Sự ăn năn của một kẻ giả hình

18/01/2021

Bởi Tâm Duệ, Hàn Quốc

Đức Chúa Trời Toàn Năng phán: “Phụng sự Đức Chúa Trời không phải là nhiệm vụ đơn giản. Những người có tâm tính bại hoại vẫn không thay đổi không bao giờ có thể phụng sự Đức Chúa Trời. Nếu tâm tính của ngươi chưa bị phán xét và hành phạt bởi lời Đức Chúa Trời, thì tâm tính của ngươi vẫn còn đại diện cho Sa-tan, điều chứng tỏ rằng ngươi phụng sự cho Đức Chúa Trời bởi những ý định tốt của riêng mình, rằng việc phụng sự của ngươi dựa trên bản tính Sa-tan của ngươi. Ngươi phụng sự Đức Chúa Trời với tính cách tự nhiên của ngươi, và theo những sở thích cá nhân của ngươi. Hơn nữa, ngươi luôn nghĩ rằng những điều ngươi sẵn lòng làm là những điều làm vui lòng Đức Chúa Trời, và những điều ngươi không muốn làm là những điều Đức Chúa Trời ghét; ngươi làm việc hoàn toàn theo những sở thích của riêng mình. Đây có thể được gọi là phụng sự Đức Chúa Trời không? Cuối cùng, sẽ không có chút thay đổi nào trong tâm tính sống của ngươi; thay vào đó, việc phụng sự của ngươi sẽ khiến ngươi càng ngang bướng hơn, từ đó làm ăn sâu tâm tính bại hoại của ngươi, và như vậy, trong ngươi sẽ hình thành những quy tắc về việc phụng sự Đức Chúa Trời mà chủ yếu dựa trên tính cách của bản thân ngươi, và những kinh nghiệm phát xuất từ việc phụng sự của ngươi theo tâm tính của bản thân ngươi. Đây là những kinh nghiệm và bài học của con người. Nó là triết lý sống trên thế gian của con người. Những người như thế này có thể được xếp vào loại những người Pha-ri-si và các chức sắc tôn giáo. Nếu họ không bao giờ thức tỉnh và ăn năn, thì cuối cùng họ chắc chắn sẽ trở thành các christ giả và những kẻ địch lại Đấng Christ lừa gạt mọi người trong thời kỳ sau rốt. Các christ giả và những kẻ địch lại Đấng Christ được nói đến sẽ dấy lên từ những kẻ như vậy” (“Việc phụng sự tôn giáo phải bị thanh trừng” trong Lời xuất hiện trong xác thịt). Đoạn này trong lời của Đức Chúa Trời từng khiến tôi nghĩ đến những người Pha-ri-si và mục sư trưởng lão đạo đức giả và toàn bộ những kẻ địch lại Đấng Christ bị ám ảnh bởi địa vị. Tôi nghĩ họ là những người mà Đức Chúa Trời nói đến. Tuy nhiên, tôi biết theo lẽ thường, Đức Chúa Trời đang phơi bày điều gì đó bên trong tất cả chúng ta, và bản thân tôi cũng có tâm tính bại hoại đó. Nhưng tôi không hiểu rõ về bản thân cho lắm, nên đôi lúc những người Pha-ri-si, kẻ địch lại Đấng Christ và những kẻ lừa gạt có vẻ quá khác xa so với tôi. Tôi không như thế, và cũng không bao giờ tới mức đó. Tôi đã là tín hữu lâu năm, làm nhiều việc tốt, và trả giá trong bổn phận của mình. Bất kể hội thánh giao cho tôi bổn phận gì, tôi đều vâng lời và thực hiện nó. Hơn nữa tôi không đấu tranh để trở thành một lãnh đạo, và dù có địa vị hay không thì tôi vẫn thực hiện bổn phận. Sao tôi có thể biến thành một kẻ địch lại Đấng Christ, một kẻ lừa gạt được chứ? Nhưng thực tế, tôi đã hoàn toàn sống trong quan niệm và tưởng tượng của mình, và sau này khi đối diện với thực tế, những quan niệm này của tôi đã thay đổi hoàn toàn.

Tôi đi phụ trách công tác phúc âm của một hội thánh ở ngoại ô. Chẳng bao lâu sau, mảng đó trong công tác của họ đã bắt đầu cải thiện và các lãnh đạo đánh giá tôi rất cao. Thỉnh thoảng họ tìm tôi để bàn luận về các khía cạnh khác trong công tác của họ, để nhờ tôi tư vấn. Hơn nữa, tôi là một tín hữu lâu năm và có thể chịu đựng được gian khổ vì bổn phận của mình, nên các anh chị em khá là tôn trọng tôi. Tôi cũng thấy hãnh diện về bản thân. Tôi đã có đức tin bao năm qua và tôi có trách nhiệm, nên tôi nghĩ mình không thể như những người khác, rằng tôi phải tỏ vẻ hơn người. Tôi cũng không để mình tỏ lộ sự bại hoại tệ hơn cả họ, và tôi không được thể hiện sự yếu đuối hay tiêu cực như họ. Nếu không họ sẽ nghĩ gì về tôi? Chẳng phải họ sẽ nói vóc giạc của tôi vẫn còn nhỏ bé dù có nhiều năm đức tin, và sẽ coi thường tôi hay sao? Không lâu sau tôi bị một lãnh đạo xử lý vì vi phạm nguyên tắc trong bổn phận. Chị ấy nói tôi vẫn còn thiếu nhận thức về nhiều chuyện dù là tín hữu lâu năm và tôi thiếu tính thực tế của lẽ thật. Tôi cảm thấy cực kỳ xấu hổ và nhục nhã, nhưng lại không chịu kiểm điểm sự bại hoại và thiếu sót của mình hay mưu cầu lẽ thật để bù đắp cho khuyết điểm. Thay vào đó tôi lại tuôn một tràng những lời sáo rỗng và giáo điều, làm ra vẻ hiểu rõ bản thân, cư xử như một người cao cả để che giấu việc tôi thiếu thực tế của lẽ thật.

