm không thể bày tỏ tâm tính và ý muốn của Đức Chúa Trời trong thời đại mới. Họ làm việc chỉ để loại bỏ công tác của thời đại cũ, chứ không phải để làm công tác mới với mục đích trực tiếp đại diện cho tâm tính của chính Đức Chúa Trời. Do đó, cho dù họ có bãi bỏ bao nhiêu thực hành lỗi thời hoặc họ có giới thiệu bao nhiêu thực hành mới đi nữa, thì họ vẫn đại diện cho con người và những tạo vật. Tuy nhiên, khi chính Đức Chúa Trời thực hiện công tác, Ngài không công khai tuyên bố bãi bỏ các thực hành của thời đại cũ hoặc trực tiếp tuyên bố bắt đầu một thời đại mới. Ngài trực tiếp và thẳng thắn trong công tác của Ngài. Ngài quả quyết trong việc thực hiện công tác mà Ngài dự định làm; nghĩa là, Ngài trực tiếp bày tỏ công tác mà Ngài đã mang đến, trực tiếp thực hiện công tác của Ngài như dự định ban đầu, bày tỏ hữu thể và tâm tính của Ngài. Như con người thấy, tâm tính của Ngài và công tác của Ngài cũng khác với những điều ở thời đại trước. Tuy nhiên, từ góc độ của chính Đức Chúa Trời, đây chỉ đơn thuần là sự tiếp nối và phát triển xa hơn của công tác Ngài. Khi chính Đức Chúa Trời làm việc, Ngài bày tỏ lời của Ngài và trực tiếp mang đến công tác mới. Ngược lại, khi con người làm việc, đó là thông qua sự cân nhắc và nghiên cứu, hoặc đó là một sự mở mang kiến thức và sự hệ thống hóa của việc thực hành dựa trên công việc của người khác. Điều đó có nghĩa là, thực chất của công tác mà con người thực hiện là tuân theo một trật tự đã được thiết lập và “đi trên những con đường cũ trong đôi giày mới”. Điều này có nghĩa là ngay cả con đường mà những người được Đức Thánh Linh sử dụng đã đi cũng được xây dựng trên những điều đã được chính Đức Chúa Trời khởi đầu. Vì vậy, sau tất cả, con người vẫn là con người, và Đức Chúa Trời vẫn là Đức Chúa Trời.

Trích từ “Lẽ mầu nhiệm của sự nhập thể (1)” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

457. Khi các đấng tiên tri và những người được Đức Thánh Linh sử dụng đó phán và làm việc, thì đây là để thực hiện bổn phận của con người, để thực hiện chức năng của một loài thọ tạo, và là điều mà con người nên làm. Tuy nhiên, những lời và công tác của Đức Chúa Trời nhập thể là để thực hiện chức vụ của Ngài. Dù mang dáng vẻ bề ngoài của một loài thọ tạo, công tác của Ngài không phải là thực hiện chức năng của Ngài mà là chức vụ của Ngài. Từ “bổn phận” được sử dụng khi nói về loài thọ tạo, trong khi “chức vụ” được sử dụng khi nói về xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể. Có một sự khác biệt về bản chất giữa hai thuật ngữ này; chúng không thể thay thế cho nhau. Công việc của con người chỉ là làm bổn phận của họ, trong khi công tác của Đức Chúa Trời là quản lý, và thực hiện chức vụ của Ngài. Do đó, dù nhiều sứ đồ đã được Đức Thánh Linh sử dụng và nhiều đấng tiên tri đã được phú cho đầy dẫy Ngài, nhưng công việc và lời của họ chỉ đơn thuần là thực hiện bổn phận của mình như những loài thọ tạo. Những lời tiên tri của họ có thể vượt lên trên con đường sự sống mà Đức Chúa Trời nhập thể đã phán, và nhân tính của họ có thể thậm chí còn vượt Đức Chúa Trời nhập thể, nhưng họ vẫn đang thực hiện bổn phận của họ, chứ không phải đang thực hiện chức vụ của họ. Bổn phận của con người nói đến chức năng của con người; nó là điều con người có thể đạt được. Tuy nhiên, chức vụ do Đức Chúa Trời nhập thể thực hiện liên quan đến sự quản lý của Ngài, và điều này không thể đạt được bởi con người. Cho dù Đức Chúa Trời nhập thể có phán dạy, làm việc, hoặc làm những phép lạ hay không, thì Ngài cũng đang thực hiện công tác vĩ đại giữa sự quản lý của Ngài, và công tác như thế con người không thể làm thay Ngài. Công việc của con người là chỉ làm bổn phận của họ như một loài thọ tạo trong một giai đoạn đã định trong công tác quản lý của Đức Chúa Trời. Không có sự quản lý của Đức Chúa Trời, tức là, nếu chức vụ của Đức Chúa Trời nhập thể không còn, thì bổn phận của một loài thọ tạo sẽ không còn. Công tác của Đức Chúa Trời trong việc thực hiện chức vụ của Ngài là để quản lý con người, trong khi việc thực hiện bổn phận của con người là làm tròn nghĩa vụ của chính họ nhằm đáp ứng các yêu cầu của Đấng Tạo Hóa và không thể nào được xem là thực hiện chức vụ của một người. Đối với bản chất vốn có của Đức Chúa Trời – đối với Thần của Ngài – công tác của Đức Chúa Trời là sự quản lý của Ngài, nhưng đối với Đức Chúa Trời nhập thể, Đấng mặc lấy dáng vẻ bề ngoài của một loài thọ tạo, thì công tác của Ngài là thực hiện chức vụ của Ngài. Bất kỳ việc gì Ngài làm là để thực hiện chức vụ của Ngài; tất cả những gì con người có thể làm là cống hiến hết sức mình trong phạm vi quản lý của Đức Chúa Trời và dưới sự dẫn dắt của Ngài.

Trích từ “Sự khác nhau giữa chức vụ của Đức Chúa Trời nhập thể và bổn phận của con người” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

458. Lời nói của Ta đại diện cho hữu thể của Ta, nhưng những gì Ta nói vượt khỏi tầm của con người. Những gì Ta nói không phải những gì con người trải nghiệm, và nó không phải là thứ gì con người có thể nhìn thấy được, cũng chẳng phải thứ gì con người có thể chạm tới được, mà là những gì về Ta. Một số người chỉ thừa nhận rằng những gì Ta thông công là những gì Ta đã trải nghiệm, nhưng họ không nhận ra rằng đó là sự bày tỏ trực tiếp của Thần. Dĩ nhiên, những gì Ta nói là những gì Ta đã trải nghiệm. Chính Ta đã thực hiện công việc quản lý trong sáu ngàn năm. Ta đã trải nghiệm mọi thứ từ buổi đầu tạo dựng nhân loại cho đến nay; làm sao Ta không thể thảo luận về điều đó được? Khi nói về bản tính con người, Ta đã thấy rõ nó; Ta đã quan sát nó từ lâu. Làm sao Ta không thể nói về nó một cách rõ ràng được? Vì Ta đã thấy rõ bản chất của con người, Ta đủ tư cách để hành phạt con người và phán xét họ, bởi vì hết thảy con người đều đến từ Ta nhưng đã bị Sa-tan làm cho bại hoại. Dĩ nhiên, Ta cũng đủ tư cách để đánh giá công tác mà Ta đã thực hiện. Mặc dù công tác này không được thực hiện bởi xác thịt của Ta, nhưng đó là sự bày tỏ trực tiếp của Thần, và đây là những gì Ta có và những gì Ta là. Vì thế, Ta đủ tư cách để bày tỏ về nó và làm công việc mà Ta phải làm. Những gì con người nói là những gì họ đã trải nghiệm. Đó là những gì họ đã nhìn thấy, những gì tâm trí của họ có thể đạt tới, và những gì các giác quan của họ có thể cảm nhận được. Đó là những gì họ có thể thông công. Những lời do Đức Chúa Trời nhập thể phán ra là sự bày tỏ trực tiếp của Thần và chúng bày tỏ về công tác đã được thực hiện bởi Thần, điều mà xác thịt chưa từng trải nghiệm hay nhìn thấy, thế nhưng Ngài vẫn bày tỏ hữu thể của Ngài bởi vì thực chất của xác thịt là Thần, và Ngài bày tỏ công tác của Thần. Đó là công tác đã được Thần thực hiện, mặc dù nó vượt tầm xác thịt. Sau khi nhập thể, thông qua sự bày tỏ của xác thịt, Ngài đã khiến mọi người có thể biết được hữu thể của Đức Chúa Trời, và cho mọi người thấy được tâm tính của Đức Chúa Trời và công tác Ngài đã làm. Công việc của con người cho con người sự rõ ràng hơn về những gì họ nên bước vào và những gì họ nên hiểu biết; điều đó bao gồm việc dẫn dắt con người tới sự hiểu biết và trải nghiệm lẽ thật. Công việc của con người là nhằm giữ vững con người; còn công tác của Đức Chúa Trời là nhằm mở ra những con đường mới và những kỷ nguyên mới cho nhân loại, và mặc khải cho con người những điều mà người phàm không hay tỏ, giúp họ biết được tâm tính của Ngài. Công tác của Đức Chúa Trời là dẫn dắt toàn bộ nhân loại.

