Vào thời kỳ sau rốt, Đức Chúa Trời phán xét để làm tinh sạch và cứu rỗi nhân loại như thế nào?

01/12/2021

Mọi người đã nhận ra đại họa đang giáng xuống chúng ta và những ai mong mỏi Chúa đến trên một đám mây đang nín thở chờ đợi. Sau bao năm chờ đợi, họ vẫn không thấy Ngài đến, mà lại thấy Tia Chớp Phương Đông đang làm chứng cho công tác phán xét vào thời kỳ sau rốt của Đức Chúa Trời Toàn Năng, nên họ thất vọng vô cùng. Họ mong đợi sẽ được cất thẳng lên trời để mà tương ngộ Chúa, chứ không ngờ Ngài sẽ thực hiện công tác phán xét khi Ngài tái lâm. Họ không muốn chấp nhận điều đó. Nhiều người đang nghe theo các thế lực địch lại Đấng Christ của giới tôn giáo, phán xét và lên án sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời. Họ nghĩ rằng “Chúng tôi đã được tha tội và đã được Đức Chúa Trời cho nên công chính, nên không cần sự phán xét của Đức Chúa Trời nữa. Chúng tôi đang chờ được Chúa đưa vào vương quốc của Ngài để tận hưởng phước lành của Ngài”. Họ bám vào quan niệm, không chịu tìm kiếm và tìm hiểu con đường thật, đó là lý do họ vẫn chưa nghênh tiếp Chúa, mà bị rơi vào thảm họa. Việc này hoàn toàn ứng nghiệm những lời của Đức Chúa Jêsus: “Vì sẽ cho thêm kẻ nào đã có, thì họ sẽ dư dật; nhưng kẻ nào không có, thì cũng cất luôn điều họ đã có nữa. Còn tên đầy tớ vô ích đó, hãy quăng nó ra ngoài là chỗ tối tăm, ở đó sẽ có khóc lóc và nghiến răng” (Ma-thi-ơ 25:29-30). Nhưng vẫn còn nhiều người yêu lẽ thật và khi họ đọc những lời của Đức Chúa Trời Toàn Năng, thấy chúng đầy quyền năng và thẩm quyền, đều là lẽ thật. Họ nhận ra tiếng Đức Chúa Trời và không còn bị quan niệm kìm hãm, mà tiếp tục tìm hiểu con đường thật. Những câu hỏi đầu tiên của họ là tại sao Đức Chúa Trời vẫn cần phải thực hiện công tác phán xét khi họ đã được tha tội và được Đức Chúa Trời cho nên công chính, và cách Đức Chúa Trời làm tinh sạch và cứu rỗi nhân loại qua công tác đó vào thời kỳ sau rốt. Đây là hai câu hỏi quan trọng và rắc rối nhất mà những ai đang tìm hiểu con đường thật phải hiểu được.

