Tại sao tôi không dám chỉ ra vấn đề của người khác

05/01/2026

Bởi Từ Tuệ, Trung Quốc

Trước đây khi qua lại với hàng xóm, tôi để ý có một người ăn nói rất thẳng tính. Hễ thấy ai có chỗ nào không phải là chị ấy lại chỉ ra ngay, kết quả là thường đắc tội người khác. Mấy người hàng xóm đều bàn tán sau lưng chị ấy, bảo rằng: “Trông lanh lợi thế mà sao toàn làm chuyện dại dột vậy?”. Lâu dần, mỗi khi hàng xóm tụ tập trò chuyện, hễ thấy chị ấy đến là mọi người lại tản ra. Dần dần, chị ấy bị cô lập. Những chuyện này tác động sâu sắc đến tôi, nên tôi nghĩ sau này khi tiếp xúc với người khác, mình không thể ăn nói thẳng thắn như chị ấy, để không bị mọi người ghét bỏ. Tục ngữ có câu, “Thấy lỗi mà không nói thì hữu hảo lâu dài”, và “Đánh người chớ đánh vào mặt, vạch mặt người chớ vạch khuyết điểm”. Khi thấy vấn đề của người khác, trong lòng mình biết là được rồi, không cần phải chỉ ra cho họ. Làm vậy sẽ khiến họ mất mặt và dễ đắc tội với họ. Vì vậy, mỗi khi thấy vấn đề của người khác, tôi đều không nói thẳng ra. Hàng xóm xung quanh đều vui vẻ qua lại với tôi, có chuyện gì cũng sẵn lòng kể cho tôi nghe. Họ còn khen tôi được nhiều người quý mến và dễ gần. Sau khi tin Đức Chúa Trời, tôi qua lại với các anh chị em cũng theo cách đó. Khi thấy họ có vấn đề gì hoặc bộc lộ sự bại hoại, tôi không muốn chỉ ra hay vạch trần. Tôi cho rằng làm vậy sẽ khiến họ xấu hổ, là vạch trần khuyết điểm của họ, và tôi sẽ dễ đắc tội với họ. Mãi đến sau này, khi trải nghiệm một vài chuyện, tôi mới nhận ra sống theo những triết lý xử thế này là trái với lẽ thật.

Vào giữa tháng 9 năm 2023, tôi đến một hội thánh để làm lãnh đạo. Có anh chị em phản ánh rằng chị Triệu Trân, người rao truyền phúc âm, có tâm tính kiêu ngạo. Chị ấy nói chuyện không để ý đến cảm nhận của người khác, nên khi tiếp xúc với chị, họ cảm thấy hơi bị kìm kẹp. Họ nhờ tôi thông công và mổ xẻ vấn đề của chị Triệu Trân, để giúp chị ấy biết mình. Tôi thầm nghĩ: “Mình phải giúp chị ấy mổ xẻ vấn đề. Nếu không, chị ấy sẽ tiếp tục nói năng và hành động theo tâm tính kiêu ngạo. Không chỉ các anh chị em bị chị ấy kìm kẹp, mà công tác cũng sẽ bị ảnh hưởng”. Nhưng rồi tôi lại nghĩ: “Mình mới đến hội thánh này, chưa quen biết gì Triệu Trân. Vừa mới đến đã vạch trần và mổ xẻ vấn đề của chị ấy, chẳng phải sẽ khiến chị ấy xấu hổ sao? Sau này làm sao mà tiếp xúc với nhau được nữa?”. Suy đi tính lại, tôi vẫn không biết phải làm sao, cuối cùng, tôi đành miễn cưỡng đi gặp Triệu Trân. Khi gặp chị, miệng tôi như bị dán băng keo, cả buổi vẫn không nói được lời nào. Tôi nghĩ sau này mình sẽ phải thường xuyên tiếp xúc với chị ấy, nếu đắc tội với chị, chẳng phải là tự chuốc lấy phiền phức sao? Chuyện mổ xẻ và vạch trần cứ để sau này rồi tính. Vì vậy, tôi chỉ nhắc nhở qua loa rằng sau này chị nên chú ý cách nói chuyện, đừng tỏ vẻ khó chịu ra mặt, vì như thế dễ khiến người khác bị kìm kẹp. Nghe xong, chị Triệu Trân nói: “Tính tôi thẳng thắn, nhưng không có ý gì đâu. Sau này tôi sẽ chú ý hơn”. Trên đường về, tôi nghĩ đến việc Triệu Trân không hề nhận thức được tâm tính bại hoại của mình, trong lòng có chút tự trách. Nhưng rồi tôi lại nghĩ: “Mình đã chỉ ra một vài vấn