Sự phán xét của Đức Chúa Trời đã cứu rỗi tôi

12/04/2022

Bởi Flavien, Bénin

Tháng 9 năm 2019 tôi tiếp nhận công tác thời kỳ sau rốt của Đức Chúa Trời Toàn Năng. Trong các buổi họp, tôi được khen thông công hay, hiểu nhanh và có tố chất tốt. Sau đó, tôi được chọn làm nhóm trưởng, và không lâu sau, tôi được chọn làm chấp sự Phúc Âm. Sau đó, tôi thực hiện bổn phận của mình tích cực hơn trước. Tôi bắt đầu rao giảng Phúc Âm và tổ chức họp. Các anh chị em rất thích mối thông công của tôi, và lãnh đạo hội thánh nói tôi đã làm tốt. Việc này khiến tôi rất vui, và tôi cảm thấy tố chất của mình thực sự rất tốt. Để được nhiều người ngưỡng mộ hơn, tôi đọc nhiều lời Đức Chúa Trời hơn, xem nhiều phim của nhà Đức Chúa Trời và các video đọc lời Ngài, nhưng bấy giờ, tôi hài lòng với việc có chút hiểu biết nghĩa đen để khoe khoang, không tập trung tìm kiếm ý muốn của Ngài hay thực hành lẽ thật. Trong các cuộc họp, tôi thông công cặn kẽ nhất có thể để người khác nghĩ tôi hiểu nhiều hơn. Thậm chí tôi còn thông công về những điều mình không hiểu rõ để khiến người khác nghĩ tôi biết mọi thứ. Ngoài ra, để tạo hình ảnh tốt trong lòng lãnh đạo, tôi giả vờ là người rất mạnh mẽ. Ví dụ, lúc đầu, tôi có quan niệm về công tác của Đức Chúa Trời, nhưng tôi nghĩ nếu mình nói ra, chắc chắn lãnh đạo sẽ nghĩ tôi không hiểu lẽ thật, do đó tôi cố tình giấu lãnh đạo quan niệm của mình. Cứ như thể là tôi đang đeo mặt nạ vậy. Tôi mà người khác thấy chỉ là ảo ảnh.

Vài tháng sau, tôi được chọn làm lãnh đạo hội thánh, lần này là phụ trách công tác Phúc Âm. Để làm công tác này, người ta phải có tố chất, sự phân định và khả năng làm việc. Tôi cảm thấy không ai trong hội thánh có những phẩm chất đó ngoài tôi ra, thế nên Đức Chúa Trời đã phong cho tôi thực hiện bổn phận này. Được thăng chức liên tục khiến tôi nghĩ mình khác mọi người, thấy mình là người khao khát mưu cầu lẽ thật nhất, là người được Đức Chúa Trời yêu thương và ưu ái. Thậm chí tôi còn nghĩ việc phụ trách công tác Phúc Âm giống như lính canh cổng nhà Đức Chúa Trời, rằng tôi có thể quyết định ai có thể, ai không thể vào nhà Đức Chúa Trời. Dần dà, tôi ngày càng trở nên kiêu ngạo, và cảm thấy rằng mình cao hơn các anh chị em, có thể ra lệnh, và các anh chị em phải nghe lời tôi. Trong công tác của hội thánh, tôi luôn muốn tự quyết và có tiếng nói cuối cùng, vì tôi cảm thấy mình có khả năng làm việc, nắm vững nguyên tắc, không cần phải tiếp thu ý kiến, lời khuyên của các anh chị em. Tôi đã coi thường các anh chị em. Có một người nhóm trưởng có tố chất trung bình, và không quan tâm xem chị ấy có làm tốt bổn phận hay không, tôi vẫn muốn thay thế chị. Hơn nữa, tôi xem các anh chị em như cấp dưới của mình, và cảm thấy tôi có thể xử lý họ tùy thích. Ví dụ, trong một buổi họp, các anh chị em đang chia sẻ cách họ rao giảng Phúc Âm, tôi nghĩ họ làm không phù hợp thế là ngay lập tức tôi mắng họ và bảo họ phải làm gì. Một chị có cách thực hành riêng khi làm bổn phận, nhưng tôi không nghĩ chị làm đúng, thế là tôi nghiêm khắc xử lý chị mà không thông công về nguyên tắc. Sau đó, một chị bảo với tôi chị thấy rất tiêu cực đến nỗi không muốn hợp tác với tôi. Sau đó, trong một buổi họp, lãnh đạo hỏi mọi người có khó khăn gì không, và chị này trực tiếp báo cáo vấn đề của tôi cho lãnh đạo, nói rằng tôi không thông công về lẽ thật, luôn xử lý người khác, và khi tôi xử lý người khác thì luôn rất gay gắt. Một vài các anh chị em khác báo cáo tôi tùy tiện xử lý mọi người, và vạch trần hành vi ngạo mạn của tôi bằng lời Đức Chúa Trời.

Thật ra, một số anh chị em đã đề cập với tôi về vấn đề lối cư xử ngạo mạn của tôi. Một số người thấy tôi quá nghiêm khắc khi hỏi công việc của người khác và đã gửi tin nhắn cho tôi nói rằng: “Anh này, nói như thế không hay đâu. Anh sẽ khiến các anh chị em thấy tiêu cực”. Người thì nói: “Anh luôn lên giọng kẻ cả với người khác. Anh không bao giờ đặt mình ngang hàng với các anh chị em, thế nên một số người không muốn nói chuyện với anh, còn người khác thấy bị công kích nên không muốn làm bổn phận này nữa”. Sau khi bị mọi người liên tục phê phán và xử lý, lòng tự tôn của tôi bị công kích. Tôi từng nghĩ mình là người được Đức Chúa Trời yêu thương, ưu ái, nhưng thấy cách các anh chị em vạch trần, từ chối mình khiến tôi rất tiêu cực. Không còn hình ảnh đẹp và uy tín, tôi thấy không còn động lực làm bổn phận. Mỗi ngày, tôi chỉ làm qua loa, gửi thông báo, không làm gì chi tiết hay theo sát bổn phận của các anh chị em, cũng không tập trung giải quyết các vấn đề họ gặp phải. Tôi hoàn toàn không quan tâm xem họ cần gì.

