Chúng tôi chào đón tất cả những ai tìm kiếm lẽ thật liên hệ với chúng tôi.

Lời xuất hiện trong xác thịt

Màu Đồng nhất

Chủ đề

Phông

Kích cỡ Phông

Khoảng cách Dòng

Chiều rộng Trang

0 kết quả

Không tìm thấy kết quả nào

Công tác của Đức Chúa Trời, tâm tính của Đức Chúa Trời, và chính Đức Chúa Trời II

Trong buổi gặp trước, chúng ta đã thông công về một đề tài rất quan trọng. Các ngươi có nhớ đó là gì không? Để Ta lặp lại. Đề tài buổi thông công trước của chúng ta là: Công tác của Đức Chúa Trời, tâm tính của Đức Chúa Trời, và chính Đức Chúa Trời. Đây có phải là một đề tài quan trọng đối với các ngươi không? Phần nào của nó là quan trọng nhất đối với các ngươi? Công tác của Đức Chúa Trời, tâm tính của Đức Chúa Trời, hay chính Đức Chúa Trời? Phần nào các ngươi quan tâm nhất? Phần nào các ngươi muốn nghe nhất? Ta biết thật khó để các ngươi có thể trả lời câu hỏi đó, bởi vì tâm tính Đức Chúa Trời có thể được nhìn thấy ở mọi phương diện công tác của Ngài, và tâm tính Ngài luôn được tỏ lộ trong công tác của Ngài và ở mọi nơi, và trên thực tế, đại diện cho chính Đức Chúa Trời; trong kế hoạch quản lý tổng thể của Đức Chúa Trời, công tác của Đức Chúa Trời, tâm tính của Đức Chúa Trời, và chính Đức Chúa Trời đều không thể tách khỏi nhau.

Nội dung buổi thông công trước của chúng ta về công tác của Đức Chúa Trời bao gồm những chuyện kể từ Kinh Thánh về những sự kiện đã xảy ra từ lâu. Tất cả chúng đều là những câu chuyện về con người và Đức Chúa Trời, và về những việc đã xảy ra với con người, đồng thời cũng liên quan đến sự tham gia và bày tỏ của Đức Chúa Trời, do đó những câu chuyện này có giá trị và ý nghĩa đặc biệt đối với việc biết Đức Chúa Trời. Ngay sau khi Đức Chúa Trời tạo dựng nhân loại, Ngài bắt đầu gắn kết với con người và trò chuyện với con người, và tâm tính Ngài bắt đầu được bày tỏ với con người. Nói cách khác, từ khi Đức Chúa Trời mới gắn kết với nhân loại, Ngài đã bắt đầu công khai với con người về thực chất và về việc Ngài có gì và là gì mà không hề gián đoạn. Bất kể con người thời trước hay con người ngày nay có thể thấy hoặc hiểu hay không, Đức Chúa Trời cũng phán với con người và hoạt động giữa con người, tỏ lộ tâm tính Ngài và bày tỏ thực chất của Ngài – đây là một thực tế, và không ai có thể phủ nhận được. Điều này cũng có nghĩa là tâm tính Đức Chúa Trời, thực chất Đức Chúa Trời, việc Ngài có gì và là gì, liên tục được đưa ra và tỏ lộ khi Ngài hoạt động và gắn kết với con người. Ngài không bao giờ che đậy hay ẩn giấu bất cứ điều gì khỏi con người, mà thay vào đó công khai và giải phóng tâm tính của riêng Ngài mà không chút tiết chế. Như thế, Đức Chúa Trời hy vọng rằng con người có thể biết Ngài và hiểu tâm tính, thực chất của Ngài. Ngài không muốn con người đối đãi với tâm tính và thực chất của Ngài như những mầu nhiệm đời đời, Ngài cũng không muốn nhân loại xem Ngài như một câu đố không lời giải. Chỉ khi nhân loại biết Đức Chúa Trời, con người mới biết được cách tiến tới và chấp nhận sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời, và chỉ một nhân loại như thế này mới thật sự có thể sống dưới sự thống trị của Đức Chúa Trời, và sống trong sự sáng, giữa những phúc lành của Đức Chúa Trời.

Những lời và tâm tính được đưa ra và tỏ lộ bởi Đức Chúa Trời đại diện cho ý muốn của Ngài, và chúng cũng đại diện cho thực chất của Ngài. Khi Đức Chúa Trời gắn kết với con người, cho dù Ngài phán hay làm gì, hay Ngài tỏ lộ tâm tính gì, và cho dù con người thấy gì ở thực chất của Đức Chúa Trời, thấy Ngài có gì và là gì, thì tất cả đều đại diện cho ý muốn của Đức Chúa Trời với con người. Bất kể con người có thể nhận ra, lĩnh hội hay thấu hiểu nhiều như thế nào, thì tất cả đều đại diện cho ý muốn của Đức Chúa Trời – ý muốn của Đức Chúa Trời đối với con người. Điều này là không chút nghi ngại! Ý muốn của Đức Chúa Trời đối với nhân loại là cách Ngài yêu cầu con người thể hiện, những gì Ngài yêu cầu họ làm, cách Ngài yêu cầu họ sống, và khả năng mà Ngài yêu cầu ở họ để hoàn tất việc làm tròn ý muốn của Đức Chúa Trời. Có phải những điều này không thể tách khỏi thực chất của Đức Chúa Trời không? Nói cách khác, Đức Chúa Trời toát ra tâm tính Ngài và toàn bộ những gì liên quan đến việc Ngài có gì và là gì cùng lúc với khi Ngài đưa ra những yêu cầu với con người. Không có sự giả dối, không giả tạo, không che đậy, và không thêm thắt. Nhưng tại sao con người không có khả năng biết, và tại sao con người chưa bao giờ có thể nhận thức rõ tâm tính của Đức Chúa Trời? Tại sao con người chưa bao giờ nhận ra ý muốn của Đức Chúa Trời? Điều được tỏ lộ và toát ra bởi Đức Chúa Trời là việc chính Đức Chúa Trời có gì và là gì; nó là từng li từng tí tâm tính thật của Ngài – vậy thì tại sao con người không thể thấy? Tại sao con người không có khả năng hiểu thấu suốt? Có một lý do quan trọng cho điều này. Như vậy, lý do là gì? Kể từ lúc sáng thế, con người đã không bao giờ đối đãi với Đức Chúa Trời như Đức Chúa Trời. Vào buổi ban sơ, bất kể Đức Chúa Trời đã làm gì liên quan tới con người – con người mà vừa mới được tạo ra – thì con người cũng đối đãi với Đức Chúa Trời không gì khác hơn là một người bạn đồng hành, một người để cậy dựa, và con người đã không có kiến thức hay sự hiểu biết về Đức Chúa Trời. Nói vậy nghĩa là, con người đã không biết thứ toát ra bởi Hữu thể này – Hữu thể mà họ cậy dựa và xem như bạn đồng hành của mình – chính là thực chất của Đức Chúa Trời, họ cũng không biết rằng Hữu thể này là Đấng thống trị muôn vật. Nói đơn giản, con người thời đó không hề nhận ra Đức Chúa Trời. Họ đã không biết rằng trời đất và muôn vật là bởi Ngài làm ra, và họ chẳng biết Ngài đến từ đâu, và hơn nữa, Ngài là gì. Dĩ nhiên, khi ấy Đức Chúa Trời đã không yêu cầu con người biết hay hiểu thấu Ngài, hoặc hiểu tất cả những gì Ngài đã làm, hoặc thông thạo ý muốn của Ngài, bởi đây là những buổi ban sơ sau sự tạo dựng con người. Khi Đức Chúa Trời bắt đầu chuẩn bị cho công tác của Thời đại Luật pháp, Đức Chúa Trời đã làm một số điều cho con người và cũng bắt đầu đưa ra một số yêu cầu với con người, bảo con người cách dâng của lễ và thờ phượng Đức Chúa Trời. Chỉ khi đó con người mới có được vài ý tưởng đơn giản về Đức Chúa Trời, và chỉ khi đó họ mới biết điểm khác biệt giữa con người và Đức Chúa Trời, và rằng Đức Chúa Trời là Đấng đã tạo ra nhân loại. Khi con người biết rằng Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời và con người là con người, một khoảng cách nhất định xuất hiện giữa họ và Đức Chúa Trời, nhưng Đức Chúa Trời vẫn không yêu cầu rằng con người có một kiến thức tuyệt vời hay sự hiểu biết sâu sắc về Ngài. Do đó, Đức Chúa Trời đưa ra những yêu cầu khác nhau đối với con người dựa trên những giai đoạn và hoàn cảnh công tác của Ngài. Các ngươi thấy gì ở điều này? Các ngươi lĩnh hội phương diện nào của tâm tính Đức Chúa Trời? Đức Chúa Trời có thật không? Những yêu cầu của Đức Chúa Trời với con người có phù hợp không? Trong những lúc ban sơ sau sự tạo dựng nhân loại của Đức Chúa Trời, khi Đức Chúa Trời chưa thực hiện công tác chinh phục và hoàn thiện con người, và chưa phán quá nhiều lời với con người, Ngài đã không yêu cầu gì nhiều ở con người. Bất kể con người đã làm gì và họ hành xử như thế nào – ngay cả khi họ đã làm những điều xúc phạm Đức Chúa Trời – Đức Chúa Trời cũng tha thứ và bỏ qua tất cả. Điều này là vì Đức Chúa Trời biết Ngài đã ban những gì cho con người và những gì có bên trong con người, và do đó Ngài biết tiêu chuẩn của các yêu cầu mà Ngài nên đưa ra cho con người. Mặc dù tiêu chuẩn của các yêu cầu của Ngài rất thấp vào thời đó, điều này không có nghĩa là tâm tính của Ngài không vĩ đại, hay rằng sự khôn ngoan và toàn năng của Ngài chỉ là những lời sáo rỗng. Đối với con người, chỉ có một cách để biết tâm tính Đức Chúa Trời và chính Đức Chúa Trời: bằng cách theo những bước công tác quản lý và cứu rỗi nhân loại của Đức Chúa Trời, và chấp nhận những lời Đức Chúa Trời phán với nhân loại. Một khi con người biết được Đức Chúa Trời có gì và là gì, và biết tâm tính của Đức Chúa Trời, họ sẽ vẫn yêu cầu Đức Chúa Trời thể hiện thân vị thật của Ngài chứ? Không, con người sẽ không yêu cầu, và thậm chí sẽ không dám yêu cầu, bởi khi đã thấu hiểu tâm tính Đức Chúa Trời, hiểu Ngài có gì và là gì, con người đã thấy được chính Đức Chúa Trời thật, và thân vị thật của Ngài. Đây là kết quả chắc chắn.

Khi công tác và kế hoạch của Đức Chúa Trời không ngừng tiến triển, và sau khi Đức Chúa Trời đã lập giao ước cầu vồng với con người, như một dấu chỉ rằng Ngài sẽ không bao giờ hủy diệt thế gian lần nữa bằng những trận lụt, Đức Chúa Trời đã ngày càng khắc khoải khao khát thu phục những ai đồng tâm hợp ý với Ngài. Do vậy Ngài cũng có một ao ước khẩn thiết hơn bao giờ hết về việc thu phục những người có thể làm theo ý muốn của Ngài trên đất, và hơn nữa, thu phục một nhóm người có thể vượt qua các thế lực của bóng tối và không bị ràng buộc bởi Sa-tan, một nhóm người có thể làm chứng cho Ngài trên đất. Thu phục một nhóm người như thế là ước muốn từ lâu của Đức Chúa Trời, đó là điều Ngài đã chờ đợi kể từ lúc sáng thế. Do vậy, bất kể việc Đức Chúa Trời dùng những trận lụt để hủy diệt thế gian, hay giao ước của Ngài với con người, thì ý muốn, tâm trạng, kế hoạch, và những hy vọng của Đức Chúa Trời đều vẫn không đổi. Điều Ngài muốn thực hiện, điều Ngài đã khao khát từ lâu trước khi sáng thế, là thu phục những người Ngài muốn thu phục trong nhân loại – thu phục một nhóm người có thể thấu hiểu, biết tâm tính Ngài và hiểu ý muốn của Ngài, một nhóm người có thể thờ phượng Ngài. Một nhóm người như thế thật sự sẽ có thể làm chứng cho Ngài, và có thể nói rằng họ có thể là bạn tâm tình của Ngài.

Hôm nay, chúng ta hãy tiếp tục lần lại dấu chân của Đức Chúa Trời và theo những bước công tác của Ngài, để chúng ta có thể khám phá những ý nghĩ và ý tưởng về Đức Chúa Trời, và tất cả những chi tiết khác nhau liên quan đến Đức Chúa Trời, tất cả những điều đã bị “niêm phong” trong một thời gian dài. Thông qua những điều này, chúng ta sẽ bắt đầu biết được tâm tính của Đức Chúa Trời, hiểu thực chất của Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ để Đức Chúa Trời vào lòng mình, và mỗi người trong chúng ta sẽ dần đến gần Đức Chúa Trời, rút ngắn khoảng cách của chúng ta với Đức Chúa Trời.

Một phần trong những điều chúng ta đã nói tới lần trước liên quan đến việc tại sao Đức Chúa Trời lại lập giao ước với con người. Lần này, chúng ta sẽ thông công về những đoạn Kinh Thánh bên dưới. Chúng ta hãy bắt đầu đọc từ Kinh Thánh.

A. Áp-ra-ham

1. Đức Chúa Trời hứa ban cho Áp-ra-ham một con trai

Sách sáng thế 17:15-17 Ðức Chúa Trời phán cùng Áp-ra-ham rằng: còn Sa-rai, vợ ngươi, chớ gọi là Sa-rai nữa; nhưng Sa-ra là tên người đó. Ta sẽ ban phước cho nàng, lại do nơi nàng ta sẽ cho ngươi một con trai, Ta sẽ ban phước cho nàng, nàng sẽ làm mẹ các dân tộc; những vua của các dân tộc sẽ do nơi nàng mà ra. Áp-ra-ham bèn sấp mình xuống đất, cười và nói thầm rằng: Hồ dễ người đã trăm tuổi rồi, mà sanh con được chăng? Còn Sa-ra, tuổi đã chín mươi, sẽ sanh sản được sao?

Sách sáng thế 17:21-22 Nhưng ta sẽ lập giao ước ta cùng Y-sác, độ khoảng nầy năm tới Sa-ra phải sanh cho ngươi. Khi Ðức Chúa Trời đã phán xong, thì Ngài từ Áp-ra-ham ngự lên.

2. Áp-ra-ham dâng Y-sác

Sách sáng thế 22:2-3 Ðức Chúa Trời phán rằng: Hãy bắt đứa con một ngươi yêu dấu, là Y-sác, và đi đến xứ Mô-ri-a, nơi đó dâng đứa con làm của lễ thiêu ở trên một hòn núi kia mà ta sẽ chỉ cho. Áp-ra-ham dậy sớm, thắng lừa, đem hai đầy tớ và con mình, là Y-sác, cùng đi; người cũng chặt củi để dùng về của lễ thiêu, rồi đi đến nơi mà Ðức Chúa Trời đã truyền dạy.

Sách sáng thế 22:9-10 Họ đến chốn Ðức Chúa Trời đã phán dạy; tại đó, Áp-ra-ham lập bàn thờ, chất củi lên, trói Y-sác con mình lại, để lên đống củi trên bàn thờ. Áp-ra-ham bèn giơ tay ra cầm lấy dao đặng giết con mình.

Không ai có thể cản trở công tác mà Đức Chúa Trời quyết tâm thực hiện

Như vậy, tất cả các ngươi vừa nghe câu chuyện về Áp-ra-ham. Ông được Đức Chúa Trời chọn sau trận lụt hủy diệt thế gian, tên ông là Áp-ra-ham, và khi ông được một trăm tuổi và vợ ông Sa-ra chín mươi tuổi, lời hứa của Đức Chúa Trời đến với ông. Đức Chúa Trời đã có lời hứa gì với ông? Đức Chúa Trời đã hứa điều được nói đến trong Kính Thánh: “Ta sẽ ban phước cho nàng, lại do nơi nàng ta sẽ cho ngươi một con trai”. Bối cảnh lời hứa của Đức Chúa Trời về việc ban cho ông một con trai là gì? Kinh Thánh cung cấp bản ghi sau: “Áp-ra-ham bèn sấp mình xuống đất, cười và nói thầm rằng: Hồ dễ người đã trăm tuổi rồi, mà sanh con được chăng? Còn Sa-ra, tuổi đã chín mươi, sẽ sanh sản được sao?” Nói cách khác, cặp đôi có tuổi này đã quá già để có con. Và Áp-ra-ham đã làm gì sau khi Đức Chúa Trời hứa với ông? Ông đã sấp mình xuống đất mà cười, và tự nhủ rằng: “Hồ dễ người đã trăm tuổi rồi, mà sanh con được chăng?” Áp-ra-ham đã tin rằng điều đó là không thể – nghĩa là ông đã tin rằng lời hứa của Đức Chúa Trời chẳng khác gì một lời nói đùa. Từ góc độ của con người, đây là điều mà con người không thể đạt được, và tương tự cũng không thể đạt được và cũng là bất khả thi đối với Đức Chúa Trời. Có lẽ, đối với Áp-ra-ham, điều đó buồn cười: Đức Chúa Trời đã tạo ra con người, ấy thế mà Ngài có vẻ phần nào không nhận biết rằng một người quá già thì không có khả năng có con; Đức Chúa Trời nghĩ Ngài có thể cho phép tôi có con, Ngài nói rằng Ngài sẽ ban cho tôi một con trai – chắc chắn rằng điều đó là không thể! Do vậy, Áp-ra-ham sấp mình xuống đất mà cười, thầm nhủ rằng: Không thể được – Đức Chúa Trời đang đùa với tôi đây, điều này không thể thật được! Ông đã không coi những lời của Đức Chúa Trời là nghiêm túc. Như vậy, trong mắt Đức Chúa Trời, Áp-ra-ham là loại người gì? (Công chính.) Chỗ nào tuyên bố rằng ông là người công chính? Các ngươi nghĩ rằng tất cả những người mà Đức Chúa Trời triệu gọi đều công chính và hoàn thiện, rằng họ đều là những người bước đi cùng Đức Chúa Trời. Các ngươi tuân giữ học thuyết! Các ngươi phải thấy rõ rằng khi Đức Chúa Trời xác định ai đó, Ngài không làm như thế một cách tùy tiện. Ở đây, Đức Chúa Trời đã không nói rằng Áp-ra-ham là công chính. Trong lòng Ngài, Đức Chúa Trời có những tiêu chuẩn để đánh giá mỗi người. Mặc dù Đức Chúa Trời đã không nói rằng Áp-ra-ham là loại người gì, thì về cách cư xử của ông, Áp-ra-ham đã có dạng đức tin nào nơi Đức Chúa Trời? Liệu có phải nó hơi trừu tượng không? Hay là ông có đức tin vĩ đại? Không, ông không có! Việc ông cười và những ý nghĩ của ông cho thấy ông là ai, do đó việc các ngươi tin rằng ông là công chính cũng chỉ là điều bịa đặt của trí tưởng tượng của các ngươi, đó là sự áp dụng học thuyết một cách mù quáng, và là một sự đánh giá không có trách nhiệm. Đức Chúa Trời có thấy Áp-ra-ham cười và những biểu hiện của ông không? Ngài có biết chúng không? Đức Chúa Trời có biết. Nhưng liệu Đức Chúa Trời có thay đổi những gì Ngài đã quyết làm không? Không! Khi Đức Chúa Trời lên kế hoạch và quyết rằng Ngài sẽ chọn người này thì chuyện đã hoàn thành. Cả những ý nghĩ lẫn cách cư xử của con người đều không chút ảnh hưởng hay gây trở ngại cho Đức Chúa Trời; Đức Chúa Trời sẽ không tùy tiện thay đổi kế hoạch của Ngài, cũng không thay đổi một cách bốc đồng hay làm xáo trộn kế hoạch của Ngài bởi hành xử của con người, kể cả cách hành xử ngu dốt. Vậy thì, điều gì được viết trong Sách sáng thế 17:21-22? “Nhưng ta sẽ lập giao ước ta cùng Y-sác, độ khoảng nầy năm tới Sa-ra phải sanh cho ngươi. Khi Ðức Chúa Trời đã phán xong, thì Ngài từ Áp-ra-ham ngự lên”. Đức Chúa Trời đã không hề chú ý đến những gì Áp-ra-ham nghĩ hay nói. Lý do cho sự coi nhẹ này của Ngài là gì? Đó là vì, vào lúc ấy, Đức Chúa Trời không yêu cầu rằng con người có đức tin to lớn, hoặc rằng họ có kiến thức rộng lớn về Đức Chúa Trời, hoặc, hơn thế nữa, rằng họ có thể hiểu được điều Đức Chúa Trời thực hiện và phán dạy. Do vậy, Đức Chúa Trời đã không yêu cầu con người hiểu hết những gì Ngài quyết tâm làm, hay những người Ngài quyết tâm chọn, hay những nguyên tắc cho các hành động của Ngài, bởi vóc giạc của con người đơn thuần là không đủ. Vào lúc đó, Đức Chúa Trời xem bất cứ điều gì Áp-ra-ham làm và bất cứ sự cư xử nào của ông đều là bình thường. Ngài đã không lên án hay quở trách, mà chỉ phán: “độ khoảng nầy năm tới Sa-ra phải sanh Y-sác cho ngươi”. Đối với Đức Chúa Trời, sau khi Ngài tuyên bố những lời này, thì vấn đề này đã từng bước một trở thành sự thật; trong mắt Đức Chúa Trời, điều phải được hoàn thành bởi kế hoạch của Ngài đã đạt được. Sau khi sắp xếp việc này xong, Đức Chúa Trời đã rời đi. Con người làm gì hay nghĩ gì, con người hiểu gì, các kế hoạch của con người – không điều nào trong số này có bất kỳ mối liên hệ gì với Đức Chúa Trời. Mọi điều diễn tiến theo kế hoạch của Đức Chúa Trời, theo những thời điểm và và giai đoạn mà Đức Chúa Trời đã đặt ra. Đó là nguyên tắc công tác của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời không can thiệp vào bất cứ điều gì con người nghĩ hay biết, Ngài cũng không bỏ kế hoạch của Ngài hay loại bỏ công tác của Ngài chỉ vì con người không tin hay không hiểu. Những sự việc bởi thế được hoàn thành theo kế hoạch và ý nghĩ của Đức Chúa Trời. Đây chính là điều chúng ta thấy trong Kinh Thánh: Đức Chúa Trời khiến cho Y-sác được sinh ra vào thời điểm Ngài định. Liệu những thực tế có chứng tỏ rằng hành vi hay cách cư xử của con người làm cản trở công tác của Đức Chúa Trời không? Chúng đã không cản trở công tác của Đức Chúa Trời! Liệu đức tin nhỏ nhoi của con người nơi Đức Chúa Trời, và những ý niệm, sự tưởng tượng của họ về Đức Chúa Trời có ảnh hưởng đến công tác của Đức Chúa Trời không? Không, chúng không ảnh hưởng! Không một chút nào! Kế hoạch quản lý của Đức Chúa Trời không bị ảnh hưởng bởi bất kỳ con người, sự việc, hay môi trường nào. Tất cả những gì Ngài đã quyết làm thì sẽ được làm trọn vẹn và hoàn thành đúng lúc và theo kế hoạch của Ngài, và công tác của Ngài không thể bị can thiệp bởi bất kỳ người nào. Đức Chúa Trời bỏ qua những phương diện nhất định của sự ngu dốt và thiếu hiểu biết của con người, và thậm chí những phương diện nhất định của sự chống đối và những ý niệm của con người đối với Ngài, và Ngài làm công tác mà Ngài phải làm bất kể thế nào. Đây là tâm tính của Đức Chúa Trời, và nó là một sự phản ánh quyền tuyệt đối của Ngài.

Công tác quản lý và cứu rỗi nhân loại của Đức Chúa Trời bắt đầu với sự hy sinh Y-sác của Áp-ra-ham

Khi đã ban cho Áp-ra-ham một con trai, những lời Đức Chúa Trời phán ra với Áp-ra-ham đã được thành toàn. Điều này không có nghĩa là kế hoạch của Đức Chúa Trời dừng lại ở đây; trái lại, kế hoạch trọng đại của việc quản lý và cứu rỗi nhân loại của Đức Chúa Trời chỉ mới bắt đầu, và phúc lành của Ngài trong việc ban một con trai cho Áp-ra-ham chỉ là sự mở đầu cho kế hoạch quản lý tổng thể của Ngài. Vào thời khắc đó, có ai biết được trận chiến của Đức Chúa Trời với Sa-tan đã âm thầm bắt đầu vào thời khắc Áp-ra-ham dâng Y-sác không?

Đức Chúa Trời không quan tâm liệu con người có ngu ngốc hay không – Ngài chỉ yêu cầu con người chân thật

Tiếp theo, chúng ta hãy xem Đức Chúa Trời đã làm gì cho Áp-ra-ham. Trong Sáng Thế 22:2, Đức Chúa Trời đã ban sự phán dạy sau cho Áp-ra-ham: “Hãy bắt đứa con một ngươi yêu dấu, là Y-sác, và đi đến xứ Mô-ri-a, nơi đó dâng đứa con làm của lễ thiêu ở trên một hòn núi kia mà ta sẽ chỉ cho”. Ý của Đức Chúa Trời rất rõ ràng: Ngài đang bảo Áp-ra-ham dâng con trai duy nhất của ông là Y-sác, đứa con mà ông yêu thương, làm của lễ thiêu. Nhìn vào việc đó ngày nay, chẳng phải sự phán bảo của Đức Chúa Trời vẫn mâu thuẫn với những ý niệm của con người sao? Phải! Tất cả những gì Đức Chúa Trời đã làm vào lúc đó hoàn toàn trái với những ý niệm của con người; nó là điều không thể hiểu thấu được đối với con người. Trong những ý niệm của con người, họ tin vào điều sau: Khi một người không tin, và nghĩ rằng đó là điều bất khả thi, Đức Chúa Trời đã ban cho ông một con trai, và sau khi ông đã có được đứa con trai, Đức Chúa Trời bảo ông hy sinh con mình. Chẳng phải điều này hoàn toàn không thể tin được sao! Đức Chúa Trời thật ra có ý định làm gì? Ý định thật sự của Đức Chúa Trời là gì? Ngài đã ban cho Áp-ra-ham một con trai một cách vô điều kiện, ấy thế mà Ngài cũng bảo Áp-ra-ham dâng một của lễ vô điều kiện. Liệu điều này có thái quá không? Từ góc độ của bên thứ ba, điều này không chỉ thái quá mà còn có phần “gây sự vô cớ”. Nhưng bản thân Áp-ra-ham đã không nghĩ rằng Đức Chúa Trời yêu cầu thái quá. Mặc dù ông đã có một vài ý kiến nho nhỏ của riêng ông về việc đó và mặc dù ông hơi hoài nghi về Đức Chúa Trời, ông vẫn chuẩn bị dâng của lễ. Vào lúc này, ngươi thấy điều gì chứng tỏ rằng Áp-ra-ham sẵn lòng dâng con trai ông? Điều gì được nói đến trong những câu này? Văn bản gốc kể lại câu chuyện sau: “Áp-ra-ham dậy sớm, thắng lừa, đem hai đầy tớ và con mình, là Y-sác, cùng đi; người cũng chặt củi để dùng về của lễ thiêu, rồi đi đến nơi mà Ðức Chúa Trời đã truyền dạy” (Sách sáng thế 22:3). “Họ đến chốn Ðức Chúa Trời đã phán dạy; tại đó, Áp-ra-ham lập bàn thờ, chất củi lên, trói Y-sác con mình lại, để lên đống củi trên bàn thờ. Áp-ra-ham bèn giơ tay ra cầm lấy dao đặng giết con mình” (Sách sáng thế 22:9-10). Khi Áp-ra-ham giơ tay cầm lấy dao đặng giết con mình, những hành động của ông có được Đức Chúa Trời thấy không? Có. Toàn bộ quá trình – từ lúc bắt đầu, khi Đức Chúa Trời bảo Áp-ra-ham hy sinh Y-sác, cho đến khi Áp-ra-ham thật sự giơ dao lên để giết con mình – cho Đức Chúa Trời thấy tấm lòng của Áp-ra-ham, và bất kể sự ngu ngốc, thiếu hiểu biết, và hiểu lầm trước kia của ông với Đức Chúa Trời, thì vào lúc đó lòng của Áp-ra-ham với Đức Chúa Trời là thật, trung thực, và ông thật sự sẽ trả Y-sác, đứa con trai mà Đức Chúa Trời đã ban cho ông, về lại với Đức Chúa Trời. Nơi ông, Đức Chúa Trời thấy được sự vâng phục, chính xác sự vâng phục mà Ngài mong muốn.

Đối với con người, Đức Chúa Trời làm nhiều điều không thể thấu hiểu được và thậm chí không thể tin được. Khi Đức Chúa Trời muốn bố trí ai đó, sự bố trí này thường mâu thuẫn với những ý niệm của con người và không thể hiểu được đối với họ, nhưng chính sự trái nghịch và không thể hiểu thấu này là sự thử luyện và kiểm tra của Đức Chúa Trời đối với con người. Trong khi đó, Áp-ra-ham có thể minh chứng sự vâng phục Đức Chúa Trời bên trong bản thân ông, là điều kiện cơ bản nhất cho việc ông có thể đáp ứng yêu cầu của Đức Chúa Trời. Chỉ khi đó, khi mà Áp-ra-ham có thể vâng phục yêu cầu của Đức Chúa Trời, khi ông dâng Y-sác, Đức Chúa Trời mới thật sự cảm thấy yên lòng và chấp thuận đối với nhân loại – đối với Áp-ra-ham, người mà Ngài đã chọn. Chỉ khi đó Đức Chúa Trời mới chắc chắn rằng người mà Ngài đã chọn này là một người lãnh đạo không thể thiếu có thể thực hiện lời hứa và kế hoạch quản lý tiếp theo của Ngài. Mặc dù đó chỉ là một sự thử luyện và kiểm tra, Đức Chúa Trời cũng cảm thấy toại nguyện, Ngài cảm nhận tình yêu của con người đối với Ngài, và Ngài cảm thấy được con người ai ủi chưa từng có. Vào khoảnh khắc Áp-ra-ham giơ dao lên để giết Y-sác, Đức Chúa Trời có ngăn ông lại không? Đức Chúa Trời đã không để Áp-ra-ham hy sinh Y-sác, bởi Đức Chúa Trời đơn thuần không có ý định lấy mạng Y-sác. Do vậy, Đức Chúa Trời đã ngăn Áp-ra-ham kịp thời. Đối với Đức Chúa Trời, sự vâng phục của Áp-ra-ham đã vượt qua bài kiểm tra, điều ông làm là đã đủ, và Đức Chúa Trời đã thấy được kết quả mà Ngài đã định làm. Kết quả này có làm Đức Chúa Trời thỏa mãn không? Có thể nói rằng kết quả này làm Đức Chúa Trời thỏa mãn, rằng đó là điều Đức Chúa Trời muốn, và là điều Đức Chúa Trời đã mong mỏi được thấy. Điều này có thật không? Mặc dù, trong những bối cảnh khác nhau, Đức Chúa Trời dùng những cách khác nhau để kiểm tra mỗi người, nhưng ở Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời đã thấy điều Ngài muốn, Ngài đã thấy rằng tấm lòng của Áp-ra-ham là thật, và rằng sự vâng phục của ông là vô điều kiện. Chính sự “vô điều kiện” này là điều Đức Chúa Trời mong muốn. Người ta thường nói: “Tôi đã dâng cái này, tôi đã kiêng cái nọ – tại sao Đức Chúa Trời vẫn không thỏa mãn với tôi? Tại sao Ngài cứ bắt tôi chịu thử luyện? Tại sao Ngài cứ kiểm tra tôi?” Điều này minh chứng một thực tế: Đức Chúa Trời chưa thấy tấm lòng của ngươi, và chưa thu phục được lòng ngươi. Nói vậy nghĩa là, Ngài chưa thấy được sự chân thành như khi Áp-ra-ham có thể giơ dao lên để giết con trai bằng chính tay mình và dâng con cho Đức Chúa Trời. Ngài chưa thấy sự vâng phục vô điều kiện của ngươi, và chưa được an ủi bởi ngươi. Vậy thì, cũng là tự nhiên khi Đức Chúa Trời cứ thử luyện ngươi. Điều này không đúng sao? Trong chừng mực của đề tài này, chúng ta sẽ gác nó ở đây. Tiếp theo, chúng ta sẽ đọc “Lời hứa của Đức Chúa Trời với Áp-ra-ham”.

3. Lời hứa của Đức Chúa Trời với Áp-ra-ham

Sách sáng thế 22:16-18 Ðức Giê-hô-va phán rằng: Vì ngươi đã làm điều đó, không tiếc con ngươi, tức con một ngươi, thì ta lấy chánh mình ta mà thề rằng: sẽ ban phước cho ngươi, thêm dòng dõi ngươi nhiều như sao trên trời, đông như cát bờ biển, và dòng dõi đó sẽ chiếm được cửa thành quân nghịch. Bởi vì ngươi đã vâng theo lời dặn ta, nên các dân thế gian đều sẽ nhờ dòng dõi ngươi mà được phước.

Đây là một câu chuyện đầy đủ về phúc lành của Đức Chúa Trời với Áp-ra-ham. Mặc dù ngắn gọn nhưng nội dung của nó lại phong phú: Nó bao gồm lý do, và nền tảng cho ân tứ của Đức Chúa Trời với Áp-ra-ham, và điều Ngài đã ban cho Áp-ra-ham. Nó cũng đầy sự hân hoan và phấn khởi khi Đức Chúa Trời phán những lời này, cũng như sự mong muốn khẩn thiết của Ngài để thu phục những người có thể lắng nghe lời Ngài. Ở đây, chúng ta thấy được sự yêu thương của Đức Chúa Trời, và sự ân cần với những ai vâng phục lời Ngài và theo những sự phán dạy của Ngài. Như vậy, chúng ta cũng thấy cái giá mà Ngài trả để thu phục con người, và sự chăm sóc, suy nghĩ mà Ngài đặt vào việc thu phục họ. Hơn nữa, đoạn này, đoạn có chứa những từ “ta lấy chánh mình ta mà thề rằng”, cho chúng ta một cảm nhận mạnh mẽ về sự cay đắng và đau đớn mà Đức Chúa Trời phải chịu và Đức Chúa Trời đơn độc đằng sau công tác của kế hoạch quản lý của Ngài. Đây là một đoạn gợi nhiều suy nghĩ, và là đoạn mang ý nghĩa đặc biệt đối với những ai đến sau, và có tác động sâu sắc đối với họ.