Tôi nhớ có lần, một đồng sự tin vào Chúa nói rằng anh ấy muốn tìm hiểu con đường thật. Lãnh đạo bảo tôi lập tức gặp anh để làm chứng cho công tác của Đức Chúa Trời vào thời kỳ sau rốt. Tôi bảo tôi sẽ làm, nhưng tôi phát hiện anh ấy có nhiều quan niệm rất khó hóa giải. Lúc đó tôi thì lại rất bận bịu, nên tôi đã bỏ xó nhiệm vụ đó một thời gian. Sau đó vài tuần vị lãnh đạo có hỏi tôi, “Sao đến giờ chị vẫn chưa chia sẻ chứng ngôn với anh ấy? Anh ấy muốn tìm hiểu con đường thật và đang dẫn dắt rất nhiều tín hữu, những người đang mong mỏi sự tái lâm của Chúa. Sao chị vẫn chưa cho anh ấy nghe chứng ngôn về công tác của Đức Chúa Trời vào thời kỳ sau rốt vậy?” Cảm thấy hơi có lỗi, tôi vội biện hộ, nói rằng, “Tôi chưa làm được vì có nhiều chuyện khác xảy ra”. Vị lãnh đạo rất tức giận khi nghe vậy, nói rằng tôi thật vô trách nhiệm và lơ là trong bổn phận của mình, rằng tôi quá chậm chạp, và tôi đã cản trở nghiêm trọng công tác phúc âm của hội thánh. Chị ấy khiển trách tôi rất nặng lời. Lúc ấy, nhiều anh chị em cũng có ở đó, mặt tôi đỏ bừng. Tôi nghĩ: “Chị có thể giữ lại cho tôi chút tự trọng và đừng quá khắt khe với tôi không? Tôi biết tôi sai rồi, giờ tôi đi chia sẻ phúc âm với anh ấy được chưa? Không cần phải xử lý tôi nặng nề vậy đâu”. Tôi cũng tự bào chữa cho mình, rằng tôi cũng không phải ăn không ngồi rồi, ngày nào tôi cũng bận bịu với việc rao giảng phúc âm, từ sáng tới tối. Nhưng chị ấy vẫn cho rằng tôi làm cho có lệ và vô trách nhiệm. Còn muốn gì hơn ở tôi nữa chứ? Tôi cảm thấy bổn phận của mình quá khó khăn. Sau buổi họp, tôi trốn trong phòng và khóc nức nở. Tôi cảm thấy mình bị oan và tiêu cực, trong tôi đầy sự hiểu lầm về Đức Chúa Trời. Một cảm giác phản bội dâng lên trong tôi. Tôi cho rằng vì vị lãnh đạo đó đã quá khắt khe với tôi, hẳn Đức Chúa Trời sẽ căm ghét tôi, sao tôi có thể tiếp tục thực hiện bổn phận đó đây? Có lẽ tôi nên nhận lỗi, từ chức, vứt bỏ hết, thế thì công tác của nhà Đức Chúa Trời khỏi bị trì hoãn còn tôi khỏi phải làm nhiệm vụ chẳng ai biết ơn này. Tôi khóc nức nở, và có cảm giác mình không ổn chút nào. Tôi là một tín hữu lâu năm, mà mới chỉ bị xử lý gay gắt một chút tôi đã không chịu nổi. Tôi cãi lý và đấu tranh với Đức Chúa Trời, và còn muốn từ bỏ. Tôi không có chút vóc giạc thực sự nào. Tôi nhớ đến những lời của Đức Chúa Trời, phải trung thành với bổn phận của mình kể cả khi bầu trời có sập xuống. Nghĩ như vậy khiến tôi như được khích lệ. Dù Đức Chúa Trời hay lãnh đạo có nghĩ gì về tôi, tôi không thể suy sụp, và tôi phải vượt qua thử thách, dù bổn phận có khó khăn thế nào. Tôi không còn cảm thấy khổ sở khi suy nghĩ như thế. Tôi liền lau nước mắt và tới thảo luận với các anh chị em. Chỉ trong vài ngày, tôi đã khiến đồng sự đó gia nhập hội thánh. Nhưng sau đó, tôi không chịu nghiêm túc tìm kiếm lẽ thật và kiểm điểm vấn đề của mình. Thay vào đó, tôi cứ nhất định tiếp tục thực hiện bổn phận dựa trên lương tâm và ý muốn của mình. Tôi tưởng mình có chút vóc giạc và tính thực tế.

Thực ra, vị lãnh đạo đó xử lý tôi vì sự vô trách nhiệm, tham dễ bỏ khó, và không thực hiện công tác thực tế. Đây là những vấn đề thực sự nghiêm trọng. Tôi đang phụ trách công tác phúc âm của hội thánh, vậy mà khi thấy một người có nhiều quan niệm, tôi lại không sẵn sàng hăng hái thông công và làm chứng. Tôi chỉ thờ ơ gạt chuyện đó qua một bên đến tận nửa tháng. Điều đó đã trì hoãn việc tìm kiếm con đường thật và nghênh tiếp sự tái lâm của Chúa của nhiều người! Lơ là trong bổn phận chính là chống đối Đức Chúa Trời và xúc phạm tâm tính của Ngài. Có vẻ như tôi chẳng bao giờ ăn không ngồi rồi và có thể trả giá trong bổn phận của mình, nhưng hễ khi nào đối mặt với thử thách, tôi lại không chịu tập trung tìm kiếm lẽ thật để giải quyết vấn đề và thực hiện tốt bổn phận. Thay vào đó tôi lại thoái lui và làm những gì mình muốn, thờ ơ gạt sự giao phó của Đức Chúa Trời qua một bên. Có kiểu sùng đạo nào lại như thế không? Lãnh đạo lên tiếng về thái độ vô trách nhiệm, cẩu thả của tôi trong bổn phận, về tâm tính Sa-tan dối trá của tôi, và đó không phải lần đầu tôi làm việc như thế. Lãnh đạo đã phân tích cho tôi để tôi có thể hiểu bản thân, ăn năn và thay đổi, nhưng tôi không thành thật kiểm điểm bản thân hay tìm hiểu xem gốc rễ vấn đề của tôi nằm ở đâu. Tôi cư xử như thể mình đã tiếp nhận việc bị tỉa sửa và xử lý, nhưng tôi không có chút hiểu biết thực sự nào về bản thân. Thế nên tôi đã nói những giáo điều sáo rỗng trong buổi họp và rồi làm ra vẻ tôi đã tự ý thức được. Tôi bảo mình đã vô trách nhiệm trong bổn phận và làm trì hoãn công tác của nhà Đức Chúa Trời, phá hoại nó một cách nghiêm trọng. Lãnh đạo khiển trách tôi là đúng. Lãnh đạo đã nêu ra vấn đề trong bản tính và tâm tính Sa-tan của tôi, để tôi có thể phân tích đúng sai trong việc mình đã làm. Nhưng tôi không bao giờ thông công về những chỗ mà mình đã làm sai, bản chất và hậu quả từ hành động của mình cũng như tôi đã phơi bày loại tâm tính bại hoại nào trong thái độ cẩu thả của tôi với bổn phận, lối suy nghĩ và quan niệm vô lý mà tôi đang có. Tôi không để ý đến những khía cạnh chi tiết hơn của nó. Thay vào đó tôi lại nói về cái gì? Cách tôi nương tựa vào Đức Chúa Trời và tôi tiếp nhận từ sự tích cực như thế nào. Tôi cứ nói lan man về những hiểu biết tích cực này, tôi nói tôi cảm thấy tiêu cực và đã phàn nàn khi bị xử lý và muốn từ bỏ, nhưng nghĩ về những lời của Đức Chúa Trời giúp tôi có cảm hứng và tôi cảm thấy mình không thể suy sụp được. Đức Chúa Trời đã thực hiện quá nhiều công tác trong tôi và Ngài đã cho tôi quá nhiều, nên tôi phải có lương tâm và không thể làm Đức Chúa Trời thất vọng. Vì vậy tôi nghĩ rằng dù bị tỉa sửa và xử lý như thế nào, dù bổn phận của tôi có khó khăn ra sao, thì tôi vẫn phải làm thật tốt, và lãnh đạo xử lý tôi là để giúp tôi kiểm điểm và hiểu rõ bản thân, để ăn năn và thay đổi. Khi người khác nghe nói vậy, họ không nhận ra được vấn đề và sự bại hoại của tôi và họ không cảm thấy tôi đã gây tổn hại lớn đến công tác của nhà Đức Chúa Trời. Thay vào đó, họ cảm thấy vị lãnh đạo đã hơi khắt khe với tôi, rằng tôi đã bị tỉa sửa và xử lý chỉ vì một chút sai lầm trong công tác. Họ rất thông cảm và hiểu cho tôi. Và khi thấy tôi không trở nên tiêu cực sau khi bị xử lý gay gắt, mà vẫn tiếp tục gánh vác bổn phận, họ cảm thấy tôi thật sự hiểu được lẽ thật và có vóc giạc. Họ thật sự đề cao và sùng bái tôi. Lúc đó có người nói rằng việc tôi vẫn mạnh mẽ tiếp tục thực hiện bổn phận khi bị xử lý gay gắt thật sự đáng ngưỡng mộ. Một số người thì nói rằng bổn phận của tôi không dễ chút nào, rằng tôi không những đã nỗ lực hết sức mình, mà còn chịu bị khiển trách khi có chút sai sót xảy ra. Họ thấy tôi lau nước mắt để quay lại thực hiện bổn phận, và nói rằng nếu là họ thì họ sẽ suy sụp và không thể có nổi vóc giạc đó. Họ đã lắng nghe thông công của tôi và chẳng hiểu được con đường thực hành cho việc tiếp nhận sự xử lý và tỉa sửa, hay việc bị tỉa sửa và xử lý chính là tình yêu và sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Thay vào đó, họ hiểu nhầm Đức Chúa Trời, đề phòng, và tự mình xa rời Đức Chúa Trời, và bị lôi kéo đến gần tôi hơn. Tôi đã bị xử lý vài lần sau đó, và lần nào nó cũng diễn ra giống như vậy. Tôi luôn nói về những giáo lý theo nghĩa đen, linh đạo và kiến thức bản thân bịa đặt, làm ra vẻ có vóc giạc và tính thực tế, và tôi đã lừa dối toàn bộ các anh chị em. Tôi hoàn toàn không biết, hoàn toàn vô cảm, và tôi đã thực sự tự hào về bản thân vì đã tự mình đứng vững qua chuyện đó. Tôi đã cực kì tự mãn và cảm thấy tôi có vóc giạc và tính thực tế của lẽ thật. Tôi trở nên càng kiêu ngạo và tự cao.

