Tôi đã thể nghiệm và lĩnh hội được rằng sự phán xét của Đức Chúa Trời là sự cứu rỗi tuyệt vời nhất

28/07/2026

Bởi Trương Tâm, Trung Quốc

Năm 1995, tôi bắt đầu tin Đức Chúa Jêsus. Lúc đó, một người giảng đạo đã dùng những lời tiên tri trong sách Khải Huyền để nói cho chúng tôi biết thành thánh tuyệt vời như thế nào. Ông ấy cũng nói rằng Đức Chúa Jêsus sẽ sớm trở lại để đón chúng tôi về ngôi nhà trên trời, và chỉ bằng cách vứt bỏ và dâng mình cho Chúa thì sau này chúng tôi mới có thể vào được thành thánh. Nghe những lời này, lòng tôi vô cùng phấn khởi. Sau đó, tôi bắt đầu tích cực tham gia các buổi nhóm họp và dâng hiến tiền của. Bất kể chồng tôi hay vợ chồng anh trai tôi cố gắng ngăn cản thế nào, cũng không gì có thể lay chuyển quyết tâm đi theo Đức Chúa Jêsus của tôi. Ba năm sau, vì tôi kiên quyết tin Chúa, chồng tôi đã đòi ly hôn. Tôi đồng ý. Sau đó, tôi dâng hiến tất cả tài sản của mình cho hội thánh và kiên quyết rời nhà để truyền đạo và làm công tác cho Chúa. Hai tháng sau, tôi trở thành một người đồng công, phụ trách hơn bảy mươi hội thánh. Năm 2000, tại một buổi họp của những người đồng công, một lãnh đạo đã nói với chúng tôi: “Hiện nay đã xuất hiện một giáo phái gọi là ‘Tia Chớp Phương Đông’. Họ nói rằng Đức Chúa Trời đã nhập thể trở lại là Đức Chúa Trời Toàn Năng, và đang thực hiện một giai đoạn công tác mới. Điều này là không thể! Họ thậm chí không còn đọc Kinh Thánh nữa. Tất cả lời của Đức Chúa Trời đều ở trong Kinh Thánh, ngoài Kinh Thánh ra không có lời của Đức Chúa Trời. Xa rời Kinh Thánh thì không phải là tin Chúa! Họ đi truyền đạo khắp nơi và đã cướp đi nhiều con chiên tốt của các giáo phái. Chúng ta phải là những đầy tớ trung thành của Chúa và bảo vệ các anh chị em, thế thì sau này chúng ta mới có thể ăn nói với Chúa! Các anh chị em tuyệt đối không được tin vào con đường của Tia Chớp Phương Đông. Một khi đã tin, các anh chị em sẽ rời bỏ con đường của Chúa và bị Ngài vứt bỏ!”. Nghe lãnh đạo nói vậy, tôi thầm nghĩ: “Mình phải cẩn thận, giữ vững con đường của Chúa, và bảo vệ bầy chiên”. Sau đó, tôi bắt đầu phong tỏa hội thánh. Tại mỗi nơi nhóm họp mà tôi phụ trách, tôi đều nhiều lần nhấn mạnh rằng không được tiếp người lạ và không ai được tin vào con đường của Tia Chớp Phương Đông. Nghe vậy, các tín hữu đều bắt đầu cảnh giác với những người của Tia Chớp Phương Đông. Không lâu sau, tôi nghe tin có hai chị em đã tiếp nhận Đức Chúa Trời Toàn Năng. Tôi lập tức chạy đến nhà họ để khuyên họ quay đầu. Họ không nghe tôi và nhất quyết tin vào Đức Chúa Trời Toàn Năng. Tôi rất tức giận, và càng trông chừng các anh chị em khác nghiêm ngặt hơn. Rồi tôi lại biết tin một cặp vợ chồng cũng đã tiếp nhận Đức Chúa Trời Toàn Năng. Tôi vội vàng đến nhà họ và kéo họ về. Lúc đó, tôi thực sự tin rằng mình cuối cùng đã giải cứu được bầy chiên của Chúa, và Chúa chắc chắn sẽ khen ngợi việc tôi đã làm.

Tháng 2 năm 2002, một chị em đưa tôi đến nhà chị ấy để thảo luận Kinh Thánh với người thân của chị. Họ đã thảo luận mọi thứ, từ việc Đức Chúa Trời tạo dựng thế giới đến công tác của Giê-hô-va Đức Chúa Trời trong Thời đại Luật pháp, rồi đến công tác của Đức Chúa Jêsus trong Thời đại Ân điển. Họ giải thích rõ ràng bối cảnh và những bước ngoặt của mỗi giai đoạn công tác. Họ cũng thông công về việc Đức Chúa Trời ban phước cho loại người nào và rủa sả loại người nào. Họ thông công rất thấu suốt, và đó là những điều tôi chưa từng nghe thấy bao giờ. Tôi cảm thấy họ giảng rất hay. Sau đó, họ làm chứng cho tôi về công tác thời kỳ sau rốt của Đức Chúa Trời Toàn Năng. Qua việc đọc lời của Đức Chúa Trời Toàn Năng và lắng nghe sự thông công của các anh chị em, tôi đã hiểu ra rằng Kinh Thánh chỉ ghi lại công tác của Đức Chúa Trời trong Thời đại Luật pháp và Thời đại Ân điển. Đó là một cuốn sách lịch sử và không thể đại diện cho toàn bộ công tác của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời luôn mới và không bao giờ cũ, và công tác của Ngài luôn tiến về phía trước. Khi Đức Chúa Trời trở lại trong thời kỳ sau rốt, Ngài sẽ thực hiện công tác mới vượt ra ngoài Kinh Thánh. Trong giai đoạn này, trên nền tảng công tác cứu chuộc của Đức Chúa Jêsus, Ngài sẽ thực hiện công tác phán xét và làm tinh sạch, để cứu rỗi hoàn toàn nhân loại khỏi tội lỗi và đưa con người đến một đích đến tốt đẹp. Việc Đức Chúa Trời Toàn Năng bày tỏ lẽ thật để thực hiện công tác phán xét của Ngài trong thời kỳ sau rốt đã ứng nghiệm những lời tiên tri của Đức Chúa Jêsus: “Người nào bỏ Ta ra và không nhận lãnh lời Ta, đã có kẻ xét đoán rồi; lời Ta đã rao giảng, chính lời đó sẽ xét đoán họ vào ngày sau cùng(Giăng 12:48). “Ta còn có nhiều chuyện nói với các ngươi nữa; nhưng bây giờ những điều đó cao quá sức các ngươi. Lúc nào Thần lẽ thật sẽ đến, thì Ngài dẫn các ngươi vào mọi lẽ thật(Giăng 16:12-13). Đặc biệt, khi tôi thấy Đức Chúa Trời Toàn Năng đã tiết lộ tất cả những lẽ mầu nhiệm của Kinh Thánh, rằng “Lời xuất hiện trong xác thịt” chính là “cuộn sách nhỏ được