Trích từ “Công tác của Đức Chúa Trời và công việc của Con Người” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

459. Công việc của con người biểu thị kinh nghiệm và nhân tính của họ. Những gì con người cung cấp và công việc mà họ thực hiện đại diện cho họ. Mọi sự thấu suốt, lý luận, lô-gic và óc tưởng tượng phong phú của con người đều được chứa đựng trong công việc của họ. Kinh nghiệm của con người đặc biệt có thể biểu thị công việc của họ, và những kinh nghiệm của một người trở thành những hợp phần trong công việc của họ. Công việc của con người có thể bày tỏ kinh nghiệm của họ. Khi một số người trải nghiệm một cách tiêu cực, thì hầu hết ngôn ngữ thông công của họ sẽ gồm những yếu tố tiêu cực. Nếu trải nghiệm của họ trong một giai đoạn là tích cực và họ đặc biệt có một con đường trên phương diện tích cực, thì sự thông công của họ đầy khích lệ, và mọi người có thể nhận được nguồn cung tích cực từ họ. Nếu một người làm công trở nên tiêu cực trong một giai đoạn, thì sự thông công của anh ta sẽ luôn mang các yếu tố tiêu cực. Loại thông công này thật chán ngắt, và những người khác sẽ vô thức trở nên buồn chán theo sự thông công của anh ta. Trạng thái của những môn đệ thay đổi dựa theo trạng thái của người dẫn dắt. Bất kể một người làm công như thế nào từ bên trong, thì đó là những gì anh ta bày tỏ, và công tác của Đức Thánh Linh thường thay đổi theo tình trạng của con người. Ngài làm việc theo kinh nghiệm của con người và không áp đặt họ, mà chỉ đưa ra những yêu cầu cho con người theo quá trình trải nghiệm bình thường của họ. Điều này có nghĩa là sự thông công của con người khác với lời Đức Chúa Trời. Những gì mọi người thông công truyền tải những điều thông sáng và kinh nghiệm cá nhân của họ, bày tỏ những điều thông sáng và kinh nghiệm của họ trên cơ sở công tác của Đức Chúa Trời. Trách nhiệm của họ là phải tìm ra được, sau khi Đức Chúa Trời làm việc hay phán dạy, những gì trong đó mà họ phải thực hành hay bước vào, và sau đó truyền đạt lại cho các môn đệ. Do đó, công việc của con người đại diện cho sự bước vào và thực hành của họ. Dĩ nhiên, những công việc như thế này bị pha trộn với những bài học và kinh nghiệm của con người, hoặc một số tư tưởng của họ. Bất kể Đức Thánh Linh làm việc như thế nào, dù là trên con người hay trong Đức Chúa Trời nhập thể, thì những người làm công luôn bày tỏ con người họ. Mặc dù là Đức Thánh Linh làm việc, nhưng công việc được đặt trên cơ sở những gì con người vốn có, bởi vì Đức Thánh Linh không làm việc gì mà không có cơ sở. Nói cách khác, công việc không đến từ hư vô, mà luôn được thực hiện phù hợp với các tình huống và điều kiện thực tế. Chỉ bằng cách này thì tâm tính của con người mới có thể được chuyển hóa và những quan niệm và tư tưởng cũ kỹ của họ mới có thể được thay đổi. Những gì con người bày tỏ là những gì họ nhìn thấy, cảm nghiệm và có thể tưởng tượng và có thể đạt được theo suy nghĩ của con người, cho dù đó có là học thuyết hay những quan niệm. Công việc của con người không thể vượt quá phạm vi kinh nghiệm của con người, những gì họ thấy, hay những gì họ có thể tưởng tượng hay nhận thức được bất kể quy mô của công việc đó thế nào. Tất cả những gì Đức Chúa Trời bày tỏ là những gì về chính Ngài, và điều này không thể đạt được bởi con người – nghĩa là vượt quá tầm suy nghĩ của con người. Ngài bày tỏ công tác dẫn dắt toàn nhân loại của Ngài, và điều này không liên quan đến các chi tiết trong kinh nghiệm của con người, mà thay vào đó là liên quan đến kế hoạch quản lý của riêng Ngài. Những gì con người bày tỏ là kinh nghiệm của họ, trong khi những gì Đức Chúa Trời bày tỏ là hữu thể của Ngài, đó là tâm tính cố hữu của Ngài, vượt ra khỏi tầm với của con người. Kinh nghiệm của con người là sự thông sáng và kiến thức lĩnh hội được dựa trên sự bày tỏ của Đức Chúa Trời về hữu thể của Ngài. Sự thông sáng và kiến thức như thế gọi là hữu thể của con người, và cơ sở cho sự bày tỏ chúng là tâm tính và tố chất cố hữu của con người; đây là lí do vì sao chúng cũng được gọi là hữu thể của con người. Con người có thể thông công những gì họ trải nghiệm và nhìn thấy. Không ai có thể thông công những gì họ chưa từng trải nghiệm, chưa từng nhìn thấy, hay tư duy của họ không thể đạt tới, đó là những thứ họ không thể có bên trong mình. Nếu những gì con người bày tỏ không phải từ kinh nghiệm của mình, thì đó là trí tưởng tượng của họ hoặc là giáo lý. Nói đơn giản là không có chút hiện thực nào trong lời họ. Nếu ngươi chưa từng tiếp xúc với những thứ trong xã hội, thì ngươi không thể nào thông công một cách rõ ràng về các mối quan hệ phức tạp trong xã hội. Nếu ngươi không có gia đình mà người khác lại nói về những chuyện gia đình thì ngươi sẽ không hiểu phần lớn những gì họ nói. Như thế, những gì con người thông công và công việc họ làm đại diện cho hữu thể nội tại của họ.

Trích từ “Công tác của Đức Chúa Trời và công việc của Con Người” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