Một lần nọ, một người anh em đã chỉ ra những vấn đề trong bổn phận của tôi. Tôi không tiếp nhận, mà lại phàn nàn rằng anh ấy chỉ moi móc vấn đề, rằng anh ấy là người soi mói, tôi thực sự rất bực mình với anh ấy. Nhưng tôi sợ có người sẽ thấy tôi kiêu ngạo như thế nào dù đã là tín hữu lâu năm và sẽ nghĩ xấu về tôi. Tôi sợ lãnh đạo sẽ phát hiện ra và nói tôi không chịu tiếp nhận lẽ thật, nên tôi đã giả vờ và ép mình không được phàn nàn về chuyện đó. Tỏ ra bình tĩnh, tôi nói với anh ấy, “Anh à, hãy kể ra những vấn đề mà anh thấy và chúng ta sẽ nói chuyện về từng vấn đề. Nếu không thể giải quyết, chúng ta có thể nói với lãnh đạo”. Nên anh ấy đã liệt kê ra từng vấn đề một, và tôi đã giải thích sự phủ nhận của tôi cho từng vấn đề. Cuối cùng, tôi đã giải thích phần lớn những vấn đề mà anh ấy nêu ra. Tôi coi như vấn đề đã được giải quyết và cảm thấy hài lòng. Nhưng anh ấy rất khó chịu, nên đã bàn luận với một lãnh đạo. Một số vấn đề anh ấy nêu ra thực sự nghiêm trọng, và khi lãnh đạo phát hiện ra, chị ấy đã xử lý và tỉa sửa tôi ngay trước mặt mọi người. Chị ấy nói tôi quá kiêu ngạo và không chịu tiếp nhận ý kiến của ai cả, rằng tôi không tuân thủ nguyên tắc trong bổn phận của mình, hoàn toàn thiếu tính thực tế trong lẽ thật dù đã có nhiều năm đức tin. Chị ấy nói tôi không thể giải quyết bất cứ vấn đề thực tế nào, rằng tôi kiêu ngạo một cách mù quáng và thật sự quá đáng. Những lời này rất khó nghe, nhưng tôi không hoàn toàn bị thuyết phục. Tôi nghĩ, “Tôi có kiêu ngạo và thỉnh thoảng hơi tự cao, nhưng tôi có thể tiếp thu ý kiến. Tôi không kiêu ngạo đến thế đâu”.

Một lần nữa, tôi lại bị phơi bày trong một cuộc họp công tác không lâu sau đó. Lãnh đạo đã phát hiện tôi trì hoãn công tác đang phụ trách và hỏi tôi, “Sao chị lại làm việc thiếu hiệu quả trong việc này như vậy? Vấn đề là gì? Chị có thể làm tốt hơn không?” Tôi trả lời, “Không, tôi không thể”. Tôi cảm thấy lãnh đạo không hiểu được hoàn cảnh thực tế của chúng tôi, chị ấy kỳ vọng quá nhiều. Sau khi chị ấy đọc những lời của Đức Chúa Trời cho chúng tôi và thông công về ý nghĩa của việc truyền bá phúc âm. Chị ấy còn nói thời gian rất gấp rút và chúng tôi phải cải thiện hiệu quả công việc. Tôi không thực sự tiếp thu bất cứ điều gì chị ấy nói. Tôi chỉ bám vào quan niệm và trải nghiệm của mình, nghĩ rằng, “Mình thực sự không thể làm hiệu quả hơn được nữa”. Tôi hỏi thầm các anh chị em ngồi kế tôi, “Mọi người nghĩ chúng ta có thể làm được không?” Động cơ của tôi khi hỏi họ như vậy là để họ về phe tôi, để họ nói giống như tôi, phản bác lại lãnh đạo và giữ tiến độ từ từ. Điều đó rất rõ ràng, nhưng tôi thực sự không nhận thức được. Họ không hiểu được ý đồ của tôi. Có thể nói họ không nhận ra được gì cả. Họ đều về phe tôi và ủng hộ tôi.

Sau đó, vì tôi quá kiêu ngạo và thiếu hiệu quả trong bổn phận, không những không quản lý tốt công tác của nhóm, mà còn cản trở nữa, nên tôi đã bị rút khỏi bổn phận của mình. Nhưng thật bất ngờ, đến lúc bầu chọn nhóm trưởng một lần nữa, các anh chị em không những vẫn bầu cho tôi, mà còn hoàn toàn nhất trí. Tôi nghe một số người nói rằng nếu cho tôi nghỉ, cả nhóm sẽ suy sụp, vậy thì còn ai sẽ điều hành nhóm đó đây? Lúc đó tôi mới cảm thấy mình có một vấn đề nghiêm trọng, rằng mọi người vẫn nghe lời tôi và ủng hộ tôi dù cho cách làm việc của tôi có như thế nào đi nữa. Mọi người đã bầu cho tôi dù lãnh đạo đã cho tôi nghỉ, và thậm chí còn đấu tranh cho tôi để được đối xử công bằng. Tôi thực sự đã dẫn các anh chị em đi lầm đường.