Chiên Con mở ra” được tiên tri trong sách Khải Huyền, và đó là những gì Đức Thánh Linh phán với các hội thánh, tôi mới ý thức được rằng “Tia Chớp Phương Đông” mà tôi vẫn luôn từ chối tiếp nhận thực ra chính là sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Jêsus trong thời kỳ sau rốt. Lòng tôi có một nỗi khó chịu khó diễn tả thành lời. Nghĩ về việc kể từ khi tin Chúa, tôi đã vượt qua sự bách hại của chồng và đã dâng hiến như người đàn bà góa nghèo. Tôi đã vứt bỏ mọi thứ để công tác cho Chúa. Tôi đã nghĩ mình đang kiên định trên con đường của Chúa, tận tụy canh giữ bầy chiên của Ngài. Tôi chưa từng nghĩ rằng mình lại không hề tìm kiếm khi Chúa trở lại. Tôi đã mù quáng bám giữ những quan niệm và tưởng tượng của riêng mình, tin rằng Đức Chúa Trời không thể nào nhập thể, rằng công tác của Ngài không thể vượt ra ngoài Kinh Thánh, v.v.. Tôi đã kiêu ngạo lên án và chống đối công tác thời kỳ sau rốt của Đức Chúa Trời, phong tỏa hội thánh để ngăn cản các anh chị em tìm hiểu con đường thật, thậm chí còn đưa một cặp vợ chồng đã tiếp nhận công tác thời kỳ sau rốt của Đức Chúa Trời trở về giáo phái cũ của tôi. Đức Chúa Jêsus đã quở trách những người Pha-ri-si rằng: “Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! Vì các ngươi đóng nước thiên đàng trước mặt người ta; các ngươi không vào đó bao giờ, mà có ai muốn vào, thì lại ngăn trở(Ma-thi-ơ 23:13). Hành động của tôi chẳng phải hệt như những người Pha-ri-si sao? Bản thân tôi không tiếp nhận công tác thời kỳ sau rốt của Đức Chúa Trời, lại còn cố hết sức ngăn cản các tín hữu khác tiếp nhận. Đó chẳng phải là đang kéo họ xuống địa ngục sao? Tôi đã làm biết bao việc ác, chẳng phải tôi cũng sẽ chuốc lấy tai họa sao? Lòng tôi tràn ngập sự hối hận. Nhưng rồi tôi lại nghĩ, việc được tiếp nhận công tác thời kỳ sau rốt của Đức Chúa Trời là sự ân đãi và lòng thương xót của Ngài dành cho tôi. Tôi phải rao truyền phúc âm để bù đắp cho những vi phạm của mình. Có lẽ nếu tôi rao truyền phúc âm nhiều hơn, Đức Chúa Trời sẽ không còn nhớ đến những vi phạm của tôi nữa. Sau đó, tôi dẫn một chị em cùng đi rao truyền phúc âm cho cặp vợ chồng mà tôi từng kéo về. Không ngờ rằng, dù chúng tôi nói thế nào họ cũng không chịu nghe. Họ thậm chí còn dùng chính những lời tôi đã nói khi phong tỏa hội thánh để vặn lại tôi. Lòng tôi càng đau buồn và vô cùng hối hận. Để bù đắp cho những vi phạm của mình, tôi càng rao truyền phúc âm nhiều hơn. Trong thời gian đó, tôi đã chịu không ít khổ cực nhưng chưa bao giờ lùi bước. Tôi thầm nghĩ: “Có lẽ nếu Đức Chúa Trời thấy được sự tận tụy và hối cải của mình, Ngài sẽ không truy cứu những vi phạm của mình nữa, và vẫn sẽ cho mình cơ hội được cứu rỗi”.

Một ngày năm 2004, trong lúc tĩnh nguyện, tôi đọc được những lời này của Đức Chúa Trời: “Ta không thể tỏ lòng khoan dung với bất cứ ai đã bức hại Ta, bất cứ ai không có kiến thức về Ta (gồm cả trước khi danh Ta được làm chứng), những ai đã tin Ta là con người, hay bất cứ ai đã báng bổ Ta và phỉ báng Ta trong quá khứ. Thậm chí nếu họ làm chứng vang dội nhất cho Ta ngay bây giờ, thì việc đó cũng không ích gì. Việc bức hại Ta trong quá khứ là một cách phục vụ Ta, và nếu những kẻ đó làm chứng cho Ta ngày hôm nay, thì họ vẫn là công cụ của Ta(Những lời phán của Đấng Christ buổi ban đầu – Chương 85, Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). Đọc xong lời Đức Chúa Trời, tôi chết lặng tại chỗ. Đầu óc tôi hoàn toàn trống rỗng, một lúc lâu sau mới định thần lại được. Từ lời Đức Chúa Trời, tôi thấy rằng Ngài không khoan dung cho bất kỳ ai đã bách hại và vu khống Ngài. Ngay cả khi bây giờ họ làm chứng cho Đức Chúa Trời, họ vẫn không thể nhận được sự khoan dung của Ngài; họ chỉ có thể phục vụ cho Ngài. Tôi nghĩ về việc mình đã bám giữ những quan niệm và tưởng tượng của bản thân, không hề tìm kiếm hay tìm hiểu công tác thời kỳ sau rốt của Đức Chúa Trời. Thay vào đó, tôi đã vu khống và chống đối Đức Chúa Trời, phong tỏa hội thánh để ngăn cản các tín hữu tìm hiểu con đường thật, thậm chí còn kéo những người đã tiếp nhận công tác thời kỳ sau rốt của Đức Chúa Trời trở về giáo phái cũ của tôi. Tôi đã làm một điều ác tày trời như vậy, chắc chắn Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ tha thứ cho tôi. Chẳng phải tôi xong đời rồi sao? Tôi còn có thể có kết cục tốt đẹp nào được chứ? Nhưng tôi vẫn ôm một tia hy vọng mong manh. “Liệu mình có lĩnh hội sai không? Khi Đức Chúa Trời phán rằng Ngài ‘Ta không thể tỏ lòng khoan dung với bất cứ ai đã bức hại Ta,’ Có phải Ngài đang nói về những người đã phỉ báng và vu khống Ngài sau khi đã nghe lời Ngài và biết công tác của Ngài không?” Tôi vội vã đọc lại lời Đức Chúa Trời, từng câu từng chữ một. Đức Chúa Trời đã phán rất rõ ràng. Đối tượng mà Ngài nhắm đến trong câu nói này cũng bao gồm cả những người đã phỉ báng và vu khống Đức Chúa Trời Toàn Năng mà chưa từng nghe lời Ngài hay nhận biết Ngài. Chỉ đến lúc đó tôi mới chắc chắn rằng mình chính là một trong những người mà Đức