Suy ngẫm sau khi thất bại trong cuộc bầu chọn

30/01/2022

Bởi Lâm Tịnh, Trung Quốc

Sau khi tin Đức Chúa Trời vài năm, tôi được bầu làm lãnh đạo. Tôi hết lòng cảm tạ Đức Chúa Trời vì đã được trao một sứ mệnh to lớn như vậy và đã quyết tâm thực hiện tốt công tác của hội thánh. Tôi đã làm việc không biết ngừng nghỉ cả ngày lẫn đêm, và công tác của hội thánh đã ngày càng nở rộ nhờ sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời. Các anh chị em đã nhìn tôi với sự tôn trọng nhất định, thấy được khả năng hy sinh và dâng mình của tôi cho Đức Chúa Trời cũng như khả năng giải quyết một số vấn đề thực tế. Có lần trong một cuộc họp, tôi tình cờ nghe lãnh đạo nói phương pháp thực hiện bổn phận của tôi đã mang lại kết quả tốt, nên tôi đã rất phấn khích – điều này càng khiến tôi có động lực hơn. Trong các cuộc họp với các đồng sự, tôi đã kể hết các kinh nghiệm công tác của mình cho các anh chị em, và cảm thấy khá hài lòng với bản thân khi thấy vẻ tán đồng của họ. Tôi cảm thấy mình là một người tài không thể thiếu được trong hội thánh.

Khi công tác phúc âm được mở rộng, các anh chị em đã đề cử tôi đến khu vực phía nam để hỗ trợ cho các hội thánh mới thành lập ở đó. Tôi nhận ra rằng vì những hội thánh này mới được thành lập nên chắc chắn sẽ có một số khó khăn và vướng mắc trong công việc, vì vậy điều quan trọng đối với tôi là tập trung nhiều hơn vào công tác thực tế để không phụ sự hy vọng mà Đức Chúa Trời đã đặt vào tôi. Hơn nữa, tôi nghĩ nếu mình làm tốt, có thể sẽ được đào luyện cho một vị trí quan trọng hơn. Khi tôi đến đó, mặc dù có nhiều thách thức trong bổn phận về các khía cạnh như phương ngữ và lối sống, cũng như mất rất nhiều thời gian để đi lại, nhưng tôi không chùn bước. Ngày nào tôi cũng bận tổ chức các cuộc họp và sắp xếp công tác của hội thánh để cố gắng thực hiện tốt bổn phận của mình, thậm chí cũng phát bực vì phải “tốn” thời gian ăn uống – tôi chỉ chụp đại cái gì đó có thể ăn được trên xe buýt trên đường đi. Sau hơn một năm như vậy, đã có sự cải thiện đáng kể trong các khu vực tôi chịu trách nhiệm công tác, và chị Trương, người đến khu vực phía nam cùng chung với tôi lần đó, đã nói với tôi với vẻ ngưỡng mộ: “Anh thực sự đã đạt được một số kết quả tốt ở đó đấy. Công tác của tôi còn kém xa của anh”. Tôi đã an ủi và động viên chị ấy: “Đức Chúa Trời là Đấng chăm sóc công tác của chính Ngài. Miễn là nỗ lực hết mình, chúng ta sẽ thấy được sự tiến bộ về mọi mặt”. Ngoài miệng thì nói vậy, nhưng trong lòng tôi rất vui sướng. Vì kết quả công việc của tôi khá tốt, nên chị Tân, lãnh đạo của tôi, đã viết thư bảo tôi viết về kinh nghiệm công tác của mình cho người khác học hỏi. Tôi thậm chí còn trở nên tự mãn hơn, cảm thấy như thể mình đã trở thành một ứng viên được đào tạo cho các chức năng quan trọng hơn, và là một trong những trụ cột của hội thánh. Và rồi không lâu sau, chị Tân đã yêu cầu chúng tôi bầu chọn thêm một lãnh đạo khác để làm việc cùng chị ấy. Tôi cảm thấy rất phấn khích khi nghe tin này, nghĩ rằng vì mình đã làm việc ở vùng này hơn một năm rồi và đã làm khá tốt trong suốt thời gian qua, chắc chắn tôi sẽ giành được vị trí này.

Sau đó trong một cuộc họp vào nửa tháng sau, ngạc nhiên thay, chị Vương đã được chọn làm lãnh đạo. Khi nghe tin này, tôi cực kỳ thất vọng. Bất bình, bất mãn và oán trách – những cảm giác này bùng lên trong lòng tôi. Tôi nghĩ: “Sao lại là chị Vương được? Kết quả công việc của chị ấy chỉ tàm tạm. Sao người được chọn là chị ấy mà không phải là mình? Chẳng lẽ mình thật sự chưa trả giá đủ sao? Hay mình vẫn chưa đủ chủ động trong bổn phận? Mình đã nhiều lần làm việc đến nửa đêm để giải quyết các khó khăn và rắc rối phát sinh trong hội thánh, và thậm chí còn đi làm trong lúc bị bệnh không biết bao nhiêu lần. Mình không những chăm lo cho trách nhiệm của mình mà còn giúp đỡ cho công tác của các lãnh đạo khác. Sau khi chịu mọi khổ sở đó, nếu mình không được chọn làm lãnh đạo, vậy thì mình còn có tương lai gì? Nếu đã vậy, sao lại phải tiếp tục lao đầu vào thực hiện bổn phận chứ? Dù mình có chịu bao nhiêu khó khăn, trả giá thế nào, cũng đâu ai thèm để ý…”