Sau đó, một chị nhận thấy tôi đang ở tình trạng không ổn, nên chị gửi cho tôi một đoạn lời Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời phán: “Từ khi loài người bị Sa-tan làm bại hoại, bản tính của con người đã bắt đầu sa đọa, và họ đã dần mất đi ý thức lý trí mà người bình thường sở hữu. Họ bây giờ không còn hành động như con người ở vị trí của con người, mà đầy những tham vọng hoang dại; họ đã vượt qua nơi chốn của con người – ấy thế mà vẫn khao khát vươn cao hơn nữa. ‘Cao hơn’ ở đây ám chỉ điều gì? Họ mong muốn vượt qua Đức Chúa Trời, vượt qua thiên đàng, và vượt qua tất cả những cái khác. Đâu là căn nguyên tại sao mọi người đã trở nên như thế này? Xét cho cùng, bản tính của con người quá kiêu ngạo. ‘Kiêu ngạo’ là một từ mang tính xúc phạm, và không ai muốn từ này bị gán cho họ. Tuy nhiên, trên thực tế, ai cũng kiêu ngạo, và hết thảy con người bại hoại đều có bản chất này. Một số người nói: ‘Tôi không chút kiêu ngạo. Tôi chưa bao giờ muốn là thiên sứ trưởng, tôi cũng không bao giờ muốn vượt hơn Đức Chúa Trời, hay vượt hơn tất cả những người khác. Tôi luôn là người đặc biệt cư xử tốt và có trách nhiệm’. Không hẳn, những lời này là không đúng. Một khi con người đã trở nên kiêu ngạo trong bản tính và bản chất, thì họ có thể thường xuyên bất tuân và chống đối Đức Chúa Trời, không chú ý đến lời Ngài, tạo ra quan niệm về Ngài, làm những việc phản bội Ngài, và những việc tôn họ lên và làm chứng cho chính họ. Ngươi nói ngươi không kiêu ngạo, nhưng giả sử ngươi được ban cho một hội thánh và được phép lãnh đạo nó; giả sử rằng Ta đã không xử lý ngươi, và không ai trong nhà Đức Chúa Trời tỉa sửa ngươi: Sau khi lãnh đạo nó một thời gian, ngươi sẽ đưa mọi người đến chân ngươi và bắt họ đầu phục trước ngươi. Và tại sao ngươi lại làm điều đó? Điều này sẽ được quyết định bởi bản tính của ngươi; điều này không gì khác chính là sự bộc lộ tự nhiên. Ngươi không cần phải học điều này từ những người khác, họ cũng không cần phải chỉ dạy cho ngươi. Ngươi không cần những người khác hướng dẫn ngươi hay ép buộc người làm điều này; loại tình huống này xảy ra một cách tự nhiên. Mọi điều ngươi làm đều liên quan đến việc làm cho mọi người đầu phục trước ngươi, thờ phụng ngươi, tôn sùng ngươi, làm chứng về ngươi, và lắng nghe ngươi trong mọi sự. Việc cho phép ngươi làm lãnh đạo ắt sẽ mang đến tình cảnh này, và không thể thay đổi. Và tình cảnh này xảy đến như thế nào? Nó được quyết định bởi bản tính kiêu ngạo của con người. Biểu hiện của sự kiêu ngạo là phản nghịch và chống đối Đức Chúa Trời. Khi con người kiêu ngạo, tự tôn, và tự nên công chính, họ có xu hướng thiết lập những vương quốc độc lập của riêng mình và làm việc tùy ý họ muốn. Họ cũng đưa những người khác vào tay mình và lôi kéo họ vào vòng vây của mình. Để con người có khả năng làm những điều thì thực chất trong bản tính kiêu ngạo của họ chính là của Sa-tan; chính là của thiên sứ trưởng. Khi sự kiêu ngạo và tự tôn của họ đạt đến một mức độ nhất định thì họ trở thành thiên sứ trưởng, và Đức Chúa Trời phải bị gạt sang một bên. Nếu ngươi sở hữu bản tính kiêu ngạo như thế, Đức Chúa Trời sẽ không có chỗ trong lòng ngươi(“Bản tính kiêu ngạo là nguồn gốc sự chống đối Đức Chúa Trời của con người” trong Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt). Sau khi đọc lời Ngài, tôi nghĩ về hành vi của mình cho tới giờ. Ngay từ lúc bắt đầu tin Đức Chúa Trời, các anh chị em đã ngưỡng mộ và khích lệ tôi. Họ nói tôi có tố chất tốt và thông công hay, và tôi được thăng chức vài lần, thế nên tôi thấy mình đặc biệt và giỏi hơn những người xung quanh. Bản tính ngạo mạn khiến tôi nghĩ mình là người được Đức Chúa Trời yêu thương, ưu ái. Tôi cảm giác mình xuất sắc và vượt trội hơn người khác, nên bắt đầu lợi dụng vị trí để la mắng, gò ép người khác, thậm chí còn cố kiểm soát các anh chị em bắt họ nghe lời tôi. Tôi đã hành xử hệt như thiên sứ trưởng! Tôi quá tự cao về mình. Sau khi bị các anh chị em vạch trần và xử lý, tôi nhận ra mình không hoàn hảo như mình tưởng. Thay vào đó, tôi cực kỳ ngạo mạn và bại hoại. Tôi xem mình cao trọng hơn người khác, rằng Đức Chúa Trời ưu ái mình, nhưng đó chỉ là sự tưởng tượng của tôi mà thôi.

