Đằng sau việc mưu cầu làm lãnh đạo

05/01/2026

Bởi Tô Duy, Trung Quốc

Sau khi tin Đức Chúa Trời, tôi thấy các lãnh đạo hội thánh thường thông công để giải quyết tình trạng cho anh chị em. Người thì có tố chất và ân tứ, người thì có thể vứt bỏ và dâng mình. Tôi tin chắc những người như vậy nhất định được Đức Chúa Trời khen ngợi và có hy vọng đạt được sự cứu rỗi. Tháng 3 năm 2021, tôi được bầu làm lãnh đạo hội thánh. Trong lòng tôi vui sướng lắm, nghĩ rằng nếu cứ tiếp tục mưu cầu thế này, mình sẽ có một tương lai tươi sáng trong nhà Đức Chúa Trời và được Ngài khen ngợi. Thế nhưng, tôi không ngờ rằng sau này mình lại bị cách chức vì tố chất kém, không làm được công tác thực tế. Tin này như sét đánh ngang tai, nước mắt tôi cứ tuôn rơi không ngừng. Tôi thầm nghĩ: “Tố chất kém là vấn đề chí mạng, chẳng phải điều đó có nghĩa là sau này mình sẽ không còn cơ hội làm lãnh đạo nữa sao?”. Hơn một tháng sau, hội thánh sắp xếp cho tôi phụ trách công tác sự vụ. Tôi cảm thấy khi làm bổn phận này, cả ngày mình chỉ tiếp xúc với một số công tác mang tính sự vụ, không có lợi cho lối vào sự sống của bản thân. Chẳng giống như làm bổn phận lãnh đạo, vừa được rèn luyện giải quyết các vấn đề khác nhau, vừa đạt được nhiều lẽ thật hơn, cơ hội được cứu rỗi cũng lớn hơn. Đặc biệt, mỗi khi gặp lại người chị em từng phối hợp với mình và nghe chị ấy kể về những chuyện xảy ra trong các buổi nhóm họp, lòng tôi lại thấy khó chịu vô cùng. Tôi nghĩ, được làm bổn phận lãnh đạo như chị ấy thật tốt biết bao, còn mình chỉ có thể làm công tác sự vụ mà mình không thích. Mỗi khi nghĩ đến việc lãnh đạo cấp trên nói tố chất của mình kém và không đủ điều kiện làm lãnh đạo, trong lòng tôi lại đau khổ và lặng lẽ khóc. Tôi cảm thấy tương lai của mình thật mờ mịt, cơ hội được cứu rỗi cũng rất mong manh. Tôi không còn chút năng lượng nào để thực hiện bổn phận, chỉ làm việc một cách máy móc và chẳng đạt được kết quả gì. Sau này, tôi nhận ra tình trạng của mình không ổn, và bắt đầu suy ngẫm: “Tại sao khi thấy người khác làm lãnh đạo, lòng mình lại có cảm giác mất mát? Rốt cuộc mình mưu cầu điều gì khi tin Đức Chúa Trời?”.