Chúa Trời không thể khoan dung. Những lời nghiêm khắc của Đức Chúa Trời như giáng mạnh vào tim tôi. Tôi vô cùng sợ hãi, chân tay bủn rủn. “Xem ra mình không còn cả cơ hội hối cải nữa rồi”, tôi nghĩ. “Cho dù mình có thuận phục trong bổn phận thế nào, cho dù mình chịu bao nhiêu khổ cực, và ngay cả khi mình đưa ra lời chứng vang dội nhất, mình vẫn sẽ không nhận được sự khoan dung của Đức Chúa Trời. Hy vọng được cứu rỗi của mình đã hoàn toàn tiêu tan”. Trong suốt thời gian đó, dù vẫn đang rao truyền phúc âm, nhưng hễ nghĩ đến việc Đức Chúa Trời sẽ không cứu rỗi mình, tôi lại vô cùng tiêu cực chán nản, và không còn tích cực rao truyền phúc âm như trước nữa. Có một lần, tôi dắt xe đạp đi trên phố, nhìn dòng người qua lại. Tôi thầm nghĩ: “Ai cũng có nhà của riêng mình. Còn mình thì sao? Khi mới bắt đầu tin Chúa, mình đã coi hội thánh là nhà. Thật không ngờ vì không nhận ra Chúa trở lại mà mình đã chống đối Ngài phạm phải những vi phạm không thể tha thứ, và không có phần trong ngôi nhà mà Đức Chúa Trời đã chuẩn bị cho nhân loại – vương quốc của Đức Chúa Trời”. Lúc đó, tôi cảm thấy thật lạnh lẽo trong lòng.

Một hôm, tôi đọc được lời Đức Chúa Trời và rất cảm động, tình trạng chán nản của tôi cũng có chút chuyển biến. Đức Chúa Trời phán: “Là một loài thọ tạo, ngươi nên thi hành bổn phận của một loài thọ tạo. Đừng hành động trái với lương tâm của mình; điều ngươi nên làm là dâng mình cho Chúa sáng thế(Ý nghĩa của việc cứu rỗi con cháu Mô-áp, Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). Tôi là một loài thọ tạo; rao truyền phúc âm và làm chứng cho Đức Chúa Trời là bổn phận của tôi. Tôi không thể vì chẳng còn kết cục tốt đẹp mà ngừng làm bổn phận một cách đàng hoàng. Đó chẳng phải là thiếu lương tâm và lý trí sao? Sau đó, tôi tiếp tục rao truyền phúc âm. Tôi vui mừng khi có kết quả, nhưng sâu trong lòng, tôi luôn cảm thấy nặng nề. Tôi nghĩ về việc mình đã từng có vi phạm và khác với những người khác – khi họ rao truyền phúc âm, họ có thể nhận được sự khen ngợi của Đức Chúa Trời và có hy vọng được cứu rỗi, nhưng dù tôi có rao truyền phúc âm nhiều đến đâu, tôi cũng sẽ không bao giờ được Đức Chúa Trời tha thứ. Thỉnh thoảng, tôi lại cảm thấy chán nản.

Sau đó, tôi đọc lời Đức Chúa Trời và có được một số nhận thức về tình trạng của mình. Đức Chúa Trời Toàn Năng phán: “Nhiều người theo Đức Chúa Trời chỉ quan tâm đến việc làm thế nào để đạt được phúc lành hay tránh khỏi tai ương. Ngay khi công tác và sự quản lý của Đức Chúa Trời được đề cập thì họ lại im lặng và mất đi mọi hứng thú. Họ nghĩ rằng hiểu biết về những vấn đề tẻ nhạt đó sẽ chẳng giúp sự sống của họ trưởng thành hay cung cấp bất kỳ lợi ích gì. Kết quả là, mặc dù họ đã nghe thông tin về sự quản lý của Đức Chúa Trời, nhưng họ chỉ tiếp cận một cách qua quýt. Họ không xem nó là điều gì đó quý giá để chấp nhận lấy, càng không lĩnh hội nó bằng cách xem nó như một phần trong sự sống của họ. Mục đích của những người này khi đi theo Đức Chúa Trời rất đơn giản, chỉ có một mục tiêu mà thôi: đó là nhận lãnh phúc lành. Những người như thế chẳng màng đến bất kỳ thứ gì không liên quan đến mục tiêu này. Đối với họ, không có mục tiêu nào chính đáng hơn là tin vào Đức Chúa Trời để nhận lãnh ơn phước – đó chính là giá trị đức tin của họ. Nếu điều gì không đóng góp vào mục tiêu này, họ cứ hoàn toàn thờ ơ với nó. Đây là tình hình của hầu hết mọi người tin vào Đức Chúa Trời ngày nay. Mục tiêu và ý định của họ có vẻ chính đáng, bởi vì khi họ tin Đức Chúa Trời, họ cũng dâng mình cho Đức Chúa Trời, dâng hiến cho Đức Chúa Trời, và thực hiện bổn phận của mình. Họ hy sinh tuổi trẻ, từ bỏ gia đình và sự nghiệp, và thậm chí còn sống nhiều năm tất bật xa gia đình. Vì mục đích cuối cùng của họ, họ thay đổi sở thích của riêng mình, quan điểm về cuộc sống của mình, và thậm chí là phương hướng mưu cầu của mình; thế nhưng họ vẫn không thể thay đổi mục tiêu đức tin của mình vào Đức Chúa Trời. Họ xuôi ngược để lo cho những lý tưởng của chính họ; bất kể con đường có xa xôi, và bất kể bao nhiêu chông gai và trở ngại trên đường, họ vẫn bền bỉ và không sợ hãi cái chết. Sức mạnh nào buộc họ phải tiếp tục dâng hiến bản thân theo cách này? Liệu đó có phải là lương tâm của họ hay không? Liệu đó có phải là nhân cách vĩ đại và cao quý của họ hay không? Liệu đó có phải là quyết tâm chiến đấu với các thế lực tà ác cho đến cùng của họ? Liệu đó có phải đức tin của họ nhằm làm chứng cho Đức Chúa Trời mà không tìm kiếm phần thưởng? Liệu đó có phải lòng trung thành của họ trong việc sẵn sàng từ bỏ mọi thứ để hoàn thành ý chỉ của Đức Chúa Trời? Hay đó là tinh thần dâng hiến của họ luôn sẵn lòng từ bỏ những đòi hỏi cá nhân vô độ? Đối với một người chưa từng hiểu công tác quản lý của Đức Chúa Trời mà vẫn cho đi quá nhiều, thì đó hoàn toàn là một phép màu! Bây giờ, hãy thôi bàn thảo về việc những người này đã cho đi bao nhiêu. Tuy nhiên, hành xử của họ rất đáng để chúng ta mổ xẻ. Ngoài những lợi ích trực tiếp liên quan