Vài ngày sau, tôi đọc được một đoạn lời Đức Chúa Trời khác vạch trần và phân tích kẻ địch lại Đấng Christ. Đức Chúa Trời Toàn Năng phán: “Những kẻ địch lại Đấng Christ sẽ trả bất cứ giá nào vì lợi ích địa vị của họ và sự thỏa mãn tham vọng của họ, vì mục tiêu kiểm soát hội thánh và trở thành Đức Chúa Trời. Họ thường làm việc đến khuya và thức dậy vào lúc rạng đông, diễn tập các bài giảng của họ vào nửa đêm hay hừng sáng, tất cả là để trang bị cho bản thân học thuyết mà họ cần để giảng những bài giảng cao cả. Mỗi ngày, họ suy ngẫm xem nên dùng những lời nào của Đức Chúa Trời khi thuyết giảng những bài giảng cao trọng của họ, những lời nào sẽ khơi dậy sự ngưỡng mộ và ngợi khen giữa những người được chọn, và rồi họ học thuộc lòng những lời ấy. Sau đó, họ cân nhắc làm thế nào để diễn giải những từ đó theo cách mà thể hiện được sự thông minh và khôn ngoan của họ, với tất cả nỗ lực của những sinh viên tranh giành một vị trí trong trường đại học. Khi ai đó giảng một bài giảng hay, hoặc bài giảng cung cấp sự soi sáng nào đó, hoặc bài giảng cung cấp lý thuyết nào đó, thì một kẻ địch lại Đấng Christ sẽ thu thập và biên soạn nó và biến nó thành bài giảng của riêng họ. Không có lượng công việc nào là quá lớn đối với kẻ địch lại Đấng Christ. Vậy thì động cơ và ý định đằng sau sự nhọc công này của họ là gì? Một điều thúc đẩy họ là: Có thể rao giảng những lời này, nói ra những lời đó một cách rõ ràng và dễ dàng, nói thật thông thạo, để những người khác có thể thấy rằng kẻ địch lại Đấng Christ thuộc linh hơn họ, quý trọng lời Đức Chúa Trời hơn, yêu kính Đức Chúa Trời hơn. Bằng cách này, một kẻ địch lại Đấng Christ có thể lấy được sự tôn thờ của một số người xung quanh họ. Một kẻ địch lại Đấng Christ cảm thấy đây là một việc đáng làm và xứng đáng với bất kỳ nỗ lực nào, cái giá nào hay gian khổ nào(“Họ khinh miệt lẽ thật, ngang nhiên vi phạm các nguyên tắc và phớt lờ những sự sắp đặt của nhà Đức Chúa Trời (Phần 7)” trong Vạch trần kẻ địch lại Đấng Christ). “Thực chất hành vi của những kẻ địch lại Đấng Christ là liên tục sử dụng các phương tiện và phương pháp khác nhau để đạt được mục đích có được địa vị, lôi kéo mọi người và khiến họ đi theo, tôn kính họ. Có thể tận đáy lòng, họ không cố ý tranh giành nhân loại với Đức Chúa Trời, nhưng có một điều chắc chắn: Ngay cả khi họ không tranh giành con người với Đức Chúa Trời, họ vẫn mong muốn có địa vị và quyền lực giữa họ. Ngay cả khi đến một ngày họ nhận ra rằng mình đang tranh giành địa vị với Đức Chúa Trời, và họ tự kiềm chế, thì họ vẫn sử dụng các phương pháp khác để có được địa vị trong hội thánh, tin rằng họ sẽ được danh chính ngôn thuận bằng cách giành được sự chấp thuận và đồng ý của những người khác. Nói tóm lại, mặc dù mọi thứ những kẻ địch lại Đấng Christ làm dường như bao gồm việc trung thành thực hiện bổn phận của mình, và họ có vẻ là những người thực sự đi theo Đức Chúa Trời, nhưng tham vọng kiểm soát mọi người – cũng như tham vọng giành được địa vị và quyền lực giữa mọi người của họ – sẽ không bao giờ thay đổi. Bất kể Đức Chúa Trời phán gì hay làm gì, và bất kể Ngài yêu cầu mọi người những gì, thì họ cũng không làm những gì họ nên làm hoặc thực hiện bổn phận của mình theo cách phù hợp với lời Ngài và những yêu cầu của Ngài, họ cũng không từ bỏ việc theo đuổi quyền lực và địa vị do hiểu được những lời phán của Ngài và lẽ thật; từ đầu đến cuối, tham vọng của họ chiếm hữu họ, kiểm soát và chi phối hành vi cùng suy nghĩ của họ, cũng như định đoạt con đường họ đi. Đây là điển hình của một kẻ địch lại Đấng Christ(“Họ lừa dối, lôi kéo, đe dọa và kiểm soát mọi người” trong Vạch trần kẻ địch lại Đấng Christ). Đức Chúa Trời phán kẻ địch lại Đấng Christ dùng vẻ ngoài đau khổ để tạo ảo ảnh lừa gạt mọi người, để khiến người khác ca tụng, tôn thờ họ. Tôi thấy và nhận ra, đây chẳng phải là mình sao? Tôi luôn tìm kiếm danh vị, và mọi điều tôi làm đều là để được nể trọng. Tôi dành rất nhiều thời gian đọc lời Ngài, có khi đọc đến tận khuya mới ngủ. Mục đích là để hiểu được nhiều giáo lý hơn để có thể khoe khoang với mọi người. Tôi nhận ra mình có một số biểu hiện của kẻ địch lại Đấng Christ được mặc khải trong lời Ngài. Tôi thấy mình đang bị Đức Chúa Trời lên án, và tôi cực kỳ lo lắng. Nhưng khi đó, tôi không dám nói với các anh chị em tình trạng thật của mình, vì sợ bị xem là kẻ địch lại Đấng Christ và bị khai trừ. Trong thời gian đó, một kẻ địch lại Đấng Christ trong hội thánh bị phát hiện và bị khai trừ. Bề ngoài, cô ta tỏ vẻ dâng mình cho Đức Chúa Trời và tìm kiếm lời Ngài để thông công với mọi người, nhưng bản thân cô ta lại không thực hành lời Ngài, và khi gặp điều không phù hợp với quan niệm của mình, cô ta reo giắc sự tiêu cực, thậm chí phủ nhận công tác của Đức Chúa Trời trong thời kỳ sau rốt và gây rối những người nghiên cứu con đường thật. Tôi nhận ra có một số điều ở tôi giống cô ta. Ví dụ, tôi thường tìm lời Đức Chúa Trời để thông công với các anh chị em, nhưng bản thân tôi không thực hành lời Ngài. Khi gặp khó khăn, tôi dựa vào trí óc và năng lực của mình để giải quyết, mà không tập trung tìm kiếm ý muốn của Ngài hay thực hành lẽ thật. Tôi thấy những biểu hiện của mình tương tự như của kẻ địch lại Đấng Christ này, và những biểu hiện khác của kẻ địch lại Đấng Christ được mặc khải trong lời Ngài cũng đúng với tôi. Thế là tôi lại càng lo mình sẽ thành kẻ địch lại Đấng Christ và bị khai trừ. Trong thời gian đó, tôi cố gắng hết sức để kiềm chế sự lo lắng trước mặt mọi người, nhưng tôi vô cùng đau khổ, cảm giác như mình bị kết án tử. Dần dần, tâm lý đề phòng và nghi ngờ của tôi ngày càng trở nên trầm trọng hơn. Tôi thấy mình có bản tính xấu, có thể dễ dàng lừa dối, kiểm soát các anh chị em, và chẳng sớm thì muộn, giống như kẻ địch lại Đấng Christ, tôi sẽ gây gián đoạn công tác nhà Đức Chúa Trời. Nghĩ đến điều này càng khiến tôi hoảng sợ hơn. Khi đó, tôi không thể phân biệt được tâm tính và thực chất của kẻ địch lại Đấng Christ, cũng không hiểu được ý muốn của Ngài trong môi trường này. Tôi nghĩ mình là người sẽ bị Đức Chúa Trời loại bỏ, giống như kẻ địch lại Đấng Christ, và thấy mình không có hi vọng được ban phước, do đó tôi bắt đầu phàn nàn: “Mình đã bất chấp sự phản đối của gia đình để tin Đức Chúa Trời và thực hiện bổn phận, thậm chí từ bỏ tương lai, rời quê hương để đi truyền bá Phúc Âm ở những vùng mới. Mình đã trả giá đắt như vậy, mà vẫn sẽ xuống địa ngục bị trừng phạt. Nếu biết kết cuộc như này, mình đã không dâng mình quá nhiều. Chí ít thì cũng hưởng thụ được chút an nhàn thể xác”. Khi đó, tôi chỉ nghĩ về đích đến của mình, không chú ý đến việc tìm kiếm ý muốn của Ngài, thế nên tôi luôn đề phòng và hiểu lầm Đức Chúa Trời. Cuối cùng, tôi từ chức lãnh đạo, vì tôi thấy nếu tiếp tục làm một bổn phận quan trọng như vậy, chắc chắn tôi sẽ bị khai trừ. Tôi cũng thôi cởi mở với các anh chị em vì sợ rằng họ sẽ chỉ trích và xử lý tôi sau khi thấy bộ mặt thật của tôi. Trong bổn phận, tôi cũng không hợp tác với ai, và mối quan hệ với các anh chị em ngày càng xa cách. Sau đó, tôi lấy cớ về nhà để rao giảng Phúc Âm trở về với gia đình ngoại đạo của mình. Đối mặt với sự ngược đãi, phán xét của gia đình, tôi càng trở nên tiêu cực hơn. Dù còn tiếp tục tham gia họp, nhưng tôi chỉ đi họp cho có. Tôi rất yếu đuối, cảm thấy mình đã đi đến cùng trong đức tin, nên tôi quyết định rời khỏi nhà Đức Chúa Trời.