Hãy bắt đầu với lý do mà Đức Chúa Trời cần thực hiện công tác phán xét vào thời kỳ sau rốt. Vấn đề khá mơ hồ với nhiều tín đồ tôn giáo. Họ nghĩ: “Chúa đã tha tội cho chúng ta, và Đức Chúa Trời không coi chúng ta có tội nữa, nên chúng ta có thể được đưa thẳng vào vương quốc của Ngài, chúng ta không cần sự phán xét của Đức Chúa Trời nữa”. Đây là một sai lầm lớn. Đúng là Chúa đã tha tội cho con người, nhưng liệu sự tha thứ đó có nghĩa là chúng ta đã được làm tinh sạch không? Liệu có nghĩa là chúng ta thật sự quy phục Đức Chúa Trời không? Không hề. Chúng ta đều thấy rõ sự thật này: Dù chúng ta đã được tha tội, những các tín hữu, ai nấy đều đang sống trong vòng luẩn quẩn phạm tội và thú tội, phạm tội ban ngày, và sau đó thú tội ban đêm, cố gắng và thất bại trong việc tuân giữ những huấn lệnh của Đức Chúa Jêsus, cố gắng và thất bại trong việc yêu thương và quy phục Chúa, bất kể bản thân quyết tâm làm việc tốt, nhưng vẫn nói dối và phạm tội dù lòng không muốn, vẫn thất bại cho dù nỗ lực thế nào để kiềm chế bản thân. Nhiều người cảm thấy xác thịt quá bại hoại, và sống trong tội lỗi thực sự rất đau khổ. Vậy tại sao mọi người không thể tự giải thoát khỏi sự trói buộc của tội lỗi? Tại sao chúng ta cứ không ngừng phạm tội? Đó là vì bản tính tội lỗi và tâm tính Sa-tan của con người. Đây là căn nguyên của tội lỗi. Không giải quyết tận gốc tội lỗi, chúng ta không bao giờ thoát khỏi nó, mà chúng ta cứ mãi chống đối Đức Chúa Trời, lên án Ngài, và đối địch với Ngài. Hãy nghĩ về những người Pha-ri-si, những người có đức tin qua nhiều thế hệ và liên tục dâng của lễ chuộc tội. Tại sao khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời trở nên xác thịt làm Đức Chúa Jêsus và bày tỏ nhiều lẽ thật, họ không nhận ra Đức Chúa Jêsus chính là hiện thân của Giê-hô-va Đức Chúa Trời, mà lại lên án và phán xét Ngài, thậm chí đóng đinh Ngài vào thập giá? Vấn đề là gì? Hiện tại vào thời kỳ sau rốt, Đức Chúa Trời Toàn Năng đến và bày tỏ lẽ thật, vậy tại sao nhiều tín đồ tôn giáo từ chối tìm hiểu, lại còn điên cuồng lên án và phỉ báng Ngài, kiên quyết đóng đinh Đức Chúa Trời vào thập giá một lần nữa? Toàn bộ chuyện này nghĩa là gì? Nó rõ ràng cho thấy dù mọi người đã được tha tội, họ vẫn bị bản tính Sa-tan điều khiển, có thể lên án và chống đối Đức Chúa Trời bất cứ lúc nào. Sự phạm tội của nhân loại không đơn giản chỉ là chuyện làm việc có tội, mà điều nghiêm trọng là họ muốn đóng đinh Đấng Christ, đấng bày tỏ lẽ thật, đi ngược với Đức Chúa Trời, chống lại lẽ thật, chống lại Đức Chúa Trời và trở thành kẻ thù của Ngài. Làm sao những người ô uế và bại hoại chống lại Đức Chúa Trời như thế xứng đáng bước vào vương quốc của Ngài chứ? Đức Chúa Trời công chính và thánh khiết, tâm tính của Ngài là không thể xúc phạm. Nếu những ai được tha tội không được làm tinh sạch qua công tác phán xét, mà cứ tiếp tục phạm tội và chống đối Đức Chúa Trời, họ sẽ không bao giờ xứng đáng bước vào vương quốc của Đức Chúa Trời – không còn nghi ngờ gì về điều này. Việc này ứng nghiệm những lời của Đức Chúa Jêsus: “Chẳng phải hễ những kẻ nói cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, thì đều được vào nước thiên đàng đâu; nhưng chỉ kẻ làm theo ý muốn của Cha ta ở trên trời mà thôi” (Ma-thi-ơ 7:21). “Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, ai phạm tội lỗi là tôi mọi của tội lỗi. Vả, tôi mọi không ở luôn trong nhà, mà con thì ở đó luôn” (Giăng 8:34-35). Còn có Hê-bơ-rơ chương 12, câu 14: “Nếu không nên thánh thì chẳng ai được thấy Ðức Chúa Trời”. Thế nên Đức Chúa Jêsus đã phán nhiều lần trong công tác cứu chuộc của Ngài rằng Ngài sẽ tái lâm. Vậy Ngài đến để làm gì? Để bày tỏ lẽ thật và thực hiện công tác phán xét của Ngài để hoàn toàn cứu rỗi nhân loại khỏi tội lỗi và khỏi những thế lực của Sa-tan, để chúng ta có thể hoàn toàn hướng về Đức Chúa Trời và trở thành những người quy phục và thờ phượng Đức Chúa Trời. Sau đó Ngài sẽ đưa chúng ta tới một đích đến tốt đẹp. Như Đức Chúa Jêsus đã tiên tri: “Ta còn có nhiều chuyện nói với các ngươi nữa; nhưng bây giờ những điều đó cao quá sức các ngươi. Lúc nào Thần lẽ thật sẽ đến, thì Ngài dẫn các ngươi vào mọi lẽ thật” (Giăng 16:12-13). “Lại nếu kẻ nào nghe lời Ta mà không vâng giữ ấy chẳng phải Ta xét đoán kẻ đó; vì Ta đến chẳng để xét đoán thế gian, nhưng để cứu chuộc. Người nào bỏ Ta ra và không nhận lãnh lời Ta, đã có kẻ xét đoán rồi; lời Ta đã rao giảng, chính lời đó sẽ xét đoán họ nơi ngày sau cùng” (Giăng 12:47-48). Và: “Vì thời kỳ đã đến, là khi sự phán xét sẽ khởi từ nhà Ðức Chúa Trời” (1 Phi-e-rơ 4:17). Có thể thấy ở đây rằng Đức Chúa Trời từ lâu đã dự định thực hiện công tác phán xét vào thời kỳ sau rốt, và đây chính xác là những gì nhân loại bại hoại cần để được hoàn toàn cứu rỗi. Vào thời kỳ sau rốt, Đức Chúa Trời Toàn Năng đang bày tỏ lẽ thật và thực hiện công tác phán xét khởi từ nhà Đức Chúa Trời. Ngài chính là Thần của lẽ thật đến giữa con người, dẫn dắt những người được Đức Chúa Trời chọn bước vào toàn bộ lẽ thật. Việc này hoàn toàn ứng nghiệm những lời tiên tri của Đức Chúa Jêsus. Giờ hãy đọc một vài lời của Đức Chúa Trời Toàn Năng để làm rõ hơn lý do Đức Chúa Trời cần thực hiện công tác phán xét vào thời kỳ sau rốt.

Đức Chúa Trời Toàn Năng phán: “Mặc dù Jêsus đã làm nhiều công tác giữa con người, nhưng Ngài chỉ hoàn thành việc cứu chuộc toàn thể nhân loại và trở thành của lễ chuộc tội cho con người; Ngài vẫn chưa loại bỏ khỏi con người tất cả những tâm tính bại hoại của họ. Để hoàn toàn cứu rỗi con người khỏi ảnh hưởng của Sa-tan, không chỉ cần Jêsus trở thành của lễ chuộc tội và gánh lấy những tội lỗi của con người, mà còn cần Đức Chúa Trời làm công tác vĩ đại hơn nữa để hoàn toàn loại bỏ khỏi con người tâm tính Sa-tan bại hoại của họ. Và vì thế, khi con người đã được tha thứ tội lỗi, Đức Chúa Trời đã trở lại xác thịt để dẫn dắt con người vào thời đại mới, và bắt đầu công tác của hình phạt và sự phán xét. Công tác này đã đưa con người vào một cõi cao hơn. Tất cả những ai quy phục dưới sự thống trị của Ngài sẽ được hưởng lẽ thật cao hơn và nhận lãnh những phước lành lớn hơn. Họ sẽ thực sự sống trong sự sáng, và họ sẽ đạt được lẽ thật, đường đi, và sự sống” (Lời tựa của Lời xuất hiện trong xác thịt).