đề cho chị ấy rồi. Sau này nếu thấy chị ấy lại bộc lộ tâm tính kiêu ngạo, mình sẽ thông công và vạch trần sau”. Không lâu sau, chấp sự chăm tưới phản ánh rằng chị Vương Hồng, trưởng nhóm chăm tưới, đã mấy lần lấy cớ hoàn cảnh nguy hiểm để không làm bổn phận, cũng không tham gia nhóm họp, bỏ mặc hai nhóm mà chị ấy phụ trách. Sau khi tìm hiểu tình hình, tôi mới biết là do sợ bị bắt bớ, tù đày nên chị ấy sống trong lo sợ, lúc nào cũng nghi ngờ có người theo dõi mình. Chị ấy đã được thông công nhiều lần nhưng không có chút nhận thức nào, nên chấp sự chăm tưới muốn tôi đến thông công với chị ấy. Tôi biết mình phải mau chóng tìm Vương Hồng để thông công với chị ấy, nhưng rồi lại nghĩ: “Mình và Vương Hồng còn chưa gặp mặt, vừa mới đến đã vạch trần vấn đề của chị ấy, liệu chị ấy có nghĩ mình không thông tình đạt lý không? Lỡ đắc tội với chị ấy thì sao? Mình mới đến hội thánh này, mới đến đã mổ xẻ người này, vạch trần người kia, đắc tội hết mọi người, mọi người đều sẽ thấy phản cảm và cô lập mình, sau này công tác lãnh đạo của mình cũng khó làm nữa. Thôi cứ để sau đi, đợi mình quen với mọi mặt công tác của hội thánh rồi tính”. Thế là, tôi đã không đến tìm Vương Hồng, mà nhờ chấp sự chăm tưới đi thông công. Nhưng chị ấy thông công cũng không có kết quả gì. Cứ như vậy, vấn đề của Vương Hồng cứ bị trì hoãn mãi, hơn một tháng trời chị ấy không nhóm họp cũng không làm bổn phận. Hai tháng sau, lãnh đạo cấp trên viết thư đến để tìm hiểu tình hình thực hiện bổn phận của chúng tôi, xem chúng tôi có kịp thời chỉ ra và giúp đỡ khi phát hiện anh chị em có sai lệch, vấn đề hay tình trạng bại hoại không. Bức thư có trích dẫn một đoạn lời Đức Chúa Trời về chức trách của lãnh đạo và người làm công, sau khi đọc xong, tôi có hơi xúc động trong lòng. Nghĩ đến việc khi mới đến hội thánh này và được các anh chị em phản ánh vấn đề của Triệu Trân, tôi chỉ nói qua loa với chị ấy về vấn đề của chị, chứ không mổ xẻ về tính chất và hậu quả của việc hành động theo tâm tính kiêu ngạo. Kết quả là Triệu Trân không có chút nhận thức nào về bản thân, và tâm tính kiêu ngạo của chị ấy cũng không hề thay đổi. Hơn nữa, Vương Hồng liên tục sống trong sự nhút nhát, không tham gia nhóm họp, cũng không làm bổn phận. Dù vậy, tôi vẫn không thông công hay giúp đỡ chị ấy. Là một lãnh đạo trong hội thánh, nếu tôi thấy vấn đề của anh chị em mà không chỉ ra, giúp đỡ, hay làm tròn trách nhiệm của mình, như vậy chẳng phải là tôi không làm công tác thực tế sao? Nghĩ đến đây, trong lòng tôi cảm thấy áy náy không yên. Sau đó, tôi đã tìm Triệu Trân, vạch trần và mổ xẻ những biểu hiện, thực chất và hậu quả của việc chị ấy hành động theo tâm tính kiêu ngạo. Nghe xong, chị ấy đã có chút nhận thức về bản thân và bằng lòng xoay chuyển. Sau đó, tôi cùng chấp sự chăm tưới đến gặp Vương Hồng. Chúng tôi dựa trên lời Đức Chúa Trời để thông công và mổ xẻ vấn đề của chị ấy, chị ấy đã nhận ra tâm tính bại hoại ích kỷ và đê tiện của mình. Sau đó, chị ấy lại bắt đầu làm bổn phận của mình. Sau khi thông công, thấy mình không đắc tội với họ như mình tưởng tượng, mà ngược lại còn giúp ích cho họ, tôi hối hận vì đã không thông công với họ sớm hơn.