Sau khi rời hội thánh, trong lòng tôi thấy rất trống rỗng. Tôi tự nhốt mình trong phòng cả ngày dài, không muốn làm gì cả. Dù gia đình không còn làm khổ tôi và về thể xác tôi khá thoải mái, nhưng tôi vẫn không cảm thấy gì ngoài sợ hãi, và thấy rất tội lỗi. Tôi sợ mình sẽ bị Đức Chúa Trời trừng phạt vì đã phản bội Ngài, tôi sợ địa ngục, sợ cái chết, thế là tôi nghĩ ra nhiều cách để bớt lo lắng. Tôi đọc rất nhiều sách khoa học xã hội, hy vọng tìm thấy điều gì trong sách để an ủi tâm hồn mình, nhưng vô ích mà thôi. Không gì có thể giải tỏa được nỗi day dứt trong tôi. Dường như tôi chỉ thụ động chờ chết. Sau đó, tôi cầu nguyện với Đức Chúa Trời xin Ngài dẫn dắt tôi thoát khỏi tình thế khó khăn này, nghe nhạc thánh ca và đọc lời Đức Chúa Trời. Đó là khi lời Ngài làm thức tỉnh lòng tôi. Tôi đọc được đoạn này trong lời Ngài: “Một số người có những biểu lộ nhất định của kẻ địch lại Đấng Christ và những biểu hiện nhất định về tâm tính của kẻ địch lại Đấng Christ, nhưng cùng lúc với việc có sự biểu hiện ấy, họ cũng chấp nhận và thừa nhận lẽ thật, và yêu lẽ thật. Họ là những đối tượng khả dĩ của sự cứu rỗi(“Họ tán dương và chứng thực về chính mình” trong Vạch trần kẻ địch lại Đấng Christ). “Bởi một câu nói từ Đức Chúa Trời, nhiều người thường cảm thấy yếu đuối và tiêu cực, và nghĩ rằng Đức Chúa Trời đã bỏ mặc họ – và kết quả là, họ không sẵn lòng tiếp tục theo Đức Chúa Trời và tiến tới. Trên thực tế, ngươi không hiểu sự bỏ mặc là gì; sự bỏ mặc của ngươi với bản thân mình là sự bỏ mặc thật. Đôi khi, những lời mà Đức Chúa Trời dùng để định nghĩa ngươi chỉ đơn thuần được nói ra trong cơn giận; Ngài không có ý đi đến kết luận về ngươi, Ngài cũng không kết án ngươi, điều này không liên quan gì đến đích đến sau cùng của ngươi hay những gì Đức Chúa Trời sẽ ban cho ngươi vào sau hết, càng không phải là sự trừng phạt sau cùng của Ngài. Những điều này không gì hơn là những lời phán xét và xử lý ngươi. Chúng nói về những hy vọng tha thiết của Đức Chúa Trời đối với ngươi, chúng là những lời nhắc nhở và cảnh báo ngươi, và chúng là những lời từ trong lòng Đức Chúa Trời. Ấy thế mà có một số người suy sụp và từ bỏ Đức Chúa Trời vì những lời phán xét này. … Có những khi con người tin Đức Chúa Trời đã bỏ rơi họ – nhưng thực tế, Đức Chúa Trời không bỏ rơi ngươi, Ngài chỉ gạt ngươi sang một bên, thấy ngươi đáng khinh ghét, và không muốn chú ý đến ngươi. Tuy nhiên, Ngài chưa thật sự từ bỏ ngươi. Có những người nỗ lực thực hiện bổn phận của mình trong nhà Đức Chúa Trời, nhưng bởi bản chất của họ và những điều khác nhau được biểu hiện trong họ, Đức Chúa Trời thật sự từ bỏ họ; họ không thật sự được chọn, mà đơn thuần dâng sự phục vụ trong chốc lát. Trong khi đó, có một số người mà Đức Chúa Trời hết lòng sửa dạy, sửa phạt, và phán xét; Ngài dùng nhiều cách khác nhau để đối đãi với họ, những cách mâu thuẫn với các quan niệm của con người. Một số ngươi không hiểu lời Đức Chúa Trời, và nghĩ rằng Đức Chúa Trời đang chỉ trích họ và cảm thấy đau lòng. Họ nghĩ rằng không có phẩm hạnh để sống trước Đức Chúa Trời, họ không muốn làm đau lòng Đức Chúa Trời thêm nữa và rời khỏi hội thánh. Họ thậm chí nghĩ rằng làm điều này là có lý, và do đó họ quay lưng với Đức Chúa Trời – nhưng trên thực tế, Đức Chúa Trời đã không từ bỏ họ. Những người như thế không có được quan niệm mơ hồ gì về ý muốn của Đức Chúa Trời. Họ có phần quá nhạy cảm, đi quá xa đến mức từ bỏ sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Họ có thật sự có lương tâm không? Có những lúc Đức Chúa Trời lánh khỏi con người, và những lúc Ngài để họ sang một bên trong chốc lát để họ có thể suy ngẫm về chính mình, nhưng Đức Chúa Trời chưa thật sự từ bỏ họ; Ngài đang ban cho họ cơ hội ăn năn, và không thật sự từ bỏ họ. Đức Chúa Trời chỉ thật sự từ bỏ những kẻ địch lại Đấng Christ và những kẻ bại hoại phạm nhiều điều ác. Một số người nói: ‘Tôi cảm thấy không có công tác của Đức Thánh Linh và tôi đã không có sự khai sáng của Đức Thánh Linh từ lâu. Có phải Đức Chúa Trời đã từ bỏ tôi?’ Đây là một quan niệm sai lầm. Ngươi nói rằng Đức Chúa Trời đã từ bỏ ngươi, rằng Ngài sẽ không cứu rỗi ngươi, vậy thì Ngài đã ấn định kết cục cho ngươi sao? Có những lúc ngươi không thể cảm nhận được công tác của Đức Thánh Linh, nhưng Đức Chúa Trời chưa tước đi của ngươi quyền đọc lời Ngài, Ngài cũng chưa xác định kết cục của ngươi, con đường dẫn đến sự cứu rỗi của ngươi chưa đi đến chỗ cụt – vậy ngươi buồn phiền về điều gì? Ngươi đang ở trong một trạng thái tồi tệ, có vấn đề trong những động cơ của ngươi, có vấn đề trong quan điểm tư tưởng của ngươi, trạng thái tâm trí của ngươi bị méo mó – và nếu ngươi không cố gắng sửa chữa những điều này bằng cách tìm kiếm lẽ thật, và liên tục diễn dịch sai và đổ lỗi cho Đức Chúa Trời, và đẩy trách nhiệm cho Đức Chúa Trời, và thậm chí còn nói: ‘Đức Chúa Trời không muốn tôi, do đó tôi không tin vào Ngài nữa’, thì chẳng phải ngươi lố bịch sao? Chẳng phải ngươi không hợp lý sao?(“Chỉ bằng cách giải quyết những quan niệm của mình, người ta mới có thể bước vào đúng hướng để tin Đức Chúa Trời (1)” trong Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt). Lời Ngài chạm tới lòng tôi. Tôi hiểu ra rằng Đức Chúa Trời không từ bỏ, không lên án, không định đoạt kết cuộc của tôi. Thực ra, ngay từ đầu Ngài đã biết tôi bại hoại thế nào. Ngài sắp xếp các anh chị em để vạch trần tôi đúng lúc và dùng lời Ngài để tiết lộ tâm tính bại hoại của tôi và con đường sai trái tôi đi, vì chỉ có như vậy tôi mới có thể tự biết mình. Đây thật sự là cơ hội tuyệt vời để tôi thay đổi! Sự phán xét, hình phạt, tỉa sửa và xử lý của Ngài đều là để cứu rỗi tôi! Nhưng tôi lại dùng quan niệm của mình hiểu sai ý muốn của Ngài, thấy sự kết án trong sự phán xét và hình phạt của Ngài và nghĩ mình sẽ bị loại bỏ. Tôi lầm tưởng rằng vì tôi có biểu hiện của kẻ địch lại Đấng Christ nên chắc chắn Đức Chúa Trời không muốn tôi, tôi đã bị định đoạt diệt vong. Nhưng thật ra, mọi biểu hiện của tôi là bình thường trong mắt Ngài. Dù tôi có biểu hiện tâm tính của kẻ địch lại Đấng Christ, nhưng tôi chưa tới mức bị xác định là kẻ địch lại Đấng Christ. Đức Chúa Trời muốn loại bỏ và trừng phạt những kẻ có thực chất của kẻ địch lại Đấng Christ. Chúng không bao giờ ăn năn, vì bản tính và thực chất của chúng tà ác, và chúng ghê tởm, căm ghét lẽ thật. Cho dù có làm gì sai, chúng cũng không bao giờ thừa nhận, và chúng làm bất cứ điều gì để duy trì uy tín và địa vị của mình. Tôi vẫn có thể nhận ra mình bị bại hoại quá sâu sắc, rằng mình sai, do đó tôi vẫn còn cơ hội ăn năn. Tôi chỉ có tâm tính của một kẻ địch lại Đấng Christ, chứ không phải là kẻ địch lại Đấng Christ không chấp nhận lẽ thật. Nhưng khi đó, tôi không hiểu được ý muốn của Đức Chúa Trời, không biết tình yêu hay tâm tính công chính của Ngài. Tôi nghĩ vì Đức Chúa Trời không muốn tôi nữa nên nỗ lực gì của tôi cũng là vô ích. Nếu không tận hưởng vui thú thể xác trong thế gian, tôi sẽ chẳng có gì cả. Giờ nhìn lại điều mình đã làm, tôi thấy xấu hổ vô cùng. Tôi đã thề với Đức Chúa Trời nhiều lần rằng sẽ theo Ngài suốt đời, nhưng sau khi bị phán xét và vạch trần lần này, tôi trở nên thụ động, từ chối sự cứu rỗi của Ngài, mất đức tin nơi Ngài, và thậm chí không chút do dự chọn quay trở lại thế giới, kiếm tìm vui thú thể xác. Sao có thể nói là tôi có lương tâm chứ? Giờ khi hiểu được ý muốn của Đức Chúa Trời, tôi lại có hi vọng. Tôi thấy như được đưa trở lại từ cõi chết. Tôi buông bỏ mọi thứ trong đời và bắt đầu suy ngẫm lời Ngài, hát thánh ca, nghe đọc lời Đức Chúa Trời, và tìm kiếm ý muốn của Ngài. Giống như là bắt đầu lại trên con đường tin Đức Chúa Trời vậy. Một lần nữa tôi nhận được lòng thương xót của Đức Chúa Trời và cảm nhận được sự hiện diện của Ngài. Tôi dần tìm được sự bình an và niềm vui trong tâm, và trong lòng cảm thấy khao khát được quay lại hội thánh. Tuy vậy, tôi không biết liệu nhà Đức Chúa Trời có chấp nhận tôi không. Tôi cầu nguyện với Đức Chúa Trời, xin Ngài thương xót, cứu rỗi tôi.