Sau cuộc họp, chị Tân để ý thấy tôi có vẻ khá thất vọng, và đã hỏi tôi nghĩ gì. Tôi đã chia sẻ tình trạng của mình với chị. Chị Tân đã rất kiên nhẫn nói với tôi: “Thực tế ai cũng thấy anh đã lăn xả vào bổn phận như thế nào, nhưng hầu hết các anh chị em đã phản ánh rằng anh không tập trung vào lối vào sự sống, và khi có chuyện xảy ra, anh hầu như không chịu phản tỉnh và nhận thức bản thân để tự rút ra bài học. Thay vào đó, anh có khuynh hướng tự đề cao bản thân và thích thể hiện – đây là vấn đề lớn nhất của anh. Trong nhà Đức Chúa Trời, lẽ thật và công lý cầm quyền. Khi các anh chị em không chọn chúng ta, đó là sự công chính của Đức Chúa Trời và chúng ta nên tự kiểm điểm. Dù có thực hiện bổn phận gì, chúng ta cũng phải tuân theo sự sắp đặt và an bài của Đức Chúa Trời: chúng ta phải tập trung vào tìm kiếm lẽ thật trong môi trường mà Đức Chúa Trời đã sắp đặt, suy ngẫm về các tâm tính bại hoại của mình, tìm kiếm sự thay đổi trong tâm tính và thực hiện tốt bổn phận. Chỉ như vậy mới phù hợp với ý muốn của Đức Chúa Trời”. Chị Tân đã nói thẳng ra vấn đề của tôi, nhưng tôi lại hoàn toàn không hiểu về bản thân. Mặc dù không nói gì, nhưng tôi cũng lặng người tức giận. Tôi thừa nhận mình thiếu lối vào sự sống và không có khả năng tự nhận thức tốt, nhưng tôi cho rằng mình giỏi hơn nhiều so với những người chỉ nói về hiểu biết của họ mà không lăn xả vào bổn phận. Tôi cảm thấy họ đã coi thường tôi, nên dù tôi có làm việc chăm chỉ thế nào trong bổn phận thì phỏng có ích gì? Từ đó trở đi, tôi đã nuôi dưỡng loại tâm lý chống đối này, và hễ cứ khi nào chị Tân nhờ tôi giúp làm gì đó, tôi chỉ chọn làm những việc nhẹ, dễ làm, và trốn tránh những việc khó hoàn thành, việc đòi hỏi phải trả giá. Tôi không còn sẵn sàng chấp nhận khó khăn nữa. Tôi đã hả hê khi thấy chị Tân gặp khó khăn trong công tác của chị. Tôi nghĩ: “Giờ thì chị đã thấy được giá trị của tôi rồi đó”. Khi chị Vương, lãnh đạo mới được bầu chọn đến họp với chúng tôi, tôi chẳng ưa chút nào. Tôi thậm chí còn nghĩ: “Chẳng phải chị chỉ lớn hơn tôi có chút xíu thôi sao? Nhưng chị lại chẳng thể so được với tôi ở điểm nào, từ việc thông công về lẽ thật cho đến giải quyết các khó khăn và rắc rối của hội thánh”. Vì khao khát địa vị của tôi không được đáp ứng, lòng tôi đầy thành kiến và bất mãn với người lãnh đạo này; Tôi dự tính thực hiện bổn phận qua loa, với thái độ tiêu cực và chống đối.

Vào lúc đó, tôi thực sự như tê liệt và lòng nặng trĩu, và mặc dù chị lãnh đạo đó đã tỉa sửa và xử lý, cảnh báo cũng như đề nghị giúp đỡ tôi, Nhưng tôi vẫn không chịu tự kiểm điểm bản thân. Tôi đã duy trì kiểu trạng thái tiêu cực đó khoảng ba tháng cho đến khi bóng tối trong tâm hồn tôi ngày càng lớn dần. Mối thông công của tôi trở nên tẻ nhạt và khô khan. Tôi không có bất kỳ cái nhìn sâu sắc nào về vấn đề của người khác và không thể giúp họ giải quyết vấn đề. Việc này thật sự rất khó xử và mỗi cuộc họp đều không thể kết thúc sớm được. Tôi cũng không thể giúp những người truyền giáo giải quyết những vấn đề mà họ đang gặp phải, điều đó có nghĩa là tiến độ công tác phúc âm của chúng tôi bị chậm lại. Chẳng bao lâu sau tôi đã phải đối mặt với sự sửa dạy về sức khỏe. Một ngày nọ, tôi đột nhiên cảm thấy mệt và bủn rủn khắp người, không thể thở nổi một hơi, tôi ngất đi. Các anh chị em đã đưa tôi đến bệnh viện để điều trị. Nhưng tôi vẫn cứng đầu không chịu kiểm điểm bản thân và ăn năn, và cuối cùng tôi đã bị tước bỏ bổn phận vì không làm được chút công tác thực tế nào. Lãnh đạo đã sắp xếp cho tôi quay về quê nhà để thực hành thờ phượng và tự kiểm điểm. Khi nghe tin này tôi đã khóc nức nở trong cay đắng – Trong lòng tôi biết mình đã đánh mất công tác của Đức Thánh Linh, và việc đánh mất bổn phận chính là tâm tính công chính của Đức Chúa Trời đã giáng xuống tôi, nhưng nghĩ về việc mọi đồng sự đã đến phía nam cùng tôi giờ đều đã giữ các chức vụ quan trọng trong khi mình lại bị cho về nhà, tôi cảm thấy thật xấu hổ.