Trước khi con người được cứu chuộc, nhiều nọc độc của Sa-tan đã bị gieo vào bên trong họ, và sau hàng nghìn năm bị Sa-tan làm cho bại hoại, họ có trong mình một bản tính thâm căn chống lại Đức Chúa Trời. Do đó, khi con người đã được cứu chuộc, điều đó không hơn gì một trường hợp cứu chuộc mà con người được mua với giá cao, nhưng bản tính độc địa bên trong họ vẫn chưa được loại bỏ. Con người quá nhơ nhuốc phải trải qua một sự thay đổi trước khi trở nên xứng đáng để hầu việc Đức Chúa Trời. Thông qua công tác phán xét và hành phạt này, con người sẽ hoàn toàn biết được thực chất ô uế và bại hoại trong chính bản thân mình, họ sẽ có thể thay đổi hoàn toàn và trở nên thanh sạch. Chỉ bằng cách này, con người mới có thể trở nên xứng đáng để trở lại trước ngôi của Đức Chúa Trời. … Mặc dù con người có thể đã được cứu chuộc và được tha tội, nhưng điều đó chỉ có thể được xem là Đức Chúa Trời không nhớ đến những vi phạm của con người và không đối đãi với con người theo những vi phạm của họ. Tuy nhiên, khi con người, những kẻ sống trong thân thể xác thịt, chưa được giải thoát khỏi tội lỗi, thì họ chỉ có thể tiếp tục phạm tội, không ngừng bộc lộ tâm tính sa-tan bại hoại của mình. Đây là cuộc sống mà con người đang sống, một chu kỳ vô tận của việc phạm tội và được tha thứ. Phần lớn nhân loại phạm tội vào ban ngày chỉ để xưng tội vào ban đêm. Theo cách này, cho dù của lễ chuộc tội có tác dụng đời đời đối với con người, nó cũng sẽ không thể cứu được con người khỏi tội lỗi. Chỉ một nửa công tác cứu rỗi đã được hoàn tất, vì con người vẫn còn có một tâm tính bại hoại. … Không dễ để con người trở nên nhận thức được tội lỗi của mình; họ không có cách nào nhận ra bản tính đã thâm căn cố đế của chính mình, và họ phải dựa vào sự phán xét bằng lời để đạt được kết quả này. Chỉ như vậy thì con người mới có thể dần dần được thay đổi từ thời điểm này trở đi” (“Lẽ mầu nhiệm của sự nhập thể (4)” trong Lời xuất hiện trong xác thịt).

Trong Thời đại Ân điển, Đức Chúa Jêsus đích thân bị đóng đinh vào thập giá, trở thành của lễ chuộc tội cho nhân loại và cứu chuộc nhân loại khỏi tội lỗi. Kể từ đó tội lỗi của con người đã được tha thứ và Đức Chúa Trời không còn coi chúng ta có tội nữa, nên chúng ta có thể cầu nguyện trực tiếp với Đức Chúa Trời và đến trước Ngài. Nhưng Đức Chúa Trời không còn coi con người có tội nghĩa là Ngài tha tội cho chúng ta, chứ không phải chúng ta đã thoát khỏi tội lỗi, rằng chúng ta hoàn toàn thánh khiết. Chúng ta vẫn có bản tính tội lỗi và tâm tính Sa-tan. Chúng ta phải trải qua công tác phán xét của Đức Chúa Trời vào thời kỳ sau rốt để sự bại hoại của chúng ta được làm tinh sạch và chúng ta được hoàn toàn cứu rỗi. Công tác cứu chuộc của Đức Chúa Trời trong Thời đại Ân điển lót đường cho công tác phán xét của Ngài vào thời kỳ sau rốt. Như thế, công tác phán xét của Ngài được thực hiện trên nền móng công tác cứu chuộc của Đức Chúa Jêsus. Công tác cứu chuộc của Đức Chúa Trời mới chỉ hoàn thành một nửa công tác cứu rỗi đầy đủ của Ngài. Chỉ có công tác phán xét của Đức Chúa Trời Toàn Năng vào thời kỳ sau rốt mới có thể hoàn toàn làm tinh sạch và cứu rỗi nhân loại, và đó là giai đoạn công tác quan trọng nhất trong công tác cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Chúng ta phải trải nghiệm sự phán xét và làm tinh sạch của Đức Chúa Trời vào thời kỳ sau rốt, hoàn toàn thoát khỏi tội lỗi và được làm tinh sạch, thực sự quy phục Đức Chúa Trời và thực hiện ý muốn của Đức Chúa Trời để xứng đáng bước vào vương quốc của Ngài.

Lúc này tôi nghĩ chúng ta đã hiểu rõ hơn lý do Đức Chúa Trời đang thực hiện công tác phán xét vào thời kỳ sau rốt của Ngài. Một số người có thể thắc mắc công tác này làm tinh sạch và cứu rỗi nhân loại như thế nào. Hãy xem Đức Chúa Trời Toàn Năng phán gì về việc này: “Đấng Christ của thời kỳ sau rốt dùng nhiều lẽ thật khác nhau để dạy dỗ con người, để phơi bày bản chất của con người, và để mổ xẻ những lời nói và hành động của con người. Những lời này bao gồm nhiều dạng lẽ thật, chẳng hạn như bổn phận của con người, con người nên vâng lời Đức Chúa Trời như thế nào, con người nên trung thành với Đức Chúa Trời ra sao, con người phải sống trọn nhân tính bình thường, cũng như sự khôn ngoan và tâm tính của Đức Chúa Trời như thế nào, v.v. Tất cả những lời này đều nhắm vào bản chất của con người và tâm tính bại hoại của họ. Cụ thể, những lời vạch trần cách con người hắt hủi Đức Chúa Trời, được phán ra liên quan đến việc con người là hiện thân của Sa-tan và là một thế lực thù địch chống lại Đức Chúa Trời như thế nào. Trong quá trình thực hiện công tác phán xét của mình, Đức Chúa Trời không chỉ đơn giản làm rõ bản tính của con người bằng một vài lời; Ngài phơi bày, xử lý và tỉa sửa qua thời gian dài. Tất cả những phương pháp phơi bày, xử lý và tỉa sửa khác nhau này không thể được thay thế bằng những lời thông thường, mà phải bằng lẽ thật con người tuyệt đối không bao giờ có. Chỉ có những phương pháp như thế này mới có thể được gọi là sự phán xét; chỉ thông qua kiểu phán xét này thì con người mới có thể bị khuất phục và hoàn toàn bị thuyết phục về Đức Chúa Trời, và hơn nữa mới có được kiến thức thực sự về Đức Chúa Trời. Điều mà công tác phán xét mang lại là sự hiểu biết của con người về diện mạo thật của Đức Chúa Trời và sự thật về sự phản nghịch của chính mình. Công tác phán xét cho phép con người đạt được nhiều hiểu biết về ý muốn của Đức Chúa Trời, về mục đích công tác của Đức Chúa Trời, và về những lẽ mầu nhiệm mà họ không thể hiểu được. Nó cũng cho phép con người nhận ra và biết được thực chất bại hoại và nguồn gốc sự bại hoại của mình, cũng như khám phá ra sự xấu xa của con người. Những tác dụng này đều do công tác phán xét mang lại, vì thực chất của công tác này thực ra là công tác mở ra lẽ thật, đường đi và sự sống của Đức Chúa Trời cho tất cả những ai có đức tin vào Ngài. Công tác này là công tác phán xét được thực hiện bởi Đức Chúa Trời” (“Đấng Christ thực hiện công tác phán xét bằng lẽ thật” trong Lời xuất hiện trong xác thịt).