Sau đó, tôi phản tỉnh bản thân: Tâm tính bại hoại nào đã khiến tôi không dám vạch trần và mổ xẻ vấn đề của các anh chị em? Tôi cầu nguyện với Đức Chúa Trời: “Lạy Đức Chúa Trời, khi con phát hiện vấn đề của các anh chị em, với tư cách là lãnh đạo, con nên thông công lẽ thật, chỉ ra vấn đề và giúp đỡ họ. Nhưng con sợ đắc tội với họ, nên không dám thông công và vạch trần vấn đề của họ. Con biết làm vậy là không hợp ý Ngài, nguyện Ngài khai sáng và dẫn dắt để con có thể biết mình và rút ra bài học”. Trong lúc tìm kiếm, tôi đọc được lời Đức Chúa Trời: “Có một điều trong triết lý xử thế nói rằng: ‘Thấy lỗi của bạn chớ nói gì thì tình bạn trường tồn tốt đẹp’. Nghĩa là để giữ gìn tình bạn tốt đẹp, người ta phải giữ im lặng về các vấn đề của bạn mình, ngay cả khi thấy rõ những vấn đề đó. Họ tuân thủ nguyên tắc không đánh vào mặt hay vạch khuyết điểm. Họ lừa dối nhau, giấu giếm nhau, và âm mưu với nhau. Dù biết rất rõ người kia là loại người như thế nào, nhưng cũng không nói thẳng ra mà dùng các phương kế mưu chước để duy trì mối quan hệ. Tại sao người ta muốn duy trì các mối quan hệ như vậy? Đó là vì họ không muốn gây thù chuốc oán trong xã hội này, trong đội nhóm của mình, để rồi thường xuyên đặt mình vào những tình huống nguy hiểm. Biết rằng có người sẽ trở thành kẻ thù và làm hại mình sau khi mình vạch ra những khuyết điểm của họ hay làm tổn thương họ, và không muốn đặt mình vào tình huống như vậy, ngươi áp dụng một điều trong triết lý xử thế sau: ‘Đánh người chớ đánh vào mặt; vạch mặt người chớ vạch khuyết điểm’. Theo triết lý này, nếu hai người có mối quan hệ như vậy, họ có được coi là bạn bè thực sự không? (Không.) Họ không phải là bạn bè thực sự, càng không phải là tri kỷ của nhau. Vậy chính xác thì đây là loại quan hệ gì? Chẳng phải đây là một mối quan hệ xã hội cơ bản sao? (Đúng vậy.) Trong những mối quan hệ xã hội như vậy, người ta không nói chuyện tâm tình, không có sự liên hệ sâu sắc, cũng không thể nói chuyện thoải mái. Họ không thể nói ra những điều trong lòng mình, hay những vấn đề nhìn thấy ở đối phương, hoặc những lời có lợi cho đối phương. Thay vào đó, họ chọn nói những điều tốt đẹp để giữ thiện cảm của người kia. Họ không dám nói lên sự thật hay tuân theo các nguyên tắc, hầu cho người kia khỏi nảy sinh thù hận với họ. Khi không bị ai đe dọa, chẳng phải người đó sống tương đối thoải mái và bình yên sao? Đây chẳng phải là mục đích của con người khi cổ động câu nói: ‘Đánh người chớ đánh vào mặt; vạch mặt người chớ vạch khuyết điểm’ sao? (Đúng vậy.) Rõ ràng, đây là một cách sinh tồn lươn lẹo và giả dối có yếu tố phòng bị, với mục tiêu là tự bảo vệ bản thân. Sống như vậy thì người ta không có bạn tri kỷ, không có bạn thân để có thể nói năng thoải mái. Giữa người với người, chỉ có đề phòng, lợi dụng và mưu mô, mỗi bên đều lấy cái họ cần từ mối quan hệ. Chẳng phải là như vậy sao? Về gốc rễ, mục tiêu của câu ‘Đánh người chớ đánh vào mặt; vạch mặt người chớ vạch khuyết điểm’ là để tránh làm mất lòng người khác và tránh gây thù chuốc oán, không hại ai để tự bảo vệ mình. Đó là một kỹ xảo và phương pháp người ta áp dụng để