Vì trước đó vài năm tôi đã bị bắt và có tiền án ở đó, nên nếu về quê sẽ không an toàn cho tôi, vì vậy cuối cùng lãnh đạo đã gửi tôi đến nhà một người anh em sống ở khu vực miền núi xa xôi. Đêm nằm trên chiếc giường gỗ thô sơ nghĩ lại thời điểm mình đến phía nam để thực hiện bổn phận, lòng tràn đầy nhiệt huyết, quyết tâm thực hiện tốt bổn phận của hội thánh và được đề bạt lên vị trí cao. Nhưng thay vào đó, tôi đã bị tước bỏ bổn phận vì làm trì hoãn công tác của hội thánh. Nếu các anh chị em ở quê nhà mà biết thì họ sẽ nghĩ gì? Liệu họ có nói tôi đã bị loại bỏ vì bỏ bê bổn phận và không làm được công tác thực tế không? Chính suy nghĩ bị người khác coi thường vì bị mất chức đã khiến tôi rơi vào tình trạng hỗn loạn, và càng nghĩ về chuyện đó tôi lại càng đau khổ hơn. Thậm chí tôi còn nghĩ đến cái chết. Tôi đã cầu nguyện: “Lạy Đức Chúa Trời, con thật sự đang phải chịu khổ. Việc mất đi bổn phận làm lãnh đạo giống như chính mạng sống của con bị tước đi vậy. Con biết mình không nên theo đuổi địa vị, nhưng con lại không thể thoát khỏi xiềng xích của nó. Đức Chúa Trời ơi! Xin hãy dẫn dắt con để con có thể biết mình và hiểu được ý muốn của Ngài”. Sau khi cầu nguyện, tôi đã đọc được hai đoạn lời này của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời Toàn Năng phán: “Khi ngươi bước đi con đường của ngày hôm nay, dạng theo đuổi nào là thích hợp nhất? Trong sự theo đuổi của ngươi, ngươi phải thấy bản thân mình là loại người nào? Ngươi cần phải tìm hiểu cách tiếp cận tất cả những gì xảy đến với ngươi hôm nay, cho dù đó là những sự thử luyện hay gian khổ, hay hình phạt và sự rủa sả không thương tiếc. Đối mặt với tất cả những điều này, ngươi phải suy nghĩ kỹ về chúng trong mọi trường hợp. … Ngươi không biết thích nghi với môi trường, và ngươi càng không sẵn lòng cố gắng làm như vậy, bởi ngươi không sẵn lòng đạt được bất kỳ điều gì từ hình phạt lặp đi lặp lại – và đối với ngươi, là tàn nhẫn – như thế này. Ngươi không cố gắng tìm kiếm hay khám phá, và chỉ đơn giản phó mặc bản thân cho số phận, đi bất cứ nơi đâu nó dẫn dắt ngươi. Điều có thể dường như đối với ngươi là những việc sửa phạt gay gắt đã không thay đổi được lòng ngươi, cũng không chiếm được lòng ngươi; thay vào đó, chúng đâm vào tim ngươi. Ngươi xem ‘hình phạt tàn nhẫn’ này chỉ như kẻ thù của mình trong cuộc sống, và vì vậy, ngươi đã chẳng đạt được gì. Ngươi quá là tự nên công chính! Ngươi hiếm khi tin rằng mình chịu đựng những sự thử luyện như thế bởi vì tính đê tiện của bản thân ngươi; thay vào đó, ngươi xem như bản thân mình bất hạnh, và hơn nữa còn nói rằng Ta luôn vạch lá tìm sâu nơi ngươi. Và giờ thì mọi sự đã đến nước này, ngươi thật sự biết về những điều Ta phán và làm được bao nhiêu? Đừng nghĩ rằng ngươi là một thần đồng bẩm sinh, chỉ hơi thấp hơn các tầng trời nhưng cao hơn đất rất nhiều. Ngươi không thông minh hơn bất kỳ ai khác chút nào – và, thậm chí có thể nói rằng thật sự đáng nể phục khi ngươi ngớ ngẩn hơn bất kỳ người nào có lý trí trên đất, bởi ngươi nghĩ quá cao về bản thân mình, và chưa bao giờ có cảm giác thua kém, như thể ngươi có thể nhìn thấu những hành động của Ta đến tận chi tiết nhỏ nhất. Trên thực tế, ngươi là kẻ về cơ bản thiếu lý trí, bởi ngươi không biết Ta định làm gì, và ngươi càng không biết Ta đang làm gì lúc này. Và vì vậy, Ta phán rằng ngươi thậm chí không bằng một lão nông làm đồng, một nhà nông không có chút nhận thức nào dù là mờ nhạt nhất về cuộc sống con người và trông cậy hoàn toàn vào những phúc lành của Trời khi canh tác đất. Ngươi không dành một giây suy nghĩ về sự sống của mình, ngươi không biết gì về danh tiếng, càng không tự biết mình. Ngươi thật là ‘cao hơn hết thảy’!(Những ai không học hỏi và vẫn không biết gì: Chẳng phải họ là thú vật sao? Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). “Trong việc tìm kiếm của các ngươi, các ngươi có quá nhiều quan niệm cá nhân, hy vọng và tương lai. Công tác hiện tại là để xử lý những mong muốn về địa vị và những ham muốn vô độ của các ngươi. Hy vọng, địa vị và quan niệm là tất cả những biểu hiện điển hình của tâm tính Sa-tan. … Các ngươi khó mà đặt triển vọng và vận mệnh của mình sang một bên. Bây giờ các ngươi là những người đi theo, và các ngươi đã có được một số hiểu biết về giai đoạn công tác này. Tuy nhiên, các ngươi vẫn chưa đặt ham muốn địa vị của mình sang một bên. Khi các ngươi có địa vị cao thì các ngươi giỏi truy cầu, nhưng khi các ngươi có địa vị thấp thì các ngươi không còn truy cầu nữa. Các phước lành về địa vị luôn luôn ở trong tâm trí các ngươi. Tại sao phần lớn mọi người không thể bỏ tính tiêu cực? Chẳng lẽ đáp án lúc nào cũng bởi vì những triển vọng ảm đạm sao? … Ngươi càng tìm kiếm theo cách này, ngươi gặt hái càng ít. Một người càng khao khát địa vị, họ sẽ càng bị xử lý nghiêm khắc hơn và họ sẽ càng phải trải qua sự tinh luyện lớn lao. Những người như thế thật vô giá trị! Họ phải bị xử lý và phán xét một cách thích đáng để họ hoàn toàn buông bỏ những điều này. Nếu các ngươi theo đuổi cách này cho đến cuối cùng, thì các ngươi sẽ không gặt hái được gì. Những ai không theo đuổi sự sống thì không thể được chuyển hóa, và những ai không khao khát lẽ thật thì không thể có được lẽ thật. Ngươi không tập trung vào việc theo đuổi sự chuyển hóa và lối vào cá nhân, mà thay vào đó lại tập trung vào những ham muốn vô độ và những thứ kìm hãm tình yêu của ngươi dành cho Đức Chúa Trời và ngăn cản ngươi đến gần Ngài. Những điều đó có thể chuyển hóa ngươi không? Chúng có thể đem ngươi vào vương quốc không?(Tại sao ngươi không sẵn sàng là một vật làm nền? Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). Những lời phán xét của Đức Chúa Trời đã xuyên thẳng vào tìm tôi và vạch trần tình trạng của tôi. Nhớ lại cái thời sau khi tôi được bầu làm lãnh đạo và có được chút thành công trong công việc, tôi đã nghĩ mình có gì đó đặc biệt và là một trong những trụ cột của hội thánh. Tôi đã luôn trông chờ đến ngày mà mình sẽ có cơ hội để leo cao hơn, lãnh đạo nhiều hội thánh hơn và thậm chí được nhiều anh chị em ngưỡng mộ hơn. Khi không có được danh vọng và địa vị mình muốn, tôi đã không chịu tự kiểm điểm, mà lại còn bất mãn, chìm đắm trong giận dữ, cảm thấy như thể mọi nỗ lực của mình đã đổ sông đổ biển. Tôi đã bị sửa dạy bởi bệnh tật, nhưng tôi vẫn vô cảm, cứng đầu và không chịu hướng về phía Đức Chúa Trời. Tôi cứ tiếp tục buồn bã sau khi đã bị tước bổn phận. Tôi đã bị tham vọng, khao khát địa vị làm cho hoa mắt – nó đã làm vấy bẩn lương tâm của tôi và tôi đã đánh mất hết nhân tính, lý trí bình thường. Những người nông dân dựa vào Trời khi canh tác đất đai cũng biết an phận và họ phục tùng ý Trời, nhưng tôi lại hoàn toàn thiếu nhận thức về bản thân và không thể ngoan ngoãn đảm nhận vị trí đó cũng như thực hiện bổn phận. Thay vào đó, tôi luôn muốn bước ra ngoài ranh giới mà Đức Chúa Trời đã vạch ra cho tôi và theo đuổi địa vị, để trở thành một lãnh đạo vĩ đại hơn, cũng như đạt được tham vọng và khao khát có được sự ngưỡng mộ của người khác. Chẳng phải đó chính là bản tính của tổng lãnh thiên thần sao? Khi Đức Chúa Jesus giáng thế để công tác, Ngài đã khiêm nhường và ẩn mình, cũng như không bao giờ đòi hỏi địa vị mà Ngài có thể có. Ngài dùng bữa tối với các tội nhân và quỳ xuống rửa chân cho các môn đồ. Và hôm nay Đức Chúa Trời một lần nữa trở nên xác thịt, đến công tác trên đất, nhưng Ngài chưa bao giờ gọi mình là Đức Chúa Trời hay bắt con người phải thờ phượng Ngài. Thay vào đó, Ngài bày tỏ lẽ thật một cách lặng lẽ, không phô trương và cung cấp dưỡng chất cho sự sống của con người. Còn tôi thì thèm khát được mọi người ngưỡng mộ vì đã hoàn thành được chút công tác. Tôi thậm chí còn tự tin rằng mình giỏi hơn những người còn lại và vị trí lãnh đạo đó chắc chắn sẽ là của mình. Tôi đã cực kỳ bất bình khi mình không phải là người được lựa chọn; tôi trở nên tiêu cực và chống đối. Tôi kiêu ngạo đến nỗi mất hết lý trí – thật đáng xấu hổ! Hành vi của tôi không phải là đang cạnh tranh với người khác, mà là đang cạnh tranh với Đức Chúa Trời. Tôi đã trực tiếp chống đối Đức Chúa Trời, và từ lâu đã xúc phạm tâm tính của Ngài. Bị tước bổn phận chính là sự phán xét công chính của Đức Chúa Trời đối với tôi, và đó là để xử lý sự thèm khát địa vị của tôi, nếu không trái tim vô cảm của tôi sẽ không thức tỉnh.