Một hôm, tôi đọc được hai đoạn lời của Đức Chúa Trời và có được chút nhận thức về tình trạng của mình. Đức Chúa Trời Toàn Năng phán: “Khi kẻ địch lại Đấng Christ bị cách chức, phản ứng đầu tiên của họ giống như bị sét đánh, như thể bầu trời sập xuống vậy, bầu trời của họ không còn nữa. Thứ có thể khiến họ gửi gắm hy vọng đã không còn, cơ hội có thể khiến họ sống và hưởng thụ lợi ích của địa vị không còn nữa, động lực có thể điều khiển họ làm xằng làm bậy cũng không còn. Đây là điều họ không thể chấp nhận nhất. … Khi họ nghĩ đến chuyện hy vọng được phúc của mình đã tan vỡ hoặc bị sụt giảm nghiêm trọng, đầu họ như muốn nổ tung, tim như bị búa nặng đập vào, đau như bị dao cắt. Khi sắp mất đi phúc lành bước vào thiên quốc mà họ ngày nhớ đêm mong kiên trì trông mong, thì đây dường như là tin xấu xảy ra bất ngờ với họ. Đối với kẻ địch lại Đấng Christ, không có địa vị tương đương với việc không có hy vọng được phúc, và họ trở thành cái xác không hồn, xác thịt của họ trở nên trống rỗng, không có linh hồn, không có thứ gì chủ đạo cho cuộc sống của họ. Họ không có sự trông mong và không có gì để phấn đấu. Khi kẻ địch lại Đấng Christ bị vạch trần và cách chức, điều đầu tiên họ nghĩ đến là họ đã không còn hy vọng được phúc nữa. Vậy, lúc đó họ có thể từ bỏ không? Họ có thể cam lòng thuận phục không? Họ có thể dùng cơ hội này để buông bỏ dục vọng được phúc, buông bỏ địa vị, cam lòng làm một người đi theo bình thường, cam lòng đem sức lực phục vụ cho Đức Chúa Trời và thực hiện tốt bổn phận của mình không? (Thưa, không thể.) Chuyện này có thể mang đến bước ngoặt cho họ không? Bước ngoặt này khiến họ phát triển theo hướng tốt và theo mặt tích cực, hay theo hướng xấu và theo mặt tiêu cực? Xét từ thực chất bản tính của kẻ địch lại Đấng Christ, bị cách chức hoàn toàn không phải là khởi đầu của việc họ buông bỏ dục vọng được phúc, hay khởi đầu của việc họ yêu thích và mưu cầu lẽ thật. Thay vào đó, họ sẽ càng dốc sức để tranh giành cơ hội và hy vọng được phúc; họ sẽ nắm chặt mọi cơ hội có thể khiến họ đạt được phúc lành, có thể khiến họ trở lại ngày xưa, và có thể khiến họ lấy lại địa vị đã mất. Cho nên, đối mặt với việc bị cách chức, kẻ địch lại Đấng Christ ngoài buồn bã, thất vọng, và chống cự ra, thì còn phải tranh đấu ở mức độ lớn hơn để không bị cách chức, cũng như tranh đấu để khiến chuyện này có bước ngoặt, có sự thay đổi(Mục 12. Họ muốn rút lui khi không có được địa vị hoặc hết hy vọng được phúc, Lời, Quyển 4 – Vạch rõ kẻ địch lại Đấng Christ). “Loại người này không mưu cầu lẽ thật, nhưng họ vẫn luôn muốn được đề bạt và trọng dụng trong nhà Đức Chúa Trời. Trong lòng, họ cho rằng người càng có năng lực công tác thì càng được trọng dụng, đề bạt và xem trọng trong nhà Đức Chúa Trời, vậy thì xác suất được phúc, mão triều thiên, và phần thưởng càng lớn. Họ cho rằng nếu một người không có năng lực công tác, hoặc không có sở trường gì, thì sẽ không có tư cách được phúc. Họ cho rằng ân tứ, sở trường, kỹ năng, bản lĩnh, trình độ học vấn, năng lực công tác, thậm chí cả cái gọi là