đến họ, liệu có còn các lý do nào khác để những người mà chẳng bao giờ hiểu Đức Chúa Trời lại dâng hiến quá nhiều cho Ngài? Trong việc này, chúng ta phát hiện ra một vấn đề mà trước đây chưa xác định được: Mối quan hệ của con người với Đức Chúa Trời chỉ là quan hệ lợi ích trần trụi. Đó là mối quan hệ giữa người nhận phúc và người ban phúc. Nói thẳng ra, nó là quan hệ giữa người làm công và người chủ. Người làm công chăm chỉ làm việc chỉ để nhận tiền thưởng của người chủ. Trong mối quan hệ lợi ích như thế thì chẳng có tình thân, mà chỉ có giao dịch. Chẳng có yêu mến hay được yêu mến, chỉ có sự bố thí và thương xót. Chẳng có thấu hiểu, chỉ có bất lực bấm bụng nuốt giận và lừa dối. Chẳng có sự thân tình, chỉ có một hố sâu ngăn cách không thể vượt qua. Bây giờ mọi thứ đã đến mức này, ai có thể đảo ngược được chiều hướng như thế? Và mấy ai có khả năng thực sự hiểu rằng mối quan hệ này đã trở nên nguy cấp như thế nào? Ta tin rằng khi người ta chìm đắm trong niềm vui sướng được phước, chẳng ai có thể tưởng tượng mối quan hệ như vậy với Đức Chúa Trời lại ngượng ngùng và khó coi thế nào(Phụ lục 3: Con người chỉ có thể được cứu rỗi giữa sự quản lý của Đức Chúa Trời, Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). Đọc xong lời Đức Chúa Trời, tôi vừa cảm thấy được khai sáng, lại vừa thấy xấu hổ. Mối quan hệ của tôi với Đức Chúa Trời đúng như những gì Ngài đã vạch rõ: toàn là sự đổi chác lợi ích trần trụi. Khi tin Chúa, tôi đã chịu đựng sự bách hại và vứt bỏ gia đình để được ban phước và vào vương quốc thiên đàng. Tôi đã kiên trì dẫn dắt các hội thánh và rao truyền phúc âm qua giá rét cắt da và nắng hè gay gắt, bất kể phải chịu bao nhiêu khổ cực. Nhưng khi đối mặt với công tác thời kỳ sau rốt của Đức Chúa Trời, tôi không những không tự mình tìm kiếm hay tìm hiểu, mà còn lên án và chống đối, thậm chí còn phong tỏa hội thánh để ngăn cản các tín hữu tiếp nhận Đức Chúa Trời Toàn Năng. Sau khi tiếp nhận công tác thời kỳ sau rốt của Đức Chúa Trời, tôi biết mình đã làm điều ác và chống đối Đức Chúa Trời. Suy nghĩ đầu tiên của tôi không phải là làm thế nào để hối cải với Đức Chúa Trời, mà là làm thế nào để có thể rao truyền phúc âm nhiều hơn nhằm bù đắp cho những vi phạm của mình và đổi lấy lòng thương xót của Đức Chúa Trời, để Ngài cho tôi một cơ hội vào vương quốc thiên đàng. Khi tôi đọc được rằng Đức Chúa Trời “Ta không thể tỏ lòng khoan dung với bất cứ ai đã bức hại Ta” đối với những người đã phỉ báng và vu khống Ngài, tôi tin rằng dù có cố gắng thế nào trong bổn phận, tôi cũng sẽ không bao giờ nhận được sự khoan dung của Đức Chúa Trời, và hy vọng được cứu rỗi đã tan biến. Thế là tôi trở nên tiêu cực và bị động trong việc làm bổn phận. Từ đầu đến cuối, tất cả những gì tôi quan tâm là được ban phước. Tôi đã vứt bỏ, dâng mình, lao khổ và công tác không phải để mưu cầu lẽ thật hay nhận biết Đức Chúa Trời, mà là để đổi lấy phước lành được vào vương quốc thiên đàng. Đây chẳng phải chính là “chỉ có bất lực bấm bụng nuốt giận và lừa dối” mà Đức Chúa Trời đã vạch rõ sao? Trong suốt những năm tin Đức Chúa Trời, tôi chưa bao giờ tìm kiếm tâm ý của Ngài. Tôi chưa bao giờ nghĩ đến việc Đức Chúa Trời muốn tôi mưu cầu điều gì, Ngài có yêu cầu gì đối với tôi, tôi nên quan tâm đến tâm ý của Ngài và thỏa mãn Ngài như thế nào, hay tôi nên mưu cầu lẽ thật để đạt được sự thay đổi trong tâm tính như thế nào. Trong tâm trí tôi, việc mưu cầu lẽ thật trong đức tin dường như là một điều gì đó thừa thãi, còn việc mưu cầu phước lành mới là thực tế nhất. Tôi thực sự đã bị ham muốn được ban phước làm cho mù quáng và đã đi sai đường suốt bấy lâu nay. Tôi nghĩ đến Phao-lô. Ông đã không lắng nghe hay tìm kiếm khi Đức Chúa Jêsus đang công tác; thay vào đó, ông đã lên án và chống đối Đức Chúa Jêsus, truy bắt và giết hại các môn đồ của Ngài, và làm nhiều việc ác. Sau khi bị Chúa đánh giết, ông ta không hề phản tỉnh về những hành vi và thực chất chống đối Đức Chúa Trời trong quá khứ của mình. Ông ta cũng không mưu cầu nhận biết Chúa, mà chỉ muốn rao truyền phúc âm và thu phục thêm nhiều người để chuộc lại tội lỗi của mình. Sau khi thực hiện rất nhiều công tác, ông ta đã trắng trợn đòi mão triều thiên từ Đức Chúa Trời, nói rằng: “Ta đã đánh trận tốt lành, đã xong sự chạy, đã giữ được đức tin: Hiện nay mão triều thiên của sự công bình đã để dành cho ta” (2 Ti-mô-thê 4:7-8). Tôi đã vứt bỏ, dâng mình và làm bổn phận chỉ để đòi hỏi phước lành từ Đức Chúa Trời; tôi đã đi trên con đường của Phao-lô. Nhận ra điều này, tôi vô cùng hối hận và tự trách, tôi đã khóc và cầu nguyện với Đức Chúa Trời: “Lạy Đức Chúa Trời, bây giờ con đã hiểu mình đê tiện và xấu xa đến nhường nào. Dù con đã rao truyền phúc âm và làm bổn phận suốt những năm qua, nhưng thực ra con chỉ đang lợi dụng bổn phận để đạt được mục đích được ban phước. Con thực sự không xứng đáng sống trước mặt Ngài. Lạy Đức Chúa Trời, con cầu xin Ngài dẫn dắt con mưu cầu sự thay đổi tâm tính và mưu cầu nhận biết Ngài”.