Con người không thể thay đổi tâm tính của chính mình; họ phải trải qua sự phán xét và hình phạt, sự chịu khổ và tinh luyện của lời Đức Chúa Trời, hoặc bị xử lý, sửa dạy, và tỉa sửa bởi lời Ngài. Chỉ sau đó họ mới có thể đạt được sự vâng lời và trung thành với Đức Chúa Trời, và không còn hời hợt với Ngài nữa. Chính là dưới sự tinh luyện của lời Đức Chúa Trời mà tâm tính của mọi người mới thay đổi. Chỉ khi trải qua sự vạch trần, phán xét, sửa dạy và xử lý bởi lời Ngài mà họ mới không còn dám hành động một cách khinh suất nữa, mà thay vào đó trở nên vững vàng và điềm tĩnh. Điểm quan trọng nhất là họ có thể đầu phục những lời hiện tại của Đức Chúa Trời và công tác của Ngài, ngay cả khi nó không phù hợp với những quan niệm của con người, họ vẫn có thể gạt những quan niệm này sang một bên và sẵn sàng đầu phục” (“Những người đã có tâm tính thay đổi là những người đã bước vào hiện thực của lời Đức Chúa Trời” trong Lời xuất hiện trong xác thịt).

Đức Chúa Trời có nhiều phương tiện để hoàn thiện con người. Ngài dùng mọi dạng môi trường để xử lý tâm tính bại hoại của con người, và dùng nhiều điều khác nhau để phơi bày con người; ở một phương diện, Ngài xử lý con người, ở một phương diện khác, Ngài phơi bày con người, và ở một phương diện khác nữa, Ngài tỏ lộ con người, tìm ra và tiết lộ ‘những bí ẩn’ tận sâu thẳm lòng người, và cho con người thấy bản tính của họ bằng cách phơi bày nhiều tình trạng của họ. Đức Chúa Trời hoàn thiện con người thông qua nhiều phương pháp – thông qua sự mặc khải, thông qua việc xử lý con người, thông qua sự tinh luyện và hình phạt con người – hầu cho con người có thể biết rằng Đức Chúa Trời là thực tế” (“Chỉ những ai tập trung vào thực hành mới có thể được hoàn thiện” trong Lời xuất hiện trong xác thịt).

Đoạn này đã giúp làm sáng tỏ việc Đức Chúa Trời thực hiện công tác phán xét của Ngài như thế nào, đúng không? Trong công tác phán xét của Đức Chúa Trời vào thời kỳ sau rốt, Ngài chủ yếu bày tỏ lẽ thật để phán xét và phơi bày thực chất bại hoại của con người, và tâm tính Sa-tan của chúng ta để chúng ta có thể thấy sự thật về sự bại hoại của mình, chân thành ăn năn, căm ghét và coi khinh bản thân, từ bỏ xác thịt và đưa những lời của Đức Chúa Trời vào thực hành, đạt được sự ăn năn và thay đổi chân thật. Những lời của Đức Chúa Trời Toàn Năng hoàn toàn phơi bày biểu hiện của những tâm tính bại hoại của con người như kiêu ngạo, dối trá và tà ác, cũng như động cơ và sự uế tạp trong đức tin, kể cả những suy nghĩ và cảm xúc sâu thẳm, kín đáo nhất. Tất cả những việc này đều bị vạch trần sâu sắc. Đọc những lời của Đức Chúa Trời Toàn Năng, cảm giác như Đức Chúa Trời ở ngay đó trực tiếp phán xét chúng ta. Chúng ta thấy con người ô uế, bại hoại, xấu xa của mình bị Đức Chúa Trời vạch trần hoàn toàn, khiến chúng ta cảm thấy hổ thẹn, không biết giấu mặt vào đâu, và không xứng đáng sống trước Đức Chúa Trời. Vừa phán xét con người bằng lời Ngài, Đức Chúa Trời cũng sắp đặt hoàn cảnh thực tế để phơi bày chúng ta, sau đó thực tế sẽ tỉa sửa, xử lý và thử luyện chúng ta, để chúng ta có thể kiểm điểm và hiểu bản thân. Bị thực tế phơi bày, rồi sau đó được lời Đức Chúa Trời phơi bày và phán xét, chúng ta càng thấy rõ sự xấu xa của mình khi sống theo bản tính Sa-tan. Lòng chúng ta đầy hối hận và căm ghét bản thân, và dần nảy sinh sự ăn năn thực sự. Sau đó tâm tính bại hoại của chúng ta được làm tinh sạch và thay đổi. Tiếp theo, hãy cùng nghe những lời của Đức Chúa Trời phơi bày tâm tính bại hoại của con người để có thấy rõ hơn về cách Đức Chúa Trời thực hiện công tác phán xét của Ngài.