Con người đạt được những phúc lành của Đức Chúa Trời bởi sự chân thành và vâng phục của mình

Phúc lành mà Đức Chúa Trời đã ban cho Áp-ra-ham mà chúng ta đọc ở đây có to lớn không? Nó to lớn như thế nào? Có một câu quan trọng ở đây: “Các dân thế gian đều sẽ nhờ dòng dõi ngươi mà được phước”. Câu này cho thấy rằng Áp-ra-ham đã nhận những phúc lành không được ban cho bất kỳ ai đến trước hay đến sau. Khi Áp-ra-ham, theo sự truyền dạy của Đức Chúa Trời, trả lại đứa con trai duy nhất của ông – đứa con trai yêu dấu duy nhất của ông – cho Đức Chúa Trời (lưu ý: Ở đây chúng ta không thể dùng từ “dâng”; chúng ta nên nói ông trả lại con trai ông cho Đức Chúa Trời), Đức Chúa Trời không những đã không để cho Áp-ra-ham dâng Y-sác, mà Ngài còn ban phúc lành cho ông. Ngài đã ban cho Áp-ra-ham lời hứa gì? Ngài ban cho ông lời hứa nhân thêm dòng dõi cho ông. Và sẽ được nhân thêm bao nhiêu lần? Kinh Thánh cung cấp ghi chép như sau: “…như sao trên trời, đông như cát bờ biển, và dòng dõi đó sẽ chiếm được cửa thành quân nghịch. … các dân thế gian đều sẽ nhờ dòng dõi ngươi mà được phước”. Bối cảnh để Đức Chúa Trời phán những lời này là gì? Nói như vậy nghĩa là, Áp-ra-ham đã nhận những phúc lành của Đức Chúa Trời như thế nào? Ông đã nhận chúng đúng như Đức Chúa Trời phán trong Kinh Thánh: “Bởi vì ngươi đã vâng theo lời dặn ta”. Nghĩa là, bởi vì Áp-ra-ham đã làm theo sự phán dạy của Đức Chúa Trời, bởi ông đã làm mọi điều Đức Chúa Trời phán bảo, yêu cầu, và phán dạy mà không chút than oán, do đó Đức Chúa Trời đã lập lời hứa như thế với ông. Có một câu quan trọng trong lời hứa này đề cập đến những ý nghĩ của Đức Chúa Trời vào lúc đó. Các ngươi có thấy không? Các ngươi có lẽ đã không chú ý nhiều đến những lời Đức Chúa Trời phán rằng “ta lấy chánh mình ta mà thề rằng”. Chúng có nghĩa là, khi Đức Chúa Trời phán ra những lời này, Ngài đang lấy chính mình ra mà thề. Con người đã lấy gì ra thề khi họ tuyên thệ? Họ thề với Trời, nghĩa là, họ tuyên thệ với Đức Chúa Trời và thề với Đức Chúa Trời. Con người có thể không hiểu nhiều về hiện tượng Đức Chúa Trời lấy chính Ngài ra mà thề, nhưng các ngươi sẽ có thể hiểu khi Ta cung cấp cho các ngươi lời giải thích chính xác. Đối diện với một người chỉ có thể nghe lời Ngài nhưng không hiểu lòng Ngài, Đức Chúa Trời một lần nữa cảm thấy cô đơn và bối rối. Trong sự tuyệt vọng – và có thể nói là trong tiềm thức – Đức Chúa Trời đã làm điều rất tự nhiên: Đức Chúa Trời đặt tay Ngài lên tim và gọi chính Ngài khi ban lời hứa này cho Áp-ra-ham, và từ đây con người nghe Đức Chúa Trời phán “ta lấy chánh mình ta mà thề rằng”. Thông qua những hành động của Đức Chúa Trời, ngươi có thể nghĩ về bản thân mình. Khi ngươi đặt tay lên tim và tự nói với chính mình, ngươi có ý tưởng rõ ràng về điều mình đang nói không? Thái độ của ngươi có chân thành không? Ngươi có nói một cách thẳng thắn, bằng tấm lòng mình không? Do vậy, chúng ta thấy ở đây rằng khi Đức Chúa Trời phán với Áp-ra-ham, Ngài tha thiết và chân thành. Đồng thời khi phán và ban phúc lành cho Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời cũng nói với chính Ngài. Ngài đã nói với chính Ngài rằng: Ta sẽ ban phúc lành cho Áp-ra-ham, và làm cho dòng dõi ông ta nhiều như sao trên trời và đông như cát bờ biển, bởi vì ông đã vâng lời Ta và ông là người Ta chọn. Khi Đức Chúa Trời phán “ta lấy chánh mình ta mà thề rằng”, Đức Chúa Trời đã quyết rằng nơi Áp-ra-ham, Ngài sẽ sản sinh dân sự được chọn của Y-sơ-ra-ên, sau đó Ngài sẽ dẫn những người này tiến nhanh với công tác của Ngài. Nghĩa là, Đức Chúa Trời sẽ ấn định con cháu Áp-ra-ham mang công tác quản lý của Đức Chúa Trời, và công tác của Đức Chúa Trời cùng những điều được bày tỏ bởi Đức Chúa Trời sẽ bắt đầu với Áp-ra-ham và sẽ tiếp tục nơi các con cháu Áp-ra-ham, bởi đó thực hiện được mong muốn cứu rỗi nhân loại của Đức Chúa Trời. Các ngươi nói sao, đây không phải là phúc lành ư? Đối với con người, không có phúc lành nào vĩ đại hơn thế; có thể nói đây là phúc lành vĩ đại nhất. Phúc lành mà Áp-ra-ham đã có được không phải là sự nhân thêm dòng dõi của ông, mà là việc Đức Chúa Trời đạt được sự quản lý của Ngài, sự ủy nhiệm của Ngài, và công tác của Ngài nơi các con cháu của Áp-ra-ham. Điều này nghĩa là những phúc lành mà Áp-ra-ham có được không phải là tạm thời, mà là liên tục khi kế hoạch quản lý của Đức Chúa Trời diễn tiến. Khi Đức Chúa Trời phán dạy, khi Đức Chúa Trời lấy chính Ngài ra mà thề, thì Ngài đã quyết. Quá trình của sự quyết tâm này có chân thật không? Nó có thực tế không? Đức Chúa Trời đã quyết rằng, từ lúc đó trở đi, những nỗ lực của Ngài, cái giá mà Ngài trả, việc Ngài có gì và là gì, mọi thứ của Ngài, và thậm chí sự sống của Ngài, sẽ được ban cho Áp-ra-ham và các con cháu của Áp-ra-ham. Đức Chúa Trời cũng đã quyết rằng, bắt đầu từ nhóm người này, Ngài sẽ tỏ hiện những việc làm của Ngài, và cho phép con người thấy được sự khôn ngoan, thẩm quyền và quyền năng của Ngài.

Thu phục những người biết Đức Chúa Trời và có thể chứng thực cho Ngài là mong muốn không đổi của Đức Chúa Trời

Cùng lúc nói với chính Ngài, Đức Chúa Trời cũng phán với Áp-ra-ham, nhưng Áp-ra-ham ngoài việc nghe những phúc lành mà Đức Chúa Trời ban cho mình, liệu ông có thể hiểu những mong muốn thật của Đức Chúa Trời trong tất cả những lời của Ngài vào khoảnh khắc đó không? Ông không hiểu! Như vậy, vào khoảnh khắc đó, khi Đức Chúa Trời lấy chính Ngài ra mà thề, lòng Ngài vẫn cô đơn và âu sầu. Vẫn không một người nào có thể hiểu hay thấu hiểu Ngài dự định và lên kế hoạch những gì. Vào khoảnh khắc đó, không ai – kể cả Áp-ra-ham – có thể nói chuyện riêng tư với Ngài, càng không có bất kỳ ai có thể phối hợp với Ngài để làm công tác mà Ngài phải làm. Ở bề ngoài, Đức Chúa Trời đã thu phục Áp-ra-ham, người có thể vâng lời Ngài. Nhưng trên thực tế, kiến thức của người này về Đức Chúa Trời hầu như là không có gì cả. Ngay cả khi Đức Chúa Trời đã ban phúc lành cho Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời vẫn không thỏa lòng. Ngài không thỏa mãn có nghĩa là gì? Nghĩa là sự quản lý của Ngài chỉ mới bắt đầu, nghĩa là những người mà Ngài muốn thu phục, những người mà Ngài khao khát nhìn thấy, những người Ngài yêu thương, vẫn còn xa cách Ngài; Ngài cần thời gian, Ngài cần chờ đợi, Ngài cần kiên nhẫn. Bởi vào lúc ấy, ngoài chính Đức Chúa Trời, không ai biết Ngài cần gì, hay Ngài mong muốn thu phục gì, hay Ngài mong mỏi điều gì. Như vậy, vào lúc Đức Chúa Trời cảm thấy rất phấn khởi, Đức Chúa Trời cũng cảm thấy nặng lòng. Tuy nhiên Ngài đã không dừng bước, và Ngài tiếp tục lên kế hoạch cho bước tiếp theo mà Ngài phải làm.

Các ngươi thấy gì ở lời hứa của Đức Chúa Trời với Áp-ra-ham? Đức Chúa Trời đã ban những phúc lành vĩ đại trên Áp-ra-ham đơn giản là vì ông đã vâng lời Đức Chúa Trời. Mặc dù ở bề ngoài, điều này có vẻ bình thường và là lẽ đương nhiên, nhưng trong đó chúng ta thấy được lòng Đức Chúa Trời: Đức Chúa Trời đặc biệt trân quý sự vâng phục của con người với Ngài, và nâng niu sự hiểu biết về Ngài và sự chân thành của con người đối với Ngài. Đức Chúa Trời nâng niu sự chân thành này nhiều như thế nào? Các ngươi có thể không hiểu Ngài nâng niu nó nhiều như thế nào, và có thể không ai nhận ra nó. Đức Chúa Trời đã ban cho Áp-ra-ham một con trai, và khi đứa con trai đó lớn lên, Đức Chúa Trời bảo Áp-ra-ham dâng con trai ông cho Đức Chúa Trời. Áp-ra-ham đã theo đúng từng lời phán dạy của Đức Chúa Trời, ông đã vâng lời Đức Chúa Trời, và sự chân thành của ông đã khiến Đức Chúa Trời cảm động và được Đức Chúa Trời trân quý. Đức Chúa Trời trân quý điều đó nhiều như thế nào? Và tại sao Ngài lại trân quý nó? Vào lúc không ai thấu hiểu lời Đức Chúa Trời hay hiểu lòng Ngài, Áp-ra-ham đã làm điều khiến các từng trời rung chuyển và đất chấn động, và nó làm Đức Chúa Trời cảm nhận cảm giác thỏa mãn chưa từng có, và đã mang đến cho Đức Chúa Trời niềm vui khi thu phục được người có thể vâng lời Ngài. Sự thỏa mãn và niềm vui này đến từ một tạo vật mà chính tay Đức Chúa Trời tạo nên, và là “của lễ” đầu tiên mà con người đã dâng lên Đức Chúa Trời và được Đức Chúa Trời trân quý nhất, kể từ khi con người được tạo dựng. Đức Chúa Trời đã vất vả chờ đợi của lễ này, và Ngài xem nó như món quà đầu tiên và quan trọng nhất từ con người, loài mà Ngài đã tạo nên. Nó cho Đức Chúa Trời thấy thành quả đầu tiên từ những nỗ lực của Ngài và cái giá mà Ngài đã trả, và nó cho Ngài thấy niềm hy vọng nơi nhân loại. Sau đó, Đức Chúa Trời đã có niềm khao khát thậm chí to lớn hơn nữa về một nhóm người như thế đồng hành cùng Ngài, đối đãi với Ngài bằng sự chân thành, và quan tâm đến Ngài bằng sự chân thành. Đức Chúa Trời thậm chí hy vọng rằng Áp-ra-ham sẽ tiếp tục sống, bởi Ngài muốn có một tấm lòng như của Áp-ra-ham để đồng hành cùng Ngài và ở cùng Ngài khi Ngài tiếp tục sự quản lý của mình. Cho dù Đức Chúa Trời muốn gì thì đó cũng chỉ là một ước muốn, chỉ là một ý tưởng – bởi Áp-ra-ham đơn thuần là một người có thể vâng phục Ngài, và không có chút hiểu biết hay kiến thức nào về Đức Chúa Trời. Áp-ra-ham là người kém xa các tiêu chuẩn trong yêu cầu của Đức Chúa Trời đối với con người, đó là: biết đến Đức Chúa Trời, có thể chứng thực cho Đức Chúa Trời, và có thể đồng tâm hợp ý với Đức Chúa Trời. Như vậy, Áp-ra-ham không thể bước đi cùng Đức Chúa Trời. Trong việc Áp-ra-ham dâng Y-sác, Đức Chúa Trời đã thấy sự chân thành và vâng phục của Áp-ra-ham, và thấy rằng ông đã chịu được sự kiểm tra của Đức Chúa Trời nơi ông. Mặc dù Đức Chúa Trời đã chấp nhận sự chân thành và vâng phục của ông, ông vẫn không đáng được trở thành bạn tâm tình của Đức Chúa Trời, trở thành ai đó biết và hiểu Đức Chúa Trời, và ai đó biết nhiều về tâm tính của Đức Chúa Trời; ông còn lâu mới đồng tâm hợp ý được với Đức Chúa Trời và thực hiện được ý muốn của Đức Chúa Trời. Như vậy, trong lòng Ngài, Đức Chúa Trời vẫn cô đơn và lo lắng. Đức Chúa Trời càng trở nên cô đơn và lo lắng, Ngài càng cần phải tiếp tục công tác quản lý của Ngài sớm nhất có thể, và có thể chọn lựa, thu phục một nhóm người để hoàn thành kế hoạch quản lý của Ngài và đạt được ý muốn của Ngài sớm nhất có thể. Đây là mong muốn tha thiết của Đức Chúa Trời, và nó vẫn không đổi kể từ buổi đầu cho đến hôm nay. Kể từ khi Đức Chúa Trời tạo ra con người vào lúc ban đầu, Ngài đã mong mỏi một nhóm những người đắc thắng, một nhóm người sẽ bước đi cùng Ngài và có thể hiểu, biết và nhận thức được tâm tính của Ngài. Mong muốn này của Đức Chúa Trời chưa bao giờ thay đổi. Bất kể Ngài còn phải đợi bao lâu nữa, bất kể con đường phía trước có thể khó khăn như thế nào, và bất kể những mục tiêu mà Ngài mong muốn có thể xa xôi ra sao, Đức Chúa Trời cũng không bao giờ thay đổi hay từ bỏ những kỳ vọng của Ngài đối với con người. Giờ đây khi Ta đã nói điều này, các ngươi có nhận ra điều gì đó về ý muốn của Đức Chúa Trời không? Có lẽ điều mà các ngươi đã nhận ra không quá sâu sắc – nhưng nó sẽ đến dần dần!

Trong cùng khoảng thời gian sống của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời cũng đã hủy diệt một thành phố. Thành này được gọi là Sô-đôm. Chắc chắn, nhiều người đã quen với câu chuyện về Sô-đôm, nhưng không ai quen với những ý nghĩ của Đức Chúa Trời mà đã làm nên nền tảng cho sự hủy diệt thành phố này của Ngài.

Như vậy, hôm nay, thông qua cuộc trao đổi của Đức Chúa Trời với Áp-ra-ham bên dưới, chúng ta sẽ tìm hiểu những ý nghĩ của Ngài vào lúc đó, đồng thời cũng tìm hiểu tâm tính của Ngài. Tiếp theo, chúng ta hãy đọc những đoạn sau đây của Kinh Thánh.

B. Đức Chúa Trời phải hủy diệt Sô-đôm

Sách sáng thế 18:26 Ðức Giê-hô-va phán rằng: Nếu ta tìm được trong Sô-đôm năm mươi người công bình, vì tình thương bấy nhiêu người đó ta sẽ tha hết cả thành.

Sách sáng thế 18:29 Áp-ra-ham cứ thưa rằng: Ngộ trong thành chỉ có bốn mươi người công bình. Ngài phán rằng: Ta sẽ chẳng diệt đâu.

Sách sáng thế 18:30 Áp-ra-ham cứ tiếp: Ngộ trong đó chỉ có ba mươi người. Ngài phán: ta sẽ chẳng diệt đâu.

Sách sáng thế 18:31 Áp-ra-ham thưa rằng: Nếu chỉ có hai mươi người. Ngài rằng: ta sẽ chẳng diệt thành đâu.

Sách sáng thế 18:32 Áp-ra-ham lại thưa: Ngộ chỉ có mười người. Ngài phán rằng: Ta cũng sẽ chẳng diệt thành đâu.

Đây là vài đoạn trích mà Ta đã chọn từ Kinh Thánh. Chúng không phải là bản gốc trọn vẹn. Nếu các ngươi muốn xem những đoạn này, các ngươi có thể tự tìm trong Kinh Thánh; để tiết kiệm thời gian, Ta đã bỏ đi một phần nội dung gốc. Ở đây Ta chỉ chọn một số đoạn và câu chính yếu, bỏ ra vài câu không liên quan đến buổi thông công của chúng ta hôm nay. Ở tất cả những đoạn này và nội dung mà chúng ta thông công, trọng tâm của chúng ta bỏ qua những chi tiết của câu chuyện và cách cư xử của con người trong các câu chuyện; thay vào đó, chúng ta chỉ nói về những ý nghĩ và ý tưởng của Đức Chúa Trời vào lúc đó. Trong những ý nghĩ và ý tưởng của Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ thấy được tâm tính của Đức Chúa Trời, và từ mọi việc Đức Chúa Trời đã làm, chúng ta sẽ thấy được chính Đức Chúa Trời thật – ở đây, chúng ta sẽ đạt được mục tiêu của mình.

Đức Chúa Trời chỉ quan tâm đến những ai có thể vâng lời Ngài và theo sự phán dạy của Ngài

Những đoạn trên chứa vài từ quan trọng: các con số. Lúc đầu, Đức Giê-hô-va phán rằng nếu Ngài tìm được năm mươi người công bình trong thành thì Ngài sẽ tha hết cả thành, nghĩa là, Ngài sẽ không hủy diệt thành. Như vậy thực tế là có năm mươi người công bình trong Sô-đôm không? Không có. Không lâu sau đó, Áp-ra-ham đã nói gì với Đức Chúa Trời? Ông nói, Ngộ trong thành chỉ có bốn mươi người công bình, thì sẽ ra sao? Ngài phán rằng: Ta sẽ chẳng diệt đâu. Tiếp theo, Áp-ra-ham nói, Ngộ trong đó chỉ có ba mươi người, thì sẽ ra sao? Ngài phán: Ta chẳng diệt đâu. Và ngộ nhỡ hai mươi? Ta sẽ chẳng diệt đâu? Mười? Ta sẽ chẳng diệt đâu. Thực tế là có mười người công bình trong thành không? Không có mười – nhưng có một. Và một người đó là ai? Đó là Lót. Vào lúc ấy, chỉ có một người công bình trong thành Sô-đôm, nhưng có phải Đức Chúa Trời rất chặt chẽ hay chính xác khi nói đến con số này không? Không, Ngài không như vậy! Và do đó khi con người cứ hỏi “Bốn mươi thì sao?” “Ba mươi thì sao?” cho đến khi họ còn “Mười thì sao?” Đức Chúa Trời phán: “Ngay cả khi chỉ có mười, Ta sẽ chẳng diệt thành đâu; Ta sẽ tha cho, và tha thứ cho những người khác bên cạnh mười người này”. Nếu chỉ có mười người, thì con số đó đã khá là nhỏ mọn, nhưng hóa ra, trên thực tế, thậm chí số người công chính đó cũng không có ở Sô-đôm. Như vậy, các ngươi thấy rằng trong mắt Đức Chúa Trời, tội lỗi và sự tà ác của người dân trong thành khiến Đức Chúa Trời không có chọn lựa nào ngoài hủy diệt họ. Ý của Đức Chúa Trời là gì khi Ngài nói rằng Ngài sẽ chẳng hủy diệt thành nếu có năm mươi người công bình? Những con số này không quan trọng với Đức Chúa Trời. Điều quan trọng là thành có người công bình mà Ngài muốn hay không. Nếu thành chỉ có một người công bình, Đức Chúa Trời sẽ không để họ bị hại do sự hủy diệt thành của Ngài. Ý nghĩa của điều này là, bất kể Đức Chúa Trời có hủy diệt thành hay không, và bất kể có bao nhiêu người công bình trong đó, thì đối với Đức Chúa Trời, thành phố tội lỗi này đã bị rủa sả và đáng ghét, và phải bị hủy diệt, nên biến khỏi mắt Đức Chúa Trời, trong khi người công bình thì nên ở lại. Bất kể kỷ nguyên nào, bất kể giai đoạn phát triển nào của nhân loại, thái độ của Đức Chúa Trời cũng không thay đổi: Ngài ghét cái ác, và quan tâm đến những người công bình trong mắt Ngài. Thái độ rõ ràng này của Đức Chúa Trời cũng là sự tỏ lộ thật về thực chất của Đức Chúa Trời. Bởi vì chỉ có một người công bình trong thành, Đức Chúa Trời đã không lưỡng lự nữa. Kết quả sau cùng là Sô-đôm không thể tránh bị hủy diệt. Các ngươi thấy gì ở việc này? Trong thời đại đó, Đức Chúa Trời sẽ không hủy diệt thành nếu có năm mươi người công bình trong đó, cũng không hủy diệt nếu có mười người, nghĩa là Đức Chúa Trời sẽ quyết định tha và khoan dung đối với nhân loại, hay sẽ làm công tác hướng dẫn, nhờ bởi một số ít người có thể tôn kính và thờ phượng Ngài. Đức Chúa Trời có niềm tin rất lớn vào những việc làm công chính của con người, Ngài có niềm tin rất lớn vào những ai có thể thờ phượng Ngài, và Ngài có niềm tin rất lớn vào những ai có thể làm những việc lành trước Ngài.

Từ buổi ban sơ cho đến ngày nay, các ngươi có bao giờ đọc trong Kinh Thánh về việc Đức Chúa Trời truyền đạt lẽ thật, hay phán về đường lối của Đức Chúa Trời, với bất kỳ người nào không? Không, không bao giờ. Những lời của Đức Chúa Trời với con người mà chúng ta đọc chỉ dạy bảo con người phải làm gì. Một số người đã đi và làm theo, một số người thì không; một số người tin, và một số không tin. Tất cả chỉ là vậy. Như thế, người công chính của thời đại đó – những người công chính trong mắt Đức Chúa Trời – đơn thuần là những người có thể nghe lời Đức Chúa Trời và làm theo những sự phán dạy của Ngài. Họ là những kẻ tôi tớ thực hiện lời Đức Chúa Trời giữa con người. Liệu những người như thế có thể được gọi là những người biết Đức Chúa Trời không? Liệu họ có thể được gọi là những người được Đức Chúa Trời làm cho hoàn thiện không? Không, họ không thể. Như vậy, bất kể số người là bao nhiêu, thì trong mắt Đức Chúa Trời, những người công chính này có đáng được gọi là bạn tâm tình của Đức Chúa Trời không? Họ có thể được gọi là các chứng nhân của Đức Chúa Trời không? Chắc chắn là không! Họ chắc chắn không xứng đáng được gọi là bạn tâm tình và chứng nhân của Đức Chúa Trời. Như vậy, Đức Chúa Trời đã gọi những người đó là gì? Trong Kinh Thánh, cho đến những đoạn kinh mà chúng ta vừa đọc, có nhiều trường hợp Đức Chúa Trời gọi họ là “tôi tớ của Ta”. Nói thế nghĩa là, vào lúc đó, trong mắt Đức Chúa Trời, những người công chính này là những kẻ tôi tớ của Đức Chúa Trời, họ là những người phụng sự Ngài trên đất. Và Đức Chúa Trời đã nghĩ về cách gọi này như thế nào? Tại sao Ngài đã gọi họ như thế? Liệu Đức Chúa Trời có các tiêu chuẩn trong lòng Ngài về những cách gọi mà Ngài gọi con người không? Ngài chắc chắn là có. Đức Chúa Trời có các tiêu chuẩn, dù là để Ngài gọi con người là công chính, hoàn thiện, ngay thẳng, hay tôi tớ. Khi Ngài gọi ai đó là tôi tớ của Ngài, Ngài có niềm tin vững vàng rằng người này có thể đón nhận các sứ giả của Ngài, có thể theo những sự phán dạy của Ngài, và có thể thực hiện những gì được truyền dạy bởi các sứ giả. Người này thực hiện những gì? Họ thực hiện điều mà Đức Chúa Trời phán dạy con người phải làm và thực hiện trên đất. Vào lúc đó, liệu những điều Đức Chúa Trời bảo con người làm và thực hiện trên đất có thể được gọi là đường lối của Đức Chúa Trời không? Không, không thể. Bởi vào lúc đó, Đức Chúa Trời chỉ bảo con người làm vài điều đơn giản; Ngài đã phán vài lời phán dạy đơn giản, bảo con người chỉ làm việc này hay việc kia, và không gì hơn thế nữa. Đức Chúa Trời đã hoạt động theo kế hoạch của Ngài. Bởi vì, vào lúc đó, nhiều điều kiện chưa có, thời điểm chưa chín muồi, và nhân loại khó mà hướng theo đường lối của Đức Chúa Trời, do đó đường lối của Đức Chúa Trời vẫn chưa bắt đầu được ban ra từ lòng Ngài. Đức Chúa Trời đã xem những người công chính mà Ngài nói tới, những người mà chúng ta thấy ở đây – dù là ba mươi hay hai mươi người – là tôi tớ của Ngài. Khi các sứ giả của Đức Chúa Trời đến trên các tôi tớ này, họ sẽ có thể đón nhận các vị ấy, và làm theo sự truyền dạy của các vị ấy, và hành động theo lời các vị ấy. Đây chính là việc nên làm, và nên đạt được, bởi những ai đã là tôi tớ trong mắt Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời sáng suốt trong những cách gọi của Ngài đối với con người. Ngài đã không gọi họ là tôi tớ bởi vì họ giống như các ngươi bây giờ – bởi họ đã nghe được nhiều lời giáo huấn, đã biết Đức Chúa Trời muốn làm gì, đã hiểu nhiều về ý muốn của Đức Chúa Trời, và thấu hiểu kế hoạch quản lý của Ngài – mà bởi vì họ trung thực trong nhân tính của họ và họ có thể tuân theo lời Đức Chúa Trời; khi Đức Chúa Trời phán dạy họ, họ đã có thể gạt bỏ điều mình đang làm và thực hiện điều Đức Chúa Trời phán dạy. Như vậy đối với Đức Chúa Trời, một lớp ý nghĩa khác trong danh hiệu kẻ tôi tớ chính là họ hợp tác với công tác của Ngài trên đất, và mặc dù họ không phải là các sứ giả của Đức Chúa Trời, họ là những người thi hành và thực hiện lời Đức Chúa Trời trên đất. Như vậy, các ngươi thấy rằng những kẻ tôi tớ hay những người công chính này có vị trí rất quan trọng trong lòng Đức Chúa Trời. Công tác mà Đức Chúa Trời bắt tay vào trên đất không thể không có con người hợp tác với Ngài, và vai trò mà những tôi tớ của Đức Chúa Trời đảm nhận là không thể được thay thế bởi các sứ giả của Đức Chúa Trời. Mỗi nhiệm vụ mà Đức Chúa Trời phán dạy cho những tôi tớ này có tầm quan trọng rất lớn với Ngài, và do đó Ngài không thể đánh mất họ. Không có sự hợp tác của những tôi tớ này với Đức Chúa Trời, thì công tác của Ngài giữa nhân loại sẽ giậm chân tại chỗ, như thế kế hoạch quản lý của Đức Chúa Trời và những hy vọng của Ngài sẽ trở nên vô ích.

Đức Chúa Trời giàu lòng thương xót với những ai Ngài quan tâm, và thịnh nộ vô cùng với những kẻ Ngài khinh ghét và loại bỏ

Trong những câu chuyện từ Kinh Thánh, có mười kẻ tôi tớ của Đức Chúa Trời ở Sô-đôm không? Không, không có! Thành phố có đáng được Đức Chúa Trời tha cho không? Chỉ một người trong thành – là Lót – được đón nhận các sứ giả của Đức Chúa Trời. Ngụ ý của điều này là chỉ có một kẻ tôi tớ của Đức Chúa Trời trong thành, và do đó Đức Chúa Trời không có chọn lựa nào khác ngoài cứu Lót và hủy diệt thành Sô-đôm. Những trao đổi giữa Áp-ra-ham và Đức Chúa Trời đã trích dẫn bên trên có vẻ đơn giản, nhưng chúng minh họa một điều rất sâu xa: Có những nguyên tắc trong hành động của Đức Chúa Trời, và trước khi đưa ra quyết định, Ngài sẽ dành một thời gian dài quan sát và cân nhắc; Ngài chắc chắn sẽ không đưa ra bất kỳ quyết định nào hay vội vàng đưa ra kết luận trước khi thời điểm thật phù hợp. Cuộc trao đổi giữa Áp-ra-ham và Đức Chúa Trời cho chúng ta thấy rằng quyết định của Đức Chúa Trời về việc hủy diệt thành Sô-đôm là không hề sai, bởi Đức Chúa Trời đã biết rằng trong thành không có bốn mươi người công chính, cũng không có ba mươi người công chính, cũng không có hai mươi. Thậm chí không có lấy mười. Người công chính duy nhất trong thành là Lót. Tất cả những gì đã xảy ra ở Sô-đôm và những hoàn cảnh của nó đều được Đức Chúa Trời quan sát, và quen thuộc với Đức Chúa Trời như lòng bàn tay Ngài. Do đó, quyết định của Ngài không thể sai. Trái lại, so với sự toàn năng của Đức Chúa Trời, con người quá tê dại, quá ngu ngốc và thiếu hiểu biết, quá thiển cận. Đây là điều chúng ta thấy được trong cuộc trao đổi giữa Áp-ra-ham và Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đã toát ra tâm tính Ngài từ buổi ban đầu cho đến ngày nay. Ở đây, tương tự, cũng có tâm tính của Đức Chúa Trời mà chúng ta nên thấy. Những con số thì đơn giản – chúng chẳng minh họa gì cả – nhưng ở đây có một sự bày tỏ rất quan trọng về tâm tính của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời sẽ không hủy diệt thành nhờ bởi năm mươi người công chính. Điều này có phải bởi lòng thương xót của Đức Chúa Trời không? Có phải bởi tình yêu và lòng khoan dung của Ngài không? Các ngươi đã thấy được phương diện này của tâm tính Đức Chúa Trời chưa? Thậm chí nếu chỉ có mười người công chính, Đức Chúa Trời hẳn đã không hủy diệt thành, vì mười người công chính này. Có phải đây là lòng khoan dung và tình yêu của Đức Chúa Trời hay không? Bởi lòng thương xót, khoan dung, và quan tâm của Đức Chúa Trời đối với những người công chính ấy, Ngài hẳn đã không hủy diệt thành. Đây là lòng khoan dung của Đức Chúa Trời. Và cuối cùng, chúng ta thấy kết quả gì? Khi Áp-ra-ham nói “Ngộ chỉ có mười người”, Đức Chúa Trời phán rằng: “Ta cũng sẽ chẳng diệt thành đâu”. Sau đó, Áp-ra-ham không nói gì nữa – bởi trong Sô-đôm không có mười người công chính mà ông đã đề cập, và ông không còn gì để nói nữa, và vào lúc đó ông đã hiểu tại sao Đức Chúa Trời quyết hủy diệt Sô-đôm. Ở đây, các ngươi thấy tâm tính gì của Đức Chúa Trời? Loại quyết tâm nào Đức Chúa Trời đã đưa ra? Đức Chúa Trời đã quyết rằng, nếu thành này không có mười người công chính, Ngài sẽ không cho phép nó tồn tại, và hủy diệt nó là điều không thể tránh khỏi. Chẳng phải đây là cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời sao? Cơn thịnh nộ này có đại diện cho tâm tính Đức Chúa Trời không? Tâm tính này có phải là sự tỏ lộ thực chất thánh khiết của Đức Chúa Trời không? Nó có là sự tỏ lộ thực chất công chính của Đức Chúa Trời mà con người không được xúc phạm không? Khi đã xác nhận rằng không có mười người công chính ở Sô-đôm, Đức Chúa Trời chắc chắn hủy diệt thành, và sẽ trừng phạt nặng những người trong thành đó, bởi họ đã chống đối Đức Chúa Trời, bởi họ quá nhơ bẩn và bại hoại.

Tại sao chúng ta phân tích những đoạn này theo cách này? Đó là vì vài câu đơn giản này là sự bày tỏ đầy đủ tâm tính của Đức Chúa Trời đầy thương xót và vô cùng thịnh nộ. Cùng lúc với việc trân quý người công chính, có lòng thương xót, khoan dung và chăm lo cho họ, trong lòng Đức Chúa Trời có sự ghê tởm sâu cay đối với những kẻ đã bị bại hoại ở Sô-đôm. Đây có phải là giàu lòng thương xót và vô cùng thịnh nộ hay không? Đức Chúa Trời đã hủy diệt thành phố bằng phương tiện gì? Bằng lửa. Và tại sao Ngài lại hủy diệt bằng cách dùng lửa? Khi ngươi thấy thứ gì đó bị lửa thiêu cháy, hoặc khi ngươi sắp đốt thứ gì đó, ngươi cảm thấy thế nào về nó? Tại sao ngươi lại muốn đốt nó? Ngươi có cảm thấy mình không còn cần nó, rằng ngươi không còn muốn nhìn thấy nó không? Ngươi có muốn từ bỏ nó không? Việc Đức Chúa Trời dùng lửa có nghĩa là loại bỏ, căm ghét, và rằng Ngài không còn muốn nhìn thấy Sô-đôm nữa. Đây là cảm xúc khiến Đức Chúa Trời phá hủy Sô-đôm bằng lửa. Việc sử dụng lửa đại diện cho việc Đức Chúa Trời đã giận dữ như thế nào. Lòng thương xót và khoan dung của Đức Chúa Trời quả thật có hiện hữu, nhưng sự thánh khiết và công chính của Đức Chúa Trời khi Ngài xả cơn thịnh nộ của Ngài cũng cho con người thấy phương diện không cho phép sự xúc phạm nào của Đức Chúa Trời. Khi con người hoàn toàn có khả năng vâng phục những sự phán dạy của Đức Chúa Trời và hành động theo những yêu cầu của Đức Chúa Trời, thì Đức Chúa Trời đầy lòng thương xót đối với con người; khi con người đã đầy bại hoại, căm hờn và thù địch đối với Ngài, thì Đức Chúa Trời vô cùng giận dữ. Ngài vô cùng giận dữ đến mức độ nào? Cơn thịnh nộ của Ngài sẽ kéo dài cho đến khi Đức Chúa Trời không còn thấy sự chống đối và những việc ác của con người nữa, cho đến khi chúng không còn ở trước mắt Ngài nữa. Chỉ khi đó cơn giận của Đức Chúa Trời mới biến mất. Nói cách khác, cho dù người đó là ai, nếu lòng họ trở nên xa cách với Đức Chúa Trời và quay lưng với Đức Chúa Trời, không bao giờ trở lại, vậy thì bất kể như thế nào, đối với mọi biểu hiện hay những ham muốn chủ quan của họ, dù họ muốn thờ phượng, theo chân và vâng phục Đức Chúa Trời trong thân thể họ hay trong suy nghĩ của họ, thì cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời cũng sẽ được tuôn xả không ngừng. Sẽ như thế này, khi Đức Chúa Trời giải phóng hoàn toàn cơn giận của Ngài, sau khi đã cho con người vô số cơ hội, thì khi được xả ra, sẽ không có cách nào rút lại, và Ngài sẽ không bao giờ thương xót và khoan dung với một nhân loại như thế lần nữa. Đây là một phương diện của tâm tính Đức Chúa Trời, phương diện không khoan thứ cho sự xúc phạm nào. Ở đây, việc Đức Chúa Trời sẽ hủy diệt một thành phố có vẻ bình thường đối với con người, bởi trong mắt Đức Chúa Trời, một thành phố đầy tội lỗi không thể tồn tại và tiếp tục duy trì, và là hợp lý khi nó bị Đức Chúa Trời hủy diệt. Thế nhưng ở những điều xảy ra trước và sau sự hủy diệt Sô-đôm của Ngài, chúng ta thấy trọn vẹn tâm tính Đức Chúa Trời. Ngài khoan dung và thương xót những điều tử tế, xinh đẹp và tốt lành; còn đối với những thứ tà ác, tội lỗi, và đồi bại, Ngài vô cùng thịnh nộ, đến mức Ngài không nguôi cơn thịnh nộ của Ngài. Đây là hai phương diện chính và nổi bật nhất của tâm tính Đức Chúa Trời, và hơn nữa, chúng được tỏ lộ bởi Đức Chúa Trời từ đầu đến cuối: đầy thương xót và vô cùng thịnh nộ. Hầu hết các ngươi đều đã trải nghiệm điều gì đó trong lòng thương xót của Đức Chúa Trời, nhưng rất ít người trong các ngươi nhận thức rõ cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời. Lòng thương xót và yêu thương nhân từ của Đức Chúa Trời có thể được nhìn thấy ở mọi người; nghĩa là, Đức Chúa Trời đã giàu lòng thương xót đối với mỗi người. Tuy nhiên rất hiếm khi – hoặc có thể nói là không bao giờ – Đức Chúa Trời vô cùng thịnh nộ với bất kỳ cá nhân nào hay nhóm người nào giữa các ngươi. Thư giãn đi! Không sớm thì muộn, cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời cũng sẽ được nhìn thấy và trải nghiệm bởi mọi người, nhưng bây giờ thì chưa đến lúc. Tại sao lại như vậy? Đó là vì khi Đức Chúa Trời liên tục giận dữ với ai đó, nghĩa là, khi Ngài xả cơn thịnh nộ vô cùng của Ngài trên họ, điều này có nghĩa là Ngài đã khinh ghét và loại bỏ người này từ lâu, rằng Ngài khinh miệt sự tồn tại của họ, và rằng Ngài không thể chịu đựng sự tồn tại của họ; ngay khi cơn giận của Ngài đến trên họ, họ sẽ biến mất. Ngày nay, công tác của Đức Chúa Trời chưa đạt đến điểm đó. Không ai trong các ngươi sẽ có thể chịu được khi Đức Chúa Trời trở nên vô cùng giận dữ. Vậy thì, các ngươi thấy rằng vào lúc này, Đức Chúa Trời chỉ giàu lòng thương xót đối với hết thảy các ngươi, và các ngươi chưa thấy cơn giận sâu cay của Ngài. Nếu có những người vẫn không bị thuyết phục, các ngươi có thể hỏi xin cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời đến trên các ngươi, hầu cho các ngươi có thể trải nghiệm xem cơn giận của Đức Chúa Trời và tâm tính không chịu đựng sự xúc phạm nào từ con người của Ngài có thật sự tồn tại hay không. Các ngươi có dám không?