Sau đó, tôi đọc thêm lời của Đức Chúa Trời và hiểu thêm một chút về tâm ý cứu rỗi con người của Ngài. Đức Chúa Trời phán: “Ngày nay, Đức Chúa Trời phán xét các ngươi, hành phạt các ngươi, và kết án các ngươi, nhưng ngươi phải biết rằng mục đích của việc kết án ngươi là để ngươi biết được chính mình. Ngài kết án, rủa sả, phán xét và hành phạt để ngươi có thể biết được chính mình, để tâm tính của ngươi có thể thay đổi, và hơn thế nữa, để ngươi có thể biết được giá trị của mình, và thấy rằng tất cả hành động của Đức Chúa Trời đều công chính và phù hợp với tâm tính của Ngài và những yêu cầu trong công tác của Ngài, rằng Ngài làm việc phù hợp với kế hoạch cứu rỗi nhân loại của Ngài, và rằng Ngài là Đức Chúa Trời công chính, Đấng yêu thương, cứu rỗi, phán xét, và hành phạt con người. Nếu ngươi chỉ biết rằng ngươi có địa vị thấp hèn, rằng ngươi bại hoại và phản nghịch, nhưng không biết rằng Đức Chúa Trời mong muốn làm rõ sự cứu rỗi của Ngài qua việc phán xét và hành phạt mà Ngài làm trong ngươi hôm nay, thì ngươi không cách nào trải nghiệm, càng không có khả năng tiếp tục tiến tới. Đức Chúa Trời đã không đến để giết chóc hoặc hủy diệt, mà để phán xét, rủa sả, hành phạt, và cứu rỗi. Cho đến khi kế hoạch 6.000 năm quản lý của Ngài đi đến hồi kết – trước khi Ngài mặc khải kết cục của từng hạng người – thì công tác của Đức Chúa Trời trên đất sẽ vì lợi ích của sự cứu rỗi; mục đích của nó chỉ là làm cho những ai yêu mến Ngài được trọn vẹn – một cách toàn diện – và khiến họ quy phục dưới sự thống trị của Ngài. … Đức Chúa Trời đã đến làm việc trên đất để cứu rỗi nhân loại bại hoại; không có gì sai trong chuyện này cả. Nếu không, thì Ngài chắc chắn đã không đích thân đến để thực hiện công tác của Ngài. Trong quá khứ, phương tiện cứu rỗi của Ngài chính là việc thể hiện lòng thương xót và từ ái tột bậc, đến nỗi Ngài trao toàn bộ bản thân Ngài cho Sa-tan để đổi lấy toàn nhân loại. Hiện tại không có gì giống quá khứ: Sự cứu rỗi được ban cho các ngươi hôm nay xảy ra vào thời điểm những ngày sau rốt, trong quá trình phân chia mỗi người theo hạng; phương tiện của sự cứu rỗi các ngươi không phải là lòng thương xót và từ ái, mà là hình phạt và phán xét, để con người có thể được cứu rỗi một cách triệt để hơn. Như thế, tất cả những gì các ngươi nhận được là hình phạt, phán xét, và đánh đập không thương tiếc, nhưng hãy biết điều này: trong việc đánh đập nhẫn tâm này không có chút trừng phạt nào cả. Bất kể lời của Ta có khắt khe đến mức nào, thì những gì giáng trên các ngươi chỉ là một vài lời có vẻ cực kỳ nhẫn tâm đối với các ngươi, và cho dù Ta có thể tức giận đến mức nào, thì những gì trút xuống các ngươi vẫn là những lời quở trách, và Ta không có ý làm hại các ngươi hoặc đưa các ngươi đến cái chết. Chẳng phải đây đều là sự thật sao? Hãy biết rằng ngày nay, cho dù đó là sự phán xét công chính hay sự tinh luyện và hành phạt nhẫn tâm, thì mọi thứ đều vì sự cứu rỗi. Bất kể ngày nay mỗi người được phân chia theo từng hạng hay đủ mọi hạng người được tỏ lộ, thì mục đích trong tất cả những lời và công tác của Đức Chúa Trời là cứu những ai thực sự yêu mến Đức Chúa Trời. Sự phán xét công chính được mang đến để làm cho tinh sạch con người, và sự tinh luyện nhẫn tâm được thực hiện để làm họ thanh sạch; cả những lời khắt khe lẫn việc sửa phạt đều được thực hiện để làm cho tinh sạch và vì mục đích cứu rỗi(Ngươi nên đặt các phước lành về địa vị sang một bên và hiểu được tâm ý của Đức Chúa Trời để mang sự cứu rỗi đến cho con người, Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). “Đức Chúa Trời đến làm công tác lần này không phải để hạ gục con người, mà là để cứu rỗi họ nhiều nhất có thể. Không ai là không mắc lỗi – nếu mọi người đều bị hạ gục, thì đó có phải là cứu rỗi không? Một số vi phạm được thực hiện có chủ đích, trong khi một số khác thì là vô tình. Nếu ngươi có thể thay đổi sau khi nhận ra những việc mà mình làm một cách vô tình, liệu Đức Chúa Trời có hạ gục ngươi trước khi ngươi thay đổi không? Liệu Đức Chúa Trời có cứu rỗi con người theo cách đó không? Đó không phải là cách Ngài làm việc! Bất kể ngươi có tâm tính phản nghịch hay không, hoặc ngươi đã hành động không chủ ý hay không, hãy nhớ điều này: ngươi nên phản tỉnh