460. Công việc của con người nằm trong một phạm vi và bị hạn chế. Một người chỉ có thể làm công việc của một giai đoạn nhất định, và không thể làm công việc của cả một thời đại – nếu không, anh ta sẽ dẫn dắt con người vào giữa các phép tắc. Công việc của con người chỉ có thể áp dụng cho một thời gian hoặc một giai đoạn cụ thể. Đó là bởi trải nghiệm của con người có phạm vi của nó. Không thể so sánh công việc của con người với công tác của Đức Chúa Trời. Lối thực hành và kiến thức của con người về lẽ thật đều khả dụng trong một phạm vi nhất định. Ngươi không thể nói rằng con đường mà con người đang bước đi hoàn toàn là ý muốn của Đức Thánh Linh, bởi vì con người chỉ có thể được khai sáng bởi Đức Thánh Linh, và không thể hoàn toàn được đầy dẫy Đức Thánh Linh. Những thứ mà con người có thể trải nghiệm đều nằm trong phạm vi nhân tính bình thường và không thể vượt khỏi giới hạn của những tư tưởng trong tâm trí con người bình thường. Tất cả những người có thể sống trọn hiện thực của lẽ thật đều trải nghiệm nội trong phạm vi này. Khi họ trải nghiệm lẽ thật, đó luôn là một trải nghiệm của đời sống con người bình thường được Đức Thánh Linh khai sáng; đó không phải một cách trải nghiệm lệch lạc với đời sống con người bình thường. Họ trải nghiệm lẽ thật được khai sáng bởi Đức Thánh Linh trên cơ sở sống cuộc sống con người của họ. Hơn nữa, lẽ thật này biến đổi theo từng người, và chiều sâu của nó liên quan đến trạng thái của con người. Một người chỉ có thể nói rằng con đường họ đi là cuộc sống con người bình thường của một người đang theo đuổi lẽ thật, và nó có thể được gọi là con đường được đi bởi một người bình thường được Đức Thánh Linh khai sáng. Một người không thể nói rằng con đường họ bước đi là con đường của Đức Thánh Linh đi. Trong trải nghiệm bình thường của con người, bởi vì những người theo đuổi là không giống nhau, nên công tác của Đức Thánh Linh cũng không giống nhau. Thêm vào đó, bởi vì môi trường con người trải nghiệm và các phạm vi kinh nghiệm của họ là không giống nhau, và bởi sự pha trộn của tâm trí và tư tưởng của họ, nên kinh nghiệm của họ bị pha trộn ở các cấp độ khác nhau. Mỗi người hiểu về lẽ thật theo các điều kiện cá nhân khác nhau của họ. Hiểu biết của họ về ý nghĩa thật sự của lẽ thật là không trọn vẹn, và đó chỉ là một hay một vài phương diện của nó. Phạm vi lẽ thật mà con người trải nghiệm khác nhau giữa người này với người khác, phù hợp với những điều kiện của mỗi người. Theo cách này, kiến thức về cùng một lẽ thật, khi được bày tỏ bởi những người khác nhau thì không giống nhau. Điều này có nghĩa là, kinh nghiệm của con người luôn có những hạn chế và không thể đại diện trọn vẹn cho ý chí của Đức Thánh Linh, công việc của con người cũng không thể được hiểu như là công tác của Đức Chúa Trời, cho dù những gì con người bày tỏ rất gần với ý muốn của Đức Chúa Trời, và cho dù trải nghiệm của con người rất gần với công việc hoàn thiện mà Đức Thánh Linh thực hiện. Con người chỉ có thể là tôi tớ của Đức Chúa Trời, thực hiện các công việc mà Đức Chúa Trời tín thác cho họ. Con người chỉ có thể bày tỏ kiến thức được Đức Thánh Linh khai sáng và những lẽ thật đạt được từ những trải nghiệm cá nhân của họ. Con người không đủ tư cách và không đáp ứng các điều kiện để làm phương tiện bày tỏ của Đức Thánh Linh. Họ không được quyền nói rằng công việc của họ là công tác của Đức Chúa Trời. Con người có các nguyên tắc làm việc của con người, và hết thảy mọi người đều có các kinh nghiệm khác nhau và sở hữu các điều kiện khác nhau. Công việc của con người bao gồm toàn bộ các trải nghiệm của họ dưới sự khai sáng của Đức Thánh Linh. Những kinh nghiệm này chỉ có thể đại diện cho hữu thể của con người và không đại diện cho hữu thể của Đức Chúa Trời hay ý chí của Đức Thánh Linh. Do đó, con đường mà con người đi không thể được cho là con đường mà Đức Thánh Linh đi, bởi vì công việc của con người không thể đại diện cho công tác của Đức Chúa Trời, và công việc cũng như kinh nghiệm của con người không phải là toàn bộ ý chí của Đức Thánh Linh.

Trích từ “Công tác của Đức Chúa Trời và công việc của Con Người” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

461. Có ít sự sai lệch hơn nhiều trong công việc của những người đã qua tỉa sửa, xử lý, phán xét và hành phạt, và sự bày tỏ từ công việc của họ là chính xác hơn nhiều. Những ai dựa vào sự hồn nhiên của họ để làm việc thì gây ra khá nhiều lỗi nghiêm trọng. Công việc của những người chưa được hoàn thiện thể hiện quá nhiều sự hồn nhiên của bản thân họ, khiến công tác của Đức Thánh Linh gặp một trở ngại lớn. Cho dù tố chất của một người tốt đến đâu, họ vẫn phải trải qua sự tỉa sửa, xử lý và phán xét trước khi họ có thể thực hiện công việc được Đức Chúa Trời ủy nhiệm. Nếu họ chưa trải qua sự phán xét như thế, thì công việc của họ, cho dù có được thực hiện tốt thế nào đi nữa, cũng không thể phù hợp với các nguyên tắc của lẽ thật, và luôn là một sản phẩm của sự hồn nhiên và thiện lành của con người nơi chính bản thân họ. Công việc của những ai đã qua tỉa sửa, xử lý, và phán xét thì chính xác hơn nhiều so với công việc của những ai chưa được tỉa sửa, xử lý, và phán xét. Những ai chưa qua phán xét thì chẳng bày tỏ được gì ngoài nhục dục và những tư tưởng của con người, pha trộn với rất nhiều trí tuệ con người và tài năng thiên bẩm. Đây không phải là sự bày tỏ chuẩn xác của con người về công tác của Đức Chúa Trời. Những ai đi theo những người như vậy đến với họ bởi tố chất vốn có của họ. Bởi vì họ bày tỏ quá nhiều sự thấu suốt và kinh nghiệm của con người, những điều gần như chẳng can hệ gì với ý định ban đầu của Đức Chúa Trời, và lệch lạc quá xa khỏi nó, những công việc của kiểu người này thì không thể mang con người đến trước Đức Chúa Trời, mà thay vào đó là mang họ đến trước con người. Vì vậy, những ai chưa qua phán xét và hành phạt thì không đủ tư cách để thực hiện công việc được Đức Chúa Trời ủy nhiệm. … Nếu một người chưa được làm cho hoàn thiện và tâm tính bại hoại của anh ta chưa được tỉa sửa và xử lý, thì sẽ có một khoảng cách lớn giữa những gì anh ta bày tỏ và lẽ thật; những gì anh ta bày tỏ sẽ bị pha trộn với những thứ mơ hồ như là sự tưởng tượng và kinh nghiệm phiến diện của anh ta. Hơn nữa, bất kể anh ta làm việc như thế nào, người ta vẫn cảm thấy rằng không có một mục tiêu chung và không có lẽ thật phù hợp để tất cả mọi người bước vào. Phần lớn những gì được yêu cầu đối với mọi người đều nằm ngoài khả năng của họ, như kiểu lùa vịt lên cây. Đây là công việc theo ý muốn của con người. Bản tính bại hoại của con người, những quan niệm và tư tưởng của họ xâm nhập khắp mọi phần cơ thể họ. Con người bẩm sinh không có bản năng thực hành lẽ thật, cũng không có bản năng để hiểu lẽ thật một cách trực tiếp. Cộng với tâm tính bại hoại của người đó – khi loại người hồn nhiên này làm việc, chẳng phải điều đó gây ra những gián đoạn sao? Nhưng một người đã được hoàn thiện thì có kinh nghiệm về lẽ thật mà con người cần hiểu, và kiến thức về những tâm tính bại hoại của họ, hầu cho những thứ mơ hồ và hư ảo trong công việc của anh ta giảm dần, những sự pha tạp của con người trở nên ít hơn, và công việc cũng như sự phụng sự của anh ta tiến gần hơn bao giờ hết tới những tiêu chuẩn mà Đức Chúa Trời yêu cầu. Vì thế mà công việc của anh ta đã bước vào hiện thực của lẽ thật và cũng đã trở nên thiết thực. Những tư tưởng trong tâm trí con người đặc biệt cản trở công tác của Đức Thánh Linh. Con người có trí tưởng tượng phong phú, lô-gic hợp lý và họ đã có kinh nghiệm dày dạn để xử lý các vấn đề. Nếu tất cả những khía cạnh này của con người không qua tỉa sửa và chấn chỉnh, thì chúng đều là những chướng ngại vật cho công việc. Vì thế mà công việc của con người không thể đạt đến mức độ chính xác cao nhất, đặc biệt là công việc của những người chưa được hoàn thiện.