tránh cho bản thân mình khỏi bị tổn hại(Mưu cầu lẽ thật là gì (8), Lời, Quyển 6 – Về việc mưu cầu lẽ thật). Từ sự vạch rõ trong lời Đức Chúa Trời, tôi nhận ra rằng nếu sống theo triết lý xử thế “Đánh người chớ đánh vào mặt, vạch mặt người chớ vạch khuyết điểm”, thì bản thân sẽ chỉ ngày càng giả dối và nham hiểm hơn. Bạn sẽ không thể nói lời thật lòng ra với bất kỳ ai, không dám nói ra những điều có lợi cho người khác, và không thể giúp đỡ họ một cách thực sự. Đây là lối xử thế của người ngoại đạo. Bao nhiêu năm qua, tôi đã sống theo triết lý xử thế của Sa-tan. Tôi đã xem “Đánh người chớ đánh vào mặt, vạch mặt người chớ vạch khuyết điểm” như quy tắc sinh tồn của mình. Tôi tin rằng khi thấy vấn đề hay thiếu sót của người khác, chỉ cần nhắc nhở một cách khéo léo là đủ, không nên vạch trần hay mổ xẻ, nếu không sẽ đắc tội với họ, tạo ra kẻ thù và gây bất lợi cho bản thân. Khi thấy hàng xóm có gì không phải, tôi không bao giờ nói ra, vì sợ đắc tội với họ và bị cô lập. Sau khi tin Đức Chúa Trời, tôi vẫn tiếp tục sống theo quan điểm này. Là một lãnh đạo hội thánh, khi thấy các anh chị em bộc lộ sự bại hoại, lẽ ra tôi nên giúp đỡ họ bằng tình yêu thương và chỉ ra vấn đề của họ. Đây là trách nhiệm mà tôi phải hoàn thành, nhưng tôi đã không làm chút công tác thực tế nào. Khi các anh chị em phản ánh vấn đề của Triệu Trân, tôi biết rõ rằng nếu không thông công và mổ xẻ vấn đề, giúp chị ấy nhận thức và xoay chuyển, thì chị ấy sẽ kìm kẹp nhiều anh chị em hơn và ảnh hưởng đến công tác. Tuy nhiên, tôi sợ sẽ đắc tội với chị và sau này khó hòa hợp, khiến công tác lãnh đạo của tôi khó khăn. Vì vậy, tôi chỉ nhắc nhở qua loa. Kết quả là Triệu Trân không có chút nhận thức nào về tâm tính kiêu ngạo của mình, cũng không hề có chút thay đổi nào. Chuyện của Vương Hồng cũng vậy. Tôi thấy rõ ràng Vương Hồng sống trong sự nhút nhát, sợ hãi, không nhóm họp, cũng không làm bổn phận, chuyện này đã làm trì hoãn công tác. Thế nhưng, tôi lại nghĩ nếu lần đầu gặp mặt mà đã vạch trần, mổ xẻ vấn đề của chị ấy, chị sẽ nói tôi không thông tình đạt lý. Lỡ đắc tội với chị ấy thì biết làm sao đây? Vì thế, tôi không muốn vạch trần hay chỉ ra vấn đề của chị, thậm chí còn dùng chút mánh khóe đùn đẩy việc đó cho chấp sự chăm tưới giải quyết. Tôi đã dùng triết lý Sa-tan để duy trì mối quan hệ với mọi người. Bề ngoài thì có vẻ ai cũng hòa thuận, nhưng thực ra, tôi đã làm hại các anh chị em và làm trì hoãn công tác. Nếu tôi có thể thực hành lẽ thật sớm hơn, vạch trần và mổ xẻ vấn đề của Triệu Trân và Vương Hồng, thì họ đã có thể biết mình sớm hơn, và đã có thể tránh được những thiệt hại cho công tác hội thánh cũng như lối vào sự sống của họ. Tôi nhận ra “Đánh người chớ đánh vào mặt, vạch mặt người chớ vạch khuyết điểm” không phải là điều tích cực, mà là một thủ đoạn xử thế lươn lẹo và giả dối. Nó hoàn toàn trái ngược với lẽ thật. Nếu tôi tiếp tục sống theo triết lý của Sa-tan, tôi sẽ làm nhiều điều vừa hại người vừa hại mình, gây ra sự gián đoạn và nhiễu loạn cho công tác của hội thánh, khiến Đức Chúa Trời chán ghét và ghê tởm mình. Và cuối cùng, tôi sẽ bị tỏ lộ và đào thải.