điểm mạnh và ưu điểm trong nhân tính của họ được người đời coi trọng như ý chí hiếu thắng và thái độ bền gan vững chí, chính là vốn liếng để họ được phúc và phần thưởng. Đây là tiêu chuẩn gì vậy? Có phải là tiêu chuẩn phù hợp với lẽ thật không? (Thưa, không.) Nó không phải tiêu chuẩn phù hợp với lẽ thật. Vậy, đây chẳng phải là lô-gích của Sa-tan sao? Đây chẳng phải là lô-gích của thời đại tà ác, và của xu hướng thế giới tà ác sao? (Thưa, phải.) Xét từ lô-gích, cách làm, và tiêu chí mà những người này dùng để đánh giá sự vật, cũng như thái độ và cách thức đối đãi của họ với những chuyện này, có vẻ như họ chưa bao giờ nghe hoặc đọc lời Đức Chúa Trời, hoàn toàn không biết gì về lời Đức Chúa Trời. Nhưng trên thực tế, họ nghe, đọc và cầu nguyện-đọc lời Đức Chúa Trời mỗi ngày. Vậy tại sao quan điểm của họ vẫn không thay đổi? Một điều chắc chắn là – bất kể họ có nghe hay đọc lời Đức Chúa Trời thế nào, từ trong lòng họ cũng sẽ không bao giờ nhận định rằng lời Đức Chúa Trời là lẽ thật, và lời Đức Chúa Trời là tiêu chí để đánh giá mọi thứ; họ sẽ không nhận biết hoặc tiếp nhận sự thật này từ trong lòng mình. Cho nên, dù quan điểm của họ có ngớ ngẩn và cố chấp đến đâu thì họ vẫn sẽ kiên trì với chúng mãi mãi, và cho dù lời Đức Chúa Trời có đúng đắn đến đâu thì họ cũng sẽ bài xích và lên án. Đây chính là bản tính hung ác của kẻ địch lại Đấng Christ. Một khi họ không được trọng dụng, một khi dục vọng và dã tâm của họ không thể thực hiện được, thì cái đuôi cáo của họ bị lộ ra, bản tính hung ác của họ bị lộ ra, và họ muốn phủ nhận sự hiện hữu của Đức Chúa Trời. Thực ra, ngay cả trước khi phủ nhận sự hiện hữu của Đức Chúa Trời, họ đã phủ nhận lời Đức Chúa Trời là lẽ thật(Mục 12. Họ muốn rút lui khi không có được địa vị hoặc hết hy vọng được phúc, Lời, Quyển 4 – Vạch rõ kẻ địch lại Đấng Christ). Đức Chúa Trời vạch rõ rằng một khi những kẻ địch lại Đấng Christ bị cách chức, họ liền cho rằng mình không còn hy vọng nhận được phước lành nữa. Họ không những không thể thuận phục, phản tỉnh và nhận biết bản thân, mà còn trở nên tiêu cực và chống đối, ôm ảo tưởng hão huyền về việc trở lại và giành lại địa vị. Những kẻ địch lại Đấng Christ dùng lôgic của Sa-tan để đánh giá con người, sự việc và sự vật. Họ tin rằng càng được nhà Đức Chúa Trời đề bạt và xem trọng thì cơ hội nhận được phước lành và mão triều thiên của họ càng lớn. Khi suy ngẫm lời Đức Chúa Trời, tôi nhận ra biểu hiện của mình sau khi bị cách chức giống hệt như của một kẻ địch lại Đấng Christ, và quan điểm nhìn nhận sự việc của tôi cũng y hệt như của một kẻ địch lại Đấng Christ. Tôi nghĩ lại tại sao mình lại quan tâm đến địa vị lãnh đạo đến vậy. Đó là vì tôi tin rằng nếu được đề bạt làm lãnh đạo trong nhà Đức Chúa Trời, tôi có thể rèn luyện việc dùng lẽ thật để giải quyết vấn đề mỗi ngày, sự sống của tôi sẽ tăng trưởng nhanh, tôi sẽ có cơ hội lớn hơn để được cứu rỗi và nhận được phước lành. Vì vậy, tôi đã rất ngưỡng mộ những người làm lãnh đạo. Khi được bầu làm lãnh đạo, tôi cảm thấy rất vui, nghĩ rằng đức tin của mình