Đức Chúa Trời Toàn Năng phán: “Những việc làm của Ta nhiều hơn lượng cát dưới biển, và sự khôn ngoan của Ta vượt hơn hết thảy các con trai của Sa-lô-môn, vậy mà con người đơn thuần nghĩ về Ta như một thầy thuốc chẳng đáng quan tâm và một người thầy vô danh của con người. Rất nhiều người tin vào Ta chỉ để Ta có thể chữa lành cho họ. Rất nhiều người tin vào Ta chỉ để Ta có thể dùng quyền năng của Ta mà đuổi những linh hồn ô uế ra khỏi thân xác họ, và rất nhiều người tin vào Ta đơn thuần để nhận sự bình an và niềm vui từ Ta. Rất nhiều người tin vào Ta chỉ để đòi hỏi nhiều của cải vật chất hơn từ Ta. Rất nhiều người tin Ta chỉ để được trải qua cuộc đời này trong sự bình an và để được bình an vô sự trong thế giới sắp đến. Rất nhiều người tin vào Ta để tránh sự đau đớn của địa ngục và để nhận lãnh những phúc lành của thiên đàng. Rất nhiều người tin vào Ta chỉ vì sự an ủi tạm thời chứ không tìm kiếm để có được bất cứ điều gì ở thế giới sắp đến. Khi Ta trút cơn giận dữ xuống con người và tước đi mọi niềm vui, bình an mà họ từng sở hữu, con người đã trở nên hoài nghi. Khi Ta cho con người sự đau đớn của địa ngục và lấy lại những phúc lành của thiên đàng, mối nhục của con người biến thành sự giận dữ. Khi con người nhờ Ta chữa lành cho họ, Ta đã chẳng đoái hoài và cảm thấy ghê tởm họ; con người đã rời khỏi Ta mà theo đuổi cách của các y thuật hắc ám và tà thuật để thay vào đó. Khi Ta lấy đi tất cả những gì con người đã đòi hỏi từ Ta, mọi người đều biến mất không chút dấu vết. Do vậy, Ta nói rằng con người có đức tin ở Ta bởi vì Ta đã ban quá nhiều ân điển, và có quá nhiều thứ để thu được” (“Ngươi biết gì về đức tin?” trong Lời xuất hiện trong xác thịt).

Nhiều người theo Đức Chúa Trời chỉ quan tâm đến việc làm thế nào để đạt được ân phước hay ngăn chặn tai ương. Ngay khi công tác và sự quản lý của Đức Chúa Trời được đề cập thì họ lại im lặng và mất đi mọi hứng thú. Họ nghĩ rằng hiểu biết về những vấn đề tẻ nhạt đó sẽ chẳng giúp đời sống của họ tăng trưởng hay cung cấp bất kỳ lợi ích gì. Kết quả là, mặc dù họ đã nghe về sự quản lý của Đức Chúa Trời, nhưng họ chỉ lưu tâm chút ít. Họ không xem nó là điều gì đó quý giá để chấp nhận lấy, càng không nhận nó như một phần trong đời sống của họ. Những người như thế chỉ có một mục tiêu đơn giản trong việc theo Đức Chúa Trời, và mục tiêu đó là để nhận lãnh ân phước. Những người như thế chẳng màng chú ý đến bất kỳ thứ gì khác mà không trực tiếp liên quan đến mục tiêu này. Đối với họ, không có mục tiêu nào chính đáng hơn là tin vào Đức Chúa Trời để nhận lãnh ơn phước – đó chính là giá trị đức tin của họ. Nếu điều gì không đóng góp vào mục tiêu này, họ cứ hoàn toàn thờ ơ với nó. Đây là tình hình của hầu hết mọi người tin vào Đức Chúa Trời ngày nay. Mục tiêu và ý định của họ có vẻ chính đáng, bởi vì khi họ tin Đức Chúa Trời, họ cũng dâng mình cho Đức Chúa Trời, dâng hiến cho Đức Chúa Trời, và thực hiện bổn phận của mình. Họ hy sinh tuổi trẻ, từ bỏ gia đình và sự nghiệp, và thậm chí còn sống nhiều năm tất bật xa gia đình. Vì mục đích cuối cùng của họ, họ thay đổi niềm hứng thú của riêng mình, quan điểm về cuộc sống của mình, và thậm chí là phương hướng tìm kiếm của mình; thế nhưng họ vẫn không thể thay đổi mục tiêu đức tin của mình vào Đức Chúa Trời. Họ xuôi ngược để quản lý những lý tưởng của chính họ; bất kể con đường có xa xôi, và bất kể bao nhiêu chông gai và trở ngại trên đường, họ vẫn bền bỉ và không sợ hãi cái chết. Sức mạnh nào buộc họ phải tiếp tục dâng hiến bản thân theo cách này? Liệu đó có phải là lương tâm của họ hay không? Liệu đó có phải là khí chất vĩ đại và cao quý của họ hay không? Liệu đó có phải là quyết tâm chiến đấu với các thế lực ma quỷ cho đến cùng của họ? Liệu đó có phải đức tin của họ nhằm làm chứng cho Đức Chúa Trời mà không tìm kiếm phần thưởng? Liệu đó có phải lòng trung thành của họ trong việc sẵn sàng từ bỏ mọi thứ để đạt được ý muốn của Đức Chúa Trời? Hay đó là tinh thần cống hiến của họ luôn sẵn lòng từ bỏ những đòi hỏi cá nhân vô độ? Đối với một người chưa từng hiểu công tác quản lý của Đức Chúa Trời mà vẫn cho đi quá nhiều, thì đó hoàn toàn là một phép màu! Bây giờ, hãy thôi bàn thảo về việc những người này đã cho đi bao nhiêu. Tuy nhiên, hành xử của họ rất đáng để chúng ta phân tích. Ngoài những lợi ích trực tiếp liên quan đến họ, liệu có còn các lý do nào khác để những người mà chẳng bao giờ hiểu Đức Chúa Trời lại dâng hiến quá nhiều cho Ngài? Trong việc này, chúng ta phát hiện ra một vấn đề mà trước đây chưa xác định được: Mối quan hệ của con người với Đức Chúa Trời chỉ là một thứ tư lợi trần trụi. Đó là mối quan hệ giữa người cho và người nhận những ân phước. Nói thẳng ra, nó giống như mối quan hệ giữa người làm công và người chủ. Người làm công làm việc chỉ để nhận thưởng của người chủ ban cho. Chẳng có tình cảm gì trong một mối quan hệ như thế, chỉ là sự đổi chác. Chẳng có yêu mến hay được yêu mến, chỉ có sự bố thí và thương xót. Chẳng có sự thấu hiểu, chỉ có sự phẫn nộ bị kìm nén và sự lừa dối. Chẳng có sự thân tình, chỉ có một hố sâu ngăn cách không thể vượt qua. Bây giờ mọi thứ đã đến mức này, ai có thể đảo ngược được chiều hướng như thế? Và mấy ai có khả năng thực sự hiểu rằng mối quan hệ này đã trở nên kinh khủng như thế nào? Ta tin rằng khi người ta chìm đắm trong niềm vui sướng được phước, chẳng ai có thể tưởng tượng mối quan hệ như vậy với Đức Chúa Trời lại đáng xấu hổ và khó coi thế nào” (“Con người chỉ có thể được cứu rỗi giữa sự quản lý của Đức Chúa Trời” trong Lời xuất hiện trong xác thịt).