Con người của những ngày sau rốt chỉ thấy cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời trong những lời Ngài, và không thật sự trải nghiệm cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời

Hai phương diện của tâm tính Đức Chúa Trời được nhìn thấy trong những đoạn Kinh thánh này có đáng để thông công không? Sau khi đã nghe câu chuyện này, các ngươi có sự hiểu biết mới nào lập lại về Đức Chúa Trời không? Các ngươi có dạng hiểu biết nào? Có thể nói rằng từ lúc sáng thế cho đến hôm nay, không nhóm người nào được vui hưởng nhiều ân điển hay lòng thương xót và nhân từ của Đức Chúa Trời nhiều như nhóm cuối cùng này. Mặc dù, trong giai đoạn sau cùng, Đức Chúa Trời đã làm công tác phán xét và hành phạt, và đã làm công tác của Ngài với sự oai nghi và thịnh nộ, phần lớn thời gian Đức Chúa Trời chỉ dùng lời để hoàn thành công tác của Ngài; Ngài dùng lời để dạy bảo và tưới tắm, để chu cấp và nuôi dưỡng. Trong khi đó, cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời thì luôn được che giấu, và ngoài việc trải nghiệm tâm tính thịnh nộ của Đức Chúa Trời trong những lời Ngài, rất ít người đích thân trải nghiệm cơn giận của Ngài. Nói vậy nghĩa là, trong công tác phán xét và hành phạt của Đức Chúa Trời, mặc dù cơn thịnh nộ được tỏ lộ trong lời Đức Chúa Trời cho phép con người trải nghiệm sự oai nghi của Đức Chúa Trời và việc Ngài không khoan thứ cho sự xúc phạm, cơn thịnh nộ này không vượt quá những lời của Ngài. Nói cách khác, Đức Chúa Trời dùng lời để quở trách con người, phơi bày con người, phán xét con người, hành phạt con người, và thậm chí lên án con người – nhưng Đức Chúa Trời vẫn chưa giận dữ sâu cay với con người, và thậm chí hầu như không xả cơn thịnh nộ của Ngài trên con người ngoại trừ bằng những lời của Ngài. Như thế, lòng thương xót và yêu thương nhân từ của Đức Chúa Trời mà con người đã trải nghiệm trong thời đại này là sự tỏ lộ tâm tính thật của Đức Chúa Trời, trong khi cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời mà con người đã trải nghiệm thì chỉ là hiệu ứng của giọng điệu và cảm nhận từ những lời phán của Ngài. Nhiều người hiểu lầm hiệu ứng này là sự trải nghiệm thật và kiến thức thật về cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời. Do đó, hầu hết mọi người tin rằng họ đã thấy lòng thương xót và nhân từ của Đức Chúa Trời trong những lời Ngài, rằng họ cũng đã thấy Đức Chúa Trời không khoan thứ cho sự xúc phạm của con người, và hầu hết họ thậm chí đã bắt đầu nhận thức rõ lòng thương xót và khoan dung của Đức Chúa Trời đối với con người. Nhưng cho dù hành vi của con người có xấu xa như thế nào, hay tâm tính của họ bại hoại như thế nào, Đức Chúa Trời cũng luôn chịu đựng. Trong sự chịu đựng, mục đích của Ngài là đợi cho những lời Ngài đã phán, những nỗ lực Ngài đã bỏ ra và cái giá mà Ngài đã trả sẽ đạt được một hiệu quả trong những người Ngài mong muốn thu phục. Việc chờ đợi một kết quả như thế cần thời gian, và đòi hỏi sự tạo ra những môi trường khác nhau cho con người, cũng giống như việc con người không trở thành người lớn ngay khi họ ra đời; cần mười tám đến mười chín năm, và một số người thậm chí cần hai mươi hay ba mươi năm trước khi họ trưởng thành thành một người lớn thật sự. Đức Chúa Trời chờ đợi quá trình này hoàn tất, Ngài chờ đợi một thời điểm như thế đến, và Ngài chờ đợi kết quả này đến. Suốt thời gian Ngài chờ đợi, Đức Chúa Trời rất giàu lòng thương xót. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian công tác của Đức Chúa Trời, một số lượng cực kỳ ít người bị đánh gục, và một số bị trừng phạt bởi sự chống đối nghiêm trọng của họ với Đức Chúa Trời. Những ví dụ như thế thậm chí càng là bằng chứng to lớn hơn rằng tâm tính của Đức Chúa Trời không chịu đựng sự xúc phạm của con người, và hoàn toàn xác nhận sự hiện hữu thật sự của lòng khoan dung và chịu đựng của Đức Chúa Trời đối với những người được chọn. Dĩ nhiên, trong những ví dụ điển hình này, sự tỏ lộ một phần tâm tính của Đức Chúa Trời nơi những người này không ảnh hưởng đến kế hoạch quản lý tổng thể của Đức Chúa Trời. Trên thực tế, trong giai đoạn cuối này của công tác của Đức Chúa Trời, Chúa đã chịu đựng xuyên suốt khoảng thời gian Ngài chờ đợi, và Ngài đã đánh đổi sự chịu đựng và sự sống của Ngài để cứu rỗi những ai theo Ngài. Các ngươi có thấy điều này không? Đức Chúa Trời không làm xáo trộn kế hoạch của Ngài mà không có lý do. Ngài có thể xả cơn thịnh nộ của Ngài, và Ngài cũng có thể thương xót; đây là sự tỏ lộ hai phần chính của tâm tính Đức Chúa Trời. Điều này có rõ ràng hay không? Nói cách khác, khi nói đến tâm tính Đức Chúa Trời, đúng và sai, công bằng và bất công, tích cực và tiêu cực – tất cả những điều này đều được thể hiện rõ với con người. Ngài sẽ làm gì, Ngài thích gì, Ngài ghét gì – tất cả những điều này đều có thể được phản ánh trực tiếp trong tâm tính của Ngài. Những điều như thế cũng có thể rất rõ ràng và được thấy rõ trong công tác của Đức Chúa Trời, và chúng không mơ hồ hay chung chung; thay vào đó, chúng cho phép tất cả mọi người được thấy tâm tính của Đức Chúa Trời, thấy Ngài có gì và là gì theo một cách đặc biệt cụ thể, chân thật và thiết thực. Đây là chính Đức Chúa Trời thật.

Tâm tính của Đức Chúa Trời chưa bao giờ bị giấu đi khỏi con người – lòng con người đã chệch khỏi Đức Chúa Trời

Nếu Ta không thông công về những điều này, không ai trong các ngươi có thể thấy tâm tính thật của Đức Chúa Trời trong những câu chuyện từ Kinh Thánh. Đây là thực tế. Đó là vì, mặc dù những câu chuyện Kinh Thánh này ghi lại một số việc mà Đức Chúa Trời đã làm, Đức Chúa Trời chỉ phán vài lời, và đã không trực tiếp giới thiệu tâm tính Ngài hay công khai ban ra ý muốn của Ngài với con người. Các thế hệ sau đã xem những bản ghi chép này chẳng gì hơn là những câu chuyện, và do đó có vẻ như đối với con người thì Đức Chúa Trời ẩn giấu chính Ngài khỏi con người, rằng không phải là thân vị của Đức Chúa Trời ẩn đi khỏi con người, mà là tâm tính và ý muốn của Ngài. Sau buổi thông công của Ta hôm nay, các ngươi có còn cảm thấy rằng Đức Chúa Trời hoàn toàn ẩn đi khỏi con người không? Các ngươi có còn tin rằng tâm tính Đức Chúa Trời bị ẩn đi khỏi con người không?

Kể từ lúc sáng thế, tâm tính Đức Chúa Trời đã đồng điệu với công tác của Ngài. Nó chưa bao giờ bị ẩn giấu khỏi con người, mà được công khai hoàn toàn và minh bạch với con người. Ấy thế mà, theo thời gian, lòng người đã ngày càng xa cách Đức Chúa Trời hơn bao giờ hết, và bởi sự bại hoại của con người đã trở nên sâu xa hơn, con người và Đức Chúa Trời đã trở nên ngày càng xa cách hơn nữa. Một cách chầm chậm nhưng chắc chắn, con người đã biến mất khỏi mắt Đức Chúa Trời. Con người đã trở nên không thể “thấy” Đức Chúa Trời, khiến họ không có bất kỳ “tin tức” nào về Đức Chúa Trời; do đó, họ không biết Đức Chúa Trời có tồn tại hay không, và thậm chí đi xa tới mức hoàn toàn phủ nhận sự hiện hữu của Đức Chúa Trời. Do đó, việc con người không hiểu về tâm tính Đức Chúa Trời, về việc Ngài có gì và là gì, không phải vì Đức Chúa Trời ẩn đi khỏi con người, mà là vì lòng họ đã quay lưng với Đức Chúa Trời. Mặc dù con người tin Đức Chúa Trời, lòng con người lại không có Đức Chúa Trời, và họ không biết yêu Đức Chúa Trời như thế nào, họ cũng không muốn yêu Đức Chúa Trời, bởi lòng họ không bao giờ đến gần Đức Chúa Trời và họ luôn tránh Đức Chúa Trời. Kết quả là, lòng người xa cách khỏi Đức Chúa Trời. Như vậy, lòng họ ở đâu? Thực ra, lòng người chưa đi đâu cả: Thay vì dâng nó cho Đức Chúa Trời hay tỏ lộ nó cho Chúa thấy, họ lại giữ nó cho chính mình. Điều này bất chấp thực tế rằng một số người thường cầu nguyện với Đức Chúa Trời và nói, “Lạy Đức Chúa Trời, hãy xem lòng con – Ngài biết tất cả những gì con nghĩ”, và một số người thậm chí còn thề để Đức Chúa Trời xem xét họ, rằng họ có thể bị trừng phạt nếu họ phá lời tuyên thệ. Mặc dù con người để cho Đức Chúa Trời nhìn vào trong lòng mình, điều này không có nghĩa là con người có khả năng vâng phục những sự dàn xếp và sắp đặt của Đức Chúa Trời, họ cũng không để số phận, tiền đồ và mọi thứ về mình dưới sự kiểm soát của Đức Chúa Trời. Do đó, bất kể những lời tuyên thệ mà ngươi đã lập với Đức Chúa Trời hay những gì ngươi đã tuyên bố với Ngài, trong mắt Đức Chúa Trời, lòng ngươi vẫn đóng lại với Ngài, bởi ngươi chỉ cho phép Đức Chúa Trời xem xét lòng mình mà không cho phép Ngài kiểm soát nó. Nói cách khác, ngươi chưa hề dâng lòng mình cho Đức Chúa Trời, và chỉ nói những lời xuôi tai để Đức Chúa Trời nghe; trong khi đó, ngươi che giấu những ý định lừa dối khác nhau của mình khỏi Đức Chúa Trời, cùng với những mưu đồ, gian kế, kế hoạch của ngươi, và nắm chặt lấy tiền đồ và số phận của ngươi trong tay, vô cùng sợ hãi rằng chúng sẽ bị Đức Chúa Trời lấy đi. Do đó, Đức Chúa Trời không bao giờ thấy sự chân thành của con người đối với Ngài. Mặc dù Đức Chúa Trời có quan sát bề sâu của lòng người, và có thể thấy con người đang suy nghĩ và mong ước gì trong lòng, và có thể thấy những điều họ đang giữ trong lòng, nhưng lòng người không thuộc về Đức Chúa Trời, và họ chưa dâng nó cho Đức Chúa Trời kiểm soát. Nói vậy nghĩa là, Đức Chúa Trời có quyền quan sát, nhưng Ngài không có quyền kiểm soát. Trong ý thức chủ quan của con người, con người không muốn hay có ý định dâng mình cho những sự sắp đặt của Đức Chúa Trời. Con người không chỉ khép mình lại với Đức Chúa Trời, mà thậm chí còn có những người nghĩ về những cách gói gém lòng họ lại, dùng lời nói ngon ngọt và xu nịnh để tạo ra ấn tượng sai lầm và đạt được sự tin tưởng của Đức Chúa Trời, và che đậy bộ mặt thật của họ khỏi tầm nhìn của Đức Chúa Trời. Mục tiêu của họ khi không để Đức Chúa Trời nhìn thấy chính là không để cho Đức Chúa Trời cảm nhận họ thực sự như thế nào. Họ không muốn dâng lòng họ cho Đức Chúa Trời, mà giữ chúng cho chính mình. Ẩn ý của điều này là tất cả những gì con người làm và muốn đều được lên kế hoạch, tính toán, và quyết định bởi chính con người; họ không yêu cầu sự tham dự hay can thiệp của Đức Chúa Trời, càng không cần đến sự dàn xếp hay sắp đặt của Đức Chúa Trời. Do đó, cho dù liên quan đến những sự phán dạy của Đức Chúa Trời, sự ủy nhiệm của Ngài, hay những yêu cầu mà Đức Chúa Trời đã đưa ra cho con người, thì những quyết định của con người đều dựa trên những ý định và sở thích của họ, trên tình trạng và hoàn cảnh của riêng họ vào thời điểm đó. Con người luôn dùng kiến thức và sự hiểu biết mà họ quen thuộc, và trí năng của riêng họ, để xét đoán và chọn con đường mà họ nên đi, và không cho phép sự can thiệp hay kiểm soát của Chúa. Đây là lòng người mà Đức Chúa Trời nhìn thấy.

Từ buổi đầu cho đến nay, chỉ con người là có khả năng trò chuyện với Đức Chúa Trời. Nghĩa là, trong hết thảy muôn vật và các loài thọ tạo của Đức Chúa Trời, không gì khác ngoài con người có thể trò chuyện với Đức Chúa Trời. Con người có đôi tai cho phép họ nghe, và mắt để họ thấy; họ có ngôn ngữ, những ý tưởng riêng của họ, và ý chí tự do. Họ sở hữu tất cả những gì cần thiết để nghe Đức Chúa Trời phán, và hiểu ý muốn của Đức Chúa Trời, và chấp nhận sự ủy nhiệm của Đức Chúa Trời, và do đó Đức Chúa Trời ban mọi mong muốn của Ngài trên con người, muốn giữ con người làm bạn đồng hành, đồng tâm hợp ý với Ngài và có thể bước đi cùng Ngài. Kể từ khi Đức Chúa Trời bắt đầu quản lý, Ngài đã chờ đợi con người dâng lòng họ cho Ngài, để Đức Chúa Trời làm tinh sạch và trang bị cho nó, để làm cho họ vừa ý Đức Chúa Trời và được Đức Chúa Trời yêu thương, để làm cho họ tôn kính Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác. Đức Chúa Trời mãi mong ngóng và chờ đợi kết quả này. Liệu có những người như thế trong các bản ghi chép của Kinh Thánh không? Nghĩa là, liệu có bất kỳ ai trong Kinh Thánh có khả năng dâng lòng họ cho Đức Chúa Trời không? Có bất kỳ tiền lệ nào trước thời đại này không? Hôm nay, chúng ta hãy tiếp tục đọc những câu chuyện của Kinh Thánh và xem qua liệu những điều được thực hiện bởi nhân vật này – Gióp – có bất kỳ sự liên hệ nào với đề tài “dâng lòng cho Đức Chúa Trời” mà chúng ta đang nói đến hôm nay hay không. Chúng ta hãy xem liệu Gióp có vừa ý Đức Chúa Trời và được Đức Chúa Trời yêu thương hay không.

Ấn tượng của các ngươi về Gióp là gì? Trích dẫn Kinh Thánh gốc, một số người nói rằng Gióp “kính sợ Ðức Chúa Trời, và lánh khỏi điều ác”. “Kính sợ Ðức Chúa Trời, và lánh khỏi điều ác”: đó là đánh giá ban đầu về Gióp được ghi trong Kinh Thánh. Nếu các ngươi dùng từ ngữ của riêng mình, các ngươi sẽ tóm tắt về Gióp như thế nào? Một số người nói rằng Gióp là một người tốt và biết lý lẽ; một số người nói rằng ông đã có đức tin thật nơi Đức Chúa Trời; một số người nói rằng Gióp là một con người công chính và nhân đức. Các ngươi đã thấy đức tin của Gióp, nghĩa là, trong lòng các ngươi, các ngươi đã gán tầm quan trọng to lớn và thèm muốn đức tin của Gióp. Vậy thì hôm nay, chúng ta hãy xem Gióp đã sở hữu những gì mà Đức Chúa Trời hài lòng với ông như vậy. Tiếp theo, chúng ta hãy đọc Kinh Thánh bên dưới.

C. Gióp

1. Những đánh giá về Gióp của Đức Chúa Trời và trong Kinh Thánh

Gióp 1:1 Tại trong xứ Út-xơ có một người tên là Gióp; người ấy vốn trọn vẹn và ngay thẳng; kính sợ Ðức Chúa Trời, và lánh khỏi điều ác.

Gióp 1:5 Xảy khi các ngày yến tiệc xong rồi, Gióp sai người đi dọn các con cái mình cho thanh sạch, thức dậy sớm, dâng của lễ thiêu tùy số nó; vì người nói rằng: Dễ thường các con ta có phạm tội, và trong lòng từ chối Ðức Chúa Trời chăng. Gióp hằng làm như vậy.

Gióp 1:8 Ðức Giê-hô-va lại hỏi Sa-tan rằng: Ngươi có nhìn thấy Gióp, tôi tớ của ta chăng; nơi thế gian chẳng có người nào giống như nó, vốn trọn vẹn và ngay thẳng, kính sợ Ðức Chúa Trời, và lánh khỏi điều ác?

Điểm chính mà các ngươi thấy trong những đoạn này là gì? Ba đoạn ngắn này của Kinh Thánh đều liên quan đến Gióp. Dù ngắn nhưng chúng nêu rõ ông là dạng người gì. Thông qua sự miêu tả về cách cư xử hàng ngày và hạnh kiểm của Gióp, chúng nói với mọi người rằng, sự đánh giá của Đức Chúa Trời về Gióp là xác đáng chứ không phải vô căn cứ. Chúng nói với chúng ta rằng, dù là lời khen ngợi của con người với Gióp (Gióp 1:1), hay lời khen ngợi của Đức Chúa Trời với ông (Gióp 1:8), thì cả hai đều là kết quả cho những việc làm của Gióp trước Đức Chúa Trời và con người (Gióp 1:5).

Trước tiên, chúng ta hãy đọc đoạn đầu: “Tại trong xứ Út-xơ có một người tên là Gióp; người ấy vốn trọn vẹn và ngay thẳng; kính sợ Ðức Chúa Trời, và lánh khỏi điều ác”. Đây là đánh giá đầu tiên về Gióp trong Kinh Thánh, và câu này là lời khen của tác giả với Gióp. Một cách tự nhiên, điều này cũng đại diện cho sự đánh giá của con người về Gióp, đó là “người ấy vốn trọn vẹn và ngay thẳng; kính sợ Ðức Chúa Trời, và lánh khỏi điều ác”. Tiếp theo, chúng ta hãy đọc đánh giá của Đức Chúa Trời về Gióp: “Thế gian chẳng có người nào giống như nó, vốn trọn vẹn và ngay thẳng, kính sợ Ðức Chúa Trời, và lánh khỏi điều ác” (Gióp 1:8). Trong hai đánh giá này, một đến từ con người, và một phát xuất từ Đức Chúa Trời; chúng là hai đánh giá với cùng một nội dung. Như vậy, có thể thấy rằng cách cư xử và hạnh kiểm của Gióp được con người biết đến, và cũng được Đức Chúa Trời khen ngợi. Nói cách khác, hạnh kiểm của Gióp trước con người và hạnh kiểm của ông trước Đức Chúa Trời là như nhau; ông trải bày cách hành xử và động lực của mình trước Đức Chúa Trời mọi lúc, để chúng có thể được Đức Chúa Trời quan sát, và ông là người kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác. Như thế, trong mắt Đức Chúa Trời, trong số những người trên đất, chỉ Gióp là trọn vẹn và ngay thẳng, người kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác.

Những biểu hiện cụ thể của việc Gióp kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác trong đời sống hàng ngày của ông

Tiếp theo, chúng ta hãy nhìn vào những biểu hiện cụ thể cho sự kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác của Gióp. Chúng ta cũng hãy đọc Gióp 1:5, cùng các đoạn trước và sau nó, đó là một trong những biểu hiện cụ thể cho sự kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác của Gióp. Nó liên quan tới cách ông kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác trong đời sống hàng ngày của mình; nổi bật nhất, ông không chỉ làm vì là phải làm bởi sự kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác của riêng mình, mà cũng thường xuyên dâng các của lễ thiêu trước Đức Chúa Trời thay cho các con trai ông. Ông sợ rằng chúng thường “có phạm tội, và trong lòng từ chối Ðức Chúa Trời” trong lúc yến tiệc. Sự kính sợ này biểu hiện như thế nào ở Gióp? Văn bản gốc kể câu chuyện sau: “Xảy khi các ngày yến tiệc xong rồi, Gióp sai người đi dọn các con cái mình cho thanh sạch, thức dậy sớm, dâng của lễ thiêu tùy số nó”. Hạnh kiểm của Gióp cho chúng ta thấy rằng, thay vì được biểu hiện ở hành vi bên ngoài, thì sự kính sợ Đức Chúa Trời của ông đến từ trong lòng ông, và rằng sự kính sợ Đức Chúa Trời của ông có thể được tìm thấy trong mọi khía cạnh của đời sống hàng ngày của ông, vào mọi lúc, bởi ông không chỉ lánh khỏi điều ác tự thân ông, mà còn thường dâng của lễ thiêu thay cho các con trai mình. Nói cách khác, Gióp không chỉ vô cùng lo sợ phạm tội chống lại Đức Chúa Trời và từ bỏ Đức Chúa Trời trong lòng ông, mà cũng lo rằng các con trai ông có thể phạm tội chống lại Đức Chúa Trời và từ bỏ Đức Chúa Trời trong lòng chúng. Từ đây có thể thấy rằng sự thật của việc kính sợ Đức Chúa Trời của Gióp vượt qua được sự thẩm xét, và vượt khỏi sự hoài nghi của bất kỳ con người nào. Ông đã làm như thế thi thoảng, hay thường xuyên? Câu cuối của phần này là “Gióp hằng làm như vậy”. Ý nghĩa của những từ này là Gióp đã không đi và nhìn ngó các con trai ông thi thoảng, hay khi ông vui lòng, ông cũng không xưng tội với Đức Chúa Trời thông qua lời cầu nguyện. Thay vào đó, ông thường đi dọn các con mình cho thanh sạch, và dâng của lễ thiêu vì chúng. Từ “hằng” ở đây không có nghĩa là ông làm như thế một hoặc hai ngày, hay chỉ một lúc. Nó nói rằng biểu hiện cho sự kính sợ Đức Chúa Trời của Gióp không phải là nhất thời, và không dừng lại ở kiến thức hay lời nói; thay vào đó, cách kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác đã hướng dẫn lòng ông, nó quyết định hành vi của ông; và trong lòng ông, nó là cội rễ cho sự tồn tại của ông. Việc ông hằng làm như vậy cho thấy rằng, trong lòng ông, ông thường sợ rằng chính ông sẽ phạm tội chống lại Đức Chúa Trời và cũng sợ rằng các con trai và con gái ông sẽ phạm tội chống lại Đức Chúa Trời. Điều này đại diện cho việc lòng ông đặt nặng sự kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác như thế nào. Ông hằng làm như vậy bởi vì, trong lòng ông, ông khiếp đảm và e sợ – e sợ rằng ông đã phạm điều ác và mắc tội chống lại Đức Chúa Trời, và rằng ông đã chệch khỏi đường lối của Đức Chúa Trời và do đó không thể làm vừa lòng Đức Chúa Trời. Đồng thời, ông cũng lo về các con trai và con gái mình, sợ rằng chúng đã xúc phạm Đức Chúa Trời. Như vậy đó là ứng xử thông thường của Gióp trong đời sống hàng ngày của ông. Chính ứng xử bình thường này là điều chứng minh rằng sự kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác của Gióp không phải là những lời sáo rỗng, rằng Gióp thật sự sống trọn vẹn một hiện thực như vậy. “Gióp hằng làm như vậy”: Những lời này nói với chúng ta về những việc làm hàng ngày của Gióp trước Đức Chúa Trời. Khi ông hằng làm như vậy, liệu hành xử của ông và lòng ông có đến được trước Đức Chúa Trời không? Nói cách khác, Đức Chúa Trời có thường hài lòng với tấm lòng và hành xử của ông không? Như vậy thì trong tình trạng nào, và trong bối cảnh nào mà Gióp hằng làm như vậy? Một số người nói rằng đó là vì Đức Chúa Trời thường hiện ra với Gióp nên ông đã hành động như vậy; một số người nói rằng ông hằng làm như vậy bởi vì ông có ý muốn lánh khỏi điều ác; và một số người nói rằng có lẽ ông nghĩ vận may của mình không đến dễ dàng, và ông đã biết rằng nó được Đức Chúa Trời ban cho ông, và do đó ông vô cùng sợ đánh mất của cải của mình do bởi việc phạm tội chống lại hay xúc phạm Đức Chúa Trời. Có bất kỳ lời tuyên bố nào trong số này là thật không? Rõ ràng là không. Bởi vì, trong mắt Đức Chúa Trời, điều Đức Chúa Trời đã chấp nhận và yêu mến nhất ở Gióp không phải chỉ vì ông hằng làm như vậy, mà hơn thế, đó là ứng xử của ông trước Đức Chúa Trời, trước con người, và trước Sa-tan khi ông bị trao cho Sa-tan và bị cám dỗ. Những phần bên dưới cung cấp bằng chứng thuyết phục nhất, bằng chứng cho chúng ta thấy lẽ thật trong sự đánh giá của Đức Chúa Trời về Gióp. Tiếp theo, chúng ta hãy đọc các đoạn sau của Kinh Thánh.

2. Sa-tan cám dỗ Gióp lần đầu (gia súc của ông bị trộm và tai họa xảy đến với các con ông)

a. Những lời Đức Chúa Trời phán

Gióp 1:8 Ðức Giê-hô-va lại hỏi Sa-tan rằng: Ngươi có nhìn thấy Gióp, tôi tớ của ta chăng; nơi thế gian chẳng có người nào giống như nó, vốn trọn vẹn và ngay thẳng, kính sợ Ðức Chúa Trời, và lánh khỏi điều ác?

Gióp 1:12 Ðức Giê-hô-va phán với Sa-tan rằng: Nầy, các vật người có đều phó trong tay người; nhưng chớ tra tay vào mình nó. Sa-tan bèn lui ra khỏi mặt Ðức Giê-hô-va.

b. Lời đáp của Sa-tan

Gióp 1:9-11 Sa-tan thưa với Ðức Giê-hô-va rằng: Gióp há kính sợ Ðức Chúa Trời luống công sao? Chúa há chẳng dựng hàng rào binh vực ở bốn phía người, nhà người, và mọi vật thuộc về người sao? Chúa đã ban phước cho công việc của tay người và làm cho của cải người thêm nhiều trên đất. Nhưng bây giờ hãy giơ tay Chúa ra, đụng đến hại các vật người có, ắt là người sẽ phỉ báng Chúa trước mặt.

Đức Chúa Trời cho phép Sa-tan cám dỗ Gióp để đức tin của Gióp sẽ được làm cho hoàn thiện

Gióp 1:8 là bản ghi đầu tiên mà chúng ta thấy trong Kinh Thánh về một cuộc trao đổi giữa Giê-hô-va Đức Chúa Trời và Sa-tan. Như vậy, Đức Chúa Trời đã nói gì? Văn bản gốc kể câu chuyện sau: “Ðức Giê-hô-va lại hỏi Sa-tan rằng: Ngươi có nhìn thấy Gióp, tôi tớ của ta chăng; nơi thế gian chẳng có người nào giống như nó, vốn trọn vẹn và ngay thẳng, kính sợ Ðức Chúa Trời, và lánh khỏi điều ác?” Đây là đánh giá của Đức Chúa Trời về Gióp trước Sa-tan; Đức Chúa Trời nói rằng ông là một người trọn vẹn và ngay thẳng, kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác. Trước những lời này giữa Đức Chúa Trời và Sa-tan, Đức Chúa Trời đã quyết rằng Ngài sẽ dùng Sa-tan để cám dỗ Gióp – rằng Ngài sẽ trao Gióp cho Sa-tan. Ở một phương diện, điều này sẽ chứng minh rằng sự quan sát và đánh giá về Gióp là chính xác và không sai, và sẽ khiến Sa-tan hổ thẹn thông qua chứng ngôn của Gióp; ở một phương diện khác, nó sẽ làm cho hoàn thiện đức tin nơi Đức Chúa Trời và sự kính sợ Đức Chúa Trời của Gióp. Do đó, khi Sa-tan đến trước Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời đã chẳng lập lờ. Ngài đi thẳng vào vấn đề và hỏi Sa-tan: “Ngươi có nhìn thấy Gióp, tôi tớ của ta chăng; nơi thế gian chẳng có người nào giống như nó, vốn trọn vẹn và ngay thẳng, kính sợ Ðức Chúa Trời, và lánh khỏi điều ác?” Trong câu hỏi của Đức Chúa Trời có ý nghĩa sau: Đức Chúa Trời biết rằng Sa-tan đã lang thang khắp nơi và thường rình rập Gióp, tôi tớ của Đức Chúa Trời. Hắn thường cám dỗ và tấn công Gióp, cố tìm cách làm hư hoại ông nhằm chứng minh rằng đức tin nơi Đức Chúa Trời và sự kính sợ Đức Chúa Trời của ông không thể kiên vững. Sa-tan cũng sẵn sàng tìm cơ hội để quấy phá Gióp, để Gióp có thể từ bỏ Đức Chúa Trời, và để hắn có thể chiếm đoạt ông từ tay Đức Chúa Trời. Tuy nhiên Đức Chúa Trời đã nhìn vào lòng Gióp và thấy rằng ông trọn vẹn và ngay thẳng, và rằng ông kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác. Đức Chúa Trời đã dùng một câu hỏi để nói với Sa-tan rằng Gióp là một người trọn vẹn và ngay thẳng, kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác, rằng Gióp sẽ không bao giờ từ bỏ Đức Chúa Trời và theo Sa-tan. Khi đã nghe lời khen ngợi của Đức Chúa Trời với Gióp, trong Sa-tan nổi lên một cơn giận bởi sự nhục nhã, và Sa-tan đã trở nên giận dữ hơn và càng nôn nóng giành lấy Gióp, bởi Sa-tan không bao giờ tin rằng ai đó có thể trọn vẹn và ngay thẳng, hoặc họ có thể kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác. Đồng thời, Sa-tan cũng ghét sự trọn vẹn và ngay thẳng ở con người, và ghét những người có thể kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác. Do đó Gióp 1:9-11 viết rằng: “Sa-tan thưa với Ðức Giê-hô-va rằng: Gióp há kính sợ Ðức Chúa Trời luống công sao? Chúa há chẳng dựng hàng rào binh vực ở bốn phía người, nhà người, và mọi vật thuộc về người sao? Chúa đã ban phước cho công việc của tay người và làm cho của cải người thêm nhiều trên đất. Nhưng bây giờ hãy giơ tay Chúa ra, đụng đến hại các vật người có, ắt là người sẽ phỉ báng Chúa trước mặt”. Đức Chúa Trời đã quá quen với bản tính hiểm độc của Sa-tan, và đã biết quá rõ rằng Sa-tan từ lâu đã lên kế hoạch làm hư hoại Gióp, và như vậy ở đây Đức Chúa Trời mong muốn rằng, thông qua việc nói với Sa-tan một lần nữa rằng Gióp trọn vẹn và ngay thẳng, rằng ông kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác, để khiến Sa-tan phải hợp tác, để khiến Sa-tan phải phơi bày bộ mặt thật của hắn và tấn công, cám dỗ Gióp. Nói cách khác, Đức Chúa Trời chủ ý nhấn mạnh rằng Gióp trọn vẹn và ngay thẳng, rằng ông kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác, và bằng phương tiện này, Ngài khiến Sa-tan tấn công Gióp bởi lòng căm ghét và giận dữ của Sa-tan đối với việc Gióp là người trọn vẹn và ngay thẳng như thế nào, một người kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác. Kết quả là, Đức Chúa Trời sẽ khiến Sa-tan hổ thẹn thông qua thực tế rằng Gióp là người trọn vẹn và ngay thẳng, một người kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác, và Sa-tan sẽ hổ thẹn và bị đánh bại hoàn toàn. Sau đó, Sa-tan sẽ không còn hồ nghi hay cáo buộc sự trọn vẹn, ngay thẳng, kính sợ Đức Chúa Trời, hay lánh khỏi điều ác của Gióp. Theo cách này, sự thử luyện của Đức Chúa Trời và cám dỗ của Sa-tan là hầu như không thể tránh khỏi. Người duy nhất có thể chịu được thử thách của Đức Chúa Trời và cám dỗ của Sa-tan là Gióp. Sau cuộc trao đổi này, Sa-tan được cho phép cám dỗ Gióp. Như thế Sa-tan bắt đầu vòng tấn công đầu tiên của hắn. Mục tiêu của những cuộc tấn công này là của cải của Gióp, bởi Sa-tan đã cáo buộc Gióp như thế này: “Gióp há kính sợ Ðức Chúa Trời luống công sao? … Chúa đã ban phước cho công việc của tay người và làm cho của cải người thêm nhiều trên đất”. Kết quả là, Đức Chúa Trời cho phép Sa-tan lấy tất cả những gì Gióp có – đây là mục đích duy nhất cho lý do tại sao Đức Chúa Trời nói chuyện với Sa-tan. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời đưa ra một yêu cầu với Sa-tan: “Nầy, các vật người có đều phó trong tay người; nhưng chớ tra tay vào mình nó” (Gióp 1:12). Đây là điều kiện mà Đức Chúa Trời đã đưa ra sau khi Ngài cho phép Sa-tan cám dỗ Gióp và để Gióp vào tay Sa-tan, và đây là giới hạn mà Ngài đặt ra với Sa-tan: Ngài lệnh rằng Sa-tan không được làm hại Gióp. Bởi vì Đức Chúa Trời nhận thấy rằng Gióp là người trọn vẹn và ngay thẳng, và bởi Ngài có niềm tin rằng sự trọn vẹn và ngay thẳng của Gióp trước Ngài là không chút nghi ngại và có thể được kiểm chứng, do đó Đức Chúa Trời đã cho phép Sa-tan cám dỗ Gióp, nhưng áp đặt một giới hạn lên Sa-tan: Sa-tan được phép lấy hết của cải của Gióp, nhưng hắn không thể đặt dù một ngón tay lên ông. Điều này nghĩa là gì? Nghĩa là Đức Chúa Trời đã không hoàn toàn giao Gióp cho Sa-tan vào khoảnh khắc đó. Sa-tan có thể cám dỗ Gióp bằng bất cứ phương tiện nào hắn muốn, nhưng hắn không thể làm hại chính Gióp – dù chỉ một sợi tóc trên đầu ông – bởi vì mọi thứ của con người được kiểm soát bởi Đức Chúa Trời, và bởi con người sống hay chết là do Đức Chúa Trời định đoạt. Sa-tan không được phép làm điều này. Sau khi Đức Chúa Trời đã nói những lời này với Sa-tan, Sa-tan không thể chờ đợi để bắt tay vào việc. Hắn dùng mọi phương tiện để cám dỗ Gióp, và không lâu sau đó Gióp đã mất hết vô số chiên và bò cùng toàn bộ của cải mà Đức Chúa Trời đã ban cho ông… Như vậy thử luyện của Đức Chúa Trời đã đến với ông.

Mặc dù Kinh Thánh nói với chúng ta về nguồn gốc sự cám dỗ của Gióp, nhưng bản thân Gióp, người đã chịu những sự cám dỗ này, có nhận biết điều gì đang xảy ra không? Gióp chỉ là một người phàm; dĩ nhiên ông không biết gì về câu chuyện đang bày ra quanh ông. Tuy nhiên, sự kính sợ Đức Chúa Trời và sự trọn vẹn, ngay thẳng của ông khiến ông nhận ra rằng những thử luyện của Đức Chúa Trời đã đến trên ông. Ông không biết điều gì đã xảy ra trong cõi thuộc linh, cũng không biết những ý định của Đức Chúa Trời đằng sau những thử luyện này. Nhưng ông có biết rằng bất kể điều gì xảy ra với ông, ông cũng nên giữ vững sự trọn vẹn và ngay thẳng của mình, và nên tuân giữ cách kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác. Thái độ và phản ứng của Gióp với những vấn đề này được Đức Chúa Trời thấy rõ. Đức Chúa Trời đã thấy gì? Ngài đã thấy lòng kính sợ Đức Chúa Trời của Gióp, bởi từ đầu cho đến tận khi Gióp bị thử luyện, lòng Gióp vẫn cởi mở với Đức Chúa Trời, nó được bày ra trước Đức Chúa Trời, và Gióp đã không từ bỏ sự trọn vẹn và ngay thẳng của mình, ông cũng không vứt bỏ hay quay lưng với cách kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác – không gì làm Đức Chúa Trời hài lòng cho bằng điều này. Tiếp theo, chúng ta sẽ xem Gióp đã trải qua những sự cám dỗ nào, và ông đã đối phó với những thử luyện này như thế nào. Chúng ta hãy đọc từ Kinh Thánh.

c. Phản ứng của Gióp

Gióp 1:20-21 Gióp bèn chổi dậy, xé áo mình, và cạo đầu, đoạn xấp mình xuống đất mà thờ lạy, và nói rằng: Tôi trần truồng lọt khỏi lòng mẹ, và tôi cũng sẽ trần truồng mà về; Ðức Giê-hô-va đã ban cho, Ðức Giê-hô-va lại cất đi; đáng ngợi khen danh Ðức Giê-hô-va!