Vài tuần sau, tôi đọc được một đoạn lời Đức Chúa Trời khác giúp tôi hiểu thêm được một chút về ý muốn của Ngài. Đức Chúa Trời phán: “Trong quá khứ, có người đã bị trục xuất khỏi hội thánh do làm việc xấu, và các anh chị em của người ấy đã loại bỏ anh ta. Sau khi rong ruổi nhiều năm, giờ đây anh ta đã trở lại. Việc lòng anh ta đã không rời bỏ Đức Chúa Trời hoàn toàn là một điều tốt; anh ta vẫn còn một cơ hội và hy vọng được cứu rỗi. Nếu anh ta bỏ chạy và không tin nữa, trở nên y như những người ngoại đạo thì anh ta đã hoàn toàn xong. Nếu anh ta có thể quay đầu thì vẫn còn hy vọng cho anh ta; điều này là hiếm và quý giá. Bất kể Đức Chúa Trời hành động thế nào, và cho dù Ngài đối xử, căm ghét, hay khinh ghét con người như ra sao, nếu có một ngày họ có thể quay đầu thì Ta sẽ có được niềm an ủi rất lớn, bởi điều này sẽ có nghĩa rằng họ vẫn có chút ít chỗ cho Đức Chúa Trời trong lòng họ, rằng họ không hoàn toàn mất lý trí con người hay nhân tính của họ, rằng họ vẫn muốn tin Đức Chúa Trời, và họ chí ít có chút ý định công nhận và trở về trước Ngài. Đối với những người thật sự có Đức Chúa Trời trong lòng, cho dù khi họ rời bỏ nhà Đức Chúa Trời, nếu họ trở lại và vẫn thân cận với gia đình này thì Ta sẽ trở nên có phần gắn bó về mặt tình cảm và sẽ được an ủi đôi chút vì điều này. Tuy nhiên, nếu họ không bao giờ quay lại, Ta sẽ nghĩ điều đó thật đáng tiếc. Nếu họ có thể quay lại và thật sự ăn năn thì lòng Ta sẽ đặc biệt đầy mãn nguyện và thoải mái. Khi ngươi ra đi, ngươi chắc chắn đã rất tiêu cực, và đã ở trong trạng thái tồi tệ; tuy nhiên, nếu ngươi có thể quay lại lúc này thì điều đó chứng tỏ ngươi vẫn có đức tin nơi Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, ngươi có thể tiếp tục tiến tới hay không là một yếu tố chưa biết, bởi con người thay đổi rất nhanh. Trong Thời đại Ân điển, Jêsus đã thương hại và ban ân điển cho con người. Nếu trong một trăm con chiên có một con bị lạc, Ngài sẽ bỏ chín mươi chín con kia mà tìm con chiên ấy. Điều này không đại diện cho một dạng phương pháp máy móc, cũng không phải là quy định; đúng hơn, nó cho thấy ý định cấp thiết của Đức Chúa Trời là mang đến sự cứu rỗi cho con người, cũng như tình yêu sâu sắc của Ngài dành cho họ. Đó không phải là một cách làm việc; đó là một dạng tâm tính, một kiểu tâm lý. Do đó, một số người rời đi sáu tháng hay một năm, hay có bao nhiêu điểm yếu, hay chịu bao nhiêu quan niệm sai lầm, và ấy thế mà khả năng họ thức tỉnh trước thực tế, đạt được kiến thức và quay đầu, và quay lại đúng hướng sau đó khiến Ta cảm thấy đặc biệt được an ủi và mang lại cho Ta chút niềm vui. Trong thế giới vui vẻ và rực rỡ này, và trong thời đại tà ác này, việc có thể đứng vững, công nhận Đức Chúa Trời và quay lại đúng hướng là những điều mang lại khá nhiều niềm an ủi và hứng thú. Lấy việc nuôi con làm ví dụ: dù chúng có hiếu thảo hay không, ngươi sẽ cảm thấy thế nào nếu chúng không thừa nhận ngươi, bỏ nhà đi, và không bao giờ trở lại? Tận sâu thẳm, ngươi vẫn sẽ tiếp tục cảm thấy quan tâm đến chúng, và ngươi sẽ luôn tự hỏi: ‘Khi nào con trai tôi quay trở lại? Tôi muốn gặp nó. Suy cho cùng, nó là con trai tôi, và chẳng phải khi không mà tôi nuôi nấng, yêu thương nó’. Ngươi luôn nghĩ theo cách này; ngươi luôn khao khát ngày ấy đến. Mọi người đều cảm nhận như nhau về việc này, huống chi Đức Chúa Trời – chẳng phải Ngài càng hy vọng nhiều hơn rằng con người sẽ tìm thấy đường về sau khi lạc lối, rằng đứa con hoang đàng sẽ trở về sao? Con người ngày nay có vóc giạc nhỏ bé, nhưng sẽ đến ngày họ hiểu ra ý muốn của Đức Chúa Trời – trừ khi họ không có sự hướng vọng đến đức tin thật, trừ khi họ là những kẻ chẳng tin, là trường hợp họ không đáng để Đức Chúa Trời quan tâm(“Người không ngừng đòi hỏi Đức Chúa Trời là người ít biết điều nhất” trong Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt). Sau khi đọc lời Đức Chúa Trời, tôi đặc biệt xúc động. Tôi cảm giác như Ngài đang phán trực tiếp với mình, giống như người mẹ đang trò chuyện với con mình. Ngài ủi an tôi khi tôi tuyệt vọng nhất, cho tôi hy vọng, cho tôi thấy tình yêu thương của Ngài dành cho con người là thật! Tôi hiểu rằng Ngài không tùy ý kết án hay giết người. Ngài đến nhập thể trong thời kỳ sau rốt để cứu rỗi nhân loại. Ngài chưa bao giờ thực sự rời bỏ tôi như tôi tưởng. Thay vào đó, Ngài chỉ phán xét, trừng phạt tôi vì tâm tính bại hoại và con đường sai lầm tôi đi, đó là sự công chính và thánh khiết của Đức Chúa Trời, và cũng là cách để thay đổi tôi. Đức Chúa Trời chờ tôi ăn năn, nhưng tôi lại có nhiều quan niệm, hiểu lầm về Ngài. Tôi coi sự phán xét và cứu rỗi của Ngài là sự loại bỏ và trừng phạt, không hiểu ý muốn của Ngài và không có thái độ vâng phục. Tôi luôn đứng trên quan điểm cá nhân và coi ý kiến ​​của mình là lẽ thật. Dù tôi rất phản nghịch, nhưng Đức Chúa Trời biết tôi thiếu gì cũng như tôi sẽ vấp ngã, thất bại ở đâu. Ngài dẫn dắt tôi từng bước cho tới khi tôi thức tỉnh và lấy lại ý thức. Tôi thấy ý định cứu rỗi nhân loại của Đức Chúa Trời thật chân thành. Chừng nào mọi người giữ danh Ngài và theo đường lối của Ngài, thì Ngài sẽ luôn dang tay cứu rỗi. Đức Chúa Trời yêu chúng ta hơn tôi tưởng. Ngài chịu trách nhiệm về sự sống của mọi người. Tôi biết là không quá muộn nếu tôi thành tâm ăn năn hối cải. Tôi vẫn có cơ hội thay đổi tâm tính bại hoại và được cứu rỗi. Khi hiểu ra được ý muốn của Ngài, tình trạng tiêu cực và hiểu lầm của tôi được đảo ngược.