Sau đó, tôi đọc được thêm lời Đức Chúa Trời: “Từ ‘vạch mặt’ trong câu ‘vạch mặt người chớ vạch khuyết điểm’ là tốt hay xấu? Từ ‘vạch mặt’ có cùng tầng nghĩa với việc con người bị vạch rõ hay vạch trần trong lời Đức Chúa Trời không? (Không.) Theo hiểu biết của Ta về từ ‘vạch mặt’ như trong ngôn ngữ của con người thì nó không có nghĩa như vậy. Bản chất của nó là một hình thức vạch trần có phần ác tâm; nghĩa là phơi bày những vấn đề và thiếu sót của người, hoặc một số điều và hành vi mà người khác không biết, hoặc một số âm mưu, ý tưởng hoặc quan điểm đằng sau. Đây chính là ý nghĩa của từ ‘vạch mặt’ trong câu ‘vạch mặt người chớ vạch khuyết điểm’. Nếu hai người hòa thuận và là bạn tri kỷ, giữa họ không có rào cản, và mỗi người đều mong có lợi và hỗ trợ cho người kia, thì tốt nhất họ nên ngồi lại với nhau và nói ra những vấn đề của nhau một cách cởi mở và chân thành. Đây mới là cách đúng đắn, chứ không phải là vạch khuyết điểm của người khác. Nếu ngươi phát hiện ra vấn đề của người khác nhưng thấy họ chưa thể chấp nhận lời khuyên của mình, thì đơn giản là đừng nói gì, để tránh cãi vã hoặc xung đột. Nếu muốn giúp đỡ họ, ngươi có thể hỏi ý kiến họ và trước tiên hãy hỏi họ: ‘Tôi thấy anh có chút vấn đề và mong có thể cho anh một lời khuyên nào đó. Không biết liệu anh có thể chấp nhận hay không. Nếu anh có thể chấp nhận thì tôi sẽ nói. Nếu không thì giờ tôi sẽ giữ im lặng và không nói gì cả’. Nếu họ nói: ‘Tôi tin anh. Anh cứ nói đi, không sao đâu; tôi có thể chấp nhận được’, điều đó có nghĩa là ngươi đã được cho phép và sau đó ngươi có thể trao đổi từng vấn đề với họ. Họ không những hoàn toàn tiếp thu điều ngươi nói mà còn được hưởng lợi từ điều đó, và hai người các ngươi sẽ vẫn có thể duy trì mối quan hệ bình thường. Đó chẳng phải là đối xử chân thành với nhau sao? (Đúng vậy.) Đây là phương pháp đúng đắn để tương tác với người khác; nó không phải là vạch khuyết điểm của người khác(Mưu cầu lẽ thật là gì (8), Lời, Quyển 6 – Về việc mưu cầu lẽ thật). Từ lời Đức Chúa Trời, tôi hiểu được thế nào là vạch trần khuyết điểm của người khác, và thế nào là chỉ ra và giúp đỡ một cách đúng đắn. Vạch trần khuyết điểm của ai đó là một sự công kích ác ý, cố tình bới móc những thiếu sót, chuyện riêng tư, thậm chí cả những điều cấm kỵ nhất của người khác để vạch trần; đó là cố ý làm người khác xấu hổ, và chỉ mang lại tổn thương cho họ. Còn trong nhà Đức Chúa Trời, khi chúng ta thấy các anh chị em bộc lộ tâm tính bại hoại hoặc hành động trái với các nguyên tắc, chúng ta vạch trần, mổ xẻ và chỉ ra vấn đề của họ theo lời Đức Chúa Trời, giúp họ hiểu được tâm tính bại hoại của mình. Điều này có lợi cho lối vào sự sống của họ. Kiểu mổ xẻ và vạch trần này không phải là vạch khuyết điểm, mà là giúp đỡ họ bằng tình yêu thương. Khi giải quyết vấn đề của Triệu Trân, việc tôi vạch trần và mổ xẻ tâm tính kiêu ngạo của chị ấy dựa trên lời Đức Chúa Trời là để giúp chị ấy phản tỉnh và nhận ra vấn đề của mình, để chị có thể thay đổi, đạt được lối vào sự sống, và phối hợp hài hòa với các anh chị em để làm tốt bổn