Sau đó tôi đã đọc được hai đoạn lời này của Đức Chúa Trời. “Ta sẽ bắt những ai chọc giận Ta phải chịu sự trừng phạt của Ta, Ta sẽ trút toàn bộ cơn nóng giận của Ta lên những con thú đã từng muốn đứng ngang hàng bên Ta nhưng không thờ phượng hay vâng lời Ta; cây gậy Ta dùng để đánh con người sẽ giáng xuống những con vật từng vui hưởng sự chăm sóc của Ta và đã từng vui hưởng những lẽ mầu nhiệm Ta phán, và những con vật đã từng đã cố lấy những thú vui vật chất từ Ta. Ta sẽ không tha thứ cho ai cố chiếm lấy vị trí của Ta; Ta sẽ không tha cho bất kỳ ai cố moi cái ăn, cái mặc từ Ta. Hiện giờ, các ngươi vẫn chưa bị tổn hại gì và tiếp tục đi quá xa trong những đòi hỏi các ngươi đặt ra cho Ta. Khi ngày thạnh nộ đến, các ngươi sẽ không đưa ra yêu cầu nào với Ta nữa; lúc đó, Ta sẽ để các ngươi ‘tận hưởng’ cho vừa lòng các ngươi, Ta sẽ dìm mặt các ngươi xuống đất và các ngươi sẽ không bao giờ ngóc cổ dậy được nữa!(Có một tâm tính không thay đổi là thù nghịch với Đức Chúa Trời, Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). “Sau khi lãnh đạo một vài hội thánh, một số người trở nên kiêu ngạo, họ nghĩ rằng nhà Đức Chúa Trời không thể làm gì nếu không có họ, rằng họ nên được hưởng sự đối xử đặc biệt từ Đức Chúa Trời. Trên thực tế, địa vị của họ càng cao thì họ đòi hỏi Đức Chúa Trời càng nhiều; họ càng hiểu về các học thuyết thì đòi hỏi của họ càng ngấm ngầm và lén lút. Tuy không nói ra miệng, nhưng họ giấu kín điều đó trong lòng và người khác không dễ gì phát hiện ra. Rất có thể, sẽ có lúc những phàn nàn và sự phản kháng của họ bùng phát, và điều đó thậm chí còn rắc rối hơn. Tại sao con người càng là lãnh đạo và nhân vật tôn giáo thì họ càng là kẻ địch lại Đấng Christ nguy hiểm? Bởi vì địa vị của con người càng lớn thì tham vọng của họ càng lớn; họ càng hiểu về các học thuyết thì tâm tính của họ càng trở nên kiêu ngạo. Nếu trong niềm tin của ngươi vào Đức Chúa Trời, ngươi không mưu cầu lẽ thật, mà thay vào đó mưu cầu địa vị, thì ngươi đang gặp nguy hiểm(“Mọi người đòi hỏi Đức Chúa Trời quá nhiều” trong Ghi chép về những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt). Đọc những lời này của Đức Chúa Trời cho tôi thấy bản chất và hậu quả của việc theo đuổi địa vị, khiến tôi run lên vì sợ hãi. Khi đạt được gì đó trong bổn phận và đảm nhận công việc của một vài hội thánh, tôi đã quên mất vị trí của mình, thậm chí còn trơ tráo ham muốn thanh thế lớn hơn, hy vọng sẽ được quản lý nhiều người hơn, được nhiều người đi theo cũng như ngưỡng mộ hơn. Về bản chất, đó chính là tôi đang cố cướp lấy những người được Đức Chúa Trời lựa chọn từ tay Ngài và đã xúc phạm tâm tính của Ngài. Điều này khiến tôi nhớ về Thời đại Luật pháp, khi bè lũ Korah và Dathan không tuân theo sự lãnh đạo của Moses và cố chiếm lấy vị trí của ông; Đức Chúa Trời đã làm cho mặt đất bị chia cắt và chúng hoàn toàn bị nuốt chửng. Rồi vào Thời đại Ân điển, khi những người Pha-ri-si do thái, thầy thông giáo và thầy tế lễ cả đã đi khắp chân trời góc bể để chiêu mộ từng đạo hữu một, nhưng khi Đức Chúa Jesus đến để thực hiện công tác cứu chuộc, họ đã cố hết sức để bảo vệ địa vị của mình, chống đối và lên án Đức Chúa Jesus. Cuối cùng, họ đã đóng đinh Ngài lên thập tự giá và bị Đức Chúa Trời rủa sả. Nghĩ kỹ lại những điều này đã giúp tôi nhận ra việc theo đuổi địa vị là đi trên con đường chống đối với Đức Chúa Trời – đó là con đường dẫn đến địa ngục và sự hủy diệt. Lúc đó, tôi đã quỳ xuống đất và khóc lóc thảm thiết cầu nguyện: “Lạy Đức Chúa Trời! Con không muốn biến mình thành kẻ thù của Ngài lâu hơn nữa, mà con chỉ muốn tự kiểm điểm và có thể thực sự ăn năn. Dù Ngài có sắp xếp con vào loại môi trường nào, con chỉ muốn chấp nhận vị trí của một loài thọ tạo và vâng phục Ngài”.