Trích từ “Công tác của Đức Chúa Trời và công việc của Con Người” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

462. Công việc của con người có xu hướng rơi vào những phép tắc, cách thức làm việc của họ dễ bị gò bó vào một phạm vi hạn chế, và không thể dẫn dắt con người đến một đường lối tự do. Hầu hết các môn đệ sống trong một phạm vi giới hạn, và cách trải nghiệm của họ cũng bị hạn chế trong phạm vi đó. Kinh nghiệm của con người luôn bị hạn chế; phương pháp làm việc của họ cũng bị giới hạn vào một số kiểu và không thể so sánh với công tác của Đức Thánh Linh hay công tác của chính Đức Chúa Trời. Điều này là bởi kinh nghiệm của con người rốt cuộc cũng bị hạn chế. Dù Đức Chúa Trời thực hiện công tác của Ngài như thế nào đi nữa, nó cũng không bị bó buộc bởi các phép tắc; cho dù nó được thực hiện như thế nào đi nữa cũng không bị giới hạn vào một phương pháp nào. Không có bất cứ phép tắc nào cho công tác của Đức Chúa Trời – mọi công tác của Ngài đều được giải phóng và tự do. Cho dù con người có theo Ngài bao lâu thì họ cũng không thể chắt lọc được bất cứ quy luật nào chi phối cách làm việc của Đức Chúa Trời. Mặc dù công tác của Ngài có nguyên tắc, nhưng nó luôn được thực hiện theo những cách mới và luôn có những phát triển mới, và nó vượt quá tầm với của con người. Trong một thời kỳ, Đức Chúa Trời có thể có vài kiểu công tác khác nhau và những cách dẫn dắt con người khác nhau, khiến con người luôn có được những lối vào và những thay đổi mới mẻ. Ngươi không thể nhận thấy được các quy luậttrong công tác của Ngài bởi vì Ngài luôn làm việc theo những cách mới và chỉ có như vậy mà những môn đệ của Đức Chúa Trời mới không trở nên bị bó buộc bởi các phép tắc. Công tác của chính Đức Chúa Trời luôn tránh những quan niệm của con người và ngược lại với chúng. Chỉ những ai đi theo và theo đuổi Ngài với tấm lòng chân thật mới có thể chuyển hóa được tâm tính của họ và có thể sống cách tự do, không phải chịu bất kỳ các phép tắc nào, hay bị bó buộc bởi bất kỳ các quan niệm tôn giáo nào. Công việc của con người đưa ra các đòi hỏi cho con người dựa trên kinh nghiệm của chính họ và những gì bản thân họ có thể đạt được. Tiêu chuẩn cho những yêu cầu này được giới hạn trong một phạm vi nhất định, và các phương cách thực hành cũng rất hạn chế. Những môn đệ vì vậy mà sống nội trong phạm vi giới hạn này một cách vô thức; qua thời gian, những điều này trở thành những phép tắc và nghi thức. Nếu công việc của một giai đoạn được dẫn dắt bởi một người chưa từng trải qua sự hoàn thiện bởi đích thân Đức Chúa Trời, và chưa nhận lãnh sự phán xét, thì những môn đệ của anh ta hết thảy sẽ trở thành những người cuồng tín và những chuyên gia trong việc chống lại Đức Chúa Trời. Do đó, nếu ai đó là một người dẫn dắt đủ tư cách, thì người đó đã phải trải qua sự phán xét và đã nhận lãnh việc được hoàn thiện. Những ai chưa từng trải qua sự phán xét, thì cho dù họ có được công tác của Đức Thánh Linh, họ cũng chỉ bày tỏ được những thứ mơ hồ và hão huyền. Theo thời gian, họ sẽ dẫn dắt con người vào các phép tắc mơ hồ và siêu nhiên. Công việc mà Đức Chúa Trời thể hiện không hợp với xác thịt của con người. Nó không hợp với những tư tưởng của con người mà còn trái ngược với các quan niệm của họ; nó không bị nhuốm màu sắc tôn giáo mơ hồ. Các kết quả công tác của Đức Chúa Trời không thể được gặt hái bởi một người chưa được Ngài làm cho hoàn thiện; chúng vượt khỏi tầm tư duy của con người.

Trích từ “Công tác của Đức Chúa Trời và công việc của Con Người” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

463. Công việc trong tâm trí con người thì quá dễ để con người đạt được. Các mục sư và lãnh đạo trong giới tôn giáo chẳng hạn, họ dựa vào tài năng và chức vụ để làm công việc của họ. Những người theo họ trong thời gian dài sẽ bị nhiễm bởi những tài năng của họ và chịu ảnh hưởng bởi một số thứ thuộc về hữu thể của họ. Họ tập trung vào tài năng, khả năng, và tri thức của con người, và họ chú ý đến vào những thứ siêu nhiên và nhiều giáo lý cao xa hão huyền (dĩ nhiên, những giáo lý cao xa này là không thể đạt được). Họ không tập trung vào việc thay đổi tâm tính con người, mà thay vào đó tập trung vào huấn luyện con người để giảng đạo và làm việc, nâng cao kiến thức và các giáo lý tôn giáo phong phú của họ. Họ không tập trung vào việc tâm tính của con người đã thay đổi bao nhiêu, hay con người hiểu được bao nhiêu về lẽ thật. Họ không liên hệ bản thân họ với thực chất của con người, càng không cố gắng để biết được các trạng thái bình thường và bất thường của con người. Họ không phản đối các quan niệm của con người hay tỏ lộ các quan niệm của họ, càng không tỉa sửa mọi người vì những khiếm khuyết hay sự bại hoại của họ. Hầu hết những người theo họ phục vụ vì tài năng tự nhiên của họ, và những gì họ đưa ra là những quan niệm tôn giáo và lí thuyết thần học, những điều hoàn toàn không thực tế và hoàn toàn không thể trao sự sống cho con người. Thực ra, thực chất công việc của họ là nuôi dưỡng tài năng, nuôi dưỡng một người từ không có gì trở thành một cử nhân trường dòng tài năng, để sau đó lại tiếp tục làm việc và lãnh đạo. Ngươi có thể nhận ra được bất kỳ quy luật nào trong sáu ngàn năm công việc của Đức Chúa Trời không? Có nhiều phép tắc và hạn chế trong công việc mà con người thực hiện, và bộ óc con người thì quá giáo điều. Vì vậy, những gì con người bày tỏ là kiến thức và những nhận thức trong phạm vi kinh nghiệm của họ. Con người không thể bày tỏ bất cứ thứ gì ngoài thứ này. Kinh nghiệm và kiến thức của con người không tăng lên nhờ những tài năng bẩm sinh hay bản năng của họ, mà tăng lên bởi sự hướng dẫn và sự chăn dắt trực tiếp của Đức Chúa Trời. Con người chỉ có khả năng nhận lãnh sự chăn dắt này, và không có khả năng bày tỏ trực tiếp được những gì thuộc về thần tính. Con người không thể là nguồn cung, họ chỉ có thể là một chiếc bình để nhận lãnh nước từ nguồn cung. Đây là bản năng của con người, là khả năng mà một người cần có khi là một con người. Nếu một người đánh mất khả năng nhận lãnh lời Đức Chúa Trời và đánh mất bản năng con người, thì người đó cũng mất đi điều quý giá nhất, và mất đi bổn phận của loài người thọ tạo. Nếu một người không có kiến thức hay kinh nghiệm gì về lời Đức Chúa Trời hay công tác của Ngài, thì người đó đánh mất bổn phận của họ, bổn phận họ phải thực hiện với tư cách một loài thọ tạo, và đánh mất phẩm giá của một loài thọ tạo. Chính bản năng của Đức Chúa Trời là bày tỏ những gì thuộc về thần tính, dù cho nó được bày tỏ trong xác thịt hay trực tiếp bởi Thần; đây là chức vụ của Đức Chúa Trời. Con người bày tỏ những kinh nghiệm hoặc kiến thức của chính họ (nghĩa là bày tỏ những gì về họ) trong lúc thực hiện công tác của Đức Chúa Trời hoặc sau đó; đây là bản năng của con người, bổn phận của con người, và đó là điều con người nên đạt được. Mặc dù sự bày tỏ của con người còn nhiều thiếu sót so với những gì Đức Chúa Trời bày tỏ, và mặc dù sự bày tỏ của con người bị bó buộc bởi nhiều phép tắc, con người vẫn phải thực hiện bổn phận họ phải thực hiện và làm những gì họ phải làm. Con người nên làm mọi thứ có thể đối với con người để thực hiện bổn phận của họ, và họ không nên có một chút dè dặt nào dù là nhỏ nhất.