Sau đó, tôi đọc được một đoạn lời Đức Chúa Trời khác khiến tôi hiểu thêm về tầm quan trọng của công tác phán xét của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời Toàn Năng phán: “Ngày nay, Đức Chúa Trời phán xét các ngươi, trừng phạt các ngươi, và kết án các ngươi, nhưng ngươi phải biết rằng mục đích của việc kết án ngươi là để ngươi biết được chính mình. Ngài kết án, rủa sả, phán xét và hành phạt để ngươi có thể biết được chính mình, để tâm tính của ngươi có thể thay đổi, và hơn thế nữa, để ngươi có thể biết được giá trị của mình, và thấy rằng tất cả hành động của Đức Chúa Trời đều công chính và phù hợp với tâm tính của Ngài và những yêu cầu trong công tác của Ngài, rằng Ngài làm việc phù hợp với kế hoạch cứu rỗi nhân loại của Ngài, và rằng Ngài là Đức Chúa Trời công chính, Đấng yêu thương, cứu rỗi, phán xét, và hành phạt con người. Nếu ngươi chỉ biết rằng ngươi có địa vị thấp hèn, rằng ngươi bại hoại và bất tuân, nhưng không biết rằng Đức Chúa Trời mong muốn làm rõ sự cứu rỗi của Ngài qua việc phán xét và hành phạt mà Ngài làm trong ngươi hôm nay, thì ngươi không cách nào có được kinh nghiệm, ngươi càng không có khả năng tiếp tục tiến tới. Đức Chúa Trời đã không đến để giết chóc hoặc hủy diệt, mà để phán xét, rủa sả, hành phạt, và cứu rỗi. Cho đến khi kế hoạch 6.000 năm quản lý của Ngài đi đến hồi kết – trước khi Ngài mặc khải kết cục của từng hạng người – thì công tác của Đức Chúa Trời trên đất sẽ vì lợi ích của sự cứu rỗi; mục đích của nó chỉ là làm cho những ai yêu mến Ngài được trọn vẹn – một cách toàn diện – và khiến họ quy phục dưới sự thống trị của Ngài. Cho dù Đức Chúa Trời cứu rỗi con người như thế nào, thì tất cả đều được thực hiện bằng cách khiến họ thoát khỏi bản chất Sa-tan cũ kỹ của họ; nghĩa là, Ngài cứu họ bằng cách để họ tìm kiếm sự sống. Nếu họ không làm thế, thì họ sẽ không có cách nào để chấp nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Việc cứu rỗi là công tác của chính Đức Chúa Trời, và việc tìm kiếm sự sống là điều mà con người phải đảm nhận để chấp nhận sự cứu rỗi. Trong mắt con người, sự cứu rỗi là tình yêu thương của Đức Chúa Trời, và tình yêu thương của Đức Chúa Trời không thể là hình phạt, phán xét, và rủa sả; sự cứu rỗi phải chứa đựng tình yêu thương, lòng thương xót, và hơn thế nữa, những lời an ủi, cũng như là phước lành vô biên được Đức Chúa Trời ban cho. Mọi người tin rằng khi Đức Chúa Trời cứu rỗi con người, Ngài làm vậy bằng cách cảm thúc họ với các phước lành và ân điển của Ngài, để họ có thể dâng lòng mình cho Đức Chúa Trời. Điều đó có nghĩa là, Ngài cảm hóa con người tức là Ngài cứu họ. Loại cứu rỗi này được thực hiện bằng cách đạt được thỏa thuận. Chỉ khi Đức Chúa Trời ban cho họ gấp hàng trăm lần thì con người mới chịu quy phục trước danh của Đức Chúa Trời và cố gắng làm tốt vì Ngài và mang lại vinh hiển cho Ngài. Đây không phải là điều Đức Chúa Trời dự định cho loài người. Đức Chúa Trời đã đến làm việc trên đất để cứu rỗi nhân loại bại hoại; không có gì sai trong chuyện này cả. Nếu có, thì Ngài chắc chắn đã không đích thân đến để thực hiện công tác của Ngài. Trong quá khứ, phương tiện cứu rỗi của Ngài bao gồm việc thể hiện tình yêu thương và lòng thương xót tột bậc, đến nỗi Ngài trao tất cả những gì thuộc về Ngài cho Sa-tan để đổi lấy toàn nhân loại. Hiện tại không có gì giống quá khứ: Sự cứu rỗi được ban cho các ngươi hôm nay xảy ra vào thời điểm những ngày sau rốt, trong quá trình phân chia mỗi người theo hạng; phương tiện của sự cứu rỗi các ngươi không phải là tình yêu thương hoặc lòng thương xót, mà là hình phạt và phán xét, để con người có thể được cứu một cách triệt để hơn. Như thế, tất cả những gì các ngươi nhận được là hình phạt, phán xét, và đánh đập không thương tiếc, nhưng hãy biết điều này: trong việc đánh đập nhẫn tâm này không có chút trừng phạt nào cả. Bất kể lời của Ta có khắt khe đến mức nào, thì những gì giáng trên các ngươi chỉ là một vài lời có vẻ cực kỳ nhẫn tâm đối với các ngươi, và cho dù Ta có thể tức giận đến mức nào, thì những gì trút xuống các ngươi vẫn là những lời giáo huấn, và Ta không có ý làm hại các ngươi hoặc đưa các ngươi đến cái chết. Chẳng phải đây đều là sự thật sao? Hãy biết rằng ngày nay, cho dù đó là sự phán xét công chính hay sự tinh luyện và hành phạt nhẫn tâm, thì mọi thứ đều vì sự cứu rỗi. Bất kể ngày nay mỗi người được phân chia theo từng hạng hay các hạng người được bóc trần, thì mục đích trong tất cả những lời và công tác của Đức Chúa Trời là cứu những ai thực sự yêu mến Đức Chúa Trời. Sự phán xét công chính được mang đến để làm cho tinh sạch con người, và sự tinh luyện nhẫn tâm được thực hiện để làm họ thanh sạch; cả những lời khắt khe lẫn việc sửa phạt đều được thực hiện để làm cho tinh sạch và vì mục đích cứu rỗi(Ngươi nên đặt các phước lành về địa vị sang một bên và hiểu được ý muốn của Đức Chúa Trời để mang sự cứu rỗi đến cho con người, Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). Sau khi đọc lời Đức Chúa Trời, tôi thấy mình không hiểu được công tác phán xét của Ngài. Lúc đầu khi tiếp nhận công tác của Ngài, tôi vui hưởng rất nhiều tình yêu, lòng thương xót của Ngài cùng sự khai sáng của Đức Thánh Linh. Tôi mãn nguyện với việc chỉ vui hưởng ân điển của Ngài. Tôi nghĩ mình là đứa trẻ nhỏ trong tay Ngài, là người được Ngài yêu quý, nghĩ mình đặc biệt, hoàn hảo, và mình sẽ không bao giờ bị Ngài phán xét nghiêm khắc. Do đó, khi sự phán xét và hình phạt nghiêm khắc của Ngài đến, khi lời Ngài vạch trần sự dấy loạn, chống đối và tâm tính của kẻ địch lại Đấng Christ của tôi, tôi nghĩ Ngài sẽ loại bỏ tôi, và cảm thấy mọi nỗ lực của mình đều vô ích, nên tôi quyết định rời hội thánh. Mong muốn được phước, tham vọng ngông cuồng, và sự thiếu hiểu biết của tôi khiến tôi phản bội Đức Chúa Trời. Sự ích kỷ của tôi khiến tôi chỉ thấy sự lên án của Đức Chúa Trời không hiểu được mong muốn cứu rỗi con người của Ngài. Trong Thời đại Ân điển, Đức Chúa Trời có lòng thương xót, bao dung vô tận vówi con người, và Ngài cứu chuộc cả nhân loại khỏi tội lỗi. Nhưng con người đã bị Sa-tan làm bại hoại quá sâu sắc. Chỉ sự phán xét và trừng phạt nghiêm khắc của Đức Chúa Trời mới có thể thay đổi tâm tính bại hoại của con người và hoàn toàn cứu rỗi chúng ta khỏi sự thống trị của Sa-tan. Tôi đã bại hoại đến mức trở thành hiện thân của Sa-tan, tôi cần sự phán xét và trừng phạt nghiêm khắc này của Đức Chúa Trời để thức tỉnh mình. Vì chỉ có kiểu công tác này mới có thể làm tôi thấy được bộ dạng bại hoại xấu xí của mình do Sa-tan gây ra, và chỉ khi đó tôi mới có thể căm ghét bản thân, phản bội Sa-tan. Nếu không thì tôi sẽ vẫn nghĩ mình hoàn hảo, được Đức Chúa Trời yêu thương, và khi đó tôi sẽ không bao giờ mưu cầu lẽ thật hay phản tỉnh. Tôi sẽ đi con đường sai trái của kẻ địch lại Đấng Christ cho tới chết. Tôi tin Đức Chúa Trời nhưng không muốn chịu đau khổ, muốn được Ngài ưu ái, muốn mãi vui hưởng lòng thương xót, ơn phước của Ngài như đứa trẻ. Làm sao tôi có thể được Ngài làm cho tinh sạch như này chứ? Sự thiếu hiểu biết và ích kỷ của tôi làm tôi không thấy được tình yêu và phước lành đằng sau công tác phán xét của Đức Chúa Trời, thế nên tôi hiểu lầm, quay lưng lại và phản bội Ngài. Tôi đã phải trả giá đắt cho sự thiếu hiểu biết và ích kỷ của mình. Sau khi nhận ra ý nghĩa to lớn của công tác phán xét của Đức Chúa Trời, tôi tự tin theo Ngài và trải nghiệm lại công tác của Ngài, vì tôi đã hiểu ra, nên dù công tác của Ngài có phù hợp với quan niệm của tôi hay không, tất cả đều là để làm tôi tinh sạch và thay đổi tâm tính bại hoại của tôi, là để hoàn toàn cứu rỗi tôi khỏi sự thống trị của Sa-tan.