Tốt nhất là các ngươi dành nhiều nỗ lực hơn cho lẽ thật của việc nhận biết bản thân. Tại sao các ngươi chưa được ân huệ của Đức Chúa Trời? Tại sao tâm tính của các ngươi lại đáng ghê tởm đối với Ngài? Tại sao điều các ngươi nói lại khiến Ngài căm ghét? Ngay khi các ngươi chứng tỏ được một chút lòng trung thành, các ngươi tự ca ngợi mình, và các ngươi đòi phần thưởng cho một sự đóng góp nhỏ bé; các ngươi coi thường người khác khi các ngươi thể hiện sự vâng phục đôi chút, và trở nên khinh thường Đức Chúa Trời khi hoàn thành nhiệm vụ vụn vặt nào đó. Để đón tiếp Đức Chúa Trời, các ngươi đòi tiền, quà, và những lời ca tụng. Các ngươi đau lòng khi quyên góp một hai xu; khi các ngươi quyên góp mười xu, các ngươi muốn có phúc lành và được đối đãi khác biệt. Thật chướng tai gai mắt khi nói hoặc nghe về nhân tính như của các ngươi. Có bất cứ điều gì đáng khen ngợi trong những lời nói và việc làm của các ngươi không? Những ai thực hiện bổn phận của mình và những ai không thực hiện; những ai dẫn dắt và những ai theo sau; những ai đón tiếp Đức Chúa Trời và những ai không đón tiếp; những ai bố thí và những ai không bố thí; những ai rao giảng và những ai đón nhận lời; và những điều tương tự: tất cả những người như thế đều tự ca ngợi họ. Các ngươi không thấy điều này nực cười ư? Hoàn toàn biết rõ rằng mình tin vào Đức Chúa Trời, ấy vậy mà các ngươi không thể tương hợp với Đức Chúa Trời. Hoàn toàn biết rõ rằng các ngươi không có giá trị, các ngươi vẫn khoa trương như thế. Các ngươi không cảm thấy ý thức của mình đã bị hư hỏng đến mức các ngươi không còn tự chủ nữa sao? Với ý thức như thế này, các ngươi làm sao thích hợp để giao kết với Đức Chúa Trời? Các ngươi không sợ cho mình ở tình cảnh này sao? Tâm tính của các ngươi đã bị hư hỏng đến mức không thể tương hợp với Đức Chúa Trời. Như vậy, đức tin của các ngươi không nực cười sao? Đức tin của các ngươi không phi lý sao? Ngươi sẽ tiếp cận tương lai của ngươi như thế nào? Ngươi sẽ chọn con đường nào để đi?” (“Những ai không tương hợp với Đấng Christ thì hẳn là những kẻ chống đối của Đức Chúa Trời” trong Lời xuất hiện trong xác thịt).

Sau vài nghìn năm bại hoại, con người bị tê liệt và đần độn; họ đã trở thành một con quỷ chống đối Đức Chúa Trời, đến mức sự dấy loạn cùng Đức Chúa Trời của con người đã được ghi lại trong những cuốn sách lịch sử, và thậm chí chính con người cũng không thể kể hết về hành vi dấy loạn của mình – bởi vì con người đã bị Sa-tan làm cho bại hoại sâu sắc, và đã bị Sa-tan làm cho lầm đường lạc lối đến nỗi không biết làm sao. Ngay cả ngày nay, con người vẫn còn phản bội Đức Chúa Trời: Khi con người nhìn thấy Đức Chúa Trời, họ phản bội Ngài, và khi họ không thể nhìn thấy Đức Chúa Trời, họ cũng phản bội Ngài như thế. Thậm chí có những người, sau khi chứng kiến những sự rủa sả của Đức Chúa Trời và cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời, vẫn phản bội Ngài. Và vì thế, Ta phán rằng ý thức của con người đã đánh mất chức năng ban đầu của nó, và rằng lương tâm của con người cũng đã đánh mất chức năng ban đầu của nó. Con người mà Ta nhìn thấy là một con thú đội lốt người, họ là con rắn độc, và cho dù họ có cố gắng tỏ ra đáng thương trước mắt Ta thế nào đi nữa, Ta cũng sẽ không bao giờ thương xót họ, bởi vì con người không nắm được sự khác biệt giữa trắng và đen, sự khác biệt giữa lẽ thật và không phải lẽ thật. Ý thức của con người quá tê liệt, nhưng họ vẫn ao ước có được các phước lành; nhân tính của họ quá đê hèn, nhưng họ vẫn ao ước sở hữu quyền tối thượng của một vị vua. Với ý thức như thế, họ có thể làm vua của ai? Với nhân tính như thế, làm sao họ có thể ngồi trên ngai vàng? Con người thực sự không biết xấu hổ! Họ thật là những kẻ đê tiện tự phụ! Đối với những ai trong các ngươi ao ước có được các phước lành, Ta đề nghị các ngươi trước tiên hãy tìm một cái gương và nhìn vào hình ảnh phản chiếu xấu xa của chính các ngươi – ngươi có những gì cần để làm một vị vua không? Ngươi có gương mặt của một người có thể có được các phước lành không? Chưa có chút thay đổi nào trong tâm tính của ngươi và ngươi chưa đưa được bất kỳ lẽ thật nào vào thực hành, nhưng ngươi vẫn ao ước có một ngày mai tuyệt vời. Ngươi đang ảo tưởng!” (“Có một tâm tính không thay đổi là thù nghịch với Đức Chúa Trời” trong Lời xuất hiện trong xác thịt).