Trích từ “Công tác của Đức Chúa Trời và công việc của Con Người” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

464. Một số người sẽ hỏi: “Sự khác biệt giữa công tác được Đức Chúa Trời nhập thể thực hiện và công tác của các tiên tri và các sứ đồ thời xưa là gì? Đa-vít cũng đã được gọi là Đức Chúa Trời, và Jêsus cũng vậy; mặc dù công tác họ đã làm là khác nhau, nhưng họ đều đã được gọi cùng một tên. Nói tôi nghe, tại sao bạn lại nói thân phận của họ không giống nhau? Những gì Giăng đã chứng kiến là một khải tượng, điều cũng đã đến từ Đức Thánh Linh, và người đã có thể nói những lời mà Đức Thánh Linh định nói; tại sao thân phận của Giăng lại khác với của Jêsus?” Những lời Jêsus phán ra đã có thể đại diện đầy đủ cho Đức Chúa Trời, và đã đại diện đầy đủ cho công tác của Đức Chúa Trời. Những gì Giăng đã thấy là một khải tượng, và người không có khả năng đại diện hoàn toàn cho công tác của Đức Chúa Trời. Tại sao Giăng, Phi-e-rơ và Phao-lô đã nói nhiều lời – như Jêsus đã phán – nhưng họ lại không có cùng thân phận với Jêsus? Chủ yếu là vì công tác mà họ đã làm là khác nhau. Jêsus đại diện cho Thần của Đức Chúa Trời, và là Thần của Đức Chúa Trời hoạt động trực tiếp. Ngài đã làm công tác của thời đại mới, công tác mà chưa ai từng làm trước đó. Ngài đã mở ra một con đường mới, Ngài đã đại diện cho Đức Giê-hô-va, và Ngài đã đại diện cho chính Đức Chúa Trời. Trong khi với Phi-e-rơ, Phao-lô và Đa-vít, bất kể họ được gọi là gì, họ chỉ đại diện cho thân phận của một loài thọ tạo của Đức Chúa Trời, và đã được sai phái bởi Jêsus hoặc Đức Giê-hô-va. Vì vậy, cho dù họ đã làm bao nhiêu công tác, cho dù họ đã thực hiện những lẽ mầu nhiệm vĩ đại ra sao, họ vẫn chỉ là những loài thọ tạo của Đức Chúa Trời, và không có khả năng đại diện cho Thần của Đức Chúa Trời. Họ đã làm việc nhân danh Đức Chúa Trời hoặc sau khi được Đức Chúa Trời sai phái; hơn nữa, họ đã làm việc trong những thời đại do Jêsus hoặc Đức Giê-hô-va mở đầu, và họ đã không làm công tác nào khác. Xét cho cùng, họ đơn thuần chỉ là những loài thọ tạo của Đức Chúa Trời mà thôi.

Trích từ “Xét về danh xưng và thân phận” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

465. Trong Thời đại Ân điển, Jêsus cũng phán nhiều và làm nhiều công tác. Ngài đã khác với I-sai-a như thế nào? Ngài đã khác với Đa-ni-ên như thế nào? Ngài có phải là một đấng tiên tri không? Tại sao người ta đã nói rằng Ngài là Đấng Christ? Những sự khác biệt giữa họ là gì? Họ đều là những người phán ra lời, và những lời của họ ít nhiều đều giống nhau với con người. Họ đều phán dạy và làm việc. Các đấng tiên tri của Cựu Uớc đã phán những lời tiên tri, và tương tự, Jêsus cũng vậy. Tại sao lại như vậy? Sự khác biệt ở đây dựa trên bản chất công việc. Để phân biệt vấn đề này, ngươi không thể xem xét bản chất của xác thịt, ngươi cũng không nên xem xét độ sâu hay nông trong lời họ. Luôn luôn, ngươi trước tiên phải xem xét công tác của họ và những hiệu quả mà công tác của họ đạt được trong con người. Những lời tiên tri đã được các đấng tiên tri phán ra thời đó đã không chu cấp sự sống của con người, và những linh hứng mà những người như I-sai-a và Đa-ni-ên đã nhận được chỉ đơn thuần là những lời tiên tri, và không phải là con đường sự sống. Nếu không vì sự mặc khải trực tiếp của Đức Giê-hô-va, thì không ai có thể làm việc đó, điều không thể đối với người phàm. Jêsus cũng phán rất nhiều lời, nhưng những lời đó là con đường sự sống mà từ đó con người có thể tìm ra cách để thực hành. Điều đó có nghĩa là, thứ nhất, Ngài đã có thể chu cấp sự sống của con người, bởi Jêsus là sự sống; thứ hai, Ngài đã có thể đảo ngược hướng đi sai trật của con người; thứ ba, công tác của Ngài có thể kế tục công tác của Đức Giê-hô-va để xúc tiến thời đại; thứ tư, Ngài đã có thể nắm bắt được những nhu cầu bên trong con người và hiểu được con người thiếu những gì; thứ năm, Ngài có thể mở ra một thời đại mới và kết thúc thời đại cũ. Đó là lý do vì sao Ngài được gọi là Đức Chúa Trời và Đấng Christ; Ngài không những khác với I-sai-a mà còn khác với tất cả các đấng tiên tri khác. Hãy lấy I-sai-a để so sánh về công việc của các đấng tiên tri. Thứ nhất, ông không thể chu cấp sự sống của con người; thứ nhì, ông không thể mở ra một thời đại mới. Ông đã làm việc dưới sự dẫn dắt của Đức Giê-hô-va và không mở ra một thời đại mới. Thứ ba, những lời ông đã phán ra vượt tầm của ông. Ông đã nhận lãnh những sự mặc khải trực tiếp từ Thần của Đức Chúa Trời, và những người khác sẽ không thể hiểu được, dù cho đã nghe thấy chúng. Vài điều này thôi cũng đủ để chứng minh rằng những lời nói của ông không hơn gì những lời tiên tri, không hơn gì một khía cạnh công tác được làm thay cho Đức Giê-hô-va. Tuy nhiên, ông không thể hoàn toàn đại diện cho Đức Giê-hô-va. Ông là tôi tớ của Đức Giê-hô-va, một công cụ trong công tác của Đức Giê-hô-va. Ông chỉ làm công tác trong Thời đại Luật pháp và trong phạm vi công tác của Đức Giê-hô-va; ông đã không làm công tác vượt quá Thời đại Luật pháp. Ngược lại, công tác của Jêsus thì khác. Ngài đã vượt quá phạm vi công tác của Đức Giê-hô-va; Ngài đã làm việc như Đức Chúa Trời nhập thể và trải qua sự đóng đinh trên thập tự để cứu chuộc cả nhân loại. Điều đó có nghĩa là, Ngài đã thực hiện công tác mới ngoài công tác đã được thực hiện bởi Đức Giê-hô-va. Đây là sự mở ra một thời đại mới. Thêm nữa, Ngài đã có thể phán về những điều con người không thể đạt được. Công tác của Ngài là công tác trong phạm vi sự quản lý của Đức Chúa Trời và liên quan đến toàn thể nhân loại. Ngài đã làm việc không chỉ trong một vài người, công tác của Ngài cũng không có nghĩa là dẫn dắt một số người có giới hạn. Về việc Đức Chúa Trời đã nhập thể thành người như thế nào, Thần đã mặc khải vào thời đó như thế nào, và Thần đã giáng xuống con người để làm việc ra sao – đây là những vấn đề con người không thể thấy hay chạm vào được. Những lẽ thật này hoàn toàn không thể được dùng làm bằng chứng cho việc Ngài là Đức Chúa Trời nhập thể. Như thế, sự phân biệt chỉ có thể được thực hiện trong những lời và công tác của Đức Chúa Trời, là những gì hữu hình đối với con người. Chỉ có điều này là thực tế. Đây là vì các vấn đề của Thần thì ngươi không thể nhìn thấy được và chỉ có chính Đức Chúa Trời mới biết một cách rõ ràng, và thậm chí xác thịt nhập thể của Đức Chúa Trời cũng không biết tất cả mọi điều; ngươi chỉ có thể xác minh xem Ngài có phải là Đức Chúa Trời hay không từ công tác Ngài đã làm. Từ công tác của Ngài, có thể thấy được rằng, thứ nhất, Ngài có thể mở ra một thời đại mới; thứ hai, Ngài có thể chu cấp sự sống của con người và chỉ cho con người con đường để đi theo. Điều này đủ để chứng minh rằng Ngài là chính Đức Chúa Trời. Ít nhất là, công tác Ngài làm hoàn toàn có thể đại diện cho Thần của Đức Chúa Trời, và từ công tác đó có thể thấy rằng Thần của Đức Chúa Trời ở trong Ngài. Vì công tác do Đức Chúa Trời nhập thể thực hiện chủ yếu là mở ra một thời đại mới, dẫn dắt công tác mới, và mở ra một cõi mới, chỉ những điều này thôi cũng đủ để chứng minh rằng Ngài là chính Đức Chúa Trời. Vì thế, điều này phân biệt Ngài với I-sai-a, Đa-ni-ên, và những nhà tiên tri vĩ đại khác.