Việc Gióp chấp nhận trả lại tất cả những gì ông sở hữu phát xuất từ sự kính sợ Đức Chúa Trời của ông

Sau khi Đức Chúa Trời nói với Sa-tan: “Nầy, các vật người có đều phó trong tay người; nhưng chớ tra tay vào mình nó”, Sa-tan đã rời đi và không lâu sau đó Gióp phải chịu những vụ tấn công bất chợt và ác liệt: Đầu tiên, bò và lừa của ông bị cướp đoạt và một số tôi tớ của ông bị giết; tiếp theo, chiên của ông và thêm một số tôi tớ nữa bị lửa thiêu; sau đó, lạc đà của ông bị lấy đi và thậm chí càng thêm nhiều tôi tớ bị sát hại; cuối cùng, mạng các con trai và con gái ông cũng bị lấy mất. Chuỗi tấn công này là sự hành hạ mà Gióp phải chịu trong lần cám dỗ đầu. Như Đức Chúa Trời đã lệnh, trong những cuộc tấn công này, Sa-tan chỉ nhắm đến của cải và các con của Gióp, và không làm hại đến bản thân Gióp. Dẫu vậy, Gióp trong thoáng chốc từ một người giàu có sở hữu rất nhiều của cải đã bị biến thành một người chẳng có gì cả. Không ai có thể chịu được cú đánh bất ngờ kinh hoàng này hay phản ứng đúng cách với nó, ấy thế mà Gióp đã chứng tỏ phương diện phi thường của ông. Kinh Thánh kể câu chuyện sau: “Gióp bèn chổi dậy, xé áo mình, và cạo đầu, đoạn xấp mình xuống đất mà thờ lạy”. Đây là phản ứng đầu tiên của Gióp sau khi nghe rằng ông đã mất các con và tất cả của cải. Hơn hết, ông đã không tỏ ra bất ngờ, hay hoảng lên, càng không thể hiện sự giận dữ hay căm ghét. Như vậy, các ngươi thấy rằng trong lòng ông, ông đã nhận ra những thảm họa này không phải là một tai nạn, hay phát xuất từ tay con người, chúng càng không đến từ sự báo ứng hay trừng phạt. Thay vào đó, những thử luyện của Đức Giê-hô-va đã đến trên ông; chính Đức Giê-hô-va là Đấng muốn lấy đi của cải và các con ông. Gióp đã rất điềm tĩnh và minh mẫn khi ấy. Nhân tính trọn vẹn và ngay thẳng của ông đã cho phép ông đưa ra những sự phán đoán và quyết định chính xác một cách hợp lý và tự nhiên về những thảm họa đã xảy đến trên ông, và kết quả là, ông đã hành xử với sự điềm tĩnh lạ thường: “Gióp bèn chổi dậy, xé áo mình, và cạo đầu, đoạn xấp mình xuống đất mà thờ lạy”. “Xé áo mình” có nghĩa là ông không mặc gì, và không sở hữu gì; “cạo đầu” nghĩa là ông đã quay lại trước Đức Chúa Trời như một đứa trẻ sơ sinh; “xấp mình xuống đất mà thờ lạy” nghĩa là ông đã đến thế gian này trần truồng, và vẫn không có bất cứ thứ gì hôm nay, ông trở về với Đức Chúa Trời như một đứa bé sơ sinh. Thái độ của Gióp đối với tất cả những gì xảy đến với ông là điều không tạo vật nào của Đức Chúa Trời có thể đạt được. Đức tin của ông nơi Đức Giê-hô-va đã vượt khỏi lĩnh vực của niềm tin; đây là sự kính sợ Đức Chúa Trời, sự vâng phục Đức Chúa Trời của ông; ông không chỉ có thể tạ ơn Đức Chúa Trời vì đã ban cho ông, mà còn vì đã lấy đi từ ông. Hơn nữa, ông có thể chủ động chấp nhận trả lại cho Đức Chúa Trời tất cả những gì ông sở hữu, bao gồm cả sự sống của ông.

Sự kính sợ và vâng phục Đức Chúa Trời của Gióp là một tấm gương cho nhân loại, và sự trọn vẹn, ngay thẳng của ông là đỉnh cao của nhân tính mà con người phải sở hữu. Mặc dù không nhìn thấy Đức Chúa Trời, ông đã nhận ra rằng Đức Chúa Trời thật sự hiện hữu, và bởi sự nhận biết này mà ông kính sợ Đức Chúa Trời, và bởi sự kính sợ Đức Chúa Trời, ông có thể vâng phục Đức Chúa Trời. Ông đã cho Đức Chúa Trời toàn quyền lấy bất cứ thứ gì ông có, ấy thế mà ông vẫn không than oán, và sấp mình trước Đức Chúa Trời mà nói với Ngài rằng, vào chính khoảnh khắc này, ngay cả khi Đức Chúa Trời lấy đi xác thịt ông, ông cũng sẽ vui vẻ để cho Ngài làm như thế mà không than oán. Toàn bộ ứng xứ này là bởi nhân tính trọn vẹn và ngay thẳng của ông. Nói thế nghĩa là, như một kết quả của sự vô tội, trung thực và tử tế của ông, Gióp không lung lay trong sự nhận biết và trải nghiệm của ông về sự hiện hữu của Đức Chúa Trời, và trên nền tảng này, ông đã đặt ra những yêu cầu cho chính mình và tiêu chuẩn hóa suy nghĩ, hành vi, ứng xử và những nguyên tắc hành động của mình trước Đức Chúa Trời theo sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời với ông và những việc làm của Đức Chúa Trời mà ông đã thấy giữa muôn vật. Theo thời gian, những trải nghiệm của ông đã tạo nên bên trong ông một sự kính sợ thật và thực tế với Đức Chúa Trời và khiến ông lánh khỏi điều ác. Đây là nguồn gốc sự chính trực mà Gióp giữ vững. Gióp sở hữu một nhân tính thật thà, vô tội, và tử tế, và ông đã có trải nghiệm thật về việc kính sợ Đức Chúa Trời, vâng phục Đức Chúa Trời, và lánh khỏi điều ác, cũng như sự hiểu biết rằng “Ðức Giê-hô-va đã ban cho, Ðức Giê-hô-va lại cất đi”. Chỉ bởi những điều này mà ông có thể kiên vững với chứng ngôn của mình giữa những sự tấn công gian ác như thế từ Sa-tan, và chỉ bởi chúng mà ông có thể không làm Đức Chúa Trời thất vọng và đưa ra câu trả lời thỏa đáng với Đức Chúa Trời khi những thử luyện của Đức Chúa Trời đến trên ông. Mặc dù ứng xử của Gióp trong lần cám dỗ đầu tiên này là rất thẳng thắn, các thế hệ sau không chắc đạt được sự thẳng thắn đó thậm chí sau cả đời nỗ lực, họ cũng không hẳn sở hữu được ứng xử của Gióp như được miêu tả bên trên. Ngày nay, đối diện với ứng xử ngay thẳng của Gióp, và so sánh nó với những lời kêu gào và sự quyết tâm “tuyệt đối vâng phục và trung thành cho đến chết” được phô ra cho Đức Chúa Trời bởi những người tuyên bố tin Đức Chúa Trời và theo Đức Chúa Trời, các ngươi có cảm thấy vô cùng hổ thẹn hay không?

Khi ngươi đọc trong Kinh Thánh về tất cả những gì Gióp và gia đình ông đã phải chịu, phản ứng của ngươi là gì? Ngươi có chìm trong suy nghĩ không? Ngươi có kinh ngạc không? Liệu những thử luyện đã xảy đến với Gióp có thể được miêu tả là “khủng khiếp” không? Nói cách khác, đọc những thử luyện của Gióp được miêu tả trong Kinh Thánh cũng đã đủ khiếp đảm, huống chi chúng hẳn đã như thế nào trong đời thực. Như vậy, các ngươi thấy rằng những gì đã xảy đến với Gióp không phải là một “sự diễn tập”, mà là một “trận chiến” thật sự, với “súng” và “đạn” thật. Nhưng bởi tay ai mà ông đã chịu những thử luyện này? Dĩ nhiên, chúng là hoạt động của Sa-tan, và Sa-tan đã làm những điều này bởi chính tay hắn. Dù vậy, những điều này được Đức Chúa Trời cho phép. Đức Chúa Trời có nói với Sa-tan dùng phương tiện gì để cám dỗ Gióp không? Ngài không nói. Đức Chúa Trời chỉ đưa ra một điều kiện mà Sa-tan phải tuân theo, và sau đó sự cám dỗ đến trên Gióp. Khi sự cám dỗ đến trên Gióp, nó cho con người một cảm nhận về sự tà ác và xấu xa của Sa-tan, về sự hiểm độc và căm ghét của hắn đối với con người, và sự thù địch của hắn với Đức Chúa Trời. Ở đây chúng ta thấy rằng không thể dùng lời để diễn tả sự cám dỗ này độc ác như thế nào. Có thể nói rằng bản tính hiểm độc mà Sa-tan dùng để hành hạ con người, và bộ mặt xấu xa của hắn, đã hoàn toàn bị phơi bày vào khoảnh khắc này. Sa-tan đã dùng cơ hội này, cơ hội bởi sự cho phép của Đức Chúa Trời, để bắt Gióp chịu hành hạ dữ dội và tàn nhẫn, phương pháp và mức độ tàn độc vừa không thể tưởng tượng được, vừa hoàn toàn không thể chịu được đối với con người ngày nay. Thay vì nói rằng Gióp bị Sa-tan cám dỗ, và rằng ông đã kiên vững với chứng ngôn của mình trong sự cám dỗ này, tốt hơn nên nói rằng trong những thử luyện mà Đức Chúa Trời đặt ra cho Gióp, ông đã dấn mình vào một trận đấu với Sa-tan để bảo vệ sự trọn vẹn và ngay thẳng của mình, và để bảo vệ cách kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác của mình. Trong trận đấu này, Gióp đã mất đi vô số chiên và gia súc, ông đã mất hết của cải, và ông đã mất các con trai con gái của mình. Tuy nhiên, ông đã không từ bỏ sự trọn vẹn, ngay thẳng, hay sự kính sợ Đức Chúa Trời của mình. Nói cách khác, trong trận đấu này với Sa-tan, Gióp thà bị tước mất của cải và con cái của ông hơn là mất đi sự trọn vẹn, ngay thẳng và kính sợ Đức Chúa Trời của mình. Ông thà giữ lấy gốc rễ ý nghĩa của việc làm người. Kinh Thánh kể lại một câu chuyện súc tích về toàn bộ quá trình Gióp mất đi của cải của ông, và cũng ghi chép về ứng xử và thái độ của Gióp. Câu chuyện ngắn gọn, súc tích này mang đến cảm giác rằng Gióp gần như thoải mái khi đối mặt với sự cám dỗ này, nhưng nếu những gì thật sự đã xảy ra được tái hiện – cũng xét đến thực tế bản tính hiểm độc của Sa-tan – thì sự việc sẽ không đơn giản hay dễ dàng như được miêu tả trong những câu này. Hiện thực đã tàn nhẫn hơn rất nhiều. Đó là mức độ tàn phá và căm ghét mà Sa-tan đối xử với nhân loại và tất cả những ai được Đức Chúa Trời chấp thuận. Nếu Đức Chúa Trời không bảo Sa-tan không làm hại Gióp, Sa-tan hẳn đã giết ông mà không chút thương tiếc. Sa-tan không muốn bất kỳ ai thờ phượng Đức Chúa Trời, hắn cũng không muốn những người công chính trong mắt Đức Chúa Trời và những người trọn vẹn, ngay thẳng có thể tiếp tục kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác. Đối với con người, kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác nghĩa là họ lánh khỏi và từ bỏ Sa-tan, và như thế Sa-tan đã lợi dụng sự cho phép của Đức Chúa Trời để tuôn xả sự tức giận và căm ghét của hắn với Gióp không chút thương xót. Như vậy, các ngươi thấy sự hành hạ mà Gióp đã phải chịu to lớn như thế nào, từ tinh thần cho đến xác thịt, từ ngoài vào trong. Ngày nay, chúng ta không thấy những điều đó vào thời ấy như thế nào, và từ những câu chuyện trong Kinh Thánh, chúng ta chỉ có thể có được cái nhìn thoáng qua về những cảm xúc của Gióp khi ông chịu sự hành hạ vào lúc ấy.

Sự chính trực không lay chuyển của Gióp khiến Sa-tan hổ thẹn và khiến hắn tháo chạy trong hoảng loạn

Như vậy, Đức Chúa Trời đã làm gì khi Gióp chịu sự hành hạ này? Đức Chúa Trời đã quan sát, theo dõi, và chờ đợi kết quả. Khi Đức Chúa Trời quan sát và theo dõi, Ngài đã cảm thấy thế nào? Dĩ nhiên, Ngài cảm thấy âu sầu. Nhưng có thể nào Đức Chúa Trời hối tiếc vì đã cho phép Sa-tan cám dỗ Gióp chỉ vì sự âu sầu mà Ngài cảm nhận không? Câu trả lời là không, Ngài không thể cảm thấy sự hối tiếc như thế. Bởi Ngài vững tin rằng Gióp trọn vẹn và ngay thẳng, rằng ông kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác. Đức Chúa Trời đã đơn thuần cho Sa-tan cơ hội xác minh sự công chính của Gióp trước Đức Chúa Trời, và phơi bày sự gian ác, tính bần tiện của chính hắn. Hơn nữa, đó là cơ hội để Gióp chứng thực cho sự công chính của ông, cho sự kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác của ông trước mọi người trên thế gian, trước Sa-tan, và thậm chí trước hết thảy những ai theo Đức Chúa Trời. Kết quả sau cùng có chứng tỏ rằng sự đánh giá của Đức Chúa Trời về Gióp là đúng và không sai lầm hay không? Gióp có thật sự vượt qua được Sa-tan không? Ở đây chúng ta đọc được những lời trọn vẹn mà Gióp đã nói, những lời là bằng chứng rằng ông đã chiến thắng Sa-tan. Ông đã nói: “Tôi trần truồng lọt khỏi lòng mẹ, và tôi cũng sẽ trần truồng mà về”. Đây là thái độ vâng phục của Gióp đối với Đức Chúa Trời. Tiếp theo, ông nói: “Ðức Giê-hô-va đã ban cho, Ðức Giê-hô-va lại cất đi; đáng ngợi khen danh Ðức Giê-hô-va!” Những lời nói ra bởi Gióp chứng tỏ rằng Đức Chúa Trời quan sát bề sâu của lòng người, rằng Ngài có thể nhìn thấu tâm trí con người, và chúng chứng tỏ rằng sự chấp thuận của Ngài với Gióp là không sai, rằng người đã được Đức Chúa Trời chấp thuận này là công chính. “Ðức Giê-hô-va đã ban cho, Ðức Giê-hô-va lại cất đi; đáng ngợi khen danh Ðức Giê-hô-va!” Những lời này là chứng ngôn của Gióp với Đức Chúa Trời. Chính những lời bình thường này của Gióp đã khiến Sa-tan sợ hãi, mang đến cho hắn sự hổ thẹn và khiến hắn tháo chạy trong hoảng loạn, và hơn nữa, đã cùm chặt Sa-tan và khiến hắn không cách xoay sở. Vì vậy, những lời này cũng đã khiến Sa-tan cảm thấy sự phi thường và sức mạnh từ những việc làm của Giê-hô-va Đức Chúa Trời, và cho phép hắn nhận thấy được uy tín phi thường của người có tấm lòng được thống trị bởi đường lối của Đức Chúa Trời. Hơn nữa, chúng minh chứng với Sa-tan sức sống mãnh liệt được thể hiện bởi một con người nhỏ bé và tầm thường trong việc bám sát đường lối kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác. Sa-tan vì lẽ ấy đã bị đánh bại ở trận đấu đầu tiên. Bất chấp đã “học được bài học học từ đây”, Sa-tan cũng không có ý định buông tha Gióp, cũng không có sự thay đổi nào trong bản tính hiểm độc của hắn. Sa-tan đã cố tiếp tục tấn công Gióp, và do đó một lần nữa đến trước Đức Chúa Trời…

Tiếp theo, chúng ta đọc từ Kinh thánh về lần thứ hai Gióp bị cám dỗ.

3. Sa-tan một lần nữa cám dỗ Gióp (những ung độc xuất hiện khắp người Gióp)

a. Những lời Đức Chúa Trời phán

Gióp 2:3 Ðức Giê-hô-va lại phán hỏi Sa-tan rằng: Ngươi có nhìn thấy Gióp, tôi tớ ta chăng? Trên đất chẳng có ai giống như người, vốn trọn vẹn và ngay thẳng, kính sợ Ðức Chúa Trời, và lánh khỏi đều ác; lại người bền đỗ trong sự hoàn toàn mình, mặc dầu ngươi có giục ta phá hủy người vô cớ.

Gióp 2:6 Ðức Giê-hô-va phán với Sa-tan rằng: Kìa, người ở trong tay ngươi; nhưng chỉ hãy giữ mạng sống người.

b. Những lời Sa-tan nói

Gióp 2:4-5 Sa-tan thưa lại với Ðức Giê-hô-va rằng: Lấy da đền da, phàm vật chi một người có, tất sẽ trao thế cho mạng sống mình. Nhưng bây giờ xin Chúa hãy giơ tay ra, đụng đến hại xương thịt người, ắt là người sẽ phỉ báng Chúa trước mặt.

c. Gióp đối phó thế nào với sự thử luyện

Gióp 2:9-10 Vợ Gióp nói với người rằng: Ủa? Ông hãy còn bền đỗ trong sự hoàn toàn mình sao? Hãy phỉ báng Ðức Chúa Trời, và chết đi! Người đáp lại rằng: Ngươi nói như một người đờn bà ngu muội. Ủa sao! Sự phước mà tay Ðức Chúa Trời ban cho chúng ta, chúng ta lãnh lấy, còn sự tai họa mà tay Ngài giáng trên chúng ta, lại chẳng lãnh lấy sao? Trong mọi việc đó, Gióp không phạm tội bởi môi miệng mình.

Gióp 3:3 Ngày ta đã sanh ra, khá hư mất đi; Còn đêm đã nói rằng: Có được thai dựng một con trai, hãy tiêu diệt đi!

Tình yêu của Gióp đối với đường lối của Đức Chúa Trời vượt hơn mọi sự

Kinh Thánh ghi chép những lời được nói giữa Đức Chúa Trời và Sa-tan như sau: “Ðức Giê-hô-va lại phán hỏi Sa-tan rằng: Ngươi có nhìn thấy Gióp, tôi tớ ta chăng? Trên đất chẳng có ai giống như người, vốn trọn vẹn và ngay thẳng, kính sợ Ðức Chúa Trời, và lánh khỏi đều ác; lại người bền đỗ trong sự hoàn toàn mình, mặc dầu ngươi có giục ta phá hủy người vô cớ” (Gióp 2:3). Trong cuộc trao đổi này, Đức Chúa Trời lặp lại cùng một câu hỏi với Sa-tan. Đó là một câu hỏi cho chúng ta thấy sự đánh giá xác quyết của Đức Chúa Trời về những gì Gióp đã minh chứng và sống bày tỏ ra trong sự thử luyện đầu tiên, và nó không khác với sự đánh giá của Đức Chúa Trời về Gióp trước khi ông trải qua sự cám dỗ của Sa-tan. Nói vậy nghĩa là, trước khi sự cám dỗ đến trên ông, trong mắt Đức Chúa Trời, Gióp là trọn vẹn, và vì lẽ ấy Đức Chúa Trời bảo vệ ông và gia đình ông, và ban phúc lành cho ông; ông đáng được ban phúc lành trong mắt Đức Chúa Trời. Sau sự cám dỗ, Gióp đã không phạm tội bởi môi miệng mình vì bị mất của cải và các con, mà tiếp tục ngợi khen danh Đức Giê-hô-va. Hạnh kiểm thật của ông đã khiến Đức Chúa Trời khen ngợi ông, và bởi thế, Đức Chúa Trời đã chấm điểm tuyệt đối cho ông. Bởi trong mắt Gióp, con cái hay tài sản của ông không đủ để khiến ông từ bỏ Đức Chúa Trời. Nói cách khác, vị trí của Đức Chúa Trời trong lòng ông không thể bị thay thế bởi các con ông hay bất kỳ món tài sản nào. Trong sự cám dỗ đầu tiên của Gióp, ông đã cho Đức Chúa Trời thấy rằng tình yêu của ông dành cho Ngài và tình yêu của ông đối với con đường kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác vượt hơn mọi thứ khác. Đơn thuần là thử luyện này đã cho Gióp trải nghiệm về việc nhận một phần thưởng từ Giê-hô-va Đức Chúa Trời và để Ngài lấy đi của cải, con cái của ông.

Đối với Gióp, đây là một trải nghiệm thật đã rửa sạch tâm hồn ông; đó là phép báp-têm của sự sống đã làm thành toàn sự tồn tại của ông, và hơn nữa, đó là một bữa yến tiệc xa hoa để kiểm chứng sự vâng phục và kính sợ của ông với Đức Chúa Trời. Sự cám dỗ này đã biến đổi vị trí của Gióp từ một người giàu sang thành một kẻ chẳng có gì, và nó cũng cho phép ông trải nghiệm sự ngược đãi của Sa-tan đối với nhân loại. Cảnh cơ cực của ông đã không khiến ông ghê tởm Sa-tan; mà đúng hơn, trong những hành động đê hèn của Sa-tan, ông đã thấy sự xấu xa và bần tiện của Sa-tan, cũng như sự thù địch và phản nghịch của Sa-tan đối với Đức Chúa Trời, và điều này càng thúc đẩy ông mãi kiên vững với con đường kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác. Ông đã thề rằng sẽ không bao giờ từ bỏ Đức Chúa Trời và quay lưng với con đường của Đức Chúa Trời bởi những yếu tố bên ngoài như của cải, con cái hay người thân, ông cũng không bao giờ làm nô lệ cho Sa-tan, cho của cải, hay cho bất kỳ người nào; ngoại trừ Giê-hô-va Đức Chúa Trời, không ai có thể là Đức Chúa Trời hay Đức Chúa Trời của ông. Đó là những nguyện vọng của Gióp. Mặt khác, Gióp cũng đã đạt được một điều từ sự cám dỗ này: Ông đã có được những của cải tuyệt vời giữa những thử luyện mà Đức Chúa Trời ban cho ông.

Trong vài thập kỷ đã qua của cuộc đời Gióp, ông đã thấy những việc làm của Đức Giê-hô-va và đã được Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban phúc lành cho ông. Chúng là những phúc lành khiến ông cảm thấy cực kỳ bứt rứt và mắc nợ, bởi ông tin rằng mình chưa làm bất cứ điều gì cho Đức Chúa Trời, ấy thế mà lại được hưởng những phúc lành to lớn như vậy và đã được rất nhiều ân điển. Vì lý do này, ông thường cầu nguyện trong lòng mình, hy vọng rằng ông sẽ có thể đền đáp Đức Chúa Trời, hy vọng rằng ông sẽ có cơ hội làm chứng cho những việc làm và sự vĩ đại của Đức Chúa Trời, và hy vọng rằng Đức Chúa Trời sẽ kiểm chứng sự vâng phục của ông, và hơn nữa, rằng đức tin của ông có thể được làm cho tinh sạch, cho đến khi sự vâng phục và đức tin của ông đạt được sự chấp thuận của Đức Chúa Trời. Sau đó, khi sự thử luyện đến trên Gióp, ông tin rằng Đức Chúa Trời đã nghe những lời cầu xin của ông. Gióp trân quý cơ hội này hơn bất cứ thứ gì khác, và do đó ông đã chẳng dám coi nhẹ nó, bởi ước muốn vĩ đại cả đời của ông đã có thể được thực hiện. Cơ hội này đến có nghĩa là sự vâng phục và kính sợ Đức Chúa Trời của ông có thể được kiểm chứng, và cũng có thể được làm cho tinh sạch. Hơn nữa, nó có nghĩa là Gióp đã có cơ hội đạt được sự chấp thuận của Đức Chúa Trời, bởi đó đưa ông đến gần Đức Chúa Trời hơn. Trong sự thử luyện, đức tin và sự theo đuổi ấy cho phép ông trở nên hoàn thiện hơn, và đạt được sự hiểu biết to lớn hơn về ý muốn của Đức Chúa Trời. Gióp cũng trở nên biết ơn hơn vì những phúc lành và ân điển của Đức Chúa Trời, trong lòng ông càng hết lời ngợi khen những việc làm của Đức Chúa Trời, và ông kính sợ, tôn kính Đức Chúa Trời hơn, và khao khát sự đáng mến, vĩ đại và thánh khiết của Đức Chúa Trời hơn nữa. Vào lúc này, mặc dù Gióp vẫn là người kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác trong mắt Đức Chúa Trời, nhưng cùng với những trải nghiệm của Gióp, thì đức tin và kiến thức của ông đã tiến bộ rất nhanh: đức tin của ông đã tăng, sự vâng phục của ông đã đạt được vị trí chắc chắn, và sự kính sợ của ông với Đức Chúa Trời đã trở nên sâu sắc hơn. Mặc dù thử luyện này đã làm biến đổi linh hồn và sự sống của Gióp, nhưng một sự biến đổi như thế không làm Gióp mãn nguyện, cũng không làm chậm quá trình tiến tới của ông. Đồng thời với việc tính toán những gì ông đã đạt được từ sự thử luyện này, và cân nhắc những thiếu sót của chính mình, ông cũng âm thầm cầu nguyện, chờ đợi sự thử luyện tiếp theo đến trên ông, bởi ông khao khát đức tin, sự vâng phục, và kính sợ Đức Chúa Trời của mình được nâng tầm trong sự thử luyện tiếp theo của Đức Chúa Trời.

Đức Chúa Trời quan sát những ý nghĩ sâu xa nhất của con người và tất cả những gì con người nói và làm. Những ý nghĩ của Gióp đến tai Giê-hô-va Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời đã lắng nghe những lời cầu nguyện của ông, và theo cách này, sự thử luyện tiếp theo của Đức Chúa Trời đã đến như dự kiến.

Giữa sự đau khổ tột cùng, Gióp thật sự nhận ra sự chăm lo của Đức Chúa Trời đối với nhân loại

Sau những câu hỏi của Giê-hô-va Đức Chúa Trời với Sa-tan, Sa-tan ngấm ngầm vui sướng. Điều này là bởi Sa-tan biết rằng hắn sẽ một lần nữa được phép tấn công con người trọn vẹn trong mắt Đức Chúa Trời – đối với Sa-tan, đây là một cơ hội hiếm hoi. Sa-tan đã muốn dùng cơ hội này để phá hoại hoàn toàn niềm tin của Gióp, để khiến ông mất đi đức tin nơi Đức Chúa Trời và do đó không còn kính sợ Đức Chúa Trời hay ngợi khen danh Giê-hô-va nữa. Điều này sẽ cho Sa-tan một cơ hội: Bất kể thời gian hay địa điểm nào, hắn cũng sẽ có thể biến Gióp thành món đồ chơi phải chịu lệnh của hắn. Sa-tan đã che giấu những ý định gian ác của hắn không chút dấu vết, nhưng hắn không thể kiểm soát được bản tính tà ác của hắn. Sự thật này bị lộ ra ở câu trả lời của hắn với những lời của Giê-hô-va Đức Chúa Trời, như được ghi chép trong Kinh Thánh: “Sa-tan thưa lại với Ðức Giê-hô-va rằng: Lấy da đền da, phàm vật chi một người có, tất sẽ trao thế cho mạng sống mình. Nhưng bây giờ xin Chúa hãy giơ tay ra, đụng đến hại xương thịt người, ắt là người sẽ phỉ báng Chúa trước mặt” (Gióp 2:4-5). Không thể không có được kiến thức và cảm nhận thực chất về sự hiểm ác của Sa-tan từ cuộc trao đổi này giữa Đức Chúa Trời và Sa-tan. Khi đã nghe những lời ngụy biện này của Sa-tan, tất cả những ai yêu lẽ thật và khinh ghét cái ác chắc chắn sẽ căm ghét hơn nữa đối với sự đê tiện và trơ trẽn của Sa-tan, sẽ cảm thấy kinh hãi và ghê tởm những lời ngụy biện này của Sa-tan, và đồng thời, sẽ dâng những lời cầu nguyện và mong ước tha thiết cho Gióp, cầu nguyện rằng con người ngay thẳng này có thể đạt được sự hoàn thiện, mong ước rằng con người kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác này sẽ mãi vượt qua được những cám dỗ của Sa-tan, và sống trong sự sáng, giữa sự hướng dẫn và những phúc lành của Đức Chúa Trời; như vậy, con người cũng sẽ ao ước rằng những việc làm công chính của Gióp có thể mãi thúc đẩy và khuyến khích tất cả những ai theo đuổi con đường kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác. Mặc dù ý định hiểm độc của Sa-tan có thể được nhìn thấy trong tuyên bố này, Đức Chúa Trời đã nhẹ nhàng chấp nhận “yêu cầu” của Sa-tan – nhưng Ngài cũng đưa ra một điều kiện: “Kìa, người ở trong tay ngươi; nhưng chỉ hãy giữ mạng sống người” (Gióp 2:6). Bởi vì lần này Sa-tan muốn ra tay làm hại xương thịt của Gióp, Đức Chúa Trời phán “nhưng chỉ hãy giữ mạng sống người”. Ý nghĩa của những lời này là Ngài trao xác thịt của Gióp cho Sa-tan, nhưng mạng sống của Gióp là do Đức Chúa Trời nắm giữ. Sa-tan không thể lấy mạng Gióp, nhưng ngoài điều này ra thì Sa-tan có thể dùng bất kỳ phương tiện hay phương pháp gì để chống lại Gióp.

Sau khi được sự cho phép của Đức Chúa Trời, Sa-tan lao đến Gióp và ra tay làm hại da thịt của ông, gây ung độc khắp người ông, và Gióp cảm thấy da thịt mình đau đớn. Gióp đã ngợi ca sự phi thường và thánh khiết của Giê-hô-va Đức Chúa Trời, điều khiến Sa-tan càng thẳng tay trắng trợn hơn. Bởi hắn cảm thấy khoái trá khi làm con người đau đớn, Sa-tan đã ra tay mà cào vào thịt Gióp, khiến những ung độc của ông mưng mủ. Gióp lập tức cảm thấy cơn đau và sự hành hạ trên xác thịt mình không gì sánh được, và ông không thể không lấy hai tay mà xoa bóp mình từ đầu đến chân, như thể điều này sẽ làm dịu sự tấn công vào linh hồn ông bằng cơn đau xác thịt này. Ông nhận ra rằng Đức Chúa Trời đã ở bên cạnh quan sát ông, và ông đã cố hết mình để tôi luyện bản thân. Ông một lần nữa sấp mình xuống đất và nói: “Ngài nhìn thấu lòng người, Ngài quan sát sự đau khổ của người; sao sự yếu đuối của người lại làm Ngài bận tâm? Ngợi khen danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời”. Sa-tan thấy cơn đau không thể chịu được của Gióp, nhưng hắn không thấy Gióp từ bỏ danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời. Do đó hắn vội ra tay làm đau xương tủy của Gióp, tàn độc xé toạc từng chi một của ông. Tức thì, Gióp cảm thấy sự hành hạ chưa từng có; cứ như thể xác thịt ông đã bị xé ra khỏi xương, và như thể xương ông đã bị đập nát thành từng mảnh. Sự hành hạ đau đớn này khiến ông nghĩ thà chết còn hơn… Khả năng chịu đau của ông đã lên đến giới hạn… Ông muốn thét lên, ông muốn xé da trên người mình ra để cố làm giảm cơn đau – ấy thế mà ông đã kìm lại không gào thét, và đã không xé da trên người mình, bởi ông không muốn để Sa-tan thấy sự yếu đuối của ông. Do vậy Gióp sấp mình lần nữa, nhưng lần này ông không cảm thấy sự hiện diện của Giê-hô-va Đức Chúa Trời. Ông biết rằng Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã thường ở trước ông, phía sau ông, và ở hai bên ông. Ấy thế mà trong cơn đau của ông, Đức Chúa Trời chưa một lần theo dõi; Ngài che mặt và ẩn đi, bởi ý nghĩa của việc Ngài tạo dựng con người không phải là để mang đau khổ đến cho con người. Vào lúc này, Gióp khóc than và làm hết sức để chịu đựng sự đau đớn thể chất này, nhưng ông không còn có thể ngăn bản thân mình tạ ơn Đức Chúa Trời: “Con người quỵ ngã ở cú đánh đầu tiên, người yếu đuối và bất lực, người trẻ dại và vô tội – tại sao Ngài lại muốn quan tâm và chăm sóc người đến vậy? Ngài tấn công con, nhưng làm như vậy khiến Ngài đau. Điều gì ở con người xứng đáng với sự chăm sóc và quan tâm của Ngài?” Những lời cầu nguyện của Gióp đã đến tai Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời thinh lặng, chỉ theo dõi mà không phát ra âm thanh nào… Sau khi đã thử mọi thủ đoạn có thể, Sa-tan âm thầm rời đi, nhưng điều này đã không khép lại những thử luyện của Đức Chúa Trời với Gióp. Bởi quyền năng của Đức Chúa Trời được tỏ lộ nơi Gióp đã không được công bố ra, câu chuyện về Gióp đã không kết thúc bằng sự rút lui của Sa-tan. Khi các nhân vật khác bước vào thì phía trước vẫn còn những cảnh tượng ngoạn mục hơn nữa.

Một biểu hiện khác cho sự kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác của Gióp chính là việc ông tán dương danh Đức Chúa Trời trong mọi sự

Gióp đã phải chịu những sự tàn phá của Sa-tan, nhưng ông vẫn không từ bỏ danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời. Vợ ông là người đầu tiên bỏ cuộc, đóng vai trò của Sa-tan dưới hình thức mà mắt người có thể thấy được, và tấn công Gióp. Văn bản gốc miêu tả thế này: “Vợ Gióp nói với người rằng: Ủa? Ông hãy còn bền đỗ trong sự hoàn toàn mình sao? Hãy phỉ báng Ðức Chúa Trời, và chết đi” (Gióp 2:9). Đây là những lời do Sa-tan giả dạng con người mà nói. Chúng là một sự tấn công, và cáo buộc, cũng như lôi kéo, cám dỗ, và vu cáo. Khi đã thất bại trong việc tấn công vào xác thịt của Gióp, Sa-tan sau đó trực tiếp tấn công sự chính trực của Gióp, muốn dùng điều này để khiến Gióp từ bỏ sự chính trực của mình, chối bỏ Đức Chúa Trời, và không còn tiếp tục sống nữa. Vì vậy, Sa-tan cũng muốn dùng những lời như thế để cám dỗ Gióp: Nếu Gióp từ bỏ danh Giê-hô-va, thì ông không cần chịu sự hành hạ ấy nữa; ông có thể giải thoát chính mình khỏi sự hành hạ của xác thịt. Đối mặt với lời khuyên của vợ, Gióp đã quở trách bà bằng cách nói: “Ngươi nói như một người đờn bà ngu muội. Ủa sao! Sự phước mà tay Ðức Chúa Trời ban cho chúng ta, chúng ta lãnh lấy, còn sự tai họa mà tay Ngài giáng trên chúng ta, lại chẳng lãnh lấy sao?” (Gióp 2:10). Gióp từ lâu đã biết những lời này, nhưng vào lúc này sự thật về sự hiểu biết của Gióp đối với chúng mới được chứng minh.

Khi vợ ông khuyên ông rủa sả Đức Chúa Trời rồi chết, ý bà là: “Đức Chúa Trời của ông đối xử với ông như thế, sao không rủa sả Ngài? Ông vẫn còn sống để làm gì? Đức Chúa Trời của ông quá bất công với ông, ấy thế mà ông vẫn nói ‘đáng ngợi khen danh Ðức Giê-hô-va’. Làm sao Ngài ấy có thể giáng thảm họa trên ông khi ông ngợi khen danh Ngài ấy chứ? Hãy nhanh từ bỏ danh Đức Chúa Trời, và đừng theo Ngài ấy nữa. Khi đó, những rắc rối của ông sẽ chấm dứt”. Vào khoảnh khắc này, chứng ngôn mà Đức Chúa Trời mong muốn thấy nơi Gióp được phát ra. Không người bình thường nào có thể mang chứng ngôn như vậy, chúng ta cũng không đọc thấy điều này trong bất kỳ câu chuyện nào của Kinh Thánh – nhưng Đức Chúa Trời đã thấy điều đó từ lâu trước khi Gióp nói ra những lời này. Đức Chúa Trời đơn thuần muốn dùng cơ hội này để cho Gióp chứng minh với tất cả rằng Đức Chúa Trời là đúng. Đối mặt với lời khuyên của vợ, Gióp không chỉ không từ bỏ sự chính trực của mình hay chối bỏ Đức Chúa Trời, mà ông cũng nói với vợ: “Sự phước mà tay Ðức Chúa Trời ban cho chúng ta, chúng ta lãnh lấy, còn sự tai họa mà tay Ngài giáng trên chúng ta, lại chẳng lãnh lấy sao?” Những lời này có rất có trọng lượng phải không? Ở đây, chỉ có một thực tế có khả năng chứng minh trọng lượng của những lời này. Trọng lượng của những lời này là ở chỗ chúng được chấp thuận bởi Đức Chúa Trời trong lòng Ngài, chúng là những gì Đức Chúa Trời mong muốn, chúng là những gì Đức Chúa Trời muốn nghe, và chúng là kết quả mà Đức Chúa Trời khao khát nhìn thấy; những lời này cũng là thực chất chứng ngôn của Gióp. Ở đây, sự trọn vẹn, ngay thẳng, kính sợ Đức Chúa Trời, và lánh khỏi điều ác của Gióp được chứng minh. Sự đáng quý của Gióp nằm ở cách mà, khi ông bị cám dỗ, và thậm chí khi cả người ông đầy ung độc, khi ông chịu sự hành hạ tột cùng, khi vợ ông và người thân khuyên bảo ông, ông vẫn thốt ra những lời đó. Nói cách khác, trong lòng ông, ông tin rằng, bất kể là cám dỗ gì, hay những sự thống khổ, hành hạ có đau đớn thế nào, kể cả khi cái chết có đến với ông, ông cũng sẽ không chối bỏ Đức Chúa Trời hay bác bỏ con đường kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác. Như vậy, các ngươi thấy rằng Đức Chúa Trời giữ vị trí quan trọng nhất trong lòng ông, và rằng chỉ có Đức Chúa Trời ở trong lòng ông. Chính vì điều này mà chúng ta đọc được những lời miêu tả về ông trong Kinh Thánh: “Trong mọi việc đó, Gióp không phạm tội bởi môi miệng mình”. Ông không chỉ không phạm tội bởi môi miệng mình, mà trong lòng ông, ông cũng không than oán về Đức Chúa Trời. Ông đã không nói những lời đau lòng về Đức Chúa Trời, cũng không phạm tội chống lại Đức Chúa Trời. Không chỉ môi miệng ông ngợi khen danh Đức Chúa Trời, mà trong lòng ông cũng ngợi khen danh Đức Chúa Trời; tâm khẩu như một. Đây là Gióp thật mà Đức Chúa Trời nhìn thấy, và đây là lý do khiến Đức Chúa Trời trân quý Gióp.