nơi Đức Chúa Trời có một tương lai tươi sáng. Trong thời gian làm lãnh đạo, tôi không một lời oán thán trước mọi khó khăn và cẩn thận bảo vệ địa vị lãnh đạo của mình, vô cùng sợ hãi bị tỏ lộ và cách chức. Khi các lãnh đạo cách chức tôi, nói rằng tôi có tố chất kém và thiếu những điều kiện cần thiết để làm lãnh đạo, điều đó như sét đánh ngang tai đối với tôi. Tôi tin rằng tố chất kém là một vấn đề chí mạng, và có lẽ sau này tôi sẽ không bao giờ có cơ hội được đề bạt và trọng dụng nữa, vì vậy lòng tôi vô cùng đau đớn. Tôi cảm thấy tương lai của mình thật mờ mịt, và hy vọng nhận được phước lành cũng rất mong manh. Chính vì có những tư tưởng và quan điểm sai lầm này, nên khi được sắp xếp làm bổn phận sự vụ, tôi cho rằng bổn phận này chỉ là mỗi ngày bận rộn với các công việc sự vụ bên ngoài, không có lợi cho việc mình nhận được lẽ thật và được cứu rỗi. Tôi không thích nó từ tận đáy lòng, và không còn chút năng lượng nào để thực hiện bổn phận. Tôi nhận ra điều mình mưu cầu trong đức tin nơi Đức Chúa Trời chính là địa vị và phước lành. Tôi đã đánh đồng địa vị với phước lành, và một khi mất đi địa vị, tôi cảm thấy mình đã mất hết hy vọng nhận được phước lành, lòng tôi đau đớn khôn xiết. Tôi đã đánh giá mọi việc theo quan điểm của Sa-tan. Ở ngoài thế gian, càng được thăng chức thì càng được người khác ngưỡng mộ, và càng có nhiều triển vọng phát triển. Tôi cho rằng trong nhà Đức Chúa Trời cũng vậy, càng được đề bạt làm lãnh đạo thì càng có nhiều triển vọng phát triển, và cơ hội được cứu rỗi, nhận được phước lành cũng lớn hơn. Điều này hoàn toàn không phù hợp với lời Đức Chúa Trời. Tôi biết rõ rằng bổn phận là trách nhiệm mà một loài thọ tạo nên hoàn thành. Đó là điều thiên kinh địa nghĩa, không nên dùng làm con bài thương lượng để nhận được phước lành hay phần thưởng. Thế nhưng, khi bị cách chức và được sắp xếp làm bổn phận sự vụ, tôi tin rằng bổn phận này không có lợi cho việc mình nhận được phước lành trong đức tin nơi Đức Chúa Trời, nên tôi đã oán trách Ngài và không mang gánh nặng trong bổn phận. Tôi thậm chí còn nghĩ đến việc từ bỏ bổn phận. Tôi nhận ra bản tính của mình cũng ích kỷ và tư lợi như của một kẻ địch lại Đấng Christ. Ngay khi không thể nhận được phước lành, tôi liền rời xa Đức Chúa Trời và phản bội Ngài. Thật quá nguy hiểm!

Sau đó, tôi đọc được thêm hai đoạn lời của Đức Chúa Trời: “Nhiều người không biết rõ ý nghĩa của việc được cứu rỗi. Một số người tin rằng nếu họ đã tin Đức Chúa Trời một thời gian dài thì họ có nhiều khả năng được cứu rỗi. Một số người nghĩ rằng nếu họ hiểu nhiều học thuyết thuộc linh thì họ có nhiều khả năng được cứu rỗi, hoặc một số người nghĩ rằng các lãnh đạo và chấp sự chắc chắn sẽ được cứu rỗi. Những điều này đều là quan niệm và sự tưởng tượng của con người. Điều cốt yếu là người ta phải hiểu được sự cứu rỗi có nghĩa là gì. Được cứu rỗi trước hết có nghĩa là được giải thoát khỏi tội lỗi, được giải thoát khỏi ảnh hưởng của Sa-tan, và thực sự hướng về Đức Chúa Trời và thuận phục Đức Chúa Trời. Ngươi phải sở hữu những gì để thoát