Trích từ “Sự khác nhau giữa chức vụ của Đức Chúa Trời nhập thể và bổn phận của con người” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

466. Trong Thời đại Ân điển, Giăng đã dọn đường cho Jêsus. Giăng đã không thể làm công tác của chính Đức Chúa Trời mà chỉ đơn thuần hoàn thành nghĩa vụ của con người. Mặc dù Giăng là đấng tiên phong của Đức Chúa Trời, nhưng ông không thể đại diện cho Đức Chúa Trời; ông chỉ là một con người được Đức Thánh Linh sử dụng mà thôi. Sau khi Jêsus được làm phép báp-têm, Đức Thánh Linh đã ngự xuống trên Ngài như hình chim bồ câu. Sau đó, Ngài đã bắt đầu công tác của mình, nghĩa là Ngài đã bắt đầu thực hiện chức vụ của Đấng Christ. Đó là lý do Ngài mang thân phận của Đức Chúa Trời, vì Ngài đã đến từ Đức Chúa Trời. Bất kể đức tin của Ngài ra sao trước sự kiện này – đức tin ấy đôi khi có thể đã yếu đuối, hoặc đôi khi mạnh mẽ – tất cả đều thuộc về cuộc đời con người bình thường mà Ngài đã sống trước khi thực hiện chức vụ của mình. Sau khi Ngài đã chịu báp-têm (nghĩa là đã được xức dầu), quyền năng và sự vinh hiển của Đức Chúa Trời ngay lập tức ở cùng Ngài, và như thế Ngài đã bắt đầu thực hiện chức vụ của mình. Ngài có thể làm những dấu kỳ sự lạ, thực hiện những phép mầu, Ngài có quyền năng và thẩm quyền, vì Ngài đang trực tiếp hành động nhân danh chính Đức Chúa Trời; Ngài đang làm công tác thay mặt cho Thần và đang bày tỏ tiếng phán của Thần. Vì vậy, Ngài chính là Đức Chúa Trời; điều này là không thể bàn cãi. Giăng là người đã được Đức Thánh Linh sử dụng. Ông không thể đại diện cho Đức Chúa Trời, ông cũng không có khả năng đại diện cho Đức Chúa Trời. Nếu ông có muốn làm như vậy, thì Đức Thánh Linh hẳn cũng đã không cho phép điều đó, vì ông không thể làm công tác mà chính Đức Chúa Trời dự định hoàn thành. Có lẽ phần nhiều trong ông là ý muốn của con người, hay thứ gì đó lệch lạc; chẳng có tình huống nào mà ông có thể trực tiếp đại diện cho Đức Chúa Trời. Những lỗi lầm và sai lầm của ông chỉ đại diện cho bản thân ông, nhưng công tác của ông là đại diện của Đức Thánh Linh. Tuy nhiên, ngươi không thể nói rằng mọi thứ của ông đều đại diện cho Đức Chúa Trời. Có thể nào sự lệch lạc và sai lầm của ông cũng đại diện cho Đức Chúa Trời sao? Sai sót trong việc đại diện cho con người là điều bình thường, nhưng nếu một người lệch lạc trong việc đại diện cho Đức Chúa Trời, thì chẳng phải đó sẽ là sỉ nhục Đức Chúa Trời sao? Chẳng phải đó sẽ là sự phạm thượng đối với Đức Thánh Linh sao? Đức Thánh Linh không dễ dàng cho phép con người thay thế cho Đức Chúa Trời, ngay cả khi họ được những người khác tôn cao. Nếu họ không phải là Đức Chúa Trời, thì cuối cùng họ sẽ không thể đứng vững. Đức Thánh Linh không cho phép con người đại diện cho Đức Chúa Trời như con người muốn! Chẳng hạn, chính Đức Thánh Linh đã làm chứng cho Giăng và cũng chính Đức Thánh Linh đã mặc khải Giăng sẽ là người dọn đường cho Jêsus, nhưng công tác Đức Thánh Linh thực hiện trên ông đã được cân nhắc kỹ càng. Tất cả những gì Giăng được yêu cầu là trở thành người dọn đường cho Jêsus, để chuẩn bị lối cho Ngài. Điều đó có nghĩa là, Đức Thánh Linh đã chỉ ủng hộ công việc dọn đường của ông và chỉ cho phép ông làm công việc đó mà thôi – ông không được phép làm công việc nào khác. Giăng đại diện cho Ê-li, và ông đại diện cho một nhà tiên tri đã mở đường. Đức Thánh Linh đã ủng hộ ông làm điều này; miễn là công việc của ông là mở đường, thì Đức Thánh Linh ủng hộ ông. Tuy nhiên, nếu ông đã tuyên bố mình chính là Đức Chúa Trời và nói rằng ông đã đến để hoàn thành công tác cứu chuộc, thì Đức Thánh Linh hẳn đã phải sửa dạy ông. Cho dù công tác của Giăng vĩ đại đến đâu, và mặc dù nó đã được Đức Thánh Linh ủng hộ, nhưng công tác của ông không phải không có những ranh giới. Dù đúng là Đức Thánh Linh thực sự đã ủng hộ công tác của ông, nhưng quyền năng ban cho ông vào thời điểm đó chỉ giới hạn trong việc dọn đường mà thôi. Ông không thể làm bất kỳ công tác nào khác, vì ông chỉ là Giăng, người dọn đường, chứ không phải là Jêsus. Do đó, lời chứng của Đức Thánh Linh là mấu chốt, nhưng công tác mà Đức Thánh Linh cho phép con người thực hiện thậm chí còn quan trọng hơn. Chẳng phải lúc đó Giăng đã nhận được lời chứng vang dội sao? Công tác của ông chẳng phải cũng đã rất vĩ đại sao? Nhưng công tác ông đã làm không thể vượt qua công tác của Jêsus, vì ông không hơn gì một con người được Đức Thánh Linh sử dụng và không thể trực tiếp đại diện cho Đức Chúa Trời, và vì vậy công việc ông làm bị hạn chế. Sau khi ông đã hoàn thành công tác dọn đường, Đức Thánh Linh đã không còn ủng hộ lời chứng của ông, không có công tác mới nào theo sau ông, và ông đã rời đi khi công tác của chính Đức Chúa Trời bắt đầu.

Trích từ “Lẽ mầu nhiệm của sự nhập thể (1)” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