Nhiều hiểu lầm của con người về Gióp

Nỗi thống khổ mà Gióp phải chịu không phải là công tác của các sứ thần mà Đức Chúa Trời sai đến, cũng không phải do chính tay Đức Chúa Trời gây nên. Thay vào đó, nó là do đích thân Sa-tan, kẻ thù của Đức Chúa Trời, gây ra. Do đó, mức độ thống khổ mà Gióp phải chịu là rất sâu sắc. Ấy thế mà vào lúc này, Gióp đã minh chứng không chút e dè hiểu biết hàng ngày trong lòng ông về Đức Chúa Trời, những nguyên tắc hành động hàng ngày của ông, và thái độ của ông đối với Đức Chúa Trời – đây là sự thật. Nếu Gióp không bị cám dỗ, nếu Đức Chúa Trời không đưa ra những thử luyện cho Gióp, khi Gióp nói, “Ðức Giê-hô-va đã ban cho, Ðức Giê-hô-va lại cất đi; đáng ngợi khen danh Ðức Giê-hô-va”, ngươi sẽ nói rằng Gióp là kẻ đạo đức giả; Đức Chúa Trời đã ban cho ông quá nhiều của cải, do đó dĩ nhiên ông ta ngợi khen danh Đức Giê-hô-va. Nếu, trước khi bị thử luyện, Gióp nói, “Sự phước mà tay Ðức Chúa Trời ban cho chúng ta, chúng ta lãnh lấy, còn sự tai họa mà tay Ngài giáng trên chúng ta, lại chẳng lãnh lấy sao?” thì ngươi sẽ nói rằng Gióp cường điệu, và rằng ông sẽ không từ bỏ danh Đức Chúa Trời bởi vì ông thường được ban phúc lành bởi tay Đức Chúa Trời. Ngươi sẽ nói rằng nếu Đức Chúa Trời giáng thảm họa xuống ông, thì ông chắc chắn đã từ bỏ danh Đức Chúa Trời rồi. Ấy thế nhưng khi Gióp thấy mình trong những hoàn cảnh mà không ai muốn có hay muốn thấy, những hoàn cảnh mà không ai muốn xảy đến với mình, những điều mà họ sợ sẽ xảy đến với mình, những hoàn cảnh mà ngay cả Đức Chúa Trời cũng không nhìn nổi, Gióp vẫn có thể giữ vững sự chính trực của ông: “Ðức Giê-hô-va đã ban cho, Ðức Giê-hô-va lại cất đi; đáng ngợi khen danh Ðức Giê-hô-va”, và “Sự phước mà tay Ðức Chúa Trời ban cho chúng ta, chúng ta lãnh lấy, còn sự tai họa mà tay Ngài giáng trên chúng ta, lại chẳng lãnh lấy sao?” Đối diện với cách cư xử của Gióp vào lúc này, những ai thích nói lời huênh hoang, những ai thích nói theo câu chữ và học thuyết, tất cả đều cứng họng. Những ai chỉ tán dương danh Đức Chúa Trời ngoài miệng, nhưng chưa bao giờ chấp nhận những thử luyện của Đức Chúa Trời, đều bị lên án bởi sự chính trực mà Gióp đã giữ vững, và những ai không bao giờ tin rằng con người có thể giữ vững đường lối của Đức Chúa Trời đều bị phán xét bởi chứng ngôn của Gióp. Đối diện với cách cư xử của Gióp trong những thử luyện này và những lời ông đã nói, một số người sẽ cảm thấy bối rối, một số sẽ cảm thấy đố kỵ, một số sẽ cảm thấy hoài nghi, và một số thậm chí có vẻ không hứng thú, xem thường chứng ngôn của Gióp vì họ không chỉ thấy sự hành hạ đã xảy đến với Gióp trong những thử luyện, và đọc những lời Gióp nói, mà còn thấy “điểm yếu” của con người mà Gióp đã để lộ khi những thử luyện đến với ông. “Điểm yếu” này họ tin là khiếm khuyết trong sự hoàn thiện của Gióp, tì vết nơi một con người hoàn thiện trong mắt Đức Chúa Trời. Nói vậy nghĩa là người ta tin rằng những người hoàn thiện là không có khuyết điểm, không có tì vết hay sự nhơ bẩn, rằng họ không có điểm yếu, không biết đau đớn, rằng họ không bao giờ cảm thấy không vui hay buồn nản, và không thù ghét hay có bất kỳ hành vi thái quá bên ngoài nào; kết quả là, phần lớn mọi người không tin rằng Gióp thật sự hoàn thiện. Người ta không chấp nhận nhiều hành vi của ông trong những thử luyện đối với ông. Ví dụ, khi Gióp mất của cải và con cái, ông đã không bật khóc như mọi người tưởng tượng. Sự “không đúng mực” này khiến mọi người nghĩ ông lạnh lùng, bởi ông không khóc hay có tình cảm với gia đình ông. Đây là ấn tượng xấu ban đầu mà mọi người có về Gióp. Họ thấy hành vi của ông sau đó càng khó hiểu hơn: “xé áo mình” được con người diễn dịch là ông không tôn trọng Đức Chúa Trời, và “cạo đầu” được nhầm lẫn tin rằng có nghĩa là sự báng bổ và chống đối của Gióp với Đức Chúa Trời. Ngoài những lời Gióp nói rằng “Ðức Giê-hô-va đã ban cho, Ðức Giê-hô-va lại cất đi; đáng ngợi khen danh Ðức Giê-hô-va”, người ta không nhận thức được sự công chính trong Gióp mà Đức Chúa Trời khen ngợi, và do đó đánh giá về Gióp mà phần lớn họ đưa ra không gì khác hơn là sự không hiểu, hiểu lầm, hoài nghi, lên án, và chấp thuận trên lý thuyết mà thôi. Không ai trong số họ có thể thật sự hiểu và cảm kích những lời của Giê-hô-va Đức Chúa Trời rằng Gióp là một người trọn vẹn và ngay thẳng, kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác.

Dựa trên ấn tượng của họ về Gióp nêu trên, người ta có thêm những nỗi hoài nghi về sự công chính của ông, bởi những hành động của Gióp và cách cư xử của ông được ghi chép trong Kinh Thánh không kinh thiên động địa như người ta tưởng tượng. Ông không chỉ không lập nên bất kỳ chiến công hiển hách nào, mà ông còn lấy miếng sành gãi mình khi ngồi trong đống tro. Hành động này cũng làm mọi người kinh ngạc và khiến họ hoài nghi – thậm chí phủ nhận – sự công chính của Gióp, vì khi gãi mình, ông đã không cầu nguyện hay hứa gì với Đức Chúa Trời; hơn nữa, cũng không thấy ông rơi lệ vì đau đớn. Vào lúc này, người ta chỉ thấy điểm yếu của Gióp chứ không có gì khác, và do đó ngay cả khi họ nghe Gióp nói “Sự phước mà tay Ðức Chúa Trời ban cho chúng ta, chúng ta lãnh lấy, còn sự tai họa mà tay Ngài giáng trên chúng ta, lại chẳng lãnh lấy sao?” thì họ hoàn toàn không cảm động, hoặc nếu không thì do dự, và vẫn không thể phân biệt được sự công chính của Gióp từ những lời của ông. Ấn tượng cơ bản mà Gióp tạo cho mọi người trong khi ông bị hành hạ bởi những thử luyện là ông không khúm núm cũng không kiêu căng. Người ta không thấy câu chuyện đằng sau hành vi của ông, điều đã diễn ra trong sâu thẳm lòng ông, họ cũng không thấy sự kính sợ Đức Chúa Trời trong lòng ông hay việc ông tuân thủ nguyên tắc của con đường lánh khỏi điều ác. Sự bình thản của ông làm cho mọi người nghĩ rằng sự trọn vẹn và ngay thẳng của ông chỉ là những lời sáo rỗng, rằng sự kính sợ Đức Chúa Trời của ông chỉ là tin đồn; trong khi đó, “điểm yếu” mà ông tỏ lộ ra bên ngoài lại để lại ấn tượng sâu sắc với họ, cho họ một “góc nhìn mới”, và thậm chí một “sự hiểu biết mới” đối với người mà Đức Chúa Trời định nghĩa là trọn vẹn và ngay thẳng. “Góc nhìn mới” và “sự hiểu biết mới” ấy được chứng minh khi Gióp mở miệng rủa sả ngày mình sinh ra.

Mặc dù mức độ hành hạ mà ông đã phải chịu là không thể tưởng tượng và không thể hiểu thấu được đối với bất kỳ người nào, nhưng ông đã không nói những lời dị giáo, mà chỉ làm dịu cơn đau của cơ thể bằng phương tiện của riêng mình. Như Kinh Thánh ghi chép, ông nói: “Ngày ta đã sanh ra, khá hư mất đi; Còn đêm đã nói rằng: Có được thai dựng một con trai, hãy tiêu diệt đi!” (Gióp 3:3). Có thể không ai từng xem những lời này là quan trọng, và có thể có những người đã chú ý đến chúng. Theo quan điểm của các ngươi, có phải chúng có nghĩa là Gióp đã chống đối Đức Chúa Trời không? Chúng có phải là lời than oán về Đức Chúa Trời không? Ta biết rằng nhiều người trong các ngươi đã có những quan niệm nhất định về những lời Gióp nói và tin rằng nếu Gióp trọn vẹn và ngay thẳng, ông đã không thể hiện bất kỳ sự yếu đuối hay đau buồn nào, và thay vào đó đã phải đối mặt với bất kỳ cuộc tấn công nào từ Sa-tan một cách tích cực, và thậm chí còn phải mỉm cười khi đối mặt với những cám dỗ của Sa-tan. Ông không nên có phản ứng dù là nhỏ nhất với bất kỳ sự hành hạ nào mà Sa-tan đã giáng xuống xác thịt ông, cũng như ông không nên để lộ bất kỳ cảm xúc nào trong lòng mình. Ông thậm chí nên yêu cầu Đức Chúa Trời làm cho những thử luyện này còn khắc nghiệt hơn nữa. Đây là điều nên được minh chứng và sở hữu bởi một người không nao núng, một người thật sự kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác. Giữa sự hành hạ tột độ này, Gióp đã chỉ nguyền rủa ngày sinh của mình. Ông đã không than oán về Đức Chúa Trời, ông càng không có bất kỳ ý định nào chống đối Đức Chúa Trời. Điều này nói dễ hơn làm rất nhiều, bởi từ thời xưa đến nay, chưa ai từng trải nghiệm những cám dỗ như thế hay chịu đựng những điều như đã xảy đến với Gióp. Thế tại sao chưa ai từng chịu loại cám dỗ giống như Gióp? Đó là vì, như Đức Chúa Trời thấy, không ai có thể mang trách nhiệm hay sự ủy thác như thế, không ai có thể làm như Gióp đã làm, và hơn nữa, không ai có thể, ngoài việc rủa sả ngày mình sinh ra, vẫn không từ bỏ danh Đức Chúa Trời và tiếp tục ngợi khen danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời, như Gióp đã làm khi sự hành hạ đó xảy đến với ông. Có bất kỳ ai có thể làm điều này không? Khi chúng ta nói điều này về Gióp, có phải chúng ta đang khen ngợi hành vi của ông không? Ông là một người công chính, có thể làm chứng như thế cho Đức Chúa Trời, và có khả năng khiến Sa-tan ôm đầu tháo chạy, để hắn không bao giờ đến trước Đức Chúa Trời mà buộc tội ông lần nữa – vậy thì khen ngợi ông có gì sai? Lẽ nào các ngươi có tiêu chuẩn cao hơn Đức Chúa Trời? Lẽ nào các ngươi sẽ hành động còn hay hơn Gióp khi những thử luyện đến với các ngươi? Gióp đã được Đức Chúa Trời khen ngợi – các ngươi còn chống đối được gì nữa?

Gióp rủa sả ngày ông sinh ra bởi vì ông không muốn Đức Chúa Trời đau vì ông

Ta thường nói rằng Đức Chúa Trời nhìn vào bên trong lòng người, trong khi con người thì nhìn vào bề ngoài của mọi người. Bởi vì Đức Chúa Trời nhìn vào bên trong lòng người, Ngài hiểu thực chất của họ, trong khi con người thì định nghĩa thực chất của những người khác dựa trên bề ngoài của họ. Khi Gióp mở miệng và rủa sả ngày ông sinh ra, hành động này làm mọi nhân vật tôn giáo kinh ngạc, bao gồm ba người bạn của Gióp. Con người đến từ Đức Chúa Trời, và nên tạ ơn vì sự sống và xác thịt, cũng như ngày mình sinh ra, được Đức Chúa Trời ban cho mình, và họ không nên rủa sả chúng. Đây là điều người bình thường có thể hiểu và hình dung được. Đối với bất kỳ ai theo Đức Chúa Trời, sự hiểu biết này là thiêng liêng và bất khả xâm phạm, và nó là lẽ thật không bao giờ có thể thay đổi. Trái lại, Gióp đã phá vỡ các quy tắc: Ông rủa sả ngày ông sinh ra. Đây là một hành động mà những người bình thường xem là cấu thành việc vượt rào vào cấm địa. Gióp không những không có quyền được mọi người hiểu và thông cảm mà ông còn không có quyền được Đức Chúa Trời tha thứ. Đồng thời, thậm chí càng nhiều người trở nên hoài nghi sự công chính của Gióp, bởi có vẻ như sự ưu ái của Đức Chúa Trời với Gióp khiến ông bê tha; nó khiến ông quá bạo dạn và khinh suất đến nỗi ông không chỉ không tạ ơn Đức Chúa Trời ban phúc lành cho ông và chăm sóc ông trong cuộc đời mình, mà ông còn nguyền rủa hủy diệt ngày ông ra đời. Nếu đây không phải chống đối Đức Chúa Trời thì là gì? Những sự thiển cận như thế cung cấp cho con người bằng chứng lên án hành động này của Gióp, nhưng ai có thể biết Gióp đang thật sự nghĩ gì vào lúc đó? Ai có thể biết lý do tại sao Gióp đã hành động theo cách đó không? Chỉ Đức Chúa Trời và chính Gióp biết câu chuyện bên trong và những nguyên nhân ở đây.

Khi Sa-tan ra tay làm đau xương của Gióp, Gióp đã rơi vào nanh vuốt của hắn, không có phương tiện để thoát ra hay sức mạnh để kháng cự. Cả hồn và xác ông chịu đau đớn khủng khiếp, và cơn đau này làm ông nhận thức sâu xa về sự nhỏ nhoi, mong manh và bất lực của con người sống trong xác thịt. Đồng thời, ông cũng đạt được sự cảm kích và hiểu biết sâu sắc về lý do tại sao Đức Chúa Trời lại có lòng quan tâm và chăm sóc nhân loại. Trong nanh vuốt của Sa-tan, Gióp nhận ra rằng con người bằng máu thịt thật ra rất bất lực và yếu đuối. Khi ông quỳ xuống cầu nguyện với Đức Chúa Trời, ông cảm thấy như thể Đức Chúa Trời đang che mặt Ngài và ẩn đi, bởi Đức Chúa Trời đã hoàn toàn trao ông vào tay Sa-tan. Đồng thời, Đức Chúa Trời cũng khóc vì ông, và hơn nữa, đau khổ vì ông; Đức Chúa Trời đau đớn bởi sự đau đớn của ông, và đau khổ bởi sự đau khổ của ông… Gióp cảm thấy sự đau đớn của Đức Chúa Trời, cũng như điều này không thể chịu được với Đức Chúa Trời như thế nào… Gióp đã không muốn mang thêm bất kỳ sự đau khổ nào đến với Đức Chúa Trời nữa, ông cũng không muốn Đức Chúa Trời khóc vì ông, càng không muốn thấy Đức Chúa Trời đau đớn vì ông. Vào khoảnh khắc này, Gióp chỉ muốn thoát khỏi xác thịt của mình, để không còn phải chịu cơn đau đến với mình bởi xác thịt này nữa, bởi điều này sẽ khiến Đức Chúa Trời thôi không bị dằn vặt vì cơn đau của ông – nhưng ông đã không thể, và ông đã phải chịu đựng không chỉ sự đau đớn xác thịt, mà còn sự dằn vặt bởi việc không muốn làm cho Đức Chúa Trời lo lắng. Hai nỗi đau này – một từ xác thịt và một từ tinh thần – mang đến nỗi đau xé tim, quặn ruột cho Gióp, và khiến ông cảm thấy những giới hạn của con người bằng máu thịt có thể khiến họ cảm thấy khó chịu và bất lực như thế nào. Trong những hoàn cảnh này, sự mong mỏi của ông đối với Đức Chúa Trời ngày càng mãnh liệt hơn, và sự ghê tởm của ông đối với Sa-tan trở nên kịch liệt hơn. Vào lúc này, Gióp thà rằng chưa bao giờ được sinh ra trong thế giới của con người, thà rằng ông không tồn tại, hơn là thấy Đức Chúa Trời khóc hay cảm thấy đau đớn vì ông. Ông bắt đầu hết sức ghê tởm xác thịt của mình, phát ốm và mệt mỏi với chính mình, về ngày mình sinh ra, và thậm chí về tất cả những gì liên quan đến mình. Ông đã không muốn có thêm bất kỳ sự đề cập nào về ngày ông sinh ra hay bất cứ điều gì liên quan đến nó nữa, và do đó ông mở miệng rủa sả ngày mình sinh ra: “Ngày ta đã sanh ra, khá hư mất đi; Còn đêm đã nói rằng: Có được thai dựng một con trai, hãy tiêu diệt đi! Nguyện ngày ấy bị ra tăm tối! Nguyện Ðức Chúa Trời từ trên cao chớ thèm kể đến, Và ánh sáng đừng chiếu trên nó!” Gióp 3:3-4). Lời của Gióp mang sự ghê tởm của ông với chính mình, “Ngày ta đã sanh ra, khá hư mất đi; Còn đêm đã nói rằng: Có được thai dựng một con trai, hãy tiêu diệt đi”, cũng như sự trách cứ mà ông cảm nhận đối với bản thân mình và cảm giác mắc nợ của ông vì đã gây ra đau khổ cho Đức Chúa Trời, “Nguyện ngày ấy bị ra tăm tối! Nguyện Ðức Chúa Trời từ trên cao chớ thèm kể đến, Và ánh sáng đừng chiếu trên nó!” Hai đoạn này là biểu hiện cao nhất về cách Gióp cảm nhận khi ấy, và minh chứng đầy đủ sự trọn vẹn và ngay thẳng của ông đối với tất cả. Đồng thời, như Gióp mong ước, đức tin và sự vâng phục của ông với Đức Chúa Trời, cũng như sự kính sợ Đức Chúa Trời của ông, thật sự đã được nâng lên. Dĩ nhiên, sự nâng lên này chính là hiệu quả mà Đức Chúa Trời đã kỳ vọng.

Gióp đánh bại Sa-tan và trở thành một con người đích thực trong mắt Đức Chúa Trời

Khi Gióp lần đầu trải qua những thử luyện của mình, ông bị tước hết của cải và tất cả các con, nhưng ông đã không vì đó mà gục ngã hay nói điều gì mang tội chống lại Đức Chúa Trời. Ông đã vượt qua những cám dỗ của Sa-tan, và ông đã vượt qua những của cải vật chất của mình, con cái mình và thử luyện mất hết những của cải phàm trần của mình, nghĩa là ông có thể vâng phục Đức Chúa Trời khi Ngài lấy đi mọi thứ từ ông và ông có thể dâng lời cảm tạ, ngợi khen Đức Chúa Trời bởi những gì Đức Chúa Trời đã làm. Đó là cách cư xử của Gióp trong sự cám dỗ đầu tiên của Sa-tan, và đó cũng là chứng ngôn của Gióp trong sự thử luyện đầu tiên của Đức Chúa Trời. Ở sự thử luyện thứ hai, Sa-tan đã ra tay làm đau Gióp, và mặc dù Gióp đã trải nghiệm sự đau đớn dữ dội hơn những gì ông từng cảm nhận trước đó, nhưng chứng ngôn của ông vẫn đủ để khiến mọi người kinh ngạc. Ông đã dùng sự ngoan cường, tin chắc, và vâng phục của mình với Đức Chúa Trời, cũng như sự kính sợ của ông với Đức Chúa Trời, để một lần nữa đánh bại Sa-tan, và cách cư xử, chứng ngôn của ông một lần nữa được Đức Chúa Trời ưng thuận và ủng hộ. Trong sự cám dỗ này, Gióp đã dùng cách cư xử thực tế của ông để tuyên bố với Sa-tan rằng sự đau đớn xác thịt không thể thay đổi đức tin và sự vâng phục của ông với Đức Chúa Trời hay lấy đi sự tận tâm của ông với Đức Chúa Trời và sự kính sợ Đức Chúa Trời; ông sẽ không chối bỏ Đức Chúa Trời hay từ bỏ sự trọn vẹn, ngay thẳng của chính mình vì đối mặt với cái chết. Sự quyết tâm của Gióp biến Sa-tan thành kẻ hèn nhát, đức tin của ông khiến Sa-tan sợ sệt và run rẩy, sự dữ dội mà ông chiến đấu chống lại Sa-tan trong trận chiến sinh tử của họ làm dấy lên sự căm ghét và phẫn nộ sâu sắc trong Sa-tan; sự trọn vẹn và ngay thẳng của ông khiến Sa-tan không còn có thể làm gì ông, đến mức Sa-tan từ bỏ những cuộc tấn công của hắn vào ông và ngừng những lời cáo buộc chống lại Gióp mà hắn đã đưa ra trước Giê-hô-va Đức Chúa Trời. Điều này nghĩa là Gióp đã vượt qua thế gian, ông đã vượt qua xác thịt, ông đã vượt qua Sa-tan, và ông đã vượt qua sự chết; ông đã là một người thuộc về Đức Chúa Trời một cách hoàn toàn và trọn vẹn. Trong hai thử luyện này, Gióp đã đứng vững trong chứng ngôn của mình, thật sự sống bày tỏ ra sự trọn vẹn và ngay thẳng của mình, và đã mở rộng phạm vi những nguyên tắc sống của mình về việc kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác. Khi đã trải qua hai thử luyện này, trong Gióp sinh ra một kinh nghiệm phong phú hơn, và kinh nghiệm này làm cho ông chín chắn, dày dạn hơn, nó làm ông mạnh mẽ hơn, có niềm tin vững chắc hơn, và nó làm cho ông tự tin hơn vào sự đúng đắn và đáng giá của tính chính trực mà ông đã giữ vững. Những thử luyện của Giê-hô-va Đức Chúa Trời đối với Gióp đã cho ông sự hiểu biết sâu sắc và ý thức về sự quan tâm của Đức Chúa Trời dành cho con người, và cho phép ông cảm nhận sự quý giá của tình yêu nơi Đức Chúa Trời, từ điểm đó, sự quan tâm và tình yêu đối với Đức Chúa Trời được thêm vào sự kính sợ Đức Chúa Trời của ông. Những thử luyện của Giê-hô-va Đức Chúa Trời không những không khiến Gióp xa lánh Ngài mà còn đưa lòng ông đến gần Đức Chúa Trời hơn. Khi cơn đau xác thịt mà Gióp phải chịu lên đến đỉnh điểm, sự quan tâm mà ông cảm nhận từ Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã khiến ông không có chọn lựa nào khác ngoài rủa sả ngày ông sinh ra. Cách cư xử ấy không được lên kế hoạch từ lâu, mà là một sự tỏ lộ tự nhiên của sự quan tâm và tình yêu dành cho Đức Chúa Trời từ trong lòng ông, nó là một sự tỏ lộ tự nhiên đến từ sự quan tâm và tình yêu của ông đối với Đức Chúa Trời. Nói vậy nghĩa là, bởi ông ghét chính mình, và ông không đành lòng, và không thể chịu được việc dằn vặt Đức Chúa Trời, do đó sự quan tâm và tình yêu của ông đạt đến mức quên mình. Vào lúc này, Gióp đã nâng sự ngưỡng mộ và mong mỏi từ lâu của mình đối với Đức Chúa Trời và sự tận tâm đối với Đức Chúa Trời lên mức quan tâm và yêu thương. Đồng thời, ông cũng đã nâng đức tin và sự vâng phục của mình đối với Đức Chúa Trời và sự kính sợ Đức Chúa Trời lên mức quan tâm và yêu thương. Ông đã không cho phép mình làm bất cứ điều gì gây hại cho Đức Chúa Trời, ông đã không cho phép mình có bất kỳ cách cư xử nào làm đau lòng Đức Chúa Trời, và đã không cho phép mình mang bất kỳ sự buồn phiền, đau khổ, hay thậm chí sự không vui nào đến cho Đức Chúa Trời vì những lý do của riêng ông. Trong mắt Đức Chúa Trời, mặc dù Gióp vẫn là Gióp như trước kia, nhưng đức tin, sự vâng phục, và sự kính sợ Đức Chúa Trời của Gióp đã mang đến cho Đức Chúa Trời sự mãn nguyện và hân hoan trọn vẹn. Vào lúc này, Gióp đã đạt được sự trọn vẹn mà Đức Chúa Trời kỳ vọng ông đạt được; ông đã trở thành người thật sự xứng đáng được gọi là “trọn vẹn và ngay thẳng” trong mắt Đức Chúa Trời. Những việc làm công chính của ông đã cho phép ông vượt qua Sa-tan và đứng vững trong chứng ngôn của mình với Đức Chúa Trời. Như vậy, những hành động công chính của ông làm cho ông trọn vẹn, và cho phép giá trị của cuộc đời ông được thăng hoa và siêu việt hơn bao giờ hết, và chúng cũng khiến ông là người đầu tiên không còn bị tấn công và cám dỗ bởi Sa-tan. Bởi vì Gióp công chính, ông đã bị Sa-tan cáo buộc và cám dỗ; bởi vì Gióp công chính, ông đã bị trao cho Sa-tan; và bởi vì Gióp công chính, ông đã vượt qua và đánh bại Sa-tan, cũng như đứng vững trong lời chứng của mình. Từ đó Gióp đã trở thành người đầu tiên không bao giờ bị giao cho Sa-tan nữa, ông đã thật sự đến trước ngai Đức Chúa Trời và đã sống trong sự sáng, dưới những phúc lành của Đức Chúa Trời mà không có sự do thám và phá hoại của Sa-tan… Ông đã trở thành một con người đích thực trong mắt Đức Chúa Trời; ông đã được tự do…

Về Gióp

Khi đã tìm hiểu về việc Gióp trải qua những thử luyện như thế nào, hầu hết các ngươi sẽ có khả năng muốn biết nhiều chi tiết hơn về bản thân Gióp, đặc biệt là liên quan đến bí mật mà bởi đó ông đã được Đức Chúa Trời khen ngợi. Như vậy hôm nay, chúng ta hãy nói về Gióp!

Trong đời sống hàng ngày của Gióp, chúng ta thấy sự trọn vẹn, ngay thẳng, kính sợ Đức Chúa Trời, và lánh khỏi điều ác của ông

Nếu muốn thảo luận về Gióp, chúng ta phải bắt đầu với đánh giá về ông từ chính miệng Đức Chúa Trời: “Trên đất chẳng có ai giống như người, vốn trọn vẹn và ngay thẳng, kính sợ Ðức Chúa Trời, và lánh khỏi đều ác”.

Trước hết chúng ta hãy tìm hiểu về sự trọn vẹn và ngay thẳng của Gióp

Các ngươi hiểu gì về những từ “trọn vẹn” và “ngay thẳng”? Các ngươi có tin rằng Gióp không có gì để chê trách, rằng ông đáng kính không? Dĩ nhiên, đây sẽ là một sự diễn dịch và hiểu suông về những từ “trọn vẹn” và “ngay thẳng”. Thế nhưng bối cảnh của đời thực là không thể thiếu để thật sự hiểu về Gióp – chỉ có lời nói, sách vở, và lý thuyết thôi thì sẽ không cung cấp bất kỳ câu trả lời nào. Chúng ta sẽ bắt đầu bằng cách xem xét đời sống gia đình của Gióp, về cách cư xử thông thường của ông trong cuộc sống như thế nào. Điều này sẽ cho chúng ta biết về những nguyên tắc và mục tiêu của ông trong cuộc sống, cũng như về nhân cách và sự theo đuổi của ông. Bây giờ, chúng ta hãy đọc những lời cuối cùng trong Gióp 1:3: “người ấy lớn hơn hết trong cả dân Ðông phương”. Điều mà những lời này đang nói đến chính là địa vị và thân phận của Gióp rất cao, và mặc dù chúng ta không nghe nói lý do ông lớn hơn hết trong cả dân Đông phương là bởi của cải dư dật của ông, hay bởi ông trọn vẹn và ngay thẳng, kính sợ Đức Chúa Trời đồng thời lánh khỏi điều ác, nhưng nói chung, chúng ta biết rằng địa vị và thân phận của Gióp được đánh giá rất cao. Như được ghi chép trong Kinh Thánh, những ấn tượng đầu tiên của mọi người về Gióp là Gióp trọn vẹn, rằng ông kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác, rằng ông sở hữu sự giàu có và địa vị đáng kính trọng. Để một người bình thường sống trong một môi trường như thế và dưới những điều kiện như thế, chế độ ăn uống, chất lượng sống, và nhiều khía cạnh khác nhau trong đời sống cá nhân của Gióp sẽ là tâm điểm chú ý của hầu hết mọi người; do đó chúng ta phải tiếp tục đọc Kinh Thánh: “Các con trai người hay đi dự tiệc, đãi thay phiên nhau trong nhà của mỗi người; và sai mời ba chị em gái mình ăn uống chung với mình. Xảy khi các ngày yến tiệc xong rồi, Gióp sai người đi dọn các con cái mình cho thanh sạch, thức dậy sớm, dâng của lễ thiêu tùy số nó; vì người nói rằng: Dễ thường các con ta có phạm tội, và trong lòng từ chối Ðức Chúa Trời chăng. Gióp hằng làm như vậy” (Gióp 1:4-5). Đoạn này nói với chúng ta hai điều: Thứ nhất là các con trai và con gái của Gióp thường hay tiệc tùng, ăn uống linh đình; thứ hai là Gióp thường xuyên dâng của lễ thiêu bởi vì ông thường lo cho các con trai và con gái mình, sợ chúng phạm tội, sợ trong lòng chúng từ chối Đức Chúa Trời. Ở đây miêu tả cuộc sống của hai loại người khác nhau. Loại thứ nhất, các con trai và con gái của Gióp, thường tiệc tùng bởi sự sung túc của họ, sống phung phí, chè chén thỏa thích, và hưởng thụ cuộc sống chất lượng cao do sự giàu có vật chất mang lại. Sống một cuộc sống như thế, họ không tránh khỏi việc thường xuyên phạm tội và xúc phạm Đức Chúa Trời – nhưng họ đã không thánh hóa bản thân hay dâng của lễ thiêu. Như vậy, các ngươi thấy rằng Đức Chúa Trời đã không có chỗ trong lòng họ, rằng họ không suy nghĩ gì về những ân điển của Đức Chúa Trời, cũng không sợ xúc phạm Đức Chúa Trời, họ càng không ngại chối bỏ Đức Chúa Trời trong lòng họ. Dĩ nhiên, tâm điểm của chúng ta không phải là các con của Gióp, mà là những gì Gióp đã làm khi đối mặt với những điều như thế; đây là vấn đề còn lại được miêu tả trong đoạn này, điều liên quan đến đời sống hàng ngày của Gióp và bản chất nhân tính của ông. Khi Kinh Thánh miêu tả việc tiệc tùng của các con trai và con gái Gióp thì không đề cập đến Gióp, mà chỉ nói rằng các con trai và con gái ông thường ăn uống cùng nhau. Nói cách khác, ông đã không tổ chức yến tiệc, ông cũng không tham gia cùng các con trai và con gái mình ăn uống phung phí. Mặc dù giàu có và sở hữu nhiều của cải, tôi tớ, cuộc sống của Gióp không phải là một cuộc sống xa hoa. Ông không bị cuốn vào môi trường sống thượng đẳng của mình, và ông đã không vì sự giàu có của mình mà say sưa với những thú vui xác thịt hay quên dâng của lễ thiêu, và nó càng không khiến ông dần xa lánh Đức Chúa Trời trong lòng mình. Như vậy, rõ ràng là Gióp có kỷ luật trong lối sống của mình, không tham lam hay đam mê khoái lạc do kết quả của những phúc lành Đức Chúa Trời ban cho ông, và ông đã không chỉ chăm chăm vào chất lượng sống. Thay vào đó, ông khiêm nhường và nhũn nhặn, ông không có thói quen phô trương, ông cẩn trọng và cẩn thận trước Đức Chúa Trời. Ông thường nghĩ về những ân điển và phúc lành của Đức Chúa Trời, và không ngừng kính sợ Đức Chúa Trời. Trong đời sống hàng ngày, Gióp thường dậy sớm để dâng của lễ thiêu cho các con trai và con gái mình. Nói cách khác, không chỉ bản thân Gióp kính sợ Đức Chúa Trời, mà ông cũng hy vọng rằng tương tự, các con ông cũng sẽ kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác. Sự giàu có vật chất của Gióp không có chỗ trong lòng ông, nó cũng không thay thế vị trí của Đức Chúa Trời; dù là vì lợi ích của riêng ông hay của các con ông, những hành động hàng ngày của Gióp đều liên quan đến việc kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác. Sự kính sợ của ông đối với Giê-hô-va Đức Chúa Trời không chỉ dừng lại ở môi miệng ông, mà còn là điều ông đưa vào hành động và được phản ánh ở mỗi một phần trong đời sống hàng ngày của ông. Cách cư xử thực tế này của Gióp cho chúng ta thấy thực chất ông trung thực, sở hữu một bản chất yêu công lý và những điều tích cực. Việc Gióp thường xuyên đi dọn các con cái mình cho thanh sạch nghĩa là ông đã không cho phép hay chấp thuận hành vi của các con mình; thay vào đó, trong thâm tâm, ông khó chịu với hành vi của chúng, và lên án chúng. Ông đã kết luận rằng hành vi của các con trai và con gái ông không làm vui lòng Giê-hô-va Đức Chúa Trời, và do đó ông thường gọi chúng đến trước Giê-hô-va Đức Chúa Trời và xưng tội. Những hành động của Gióp cho chúng ta thấy một mặt khác trong nhân tính của ông, đó là ông không bao giờ đi cùng những kẻ thường phạm tội và xúc phạm Đức Chúa Trời, mà thay vào đó lánh khỏi và tránh họ đi. Mặc dù những người này là các con trai và con gái ông, ông cũng không từ bỏ những nguyên tắc đạo đức của riêng mình bởi vì chúng là ruột thịt của ông, ông cũng không chiều theo tội lỗi của chúng bởi tình cảm của riêng ông. Thay vào đó, ông thúc giục chúng xưng tội và được sự khoan thứ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời, và ông đã cảnh báo chúng không được từ bỏ Đức Chúa Trời vì việc hưởng thụ tham lam của bản thân chúng. Những nguyên tắc về cách Gióp đối đãi với những người khác không thể tách khỏi những nguyên tắc về việc kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác của ông. Ông yêu những gì Đức Chúa Trời chấp nhận, và ghét những gì Đức Chúa Trời ghê tởm; ông yêu những người kính sợ Đức Chúa Trời trong lòng họ, và ghét những ai phạm điều ác hay phạm tội chống lại Đức Chúa Trời. Sự yêu và ghét ấy được minh chứng trong đời sống hàng ngày của ông, và là chính sự ngay thẳng của Gióp mà mắt Đức Chúa Trời đã thấy. Đương nhiên, đây cũng là biểu hiện và sự sống bày tỏ ra nhân tính thật của Gióp trong mối quan hệ với những người khác trong cuộc sống hàng ngày của ông, điều mà chúng ta phải học hỏi.

Những biểu hiện của nhân tính của Gióp trong những thử luyện của ông (hiểu sự trọn vẹn, ngay thẳng, kính sợ Đức Chúa Trời, và lánh khỏi điều ác của Gióp trong những thử luyện của ông)

Điều chúng ta đã chia sẻ bên trên là những phương diện khác nhau trong nhân tính của Gióp được biểu lộ trong đời sống hàng ngày của ông trước những thử luyện. Không nghi ngờ gì nữa, những biểu hiện khác nhau này cung cấp sự nhận thức và hiểu biết ban đầu về sự ngay thẳng, kính sợ Đức Chúa Trời, và lánh khỏi điều ác của Gióp, và tất nhiên cung cấp một sự khẳng định ban đầu. Lý do Ta nói “ban đầu” là vì hầu hết mọi người vẫn không có một sự hiểu biết thật sự về nhân cách của Gióp và mức độ mà ông theo đuổi con đường vâng phục và kính sợ Đức Chúa Trời. Nói vậy nghĩa là, sự hiểu biết của hầu hết mọi người về Gióp chẳng hề sâu xa hơn ấn tượng có phần thiện cảm về ông được cung cấp bởi hai đoạn trong Kinh Thánh chứa đựng những lời ông: “Ðức Giê-hô-va đã ban cho, Ðức Giê-hô-va lại cất đi; đáng ngợi khen danh Ðức Giê-hô-va!” và “Sự phước mà tay Ðức Chúa Trời ban cho chúng ta, chúng ta lãnh lấy, còn sự tai họa mà tay Ngài giáng trên chúng ta, lại chẳng lãnh lấy sao?” Như thế, chúng ta rất cần hiểu cách Gióp đã sống bày tỏ ra nhân tính của mình khi ông nhận những thử luyện của Đức Chúa Trời, theo cách này, toàn bộ nhân tính thật của Gióp sẽ được biểu lộ cho tất cả.