Sau đó tôi bắt đầu thực hiện bổn phận tốt nhất có thể. Anh chủ nhà đã đưa tôi đến chỗ một số người thân của anh để tôi chia sẻ phúc âm cho họ, và họ đã hỏi tôi rất nhiều câu hỏi trong suốt thời gian tôi ở đó, nhưng tôi không có nhiều hiểu biết về các lẽ thật liên quan. Nhận ra mình thiếu hiểu biết quá nhiều khiến tôi rất xấu hổ. Tôi từng hoàn thành được một số việc và gặt được chút thành quả trong quá khứ, nên đã bắt đầu coi thường mọi người, nghĩ rằng mình sẽ được đào luyện cho những vị trí quan trọng hơn. Nhưng rồi tôi nhận ra mình không hề hiểu chút gì về bản thân. Điều quan trọng nhất đối với một lãnh đạo là phải hiểu biết về lẽ thật; các lãnh đạo phải dùng lẽ thật để giải quyết vấn đề, nhưng tôi thậm chí còn không thể thông công rõ ràng về các khía cạnh cơ bản nhất của lẽ thật để chia sẻ phúc âm. Vậy mà tôi cứ luôn đòi tranh chức lãnh đạo – thật là ngớ ngẩn! Khi đối mặt với các khó khăn và rắc rối của các anh chị em, tôi từng chỉ nói về các lý thuyết cao xa và khích lệ họ một chút, nhưng tôi chưa từng giúp họ giải quyết các thách thức thực tế trong lối vào sự sống của họ. Tôi nhận ra nếu không có lẽ thật, người ta sẽ không thể làm công tác thực tế dù cho họ có địa vị cao đến đâu. Cuối cùng họ sẽ chỉ làm trì hoãn công tác của hội thánh và gây hại cho đời sống của các anh chị em mà thôi. Tôi cũng cảm thấy rằng Đức Chúa Trời đã sắp đặt cho tôi ở đó để truyền bá phúc âm và dẫn dắt những người mới nhập đạo để tôi có thể trang bị lẽ thật cho mình tốt hơn. Đây là cách để bù đắp cho những thiếu sót của tôi. Một khi đã hiểu được ý muốn của Đức Chúa Trời, tôi đã vui vẻ vâng phục và thực hiện tốt bổn phận trong môi trường đó, và để thực hành việc bước vào lẽ thật. Sau một thời gian làm việc chăm chỉ, tôi đã trang bị cho mình đủ mọi lẽ thật trong khía cạnh về khải tượng, và công tác phúc âm ở địa phương đó cũng dần trở nên sôi động hơn. Mỗi ngày tôi đều ăn, uống lời Đức Chúa Trời và hát thánh ca để ngợi khen Ngài cùng với các tín hữu. Tôi cảm thấy rất thỏa nguyện và từ tận đáy lòng tôi tạ ơn Đức Chúa Trời vì ân điển và lòng thương xót của Ngài.

Ba năm ở khu vực miền núi đó trôi qua trong chớp mắt. Rồi một ngày, tôi đang trên đường đi họp nhóm về thì trời bắt đầu mưa xối xả – mưa to và gió rất lớn, và tôi thậm chí còn không đẩy nổi xe đạp. Lúc đi bộ dọc theo con đường núi gập ghềnh đó, trời mưa to đến nỗi tôi thậm chí không mở mắt nổi, và tôi nhận ra việc chia sẻ phúc âm ở miền núi quả thật vất vả. Tôi đã thực hiện bổn phận ở đó được gần ba năm và đã rút ra được vài bài học, vậy tại sao tôi vẫn chưa được điều chuyển đến nơi khác? Khi các anh chị em khác bị tước bỏ bổn phận, họ tự kiểm điểm và biết được các tâm tính bại hoại của mình, sau đó ăn năn và có chút thay đổi, họ sẽ lại được làm lãnh đạo. Trong suốt thời gian đó tôi đã tự kiểm điểm nhưng thậm chí vẫn không được dẫn dắt một nhóm nhỏ nào. Tôi đã đạt được chút hiểu biết về bản thân, và với thái độ đối đối với bổn phận cũng như lẽ thật mà tôi đã lĩnh hội, tôi thấy ít nhất mình cũng có thể dẫn dắt một hội thánh. Vậy thì tại sao tôi vẫn chưa được điều chuyển? Chẳng lẽ tôi cứ tiếp tục phải rao giảng phúc âm ở vùng miền núi này mãi sao? Suy nghĩ này phần nào khiến tâm trạng tôi chùng xuống. Khi về đến nhà, tôi nhận ra trong suốt quãng đường trở về nhà tôi đã thể hiện sự bất bình và hiểu lầm cá nhân, và một lần nữa lòng tôi lại tôn thờ danh vọng. Tôi đã kêu cầu Đức Chúa Trời che chở lòng tôi để có thể yên lặng trước Ngài.