467. Chính xác thì sự khác biệt giữa công tác do Jêsus thực hiện và công tác do Giăng thực hiện là gì? Có phải lý do duy nhất là vì Giăng là người dọn đường cho Jêsus hay không? Hay bởi vì điều này đã được Đức Chúa Trời định trước? Mặc dù Giăng cũng đã nói: “Các ngươi phải ăn năn, vì nước thiên đàng đã đến gần”, và ông cũng đã rao giảng Phúc Âm về vương quốc thiên đàng, nhưng công việc của ông đã không được phát triển xa hơn mà chỉ đơn thuần là một sự khởi đầu. Ngược lại, Jêsus đã mở ra một thời đại mới cũng như kết thúc thời đại cũ, nhưng Ngài cũng đã thực thi luật pháp của Cựu Ước. Công tác Ngài đã làm còn vĩ đại hơn của Giăng, và hơn thế nữa, Ngài đã đến để cứu chuộc tất cả nhân loại – Ngài đã hoàn thành giai đoạn công tác đó. Về phần Giăng, ông chỉ đơn giản là chuẩn bị đường lối. Mặc dù công tác của ông vĩ đại, lời ông nói cũng nhiều, và những môn đệ đã theo ông rất đông, nhưng công tác của ông không vượt quá việc mang đến cho con người một sự khởi đầu mới. Con người không bao giờ nhận được từ ông sự sống, đường đi, hoặc những lẽ thật sâu nhiệm hơn, con người cũng không đạt được một sự hiểu biết về ý muốn của Đức Chúa Trời thông qua ông. Giăng là một tiên tri vĩ đại (Ê-li), người đã mở ra một nền tảng mới cho công tác của Jêsus và chuẩn bị những người được chọn; ông là đấng tiên phong của Thời đại Ân điển. Những vấn đề như vậy không thể chỉ được nhận thức đơn giản bằng cách quan sát vẻ ngoài con người bình thường của họ. Điều này còn đúng hơn bởi vì Giăng cũng đã làm công tác rất đáng kể và hơn nữa, ông đã được hứa bởi Đức Thánh Linh, và công tác của ông đã được Đức Thánh Linh ủng hộ. Vì là như vậy, chỉ thông qua công tác họ làm mà người ta mới có thể phân biệt được thân phận tương ứng của họ, vì không có cách nào để đánh giá thực chất của một người từ vẻ bề ngoài của họ, cũng không có bất kỳ cách nào để con người xác định được đâu là lời chứng của Đức Thánh Linh. Công tác do Giăng thực hiện và công tác do Jêsus thực hiện không giống nhau và mang bản chất khác nhau. Chính từ điều này mà người ta có thể xác định được Giăng có phải là Đức Chúa Trời hay không. Công tác của Jêsus là bắt đầu, tiếp tục, kết thúc và mang lại kết quả. Ngài đã thực hiện từng bước trong số này, trong khi công tác của Giăng không vượt quá việc tạo ra sự khởi đầu. Ban đầu, Jêsus đã rao truyền Phúc Âm và rao giảng con đường của sự ăn năn, và rồi tiếp đến làm phép báp-têm cho con người, chữa lành bệnh tật, và đuổi quỷ. Cuối cùng, Ngài đã cứu chuộc loài người khỏi tội lỗi và hoàn thành công tác của Ngài cho toàn bộ thời đại. Ngài cũng đã đi khắp nơi, rao giảng cho con người và truyền bá Phúc Âm về vương quốc thiên đàng. Về điều này, Ngài và Giăng giống nhau, sự khác biệt là Jêsus đã mở ra một thời đại mới và mang đến Thời đại Ân điển cho con người. Từ miệng Ngài thốt ra lời mà dựa trên đó con người nên thực hành và đường lối mà con người nên theo trong Thời đại Ân điển, và cuối cùng, Ngài đã hoàn thành công tác cứu chuộc. Giăng đã không bao giờ có thể thực hiện công tác này. Và do đó, chính Jêsus đã làm công tác của chính Đức Chúa Trời, Ngài chính là Đức Chúa Trời, và là Đấng trực tiếp đại diện cho Đức Chúa Trời.

Trích từ “Lẽ mầu nhiệm của sự nhập thể (1)” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

468. Các ngươi phải biết phân biệt giữa công việc của Đức Chúa Trời và công việc của con người. Ngươi có thể thấy gì trong công việc của con người? Có nhiều yếu tố về kinh nghiệm của con người trong công việc của họ; những gì con người bày tỏ là những gì về họ. Công tác của chính Đức Chúa Trời cũng bày tỏ Ngài là gì, nhưng hữu thể của Ngài thì khác với của con người. Hữu thể của con người đại diện cho kinh nghiệm và cuộc sống của con người (những gì con người trải nghiệm hoặc gặp phải trong cuộc sống, hoặc những triết lý sống mà họ có), và những người sống ở các môi trường khác nhau thì bày tỏ những hữu thể khác nhau. Liệu rằng ngươi có kinh nghiệm xã hội hay không, và ngươi thực sự đang sống và trải nghiệm thế nào trong gia đình của ngươi, đều có thể thấy được trong những gì ngươi bày tỏ, trong khi đó ngươi không thể thấy được trong công tác của Đức Chúa Trời nhập thể liệu rằng Ngài có các kinh nghiệm xã hội hay không. Ngài nhận thức rõ về bản chất của con người, và có thể tỏ lộ đủ loại thói quen thuộc về đủ loại người. Ngài thậm chí còn giỏi hơn trong việc vạch trần những tâm tính bại hoại và hành vi nổi loạn của con người. Ngài không sống giữa những con người trần tục, nhưng Ngài nhận thức được về bản tính của người phàm và mọi điều bại hoại của con người trần tục. Đây là hữu thể của Ngài. Mặc dù Ngài không ứng phó với thế giới, Ngài vẫn biết các qui tắc để ứng phó với thế giới, vì Ngài hoàn toàn hiểu bản tính của con người. Ngài biết về công tác của Thần mà mắt người thường không thể thấy và tai người thường không thể nghe, cả ngày nay và trong quá khứ. Điều này bao gồm cả sự khôn ngoan mà không phải là một triết lý sống và điều kỳ diệu mà con người cảm thấy khó hiểu thấu. Đây là hữu thể của Ngài, cởi mở với con người và cũng ẩn giấu khỏi con người. Những gì Ngài bày tỏ không phải hữu thể của một con người phi thường, mà là những thuộc tính vốn có và hữu thể của Thần. Ngài không đi du hành thế giới nhưng biết mọi thứ về nó. Ngài tiếp xúc với những “dã nhân” chẳng có chút kiến thức hay sự thông sáng nào, nhưng Ngài bày tỏ lời cao hơn kiến thức và trên tầm những vĩ nhân. Ngài sống giữa một nhóm người đần độn và trơ lì, những kẻ chẳng có nhân tính và chẳng hiểu về tập tục và đời sống của con người, nhưng Ngài có thể yêu cầu nhân loại sống trọn nhân tính bình thường, đồng thời vạch trần nhân tính thấp hèn của nhân loại. Tất cả những điều này là hữu thể của Ngài, cao cả hơn hữu thể của bất cứ con người bằng xương bằng thịt nào. Đối với Ngài, chẳng cần thiết phải trải nghiệm một đời sống xã hội phức tạp, cồng kềnh và bẩn thỉu mới có thể làm công tác mà Ngài cần làm và vạch trần được triệt để bản chất của nhân loại sa ngã. Một đời sống xã hội bẩn thỉu không bù đắp được xác thịt Ngài. Công việc và lời Ngài chỉ vạch trần sự bất tuân của con người và không cung cấp cho con người kinh nghiệm và các bài học để ứng phó với thế giới. Ngài chẳng cần phải dò xét xã hội hay gia đình của con người khi Ngài cung cấp cho con người sự sống. Phơi bày và phán xét con người không phải là sự bày tỏ những kinh nghiệm của xác thịt Ngài; đó là sự tỏ lộ của Ngài về sự bất chính của con người sau khi đã biết về sự bất tuân của con người trong một thời gian dài và ghê tởm sự bại hoại của loài người. Công việc Ngài làm đều nhằm phơi bày tâm tính của con người và bày tỏ hữu thể của Ngài. Chỉ có Ngài mới có thể làm công tác này, đây không phải là thứ mà một con người bằng xương bằng thịt có thể đạt được.

Trích từ “Công tác của Đức Chúa Trời và công việc của Con Người” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

469. Con người cần phải được trau dồi và hoàn thiện qua một thời gian dài trước khi họ có thể được sử dụng để thực hiện công tác, và loại nhân tính cần có là một loại đặc biệt cao. Con người không chỉ phải có thể duy trì ý thức của con người bình thường của mình, mà họ còn phải hiểu thêm nhiều nguyên tắc và quy tắc điều chỉnh hành vi của mình trong mối quan hệ với người khác, và hơn nữa, họ buộc phải học hỏi thậm chí còn nhiều hơn về sự khôn ngoan và hiểu biết về đạo đức của con người. Đây là những gì con người nên được trang bị. Tuy nhiên, đối với Đức Chúa Trời trở nên xác thịt thì không như vậy, vì công tác của Ngài không đại diện cho con người cũng không phải là công tác của con người; đúng hơn, đó là một sự bày tỏ trực tiếp của hữu thể Ngài và là một sự thực hiện trực tiếp công tác mà Ngài phải làm. (Đương nhiên, công tác của Ngài được thực hiện vào thời điểm thích hợp, chứ không phải một cách tình cờ hay ngẫu nhiên, và nó được bắt đầu khi đến lúc thi hành chức vụ của Ngài.) Ngài không tham gia vào cuộc sống của con người hoặc công việc của con người, nghĩa là, nhân tính của Ngài không được trang bị bất kỳ điều nào trong số này (mặc dù điều này không ảnh hưởng đến công tác của Ngài). Ngài chỉ thi hành chức vụ của mình khi đến lúc Ngài phải làm như vậy; bất kể địa vị của Ngài là gì, Ngài chỉ đơn giản là tiến lên phía trước với công tác mà Ngài phải làm. Bất kể con người biết gì về Ngài và bất kể ý kiến của họ về Ngài ra sao, công tác của Ngài hoàn toàn không bị ảnh hưởng.