Tôi nhớ tới một đoạn trong lời của Đức Chúa Trời: “Đối với hết thảy các ngươi, nếu các hội thánh trong một khu vực được giao cho các ngươi và không có ai giám sát các ngươi trong sáu tháng, thì các ngươi sẽ bắt đầu lạc lối. Nếu không ai giám sát ngươi trong một năm, thì ngươi sẽ dẫn họ đi xa và lạc lối. Nếu hai năm trôi qua mà vẫn không có ai giám sát ngươi, thì ngươi sẽ đưa họ đến trước ngươi. Tại sao lại thế này? Các ngươi đã từng cân nhắc vấn đề này chưa? Có thể nào các ngươi lại như thế này? Sự hiểu biết của các ngươi chỉ có thể chu cấp cho mọi người trong một khoảng thời gian nhất định. Thời gian trôi qua, nếu ngươi cứ nói mãi những điều tương tự nhau, thì một số người sẽ nhận ra điều đó; họ sẽ nói rằng ngươi quá nông cạn, quá thiếu chiều sâu. Ngươi sẽ không có lựa chọn nào khác ngoài việc cố gắng và lừa dối mọi người bằng cách giảng về các giáo lý. Nếu ngươi luôn tiếp tục như thế này, thì những người dưới ngươi sẽ làm theo các phương pháp, các bước, kiểu mẫu đức tin và trải nghiệm của ngươi và đưa vào thực hành những lời và giáo lý đó. Cuối cùng, khi ngươi cứ tiếp tục rao giảng và rao giảng, hết thảy họ sẽ bắt đầu dùng ngươi làm một gương mẫu. Khi ngươii dẫn dắt người khác, ngươi nói về các giáo lý, vì vậy những người dưới ngươi sẽ học các giáo lý từ ngươi, và khi mọi thứ tiến triển, ngươi sẽ đi sai đường. Những người dưới ngươi sẽ đi bất kỳ con đường nào ngươi đi; hết thảy họ sẽ học hỏi từ ngươi và đi theo ngươi, vì vậy ngươi sẽ cảm thấy rằng: ‘Bây giờ mình thật quyền lực; rất nhiều người lắng nghe mình, và hội thánh hoàn toàn chịu sự sai khiến của mình’. Bản tính phản bội này trong con người khiến ngươi bất giác biến Đức Chúa Trời thành một bù nhìn đơn thuần, và sau đó chính ngươi hình thành một kiểu giáo phái nào đó. Những giáo phái khác nhau ra đời như thế nào? Chúng ra đời theo cách này. Nhìn vào những người lãnh đạo của mỗi giáo phái – họ đều kiêu ngạo và tự cho mình là đúng, và những giải thích của họ về Kinh Thánh thiếu bối cảnh và được hướng dẫn bởi trí tưởng tượng của chính họ. Hết thảy họ đều dựa vào các ân tứ và học thức để thực hiện công việc của mình. Nếu họ không thể giảng gì cả thì liệu mọi người có đi theo họ không? Xét cho cùng, họ có một số hiểu biết và có thể giảng về một giáo lý nào đó, hoặc họ biết cách lôi kéo người khác và sử dụng mưu mẹo nào đó. Họ sử dụng những cách này để đem mọi người đến trước mặt họ và lừa dối mọi người. Trên danh nghĩa, những người đó tin vào Đức Chúa Trời, nhưng thực ra, họ đi theo những người lãnh đạo của mình. Khi họ gặp ai đó đang rao giảng về con đường thật, một số trong số họ nói rằng: ‘Chúng tôi phải hỏi ý kiến lãnh đạo của chúng tôi về đức tin của chúng tôi’. Con người là trung gian trong đức tin của họ vào Đức Chúa Trời; điều đó chẳng phải là một vấn đề sao? Vậy, những nhà lãnh đạo kia đã trở thành gì? Chẳng phải họ đã trở thành người Pha-ri-si, những kẻ chăn chiên giả, những kẻ địch lại Đấng Christ và những chướng ngại vật cản trở mọi người chấp nhận con đường thật sao? Những người như thế cùng một giuộc với Phao-lô” (“Chỉ theo đuổi lẽ thật mới là thực sự tin vào Đức Chúa Trời” trong Ghi chép về những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt). Có thể thấy từ những lời của Đức Chúa Trời rằng tôi chính xác là loại người Pha-ri-si mà Ngài phơi bày, và tôi không những có tâm tính Sa-tan dối trá, tà ác, mà cách hành xử của tôi đã tới mức mà tôi đã làm lạc lối và kiểm soát người khác, và qua mặt Đức Chúa Trời. Tôi nghĩ về những người Pha-ri-si và các mục sư trưởng lão đạo đức giả, những người chỉ nói giáo lý và tỏ vẻ như họ rất nỗ lực, để khiến mọi người lạc lối. Họ nói rằng họ mắc nợ Đức Chúa Trời và có vẻ rất khiêm tốn và tự nhận thức bản thân, nhưng họ luôn khoe khoang mình đã cho Chúa bao nhiêu, chịu đau khổ bao nhiêu và làm bao nhiêu việc. Kết quả là các tín hữu tôn thờ họ và nghĩ mọi điều họ nói phù hợp với ý muốn của Chúa. Họ không nhận ra được ý đồ sau đó. Thậm chí họ còn nghĩ rằng vâng lời các kẻ đó chính là vâng phục Chúa. Rằng tin là tin Chúa trên danh nghĩa, còn thực tế là đi theo các mục sư trưởng lão. Con đường tôi chọn đâu có khác gì con đường của những người Pha-ri-si và các mục sư trưởng lão đâu chứ? Tôi còn chú tâm vào giáo lý và những hy sinh bề ngoài để các anh chị em nghĩ tôi tận tụy với bổn phận của mình. Khi tôi bị xử lý, tôi đã không tìm kiếm lẽ thật hay thực sự kiểm điểm bản thân. Tôi chỉ nói những điều có vẻ đúng để làm mọi người lạc lối để họ nghĩ tôi đã quy phục, rằng tôi có vóc giạc, và họ sẽ quý mến và nghe lời tôi. Tôi còn lôi kéo họ làm trái yêu cầu của Đức Chúa Trời nữa. Tôi là người thực sự có quyền. Nhưng tôi có nào khác những kẻ địch lại Đấng Christ đâu chứ? Tôi không phải là lãnh đạo và không có vị trí cao quý nào cả. Tôi chỉ cùng phụ trách công tác với các anh chị em khác dưới sự giám sát của lãnh đạo, nhưng thế mà vấn đề của tôi đã tệ như vậy. Nếu tôi có vị trí cao hơn, vị trí mà tôi chỉ phụ trách duy nhất một việc gì đó, thì tôi chẳng dám nghĩ mình sẽ làm bậy gì nữa. Tôi tưởng vì tôi là một tín hữu lâu năm và miệt mài thực hiện bổn phận bất kể gặp phải gian khổ hay sự thử luyện nào, lại có nhân tính khá tốt, cũng như không bao giờ đấu tranh để trở thành lãnh đạo, thì tôi sẽ không bao giờ trở thành một người Pha-ri-si hay một kẻ địch lại Đấng Christ. Nhưng khi đối diện thực tế, tôi như chết lặng và không thốt nên lời. Cuối cùng tôi đã thấy quan niệm của mình vô lý và có hại như thế nào, và tâm tính của tôi tà ác và đáng sợ như thế nào. Tôi thấy rằng là một tín hữu, tôi đã không tìm kiếm lẽ thật, và tôi không chịu tiếp nhận hay quy phục việc bị phán xét, hành phạt, xử lý hay tỉa sửa bởi Đức Chúa Trời. Tôi không chịu kiểm điểm và hiểu rõ bản tính Sa-tan của mình khi suy ngẫm những lời Đức Chúa Trời. Bề ngoài tôi sẵn sàng vâng phục và thừa nhận thẳng thắn. Nhưng dù tôi tỏ vẻ tốt đẹp và tuân thủ quy định thế nào, ngay lúc có cơ hội, bản tính Sa-tan phản bội Đức Chúa Trời lại nổi lên, và tôi vô thức phạm tội mà không ý thức được. Đúng như Đức Chúa Trời phán: “Khả năng các ngươi sẽ phản bội Ta vẫn ở mức một trăm phần trăm”.