khỏi tội lỗi và sự ảnh hưởng của Sa-tan? Lẽ thật. Nếu con người hy vọng đạt được lẽ thật, họ phải được trang bị nhiều lời Đức Chúa Trời, họ phải có thể trải nghiệm và thực hành chúng, để họ có thể hiểu được lẽ thật và bước vào thực tế. Chỉ khi đó họ mới có thể được cứu rỗi. Việc một người có thể được cứu rỗi hay không không liên quan đến việc họ đã tin Đức Chúa Trời bao lâu, họ có bao nhiêu kiến thức, liệu họ có sở hữu những ân tứ hay thế mạnh không, hay họ chịu khổ bao nhiêu. Điều duy nhất có quan hệ trực tiếp đến sự cứu rỗi là liệu một người có thể đạt được lẽ thật hay không. Vậy hôm nay, ngươi đã thực sự hiểu được bao nhiêu lẽ thật? Và bao nhiêu lời Đức Chúa Trời đã trở thành sự sống của ngươi? Trong tất cả các yêu cầu của Đức Chúa Trời, ngươi đã đạt được sự bước vào những yêu cầu nào? Trong những năm tin Đức Chúa Trời, ngươi đã bước vào thực tế của lời Đức Chúa Trời được bao nhiêu? Nếu ngươi không biết, hoặc nếu ngươi chưa đạt được sự bước vào thực tế của bất kỳ lời nào của Đức Chúa Trời, thì nói thẳng ra, ngươi không có hy vọng được cứu rỗi. Ngươi không thể được cứu rỗi. Dù ngươi có sở hữu trình độ hiểu biết cao, hoặc đã tin Đức Chúa Trời từ lâu, có ngoại hình đẹp, giỏi ăn nói, và đã từng là lãnh đạo hay chấp sự được vài năm thì cũng không quan trọng. Nếu ngươi không theo đuổi lẽ thật, không thực hành và trải nghiệm lời Đức Chúa Trời một cách đúng đắn, và ngươi thiếu chứng ngôn trải nghiệm thực sự, thì ngươi không có hy vọng được cứu rỗi(Trân quý lời Đức Chúa Trời là nền tảng của đức tin nơi Đức Chúa Trời, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt). “Cuối cùng, việc con người có thể đạt được sự cứu rỗi hay không không phụ thuộc vào việc họ làm bổn phận nào, mà phụ thuộc vào việc liệu họ có thể hiểu và đạt được lẽ thật hay không, và phụ thuộc vào việc liệu cuối cùng họ có thể hoàn toàn thuận phục Đức Chúa Trời, thuận theo sự sắp đặt của Ngài, không màng tiền đồ và vận mệnh bản thân, và trở thành một tạo vật đạt tiêu chuẩn hay không. Đức Chúa Trời là Đấng công chính và thánh khiết, và đây là những tiêu chuẩn mà Ngài dùng để đánh giá cả nhân loại. Những tiêu chuẩn này là bất biến, và ngươi phải nhớ điều này. Hãy ghi khắc những tiêu chuẩn này vào lòng, và đừng bao giờ nghĩ về việc tìm kiếm con đường nào khác để theo đuổi điều viển vông nào đó. Các yêu cầu và tiêu chuẩn Đức Chúa Trời đòi hỏi ở tất cả những ai muốn đạt được sự cứu rỗi vĩnh viễn không thay đổi. Chúng vẫn như thế cho dù ngươi là ai(Phần 3, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt). Sau khi suy ngẫm lời Đức Chúa Trời, tôi hiểu ra rằng Ngài không đánh giá một người có được cứu rỗi hay không dựa trên việc họ làm bổn phận gì, chịu khổ bao nhiêu, hay có ân tứ hoặc sở trường gì, mà dựa trên việc họ có thể hiểu lẽ thật, đạt được lẽ thật, thuận phục tuyệt đối sự sắp đặt và an bài của Đức Chúa Trời hay không. Đức Chúa Trời chưa bao giờ nói rằng làm lãnh đạo thì có hy vọng được cứu rỗi lớn hơn. Quan trọng là phải xem một người đi con đường nào. Làm lãnh đạo thì bạn sẽ tiếp xúc