Khi Gióp nghe rằng của cải của ông đã bị cướp, rằng các con trai và con gái ông đã mất mạng, và rằng các tôi tớ của ông đã bị giết, ông phản ứng như sau: “Gióp bèn chổi dậy, xé áo mình, và cạo đầu, đoạn xấp mình xuống đất mà thờ lạy” (Gióp 1:20). Những lời này nói với chúng ta một thực tế: Sau khi nghe tin này, Gióp không hoảng hốt, ông đã không khóc hay trách móc các tôi tớ đã báo tin cho ông, ông càng không kiểm tra hiện trường vụ án để điều tra, xác minh chi tiết, và tìm hiểu điều gì đã thật sự xảy ra. Ông đã không biểu lộ bất kỳ sự đau đớn hay hối tiếc nào vì mất của cải, ông cũng không bật khóc do mất các con và những người thân yêu của mình. Trái lại, ông xé áo, và cạo đầu, sấp mình xuống đất mà thờ lạy. Những hành động của Gióp không giống như của bất kỳ con người bình thường nào. Chúng khiến nhiều người khó hiểu, và khiến họ quở trách Gióp trong lòng vì “sự máu lạnh” của ông. Khi đột nhiên mất đi của cải, những người bình thường sẽ trông đau khổ và tuyệt vọng – hoặc, trong trường hợp của một số người, họ thậm chí rơi vào trầm cảm nặng. Đó là vì, trong lòng họ, của cải của con người là kết quả của một đời nỗ lực – đó là thứ mà sự sống còn của họ dựa vào, đó là hy vọng giúp họ duy trì cuộc sống; mất đi của cải nghĩa là những nỗ lực của họ đã chẳng được gì, rằng họ không có hy vọng, và thậm chí họ không có tương lai. Đây là thái độ của bất kỳ người bình thường nào đối với của cải của họ và mối quan hệ khắng khít mà họ có với nó, và đây cũng là tầm quan trọng của của cải trong mắt con người. Như vậy, đại đa số mọi người đều cảm thấy khó hiểu trước thái độ dửng dưng của Gióp đối với việc mất đi của cải của ông. Hôm nay, chúng ta sẽ giải tỏa sự khó hiểu mà tất cả những người này cảm thấy bằng cách giải thích điều gì đang diễn ra trong lòng Gióp.

Tâm lý chung cho rằng, khi đã được Đức Chúa Trời ban cho của cải dư dật như vậy, Gióp nên cảm thấy xấu hổ trước Đức Chúa Trời vì mất đi những của cải này, bởi ông đã không trông chừng hay chăm nom chúng; ông đã không giữ chặt những của cải mà Đức Chúa Trời ban cho ông. Do đó, khi ông nghe rằng của cải đã bị lấy mất, phản ứng đầu tiên của ông phải là chạy đến hiện trường vụ án và kiểm kê tất cả những gì đã mất, và sau đó thú nhận với Đức Chúa Trời để ông có thể một lần nữa nhận lãnh những phúc lành của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, Gióp đã không làm điều này, và tất nhiên ông có những lý do riêng để không làm như vậy. Trong lòng ông, Gióp tin tưởng sâu sắc rằng tất cả những gì ông sở hữu đều được ban cho ông bởi Đức Chúa Trời, và không phải là sản phẩm của sức lao động bởi chính ông. Do đó, ông đã không xem những phúc lành này là điều gì đó có thể lợi dụng, mà thay vào đó đã nương vào những nguyên tắc sống còn của ông trong việc hết sức giữ vững con đường nên được giữ vững. Ông nâng niu những phúc lành của Đức Chúa Trời và tạ ơn vì chúng, nhưng ông không ham thích những phúc lành, ông cũng không tìm kiếm chúng thêm nữa. Đó là thái độ của ông đối với của cải. Ông đã không làm bất kỳ điều gì để đạt được phúc lành, cũng không lo lắng hay phiền muộn bởi sự thiếu thốn hay mất đi những phúc lành của Đức Chúa Trời; ông cũng không trở nên vui sướng cuồng say, ngây ngất bởi những phúc lành của Đức Chúa Trời, cũng không làm lơ con đường của Đức Chúa Trời hay quên đi ân điển của Đức Chúa Trời bởi vì những phúc lành mà ông thường xuyên vui hưởng. Thái độ của Gióp đối với của cải tỏ lộ với con người nhân tính thật của ông: Thứ nhất, Gióp không phải là một người tham lam, và không đòi hỏi trong đời sống vật chất của mình. Thứ hai, Gióp không bao giờ lo hay sợ rằng Đức Chúa Trời sẽ lấy đi tất cả những gì ông có, đó là thái độ vâng phục của ông đối với Đức Chúa Trời trong lòng mình; nghĩa là, ông không có yêu cầu hay lời than oán nào về việc khi nào và liệu Đức Chúa Trời có lấy đi từ ông hay không, và không hỏi lý do tại sao, mà chỉ tìm cách vâng phục những sự sắp xếp của Đức Chúa Trời. Thứ ba, ông không bao giờ tin rằng những của cải của ông đến từ sức lao động của chính mình, mà là chúng được Đức Chúa Trời ban cho ông. Đây là đức tin của Gióp nơi Đức Chúa Trời, và là dấu hiệu cho sự tin chắc của ông. Nhân tính của Gióp và sự theo đuổi thực sự hàng ngày của ông có được làm rõ trong tóm tắt ba điểm này về ông không? Nhân tính và sự theo đuổi của Gióp chứa đựng trong cách cư xử lạnh lùng của ông khi đối mặt với việc mất tài sản. Chính vì sự theo đuổi hàng ngày của mình mà Gióp có vóc giạc và sự tin chắc để nói: “Ðức Giê-hô-va đã ban cho, Ðức Giê-hô-va lại cất đi; đáng ngợi khen danh Ðức Giê-hô-va”, trong những thử luyện của Đức Chúa Trời. Những lời này không phải có được một sớm một chiều, chúng cũng không phải vừa mới xuất hiện trong đầu Gióp. Chúng là những gì ông đã thấy và đã đạt được trong suốt nhiều năm trải nghiệm cuộc sống. So với tất cả những ai chỉ tìm kiếm những phúc lành của Đức Chúa Trời và những ai sợ rằng Đức Chúa Trời sẽ lấy của họ, những ai thù ghét và than oán về nó, thì chẳng phải sự vâng phục của Gióp là rất thật sao? So với tất cả những ai tin rằng có một Đức Chúa Trời, nhưng lại là những người chưa bao giờ tin rằng Đức Chúa Trời cai trị muôn vật, chẳng phải Gióp sở hữu sự trung thực và ngay thẳng tuyệt vời sao?

Sự hợp lẽ phải của Gióp

Những trải nghiệm thực tế của Gióp và nhân tính ngay thẳng, trung thực của ông có nghĩa là ông đã đưa ra sự suy xét và những chọn lựa hợp lẽ phải khi ông bị mất của cải và con cái mình. Những chọn lựa hợp lẽ phải như thế không thể tách khỏi những sự theo đuổi hàng ngày của ông và những việc làm của Đức Chúa Trời mà ông đã dần biết được trong đời sống hàng ngày của mình. Sự trung thực của Gióp khiến ông có thể tin rằng bàn tay Đức Giê-hô-va cai trị muôn vật; niềm tin của ông cho phép ông biết được thực tế về quyền tối thượng của Giê-hô-va Đức Chúa Trời đối với muôn vật; kiến thức của ông khiến ông sẵn lòng và có thể vâng phục quyền tối thượng và những sự sắp đặt của Giê-hô-va Đức Chúa Trời; sự vâng phục của ông đã cho phép ông ngày càng thực sự kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của mình; sự kính sợ của ông làm ông ngày càng thật sự lánh khỏi điều ác; sau hết, Gióp đã trở nên hoàn thiện bởi ông kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác; sự hoàn thiện của ông làm ông khôn ngoan, và cho ông sự hợp lẽ phải tột bực.

Chúng ta nên hiểu từ “hợp lẽ phải” này như thế nào? Diễn dịch theo nghĩa đen thì nó có nghĩa là có ý thức tốt, lôgic và biết phải trái trong suy nghĩ của mình, có lời nói, hành động và sự suy xét đúng đắn, và sở hữu những tiêu chuẩn đạo đức đúng đắn thông thường. Tuy nhiên sự hợp lẽ phải của Gióp không dễ giải thích như thế. Ở đây khi nói rằng Gióp sở hữu sự hợp lẽ phải tột bực, điều này được nói liên quan đến nhân tính và cách cư xử của ông trước Đức Chúa Trời. Bởi Gióp trung thực, ông có thể tin và vâng phục quyền tối thượng của Đức Chúa Trời, điều cho ông kiến thức mà những người khác không thể đạt được, và kiến thức này giúp ông có thể phân biệt, xét đoán và định nghĩa chính xác hơn những gì xảy đến với ông, điều cho phép ông chọn lựa những gì nên làm và những gì nên giữ vững một cách chính xác và sáng suốt hơn. Nói vậy nghĩa là lời nói, hành vi của ông, nguyên tắc đằng sau những hành động của ông, và đạo lý mà ông hành động theo, là đúng mực, rõ ràng, cụ thể, và không mù quáng, bốc đồng, hay cảm tính. Ông biết cách xử lý bất cứ điều gì xảy đến với ông, ông biết cách cân bằng và xử lý những mối quan hệ giữa các sự kiện phức tạp, ông biết cách giữ vững con đường nên được giữ vững, và hơn nữa, ông biết cách cư xử đối với việc ban cho và lấy đi của Giê-hô-va Đức Chúa Trời. Đây là sự rất hợp lẽ phải của Gióp. Chính vì Gióp được trang bị với sự hợp lẽ phải ấy mà ông đã nói, “Ðức Giê-hô-va đã ban cho, Ðức Giê-hô-va lại cất đi; đáng ngợi khen danh Ðức Giê-hô-va”, khi ông mất của cải và con trai con gái của mình.

Khi Gióp đối mặt với cơn đau dữ dội của thể xác, và với những sự can gián của người thân, bạn bè, và khi ông đối mặt với cái chết, cách cư xử thực tế của ông một lần nữa thể hiện diện mạo thật của ông với tất cả mọi người.

Diện mạo thật của Gióp: chân thật, tinh sạch và không giả dối

Chúng ta hãy đọc Gióp 2:7-8: “Sa-tan bèn lui ra trước mặt Ðức Giê-hô-va, hành hại Gióp một bịnh ung độc, từ bàn chơn cho đến chót đầu. Gióp lấy một miếng sành đặng gãi mình, và ngồi trong đống tro”. Đây là sự miêu tả về cách cư xử của Gióp khi các ung độc nổi trên người ông. Lúc này, Gióp ngồi trong đống tro khi ông chịu đựng cơn đau. Không ai trị bệnh cho ông, và không ai giúp ông làm dịu cơn đau của cơ thể mình; thay vào đó, ông đã dùng miếng sành để gãi trên bề mặt những ung độc. Nhìn bề ngoài, đây chỉ đơn thuần là một giai đoạn trong nỗi thống khổ của Gióp, và không liên quan gì đến nhân tính và sự kính sợ Đức Chúa Trời của ông, bởi Gióp không nói lời nào để bày tỏ tâm trạng và những quan điểm của ông vào lúc này. Ấy thế mà những hành động và cách cư xử của Gióp vẫn là một biểu hiện chân thực về nhân tính của ông. Trong ghi chép của chương trước, chúng ta đã đọc rằng Gióp lớn hơn hết trong cả dân Ðông phương. Trong khi đó, đoạn này từ chương hai cho chúng ta thấy rằng con người lớn hơn hết trong cả dân Đông phương này thật sự đã lấy một miếng sành mà gãi mình khi ngồi trong đống tro. Chẳng phải có sự tương phản rõ ràng giữa hai miêu tả này sao? Đó là một sự tương phản cho chúng ta thấy con người thật của Gióp: Bất kể thân phận và địa vị uy thế của ông, ông cũng đã không bao giờ yêu thích hay chú ý gì đến những điều này; ông không quan tâm những người khác xem vị trí của ông như thế nào, ông cũng không quan tâm liệu những hành động hay cách cư xử của mình có bất kỳ ảnh hưởng tiêu cực nào đến thân phận của mình không; ông đã không đắm chìm trong những phúc lành của địa vị, ông cũng không vui hưởng vinh quang đi kèm với địa vị và thân phận. Ông chỉ quan tâm về giá trị và ý nghĩa sự sống của mình trong mắt Giê-hô-va Đức Chúa Trời. Con người thật của Gióp là chính thực chất của ông: Ông đã không yêu danh tiếng và tài sản, và đã không sống vì danh tiếng và tài sản; ông chân thật, tinh sạch, và không giả dối.

Sự rạch ròi giữa yêu và ghét của Gióp

Một mặt khác trong nhân tính của Gióp được minh họa trong cuộc đối thoại này giữa ông và vợ: “Vợ Gióp nói với người rằng: Uûa? Ông hãy còn bền đỗ trong sự hoàn toàn mình sao? Hãy phỉ báng Ðức Chúa Trời, và chết đi! Người đáp lại rằng: Ngươi nói như một người đờn bà ngu muội. Uûa sao! Sự phước mà tay Ðức Chúa Trời ban cho chúng ta, chúng ta lãnh lấy, còn sự tai họa mà tay Ngài giáng trên chúng ta, lại chẳng lãnh lấy sao?” (Gióp 2:9-10). Nhìn thấy nỗi thống khổ mà ông đang chịu đựng, vợ Gióp cố cho Gióp lời khuyên để giúp ông thoát khỏi nỗi thống khổ của mình, nhưng “ý tốt” của bà đã không được Gióp chấp nhận; thay vào đó, chúng làm dấy lên cơ giận của ông, bởi bà đã phủ nhận đức tin của ông, và sự vâng phục của ông với Giê-hô-va Đức Chúa Trời, và cũng phủ nhận sự hiện hữu của Giê-hô-va Đức Chúa Trời. Điều này là không thể chịu nổi đối với Gióp, bởi ông đã không bao giờ cho phép mình làm bất cứ điều gì chống lại hay làm tổn thương Đức Chúa Trời, thì nói gì đến những người khác. Làm sao ông có thể tiếp tục dửng dưng khi thấy những người khác nói lời phạm thượng và xúc phạm Đức Chúa Trời? Do đó ông gọi vợ mình là “người đờn bà ngu muội.” Thái độ của Gióp đối với vợ ông là thái độ giận và ghét, cũng như trách mắng và quở trách. Đây là biểu hiện tự nhiên của nhân tính Gióp – phân biệt giữa yêu và ghét – và đó là biểu hiện chân thật cho nhân tính ngay thẳng của ông. Gióp đã sở hữu một ý thức công lý – ý thức khiến ông ghét những sóng gió của sự độc ác, kinh tởm, lên án, và loại bỏ dị giáo ngớ ngẩn, những lý lẽ lố bịch, và những sự quả quyết nực cười, cho phép ông giữ vững những nguyên tắc và lập trường đúng đắn của riêng mình khi ông bị đám đông loại bỏ và bị ruồng rẫy bởi những người thân cận với mình.

Lòng tốt và sự chân thành của Gióp

Như vậy, từ cách cư xử của Gióp, chúng ta có thể thấy biểu hiện của nhiều phương diện khác nhau trong nhân tính của ông, chúng ta thấy điều gì trong nhân tính của Gióp khi ông mở miệng rủa sả ngày ông sinh ra? Đây là đề tài chúng ta sẽ chia sẻ bên dưới.

Trên đây, Ta đã nói về nguồn gốc sự rủa sả của Gióp đối với ngày ông sinh ra. Các ngươi thấy gì ở đây? Nếu Gióp chai lòng và không có tình yêu, nếu ông lạnh lùng, vô cảm và mất nhân tính, thì liệu ông có thể quan tâm đến mong muốn của lòng Đức Chúa Trời không? Liệu ông có thể khinh miệt ngày ông sinh ra bởi vì ông quan tâm đến lòng Đức Chúa Trời không? Nói cách khác, nếu Gióp chai lòng và mất nhân tính, thì liệu ông có thể đau buồn bởi nỗi đau của Đức Chúa Trời không? Liệu ông có thể rủa sả ngày mình sinh ra vì Đức Chúa Trời đã đau khổ vì ông không? Câu trả lời là, Tuyệt đối không! Bởi vì ông tốt bụng, nên Gióp quan tâm đến lòng Đức Chúa Trời; bởi vì ông quan tâm đến lòng Đức Chúa Trời, nên Gióp đã cảm nhận nỗi đau của Đức Chúa Trời; bởi vì ông tốt bụng, nên ông đã chịu sự hành hạ dữ dội hơn do cảm nhận được nỗi đau của Đức Chúa Trời; bởi ông đã cảm nhận nỗi đau của Đức Chúa Trời, nên ông bắt đầu ghê tởm ngày ông sinh ra, và do đó rủa sả ngày ông sinh ra. Đối với người ngoài cuộc, toàn bộ cách cư xử của Gióp trong những thử luyện của ông là mẫu mực. Chỉ có sự rủa sả ngày ông sinh ra mới đặt dấu chấm hỏi cho sự trọn vẹn và ngay thẳng của ông, hay cung cấp một đánh giá khác. Trên thực tế, đây là sự bày tỏ thật nhất về bản chất nhân tính của Gióp. Thực chất nhân tính của ông không bị che đậy, hay ngụy tạo, hay được ai khác điều chỉnh. Khi ông rủa sả ngày mình sinh ra, ông đã minh chứng sự tốt bụng và chân thành tận sâu trong lòng mình; ông giống như một con suối với nước sạch và trong nhìn thấu đến tận đáy.

Sau khi đã tìm hiểu tất cả những điều này về Gióp, hầu hết mọi người chắc chắn sẽ có được sự đánh giá tương đối chính xác và khách quan về thực chất nhân tính của Gióp. Họ cũng nên có một sự hiểu biết và cảm kích sâu sắc, thực tế, và nâng cao hơn về sự trọn vẹn và ngay thẳng của Gióp như Đức Chúa Trời đã phán. Hy vọng sự hiểu biết và cảm kích này sẽ giúp mọi người tiến vào con đường kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác.

Mối quan hệ giữa việc Đức Chúa Trời giao phó Gióp cho Sa-tan và những mục tiêu trong công tác của Đức Chúa Trời

Mặc dù hầu hết mọi người giờ đây đã nhận ra rằng Gióp trọn vẹn và ngay thẳng, và rằng ông kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác, sự công nhận này không cho họ sự hiểu biết nhiều hơn về ý định của Đức Chúa Trời. Cùng với việc ghen tị với nhân tính và sự theo đuổi của Gióp, họ đặt câu hỏi sau về Đức Chúa Trời: Gióp đã quá trọn vẹn và ngay thẳng, mọi người quý mến ông ấy rất nhiều, vậy sao Đức Chúa Trời lại trao ông ấy cho Sa-tan và bắt ông ấy chịu nhiều sự hành hạ như vậy? Những câu hỏi như thế nhất định tồn tại trong lòng nhiều người – hoặc đúng hơn, sự hoài nghi này là câu hỏi trong lòng nhiều người. Bởi vì nó đã làm rất nhiều người bối rối, chúng ta phải mở ra câu hỏi này và giải thích nó một cách đúng đắn.

Mọi điều Đức Chúa Trời làm đều là cần thiết và mang ý nghĩa phi thường, bởi tất cả những gì Ngài làm nơi con người đều liên quan đến sự quản lý và cứu rỗi nhân loại của Ngài. Đương nhiên, công tác mà Đức Chúa Trời đã làm nơi Gióp không có gì khác cả, mặc dù Gióp trọn vẹn và ngay thẳng trong mắt Đức Chúa Trời. Nói cách khác, bất kể Đức Chúa Trời làm gì hay Ngài làm bằng phương tiện nào, bất kể giá nào, bất kể mục tiêu của Ngài, thì mục đích trong những hành động của Ngài cũng không thay đổi. Mục đích của Ngài là đưa lời Đức Chúa Trời vào con người, cũng như những yêu cầu và ý muốn của Đức Chúa Trời đối với con người; nói cách khác, đó là đưa vào con người tất cả những gì Đức Chúa Trời tin là tích cực theo các bước của Ngài, cho phép con người hiểu lòng Đức Chúa Trời và thấu hiểu thực chất của Đức Chúa Trời, cũng như cho phép con người vâng phục quyền tối thượng và những sự sắp đặt của Đức Chúa Trời, do đó cho phép con người đạt được sự kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác – tất cả những điều này là một phương diện của mục đích của Đức Chúa Trời trong tất cả những gì Ngài làm. Phương diện kia là, bởi vì Sa-tan là vật làm nền và đối tượng phục vụ trong công tác của Đức Chúa Trời, con người thường bị giao cho Sa-tan; đây là phương tiện mà Đức Chúa Trời dùng để cho phép con người từ những sự cám dỗ và tấn công của Sa-tan mà nhìn thấy sự độc ác, sự xấu xa, và tính đê hèn của Sa-tan, từ đó khiến con người ghét Sa-tan và có thể biết cũng như nhận ra điều gì là tiêu cực. Quá trình này cho phép họ dần giải phóng bản thân khỏi sự kiểm soát và cáo buộc, can thiệp, và tấn công của Sa-tan – cho đến khi, nhờ lời Chúa, kiến thức và sự vâng phục Đức Chúa Trời của họ, cũng như đức tin của họ nơi Đức Chúa Trời và sự kính sợ Ngài, mà họ chiến thắng những cuộc tấn công và cáo buộc của Sa-tan; chỉ khi đó họ mới hoàn toàn được giải cứu khỏi quyền lực của Sa-tan. Sự giải cứu con người có nghĩa là Sa-tan đã bị đánh bại, nghĩa là họ không còn là miếng mồi trong miệng Sa-tan nữa – thay vì nuốt chửng họ, Sa-tan đã thả họ ra. Điều này là vì những người như thế ngay thẳng, bởi vì họ có đức tin, sự vâng phục, và kính sợ đối với Đức Chúa Trời, và bởi vì họ hoàn toàn cắt đứt với Sa-tan. Họ khiến Sa-tan hổ thẹn, họ khiến Sa-tan thành kẻ hèn nhát, và họ đánh bại Sa-tan hoàn toàn. Niềm tin chắc của họ vào việc theo Đức Chúa Trời, và sự vâng phục, kính sợ Đức Chúa Trời của họ đánh bại Sa-tan, và làm cho Sa-tan hoàn toàn bỏ cuộc với họ. Chỉ những người như thế này mới thật sự được thu phục bởi Đức Chúa Trời, và đây chính là mục tiêu sau cùng của Đức Chúa Trời trong việc cứu rỗi con người. Nếu họ muốn được cứu rỗi, và muốn được Đức Chúa Trời thu phục hoàn toàn, thì tất cả những ai theo Đức Chúa Trời đều phải đối mặt với những cám dỗ và tấn công cả lớn lẫn nhỏ từ Sa-tan. Những ai vượt lên những cám dỗ và tấn công này và có thể đánh bại Sa-tan hoàn toàn là những người đã được Đức Chúa Trời cứu rỗi. Nói vậy nghĩa là, những ai đã được Đức Chúa Trời cứu rỗi là những người đã trải qua những thử thách của Đức Chúa Trời, là những người đã bị cám dỗ và tấn công bởi Sa-tan vô số lần. Những ai đã được Đức Chúa Trời cứu rỗi thì hiểu ý muốn và những yêu cầu của Đức Chúa Trời, và có thể chấp nhận quyền tối thượng và những sự sắp đặt của Đức Chúa Trời, và họ không từ bỏ con đường kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác giữa những cám dỗ của Sa-tan. Những ai được Đức Chúa Trời cứu rỗi sở hữu sự trung thực, họ tốt bụng, họ phân biệt giữa yêu và ghét, họ có ý thức công lý và hợp lẽ phải, họ có thể quan tâm đến Đức Chúa Trời và trân quý tất cả những gì thuộc về Đức Chúa Trời. Những người như thế không bị Sa-tan trói buộc, rình mò, cáo buộc, hay ngược đãi; họ hoàn toàn tự do, họ đã hoàn toàn được giải phóng và giải thoát. Gióp chỉ là một con người tự do, và đây chính là ý nghĩa của việc tại sao Đức Chúa Trời đã giao ông cho Sa-tan.

Gióp đã bị Sa-tan ngược đãi, nhưng ông cũng đã đạt được sự tự do và giải thoát đời đời, và ông đã được quyền không bao giờ phải chịu sự bại hoại, ngược đãi, và cáo buộc của Sa-tan nữa, thay vào đó được sống tự do và không bị trở ngại trong sự sáng của sắc diện Đức Chúa Trời, và sống giữa những phúc lành Đức Chúa Trời ban cho ông. Không ai có thể lấy đi, hay hủy bỏ, hay tước đi quyền này. Nó được ban cho Gióp để đáp lại đức tin, sự quyết tâm, vâng phục và kính sợ Đức Chúa Trời của ông; Gióp đã trả cái giá của cuộc đời mình để nhận được sự hân hoan và hạnh phúc trên đất, giành được quyền và lợi, được Trời phong cho và được đất công nhận, để thờ phượng Đấng Tạo Hóa mà không bị gây trở ngại như một tạo vật đích thực của Đức Chúa Trời trên đất. Đó cũng là kết quả tuyệt vời nhất của những cám dỗ mà Gióp đã chịu đựng.

Khi con người chưa được cứu rỗi, sự sống của họ thường bị Sa-tan quấy rầy, và thậm chí kiểm soát. Nói cách khác, những người chưa được cứu rỗi là tù nhân của Sa-tan, họ không có tự do, họ chưa được Sa-tan buông tha, họ không đủ tư cách hay có quyền thờ phượng Đức Chúa Trời, và họ bị Sa-tan truy đuổi sát sao và tấn công một cách tàn độc. Những người như thế không có niềm vui để nói đến, họ không có quyền tồn tại bình thường để nói đến, và hơn nữa họ không có phẩm giá để nói đến. Chỉ khi ngươi đứng lên và chiến đấu với Sa-tan, dùng đức tin nơi Đức Chúa Trời và sự vâng phục, kính sợ Đức Chúa Trời của ngươi làm vũ khí để chiến đấu cuộc chiến sinh tử với Sa-tan, như thế ngươi mới hoàn toàn đánh bại Sa-tan, khiến hắn cúp đuôi bỏ chạy và trở nên nhát sợ bất cứ khi nào hắn thấy ngươi, để hắn hoàn toàn từ bỏ những cuộc tấn công và cáo buôc chống lại ngươi – chỉ khi đó ngươi mới được cứu rỗi và trở nên tự do. Nếu ngươi quyết tâm hoàn toàn cắt đứt với Sa-tan, nhưng không được trang bị những vũ khí giúp ngươi đánh bại Sa-tan, thì ngươi vẫn sẽ gặp nguy hiểm; theo thời gian, khi ngươi đã bị Sa-tan hành hạ quá nhiều đến nỗi không còn chút sức lực nào trong mình, nhưng ngươi vẫn không thể làm chứng, vẫn chưa hoàn toàn thoát khỏi những cáo buộc và tấn công của Sa-tan chống lại ngươi, vậy thì ngươi sẽ có ít hy vọng được cứu rỗi. Cuối cùng, khi công tác của Đức Chúa Trời được tuyên bố khép lại, ngươi vẫn sẽ ở trong sự kìm kẹp của Sa-tan, không thể thoát ra, và do đó ngươi sẽ không bao giờ có cơ hội hay hy vọng. Như vậy, ẩn ý chính là những người như thế sẽ hoàn toàn ở trong sự giam cầm của Sa-tan.

Chấp nhận những thử luyện của Đức Chúa Trời, vượt qua những cám dỗ của Sa-tan, và cho phép Đức Chúa Trời thu phục cả con người mình

Trong công tác mãi mãi chu cấp và hỗ trợ con người của Đức Chúa Trời, Ngài nói về toàn bộ ý muốn và những yêu cầu của Ngài cho con người, và cho thấy những việc làm, tâm tính của Ngài, cũng như Ngài có gì và là gì. Mục tiêu là trang bị vóc giạc cho con người, và cho phép con người đạt được những lẽ thật khác nhau từ Đức Chúa Trời trong khi theo Ngài – những lẽ thật là vũ khí mà Đức Chúa Trời ban cho con người để chiến đấu với Sa-tan. Bởi đã được trang bị, con người phải đối diện với những bài kiểm tra của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời có nhiều phương tiện và con đường để thử luyện con người, nhưng mỗi cái trong số chúng đều đòi hỏi “sự hợp tác” từ kẻ thù của Đức Chúa Trời: Sa-tan. Nói vậy nghĩa là, khi đã ban cho con người những vũ khí để chiến đấu với Sa-tan, Đức Chúa Trời trao con người cho Sa-tan và cho phép Sa-tan “kiểm tra” vóc giạc của con người. Nếu con người có thể thoát khỏi sự bày binh bố trận của Sa-tan, nếu họ có thể thoát khỏi vòng vây của Sa-tan và vẫn sống sót, thì con người sẽ vượt qua được bài kiểm tra. Nhưng nếu con người không thể thoát khỏi sự bài binh bố trận của Sa-tan, và quy phục Sa-tan, thì họ sẽ không vượt qua bài kiểm tra. Cho dù Đức Chúa Trời thử luyện phương diện nào của con người, thì tiêu chí thử luyện của Ngài là liệu con người có đứng vững trong lời chứng của mình khi bị tấn công bởi Sa-tan hay không, và liệu họ có từ bỏ Đức Chúa Trời, đầu hàng và quy phục Sa-tan, trong khi bị Sa-tan gài bẫy hay không. Có thể nói rằng con người có thể được cứu hay không là tùy thuộc vào việc họ có thể vượt qua và đánh bại Sa-tan hay không, và họ có thể đạt được sự tự do hay không là tùy thuộc vào việc họ có thể tự mình giương cao những vũ khí mà Đức Chúa Trời đã ban cho họ để vượt qua cảnh nô lệ của Sa-tan, khiến Sa-tan hoàn toàn từ bỏ hy vọng và bỏ mặc hắn một mình hay không. Nếu Sa-tan từ bỏ hy vọng và buông tha ai đó, điều này có nghĩa là Sa-tan sẽ không bao giờ cố lấy người này từ Đức Chúa Trời lần nữa, sẽ không bao giờ cáo buộc và gây cản trở cho người này nữa, sẽ không bao giờ hành hạ hay tấn công họ bừa bãi nữa; chỉ người như thế này mới thật sự được Đức Chúa Trời thu phục. Đây là toàn bộ quá trình Đức Chúa Trời thu phục con người.

Lời cảnh báo và sự khai sáng cho các thế hệ sau bởi chứng ngôn của Gióp

Cùng với việc hiểu được quá trình Đức Chúa Trời thu phục ai đó hoàn toàn, con người cũng sẽ hiểu những mục tiêu và ý nghĩa của việc Đức Chúa Trời giao Gióp cho Sa-tan. Con người không còn băn khoăn bởi nỗi thống khổ của Gióp nữa, và có một nhận thức mới về ý nghĩa của nó. Họ không còn lo về việc liệu bản thân họ có phải chịu sự cám dỗ giống y như Gióp không, và không còn chống đối hay từ chối khi những thử luyện của Đức Chúa Trời đến nữa. Đức tin, sự vâng phục, và chứng ngôn của Gióp để vượt qua Sa-tan đã là một nguồn trợ giúp và khích lệ rất lớn đối với con người. Nơi Gióp, họ thấy hy vọng cho sự cứu rỗi bản thân, và thấy rằng thông qua đức tin, sự vâng phục và kính sợ Đức Chúa Trời, hoàn toàn có thể đánh bại Sa-tan, chiến thắng Sa-tan. Họ thấy rằng miễn sao họ chấp nhận quyền tối thượng và những sự sắp đặt của Đức Chúa Trời, và miễn sao họ sở hữu sự quyết tâm và đức tin để không từ bỏ Đức Chúa Trời sau khi đã mất mọi thứ, thì họ có thể đánh bại và khiến Sa-tan hổ thẹn, và họ thấy rằng họ chỉ cần sở hữu sự quyết tâm và kiên trì để đứng vững trong lời chứng của mình – ngay cả khi điều đó đồng nghĩa với việc mất đi mạng sống của họ – để Sa-tan phải hoảng sợ và vội vã rút lui. Chứng ngôn của Gióp là lời cảnh báo cho các thế hệ sau, và lời cảnh báo này nói với họ rằng nếu họ không đánh bại Sa-tan, vậy thì họ sẽ không bao giờ có thể giải thoát bản thân khỏi những cáo buộc và sự quấy rầy của Sa-tan, họ cũng không bao giờ có thể thoát khỏi sự ngược đãi và tấn công của Sa-tan. Chứng ngôn của Gióp đã khai sáng các thế hệ sau. Sự khai sáng này dạy con người rằng chỉ khi họ trọn vẹn và ngay thẳng, họ mới có thể kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác; nó dạy họ rằng chỉ khi họ kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác, họ mới làm chứng mạnh mẽ và vang dội cho Đức Chúa Trời; chỉ khi họ làm chứng mạnh mẽ và vang dội cho Đức Chúa Trời, họ mới không bao giờ bị Sa-tan kiểm soát và sống dưới sự hướng dẫn, che chở của Đức Chúa Trời – chỉ khi đó họ mới thật sự được cứu rỗi. Nhân cách của Gióp và sự theo đuổi của cuộc đời ông nên được noi theo bởi bất kỳ ai theo đuổi sự cứu rỗi. Đó là điều ông đã sống bày tỏ ra trong cả cuộc đời mình và cách cư xử của ông trong những thử luyện là một kho báu quý giá cho tất cả những ai theo đuổi con đường kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác.

Chứng ngôn của Gióp mang sự yên ủi đến cho Đức Chúa Trời

Nếu bây giờ Ta nói với các ngươi rằng Gióp là một con người đáng mến, cõ lẽ các ngươi không thể nhận thức rõ ý nghĩa trong những lời này, và có lẽ các ngươi không thể nắm bắt được tâm tư đằng sau lý do tại sao Ta nói tất cả những điều này; nhưng hãy đợi cho đến ngày khi các ngươi đã trải nghiệm những thử luyện giống y như hoặc tương tự như của Gióp, khi các ngươi đã trải qua tai ương, khi các ngươi đã trải nghiệm những thử luyện được sắp đặt riêng cho các ngươi bởi Đức Chúa Trời, khi ngươi dâng trọn mình, chịu sự nhục nhã và gian nan để chiến thắng Sa-tan và làm chứng cho Đức Chúa Trời giữa những cám dỗ – khi ấy ngươi sẽ có thể nhận thức rõ ý nghĩa của những lời Ta phán. Vào lúc đó, ngươi sẽ cảm thấy rằng mình kém hơn nhiều so với Gióp, ngươi sẽ cảm thấy Gióp thật đáng mến làm sao, và rằng ông đáng được noi theo; đến lúc ấy, ngươi sẽ nhận ra những lời kinh điển mà Gióp nói ra quan trọng như thế nào đối với kẻ bại hoại và kẻ sống trong những thời điểm này, và ngươi sẽ nhận ra con người ngày nay khó đạt được điều Gióp đã đạt được như thế nào. Khi ngươi cảm thấy khó khăn, ngươi sẽ nhận thức rõ lòng Đức Chúa Trời bồn chồn và lo lắng ra sao, ngươi sẽ nhận thức rõ cái giá mà Đức Chúa Trời đã trả để thu phục những người như thế mới đắt dường nào, cũng như những gì Đức Chúa Trời làm và ban cho nhân loại quý giá ra sao. Giờ đây khi các ngươi đã nghe những lời này, các ngươi có sự hiểu biết và đánh giá chính xác về Gióp không? Trong mắt các ngươi, Gióp có là một người trọn vẹn và ngay thẳng, kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác không? Ta tin rằng hầu hết mọi người chắc chắn sẽ trả lời là có. Bởi sự thật về những gì Gióp đã hành động và tỏ lộ là không thể phủ nhận bởi bất kỳ con người nào hay Sa-tan. Chúng là bằng chứng quyền lực nhất về sự chiến thắng của Gióp đối với Sa-tan. Bằng chứng này được tạo ra nơi Gióp, và là chứng ngôn đầu tiên mà Đức Chúa Trời nhận được. Do đó, khi Gióp chiến thắng những cám dỗ của Sa-tan và làm chứng cho Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời đã nhìn thấy hy vọng nơi Gióp, và lòng Ngài được yên ủi bởi Gióp. Kể từ lúc sáng thế cho đến thời của Gióp, đây là lần đầu tiên Đức Chúa Trời thật sự trải nghiệm sự yên ủi là gì, và được yên ủi bởi con người có nghĩa là gì. Đó là lần đầu tiên Ngài thấy và thu phục được chứng ngôn thật sự dành cho Ngài.

Ta tin rằng, khi đã nghe về chứng ngôn của Gióp và những lời thuật lại về các phương diện khác nhau của Gióp, đại đa số mọi người sẽ có những kế hoạch cho con đường phía trước họ. Do vậy, Ta cũng tin rằng đa số những người đầy bồn chồn và lo sợ sẽ dần bắt đầu thư giãn cả thể xác lẫn tâm hồn, và sẽ bắt đầu cảm thấy nhẹ nhõm, từng chút một…

Các đoạn bên dưới cũng là những lời thuật lại về Gióp. Chúng ta hãy đọc tiếp.

4. Gióp nghe Đức Chúa Trời bằng tai

Gióp 9:11 Kìa, Ngài đã đi qua gần tôi, mà tôi không thấy Ngài, Ngài sang ngang trước mặt tôi, nhưng tôi chẳng nhìn thấy Ngài.