Ngay sau đó, tôi đã đọc được hai đoạn lời này của Đức Chúa Trời: “Vấn đề lớn nhất đối với con người chính là họ không nghĩ đến điều gì ngoài số phận và triển vọng của họ, và thần tượng những điều này. Con người theo đuổi Đức Chúa Trời vì số phận và triển vọng của họ; họ không thờ phượng Đức Chúa Trời bởi vì tình yêu của họ dành cho Ngài. Và vì thế, trong sự chinh phục con người, tất cả sự ích kỷ, tham lam của con người và những gì cản trở nhiều nhất việc thờ phượng Đức Chúa Trời của họ đều phải bị xử lý và từ đó bị loại bỏ. Làm như vậy sẽ đạt được hiệu quả trong việc chinh phục con người. Do đó, trong những giai đoạn đầu tiên của sự chinh phục con người thì cần phải thanh lọc những tham vọng ngông cuồng và những điểm yếu chí tử nhất của con người, và qua việc này, để tỏ lộ tình yêu của con người dành cho Đức Chúa Trời, và thay đổi sự hiểu biết của họ về đời sống con người, quan điểm của họ về Đức Chúa Trời, và ý nghĩa sự tồn tại của họ. Bằng cách này, tình yêu của con người dành cho Đức Chúa Trời được thanh sạch, có nghĩa là, lòng người đã được chinh phục(Khôi phục lại đời sống bình thường của con người và đưa họ đến một đích đến tuyệt vời, Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). “Đức Chúa Trời tạo ra một hoàn cảnh cho ngươi, buộc ngươi được tinh luyện ở đó hầu cho ngươi có thể biết sự bại hoại của chính mình. Sau hết, ngươi đạt tới mức mà ngươi thà chết và từ bỏ những ý đồ và khao khát của mình, quy phục quyền tối thượng và sự sắp xếp của Đức Chúa Trời. Vì lẽ ấy, nếu con người không có vài năm tinh luyện, nếu họ không chịu đựng một mức độ đau khổ nhất định, họ sẽ không thể giải thoát bản thân khỏi cảnh nô lệ cho sự bại hoại của xác thịt trong tư tưởng và tâm linh của họ. Trong bất kỳ phương diện nào mà ngươi vẫn chịu cảnh nô lệ cho Sa-tan, và trong bất kỳ phương diện nào mà ngươi vẫn còn những khao khát và đòi hỏi của riêng mình, thì đây là những phương diện mà ngươi phải chịu khổ. Chỉ thông qua sự đau khổ thì mới có thể học được bài học, nghĩa là có thể có được lẽ thật, và hiểu ý muốn của Đức Chúa Trời(“Làm sao để thỏa lòng Đức Chúa Trời giữa những sự thử luyện” trong Ghi chép về những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt). Bằng cách đọc lời Đức Chúa Trời, tôi nhận ra rằng sau khi bị Sa-tan làm cho bại hoại, mọi người đều sẽ sống bằng các chất độc của nó, những thứ kiểu như: “Trên trời dưới đất, ta là bá chủ”, “Người vươn đến tầm cao, nước chảy về chốn thấp”, “Người cần thể diện cũng như cây cần vỏ cây”, “người tranh khẩu khí, Phật tranh nén hương”, vân vân. Tôi đã sống bằng những chất độc sa-tan này, chạy theo danh vọng và địa vị. Khi có được sự ngưỡng mộ của các anh chị em, tôi lại tràn đầy động lực để làm việc. Nhưng khi thấy ai đó vượt qua mình, khi địa vị bị tổn hại, tôi trở nên ganh tị và bất phục. Khi mất chức, tôi tỏ ra tiêu cực, chống đối và thậm chí không thực hiện bổn phận. Tôi không thèm nghĩ cho lợi ích của nhà Đức Chúa Trời. Làm thế thì làm gì có chút lương tâm và lý trí nào chứ? Chất độc của Sa-tan đã ăn sâu vào tôi. Đức Chúa Trời cứu rỗi con người thông qua phán xét, hành phạt, tỉa sửa, xử lý, thử luyện và tinh luyện họ; theo cách này, những suy nghĩ, quan điểm, và mục tiêu theo đuổi sai lầm của họ có thể được thay đổi, làm thay đổi các tâm tính Sa-tan của họ. Sau đó họ không còn sống bởi các chất độc Sa-tan và có thể yêu thương và tuân phục Đức Chúa Trời, cũng như có thể được Đức Chúa Trời thu phục. Đây là mục đích của công tác của Đức Chúa Trời trong nhân loại. Đức Chúa Trời đã sắp đặt tôi ở vùng núi khắc nghiệt này, nơi tôi không có cơ hội để tạo danh tiếng cho bản thân để vạch trần và xử lý tham vọng trong lòng tôi. Đó là để làm tinh sạch tâm tính sa-tan của tôi và giúp tôi có thể sống trọn hình tượng con người, để tôi có thể kiên định thực hiện bổn phận của một loài thọ tạo, và thực sự thờ phượng cũng như tuân phục Đức Chúa Trời. Nhận ra điều này khiến tôi vô cùng biết ơn Đức Chúa Trời và trước mặt Ngài, tôi đặt ra quyết tâm theo đuổi lẽ thật thật tốt, và không bao giờ theo đuổi danh lợi, những thứ hoàn toàn vô giá trị nữa.