Sau đó, tôi tự kiểm điểm bản thân qua lời Đức Chúa Trời. Tôi đọc được một đoạn lời Ngài. “Những người có bản tính kiêu ngạo có khả năng bất tuân Đức Chúa Trời, chống đối Ngài, thực hiện những hành vi phán xét Ngài và phản bội Ngài, cũng như làm những việc đề cao bản thân mình và nỗ lực thiết lập vương quốc của riêng mình. Giả sử có vài chục nghìn người trong một quốc gia đã tiếp nhận công tác của Đức Chúa Trời, và nhà Đức Chúa Trời cử ngươi đến đó để lãnh đạo và chăn dắt những người được Đức Chúa Trời chọn. Và giả sử nhà Đức Chúa Trời giao quyền hành cho ngươi và cho phép ngươi tự mình làm việc mà không cần giám sát bởi Ta hay bất kỳ ai khác. Sau vài tháng, ngươi sẽ trở nên giống như một kẻ cai trị tối cao, tất cả quyền lực sẽ nằm trong tay ngươi, ngươi chỉ đạo mọi sự, tất cả những người được chọn sẽ tôn kính ngươi, thờ phượng ngươi, vâng lời ngươi như thể ngươi là Đức Chúa Trời; hầu hết thậm chí còn đi xa đến mức quỳ gối trước ngươi, cúi đầu trước ngươi, hết lời ca ngợi ngươi, nói ngươi thuyết giảng sâu sắc, và không ngừng tuyên bố rằng những lời phán của ngươi là những gì họ cần và ngươi có thể đáp ứng các yêu cầu của họ – tất cả đều không hề có một từ ‘Đức Chúa Trời’ nào. Ngươi đã làm công việc này như thế nào? Những người này có thể phản ứng như vậy chứng tỏ công việc ngươi đang làm hoàn toàn không liên quan đến việc làm chứng cho Đức Chúa Trời; đúng hơn, nó chỉ làm chứng cho chính ngươi và phô trương chính ngươi. Làm sao ngươi có thể đạt được một kết quả như vậy? Một số người nói: ‘Điều tôi thông công là lẽ thật; Tôi chắc chắn chưa bao giờ làm chứng cho chính mình!’ Thái độ đó của ngươi – kiểu cách đó – là thái độ cố gắng thông công với mọi người từ vị trí của Đức Chúa Trời, và đó không phải là thái độ đứng ở vị trí của một con người bại hoại. Mọi thứ ngươi nói đều là nói khoa trương và đưa ra yêu cầu cho người khác; nó không liên quan gì đến bản thân ngươi. Do đó, hiệu quả mà ngươi đạt được là khiến mọi người tôn thờ ngươi, ghen tị với ngươi, và ngợi khen ngươi cho đến khi, cuối cùng, tất thảy họ đều biết về ngươi, làm chứng cho ngươi, tôn vinh ngươi, và tâng bốc ngươi lên tận mây xanh. Khi điều đó xảy ra, thì ngươi xong rồi; ngươi sẽ thất bại! Đây chẳng phải là con đường các ngươi đều đang đi ngay lúc này đây hay sao? Nếu ngươi được yêu cầu dẫn dắt vài nghìn hoặc vài vạn người, ngươi sẽ cảm thấy phấn khởi. Sau đó, ngươi sẽ sinh ra kiêu ngạo và bắt đầu cố gắng chiếm vị trí của Đức Chúa Trời, nói năng khoa tay múa chân, và ngươi sẽ không biết phải mặc gì, phải ăn gì hoặc đi đứng ra sao. Ngươi sẽ tận hưởng những tiện nghi trong cuộc sống và trịch thượng, không đoái hoài đến việc gặp gỡ với những anh chị em bình thường. Ngươi sẽ trở nên hoàn toàn suy đồi – và sẽ bị bóc trần, loại trừ, bị đánh gục giống như thiên sứ trưởng. Các ngươi đều có thể như thế này, chẳng phải vậy sao?(“Bản tính kiêu ngạo là nguồn gốc sự chống đối Đức Chúa Trời của con người” trong Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt). Khi suy ngẫm lời Ngài, tôi ngẫm lại hành vi của mình. Kể từ khi bắt đầu làm bổn phận, tôi vô thức bước đi con đường của kẻ địch lại Đấng Christ. Để có chỗ trong lòng các anh chị em, vì danh tiếng cao hơn, quyền lực nhiều hơn, tôi ngụy tạo đủ thứ giả dối để giành sự kính trọng của các anh chị em. Hơn nữa, vì liên tục được thăng chức, tôi thấy mình ở trên các anh chị em, thấy mình được Đức Chúa Trời ưu ái, được Ngài định để quản lý người khác, thế nên tôi trở nên cực kỳ ngạo mạn, lên giọng kẻ cả với người khác, muốn các anh chị em nghe lời, phục tùng mình, và dẫn mọi người đến trước mình. Khi làm bổn phận, tôi không tập trung mưu cầu nguyên tắc của lẽ thật, cũng không hỏi quan điểm, đề xuất của các anh chị em, vì nghĩ họ không giỏi bằng mình. Khi họp, tôi tùy tiện chỉ trích, khiển trách họ trước mặt mọi người và vạch trần những sai lệch và sai lầm trong bổn phận của họ, khiến họ thấy tiêu cực đến nỗi không còn muốn hợp tác với tôi. Tôi cũng đòi hỏi mọi người làm theo lệnh tôi, thực hiện bổn phận theo cách tôi làm, nhưng lại không hướng dẫn các anh chị em mưu cầu nguyên tắc của lẽ thật. Nếu không có sự mặc khải của lời Đức Chúa Trời, tôi sẽ không thấy mình ngạo mạn, không nghĩ khao khát, tham vọng mưu cầu địa vị của mình là vấn đề nghiêm trọng, cũng không nhận ra mình đã dấn bước vào con đường của kẻ địch lại Đấng Christ. Nếu không có lời Đức Chúa Trời vạch trần con người thật của tôi, tôi sẽ vẫn ngoan cố đi theo con đường của kẻ địch lại Đấng Christ, làm những điều không thể tha thứ và cuối cùng bị Đức Chúa Trời hủy diệt.