Gióp 23:8-9 Nầy, tôi đi tới trước, nhưng không có Ngài tại đó; Tôi đi lại sau, song tôi cũng chẳng nhìn thấy Ngài; Qua phía tả, khi Ngài đương làm công việc đó, song tôi không phân biệt Ngài được; Ngài ẩn tại phía hữu, nên tôi chẳng thấy Ngài.

Gióp 42:2-6 Tôi biết rằng Chúa có thể làm được mọi sự, Chẳng có ý chỉ nào Chúa lấy làm khó lắm. Kẻ nầy là ai, không hiểu biết gì, lại dám che ám ý chỉ của Chúa? Phải, tôi đã nói những điều tôi không hiểu đến, Tức các sự lạ lùng quá cho tôi, mà tôi chẳng thông biết. Hỡi Chúa, xin hãy nghe, tôi sẽ nói; Tôi sẽ hỏi Chúa, Chúa sẽ chỉ dạy cho tôi. Trước lỗ tai tôi có nghe đồn về Chúa, Nhưng bây giờ, mắt tôi đã thấy Ngài: Vì vậy, tôi lấy làm gớm ghê tôi, Và ăn năn trong tro bụi.

Mặc dù Đức Chúa Trời đã không tỏ lộ chính Ngài với Gióp nhưng Gióp tin vào quyền tối thượng của Đức Chúa Trời

Trọng điểm của những lời này là gì? Có bất kỳ ai trong các ngươi nhận ra rằng có một thực tế ở đây không? Trước hết, làm sao Gióp biết có một Đức Chúa Trời? Rồi thì, làm sao ông biết rằng trời đất và muôn vật được Đức Chúa Trời cai trị? Có một đoạn trả lời hai câu hỏi này: “Trước lỗ tai tôi có nghe đồn về Chúa, Nhưng bây giờ, mắt tôi đã thấy Ngài: Vì vậy, tôi lấy làm gớm ghê tôi, Và ăn năn trong tro bụi” (Gióp 42:5-6). Từ những lời này, chúng ta biết được rằng, thay vì đã tận mắt nhìn thấy Đức Chúa Trời, Gióp đã được biết về Đức Chúa Trời từ truyền thuyết. Chính trong những hoàn cảnh này mà ông bắt đầu bước đi con đường theo Đức Chúa Trời, sau đó ông đã xác nhận sự hiện hữu của Đức Chúa Trời trong cuộc sống của mình, và giữa muôn vật. Có một thực tế không thể phủ nhận ở đây – thực tế đó là gì? Cho dù có thể theo con đường kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác, nhưng Gióp cũng chưa bao giờ nhìn thấy Đức Chúa Trời. Trong việc này, chẳng phải ông cũng y như con người ngày nay sao? Gióp đã chưa bao giờ thấy Đức Chúa Trời, ẩn ý của điều đó là mặc dù ông đã nghe về Đức Chúa Trời, ông không biết Đức Chúa Trời ở đâu, hay Đức Chúa Trời như thế nào, hay Đức Chúa Trời đang làm gì. Đây là tất cả những yếu tố chủ quan; nói một cách khách quan, mặc dù ông đã theo Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời chưa bao giờ hiện ra với ông hay phán với ông. Chẳng phải đây là một thực tế sao? Mặc dù Đức Chúa Trời đã không phán với Gióp hay ban cho ông bất kỳ lệnh truyền nào, nhưng Gióp đã thấy sự hiện hữu của Đức Chúa Trời và thấy quyền tối thượng của Ngài giữa muôn vật, và trong những truyền thuyết mà Gióp đã nghe về Đức Chúa Trời bằng tai ông, mà sau đó ông đã bắt đầu đời sống kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác. Đó là nguồn gốc và quá trình mà Gióp theo Đức Chúa Trời. Nhưng cho dù ông kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác như thế nào, cho dù ông kiên vững như thế nào với sự chính trực của mình, Đức Chúa Trời vẫn không bao giờ hiện ra với ông. Chúng ta hãy đọc đoạn này. Ông nói: “Kìa, Ngài đã đi qua gần tôi, mà tôi không thấy Ngài, Ngài sang ngang trước mặt tôi, nhưng tôi chẳng nhìn thấy Ngài” (Gióp 9:11). Điều mà những lời này đang nói đến chính là Gióp có thể có hoặc không cảm thấy Đức chúa Trời ở quanh ông – nhưng ông chưa bao giờ có thể nhìn thấy Đức Chúa Trời. Có những khi ông tưởng tượng Đức Chúa Trời đi ngang trước mặt ông, hoặc hành động, hoặc hướng dẫn con người, nhưng ông chẳng bao giờ biết. Đức Chúa Trời đến với con người khi họ không ngờ tới; con người không biết Đức Chúa Trời đến với họ khi nào, hoặc Đức Chúa Trời đến với họ ở đâu, bởi vì con người không thể nhìn thấy Đức Chúa Trời, và do đó, đối với con người, Đức Chúa Trời ẩn giấu với họ.

Đức tin của Gióp nơi Đức Chúa Trời không bị lung lay bởi việc Đức Chúa Trời ẩn giấu với ông

Trong đoạn sau của Kinh Thánh, Gióp khi ấy nói, “Nầy, tôi đi tới trước, nhưng không có Ngài tại đó; Tôi đi lại sau, song tôi cũng chẳng nhìn thấy Ngài; Qua phía tả, khi Ngài đương làm công việc đó, song tôi không phân biệt Ngài được; Ngài ẩn tại phía hữu, nên tôi chẳng thấy Ngài” (Gióp 23:8-9). Trong lời thuật lại này, chúng ta biết rằng trong những trải nghiệm của Gióp, Đức Chúa Trời đã ẩn giấu với ông xuyên suốt; Đức Chúa Trời đã không công khai hiện ra với ông, Ngài cũng không công khai phán bất kỳ lời nào với ông, nhưng trong lòng mình, Gióp tin tưởng vào sự hiện hữu của Đức Chúa Trời. Ông đã luôn tin rằng Đức Chúa Trời có thể đang đi trước mặt ông, hoặc có thể đang hành động bên cạnh ông, và rằng mặc dù ông không thể nhìn thấy Đức Chúa Trời nhưng Đức Chúa Trời ở cạnh bên ông, chi phối mọi điều về ông. Gióp chưa bao giờ nhìn thấy Đức Chúa Trời, nhưng ông vẫn có thể chân thật với đức tin của mình, điều mà không người nào khác có thể làm được. Tại sao những người khác không thể làm điều đó? Đó là vì Đức Chúa Trời đã không phán với Gióp hay hiện ra với ông, và nếu ông không thật sự tin thì ông đã không thể tiếp tục, ông cũng không thể kiên vững với con đường kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác. Điều này không đúng sao? Ngươi cảm thấy thế nào khi ngươi đọc được Gióp nói những lời này? Ngươi có cảm thấy rằng sự trọn vẹn và ngay thẳng của Gióp, và sự công chính của ông trước Đức Chúa Trời, là thật, và không phải là sự cường điệu về phía Đức Chúa Trời không? Mặc dù Đức Chúa Trời đã đối đãi với Gióp như với những người khác và đã không hiện ra hay phán với ông, nhưng Gióp vẫn kiên vững với sự chính trực của mình, vẫn tin vào quyền tối thượng của Đức Chúa Trời, và hơn nữa, ông thường dâng của lễ thiêu và cầu nguyện trước Đức Chúa Trời như một kết quả của việc ông sợ xúc phạm Đức Chúa Trời. Trong khả năng kính sợ Đức Chúa Trời mà không nhìn thấy Đức Chúa Trời của Gióp, chúng ta thấy được ông yêu những điều tích cực nhiều như thế nào, và đức tin của ông vững vàng, chân thật ra sao. Ông đã không phủ nhận sự hiện hữu của Đức Chúa Trời bởi vì Đức Chúa Trời ẩn giấu với ông, ông cũng không mất đi đức tin của mình và từ bỏ Đức Chúa Trời vì ông chưa bao giờ nhìn thấy Ngài. Thay vào đó, giữa công tác cai trị muôn vật ẩn giấu của Đức Chúa Trời, ông đã nhận ra sự hiện hữu của Đức Chúa Trời, cảm nhận quyền tối thượng và quyền năng của Đức Chúa Trời. Ông đã không từ bỏ việc sống ngay thẳng bởi vì Đức Chúa Trời ẩn đi, ông cũng không từ bỏ con đường kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác bởi vì Đức Chúa Trời đã chưa bao giờ hiện ra với ông. Gióp chưa bao giờ yêu cầu Đức Chúa Trời xuất hiện công khai với ông để chứng minh sự hiện hữu của Ngài, bởi ông đã thấy quyền tối thượng của Đức Chúa Trời giữa muôn vật, và ông tin rằng mình đã đạt được những phúc lành và ân điển mà những người khác không đạt được. Mặc dù Đức Chúa Trời vẫn ẩn giấu với ông, đức tin của Gióp nơi Đức Chúa Trời không bao giờ lung lay. Do đó, ông đã gặt hái điều mà không ai khác có được: sự chấp thuận của Đức Chúa Trời và phúc lành của Đức Chúa Trời.

Gióp ngợi khen danh Đức Chúa Trời và không nghĩ về những phúc lành hay tai họa

Có một thực tế không bao giờ được đề cập trong những câu chuyện về Gióp của Kinh Thánh, và thực tế này sẽ là tâm điểm của chúng ta hôm nay. Mặc dù Gióp chưa bao giờ thấy Đức Chúa Trời hay tận tai nghe những lời của Đức Chúa Trời, nhưng Đức Chúa Trời đã có một vị trí trong lòng Gióp. Thái độ của Gióp đối với Đức Chúa Trời là gì? Đó là, như đã đề cập trước đây, “ngợi khen danh Ðức Giê-hô-va”. Sự ngợi khen danh Đức Chúa Trời của ông là vô điều kiện, không phân biệt hoàn cảnh, và không cần lý do. Chúng ta thấy rằng Gióp đã dâng lòng mình cho Đức Chúa Trời, cho phép nó được Đức Chúa Trời kiểm soát; tất cả những gì ông nghĩ, tất cả những gì ông quyết định, và tất cả những gì ông đã lên kế hoạch trong lòng mình đều được giãi bày với Đức Chúa Trời và không khép mình với Ngài. Lòng ông không chống đối Đức Chúa Trời, ông không bao giờ yêu cầu Đức Chúa Trời làm bất cứ điều gì cho ông hay ban cho ông bất cứ thứ gì, và ông đã không nuôi những ham muốn ngông cuồng rằng ông sẽ đạt được bất cứ thứ gì từ sự thờ phượng Đức Chúa Trời của mình. Gióp đã không nói chuyện đổi chác với Đức Chúa Trời, và đã không yêu cầu hay đòi hỏi gì ở Đức Chúa Trời. Sự ngợi khen danh Đức Chúa Trời của ông là vì quyền năng và thẩm quyền vĩ đại của Đức Chúa Trời trong việc cai trị muôn vật, và nó không lệ thuộc vào việc ông đạt được những phúc lành hay bị tai họa giáng xuống. Ông đã tin rằng bất kể Đức Chúa Trời ban phúc cho con người hay giáng thảm họa xuống họ, thì quyền năng và thẩm quyền của Đức Chúa Trời sẽ không thay đổi, và như thế, bất kể những hoàn cảnh của một người, thì danh Đức Chúa Trời nên được ngợi khen. Việc con người được Đức Chúa Trời ban phúc lành là bởi quyền tối thượng của Đức Chúa Trời, và khi tai họa xảy đến với con người, đó cũng là vì quyền tối thượng của Đức Chúa Trời. Quyền năng và thẩm quyền của Đức Chúa Trời thống trị và sắp đặt mọi thứ về con người; những sự thất thường trong vận may của con người là biểu hiện cho quyền năng và thẩm quyền của Đức Chúa Trời, và bất kể quan điểm của một người, danh Đức Chúa Trời phải được ngợi khen. Đây là điều Gióp đã trải nghiệm và bắt đầu biết đến trong những năm tháng của cuộc đời ông. Tất cả những ý nghĩ và hành động của Gióp đều đến tai Đức Chúa Trời và đến trước Đức Chúa Trời, cũng như được Đức Chúa Trời xem trọng. Đức Chúa Trời trân trọng kiến thức này của Gióp, và trân quý Gióp vì có tấm lòng như vậy. Tấm lòng này luôn chờ đợi lệnh truyền của Đức Chúa Trời, ở mọi nơi, và bất kể thời gian hay nơi chốn, nó cũng chào đón bất cứ điều gì xảy đến với ông. Gióp đã không yêu cầu gì ở Đức Chúa Trời. Điều ông yêu cầu chính mình là chờ đợi, chấp nhận, đối diện, và vâng phục tất cả những sự sắp đặt đến từ Đức Chúa Trời; Gióp tin đây là bổn phận của ông, và đó chính là điều Đức Chúa Trời muốn. Gióp chưa bao giờ nhìn thấy Đức Chúa Trời, cũng chưa bao giờ nghe Đức Chúa Trời phán bất kỳ lời nào, đưa ra bất kỳ lệnh truyền nào, ban bất kỳ lời giáo huấn nào, hay hướng dẫn ông bất cứ điều gì. Theo cách nói của ngày nay, việc ông có thể sở hữu một kiến thức và thái độ như vậy đối với Đức Chúa Trời trong khi Đức Chúa Trời đã không ban cho ông sự khai sáng, hướng dẫn, hay chu cấp gì liên quan đến lẽ thật – điều này thật quý giá, và việc ông minh chứng những điều như thế là đủ đối với Đức Chúa Trời, và chứng ngôn của ông được Đức Chúa Trời khen ngợi và trân trọng. Gióp chưa bao giờ thấy Đức Chúa Trời hay nghe Đức Chúa Trời đích thân phán ra bất kỳ lời giáo huấn nào với ông, nhưng đối với Đức Chúa Trời, lòng ông và bản thân ông quý hơn nhiều so với những kẻ mà, trước Đức Chúa Trời chỉ có thể nói về lý thuyết sâu xa, những kẻ chỉ có thể huênh hoang, và nói về những sự dâng của lễ, nhưng lại là những kẻ không bao giờ có kiến thức thật về Đức Chúa Trời, và chưa bao giờ thật sự kính sợ Đức Chúa Trời. Bởi lòng Gióp tinh sạch, không ẩn giấu với Đức Chúa Trời, nhân tính của ông trung thực và tốt bụng, ông yêu công lý và những điều tích cực. Chỉ một người như thế này, sở hữu tấm lòng và nhân tính như thế, mới có thể theo con đường của Đức Chúa Trời, có khả năng kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác. Một người như thế có thể thấy quyền tối thượng của Đức Chúa Trời, có thể thấy thẩm quyền và quyền năng của Ngài, và có thể đạt được sự vâng phục quyền tối thượng và những sự sắp đặt của Ngài. Chỉ một người như thế mới có thể thật sự ngợi khen danh Đức Chúa Trời. Đó là vì ông đã không nhìn vào việc liệu Đức Chúa Trời ban phúc lành cho ông hay giáng thảm họa xuống ông, bởi vì ông biết rằng mọi thứ được kiểm soát bởi tay Đức Chúa Trời, và rằng việc con người lo lắng là một dấu hiệu của sự ngốc nghếch, ngu dốt, và vô lý, của sự ngờ vực thực tế về quyền tối thượng của Đức Chúa Trời trên muôn vật, và không kính sợ Đức Chúa Trời. Kiến thức của Gióp chính là điều Đức Chúa Trời muốn. Như vậy, có phải Gióp đã có kiến thức lý thuyết về Đức Chúa Trời nhiều hơn các ngươi không? Bởi công tác và những lời phán của Đức Chúa Trời vào lúc đó rất ít, không dễ để đạt được kiến thức về Đức Chúa Trời. Thành tựu ấy bởi Gióp là một kỳ công không hề dễ dàng. Ông đã chưa trải nghiệm công tác của Đức Chúa Trời, cũng chưa bao giờ nghe Đức Chúa Trời phán, cũng chưa thấy mặt Đức Chúa Trời. Việc ông có thể có một thái độ như thế đối với Đức Chúa Trời hoàn toàn là kết quả của nhân tính của ông và sự theo đuổi cá nhân của ông, một nhân tính và sự theo đuổi mà con người ngày nay không có được. Do đó, vào thời đại ấy, Đức Chúa Trời nói: “Trên đất chẳng có ai giống như người, vốn trọn vẹn và ngay thẳng”. Vào thời đại đó, Đức Chúa Trời đã đưa ra đánh giá như thế về ông, và đã đi đến một kết luận như vậy. Điều đó còn đúng hơn bao nhiêu nữa vào ngày nay?

Mặc dù Đức Chúa Trời ẩn giấu với con người, những việc làm của Ngài giữa muôn vật là đủ để con người biết Ngài

Gióp đã không nhìn thấy mặt Đức Chúa Trời hay nghe những lời Đức Chúa Trời phán, và ông càng không đích thân trải nghiệm công tác của Đức Chúa Trời, nhưng ông kính sợ Đức Chúa Trời và chứng ngôn của ông trong những sự thử luyện đều được chứng kiến bởi tất cả, và chúng được Đức Chúa Trời yêu thích, hài lòng, và khen ngợi, và mọi người ghen tỵ, ngưỡng mộ chúng, và thậm chí hơn thế, họ còn hát những lời khen ngợi. Không gì vĩ đại hay phi thường về cuộc đời của ông: Cũng như bất kỳ người bình thường nào, ông sống một cuộc sống không đáng kể, đi làm lúc bình minh và về nhà nghỉ lúc hoàng hôn. Sự khác biệt là trong vài thập kỷ không đáng kể của cuộc đời mình, ông đã đạt được sự hiểu biết sâu sắc về con đường của Đức Chúa Trời, nhận ra và hiểu được quyền năng và quyền tối thượng vĩ đại của Đức Chúa Trời mà chưa ai từng có. Ông không thông minh hơn bất kỳ người bình thường nào, cuộc sống của ông không đặc biệt ngoan cường, hơn nữa ông cũng không có những kỹ năng vô hình đặc biệt. Tuy nhiên, điều ông đã sở hữu là một nhân cách trung thực, tốt bụng, và ngay thẳng, một nhân cách yêu sự công bằng, công chính, và những điều tích cực – không điều gì trong số này được sở hữu bởi đại đa số những người bình thường. Ông phân biệt giữa yêu và ghét, có ý thức công lý, không chịu khuất phục và kiên trì, chú ý tỉ mỉ đến chi tiết trong suy nghĩ của mình. Do đó, trong khoảng thời gian không đáng kể của mình trên đất, ông đã nhìn thấy tất cả những điều phi thường mà Đức Chúa Trời đã làm, và ông đã thấy sự vĩ đại, thánh khiết, và công chính của Đức Chúa Trời, ông đã thấy sự quan tâm, độ lượng, và sự che chở của Đức Chúa Trời đối với con người, và ông đã thấy được sự đáng tôn kính và thẩm quyền của Đức Chúa Trời tối cao. Lý do đầu tiên giải thích tại sao Gióp có thể đạt được những điều này, những điều vượt xa bất kỳ người bình thường nào, là vì ông có một tấm lòng tinh sạch, tấm lòng ông thuộc về Đức Chúa Trời, và được dẫn dắt bởi Đấng Tạo Hóa. Lý do thứ hai là sự theo đuổi của ông: sự theo đuổi việc sống hoàn thiện và trọn vẹn của ông, việc làm một người tuân theo ý muốn của Trời, người được Đức Chúa Trời yêu thương, và người lánh khỏi điều ác. Gióp sở hữu và theo đuổi những điều này khi không thể nhìn thấy Đức Chúa Trời hay nghe lời Đức Chúa Trời; mặc dù ông chưa bao giờ thấy Đức Chúa Trời, ông đã dần biết được phương tiện mà Đức Chúa Trời dùng để cai trị muôn vật, và ông đã hiểu sự khôn ngoan mà Đức Chúa Trời dùng để làm như thế. Mặc dù ông chưa bao giờ nghe những lời Đức Chúa Trời phán, Gióp đã biết rằng những hành động ban thưởng cho con người và lấy đi từ con người đều đến từ Đức Chúa Trời. Mặc dù những năm tháng của cuộc đời ông không khác với của bất kỳ người bình thường nào, nhưng ông đã không cho phép sự không đáng kể của cuộc đời ông ảnh hưởng đến kiến thức của ông về quyền tối thượng của Đức Chúa Trời đối với muôn vật, hay ảnh hưởng đến việc ông theo con đường kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác. Trong mắt ông, những quy luật của muôn vật có đầy những việc làm của Đức Chúa Trời, và quyền tối thượng của Đức Chúa Trời có thể được nhìn thấy ở bất kỳ phần nào của đời sống con người. Ông đã không nhìn thấy Đức Chúa Trời, nhưng ông có thể nhận ra rằng những việc làm của Đức Chúa Trời ở khắp nơi, và trong khoảng thời gian không đáng kể của ông trên đất, ở mọi ngõ ngách cuộc đời mình, ông đều có thể thấy và nhận ra những việc làm phi thường, thần kỳ của Đức Chúa Trời, và ông có thể thấy được những sự sắp đặt thần kỳ của Đức Chúa Trời. Sự ẩn giấu và im lặng của Đức Chúa Trời đã không cản trở Gióp nhận ra những việc làm của Đức Chúa Trời, chúng cũng không ảnh hưởng đến kiến thức của ông về quyền tối thượng của Đức Chúa Trời trên muôn vật. Trong đời sống hàng ngày của ông, sự sống của ông là sự nhận biết về quyền tối thượng và những sự sắp đặt của Đức Chúa Trời, Đấng ẩn giấu với muôn vật. Trong đời sống hàng ngày của ông, ông cũng nghe và hiểu được tiếng lòng của Đức Chúa Trời và lời Đức Chúa Trời, Đấng im lặng giữa muôn vật nhưng lại bày tỏ tiếng lòng Ngài và những lời của Ngài bằng cách chi phối quy luật của muôn vật. Như vậy, các ngươi thấy rằng nếu mọi người có cùng nhân tính và sự theo đuổi như Gióp, thì họ có thể đạt được sự nhận biết và kiến thức giống y như của Gióp về quyền tối thượng của Đức Chúa Trời trên muôn vật. Đức Chúa Trời đã không hiện ra với Gióp hay phán với ông, nhưng Gióp có thể trọn vẹn và ngay thẳng, kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác. Nói cách khác, khi Đức Chúa Trời không hiện ra hay phán với con người, những việc làm của Đức Chúa Trời giữa muôn vật và quyền tối thượng của Ngài trên muôn vật là đủ để con người trở nên nhận biết về sự hiện hữu, quyền năng, và thẩm quyền của Đức Chúa Trời, và quyền năng, thẩm quyền của Đức Chúa Trời là đủ để làm cho con người theo con đường kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác. Bởi một người bình thường như Gióp có thể đạt được sự kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác, vậy thì mọi người bình thường theo Đức Chúa Trời cũng phải có thể. Mặc dù những lời này nghe có vẻ như suy luận lôgic, nhưng điều này không trái với các quy luật của sự vật. Tuy nhiên thực tế lại không khớp với kỳ vọng: Sự kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác có vẻ là điều dành riêng cho Gióp và chỉ Gióp mà thôi. Khi đề cập đến “kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác,” con người nghĩ rằng điều này chỉ nên được thực hiện bởi Gióp như thể con đường kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác đã được đặt tên là Gióp và không liên quan gì đến những người khác cả. Lý do cho điều này thật rõ ràng: Bởi vì chỉ Gióp mới sở hữu nhân cách trung thực, tốt bụng và ngay thẳng, yêu sự công lý, công chính và những điều tích cực, do đó chỉ Gióp mới có thể theo con đường kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác. Tất cả các ngươi hẳn đã hiểu ẩn ý ở đây – bởi không ai sở hữu một nhân tính trung thực, tốt bụng, và ngay thẳng, một nhân tính yêu sự công lý, công chính và những điều tích cực, nên không ai có thể kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác, và do đó mọi người không bao giờ có thể đạt được niềm vui của Đức Chúa Trời hay đứng vững giữa những thử luyện. Điều này cũng có nghĩa rằng, với Gióp là ngoại lệ, tất cả mọi người vẫn bị Sa-tan trói buộc và gài bẫy; tất cả họ đều bị hắn cáo buộc, tấn công và ngược đãi. Họ là những người Sa-tan cố nuốt chửng, và tất cả họ đều không có tự do, là những tù nhân đã bị Sa-tan giam cầm.

Nếu lòng người thù địch với Đức Chúa Trời, làm sao con người có thể kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác?

Bởi vì con người ngày nay không sở hữu cùng một nhân tính như Gióp, thực chất trong bản tính của họ, và thái độ của họ đối với Đức Chúa Trời là gì? Họ có kính sợ Đức Chúa Trời không? Họ có lánh khỏi điều ác không? Những ai không kính sợ Đức Chúa Trời hay lánh khỏi điều ác chỉ có thể được tóm tắt bằng những từ này: “kẻ thù của Đức Chúa Trời.” Các ngươi thường nói những từ này, nhưng các ngươi chưa bao giờ biết ý nghĩa thật của chúng. Những từ “kẻ thù của Đức Chúa Trời” có ý nghĩa thực chất như sau: Chúng không nói rằng Đức Chúa Trời xem con người là kẻ thù, mà rằng con người xem Đức Chúa Trời như kẻ thù. Trước tiên, khi con người bắt đầu tin vào Đức Chúa Trời, ai trong số họ không có mục đích, động cơ, và tham vọng riêng? Mặc dù một phần trong họ tin vào sự hiện hữu của Đức Chúa Trời và đã nhìn thấy sự hiện hữu của Đức Chúa Trời, nhưng niềm tin của họ nơi Đức Chúa Trời vẫn chứa đựng những động cơ đó, và mục tiêu sau cùng của họ trong việc tin vào Đức Chúa Trời là nhận những phúc lành của Ngài và những điều họ muốn. Trong những trải nghiệm sống của con người, họ thường tự nhủ rằng tôi đã từ bỏ gia đình và sự nghiệp vì Đức Chúa Trời, và Ngài đã cho tôi được gì? Tôi phải tổng lại, và xác nhận rằng – tôi đã nhận được bất kỳ phúc lành nào gần đây chưa? Tôi đã cho đi rất nhiều trong thời gian này, tôi đã làm tốt bấy lâu nay, và chịu đựng rất nhiều – đổi lại Đức Chúa Trời đã cho tôi bất kỳ lời hứa nào chưa? Ngài có nhớ những việc lành của tôi chưa? Kết cục của tôi sẽ là gì? Tôi có thể nhận những phúc lành của Đức Chúa Trời không? … Mỗi người đều liên tục thực hiện những sự tính toán như thế trong lòng họ, và họ đưa ra những yêu cầu đối với Đức Chúa Trời, những yêu cầu mang động cơ, tham vọng, và tâm lý đổi chác của họ. Nói vậy nghĩa là, trong lòng mình, con người liên tục kiểm tra Đức Chúa Trời, liên tục đặt ra những kế hoạch về Đức Chúa Trời, liên tục tranh luận về trường hợp kết cuộc cá nhân của riêng mình với Đức Chúa Trời, và cố gắng moi ra một câu tuyên bố từ Đức Chúa Trời, xem liệu Đức Chúa Trời có thể ban cho họ điều họ muốn hay không. Cùng với việc theo đuổi Đức Chúa Trời, con người không đối đãi với Đức Chúa Trời như một Đức Chúa Trời. Con người luôn cố gắng thỏa thuận với Đức Chúa Trời, không ngừng đòi hỏi ở Ngài, và thậm chí thúc ép Ngài trong mọi bước, được đằng chân lân đằng đầu. Cùng với việc cố gắng thỏa thuận với Đức Chúa Trời, con người cũng tranh luận với Ngài, và thậm chí có những người mà khi những thử luyện xảy đến với họ hay họ thấy mình trong những tình huống nhất định, thường trở nên yếu đuối, thụ động, bê trễ trong công việc, và đầy than oán về Đức Chúa Trời. Từ khi con người mới bắt đầu tin Đức Chúa Trời, họ đã xem Đức Chúa Trời là một nguồn cung dồi dào, là một con dao gấp đa năng, và họ coi chính mình là chủ nợ lớn nhất của Đức Chúa Trời, như thể việc cố gắng lấy được những phúc lành và lời hứa từ Đức Chúa Trời là quyền và nghĩa vụ vốn có của họ, trong khi trách nhiệm của Đức Chúa Trời là bảo vệ, chăm sóc cho con người, và chu cấp cho họ. Đó là sự hiểu biết cơ bản về “niềm tin nơi Đức Chúa Trời” của tất cả những ai tin Đức Chúa Trời, và đó là sự hiểu biết sâu sắc nhất của họ về khái niệm niềm tin nơi Đức Chúa Trời. Từ thực chất của bản chất con người cho đến sự theo đuổi chủ quan của họ, không điều gì liên quan đến sự kính sợ Đức Chúa Trời. Mục tiêu của con người trong việc tin vào Đức Chúa Trời không thể liên quan gì đến sự thờ phượng Đức Chúa Trời. Nói vậy nghĩa là, con người chưa bao giờ xem xét hay hiểu rằng niềm tin nơi Đức Chúa Trời đòi hỏi kính sợ và thờ phượng Đức Chúa Trời. Với tình trạng như vậy, thực chất của con người thật rõ ràng. Đó là thực chất gì? Đó là lòng người hiểm độc, nuôi sự phản bội và lừa dối, không yêu sự công lý, công chính và những điều tích cực, nó đê tiện và tham lam. Lòng người không thể khép kín hơn với Đức Chúa Trời; họ chưa hề dâng nó cho Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời chưa bao giờ thấy tấm lòng thật của con người, Ngài cũng chưa bao giờ được con người thờ phượng. Cho dù cái giá mà Đức Chúa Trời trả có đắt như thế nào, hoặc Ngài làm bao nhiêu công tác, hoặc Ngài chu cấp cho con người nhiều bao nhiêu, con người vẫn mù quáng và hoàn toàn thờ ơ với tất cả. Con người chưa bao giờ dâng lòng mình cho Đức Chúa Trời, họ chỉ muốn tự lo cho lòng mình, đưa ra những quyết định của riêng mình – ẩn ý của điều này là con người không muốn theo con đường kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác, hoặc vâng phục quyền tối thượng và những sự sắp đặt của Đức Chúa Trời, họ cũng không muốn thờ phượng Đức Chúa Trời như với một Đức Chúa Trời. Đó là tình trạng của con người ngày nay. Bây giờ chúng ta hãy nhìn lại Gióp lần nữa. Trước hết, ông có lập thỏa thuận với Đức Chúa Trời không? Ông có bất kỳ động cơ ngầm nào trong việc giữ vững con đường kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác không? Vào lúc đó, Đức Chúa Trời có nói với bất kỳ ai về kết cuộc sắp tới không? Vào lúc đó, Đức Chúa Trời đã không hứa với bất kỳ ai về kết cuộc, và chính dựa trên nền tảng này mà Gióp có thể kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác. Con người ngày nay có dám sánh với Gióp được không? Có quá nhiều sự chênh lệch; họ cách nhau một trời một vực. Mặc dù Gióp đã không có nhiều kiến thức về Đức Chúa Trời, nhưng ông đã dâng lòng mình cho Đức Chúa Trời và nó thuộc về Đức Chúa Trời. Ông chưa bao giờ có thỏa thuận với Đức Chúa Trời, và không có ham muốn hay đòi hỏi ngông cuồng đối với Đức Chúa Trời; thay vào đó, ông tin rằng “Ðức Giê-hô-va đã ban cho, Ðức Giê-hô-va lại cất đi”. Đây là điều ông đã thấy và đạt được từ việc giữ đúng con đường kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác trong nhiều năm cuộc đời. Tương tự, ông cũng đã đạt kết quả được thể hiện trong những lời: “Sự phước mà tay Ðức Chúa Trời ban cho chúng ta, chúng ta lãnh lấy, còn sự tai họa mà tay Ngài giáng trên chúng ta, lại chẳng lãnh lấy sao?” Hai câu này là những gì ông đã thấy và biết được nhờ thái độ vâng phục của ông đối với Đức Chúa Trời trong những trải nghiệm sống của ông, và chúng cũng là những vũ khí quyền lực nhất mà ông dùng để chiến thắng trong những cám dỗ của Sa-tan, và chúng là nền tảng cho việc ông đứng vững trong lời chứng về Đức Chúa Trời. Ở điểm này, các ngươi có hình dung Gióp là một người đáng mến không? Các ngươi có hy vọng được là một người như thế không? Các ngươi có sợ phải trải qua những cám dỗ của Sa-tan không? Các ngươi có quyết tâm cầu xin Đức Chúa Trời cho các ngươi chịu những thử luyện y như của Gióp không? Chắc chắn là hầu hết mọi người sẽ không dám cầu xin những điều như thế. Như vậy, rõ ràng là đức tin của các ngươi nhỏ nhoi một cách đáng thương; so với Gióp, đức tin của các ngươi chỉ đơn giản là không đáng đề cập. Các ngươi là kẻ thù của Đức Chúa Trời, các ngươi không kính sợ Đức Chúa Trời, các ngươi không có khả năng đứng vững trong lời chứng của mình về Đức Chúa Trời, và các ngươi không thể chiến thắng những cuộc tấn công, cáo buộc, và cám dỗ của Sa-tan. Điều gì khiến cho các ngươi đủ tư cách nhận được những lời hứa của Đức Chúa Trời? Khi đã nghe câu chuyện về Gióp và đã hiểu ý định của Đức Chúa Trời trong việc cứu rỗi con người và ý nghĩa của sự cứu rỗi con người, các ngươi giờ đây có đức tin để chấp nhận những thử luyện y như của Gióp không? Các ngươi không có chút quyết tâm nào để cho phép bản thân mình theo con đường kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác sao?

Không e sợ những thử luyện của Đức Chúa Trời

Sau khi nhận chứng ngôn từ Gióp theo sau sự kết thúc những thử luyện của ông, Đức Chúa Trời đã quyết rằng Ngài sẽ thu phục một nhóm – hay nhiều hơn một nhóm – những người như Gióp, nhưng Ngài đã quyết không bao giờ cho phép Sa-tan tấn công hay ngược đãi bất kỳ người nào khác bằng những phương tiện mà hắn đã dùng để cám dỗ, tấn công và ngược đãi Gióp, bằng cách đánh cược với Đức Chúa Trời; Đức Chúa Trời đã không cho phép Sa-tan làm những việc như thế với con người yếu đuối, khờ dại, và ngu ngốc lần nào nữa – Sa-tan cám dỗ Gióp là đã đủ! Việc không cho phép Sa-tan ngược đãi con người dù hắn có muốn đến mức nào là lòng thương xót của Đức Chúa Trời. Đối với Đức Chúa Trời, Gióp chịu đựng sự cám dỗ và ngược đãi của Sa-tan là đủ. Đức Chúa Trời đã không cho phép Sa-tan được làm những việc như thế lần nào nữa, bởi sự sống và mọi thứ của những người theo Đức Chúa Trời được thống trị và dàn xếp bởi Đức Chúa Trời, và Sa-tan không được quyền tùy ý thao túng những người được Đức Chúa Trời chọn – các ngươi nên rõ về điểm này! Đức Chúa Trời quan tâm đến điểm yếu của con người, hiểu sự khờ dại và ngu ngốc của họ. Mặc dù, hầu cho con người có thể được cứu rỗi hoàn toàn, Đức Chúa Trời đã giao họ cho Sa-tan, nhưng Đức Chúa Trời không sẵn lòng nhìn thấy con người từng bị Sa-tan biến thành kẻ ngốc và ngược đãi, và Ngài không muốn thấy con người luôn khổ sở. Con người được tạo ra bởi Đức Chúa Trời, và hoàn toàn chính đáng khi Đức Chúa Trời cai trị và sắp đặt mọi thứ về con người; đây là trách nhiệm của Đức Chúa Trời, và đó là thẩm quyền mà Đức Chúa Trời dùng để thống trị muôn vật! Đức Chúa Trời không cho phép Sa-tan tùy ý ngược đãi và đối xử tệ với con người, Ngài không cho phép Sa-tan sử dụng những phương tiện khác nhau để dẫn con người đi lạc lối, và hơn nữa, Ngài không cho phép Sa-tan can thiệp vào quyền tối thượng của Đức Chúa Trời với con người, Ngài cũng không cho phép Sa-tan chà đạp và phá hoại các quy luật mà Đức Chúa Trời dùng để cai trị muôn vật, nói chi đến công tác vĩ đại của Đức Chúa Trời là quản lý và cứu rỗi nhân loại! Những người mà Đức Chúa Trời mong muốn cứu rỗi, và những người có thể làm chứng cho Đức Chúa Trời, là cốt lõi và sự kết tinh của công tác kế hoạch quản lý sáu nghìn năm của Đức Chúa Trời, cũng như cái giá cho những nỗ lực trong sáu nghìn năm công tác của Ngài. Dễ gì Đức Chúa Trời có thể giao những người này cho Sa-tan chứ?