Đức Chúa Trời biết tôi bị Sa-tan làm bại hoại nặng nề đến thế nào, vô cảm và cố chấp ra sao. Tôi không thể đạt được sự thay đổi chỉ với một chút hiểu biết về bản thân. Nên sau này tôi đã bị các anh chị em phơi bày và xử lý. Tôi nhớ có một lần, một chị nói thẳng với tôi, “Giờ tôi đã hiểu rõ về chị. Chị ít khi thông công về những suy nghĩ ẩn giấu trong lòng hay phơi bày sự bại hoại của chính chị. Chị chỉ nói về sự tiếp nhận và hiểu biết tích cực, như thể sự bại hoại của chị đã được hóa giải hoàn toàn, như thể chị đã loại bỏ nó”. Chị ấy còn nói rằng chị ấy từng quý mến tôi, rằng chị ấy nghĩ tôi là một tín hữu lâu năm hiểu rõ lẽ thật, rằng tôi biết cách trải nghiệm nhiều thứ và tôi có thể chịu đau khổ và trả giá trong bổn phận của mình, và đặc biệt là tôi có thể tiếp nhận bị xử lý và tỉa sửa một cách gay gắt. Thế nên chị ấy mới tôn trọng tôi. Chị ấy tưởng mọi điều tôi nói đều đúng và chị ấy luôn lắng nghe tôi, thực sự là đã để tôi thế vị trí của Đức Chúa Trời trong lòng chị ấy. Nghe chị ấy nói coi tôi như Đức Chúa Trời giống như sét đánh ngang tai vậy. Tôi rất sợ và không chấp nhận nổi. Tôi nghĩ, “Nếu đúng thế, thì chẳng phải tôi đã biến thành kẻ địch lại Đấng Christ à? Sao chị có thể ngu ngốc, không biết phân biệt như vậy? Tôi cũng bị Sa-tan làm bại hoại. Sao chị có thể coi tôi như thế được?” Tôi bị suy sụp trong nhiều ngày. Tôi thấy rất thất vọng mỗi khi nghĩ về những gì chị ấy nói, tôi có cảm giác sợ hãi kỳ lạ, rằng chuyện tồi tệ sắp xảy đến với tôi. Tôi biết đây là cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời đối với tôi, rằng tâm tính công chính của Ngài sắp trừng phạt tôi và tôi phải nhận hậu quả vì làm điều ác. Tôi biết tâm tính của Đức Chúa Trời không cho phép sự xúc phạm và tôi cảm thấy mình đã bị Đức Chúa Trời lên án, nên tôi nghĩ con đường đức tin của mình đã kết thúc. Tôi không ngăn nổi nước mắt khi nghĩ vậy. Tôi không tưởng tượng nổi rằng tôi, một người không có vẻ gì là phạm tội lớn hay việc xấu, lại để đến mức nghiêm trọng như thế này. Tôi không những làm mọi người lạc lối bằng giáo lý, mà còn khiến họ tôn thờ tôi như thể tôi là Đức Chúa Trời. Việc đó biến Đức Chúa Trời thành bù nhìn, và xúc phạm nghiêm trọng tâm tính của Đức Chúa Trời. Tôi cảm thấy rất tiêu cực, và sự vi phạm và việc ác đang thiêu đốt lòng tôi. Tôi cảm thấy mình như một người Pha-ri-si, một kẻ địch lại Đấng Christ, rằng tôi thuộc về Sa-tan, một kẻ phục vụ sẽ bị loại bỏ. Tôi chỉ không hiểu sao mình lại để bản thân tới mức đó. Hối hận, tôi ăn năn trước Đức Chúa Trời, nói rằng, “Lạy Đức Chúa Trời, con đã phạm tội lớn. Con đã xúc phạm tâm tính của Ngài và con nên bị nguyền rủa và trừng phạt! Con không xin Ngài tha thứ, con chỉ xin Ngài hãy khai sáng cho con để con có thể hiểu rõ bản tính Sa-tan của mình và hiểu lẽ thật của sự bại hoại do Sa-tan. Lạy Đức Chúa Trời, con muốn ăn năn, thành thật và ngay thẳng”.

Những ngày sau đó, tôi bắt đầu kiểm điểm lý do tại sao tôi lại để mình rơi vào tình thế tồi tệ như vậy, và gốc rễ của vấn đề nằm ở đâu. Tôi đọc đoạn này trong một buổi thờ phượng: “Vậy thì những kẻ địch lại Đấng Christ đầu tư cho bản thân hình tượng nào? Chúng đang giả làm ai? Tất nhiên, sự giả dạng của chúng là vì địa vị và danh tiếng. Nó không thể tách rời khỏi những điều đó, nếu không thì chúng sẽ không thể nào giả dạng như thế – không đời nào chúng có thể làm điều ngu ngốc như thế. Vì hành vi như thế bị coi là đáng trách, đáng ghét và đáng kinh tởm, vậy tại sao chúng vẫn làm điều đó? Chúng chắc chắn có những mục tiêu và động cơ riêng – có những ý định và động cơ có liên quan. Nếu những kẻ địch lại Đấng Christ muốn có được vị trí trong tâm trí của mọi người, thì chúng phải khiến những người này đánh giá cao về chúng. Và điều gì khiến mọi người làm điều đó? Ngoài việc bắt chước một số hành vi và biểu hiện được cho là tốt theo quan niệm của mọi người, thì một khía cạnh khác nữa là những kẻ địch lại Đấng Christ cũng bắt chước những hành vi và hình ảnh nào đó mà mọi người cho là tuyệt vời và vĩ đại, để khiến người khác đánh giá cao về chúng” (“Đối với những người dẫn dắt và những người làm công, việc chọn một con đường là điều vô cùng quan trọng (18)” trong Ghi chép về những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt). “Bất kể bối cảnh là gì hay chúng đang thực hiện bổn phận ở đâu, thì những kẻ địch lại Đấng Christ đều tỏ vẻ không yếu đuối, có tình yêu thương bậc nhất dành cho Đức Chúa Trời, tràn đầy đức tin nơi Đức Chúa Trời, không bao giờ tiêu cực, không để người khác thấy được thái độ thực sự và quan điểm thực sự mà chúng cất giữ trong tận đáy lòng về lẽ thật và về Đức Chúa Trời. Thực ra, trong tận đáy lòng, chúng có thực sự tin rằng bản thân chúng là người đầy quyền năng không? Chúng có thực sự tin rằng bản thân chúng không có nhược điểm không? Không. Vậy, khi biết rằng chúng sở hữu sự yếu đuối, phản nghịch và những tâm tính bại hoại, tại sao chúng lại ăn nói và cư xử theo cách như thế trước mặt người khác? Mục đích của chúng rất rõ ràng: Chỉ đơn giản là để bảo vệ địa vị của chúng ở giữa những người khác và trước mặt những người khác. Chúng tin rằng nếu trước mặt người khác, chúng công khai là người tiêu cực, công khai nói những điều yếu đuối, tỏ lộ sự phản nghịch và nói về việc biết bản thân mình, thì đó là điều làm tổn hại đến địa vị và danh tiếng của họ, đó là một tổn thất. Do đó, chúng thà chết chứ không nói rằng chúng yếu đuối cũng như tiêu cực và rằng chúng không hoàn hảo, mà chỉ là một người bình thường. Chúng nghĩ rằng nếu chúng thừa nhận rằng mình có tâm tính bại hoại, rằng chúng là một người bình thường, một kẻ phàm phu tục tử, thì chúng sẽ mất đi vị trí trong tâm trí mọi người. Và vì vậy, cho dù thế nào đi nữa, chúng không thể từ bỏ vị trí này, mà thay vào đó, chúng cố gắng hết sức để bảo vệ nó. Mỗi khi chúng gặp vấn đề, chúng đều bước tới – nhưng ngay khi thấy rằng chúng có thể bị vạch trần, rằng mọi người có thể nhìn thấu chúng, thì chúng nhanh chóng lẩn trốn. Nếu có bất kỳ cơ hội nào để phô diễn, nếu chúng vẫn có cơ hội phô trương bản thân, giả dạng rằng chúng là một chuyên gia, rằng chúng biết về vấn đề này, hiểu và có thể giải quyết vấn đề này, thì chúng lao về phía trước để nắm lấy cơ hội nhằm nhận được sự đánh giá cao của người khác, để cho họ biết chúng có kỹ năng trong lĩnh vực này” (“Đối với những người dẫn dắt và những người làm công, việc chọn một con đường là điều vô cùng quan trọng (18)” trong Ghi chép về những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt). “Những kẻ địch lại Đấng Christ này muốn đóng vai của những người thuộc linh, chúng muốn trở thành những người nổi bật trong số các anh chị em, trở thành những người sở hữu lẽ thật và hiểu được lẽ thật, cũng như có thể giúp đỡ những người yếu đuối và non nớt. Và mục đích của chúng khi đóng vai này là gì? Trước tiên, chúng tin rằng bản thân đã vượt lên trên xác thịt, đã thay đổi những mối quan tâm về thế gian, đã loại bỏ những nhược điểm của nhân tính bình thường và vượt qua những nhu cầu xác thịt của nhân tính bình thường; chúng tin mình là những người có thể đảm đương những công việc quan trọng trong nhà của Đức Chúa Trời, những người có thể quan tâm đến ý muốn của Đức Chúa Trời, những người mà tâm trí đầy dẫy lời Đức Chúa Trời. Chúng tự xưng là những người đã đạt được những yêu cầu của Đức Chúa Trời và làm hài lòng Đức Chúa Trời, đồng thời là những người có thể quan tâm đến ý muốn của Đức Chúa Trời và có thể đạt được đích đến tốt đẹp do chính miệng Đức Chúa Trời đã hứa. Và vì vậy chúng thường tự mãn và chúng nghĩ bản thân mình khác với những người khác. Bằng cách sử dụng những từ và cụm từ mà chúng có thể nhớ và có khả năng hiểu được trong tâm trí mình, chúng khuyên nhủ, lên án và đưa ra kết luận về người khác; vì vậy, chúng cũng thường sử dụng những sự thực hành và câu nói nảy sinh từ sự tưởng tượng trong quan niệm của bản thân để đưa kết luận về người khác và huấn luyện họ, để khiến người khác tuân theo những sự thực hành và câu nói này, bằng cách này đạt được địa vị mà chúng mong muốn giữa các anh chị em. Chúng nghĩ rằng chỉ cần chúng có thể nói đúng những từ và cụm từ cùng những giáo lý đúng, có thể hô một vài khẩu hiệu, có thể đảm đương một chút trách nhiệm trong nhà Đức Chúa Trời, có thể đảm nhận nhiệm vụ quan trọng nào đó, sẵn sàng đi đầu và có thể duy trì trật tự bình thường trong một nhóm người, thì điều đó có nghĩa là chúng là người thuộc linh và rằng vị trí của chúng được bảo đảm. Và do đó, trong khi giả dạng là người thuộc linh và khoe khoang về tình trạng thuộc linh của mình, chúng cũng giả dạng là người đầy quyền năng và có khả năng làm bất cứ điều gì, một người hoàn hảo và nghĩ rằng chúng có thể làm mọi thứ và giỏi mọi thứ” (“Đối với những người dẫn dắt và những người làm công, việc chọn một con đường là điều vô cùng quan trọng (18)” trong Ghi chép về những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt).