và biết mình. Hãy mau chóng quay về, nỗ lực đạt đến lẽ thật – và, dù hoàn cảnh nào xảy ra thì cũng không thể cam chịu lạc hậu. Công tác mà Đức Chúa Trời đang làm là công tác cứu rỗi con người, và Ngài sẽ không tùy tiện hạ gục những người Ngài muốn cứu rỗi. Điều này là chắc chắn(Phần 3, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt). Tôi đã vô cùng cảm động bởi lời Đức Chúa Trời. Bất kể lời Đức Chúa Trời phán với con người là sự phán xét, sự lên án hay sự rủa sả, thì tất cả đều là vì mục đích cứu rỗi con người – để qua lời Ngài, con người có thể nhận biết tâm tính bại hoại và những uế tạp trong đức tin của chính mình, nhận biết thực chất chống đối Đức Chúa Trời của mình, và nhận biết tâm tính công chính, oai nghi và không thể xúc phạm của Đức Chúa Trời, từ đó nảy sinh lòng kính sợ Đức Chúa Trời. Bằng cách này, họ có thể buông bỏ những ý định sai lầm, thoát khỏi tâm tính bại hoại của Sa-tan, và đạt được sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Tôi tin Đức Chúa Trời nhưng không nhận biết Ngài hay công tác của Ngài. Tôi đã chống đối Đức Chúa Trời bằng tâm tính kiêu ngạo của mình. Khi phúc âm của vương quốc được rao truyền đến giáo phái cũ của tôi, tôi đã không tìm kiếm hay tìm hiểu, thậm chí còn gây nhiễu loạn và ngăn cản các tín hữu khác làm điều đó. Sự phán xét và lên án của Đức Chúa Trời đối với hành động của tôi đã tỏ lộ đầy đủ tâm tính công chính của Ngài. Nhưng khi Đức Chúa Trời phán xét và lên án tôi bằng lời của Ngài, Ngài không quy định kết cục của tôi, càng không đẩy tôi vào chỗ chết. Mục đích của Đức Chúa Trời là để tôi nhận biết tâm tính công chính, oai nghi và không thể xúc phạm của Ngài, để tôi nảy sinh lòng kính sợ Đức Chúa Trời. Mục đích của Ngài cũng là để tôi hiểu được tính chất hành động của mình, phản tỉnh về nguyên nhân gốc rễ của sự thất bại, và có thể ăn năn và thay đổi. Đây là cách Đức Chúa Trời làm cho tinh sạch và cứu rỗi tôi. Bất kể Đức Chúa Trời phán điều gì, Ngài đều hy vọng tôi có thể phản tỉnh và hiểu được tâm tính Sa-tan phản nghịch và chống đối Đức Chúa Trời của mình, để tôi có thể ăn năn và thay đổi. Giống như Đức Chúa Trời phán: “Công tác mà Đức Chúa Trời đang làm là công tác cứu rỗi con người, và Ngài sẽ không tùy tiện hạ gục những người Ngài muốn cứu rỗi. Điều này là chắc chắn”. Tôi đã quy định rằng công tác của Đức Chúa Trời chỉ nằm trong Kinh Thánh, lên án và chống đối công tác thời kỳ sau rốt của Ngài, thậm chí còn ngăn cản các tín hữu tiếp nhận công tác đó. Tôi thấy rằng dù tôi tin Đức Chúa Trời, nhưng tôi không hề có chút nhận biết nào về Ngài. Tâm tính của tôi cực kỳ kiêu ngạo, và tôi không hề có một chút lòng kính sợ Đức Chúa Trời hay lòng khiêm nhường nào. Tôi đã làm quá nhiều việc ác, đáng lý ra phải bị Đức Chúa Trời rủa sả và trừng phạt. Nhưng Đức Chúa Trời đã không đối xử với tôi theo những việc ác của tôi. Thay vào đó, Ngài đã đưa tôi đến trước mặt Ngài qua phúc âm do các anh chị em rao truyền, và cho phép tôi phản tỉnh và nhận biết bản thân qua sự phán xét, định tội và vạch rõ của lời Ngài. Nếu không có sự phán xét của Đức Chúa Trời, tôi chắc đã tin Ngài cả đời mà không bao giờ phản tỉnh hay nhận biết bản thân. Tôi sẽ không nhận ra bản tính kiêu ngạo của mình, hay nhận ra rằng mọi nỗ lực và sự dâng mình của tôi đều là vì mục đích được ban phước. Tôi hẳn đã cứ tiếp tục đi trên con đường sai lầm, phản nghịch Đức Chúa Trời, chống đối Ngài, xúc phạm tâm tính của Ngài, và cuối cùng bị Ngài ghét bỏ và đào thải. Chính sự phán xét nghiêm khắc của Đức Chúa Trời đã cứu rỗi tôi, cho tôi cơ hội để nhận biết bản thân và ăn năn với Ngài. Đức Chúa Trời chỉ phán xét tôi bằng lời của Ngài; Ngài không trừng phạt tôi, mà thậm chí còn cho phép tôi hưởng thụ rất nhiều sự cung ứng từ lời Ngài và dẫn dắt tôi hiểu được nhiều lẽ thật. Tôi đã nhận được quá nhiều từ Đức Chúa Trời. Ngay cả việc chỉ được làm một người phục vụ cũng là sự ân đãi và cất nhắc của Đức Chúa Trời. Cho dù sau này tôi không có kết cục và đích đến tốt đẹp, tôi vẫn phải làm tốt bổn phận của mình. Tôi thật may mắn khi được đến trước Đấng Tạo Hóa và nghe được tiếng Ngài. Cuộc đời tôi đã không sống hoài phí. Bất kể kết cục của tôi sau này ra sao, tôi đều tạ ơn và ca ngợi Đức Chúa Trời!