Những lời của Đức Chúa Trời Toàn Năng rất thực tế và lời nào cũng rất thật, vạch trần sự uế tạp và động cơ hèn hạ trong đức tin của chúng ta cũng như bản tính chống đối Đức Chúa Trời. Chúng ta hay nghĩ rằng mình có thể hy sinh, chịu đau khổ và trả giá cho Đức Chúa Trời, có nghĩa là chúng ta tận tụy và vâng phục, và có thể đạt được sự chấp thuận của Đức Chúa Trời. Nhưng qua sự phán xét trong lời của Đức Chúa Trời, chúng ta kiểm điểm và hiểu bản thân, và thấy rằng tất cả sự hi sinh của mình đã bị ô uế, chỉ để nhận lại phước lành. Khi Đức Chúa Trời phù hộ chúng ta sống bình yên, chúng ta quy phục Ngài và công tác cho Ngài, nhưng khi đau khổ và thảm họa xảy đến, chúng ta hiểu nhầm Đức Chúa Trời và oán trách Ngài vì không bảo vệ chúng ta, và thậm chí ngừng công tác cho Ngài. Như vậy chúng ta thấy rằng đức tin và sự hy sinh của chúng ta hoàn toàn mang tính đổi chác, để đòi lấy ân điển và phước lành từ Đức Chúa Trời. Đây chính là lừa gạt và lợi dụng Đức Chúa Trời. Thật ích kỷ và xảo quyệt! Chúng ta hoàn toàn không có lương tâm và lý trí, thậm chí không xứng đáng được gọi là con người. Ô uế và bại hoại như vậy, nhưng chúng ta vẫn nghĩ mình có quyền nhận diễm phúc và bước vào vương quốc của Đức Chúa Trời. Thật hổ thẹn và không có lý trí. Những lời phán xét và vạch trần của Đức Chúa Trời cho chúng ta thấy tâm tính công chính, thánh khiết không thể bị xúc phạm của Ngài, và những gì Đức Chúa Trời yêu cầu ở chúng ta chính là sự chân thành và tận tụy. Việc có đức tin và thực hiện bổn phận với động cơ và sự uế tạp như thế là đang lừa gạt và chống đối Đức Chúa Trời, Ngài khinh ghét và ghê tởm việc đó. Đức Chúa Trời không công nhận kiểu đức tin này. Qua sự phán xét trong lời của Đức Chúa Trời, việc bị xử lý và thử luyện nhiều lần, chúng ta cuối cùng có thể thấy lẽ thật về sự bại hoại của mình, chân thành căm ghét bản thân và cảm thấy hối hận, phủ phục ăn năn trước Đức Chúa Trời. Chúng ta cũng có thể thấy sự công chính của Đức Chúa Trời và rằng Ngài thực sự nhìn thấu tâm can chúng ta, hiểu rất rõ chúng ta. Chúng ta hoàn toàn bị thuyết phục và sinh lòng tôn kính Đức Chúa Trời. Cách nhìn của chúng ta về đức tin thay đổi, chúng ta tiếp cận bổn phận một cách thuần khiết hơn, mà không có những ham muốn quá đáng, chúng ta vui vẻ quy phục sự an bài của Đức Chúa Trời và thực hiện bổn phận của một tạo vật bất kể Đức Chúa Trời có ban phước cho chúng ta hay không, chúng ta có nhận được phước lành của vương quốc hay không. Khi chúng ta thấy được bản chất của mình, chúng ta không còn kiêu ngạo như trước. Chúng ta biết suy nghĩ hơn trong lời nói và việc làm, tìm kiếm và quy phục lẽ thật. Đây chính là sự phán xét và hành phạt của Đức Chúa Trời, dần làm tinh sạch và thay đổi sự bại hoại của chúng ta. Những ai trong chúng ta đã trải nghiệm công tác của Đức Chúa Trời thực sự biết công tác phán xét thời kỳ sau rốt của Ngài thực tế như thế nào, thực sự làm tinh sạch và hoàn toàn cứu rỗi con người ra sao. Không có sự phán xét và tỉa sửa này, chúng ta sẽ không bao giờ thấy sự bại hoại của mình, mà sẽ bế tắc trong cuộc sống không ngừng phạm tội và thú tội, nghĩ rằng chúng ta có thể bước vào vương quốc của Đức Chúa Trời vì đã được tha tội, rằng chúng ta đã được Đức Chúa Trời chấp thuận. Như thế thật quá ngu muội và thảm hại! Nhờ sự phán xét của Đức Chúa Trời, chúng ta có thể thực sự hiểu bản thân, chúng ta biết nhiều lẽ thật và tâm tính bại hoại được làm tinh sạch và thay đổi. Đó là sự giải thoát phi thường. Sự phán xét và hành phạt của Đức Chúa Trời cho chúng ta rất nhiều thứ. Chúng là tình yêu chân thành của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta, sự cứu rỗi vĩ đại của Ngài. Đã 30 năm từ khi Đức Chúa Trời Toàn Năng bắt đầu bày tỏ lẽ thật và thực hiện công tác phán xét của Ngài, Ngài đã hoàn thành một nhóm những người đắc thắng trước thảm họa – những quả ngọt đầu tiên. Việc này hoàn toàn ứng nghiệm lời tiên tri trong Kinh Thánh: “Chiên Con đi đâu, những kẻ nầy theo đó. Những kẻ đó đã được chuộc từ trong loài người, để làm trái đầu mùa cho Ðức Chúa Trời và Chiên Con” (Khải Huyền 14:4). Những người được Đức Chúa