Những lời của Đức Chúa Trời đã cho tôi thấy tại sao tôi luôn sống đạo đức giả và chỉ khoe mặt tốt của mình khi thông công, trong khi đó cố sức che giấu sự xấu xa và mặt tà ác của mình để không ai thấy được. Chính là để bảo vệ vị trí của mình trong lòng mọi người, để giữ hình ảnh là một tín hữu lâu năm trong mắt họ. Như thế họ sẽ nghĩ tôi rất đặc biệt với nhiều năm đức tin, khác biệt với các anh chị em khác, rằng tôi hiểu lẽ thật và có vóc giạc, nên họ sẽ tôn trọng, yêu mến tôi. Tôi nhận ra tôi đã quá kiêu ngạo, tà ác và dối trá! Tôi nghĩ mình là một tín hữu lâu năm và hiểu một chút giáo lý, nên tôi đã tôn mình lên cao và bắt đầu làm ra vẻ một người đầy tâm linh. Tôi thiếu tính thực tế của lẽ thật và không chú tâm tìm kiếm và theo đuổi lẽ thật. Tôi chỉ lợi dụng giáo lý, cách hành xử tử tế, và sự hy sinh bề ngoài để che đậy thực tế xấu xí rằng tôi thiếu thực tế của lẽ thật. Tôi đã không kiểm điểm và hiểu rõ bản thân khi bị tỉa sửa và xử lý, tôi đã không phân tích vấn đề và sự bại hoại của mình. Tôi giấu diếm động cơ xấu xa và tâm tính bại hoại để không ai phát hiện được chúng, để bảo vệ vị trí và hình ảnh của mình. Những sự khoe khoang đạo đức giả này có khác gì sự khoe khoang của những người Pha-ri-si chống lại Đức Chúa Jêsus đâu chứ? Đức Chúa Jêsus đã quở trách những người Pha-ri-si: “Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! Vì các ngươi giống như mồ mả tô trắng bề ngoài cho đẹp, mà bề trong thì đầy xương người chết và mọi thứ dơ dáy. Các ngươi cũng vậy, bề ngoài ra dáng công bình, nhưng ở trong thì chan chứa sự giả hình và tội lỗi” (Ma-thi-ơ 23:27-28). “Hỡi kẻ mù dẫn đường, các ngươi lọc con ruồi nhỏ mà nuốt con lạc đà!” (Ma-thi-ơ 23:24). Chẳng phải tôi giống y hệt họ hay sao? Trông có vẻ như tôi thông công dựa vào trải nghiệm của mình, nhưng tôi chỉ nói về những điều mà ai cũng thấy, những giáo lý sáo rỗng, trong khi đó lại che đậy, chưa từng nhắc đến những suy nghĩ thật lòng, những điều tà ác và bại hoại bên trong tôi. Như thế mọi người sẽ nghĩ rằng dù có sự bại hoại và phản nghịch, tôi vẫn tốt hơn nhiều so với người khác. Tôi đã để ý đến những lỗi nhỏ nhặt mà phạm tội lớn. Bề ngoài tôi có vẻ khiêm nhường, nhưng bên trong tôi lại bảo vệ danh tiếng và địa vị của mình, bảo vệ hình ảnh trong mắt người khác. Tôi đã quá đạo đức giả, láu cá và dối trá. Tôi đã lừa dối các anh chị em. Tôi không phải là người tốt đẹp, ngay thẳng hay làm tốt vai trò của một loài thọ tạo, tôi đã không trải nghiệm công tác của Đức Chúa Trời từ góc nhìn của một người bị Sa-tan làm cho bại hoại nặng nề, tiếp nhận việc bị phán xét, hành phạt, tỉa sửa và xử lý bởi Đức Chúa Trời để loại bỏ sự bại hoại. Thay vào đó, tôi lợi dụng bổn phận để khoe khoang, để chứng minh bản thân và làm người khác lạc lối, ganh đua với Đức Chúa Trời vì dân sự được Ngài chọn. Đó chẳng phải là con đường chống đối Đức Chúa Trời, của một kẻ địch lại Đấng Christ hay sao? Đó là con đường bị Đức Chúa Trời lên án. Với tôi, ngoài việc có đức tin lâu năm, tôi chẳng sánh được với những người khác về tố chất hay sự tìm kiếm lẽ thật. Tôi không có tính thực tế của lẽ thật sau bao nhiêu năm, và tâm tính sống của tôi không hề thay đổi. Tôi là hình tượng kiêu ngạo, tự cao của Sa-tan và tôi vô nguyên tắc trong bổn phận của mình. Tôi không những thất bại trong việc quan tâm đến ý muốn của Đức Chúa Trời và tôn vinh Đức Chúa Trời, mà còn cản trở công tác phúc âm của hội thánh. Nghĩ lại bao nhiêu năm làm một tín hữu, đúng là thực sự hổ thẹn. Nhưng tôi lại tưởng rằng đó là điểm mấu chốt mà tôi có thể lợi dụng để tự tán dương và khiến mọi người ngưỡng mộ. Tôi thật quá đáng và trơ trẽn!