với nhiều người và gặp nhiều sự việc. Nếu bạn có thể tập trung mưu cầu lẽ thật, bạn sẽ có nhiều cơ hội đạt được lẽ thật hơn, có thể nhanh chóng bước vào thực tế lẽ thật và được cứu rỗi. Nếu bạn không mưu cầu lẽ thật, và giống như Phao-lô, chỉ cung ứng cho người khác sự sáng của lẽ thật mà bản thân không tiếp nhận hay thực hành lời Đức Chúa Trời, thì dù bạn làm bổn phận lãnh đạo bao nhiêu năm, hy vọng được cứu rỗi của bạn vẫn rất mong manh. Hơn nữa, làm những bổn phận khác không có nghĩa là bạn có cơ hội được cứu rỗi nhỏ hơn. Bất kể bạn làm bổn phận gì, miễn là bạn tập trung mưu cầu lẽ thật và giải quyết tâm tính bại hoại của mình, nhìn nhận con người và sự việc, cũng như hành xử và hành động theo lời Đức Chúa Trời, và bước vào thực tế trong lời Đức Chúa Trời, bạn sẽ có cơ hội được cứu rỗi. Đúng như lời Đức Chúa Trời phán: “Những người được đề bạt và bồi dưỡng này có thể được ưu tiên bước vào thực tế lẽ thật đơn giản là vì tố chất và do các điều kiện khác nhau của họ. Tuy nhiên, sự ưu tiên này không có nghĩa rằng họ là những người duy nhất có thể bước vào thực tế lẽ thật. Chẳng qua là họ có thể được ưu tiên thu hoạch nhiều hơn một chút, và có thể bước vào thực tế lẽ thật sớm hơn một chút. Những người chưa được đề bạt sẽ tụt lại sau họ một chút, nhưng không có nghĩa rằng họ không thể bước vào thực tế lẽ thật. Việc người ta có thể bước vào thực tế lẽ thật hay không tùy thuộc vào sự mưu cầu của họ(Chức trách của lãnh đạo và người làm công (5), Lời, Quyển 5 – Chức trách của lãnh đạo và người làm công). Tôi nghĩ đến những người lãnh đạo mà tôi từng tiếp xúc trước đây. Một số người trong số họ có tố chất và ân tứ, và thường giải quyết tình trạng của các anh chị em. Tuy nhiên, bản thân họ lại không tiếp nhận lẽ thật và không thực hành lẽ thật, và thực hiện bổn phận dựa trên tâm tính bại hoại của mình. Họ gây gián đoạn và nhiễu loạn công tác của hội thánh, lại còn ngoan cố không chịu ăn năn, và cuối cùng bị thanh trừ. Ngược lại, một số anh chị em làm những bổn phận không mấy nổi bật, nhưng họ tập trung tìm kiếm lẽ thật, hiểu bao nhiêu thì thực hành bấy nhiêu, làm tốt bổn phận hết sức có thể, và bảo vệ công tác của hội thánh. Họ cũng có thể đạt được một số lẽ thật và được Đức Chúa Trời khen ngợi. Việc một người có được Đức Chúa Trời khen ngợi hay không không phụ thuộc vào cấp bậc lãnh đạo của họ, mà được quyết định bởi thái độ của họ đối với Đức Chúa Trời, lẽ thật, và bổn phận của họ; nó phụ thuộc vào việc họ có thể đi con đường mưu cầu lẽ thật hay không. Qua đó, tôi cũng thấy được sự thánh khiết và công chính trong tâm tính của Đức Chúa Trời. Mọi người đều bình đẳng trước lẽ thật, và nếu bạn không mưu cầu lẽ thật, không thực hành lẽ thật, thì dù bạn có là một lãnh đạo to đến đâu, cuối cùng bạn cũng sẽ không thể đứng vững. Khi hiểu được điều này, lòng tôi sáng tỏ hẳn. Mặc dù tố chất của tôi trung bình, nhưng tôi có thể hiểu lời Đức Chúa Trời, và bất kể tôi làm bổn phận gì, miễn là tôi tập trung tìm kiếm lẽ thật và thực hành lẽ thật, tôi đều có hy vọng được cứu rỗi.