Sau đó, khi những chuyện như vậy xảy ra, đôi lúc tôi vẫn thấy mình nghĩ về danh lợi, nhưng tôi có thể tìm kiếm lẽ thật và xoay chuyển tình trạng của mình. Tôi nhớ có lần, hội thánh đã chỉ định tôi tham gia quay một video phúc âm. Tôi đã rất phấn khích và cảm thấy rất vinh dự khi có cơ hội được tham gia bộ phim, và để làm chứng cho công tác của Đức Chúa Trời trong thời kỳ sau rốt. Nhưng cùng lúc đó, khao khát được nổi bật giữa đám đông của tôi bắt đầu trỗi dậy. Tôi nghĩ rằng các anh chị em khác chắc chắn sẽ ngưỡng mộ mình nếu họ thấy tôi diễn trong bộ phim phúc âm đó. Nhưng khi tôi đến đó, ngạc nhiên thay, lãnh đạo đã nói với tôi: “Lúc này thực sự đang rất bận. Anh hãy cùng người anh em đang làm bổn phận tiếp đón mọi người chuẩn bị bữa ăn, và lo luôn cả việc dọn dẹp nhé”. Tôi thực sự cảm thấy bực bội, chống đối. Tôi nghĩ bổn phận tiếp đãi mọi người là việc mà bất kỳ anh chị em nào trong hội thánh cũng có thể làm được – tại sao lại là tôi? Hơn nữa, tôi đã từng là lãnh đạo ở cả hai miền bắc và nam. Tôi không thể có được vị trí lãnh đạo nào, thì cũng nên có một bổn phận phù hợp chứ? Ngạc nhiên thay, tôi cảm thấy như thể những người khác hẳn đã nghĩ tôi là kẻ tầm thường nên mới bắt tôi làm những kiểu công việc lặt vặt đó. Chẳng phải điều đó là phí phạm tài năng của tôi hay sao? Điều này khiến tôi cực kỳ thất vọng, nhưng dựa trên kinh nghiệm trước đó, tôi biết mình nên vâng phục. Tôi miễn cưỡng chấp nhận bổn phận. Các anh chị em khác từng người một lần lượt đến để quay phim, và tôi thấy nhiều người trong số họ ở quê tôi cũng đóng trong bộ phim đó, trong khi tôi đang phải đeo tạp dề, nấu ăn cho họ và quét nhà. Tôi cảm thấy rất xấu hổ. Lúc tôi đang buồn thì một cậu em đã nhìn thấy tôi và nói với tôi một cách ấm áp: “Khi anh còn là lãnh đạo, phụ trách công tác của hội thánh chúng ta. Hồi đó em không hiểu gì, nhưng lại thích đi họp nhóm. Các buổi họp anh từng tổ chức cho tụi em rất hữu ích cho em”. Câu nói hoàn toàn bình thường này của cậu ấy làm tôi cảm thấy rất chói tai – tôi thấy như thể cậu ấy đang chế giễu tôi. Mặt tôi bắt đầu đỏ lên và tôi chỉ muốn tìm một cái lỗ để chui vào. Một lần khác khi các anh chị em thu dọn đồ đạc để kết thúc buổi quay rất trễ, lãnh đạo nói việc quay phim sẽ lại bắt đầu vào sáng sớm mai. Anh bảo tôi phải làm thêm giờ để dọn sạch các phòng. Nghe vậy tôi cảm thấy rất khó chịu và nghĩ: “Mọi người ai cũng mệt và đều được nghỉ ngơi, vậy mà mình vẫn phải dọn dẹp trong đêm khuya, như thể mình là người hầu vậy”. Tôi cảm thấy rất bất mãn khi thấy những người khác được nghỉ ngơi sau một ngày làm việc mệt nhọc và đều đã ngủ, trong khi tôi vẫn phải đang dọn dẹp. Tôi rất đau lòng, như thể mình là một lao động không có tay nghề, không có chút phẩm giá nào và tốt hơn là nên đi chia sẻ phúc âm ở miền núi, nơi mà ít nhất các tín hữu mới cũng thích mối thông công của tôi và lòng tự hào của tôi có thể được thỏa mãn. Ở đây tôi chẳng có được điều đó. Sau đó, vì trạng thái của tôi không đúng mực nên tôi đã làm đồ ăn trong tình trạng u mê, khiến mọi bữa ăn đều mặn, đắng hoặc quá nhạt và vô vị. Nhưng không ai nói gì cả – họ cứ thế mà ăn như bình thường. Tôi cảm thấy rất tội lỗi – sao mình có thể nấu ăn như vậy được chứ? Sao họ có thể ăn thứ đó được? Đúng lúc đó, tôi chợt có một suy nghĩ rất rõ ràng: Chẳng phải mình chỉ làm cho có vì khao khát địa vị của mình không được đáp ứng, nên mình không dụng tâm hay sao? Tôi đã suy nghĩ về điều này và tự kiểm điểm bản thân. Tôi nhận ra đúng là như vậy. Tôi đã cảm thấy muốn chống đối và bất mãn, vì cảm thấy mình bị mất giá và không có chút uy thế nào. Tôi vẫn còn thờ phượng địa vị.