Tôi đã đọc được đoạn này trong lời của Đức Chúa Trời ở một buổi thờ phượng: “Nếu con người không theo đuổi lẽ thật, thì họ sẽ không bao giờ hiểu được lẽ thật. Ngươi có thể nói các câu chữ và giáo lý hàng vạn lần, nhưng chúng sẽ vẫn chỉ là các câu chữ và giáo lý mà thôi. Một số người chỉ nói: ‘Đấng Christ là lẽ thật, đường đi và sự sống’. Ngay cả khi ngươi lặp lại những từ này hàng vạn lần, thì vẫn vô ích; ngươi vẫn không hiểu ý nghĩa của nó. Tại sao nói rằng Đấng Christ là lẽ thật, đường đi và sự sống? Ngươi có thể diễn đạt rõ những hiểu biết mà ngươi đã đạt được về điều này từ việc trải nghiệm không? Ngươi đã bước vào hiện thực của lẽ thật, đường đi và sự sống chưa? Đức Chúa Trời đã phán những lời của Ngài để các ngươi có thể trải nghiệm chúng và có được sự hiểu biết; việc chỉ đơn thuần nói những câu chữ và giáo lý là vô ích. Ngươi chỉ có thể biết chính mình một khi ngươi đã hiểu và bước vào lời Đức Chúa Trời. Nếu ngươi không hiểu lời Đức Chúa Trời, thì ngươi không thể biết chính mình. Ngươi chỉ có thể phân biện khi ngươi có lẽ thật; không có lẽ thật, ngươi không thể phân biện được. Ngươi chỉ có thể hiểu đầy đủ một vấn đề khi ngươi có lẽ thật; không có lẽ thật, ngươi không thể hiểu một vấn đề. Ngươi chỉ có thể biết chính mình khi ngươi có lẽ thật; không có lẽ thật, ngươi không thể biết chính mình. Tâm tính của ngươi chỉ có thể thay đổi khi ngươi có lẽ thật; không có lẽ thật, tâm tính của ngươi không thể thay đổi. Chỉ sau khi ngươi có lẽ thật, ngươi mới có thể phục vụ theo ý muốn của Đức Chúa Trời; không có lẽ thật, ngươi không thể phục vụ theo ý muốn của Đức Chúa Trời. Chỉ sau khi ngươi có lẽ thật, ngươi mới có thể thờ phụng Đức Chúa Trời; nếu không có lẽ thật, sự thờ phụng của ngươi sẽ không hơn gì một sự thực hiện các nghi lễ tôn giáo. Hết thảy những điều này phụ thuộc vào việc có được lẽ thật từ lời Đức Chúa Trời” (“Làm thế nào để biết bản tính con người” trong Ghi chép về những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt). Đọc đoạn này giúp tôi hiểu rõ hơn lý do tại sao tôi lại chọn con đường sai lầm chống đối Đức Chúa Trời như một người Pha-ri-si. Đó là vì tôi đã không tìm kiếm lẽ thật hay đưa nó vào thực hành qua bao năm qua, và khi đọc lời của Đức Chúa Trời, tôi chỉ chú ý vào nghĩa đen. Tôi đã không tiếp nhận hay thực hành những lời của Ngài, và tôi đã không có bất cứ hiểu biết thực tế nào về lẽ thật. Nên lẽ dĩ nhiên, tôi chỉ có thể giải nghĩa giáo lý theo nghĩa đen. Trong đức tin của tôi, tôi đã không yêu lẽ thật hay khao khát lời của Đức Chúa Trời, tôi chưa từng im lặng trước Đức Chúa Trời để suy ngẫm lời Ngài, chẳng hạn như khía cạnh nào của lẽ thật được tỏ lộ trong một đoạn trích, tôi đã hiểu, thực hành, và tiếp nhận được bao nhiêu, ý muốn của Đức chúa Trời là gì, tôi đã đạt được bao nhiêu từ đoạn đó. Khi có chuyện xảy ra, tôi đã không cố gắng suy nghĩ về tình trạng của mình khi suy ngẫm những lời của Đức Chúa Trời, để kiểm điểm những vấn đề cá nhân và kiểm tra xem mình đã bộc lộ kiểu bại hoại nào, và mình đã có những quan niệm sai lầm gì. Lúc nào tôi cũng bận rộn, giống như Phao-lô, nghĩ về việc chịu đau khổ vì công tác và thỏa mãn tham vọng của mình. Đức Chúa Trời nhập thể vào thời kỳ sau rốt đã bày tỏ nhiều lẽ thật và Ngài đã thông công rất chi tiết về đủ mọi khía cạnh của lẽ thật. Để chúng ta có thể hiểu lẽ thật, hiểu lẽ thật của sự bại hoại do Sa-tan, ăn năn và thay đổi. Nhưng tôi đã coi nhẹ lời của Đức Chúa Trời. Tôi đã không suy ngẫm hay tìm kiếm chúng, và tôi không nghĩ đến chuyện thực hành hay tiếp nhận chúng. Chẳng phải điều này hoàn toàn trái ngược với ý muốn của Đức Chúa Trời trong việc cứu rỗi nhân loại hay sao? Chẳng phải điều này hoàn toàn giống với con đường của những người Pha-ri-si và các mục sư trong tôn giáo hay sao? Những người Pha-ri-si chỉ quan tâm đến rao giảng, chịu đau khổ trong công tác, và bảo vệ vị trí của họ. Họ không bao giờ thực hành lời Đức Chúa Trời và họ không chia sẻ trải nghiệm của mình và hiểu biết về lời Đức Chúa Trời. Họ không thể hướng dẫn cho mọi người tính thực tế của lẽ thật, mà chỉ có thể làm họ lạc lối bằng Kinh Thánh, hiểu biết và giáo lý theo nghĩa đen. Điều đó khiến họ trở thành những kẻ chống đối Đức Chúa Trời. Tôi cũng đã không cố gắng thực hành lẽ thật trong đức tin, mà chỉ làm theo một số quy tắc. Tôi không phạm tội lớn hay sai lầm lớn, tôi tỏ vẻ cư xử tốt, và chia sẻ điều đúng đắn trong các buổi họp, nên tôi tưởng tôi đang làm đúng trong đức tin của mình. Nhưng tôi đã nhận ra, chẳng phải tôi chỉ là một kẻ giả hình hay sao? Sao đó lại là đức tin chân thật vào Đức Chúa Trời được? Nếu tôi tiếp tục giữ kiểu đức tin đó, mà thiếu đi tính thực tế của lẽ thật, không có sự thay đổi tâm tính bại hoại, chẳng phải rốt cuộc tôi sẽ bị loại bỏ hay sao? Lòng tôi đầy hối hận và cầu nguyện trước Đức Chúa Trời, “Con không muốn là một kẻ giả hình nữa. Con muốn tìm kiếm lẽ thật, tiếp nhận và quy phục sự phán xét và hành phạt của Ngài, và thay đổi bản thân”.

Sau đó, tôi đọc được đoạn này trong lời của Đức Chúa Trời trong một buổi thờ phượng: “Ví dụ: ngươi nghĩ rằng một khi có địa vị, ngươi cần phải thể hiện thẩm quyền theo cách nào đó và nói bằng giọng điệu nhất định. Sau khi ngươi nhận ra đây là một cách nghĩ sai lầm, ngươi nên từ bỏ nó; đừng đi con đường đó nữa. Khi ngươi có những suy nghĩ như thế này, ngươi phải thoát ra khỏi trạng thái đó, và không cho phép mình mắc kẹt trong đó. Một khi ngươi bị mắc kẹt trong đó, và những suy nghĩ cùng quan điểm đó hình thành bên trong ngươi, ngươi sẽ ngụy trang, ngươi sẽ bao biện cho bản thân, làm việc cực kỳ gò bó, để không ai có thể nhìn thấu ngươi hay cảm nhận về lòng và trí ngươi. Ngươi sẽ nói chuyện với người khác như thể từ sau chiếc mặt nạ. Họ sẽ không thể thấy được lòng ngươi. Ngươi phải học cách để người khác thấy được lòng ngươi; học cách mở lòng ngươi ra với họ và đến gần họ – ngươi chỉ cần thực hiện cách tiếp cận ngược lại. Đây chẳng phải là nguyên tắc sao? Đây chẳng phải là con đường để thực hành sao? Hãy bắt đầu từ bên trong suy nghĩ và nhận thức của ngươi: Khoảnh khắc ngươi cảm thấy muốn bưng bít bản thân, ngươi phải cầu nguyện như thế này: ‘Lạy Đức Chúa Trời! Con lại muốn ngụy trang và chuẩn bị giở trò âm mưu và lừa dối một lần nữa. Con đúng là một con quỷ! Con làm cho Ngài khinh ghét con vô cùng! Con hiện đang rất chán ghét bản thân. Xin hãy sửa dạy con, khiển trách con và trừng phạt con’. Ngươi phải cầu nguyện và đưa thái độ của mình ra ánh sáng. Điều này liên quan đến cách ngươi thực hành. Việc thực hành này hướng đến khía cạnh nào của con người? Nó nhắm vào những suy nghĩ và ý tưởng cùng những ý định mà mọi người đã tỏ lộ về một vấn đề, cũng như con đường họ đi và hướng họ đi. Có nghĩa là, ngay khi những ý tưởng như thế xuất hiện với ngươi và ngươi muốn thực hiện chúng, ngươi nên hạn chế chúng, và sau đó mổ xẻ chúng. Ngay khi hạn chế và mổ xẻ những suy nghĩ của mình, chẳng phải ngươi sẽ thể hiện và hành động theo những suy nghĩ đó ít hơn rất nhiều sao? Hơn nữa, chẳng phải khi đó các tâm tính bại hoại bên trong ngươi sẽ thoái lui sao?” (“Để giải quyết tâm tính bại hoại của con người, thì con người phải có một con đường thực hành cụ thể” trong Ghi chép về những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt). Những lời của Đức Chúa Trời đã chỉ cho tôi con đường để thực hành. Để hóa giải tính đạo đức giả và tâm tính Sa-tan dối trá, tà ác của tôi, tôi phải thực hành lẽ thật và làm một người thật thà, biết mở lòng với Đức Chúa Trời và chia sẻ thông công chân thành với người khác, và khi đối mặt với vấn đề, phải chia sẻ góc nhìn và suy nghĩ chân thật. Khi lại muốn lấp liếm, tôi phải cầu nguyện trước Đức Chúa Trời, từ bỏ bản thân, và làm ngược lại. Tôi phải mở lòng, phơi bày và phân tích sự bại hoại của mình, và không để tâm tính Sa-tan khuất phục. Tôi nhớ tới những lời của Đức Chúa Trời: “Nếu ngươi có nhiều bí mật mà ngươi không muốn chia sẻ, nếu ngươi rất không thích tiết lộ bí mật của mình – những khó khăn của ngươi – trước người khác để tìm kiếm con đường của sự sáng, thì Ta nói rằng ngươi là kẻ sẽ không có được sự cứu rỗi một cách dễ dàng, và là kẻ sẽ không dễ dàng thoát ra khỏi bóng tối” (“Ba điều răn” trong Lời xuất hiện trong xác thịt). Sau đó tôi mới cảm thấy làm một người thật thà quan trọng như thế nào. Qua bao năm đức tin của mình, tôi đã không thực hành hay tiếp nhận điều đó, cơ bản đó chính là lẽ thật. Thật đáng trách! Nên tôi đã cầu nguyện Đức Chúa Trời, sẵn sàng ăn năn, thực hành lẽ thật, và làm một người thật thà.