Trích từ “Lẽ mầu nhiệm của sự nhập thể (3)” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

470. Công tác Đức Chúa Trời làm không đại diện cho kinh nghiệm của xác thịt Ngài; công việc con người làm thì lại đại diện cho kinh nghiệm của họ. Mọi người đều nói về kinh nghiệm cá nhân của họ. Đức Chúa Trời có thể trực tiếp bày tỏ lẽ thật, trong khi con người chỉ có thể bày tỏ những kinh nghiệm tương ứng sau khi trải nghiệm lẽ thật. Công tác của Đức Chúa Trời không có các quy tắc và không chịu các ràng buộc về thời gian hay địa lý. Ngài có thể bày tỏ Ngài là gì bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu. Ngài làm việc khi Ngài muốn. Công việc của con người có những điều kiện và bối cảnh; nếu không có chúng, họ sẽ không thể làm việc và không thể bày tỏ kiến thức của họ về Đức Chúa Trời hay trải nghiệm của họ về lẽ thật. Để biết được liệu một việc gì đó là công việc của chính Đức Chúa Trời hay công việc của con người, ngươi chỉ cần so sánh những khác biệt giữa hai công việc. Nếu không có công tác nào do chính Đức Chúa Trời thực hiện, và chỉ có công việc của con người, thì ngươi sẽ chỉ đơn giản biết rằng những lời dạy của con người là cao xa, vượt khỏi khả năng của bất kỳ ai khác; giọng điệu họ nói, những nguyên tắc của họ khi xử lý mọi việc, và phong cách làm việc từng trải và chắc chắn của họ đều vượt khỏi tầm với của người khác. Hết thảy các ngươi đều ngưỡng mộ những người có tố chất tốt đẹp và kiến thức cao xa này, nhưng ngươi không thể nhìn thấy từ công tác và những lời của Đức Chúa Trời rằng nhân tính của Ngài cao xa ra sao. Thay vào đó, Ngài thật bình thường, và khi làm việc thì Ngài bình thường và thực tế nhưng cũng khó lường đối với người phàm, điều đó khiến con người có cảm giác tôn kính đối với Ngài. Có thể kinh nghiệm của một người trong công việc của họ là đặc biệt dày dạn, hay sức tưởng tượng và lý luận của anh ta đặc biệt giỏi, và nhân tính của anh ta đặc biệt tốt; những thuộc tính như thế chỉ khiến con người ngưỡng mộ, chứ không gợi lên ở họ sự kính sợ hay sợ hãi. Con người chỉ ngưỡng mộ những người có thể làm việc tốt, người có kinh nghiệm đặc biệt sâu sắc và có thể thực hành lẽ thật, nhưng họ không bao giờ có thể gợi lên niềm kính sợ, mà chỉ có ngưỡng mộ và ghen tỵ. Nhưng những người đã trải nghiệm công tác của Đức Chúa Trời thì không ngưỡng mộ Ngài; thay vào đó họ cảm thấy rằng công tác của Ngài là vượt khỏi tầm của con người và không thể hiểu thấu đối với con người, và rằng nó thật tươi mới và kỳ diệu. Khi con người trải nghiệm công tác của Đức Chúa Trời, hiểu biết đầu tiên của họ về Ngài là Ngài thật không thể hiểu thấu, khôn ngoan và kỳ diệu, và họ vô thức tôn kính Ngài và cảm thấy sự mầu nhiệm trong công tác Ngài làm, điều vượt khỏi tầm của tâm trí con người. Con người chỉ mong muốn có thể đáp ứng các yêu cầu của Ngài, thỏa các ước muốn của Ngài; họ không mong muốn vượt qua Ngài bởi vì công tác mà Ngài làm vượt khỏi suy nghĩ và tưởng tượng của con người, và không thể được con người thực hiện thay Ngài. Ngay cả bản thân con người còn không biết được những khiếm khuyết của chính họ, thế mà Đức Chúa Trời đã mở ra một con đường mới và đã đến để đưa con người vào một thế giới mới hơn và đẹp hơn, và vì vậy mà nhân loại đã có được bước tiến mới và có được một khởi đầu mới. Những gì con người cảm nhận về Ngài không phải là sự ngưỡng mộ, mà đúng hơn, không chỉ là sự ngưỡng mộ. Cảm nghiệm sâu sắc nhất của họ là sự kính sợ và tình yêu thương, cảm giác của họ là Đức Chúa Trời thật sự kỳ diệu. Ngài làm những việc con người không thể làm và nói những điều con người không thể nói. Những người đã trải nghiệm công tác của Ngài luôn có một cảm xúc không thể tả. Những người có những trải nghiệm đủ sâu thì có thể hiểu tình yêu của Đức Chúa Trời; họ có thể cảm nhận được sự đáng yêu của Ngài, cảm nhận rằng công tác của Ngài thật quá trí tuệ, quá kỳ diệu, và do đó có một sức mạnh vô hạn được tạo ra giữa họ. Đó không phải là sự sợ hãi hay một tình yêu và sự tôn kính thảng hoặc, mà là một ý thức sâu sắc về lòng ắc trẩn của Đức Chúa Trời dành cho con người và sự bao dung của Ngài. Tuy nhiên, những người đã trải qua hình phạt và phán xét của Ngài thì cảm nhận được sự oai nghi của Ngài và rằng Ngài không dung thứ cho bất kỳ sự xúc phạm nào. Thậm chí những người đã trải nghiệm nhiều công tác của Ngài cũng không thể hiểu thấu Ngài; tất cả những ai thực sự tôn kính Ngài đều biết rằng công tác của Ngài không hợp với những quan niệm của con người mà luôn đi ngược lại các quan niệm của họ. Ngài không cần con người phải ngưỡng mộ Ngài tuyệt đối hay tỏ vẻ vâng phục với Ngài, mà thay vào đó họ phải có lòng tôn kính thực sự và sự vâng phục thực sự. Trong rất nhiều công tác của Ngài, bất cứ ai có kinh nghiệm thực sự đều cảm thấy tôn kính đối với Ngài, điều còn cao hơn cả sự ngưỡng mộ. Con người đã thấy được tâm tính của Ngài qua công tác hành phạt và phán xét của Ngài, và họ vì vậy mà tôn kính Ngài trong lòng họ. Đức Chúa Trời là để được tôn kính và vâng phục, bởi hữu thể và tâm tính của Ngài không giống như của một loài thọ tạo, và cao cả hơn của một loài thọ tạo. Đức Chúa Trời là tự hữu và bất diệt, Ngài không phải là một loài thọ tạo, và chỉ có Đức Chúa Trời mới xứng đáng với sự tôn kính và vâng phục; con người không đủ tư cách cho điều này.

Trích từ “Công tác của Đức Chúa Trời và công việc của Con Người” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

Trước: C. Hiểu lẽ thật và bước vào hiện thực

Tiếp theo: E. Hiểu được công tác của Đức Thánh Linh và nhận ra công việc của các ác linh

Bạn có muốn biết cách gột bỏ xiềng xích tội lỗi và được làm tinh sạch? Hãy liên hệ chúng tôi để tìm được lối đi đúng đắn.
Liên hệ với chúng tôi
Liên hệ với chúng tôi qua Messenger

Nội dung liên quan

Cài đặt

  • Văn bản
  • Chủ đề

Màu Đồng nhất

Chủ đề

Phông

Kích cỡ Phông

Khoảng cách Dòng

Khoảng cách Dòng

Chiều rộng Trang

Mục lục

Tìm kiếm

  • Tìm kiếm văn bản này
  • Tìm kiếm cuốn sách này