phận. Đây là một điều có lợi cho chị ấy. Hơn nữa, khi tôi thông công với Vương Hồng và mổ xẻ vấn đề ích kỷ cũng như bảo toàn bản thân của chị, mục đích là để giúp chị ấy có nhận thức về thực chất bản tính ích kỷ và đê tiện của mình, để chị có thể ăn năn, thay đổi và làm bổn phận. Đây cũng là đang giúp đỡ Vương Hồng. Kiểu vạch trần và mổ xẻ này phù hợp với các nguyên tắc lẽ thật và là một điều tích cực; nó không phải là vạch khuyết điểm. Để phân biệt giữa vạch khuyết điểm và sự chỉ bảo, giúp đỡ chính đáng, chủ yếu là xem xét ý định và động cơ. Ngoài ra, trong lòng tôi đã luôn lo lắng rằng việc vạch trần và mổ xẻ vấn đề của người khác sẽ khiến tôi đắc tội với họ và khiến họ xem tôi là kẻ thù, điều đó sẽ khiến công tác lãnh đạo của tôi khó khăn hơn. Vì vậy, tôi luôn cố gắng duy trì mối quan hệ của mình với mọi người. Thực tế, nhà Đức Chúa Trời khác với xã hội. Trong nhà Đức Chúa Trời, lẽ thật nắm quyền. Để làm tốt bổn phận, bạn phải hành động theo các nguyên tắc lẽ thật, chứ không phải cứ duy trì mối quan hệ tốt với mọi người thì mới có thể làm tốt công tác được. Tôi nhận ra suy nghĩ của mình quá lệch lạc và hoàn toàn không phù hợp với lẽ thật.

Tôi tiếp tục tìm kiếm: tâm tính bại hoại nào đã khiến tôi không dám vạch trần vấn đề của người khác? Tôi đọc được lời Đức Chúa Trời: “Cả lương tâm lẫn lý trí đều là những thứ nên có trong nhân tính của một con người. Chúng là những điều vừa cơ bản nhất vừa quan trọng nhất. Một kẻ thiếu lương tâm và không có lý trí của nhân tính bình thường thì là loại người gì chứ? Nói chung, họ là một kẻ thiếu nhân tính, một kẻ có nhân tính cực kỳ tệ hại. Nói cụ thể hơn thì, người này đã có những biểu hiện mất nhân tính nào? Hãy thử phân tích xem những người như thế có những đặc điểm nào và những biểu hiện cụ thể ra sao. (Thưa, họ ích kỷ và đê tiện.) Những người ích kỷ và đê tiện hành động qua loa chiếu lệ và tránh xa bất cứ điều gì không liên quan đến cá nhân họ. Họ không xem xét đến lợi ích của nhà Đức Chúa Trời, và họ cũng không quan tâm đến tâm ý của Đức Chúa Trời. Họ không có gánh nặng thực hiện bổn phận của mình hay chứng thực cho Đức Chúa Trời, và họ không có ý thức trách nhiệm. … Loại người này có lương tâm và lý trí không? (Thưa, không.) Một người không có lương tâm và lý trí hành xử theo cách này có cảm thấy tự trách không? Những người như thế không biết tự trách mình; lương tâm của loại người này không có tác dụng gì cả. Lương tâm họ chưa bao giờ cảm thấy tự trách cả, vậy thì họ có thể cảm thấy sự quở trách hay sửa dạy của Đức Thánh Linh không? Không, họ không thể(Khi dâng lòng mình cho Đức Chúa Trời, người ta có thể có được lẽ thật, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt). Đọc xong lời Đức Chúa Trời, tôi cảm thấy như bị dao đâm vào tim; tôi cảm thấy tự trách và khó chịu vì những gì mình đã làm. Người có lương tâm và nhân tính thì mang gánh nặng trong bổn phận và có ý thức trách nhiệm, luôn xem xét lợi ích của hội thánh và vạch trần, mổ xẻ những người làm những việc gây gián đoạn, nhiễu loạn công tác của hội thánh. Ngược