Trời chọn đã trải nghiệm sự phán xét, hành phạt, thử luyện và tinh luyện của Ngài, tâm tính bại hoại của họ đã được làm tinh sạch, và cuối cùng họ cũng thoát khỏi những thế lực Sa-tan. Họ đã quy phục và thờ phượng Đức Chúa Trời, nhận sự cứu rỗi vĩ đại của Đức Chúa Trời. Những trải nghiệm và chứng ngôn của họ đã được chuyển thể thành phim ảnh và những đoạn phim ngắn được đăng tải lên mạng, làm chứng cho công tác phán xét thời kỳ sau rốt của Đức Chúa Trời trước toàn bộ nhân loại, xóa bỏ mọi nghi ngờ trong lòng người xem. Phúc âm vương quốc của Đức Chúa Trời Toàn Năng đã được truyền bá tới tận chân trời góc bể, và những người được Đức Chúa Trời chọn đang ở khắp nơi để truyền bá những lời của Đức Chúa Trời Toàn Năng. Sự truyền bá rực rỡ chưa từng thấy của phúc âm vương quốc đã đến với chúng ta. Rõ ràng công tác phán xét khởi từ nhà Đức Chúa Trời đã thành công vang dội. Đức Chúa Trời đã đánh bại Sa-tan và giành mọi vinh quang. Đúng như lời Đức Chúa Trời Toàn Năng phán: “Đức Chúa Trời thực hiện công tác phán xét và hành phạt hầu cho con người có thể đạt được kiến thức về Ngài, và vì lời chứng của Ngài. Thiếu sự phán xét của Ngài về tâm tính bại hoại của con người, con người không thể nào biết được tâm tính công chính của Ngài, điều không được phép xúc phạm, và con người cũng sẽ không thể nào biến kiến thức cũ của họ về Đức Chúa Trời thành một kiến thức mới. Vì lời chứng của Ngài, và vì sự quản lý của Ngài, nên Ngài công khai toàn bộ về Ngài, do đó cho phép con người, thông qua sự xuất hiện công khai của Ngài, đạt được kiến thức về Đức Chúa Trời, được chuyển hóa trong tâm tính mình, và làm chứng vang dội cho Đức Chúa Trời. Sự chuyển hóa tâm tính con người đạt được thông qua nhiều loại công tác khác nhau của Đức Chúa Trời; nếu thiếu những thay đổi như vậy trong tâm tính mình, thì con người sẽ không thể làm chứng cho Đức Chúa Trời và hợp lòng Đức Chúa Trời được. Sự chuyển hóa trong tâm tính của con người biểu thị rằng con người đã tự giải thoát khỏi sự trói buộc của Sa-tan và khỏi ảnh hưởng của sự tối tăm, và đã thực sự trở thành một kiểu mẫu và hình mẫu cho công tác của Đức Chúa Trời, một chứng nhân của Đức Chúa Trời, và là người hợp lòng Đức Chúa Trời. Ngày nay, Đức Chúa Trời nhập thể đã đến để thực hiện công tác của Ngài trên đất, và Ngài đòi hỏi con người phải đạt được kiến thức về Ngài, vâng phục Ngài, làm chứng cho Ngài, để biết công tác thực tế và bình thường của Ngài, để vâng phục mọi lời phán và công tác của Ngài, những điều không phù hợp với các quan niệm của con người, và để làm chứng về mọi công tác Ngài thực hiện để cứu rỗi con người, cũng như mọi việc làm mà Ngài hoàn thành để chinh phục con người. Những người làm chứng cho Đức Chúa Trời phải có kiến thức về Đức Chúa Trời; chỉ có loại lời chứng này mới chính xác và thực tế, và chỉ có loại lời chứng này mới có thể khiến Sa-tan hổ thẹn” (“Chỉ những ai biết Đức Chúa Trời mới có thể làm chứng cho Đức Chúa Trời” trong Lời xuất hiện trong xác thịt). “Những ai có thể đứng vững trong công tác phán xét và hành phạt của Đức Chúa Trời trong những ngày sau rốt – nghĩa là, trong công tác thanh tẩy cuối cùng – sẽ là những người bước vào sự nghỉ ngơi cuối cùng bên cạnh Đức Chúa Trời; như thế, tất cả những ai bước vào sự nghỉ ngơi sẽ thoát khỏi ảnh hưởng của Sa-tan và được Đức Chúa Trời thu nhận sau khi trải qua công tác thanh tẩy cuối cùng của Ngài. Những người này, cuối cùng cũng đã được Đức Chúa Trời thu nhận, sẽ bước vào sự nghỉ ngơi cuối cùng. Mục đích chính yếu trong công tác hành phạt và phán xét của Đức Chúa Trời là thanh tẩy nhân loại và sửa soạn họ cho sự nghỉ ngơi cuối cùng; không có sự thanh tẩy như thế, thì không ai trong loài người có thể được phân chia theo loại thành các loại khác nhau hoặc bước vào sự nghỉ ngơi. Công tác này là con đường duy nhất của loài người để bước vào sự nghỉ ngơi” (“Đức Chúa Trời và con người sẽ cùng bước vào sự nghỉ ngơi” trong Lời xuất hiện trong xác thịt).

Bạn có mong muốn làm trinh nữ khôn ngoan lắng nghe tiếng Đức Chúa Trời để nghênh đón Chúa không

Nội dung liên quan

Liên hệ với chúng tôi qua Messenger