Sau đó, tôi đọc được một đoạn lời Đức Chúa Trời khác. Đức Chúa Trời phán: “Là một trong những vật thọ tạo, con người phải giữ vị trí của riêng mình, và cư xử một cách thấu đáo. Hãy nghiêm túc bảo vệ những gì Đấng Tạo Hóa giao phó cho ngươi. Đừng vi phạm phép tắc, hoặc làm những điều ngoài khả năng của ngươi hoặc điều gì ghê tởm đối với Đức Chúa Trời. Đừng cố gắng trở nên vĩ đại, hoặc trở thành một siêu nhân, hoặc hơn những người khác, mà cũng đừng cố gắng trở thành Đức Chúa Trời. Con người không nên mong muốn như thế này. Việc cố gắng trở nên vĩ đại hoặc làm siêu nhân là ngớ ngẩn. Việc cố gắng trở thành Đức Chúa Trời thậm chí còn nhục nhã hơn; điều đó thật kinh tởm và đáng khinh. Điều đáng khen ngợi, và điều các vật thọ tạo nên nắm giữ hơn bất kỳ điều gì khác, là trở nên một vật thọ tạo thực sự; đây là mục tiêu duy nhất mà tất cả mọi người nên theo đuổi(Chính Đức Chúa Trời, Đấng độc nhất I, Lời, Quyển 2 – Về việc biết Đức Chúa Trời). Sau khi đọc lời Đức Chúa Trời, tôi phản tỉnh để hiểu bản thân. Tôi tự cho mình là khác biệt, đặc biệt là sau khi trở thành lãnh đạo, có được chút địa vị, bản tính Sa-tan của tôi càng bộc lộ nhiều hơn. Tôi kiêu ngạo và thể hiện. Tôi muốn các anh chị em tôn thờ, vâng lời mình. Đức Chúa Trời cho tôi chút ân tứ, địa vị và tôi muốn nắm quyền. Thật đáng hổ thẹn và ngu ngốc! Đức Chúa Trời muốn tôi là một loài thọ tạo thực sự, chấp nhận quyền tể trị, chu cấp của Ngài, thực hiện bổn phận của mình, nhận biết và làm chứng cho Ngài. Nhưng tôi đã bị Sa-tan làm bại hoại sâu sắc đến mức mất đi lý trí của một người bình thường và quên mất vị trí là một loài thọ tạo của mình. Tôi không muốn cư xử như một người bình thường, mà muốn làm siêu nhân, vĩ nhân, làm người được mọi người coi trọng, ngưỡng mộ. Thật ra, tôi có thân phận như các anh chị em. Chỉ vì Đức Chúa Trời ban cho tôi chút ân tứ, tài năng đặc biệt hay nâng tôi lên vị trí lãnh đạo, điều này không có nghĩa là thân phận tôi cao hơn các anh chị em. Tôi vẫn là một tạo vật. Ân tứ, tài năng là do Đức Chúa Trời ban, nên tôi không được khoe khoang. Tôi nên nỗ lực thực hiện tốt bổn phận và trở thành một tạo vật phải cách.

Khi nhận ra những điều này, tôi có con đường thực hành, và lòng thấy thanh thản. Giờ tôi muốn mau chóng quay lại hội thánh để tiếp tục làm bổn phận. Lần này tôi càng quyết tâm theo Đức Chúa Trời và thực hiện bổn phận. Tôi xóa mọi thứ không liên quan đến đức tin nơi Đức Chúa Trời trên điện thoại và máy tính và quyết gạt mọi thứ sang một bên đi theo Đức Chúa Trời. Vài ngày sau, tôi trở lại hội thánh. Không lâu sau, tôi quay trở lại bổn phận rao giảng Phúc Âm. Tạ ơn Đức Chúa Trời! Lần này, tôi bắt đầu lại từ đầu và có ý thức hợp tác với các anh chị em. Mỗi khi gặp phải vấn đề gì, tôi hỏi ý kiến, đề xuất của các anh chị em và nhờ mọi người tham gia. Tôi thôi không còn tự quyết thôi không áp đặt quan điểm của mình cho các anh chị em. Thay vào đó, tôi cho họ lời khuyên, cùng họ tìm ra con đường thực hành tốt. Hơn nữa, tôi cũng không muốn khoe khoang để họ ngưỡng mộ hay cố kiểm soát họ. Tôi không còn muốn quyền lực nữa. Thay vào đó, tôi học cách tìm kiếm nguyên tắc của lẽ thật cùng anh chị em. Thực hành như vậy tôi cảm thấy rất thanh thản, đây là điều tôi chưa từng cảm nhận được trước đây. Giờ đây, mối quan hệ của tôi với các anh chị em dễ dàng hơn nhiều, và họ sẵn lòng hợp tác với tôi. Tôi rất biết ơn Đức Chúa Trời đã ban cho tôi cơ hội làm lại từ đầu. Tôi thật sự cảm nhận được chỉ có lời Ngài mới có thể thay đổi được tâm tính ngạo mạn và việc mưu cầu địa vị của tôi. Chỉ có lời Ngài mới để tôi giữ được vị trí là một tạo vật, hợp tác với các anh chị em để làm tròn bổn phận, sống thể hiện ra hình tượng giống như con người.

Qua sự phán xét, hình phạt, tỉa sửa và xử lý nghiêm khắc này, tôi đã cảm nghiệm được tình yêu thương của Đức Chúa Trời và có được chút hiểu biết về tâm tính bại hoại của mình, và có cái nhìn rõ ràng về công tác của Ngài cũng như có được đức tin lớn hơn nơi Ngài. Tôi thật sự cảm nhận được sự phán xét, hình phạt của Ngài không phải là để lên án, hủy diệt con người, mà như lời Ngài phán dạy: “Hình phạt và phán xét của Đức Chúa Trời là sự sáng, là sự sáng của sự cứu rỗi con người, và chẳng có phước lành, ân điển hay sự bảo vệ nào tốt hơn cho họ(Các kinh nghiệm của Phi-e-rơ: Hiểu biết của ông về hình phạt và sự phán xét, Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). Bản tính của tôi quá ngạo mạn, tham vọng của tôi quá lớn, tâm tính Sa-tan của tôi quá nghiêm trọng, thế nên Đức Chúa Trời phải dùng sự phán xét và hình phạt nghiêm khắc như vậy để làm tôi tinh sạch, thay đổi tôi, dẫn tôi vào con đường đúng đắn. Tôi cảm tạ Đức Chúa Trời vì đã cứu rỗi tôi!

Hồi chuông thời sau hết báo động đã vang lên, đại thảm họa đã ập xuống, bạn có muốn cùng gia đình nghênh đón được Thiên Chúa, và có cơ hội nhận được sự che chở của Thiên Chúa không?

Nội dung liên quan

Trong họa được phúc

Bởi Đỗ Quyên, Nhật Bản Đức Chúa Trời Toàn Năng phán: “Khi một người nhìn lại con đường mình đã đi, khi một người hồi tưởng lại từng giai...

Tháo gỡ những nút thắt

Bởi Thúy Bách, Ý Đức Chúa Trời phán: “Vì số phận của các ngươi, các ngươi nên tìm kiếm sự chấp thuận của Đức Chúa Trời. Điều này có nghĩa...

Sống trước mặt Đức Chúa Trời

Bởi Vĩnh Tùy, Hàn Quốc Đức Chúa Trời Toàn Năng phán: “Để bước vào hiện thực, người ta phải hướng mọi thứ về đời sống thực. Nếu người ta khi...

Leave a Reply

Liên hệ với chúng tôi qua Messenger