Từ đó trở đi, cứ khi nào nghe ai nói rằng tôi hiểu lẽ thật và có vóc giạc, là tôi lại cảm thấy khó chịu và xấu hổ. Tôi không thích thú như trước kia nữa. Có một lần tôi gặp một người chị nghe nói tôi là tín hữu lâu năm và có thể chịu đau khổ vì bổn phận, và chị ấy rất ngưỡng mộ tôi. Chị ấy nói thẳng với tôi, “Chị à, tôi biết chị đã có đức tin lâu năm, chị đã nghe nhiều bài giảng và hiểu nhiều lẽ thật. Tôi rất ngưỡng mộ chị”. Nghe chị ấy nói vậy khiến tôi rất sợ và tôi cảm thấy rùng mình. Tôi đã giải thích lẽ thật của vấn đề ngay lập tức, nói rằng, “Chị à, không đúng như vậy đâu. Đừng chỉ nhìn vẻ bề ngoài. Tôi đã tin vào Đức Chúa Trời rất lâu, nhưng còn thiếu tố chất, và tôi không yêu hay tìm hiểu lẽ thật. Tôi chỉ có chút hy sinh bề ngoài qua nhiều năm đức tin. Tôi chỉ làm vài việc tốt và có thể trả giá, nhưng tôi từng vô nguyên tắc trong bổn phận và chưa thay đổi nhiều trong tâm tính sống. Tôi đã không thể nhận bổn phận mà Đức Chúa Trời giao phó. Tôi chưa quan tâm đến ý muốn của Đức Chúa Trời hay tôn vinh Ngài, thay vào đó tôi chống đối Đức Chúa Trời và làm Ngài xấu hổ”. Sau đó tôi đã chia sẻ thông công này với chị ấy: “Góc nhìn của chị không phù hợp với lẽ thật. Đừng chỉ mù quáng sùng bái người khác, mà hãy nhìn vào họ và sự việc dựa vào lẽ thật trong lời Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời nhìn mọi người như thế nào? Ngài không quan tâm họ tin Ngài bao nhiêu năm, họ đã chịu đau khổ thế nào và bỏ công sức bao nhiêu, hay họ có thể rao giảng đến đâu. Ngài quan tâm đến việc họ có tìm kiếm lẽ thật, tâm tính của họ có thay đổi, họ có thể làm chứng trong bổn phận của mình hay không”. “Những người mới có đức tin có thể mưu cầu lẽ thật và họ chú tâm vào thực hành và tiếp nhận. Họ tiến bộ rất nhanh. Họ giỏi hơn tôi nhiều. Chị nên ngưỡng mộ họ vì sự nghiêm túc và nỗ lực trong việc tìm kiếm lẽ thật, chứ không phải tôi vì là một tín hữu lâu năm hay chịu đau khổ. Thời gian của một người trong đức tin được Đức Chúa Trời quy định. Chẳng có gì đáng ngưỡng mộ cả. Nếu một tín hữu lâu năm không tìm kiếm lẽ thật và tâm tính sống không thay đổi, mà họ chỉ có thể làm những việc tốt bề ngoài, thì họ vẫn là một người Pha-ri-si khiến người khác lạc lối. Thế nên mưu cầu lẽ thật và thay đổi tâm tính là điều quan trọng nhất”. Tôi cảm thấy thoải mái hơn sau khi chia sẻ thông công đó. Tôi đã thôi nói giáo lý và khoác lác trong các buổi họp sau đó, mà chỉ chia sẻ hiểu biết về bản thân khi suy ngẫm những lời Đức Chúa Trời. Tôi còn tuyên bố: “Tôi chỉ mới hiểu bản thân được một chút. Tôi vẫn chưa thay đổi, và tôi chưa thực hành hay tiếp nhận điều này”. Thông công của tôi chưa sâu sắc, nhưng tôi cảm thấy thanh thản hơn nhiều.

Qua trải nghiệm của tôi, tôi chắc chắn đã hiểu một điều và tôi đã trải nghiệm nó một cách sâu sắc. Dù một người có là tín hữu bao lâu, có vẻ tốt đẹp mấy đi chăng nữa, hay họ cư xử tốt thế nào, chịu đau khổ và công tác ra sao, nếu họ không tìm kiếm lẽ thật, nếu họ không tiếp nhận nó và quy phục khi Đức Chúa Trời phán xét, hành phạt, tỉa sửa và xử lý họ, nếu họ không cố gắng hiểu bản thân và tiếp nhận thực tế trong lời của Đức Chúa Trời khi nảy sinh vấn đề, nếu tâm tính Sa-tan của họ không thay đổi, thì họ đang đi trên con đường của những người Pha-ri-si và những kẻ địch lại Đấng Christ. Ngay lúc xuất hiện hoàn cảnh phù hợp, họ sẽ biến thành một kẻ địch lại Đấng Christ, một kẻ lừa gạt. Điều này là chắc chắn. Đó là kết cục không thể tránh khỏi. Tôi đã hiểu tầm quan trọng của việc tìm kiếm lẽ thật, tiếp nhận và quy phục việc bị phán xét, hành phạt, và xử lý bởi Đức Chúa Trời để được cứu rỗi và thay đổi tâm tính! Tạ ơn Đức Chúa Trời!

Bạn có mong muốn làm trinh nữ khôn ngoan lắng nghe tiếng Đức Chúa Trời để nghênh đón Chúa không

Nội dung liên quan

Tháo gỡ những nút thắt

Bởi Thúy Bách, Ý Đức Chúa Trời phán: “Vì số phận của các ngươi, các ngươi nên tìm kiếm sự chấp thuận của Đức Chúa Trời. Điều này có nghĩa...

Tháng ngày theo đuổi danh lợi

Bởi Lý Mẫn, Tây Ban Nha “Trong đời mình, nếu con người muốn được làm cho thanh sạch và có được những đổi thay trong tâm tính của mình, nếu...

Liên hệ với chúng tôi qua Messenger