lại, những kẻ không có nhân tính thì điều đầu tiên họ nghĩ đến là sợ đắc tội với người khác, sợ gây thù chuốc oán. Họ chỉ bảo vệ lợi ích của bản thân và hành xử như những người dễ dãi, hoàn toàn không bảo vệ lợi ích của hội thánh. Khi phản tỉnh về bản thân, tôi thấy mình chính là loại người ích kỷ, đê tiện, có nhân tính tồi tệ mà Đức Chúa Trời đã vạch rõ. Tôi biết rõ ràng rằng các anh chị em bị Triệu Trân kìm kẹp, và điều này đã ảnh hưởng đến công tác hội thánh cũng như lối vào sự sống của các anh chị em. Hơn nữa, Vương Hồng đã lấy cớ hoàn cảnh nguy hiểm để từ bỏ bổn phận của mình. Là một lãnh đạo hội thánh, lẽ ra tôi phải thông công và mổ xẻ những vấn đề này với họ càng sớm càng tốt, để họ có thể hiểu được tác hại và hậu quả của việc tiếp tục như vậy, kịp thời xoay chuyển tình trạng của mình và làm tốt bổn phận. Tuy nhiên, tôi lại sợ rằng nếu đắc tội với họ, họ sẽ thấy phản cảm và cô lập tôi, nên tôi đã không thông công với họ. Tôi luôn bảo vệ lợi ích của bản thân, chỉ nghĩ đến việc duy trì mối quan hệ tốt với mọi người và để lại ấn tượng tốt cho họ. Tôi hoàn toàn không nghĩ đến lợi ích của hội thánh, cũng không nghĩ đến việc liệu sự sống của các anh chị em có bị tổn hại hay không. Tôi thật quá ích kỷ và đê tiện, không có lấy một chút tinh thần chính nghĩa nào! Tôi hoàn toàn không làm bổn phận của mình. Tôi đang làm điều ác và chống đối Đức Chúa Trời! Nếu không ăn năn và thay đổi, cuối cùng tôi sẽ khiến Đức Chúa Trời ghê tởm và bị đào thải. Khi hiểu được điều này, tôi hối hận về những gì mình đã làm. Tôi cảm thấy mắc nợ Đức Chúa Trời, và cảm thấy mình đã có lỗi với các anh chị em. Tôi cầu nguyện với Đức Chúa Trời: “Lạy Đức Chúa Trời, con sẵn lòng ăn năn và trở thành một người có nhân tính và tinh thần chính nghĩa. Con muốn quan tâm đến tâm ý của Ngài trong tương lai và bảo vệ lợi ích của hội thánh”.

Qua cầu nguyện và tìm kiếm, tôi đã tìm thấy một con đường thực hành trong lời Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời Toàn Năng phán: “Nếu ngươi muốn có mối quan hệ bình thường với Đức Chúa Trời, thì lòng ngươi phải hướng về Đức Chúa Trời. Có điều này làm nền tảng rồi, ngươi cũng sẽ có mối quan hệ bình thường với người khác. Nếu ngươi không có một mối quan hệ bình thường với Đức Chúa Trời, thì dù ngươi có làm gì để duy trì các mối quan hệ với người khác, cho dù ngươi có nỗ lực bao nhiêu, dốc sức bao nhiêu, tất cả vẫn chỉ liên quan đến triết lý xử thế của con người. Ngươi đang duy trì vị thế của mình giữa mọi người theo quan điểm và triết lý của con người, để cho mọi người tán dương ngươi, nhưng ngươi chẳng lấy lời Đức Chúa Trời làm căn cứ để thiết lập mối quan hệ bình thường với mọi người. Nếu ngươi không tập trung vào mối quan hệ với những người khác, mà lại duy trì mối quan hệ bình thường với Đức Chúa Trời, và ngươi sẵn sàng dâng lòng mình cho Đức Chúa Trời và học cách thuận phục Ngài, thì tự nhiên những mối quan hệ của ngươi với tất cả mọi người cũng sẽ trở nên bình thường. Những mối quan hệ này không thiết lập dựa trên xác thịt, mà là trên nền tảng là tình yêu