Lúc đó, tôi đã đọc được hai đoạn lời của Đức Chúa Trời. “Trong quá khứ, Phi-e-rơ đã bị đóng đinh vào thập tự ngược đầu vì Đức Chúa Trời; nhưng cuối cùng, ngươi nên đáp ứng Đức Chúa Trời, và dốc hết nghị lực vì Ngài. Một loài thọ tạo có thể làm gì đại diện cho Đức Chúa Trời? Vì lẽ ấy, ngươi nên dâng bản thân mình cho Đức Chúa Trời, thà sớm còn hơn muộn, để Ngài sắp đặt ngươi như Ngài mong muốn. Miễn sao điều đó làm Đức Chúa Trời vui và hài lòng, thì hãy để Ngài làm theo ý muốn của Ngài với ngươi. Con người có quyền gì mà nói lời than oán chứ?(“Chương 41” của Diễn giải những mầu nhiệm của lời Đức Chúa Trời với toàn vũ trụ trong Lời xuất hiện trong xác thịt). “Thế khi Ta phán xét các ngươi như vậy ngày hôm nay, mức độ hiểu biết của các ngươi cuối cùng sẽ là bao nhiêu? Các ngươi sẽ nói rằng mặc dù địa vị của các ngươi không cao, nhưng dù sao các ngươi cũng hưởng được sự nâng lên của Đức Chúa Trời. Bởi vì các ngươi có thân phận thấp hèn nên các ngươi không có địa vị, tuy nhiên các ngươi có được địa vị vì Đức Chúa Trời nâng các ngươi lên – đây là điều Ngài đã ban cho các ngươi. … Đây là cách các ngươi nên cầu nguyện: ‘Lạy Đức Chúa Trời! Dù con có địa vị hay không, giờ đây con hiểu bản thân mình. Nếu địa vị của con cao thì đó là bởi sự nâng lên của Ngài, và nếu nó thấp thì đó là bởi sự định đoạt của Ngài. Mọi thứ đều ở trong tay Ngài. Con không có bất kỳ sự lựa chọn nào, và cũng không có bất kỳ sự phàn nàn nào. Ngài đã định đoạt rằng con sẽ được sinh ra trong đất nước này và giữa dân tộc này, và tất cả những gì con nên làm là hoàn toàn tuân phục dưới sự thống trị của Ngài bởi vì mọi thứ đều nằm trong những điều Ngài đã định đoạt. Con không suy nghĩ về địa vị; xét cho cùng, con chỉ là một vật thọ tạo. Nếu Ngài đặt con vào vực sâu không đáy, vào hồ lửa và diêm sinh, thì con không là gì ngoài một vật thọ tạo. Nếu Ngài sử dụng con, thì con là một vật thọ tạo. Nếu Ngài hoàn thiện con, thì con vẫn là một vật thọ tạo. Nếu Ngài không hoàn thiện con, thì con sẽ vẫn yêu mến Ngài bởi vì con không hơn gì một vật thọ tạo. Con không gì hơn là một sinh vật cực nhỏ được tạo ra bởi Đấng Tạo Hóa của muôn loài thọ tạo, chỉ là một người trong số tất cả những người được tạo ra. Chính Ngài đã tạo ra con, và giờ đây một lần nữa Ngài lại đặt con trong tay Ngài để Ngài tùy ý sử dụng. Con sẵn sàng làm công cụ của Ngài và vật làm nền của Ngài bởi vì mọi thứ đều là những điều Ngài đã định đoạt. Không ai có thể thay đổi nó. Muôn vật và mọi sự đều trong tay Ngài’. Đến khi ngươi không còn suy nghĩ về địa vị nữa, thì ngươi sẽ thoát khỏi nó. Chỉ sau đó ngươi mới có thể tìm kiếm một cách tự tin và dạn dĩ, và chỉ sau đó lòng ngươi mới có thể thoát khỏi bất kỳ sự ràng buộc nào. Một khi con người đã được giải thoát khỏi những điều này, thì họ sẽ không còn những mối bận tâm nữa(Tại sao ngươi không sẵn sàng là một vật làm nền? Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). Khi tôi nghiền ngẫm lời Đức Chúa Trời, lòng tôi chợt bừng sáng. Những gì Phi-e-rơ theo đuổi là thực hiện bổn phận của một loài thọ tạo; Ông tìm cách yêu kính và làm hài lòng Đức Chúa Trời. Ông hoàn toàn vâng phục Đức Chúa Trời, và nghe theo sự sắp đặt của Ngài. Cuối cùng, ông thậm chí còn bị đóng đinh, làm nhân chứng vang dội cho Đức Chúa Trời. Đối với tôi, Đức Chúa Trời đã làm rất nhiều việc trong tôi, và ý muốn của Ngài là tôi phải ở yên vị trí của mình, làm một loài thọ tạo biết vâng phục, theo đuổi lẽ thật và thực hiện tốt bổn phận, loại bỏ tâm tính sa-tan bại hoại và thực sự vâng phục Đức Chúa Trời. Đây là điều mà một loài thọ tạo nên theo đuổi.

Vị lãnh đạo đã sắp đặt cho tôi làm những công việc vặt đó vì đó là việc cần phải làm, nên đó là điều mà tôi nên làm. Việc này cũng giống như trong nhà có trẻ em nên phải làm đồ ăn và dọn dẹp – đó đều là những công việc nội trợ, không có địa vị cao hay thấp gì hết. Vậy mà tôi lại xem thường bổn phận đó, cảm thấy như mình đang bị hạ cấp, và danh dự cũng như thanh thế của mình đã bị tổn hại. Tôi đã thấy bực bội và bất bình, hoàn toàn thiếu sự vâng phục. Tôi thật không có lương tâm và lý trí! Những suy nghĩ đó khiến tôi thấy rất hối tiếc và ghê tởm bản thân. Tôi đã cầu nguyện và thú tội với Đức Chúa Trời, sẵn lòng vâng phục và thực hiện tốt bổn phận. Sau đó đang nấu ăn, tôi lại chủ động vào bếp thái rau và rửa chén, vừa làm vừa suy ngẫm về lời Đức Chúa Trời. Tôi cảm thấy tâm hồn mình bình an và hạnh phúc. Và khi làm việc dọn dẹp, tôi không còn cảm thấy đau buồn nữa, mà thậm chí còn gần gũi với Đức Chúa Trời hơn. Tôi đã có thể cởi mở và chân thành với các anh chị em, đồng thời chia sẻ với họ những gì mình học được từ bổn phận của mình. Từ tận đáy lòng tôi cảm thấy đó là cách duy nhất để sống giống được chút hình tượng con người.

Trải qua tất cả những chuyện này đã dạy cho tôi một điều sâu sắc rằng sự phán xét và hình phạt của Đức Chúa Trời đối với tôi chính là sự cứu rỗi của Ngài dành cho tôi: Đó đều là tình yêu. Chính sự phán xét và hình phạt đã thay đổi quan điểm và mưu cầu sai lầm của tôi, cho phép tôi được tinh sạch phần nào tâm tính sa-tan của mình. Việc tôi có thể kiên định thực hiện bổn phận trong nhà Đức Chúa Trời hôm nay hoàn toàn là nhờ sự phán xét và hình phạt của Đức Chúa Trời dành cho tôi. Tạ ơn Đức Chúa Trời Toàn Năng!

Hồi chuông thời sau hết báo động đã vang lên, đại thảm họa đã ập xuống, bạn có muốn cùng gia đình nghênh đón được Thiên Chúa, và có cơ hội nhận được sự che chở của Thiên Chúa không?

Nội dung liên quan

Sống trước mặt Đức Chúa Trời

Bởi Vĩnh Tùy, Hàn Quốc Đức Chúa Trời Toàn Năng phán: “Để bước vào hiện thực, người ta phải hướng mọi thứ về đời sống thực. Nếu người ta khi...

Leave a Reply

Liên hệ với chúng tôi qua Messenger