Sau đó, tôi đọc thêm lời của Đức Chúa Trời. Tôi đã có thể đối mặt với những vi phạm của mình một cách đúng đắn, và con đường thực hành cũng trở nên rõ ràng hơn đối với tôi. Đức Chúa Trời Toàn Năng phán: “Miễn là hiện tại các ngươi còn một chút hy vọng, thì dù Đức Chúa Trời có nhớ những vi phạm trước đây của ngươi hay không, các ngươi nên duy trì tâm lý nào? ‘Tôi phải mưu cầu thay đổi tâm tính của mình, mưu cầu sự hiểu biết về Đức Chúa Trời, không bao giờ bị Sa-tan lừa gạt nữa, và không bao giờ gây ra bất cứ điều gì làm nhục danh Đức Chúa Trời nữa’. Con người hiện nay bị làm cho bại hoại quá sâu sắc và không có chút giá trị nào. Những điểm then chốt nào quyết định liệu họ có thể được cứu rỗi hay không và liệu họ có hy vọng nào không? Mấu chốt của vấn đề là, sau khi nghe một bài giảng, ngươi có thể lĩnh hội lẽ thật, có thể đưa lẽ thật vào thực hành và có thể thay đổi hay không. Đây là những điểm then chốt. Nếu ngươi chỉ cảm thấy hối hận, đến khi làm việc thì muốn gì làm nấy, làm theo những cách cũ, không những không tìm kiếm lẽ thật, vẫn bám vào những quan điểm, phương thức và quy định xưa cũ, không phản tỉnh và cố gắng biết mình, mà còn trở nên ngày càng tồi tệ, vẫn khăng khăng đi trên con đường cũ, thì ngươi sẽ không còn hy vọng, và nên bị xóa sổ. Với sự hiểu biết nhiều hơn về Đức Chúa Trời và sự hiểu biết sâu hơn về bản thân, ngươi sẽ có thêm khả năng ngăn cản bản thân hành ác và phạm tội. Ngươi càng biết thấu đáo về bản tính của mình thì càng có thể bảo vệ bản thân. Và sau khi tổng kết những kinh nghiệm và bài học của mình, ngươi sẽ không thất bại nữa(Phần 3, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt). “Muốn giải quyết những hiểu lầm về Đức Chúa Trời, một mặt, con người phải nhận biết tâm tính bại hoại của mình, mổ xẻ và nhận biết được hết những chuyện sai trái mình đã làm, những con đường vòng mình đã đi hay những vi phạm và sai sót của mình. Như vậy thì họ mới có thể nhìn rõ và nhận biết bản tính của mình. Ngoài ra, con người phải thấy rõ tại sao họ lại có thể đi sai đường và làm ra nhiều chuyện đi ngược lại các nguyên tắc lẽ thật, thấy rõ tính chất của những hành động này là gì. Ngoài ra, họ phải hiểu tâm ý và yêu cầu của Đức Chúa Trời đối với con người rốt cuộc là gì, hiểu tại sao con người luôn không thể làm theo những gì Đức Chúa Trời yêu cầu ở họ, tại sao họ luôn đi ngược lại tâm ý của Ngài và chỉ làm những gì họ thích. Khi mang những điều này đến trước mặt Đức Chúa Trời mà cầu nguyện và nhận biết được rõ ràng, thì ngươi sẽ có thể xoay chuyển tình trạng, thay đổi tâm thái của mình, và sẽ có thể giải quyết những hiểu lầm của mình đối với Đức Chúa Trời. Có một số người dù làm gì cũng luôn có những ý định không chính đáng và những chủ ý lệch lạc, họ không thể kiểm điểm được xem trạng thái bên trong mình có đúng đắn hay không, cũng không dùng lời Đức Chúa Trời để tiến hành phân định. Đây chính là những người hồ đồ. Một trong những đặc trưng rõ ràng nhất của người hồ đồ chính là, sau khi làm chuyện xấu và bị tỉa sửa thì họ không ngừng tỏ ra tiêu cực, thậm chí là cam tâm sa đọa, tự mặc định rằng mình đã xong đời và không thể được cứu rỗi. Đây có phải là biểu hiện đáng thương nhất của một người hồ đồ không? Người hồ đồ sẽ không phản tỉnh bản thân dựa trên lời Đức Chúa Trời, và sẽ không tìm kiếm lẽ thật để giải quyết vấn đề khi gặp khó khăn. Hồ đồ như vậy là không nhẹ, có phải không? Cam tâm sa đọa thì có thể giải quyết được vấn đề không? Vùng vẫy trong sự tiêu cực thì có thể giải quyết được vấn đề không? Con người nên hiểu rằng khi họ làm sai hoặc gặp vấn đề gì thì nên tìm kiếm lẽ thật để giải quyết chúng. Trước tiên, họ phải phản tỉnh và nhận biết tại sao mình lại làm việc ác, ý định và xuất phát điểm để làm việc ác đó là gì, tại sao họ lại muốn làm như vậy, họ muốn đạt được mục đích gì, là ai đã khuyến khích, xúi giục, mê hoặc họ làm điều đó, hay là chính họ làm điều đó một cách có ý thức. Họ bắt buộc phải phản tỉnh và nhận biết rõ về những vấn đề này, như vậy thì họ mới có thể biết mình đã mắc phải những sai lầm gì và biết mình là thứ gì. Nếu họ không thể nhận biết thực chất việc hành ác của mình và cũng không rút ra được bài học nào từ đó, thì không thể nào giải quyết được vấn đề này. Có rất nhiều người làm chuyện xấu mà không bao giờ phản tỉnh và nhận biết bản thân, những người như vậy có thể thực sự hối cải không? Họ còn có hy vọng được cứu rỗi không? Con người vốn là hậu duệ của Sa-tan, cho dù họ có xúc phạm tâm tính của Đức Chúa Trời hay không thì thực chất bản tính của con người vẫn như vậy. Họ nên phản tỉnh và nhận biết bản thân nhiều hơn, thấy rõ mình đã phản nghịch và chống đối Đức Chúa Trời đến mức nào, và liệu mình còn có thể tiếp nhận và thực hành lẽ thật hay không. Nếu nhìn thấu được chuyện này thì họ sẽ biết được mình đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến thế nào. Thực ra, về mặt thực chất bản tính, nhân loại bại hoại đều gặp nguy hiểm rất lớn, việc tiếp nhận lẽ thật là một chuyện