Đức Chúa Trời. Hầu như không có sự tương tác về xác thịt, nhưng sẽ có sự thông công về mặt thuộc linh, cũng như sự yêu thương lẫn nhau, an ủi lẫn nhau và cung dưỡng cho nhau. Tất cả điều này đều được thực hiện trên nền tảng là mong muốn làm thỏa mãn Đức Chúa Trời. Những mối quan hệ này không được duy trì bằng cách dựa theo triết lý xử thế của con người, mà được định hình rất tự nhiên khi ngươi có ý thức mang gánh trọng trách vì Đức Chúa Trời. Nó không cần đến nỗ lực của con người, mà chỉ cần thực hành theo nguyên tắc của lời Đức Chúa Trời(Việc thiết lập một mối quan hệ bình thường với Đức Chúa Trời là rất quan trọng, Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). Từ lời Đức Chúa Trời, tôi hiểu rằng trong mối quan hệ với các anh chị em, chúng ta nên đối xử với người khác theo các nguyên tắc lẽ thật. Khi phát hiện các anh chị em có bất kỳ tâm tính bại hoại nào, chúng ta nên thông công và giúp đỡ họ bằng tình yêu thương, để họ có thể phản tỉnh và biết mình, đạt được chút lối vào sự sống. Chúng ta không nên dựa vào các triết lý xử thế để duy trì mối quan hệ với người khác. Đôi khi, khi người khác không nhìn ra vấn đề của chính mình, chúng ta phải vạch trần và mổ xẻ chúng. Miễn là họ là những anh chị em mưu cầu lẽ thật, họ sẽ có thể đối xử đúng đắn với điều này và thay đổi sau đó. Tuy nhiên, những người không mưu cầu lẽ thật sẽ lý luận và chống đối khi vấn đề được chỉ ra và vạch trần. Đây là một sự tỏ lộ đối với họ, và đồng thời, giúp chúng ta có được sự phân định về họ. Sau đó, tôi nhận thấy chấp sự chăm tưới không mang gánh nặng trong bổn phận. Chị ấy trì trệ trong việc triển khai công tác, lại còn viện cớ nói rằng tố chất của mình kém và không hiểu lẽ thật. Tôi muốn chỉ ra vấn đề của chị ấy để chị ấy mang gánh nặng hơn trong bổn phận, nhưng rồi tôi lại nghĩ: “Nếu mình trực tiếp vạch trần vấn đề của chị ấy và đắc tội với chị, sau này làm sao mình và chị ấy còn phối hợp với nhau được?”. Khi nghĩ đến đây, tôi cảm thấy hơi do dự. Sau đó, tôi nghĩ đến một số lời của Đức Chúa Trời mà tôi đã đọc trước đây, và nhận ra rằng mình lại đang cố gắng duy trì mối quan hệ với người khác bằng cách dựa vào các triết lý xử thế của Sa-tan. Dù tôi duy trì mối quan hệ với người khác tốt đến đâu, đó cũng không phải là thực hành lẽ thật, và Đức Chúa Trời không khen ngợi. Tôi cầu nguyện với Đức Chúa Trời để Ngài cho tôi quyết tâm chống lại xác thịt và thực hành lẽ thật. Sau đó, tôi đã chỉ ra vấn đề làm việc qua loa trong bổn phận của chấp sự chăm tưới, thông công về tính chất và hậu quả của việc làm qua loa. Sau khi thông công, chị ấy đã hiểu ra vấn đề của mình, và sẵn lòng chống lại xác thịt để thực hành lẽ thật. Tôi đã thể nghiệm và lĩnh hội được rằng khi đối xử với mọi người theo các nguyên tắc lẽ thật, bạn sẽ cảm thấy thanh thản. Tạ ơn Đức Chúa Trời!

Hồi chuông thời sau hết báo động đã vang lên, đại thảm họa đã ập xuống, bạn có muốn cùng gia đình nghênh đón được Thiên Chúa, và có cơ hội nhận được sự che chở của Thiên Chúa không?

Nội dung liên quan

Liên hệ với chúng tôi qua Messenger