Người ta thường lo và sợ những thử luyện của Đức Chúa Trời, ấy thế mà họ luôn sống trong cạm bẫy của Sa-tan, sống trong lãnh thổ nguy hiểm mà ở đó họ bị Sa-tan tấn công và ngược đãi – nhưng họ không biết sợ, và không nao núng. Chuyện gì đang xảy ra vậy? Đức tin của con người nơi Đức Chúa Trời chỉ giới hạn trong những gì họ có thể thấy. Họ không có chút cảm kích nào về tình yêu và sự quan tâm của Đức Chúa Trời dành cho con người, hay về sự ân cần và quan tâm của Ngài đối với con người. Ngoại trừ một chút lo lắng và sợ hãi về những thử luyện, sự phán xét và hình phạt, sự oai nghi và thịnh nộ của Đức Chúa Trời, con người không có chút hiểu biết nào về những ý định tốt của Đức Chúa Trời. Khi đề cập đến những thử luyện, con người cảm thấy như thể Đức Chúa Trời có những động cơ ngầm, và một số thậm chí còn tin rằng Đức Chúa Trời nuôi những mưu đồ xấu, không biết Đức Chúa Trời sẽ thật sự làm gì với họ; như thế, cùng với việc hô hào về sự vâng phục quyền tối thượng và những sự sắp đặt của Đức Chúa Trời, họ làm tất cả những gì có thể để chống lại và phản đối quyền tối thượng của Đức Chúa Trời đối với con người và những sự sắp đặt dành cho con người, bởi họ tin rằng nếu không cẩn thận, họ sẽ bị Đức Chúa Trời làm cho lầm lạc, rằng nếu họ không tự chủ vận mệnh của chính họ thì tất cả những gì họ có có thể sẽ bị Đức Chúa Trời lấy mất, và cuộc đời họ thậm chí có thể kết thúc. Con người về phe của Sa-tan, nhưng họ không bao giờ lo về việc bị Sa-tan ngược đãi, và họ bị Sa-tan ngược đãi nhưng không bao giờ sợ bị Sa-tan giam cầm. Họ cứ nói rằng họ chấp nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời, nhưng lại không bao giờ tin cậy Đức Chúa Trời hay tin rằng Đức Chúa Trời sẽ thật sự cứu rỗi con người khỏi móng vuốt của Sa-tan. Nếu, giống như Gióp, con người có thể quy phục những sự dàn xếp và sắp đặt của Đức Chúa Trời, và có thể dâng trọn mình vào tay Đức Chúa Trời, thì chẳng phải kết cuộc của con người sẽ giống y như của Gióp – nhận được những phúc lành của Đức Chúa Trời sao? Nếu con người có thể chấp nhận và quy phục quy tắc của Đức Chúa Trời, vậy thì có gì để mất? Do đó, Ta khuyên rằng các ngươi cẩn thận trong những hành động của mình, và cẩn trọng với mọi thứ sắp xảy đến với các ngươi. Đừng hấp tấp hay bốc đồng, đừng đối đãi với Đức Chúa Trời và những con người, sự việc, và sự vật mà Ngài đã sắp đặt cho các ngươi dựa trên tính khí nóng nảy hay sự hồn nhiên của các ngươi, hay theo những sự tưởng tượng và ý niệm của các ngươi; các ngươi phải cẩn trọng trong những hành động của mình, phải cầu nguyện và tìm kiếm nhiều hơn nữa, tránh kích động cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời. Hãy nhớ điều này!

Tiếp theo, chúng ta hãy xem Gióp như thế nào sau những thử luyện của ông.

5. Gióp sau những thử luyện của ông

Gióp 42:7-9 Xảy sau khi Ðức Giê-hô-va đã phán các lời ấy với Gióp, thì Ngài phán cùng Ê-li-pha, người Thê-man, mà rằng: Cơn thạnh nộ ta nổi lên cùng ngươi và hai bạn hữu ngươi; bởi vì các ngươi không có nói về ta cách xứng đáng, y như Gióp, kẻ tôi tớ ta, đã nói. Vậy bây giờ, hãy bắt bảy con bò đực và bảy con chiên đực đi đến Gióp, kẻ tôi tớ ta, mà vì các ngươi dâng lên một của lễ thiêu; rồi Gióp, kẻ tôi tớ ta sẽ cầu nguyện cho các ngươi; vì ta sẽ nhậm lời người, kẻo e ta đãi các ngươi tùy theo sự ngu muội của các ngươi; vì các ngươi không có nói về ta cách xứng đáng, như Gióp, kẻ tôi tớ ta, đã nói. Vậy, Ê-li-pha, người Thê-man, Binh-đát, người Su-a, Sô-pha, người Na-a-ma, bèn đi và làm theo điều Ðức Giê-hô-va đã phán dặn mình; rồi Ðức Giê-hô-va nhậm lời của Gióp.

Gióp 42:10 Vậy, khi Gióp đã cầu nguyện cho bạn hữu mình rồi, Ðức Giê-hô-va bèn đem người ra khỏi cảnh khốn người, và ban lại cho Gióp bằng gấp hai các tài sản mà người đã có trước.

Gióp 42:12 Như vậy, Ðức Giê-hô-va ban phước cho buổi già của Gióp nhiều hơn lúc đang thì: người được mười bốn ngàn chiên, sáu ngàn lạc đà, một ngàn đôi bò, và một ngàn lừa cái.

Gióp 42:17 Rồi Gióp qua đời tuổi cao tác lớn.

Những ai kính sợ Đức Chúa Trời và lành khỏi điều ác thì được Đức Chúa Trời nhìn bằng sự nâng niu, trong khi những kẻ ngu ngốc thi bị Đức Chúa Trời coi là hèn mọn

Trong Gióp 42:7-9, Đức Chúa trời nói rằng Gióp là tôi tớ của Ngài. Việc Ngài dùng từ “tôi tớ” để nói về Gióp chứng minh tầm quan trọng của Gióp trong lòng Ngài; mặc dù Đức Chúa Trời đã không gọi Gióp bằng từ gì đó cao trọng hơn, cách gọi này không ảnh hưởng đến tầm quan trọng của Gióp trong lòng Đức Chúa Trời. “Kẻ tôi tớ” ở đây là biệt hiệu của Đức Chúa Trời dành cho Gióp. Việc Đức Chúa Trời nhiều lần đề cập Gióp là “Gióp, kẻ tôi tớ Ta” cho thấy Ngài hài lòng với Gióp như thế nào, và mặc dù Đức Chúa Trời đã không nói về ý nghĩa đằng sau từ “tôi tớ”, định nghĩa của Đức Chúa Trời về từ “tôi tớ” có thể thấy được từ những lời của Ngài trong đoạn Kinh Thánh này. Đức Chúa Trời lúc đầu phán cùng Ê-li-pha, người Thê-man rằng: “Cơn thạnh nộ ta nổi lên cùng ngươi và hai bạn hữu ngươi; bởi vì các ngươi không có nói về ta cách xứng đáng, y như Gióp, kẻ tôi tớ ta, đã nói”. Những lời này là lần đầu Đức Chúa Trời công khai nói với con người rằng Ngài chấp nhận tất cả những gì Gióp nói và làm sau những thử luyện của Đức Chúa Trời với ông, và là lần đầu Ngài công khai xác nhận sự chuẩn xác và đúng đắn của tất cả những gì Gióp đã làm và nói. Đức Chúa Trời giận Ê-li-pha và những người khác vì cuộc nói chuyện ngớ ngẩn, không đúng của họ, bởi vì giống như Gióp, họ không thể thấy sự xuất hiện của Đức Chúa Trời hay nghe những lời Ngài phán trong cuộc sống của họ, nhưng Gióp đã có được kiến thức chính xác như thế về Đức Chúa Trời, trong khi họ chỉ có thể đoán mò về Đức Chúa Trời, trái với ý muốn của Đức Chúa Trời và thử luyện sự kiên nhẫn của Ngài trong tất cả những gì họ làm. Kết quả là, đồng thời với việc chấp nhận tất cả những gì Gióp đã làm và nói, Đức Chúa Trời cũng nổi cơn thịnh nộ với những người khác, bởi ở họ, Ngài không những không thể thấy bất kỳ hiện thực nào về sự kính sợ Đức Chúa Trời, mà còn không nghe gì về sự kính sợ Đức Chúa Trời trong những điều họ nói. Và do vậy, tiếp theo Đức Chúa Trời đưa ra những yêu cầu sau với họ: “Vậy bây giờ, hãy bắt bảy con bò đực và bảy con chiên đực đi đến Gióp, kẻ tôi tớ ta, mà vì các ngươi dâng lên một của lễ thiêu; rồi Gióp, kẻ tôi tớ ta sẽ cầu nguyện cho các ngươi; vì ta sẽ nhậm lời người, kẻo e ta đãi các ngươi tùy theo sự ngu muội của các ngươi”. Trong đoạn này, Đức Chúa Trời bảo Ê-li-pha và những người khác làm điều gì đó để chuộc tội của họ, bởi sự ngu muội của họ là một tội lỗi chống lại Giê-hô-va Đức Chúa Trời, và do đó họ phải làm của lễ thiêu để sửa chữa những lỗi lầm của mình. Các của lễ thiêu thường được dâng lên Đức Chúa Trời, nhưng điều bất thường về những của lễ thiêu này chính là chúng được dâng lên cho Gióp. Gióp được Đức Chúa Trời chấp nhận bởi ông đã làm chứng cho Đức Chúa Trời trong những thử luyện của ông. Trong khi đó, những người bạn này của Gióp đã bị vạch trần trong thời gian thử luyện của ông; bởi sự ngu muội của họ, họ bị Đức Chúa Trời lên án, và họ đã làm dấy lên cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời, và phải bị Đức Chúa Trời trừng phạt – trừng phạt bằng cách dâng của lễ thiêu trước Gióp – sau đó Gióp đã cầu nguyện cho họ để xóa đi sự trừng phạt và cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời với họ. Ý định của Đức Chúa Trời là khiến họ hổ thẹn, bởi họ không phải là những người kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác, và họ đã lên án sự chính trực của Gióp. Một mặt, Đức Chúa Trời đang nói với họ rằng Ngài không chấp nhận hành động của họ, nhưng hết sức chấp nhận và rất vui về Gióp; mặt khác, Đức Chúa Trời đang nói với họ rằng việc được Đức Chúa Trời chấp nhận giúp nâng con người lên trước Đức Chúa Trời, rằng con người bị Đức Chúa Trời ghét bởi sự ngu muội của họ, xúc phạm Đức Chúa Trời bởi điều này, và thấp kém, đê hèn trong mắt Đức Chúa Trời. Đây là những định nghĩa mà Đức Chúa Trời đưa ra về hai loại người, và chúng là thái độ của Đức Chúa Trời đối với hai loại người này, chúng là cách nói rõ của Đức Chúa Trời về giá trị và chỗ đứng của hai loại người này. Mặc dù Đức Chúa Trời gọi Gióp là tôi tớ của Ngài, trong mắt Đức Chúa Trời, kẻ tôi tớ này được yêu mến, và được ban thẩm quyền cầu nguyện cho những người khác và tha lỗi cho họ. Kẻ tôi tớ này có thể nói chuyện trực tiếp với Đức Chúa Trời và đến trực tiếp trước Đức Chúa Trời, và địa vị của ông ta cao hơn, đáng tôn kính hơn của những người khác. Đây là ý nghĩa thật của từ “tôi tớ” mà Đức Chúa Trời đã phán. Gióp được ban vinh dự đặc biệt này bởi sự kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác của ông, và lý do tại sao những người khác không được Đức Chúa Trời gọi là tôi tớ là vì họ đã không kính sợ Đưc Chúa Trời và lánh khỏi điều ác. Hai thái độ khác biệt rõ ràng này của Đức Chúa Trời là những thái độ của Ngài với hai loại người: Những người kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác thì được Đức Chúa Trời chấp nhận và được xem là đáng quý trong mắt Ngài, trong khi những kẻ ngu ngốc không kính sợ Đức Chúa Trời thì không có khả năng lánh khỏi điều ác, và không thể nhận được sự ưu ái của Đức Chúa Trời; họ thường bị Đức Chúa Trời ghét bỏ và lên án, và họ thấp hèn trong mắt Đức Chúa Trời.

Đức Chúa Trời ban thẩm quyền cho Gióp

Gióp đã cầu nguyện cho những người bạn của ông, và sau đó, bởi những lời cầu nguyện của Gióp, Đức Chúa Trời đã không xử lý họ theo sự ngu muội của họ – Ngài đã không trừng phạt họ hay đưa ra bất kỳ sự báo ứng nào với họ. Tại sao lại như thế? Đó là vì những lời cầu nguyện đã được cầu cho họ bởi tôi tớ của Đức Chúa Trời, là Gióp, đã đến tai Ngài; Đức Chúa Trời đã tha thứ cho họ bởi Ngài chấp nhận những lời cầu nguyện của Gióp. Như vậy, chúng ta thấy điều gì ở đây? Khi Đức Chúa Trời ban phúc cho ai đó, Ngài cho họ nhiều sự ban thưởng, và không chỉ là những phần thưởng vật chất: Đức Chúa Trời cũng ban cho họ thẩm quyền, cho họ quyền cầu nguyện cho người khác, và Đức Chúa Trời quên đi và bỏ qua những tội trọng của những người đó, bởi vì Ngài nghe những lời cầu nguyện này. Đây là thẩm quyền đặc biệt mà Đức Chúa Trời đã ban cho Gióp. Thông qua những lời cầu nguyện của Gióp để xin tha tội cho họ, Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã khiến những kẻ ngu ngốc ấy hổ thẹn – điều mà dĩ nhiên là sự trừng phạt đặc biệt của Ngài đối với Ê-li-pha và những người khác.

Gióp một lần nữa được Đức Chúa Trời ban phúc, và không bao giờ bị Sa-tan cáo buộc lần nữa

Trong số những lời phán của Giê-hô-va Đức Chúa Trời có câu “các ngươi không có nói về ta cách xứng đáng, như Gióp, kẻ tôi tớ ta, đã nói”. Gióp đã nói những gì? Đó là điều chúng ta đã nói đến trước đây, cũng như nhiều trang chữ trong Sách về Gióp ghi lại những lời Gióp đã nói. Trong tất cả nhiều trang chữ này, Gióp chưa từng một lần than oán hay nghi ngờ Đức Chúa Trời. Ông đơn thuần chờ đợi kết quả. Chính sự chờ đợi này là thái độ vâng phục của ông, nhờ sự chờ đợi này và nhờ những lời ông đã nói với Đức Chúa Trời, mà Gióp đã được Đức Chúa Trời chấp nhận. Khi ông chịu những thử luyện và chịu gian khổ, Đức Chúa Trời đã ở bên cạnh ông, và mặc dù nỗi gian khổ của ông không được giảm đi bởi sự hiện diện của Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời đã thấy điều Ngài mong muốn thấy, và nghe điều Ngài mong muốn nghe. Mỗi một hành động và lời nói của Gióp đã đến mắt và tai Đức Chúa Trời; Đức Chúa Trời đã nghe, và Ngài đã thấy – đây là thực tế. Kiến thức của Gióp về Đức Chúa Trời và những suy nghĩ của ông về Đức Chúa Trời trong lòng ông lúc đó không thật sự cụ thể như của con người ngày nay, nhưng trong bối cảnh thời đó, Đức Chúa Trời vẫn nhận ra tất cả những gì ông đã nói, bởi hành vi và những ý nghĩ trong lòng ông, cũng như những gì ông đã thể hiện và tỏ lộ, là đủ cho những yêu cầu của Ngài. Trong thời gian Gióp chịu thử luyện, những gì ông nghĩ trong đầu và quyết tâm làm đã cho Đức Chúa Trời thấy một kết quả, kết quả làm Đức Chúa Trời thỏa lòng, và sau điều này, Đức Chúa Trời lấy đi những thử luyện của Gióp, Gióp thoát khỏi những rắc rối của ông, và những thử luyện của ông biến mất, không bao giờ xảy đến với ông lần nữa. Bởi Gióp đã chịu những thử luyện, đã đứng vững trong những thử luyện này, và đã hoàn toàn chiến thắng Sa-tan, Đức Chúa Trời đã ban cho ông những phúc lành mà ông rất xứng đáng được hưởng. Như được ghi trong Gióp 42:10, 12, Gióp được ban phúc lành một lần nữa, và được ban phúc nhiều hơn những gì ông có lúc đầu. Lúc này Sa-tan đã rút lui, không còn nói hay làm bất cứ điều gì nữa, và từ đó trở đi Gióp không còn bị Sa-tan gây trở ngại hay tấn công nữa, và Sa-tan không còn đưa ra những lời cáo buộc chống lại phúc lành của Đức Chúa Trời với Gióp nữa.

Gióp trải qua nửa sau cuộc đời mình giữa những phúc lành của Đức Chúa Trời

Mặc dù những phúc lành của Ngài vào thời đó chỉ giới hạn ở chiên, gia súc, lạc đà, của cải vật chất, v.v., nhưng những phúc lành mà Đức Chúa Trời mong muốn ban trên Gióp trong lòng Ngài còn nhiều hơn như thế này rất nhiều. Vào lúc đó, có ghi chép nào về dạng lời hứa muôn đời mà Đức Chúa Trời mong muốn ban cho Gióp không? Trong những phúc lành của Ngài dành cho Gióp, Đức Chúa Trời đã không đề cập hay đả động đến kết cuộc của ông, và bất kể tầm quan trọng hay vị trí mà Gióp có trong lòng Đức Chúa Trời, thì tựu chung Đức Chúa Trời rất thận trọng trong những phúc lành của Ngài. Đức Chúa Trời đã không thông báo kết cuộc của Gióp. Điều đó có nghĩa là gì? Vào lúc ấy, khi kế hoạch của Đức Chúa Trời chưa đạt đến mốc tuyên bố về kết cuộc của con người, kế hoạch chưa bước vào giai đoạn công tác sau cùng của Ngài, Đức Chúa Trời không đề cập đến kết cuộc, chỉ đơn thuần ban những phúc lành vật chất cho con người. Ý nghĩa của điều này là nửa sau của cuộc đời Gióp đã trôi qua giữa những phúc lành của Đức Chúa Trời, điều làm cho ông khác với những người khác – nhưng cũng như họ, ông già đi, và như bất kỳ người bình thường nào, cũng đến ngày ông giã từ trần gian. Do đó, Kinh Thánh ghi chép rằng “Rồi Gióp qua đời tuổi cao tác lớn” (Gióp 42:17). Ý nghĩa của “qua đời tuổi cao tác lớn” ở đây là gì? Trong kỷ nguyên trước khi Đức Chúa Trời tuyên bố kết cuộc của con người, Đức Chúa Trời đã đặt ra một tuổi thọ cho Gióp, và khi đến tuổi đó, Ngài cho phép Gióp ra đi khỏi thế gian này một cách tự nhiên. Từ phúc lành thứ hai của Gióp cho đến khi ông mất, Đức Chúa Trời đã không thêm bất kỳ gian khổ nào nữa. Đối với Đức Chúa Trời, sự chết của Gióp là tự nhiên, và cũng cần thiết; nó là điều rất bình thường, và không phải là sự phán xét cũng không phải sự kết án. Khi ông còn sống, Gióp đã thờ phượng và kính sợ Đức Chúa Trời; liên quan đến dạng kết cuộc mà ông có sau khi chết, Đức Chúa Trời không nói gì cả, cũng không bình luận gì về điều đó. Đức Chúa Trời có ý thức mạnh mẽ về sự đúng mực trong những gì Ngài nói và làm, và nội dung cùng nguyên tắc của những lời nói và hành động của Ngài phù hợp với giai đoạn công tác của Ngài và thời kỳ Ngài đang hoạt động. Một người như Gióp có dạng kết cuộc gì trong lòng Đức Chúa Trời? Đức Chúa Trời đã đi đến bất kỳ dạng quyết định nào trong lòng Ngài chưa? Dĩ nhiên Ngài đã có! Chỉ là điều này con người không biết; Đức Chúa Trời đã không muốn nói với con người, Ngài cũng không hề có ý định nói với con người. Do đó, nói sơ qua là, Gióp đã qua đời tuổi cao tác lớn, và đó là cuộc đời của Gióp.

Cái giá mà Gióp đã sống trọn trong đời ông

Gióp có sống một cuộc đời giá trị không? Giá trị ở đâu? Tại sao lại nói ông sống một cuộc đời giá trị? Đối với con người, giá trị của ông là gì? Từ quan điểm của con người, ông đại diện cho nhân loại mà Đức Chúa Trời mong muốn cứu rỗi, trong việc làm chứng vang dội cho Đức Chúa Trời trước Sa-tan và con người trên thế gian. Ông đã làm tròn bổn phận mà một tạo vật của Đức Chúa Trời phải làm tròn, đã làm gương, và hành động như một kiểu mẫu cho hết thảy những người mà Đức Chúa Trời mong muốn cứu rỗi, cho phép mọi người thấy rằng hoàn toàn có thể chiến thắng Sa-tan bằng cách dựa vào Đức Chúa Trời. Giá trị của ông đối với Đức Chúa Trời là gì? Đối với Đức Chúa Trời, giá trị của cuộc đời Gióp nằm ở khả năng kính sợ Đức Chúa Trời, thờ phượng Đức Chúa Trời, chứng thực cho những việc làm của Đức Chúa Trời, và ngợi khen những hành động của Đức Chúa Trời, mang đến cho Đức Chúa Trời sự yên ủi và điều gì đó để vui hưởng; đối với Đức Chúa Trời, giá trị của cuộc đời Gióp cũng nằm ở cách mà, trước khi chết, Gióp đã trải nghiệm những thử luyện và đã chiến thắng Sa-tan, làm chứng vang dội cho Đức Chúa Trời trước Sa-tan và mọi người trên thế gian, tôn vinh Đức Chúa Trời giữa nhân loại, yên ủi lòng Đức Chúa Trời, và cho phép tấm lòng thiết tha của Đức Chúa Trời thấy được kết quả và thấy được hy vọng. Chứng ngôn của ông đã đặt ra một tiền lệ cho khả năng đứng vững trong lời chứng với Đức Chúa Trời của một người, và cho việc có thể làm Sa-tan hổ thẹn thay cho Đức Chúa Trời, trong công tác quản lý nhân loại của Đức Chúa Trời. Chẳng phải đây là giá trị của cuộc đời Gióp sao? Gióp đã mang đến sự yên ủi cho lòng Đức Chúa Trời, ông đã cho Đức Chúa Trời được nếm trước niềm hân hoan được tôn vinh, và mang lại một khởi đầu tuyệt vời cho kế hoạch quản lý của Đức Chúa Trời. Từ điểm này trở đi, tên của Gióp đã trở thành biểu tượng cho sự tôn vinh Đức Chúa Trời, và là dấu hiệu cho sự chiến thắng Sa-tan của nhân loại. Những gì Gióp đã sống bày tỏ ra trong đời mình, cũng như chiến thắng vang dội của ông trước Sa-tan sẽ mãi được Đức Chúa Trời nâng niu, và sự trọn vẹn, ngay thẳng, kính sợ Đức Chúa Trời của ông sẽ được tôn kính và noi gương bởi các thế hệ sau. Ông sẽ mãi được Đức Chúa Trời nâng niu như một viên ngọc sáng không tì vết, và như thế ông cũng đáng được con người trân quý!

Tiếp theo, chúng ta hãy xem qua công tác của Đức Chúa Trời trong Thời đại Luật pháp.

D. Những quy định của Thời đại Luật pháp

Mười điều răn

Những nguyên tắc lập bàn thờ

Những quy định về đối đãi với tôi tớ

Những quy định về trộm cắp và đền trả

Giữ năm Sa-bát và ba ngày lễ

Những quy định về ngày Sa-bát

Những quy định về của lễ

Của lễ thiêu

Của lễ chay

Của lễ thù ân

Của lễ chuộc tội

Của lễ chuộc sự mắc lỗi

Những quy định về của lễ bởi các thầy tế (A-rôn và các con trai của ông được lệnh phải tuân theo)

Của lễ thiêu bởi các thầy tế

Của lễ chay bởi các thầy tế

Của lễ chuộc tội bởi các thầy tế

Của lễ chuộc sự mắc lỗi bởi các thầy tế

Của lễ thù ân bởi các thầy tế

Những quy định về ăn của lễ bởi các thầy tế

Động vật sạch và không sạch (những con có thể và không thể ăn)

Những quy định về sự tinh sạch của phụ nữ sau khi sinh con

Các tiêu chuẩn khám bệnh cùi

Các quy định đối với những người đã được chữa lành bệnh cùi

Các quy định đối với việc làm tinh sạch những ngôi nhà bị ô uế

Các quy định về những người bị ra những chất dịch bất thường

Ngày lễ chuộc tội phải làm một lần một năm

Các quy định đối với việc giết thịt gia súc và chiên

Sự cấm theo những tập tục nhơ bẩn của dân ngoại (không phạm tội loạn luân, v.v.)

Các quy định mà con người phải tuân theo (“Hãy nên thánh, vì ta Giê-hô-va Ðức Chúa Trời các người, vốn là thánh”.)

Sự thi hành của những người hy sinh con mình cho Mo-lóc

Những quy định về hình phạt cho tội ngoại tình

Những quy định nên được tuân theo bởi các thầy tế lễ (quy định đối với hành vi hàng ngày của họ, quy định về việc tiêu thụ những thánh vật, quy định dâng của lễ, v.v.)

Những lễ cần tuân giữ (ngày Sa-bát, Vượt qua, Ngũ tuần, Lễ chuộc tội, v.v.)

Những quy định khác (Thiêu chiên, Năm thánh, Chuộc đất, Tuyên thệ, Của lễ một phần mười, v.v.)

Các quy định của Thời đại Luật pháp là bằng chứng thật cho sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời với toàn thể nhân loại

Như vậy, các ngươi đã đọc những quy định và nguyên tắc này của Thời đại Luật pháp rồi phải không? Các quy định có bao hàm một phạm vi rộng không? Trước tiên, chúng bao gồm Mười Điều Răn, sau đó là những quy định về cách lập bàn thờ, v.v.. Những điều này được theo sau bởi những quy định giữ ngày Sa-bát và giữ ba ngày lễ, sau đó là những quy định về của lễ. Các ngươi có thấy bao nhiêu loại của lễ không? Có của lễ thiêu, của lễ chay, của lễ thù ân, của lễ chuộc tội, v.v. Theo sau chúng là những quy định đối với của lễ của các thầy tế, bao gồm của lễ thiêu và của lễ chay bởi các thầy tế, và những dạng của lễ khác. Tập hợp quy định thứ tám là dành cho việc các thầy tế ăn của lễ. Sau đó có những quy định về những gì phải tuân theo trong đời sống con người. Có những quy định đối với nhiều phương diện của đời sống con người, chẳng hạn như những quy định về những gì họ được và không được ăn, về sự làm tinh sạch cho phụ nữ sau khi sinh con, và cho những người đã được chữa lành bệnh cùi. Trong những quy định này, Đức Chúa Trời đi xa đến mức nói về bệnh tật, và thậm chí có những quy tắc đối với việc giết thịt chiên và gia súc, v.v. Chiên và gia súc là do Đức Chúa Trời tạo ra, và ngươi phải giết thịt chúng theo bất kỳ cách nào Đức Chúa Trời bảo ngươi; chắc chắn lời Đức Chúa Trời là có lý do; chắc chắn là đúng khi hành động theo sắc lệnh của Đức Chúa Trời, và chắc chắn sẽ có lợi cho con người! Cũng có những ngày lễ và quy định cần tuân theo, chẳng hạn như ngày Sa-bát, Vượt qua, v.v. – Đức Chúa Trời đã nói về tất cả những điều này. Chúng ta hãy xem những điều cuối cùng: các quy định khác – thiêu chiên, năm thánh, chuộc đất, tuyên thệ, của lễ một phần mười, v.v.. Những điều này có bao hàm một phạm vi rộng không? Điều đầu tiên được nói đến chính là vấn đề của lễ của con người. Sau đó có những quy định về trộm cắp, đền trả, và tuân giữ ngày Sa-bát…; mỗi một trong những chi tiết của cuộc sống đều có liên quan. Nói vậy nghĩa là, khi Đức Chúa Trời bắt đầu công tác chính thức trong kế hoạch quản lý của Ngài, Ngài đã đặt ra nhiều quy định để con người tuân theo. Những quy định này nhằm cho phép con người sống một cuộc sống bình thường của con người trên đất, một cuộc sống bình thường của con người mà không thể tách khỏi Đức Chúa Trời và sự hướng dẫn của Ngài. Đức Chúa Trời lúc đầu dạy con người cách lập bàn thờ, cách bày bàn thờ. Sau đó, Ngài dạy họ cách làm của lễ, và thiết lập cách con người sống – những gì họ phải chú ý đến trong cuộc sống, những gì họ phải tuân theo, những gì họ nên và không nên làm. Những điều Đức Chúa Trời đặt ra cho con người đều toàn diện, và với những tục lệ, quy định và nguyên tắc này, Ngài đã tiêu chuẩn hóa hành vi của con người, hướng dẫn cuộc sống của họ, hướng dẫn họ bắt đầu đi theo luật pháp của Đức Chúa Trời, hướng dẫn họ đến trước bàn thờ Đức Chúa Trời, hướng dẫn họ có một cuộc sống giữa tất cả những điều mà Đức Chúa Trời đã tạo ra cho con người, những điều có trật tự, quy củ, và điều độ. Đức Chúa Trời trước hết đã dùng các quy định và nguyên tắc đơn giản để đặt ra những giới hạn cho con người, hầu cho trên đất, con người sẽ có một đời sống thờ phượng Đức Chúa Trời bình thường, sẽ có đời sống bình thường của con người; đó là nột dung cụ thể của buổi đầu trong kế hoạch quản lý sáu ngàn năm của Ngài. Những quy định và quy luật bao gồm nội dung rất rộng, chúng là những điều cụ thể về hướng dẫn của Đức Chúa Trời đối với nhân loại trong Thời đại Luật pháp, chúng phải được chấp nhận và vâng phục bởi những người đến trước Thời đại Luật pháp, chúng là tài liệu ghi chép về công tác được thực hiện bởi Đức Chúa Trời trong Thời đại Luật pháp, và chúng là bằng chứng thật về sự dẫn dắt và hướng dẫn của Đức Chúa Trời đối với hết thảy nhân loại.

Nhân loại mãi không thể tách khỏi những giáo huấn và sự chu cấp của Đức Chúa Trời

Trong những quy định này, chúng ta thấy rằng thái độ của Đức Chúa Trời đối với công tác của Ngài, đối với sự quản lý của Ngài, và đối với nhân loại, là nghiêm túc, tận tâm, chặt chẽ, và có trách nhiệm. Ngài làm công tác Ngài phải làm giữa nhân loại theo những bước của Ngài, không chút bất nhất, phán những lời Ngài phải phán với nhân loại mà không có chút lỗi hay quên sót nào, cho phép con người thấy rằng mình không thể tách khỏi sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời, và cho họ thấy tất cả những gì Đức Chúa Trời làm và phán quan trọng như thế nào đối với nhân loại. Bất kể con người như thế nào trong thời đại tiếp theo, thì ngay từ đầu – trong Thời đại Luật pháp – Đức Chúa Trời đã làm những điều đơn giản này. Đối với Đức Chúa Trời, những khái niệm của con người về Đức Chúa Trời, thế gian, và nhân loại trong thời đó thì trừu tượng và mơ hồ, và cho dù họ đã có một số tư tưởng và ý định có ý thức, tất cả đều không rõ và không đúng, và do đó nhân loại không thể tách khỏi những giáo huấn và sự chu cấp của Đức Chúa Trời dành cho họ. Nhân loại ở buổi ban sơ không biết gì, và do đó Đức Chúa Trời đã phải bắt đầu dạy con người từ những nguyên tắc sơ sài, cơ bản nhất để sinh tồn và những quy định cần thiết để sống, làm thấm nhuần những điều này vào lòng con người từng chút một, và cho con người sự hiểu biết dần dà về Đức Chúa Trời, một sự cảm kích và hiểu biết dần dà về sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời, và một khái niệm cơ bản về mối quan hệ giữa con người và Đức Chúa Trời, thông qua những quy định này, và thông qua những quy tắc này, những điều bằng lời. Sau khi đạt được hiệu quả này, chỉ khi ấy Đức Chúa Trời mới có thể từng chút một mà làm công tác Ngài sẽ làm sau đó, và do vậy những quy định này và công tác được thực hiện bởi Đức Chúa Trời trong Thời đại Luật pháp là nền tảng của công tác cứu rỗi nhân loại của Ngài, và giai đoạn đầu của công tác trong kế hoạch quản lý của Đức Chúa Trời. Mặc dù trước công tác của Thời đại Luật pháp, Đức Chúa Trời đã phán với A-đam, Ê-va và các con cháu của họ, nhưng những lệnh truyền và giáo huấn đó không quá mang tính hệ thống hay cụ thể như được ban hành từng điều một cho con người, và chúng không được viết ra, chúng cũng không trở thành những quy định. Đó là vì, vào lúc ấy, kế hoạch của Đức Chúa Trời chưa đi xa như vậy; chỉ khi Đức Chúa Trời đã dẫn con người đến bước này, Ngài mới có thể bắt đầu phán những quy định này của Thời đại Luật pháp, và bắt đầu buộc con người thực hiện chúng. Đó là một quá trình cần thiết, và kết quả là không thể tránh khỏi. Những tục lệ và quy định đơn giản này cho con người thấy những bước trong công tác quản lý của Đức Chúa Trời và sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời được tỏ lộ trong kế hoạch quản lý của Ngài. Đức Chúa Trời biết nội dung và phương tiện gì dùng để bắt đầu, phương tiện gì dùng để tiếp tục, và phương tiện gì dùng để kết thúc hầu cho Ngài có thể thu phục một nhóm người làm chứng cho Ngài, và để Ngài có thể thu phục một nhóm người đồng tâm với Ngài. Ngài biết điều gì bên trong con người, và biết điều gì còn thiếu ở con người. Ngài biết Ngài phải chu cấp điều gì, và Ngài nên dẫn dắt con người như thế nào, do đó Ngài cũng biết con người nên và không nên làm gì. Con người giống như một con rối: Cho dù họ không có sự hiểu biết về ý muốn của Đức Chúa Trời, họ cũng không thể không bị dẫn dắt bởi công tác quản lý của Đức Chúa Trời, từng bước một, cho đến ngày nay. Không có sự mơ hồ trong lòng Đức Chúa Trời về những gì Ngài muốn làm; trong lòng Ngài có một kế hoạch rất rõ ràng và sống động, và Ngài thực hiện công tác mà chính Ngài muốn làm theo những bước và kế hoạch của Ngài, tiến triển từ nông đến sâu. Mặc dù Ngài đã không chỉ ra công tác mà Ngài sẽ làm sau đó, công tác tiếp theo của Ngài vẫn sẽ tiếp tục được thực hiện và tiến triển theo sát với kế hoạch của Ngài, điều là biểu hiện của việc Đức Chúa Trời có gì và là gì, và cũng là thẩm quyền của Đức Chúa Trời. Bất kể giai đoạn nào trong kế hoạch quản lý của Ngài mà Ngài đang hoạt động, thì tâm tính và thực chất của Ngài vẫn đại diện cho chính Ngài. Điều này tuyệt đối là thật. Bất kể thời đại, hay giai đoạn công tác, có những điều sẽ không bao giờ thay đổi: loại người mà Đức Chúa Trời yêu thương, loại người mà Ngài ghê tởm, tâm tính Ngài, Ngài có tất cả những gì và là gì. Mặc dù những quy định và nguyên tắc mà Đức Chúa Trời đã thiết lập trong công tác của Thời đại Luật pháp có vẻ rất đơn giản và sơ sài đối với con người ngày nay, và mặc dù chúng dễ hiểu và dễ đạt được, nơi chúng vẫn có sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời, và vẫn có tâm tính của Đức Chúa Trời, Ngài có gì và là gì. Bởi trong những quy định trông có vẻ đơn giản này, trách nhiệm và sự quan tâm của Đức Chúa Trời đối với nhân loại được bày tỏ, cũng như thực chất tinh tế của những ý nghĩ trong Ngài, do đó cho phép con người thật sự nhận ra thực tế rằng Đức Chúa Trời thống trị muôn vật và muôn vật được kiểm soát bởi tay Ngài. Cho dù nhân loại thông thạo bao nhiêu kiến thức, hoặc hiểu bao nhiêu lý thuyết hay mầu nhiệm, thì đối với Đức Chúa Trời, không điều nào trong số này có khả năng thay cho sự chu cấp và dẫn dắt nhân loại của Ngài; nhân loại sẽ mãi không thể tách khỏi sự hướng dẫn và công tác của đích thân Đức Chúa Trời. Đó là một mối quan hệ không thể tách rời giữa con người và Đức Chúa Trời. Bất kể Đức Chúa Trời có ban cho ngươi một điều răn, hay một quy định, hay cung cấp lẽ thật để ngươi hiểu ý muốn của Ngài hay không, cho dù Ngài làm gì, thì mục tiêu của Đức Chúa Trời là hướng dẫn con người đến một ngày mai tươi đẹp. Những lời phán ra bởi Đức Chúa Trời và công tác Ngài làm đều là sự tỏ lộ một khía cạnh của bản thể Ngài, sự tỏ lộ một khía cạnh của tâm tính Ngài và sự khôn ngoan của Ngài; chúng là một bước không thể thiếu trong kế hoạch quản lý của Ngài. Điều này không được bỏ qua! Ý muốn của Đức Chúa Trời nằm ở bất cứ điều gì Ngài làm; Đức Chúa Trời không sợ những nhận xét sai lạc, Ngài cũng không sợ bất kỳ ý niệm hay ý nghĩ nào của con người về Ngài. Ngài đơn thuần làm công tác của Ngài và tiếp tục sự quản lý của Ngài theo kế hoạch quản lý của Ngài, không bị gò bó bởi bất kỳ con người, sự việc, hay sự vật nào.

Tốt lắm. Đó là tất cả những gì của hôm nay. Hẹn gặp lại lần sau!

Ngày 9 tháng 11 năm 2013

Trước:Công tác của Đức Chúa Trời, tâm tính của Đức Chúa Trời, và chính Đức Chúa Trời I

Tiếp theo:Công tác của Đức Chúa Trời, tâm tính của Đức Chúa Trời, và chính Đức Chúa Trời III

Nội dung liên quan