rất khó khăn và không hề dễ dàng với họ. Có người đã làm việc ác và thực chất bản tính của họ đã lộ rõ. Có người tạm thời chưa làm việc ác nhưng chưa chắc đã tốt hơn những người khác được bao nhiêu, chỉ là họ chưa gặp phải bối cảnh hay cơ hội để làm việc ác mà thôi. Vi ngươi đã có những vi phạm này thì bây giờ ngươi nên có thái độ gì, nên giải trình những gì trước Đức Chúa Trời, và những gì Ngài muốn nhìn thấy là gì, trong lòng ngươi phải hiểu rõ những điều này. Ngươi phải làm rõ những chuyện này thông qua cầu nguyện và tìm kiếm, như vậy thì ngươi sẽ biết sau này nên mưu cầu như thế nào, và sẽ không còn bị ảnh hưởng hay kìm kẹp bởi những chuyện sai trái mà mình đã làm trước đây. Con đường trước mặt nên tiếp tục đi như thế nào thì ngươi cứ đi như vậy, bổn phận nên thực hiện như thế nào thì cứ thực hiện như vậy, không được buông xuôi bản thân nữa, mà phải bước ra khỏi sự tiêu cực và hiểu lầm một cách triệt để. Một mặt, việc thực hiện bổn phận bây giờ là để bù đắp cho những vi phạm và sai sót lúc trước, đây là khía cạnh tiêu cực và không đáng làm cho lắm, nhưng ít nhất đó vẫn là tâm thái mà ngươi nên có. Mặt khác, ngươi phải tích cực và chủ động phối hợp, nên dốc hết sức làm tốt bổn phận ngươi nên làm, thực hiện trách nhiệm và nghĩa vụ của mình. Đây là điều mà loài thọ tạo nên làm. Cho dù ngươi có quan niệm gì về Đức Chúa Trời, cho dù ngươi bộc lộ sự bại hoại hay xúc phạm tâm tính của Đức Chúa Trời, thì ngươi đều phải giải quyết nó bằng cách phản tỉnh bản thân và tìm kiếm lẽ thật, rút ra được bài học từ những thất bại của mình và bước ra khỏi cái bóng tiêu cực một cách triệt để(Mưu cầu lẽ thật thì mới có thể giải quyết quan niệm và hiểu lầm về Đức Chúa Trời, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt). Từ lời Đức Chúa Trời, tôi hiểu rằng bất kể Đức Chúa Trời có ghi nhớ hay tha thứ cho những vi phạm của tôi hay không, miễn là còn một tia hy vọng được cứu rỗi, tôi không nên từ bỏ. Tôi chỉ cần tập trung mưu cầu lẽ thật và sự thay đổi tâm tính. Đây mới là con đường đúng đắn. Việc tôi có vi phạm là sự thật, nhưng bây giờ, Đức Chúa Trời đã không giao tôi cho Sa-tan, cũng không tước đi tư cách làm bổn phận của tôi. Tôi có thể đọc lời Đức Chúa Trời, làm bổn phận, và vẫn có cơ hội để mưu cầu lẽ thật và sự thay đổi tâm tính, vì vậy tôi không thể từ bỏ. Liệu Đức Chúa Trời có ghi nhớ hay tha thứ cho những vi phạm của tôi hay không là tùy thuộc vào Đức Chúa Trời; đó không phải là việc để tôi đoán mò. Tất cả những gì tôi cần làm là mưu cầu lẽ thật. Đức Chúa Trời không muốn tôi bị mắc kẹt bởi những vi phạm của mình, làm bổn phận trong tình trạng tiêu cực. Tâm ý của Ngài là muốn tôi hiểu được nguyên nhân thất bại của mình, để tôi có thể ăn năn và thay đổi. Ngài muốn tôi ngừng quy định Ngài bằng những quan niệm và tưởng tượng của riêng mình, và ngừng coi công sức của mình là bằng chứng để được ban phước. Bất kể tôi gặp phải chuyện gì, lớn hay nhỏ, tôi phải nhìn nhận sự việc theo lời của Ngài và thực hành lời của Ngài. Lời Đức Chúa Trời cũng đã sửa lại những quan điểm sai lầm của tôi. Tôi đã từng nghĩ mình khác với những người khác – rằng họ có hy vọng được cứu rỗi khi làm bổn phận, nhưng vì những vi phạm của mình, tôi chỉ có thể là một người phục vụ và không bao giờ có thể được cứu rỗi dù tôi có cố gắng mưu cầu đến đâu. Đây là việc hiểu lầm Đức Chúa Trời. Sau khi đọc lời của Ngài, tôi hiểu rằng chúng ta đều là những con người bị Sa-tan làm cho bại hoại, và chúng ta đều có cùng một thực chất chống đối Đức Chúa Trời. Chỉ là tôi đã xúc phạm tâm tính của Đức Chúa Trời, điều này khiến vấn đề của tôi nghiêm trọng hơn. Đó là sự thật. Thời gian không thể quay ngược lại. Điều Đức Chúa Trời muốn thấy là thái độ ăn năn và những biểu hiện thực tế của tôi. Tôi cầu nguyện với Đức Chúa Trời: “Lạy Đức Chúa Trời, bây giờ con đã hiểu tâm ý của Ngài. Chừng nào con còn sống, con sẽ mưu cầu lẽ thật, mưu cầu sự thay đổi tâm tính, và làm tốt bổn phận của mình. Bất kể Ngài có tha thứ cho con hay không, con vẫn là một loài thọ tạo. Ngay cả khi Ngài để con làm một người phục vụ, con vẫn là một loài thọ tạo. Con nguyện làm tốt bổn phận của mình một cách vững vàng”. Hiểu được điều này, lòng tôi thanh thản hơn nhiều. Bây giờ Đức Chúa Trời đã cho chúng ta biết mọi phương diện của lẽ thật, tôi thấy rằng mưu cầu lẽ thật là điều quan trọng nhất. Bất kể kết cục tương lai của tôi ra sao hay Đức Chúa Trời đối xử với tôi thế nào, tôi sẽ tập trung mưu cầu lẽ thật trong khi làm bổn phận và để lời Đức Chúa Trời trở thành sự sống của tôi. Đây là điều tôi phải mưu cầu. Sau khi trải qua trải nghiệm này, tôi thực sự cảm nhận được rằng sự phán xét của Đức Chúa Trời là sự cứu rỗi tuyệt vời nhất dành cho mình. Tạ ơn Đức Chúa Trời!

Hồi chuông thời sau hết báo động đã vang lên, đại thảm họa đã ập xuống, bạn có muốn cùng gia đình nghênh đón được Thiên Chúa, và có cơ hội nhận được sự che chở của Thiên Chúa không?

Nội dung liên quan

Leave a Reply

Liên hệ với chúng tôi qua Messenger