Tiếp theo, tôi đọc được thêm hai đoạn lời của Đức Chúa Trời: “Mưu cầu tích cực thực hiện bổn phận của mình như một loài thọ tạo là con đường dẫn đến thành công; mưu cầu con đường của tình yêu đích thực dành cho Đức Chúa Trời là con đường đúng đắn nhất; mưu cầu những thay đổi trong tâm tính cũ của mình, và mưu cầu tình yêu thuần khiết dành cho Đức Chúa Trời, là con đường dẫn đến thành công. Một con đường dẫn đến thành công như thế là con đường khôi phục bổn phận ban đầu cũng như diện mạo ban đầu của một loài thọ tạo. Đó là con đường khôi phục, và cũng là mục tiêu của mọi công tác của Đức Chúa Trời từ đầu đến cuối. Nếu việc theo đuổi của con người bị ô tạp bởi những đòi hỏi ngông cuồng cá nhân và những thèm muốn phi lý, thì hiệu quả đạt được sẽ không phải là những thay đổi trong tâm tính của con người. Điều này mâu thuẫn với công tác khôi phục. Đó chắc chắn không phải là công tác được thực hiện bởi Đức Thánh Linh, và vì vậy, chứng tỏ rằng loại theo đuổi này không được Đức Chúa Trời khen ngợi. Một sự theo đuổi không được Đức Chúa Trời khen ngợi thì có nghĩa lý gì?(Thành công hay thất bại phụ thuộc vào con đường mà con người đi, Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). “Là một loài thọ tạo, con người phải cố gắng làm tốt bổn phận của một loài thọ tạo, và tìm kiếm tình yêu dành cho Đức Chúa Trời mà không có lựa chọn khác, vì Đức Chúa Trời xứng đáng với tình yêu của con người. Những ai tìm kiếm tình yêu dành cho Đức Chúa Trời không nên tìm kiếm bất kỳ lợi ích cá nhân nào hoặc những điều cá nhân họ ao ước; đây là cách theo đuổi đúng đắn nhất. Nếu những gì ngươi tìm kiếm là lẽ thật, nếu những gì ngươi đưa vào thực hành là lẽ thật, và nếu những gì ngươi đạt được là một sự thay đổi trong tâm tính của mình, thì con đường ngươi bước đi là con đường đúng. Nếu những gì ngươi tìm kiếm là những phước lành của xác thịt, những gì ngươi đưa vào thực hành là lẽ thật theo quan niệm của riêng ngươi, và nếu không có sự thay đổi nào trong tâm tính của ngươi, ngươi không hề thuận phục Đức Chúa Trời trong xác thịt, và ngươi vẫn sống trong sự mơ hồ, thì những gì ngươi tìm kiếm chắc chắn sẽ đưa ngươi xuống địa ngục, vì con đường ngươi đi là con đường thất bại. Việc ngươi sẽ được làm cho hoàn thiện hay bị đào thải tùy thuộc vào sự theo đuổi của chính ngươi, điều đó cũng có nghĩa là thành công hay thất bại phụ thuộc vào con đường mà con người đi(Thành công hay thất bại phụ thuộc vào con đường mà con người đi, Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). Sau khi suy ngẫm lời Đức Chúa Trời, tôi hiểu ra rằng việc đi con đường nào trong đức tin nơi Đức Chúa Trời là vô cùng quan trọng. Đức Chúa Trời yêu cầu con người hoàn thành bổn phận với tư cách loài thọ tạo, và giống như Phi-e-rơ, mưu cầu việc nhận biết Đức Chúa Trời và yêu kính Ngài. Chỉ bằng cách đó, một người mới có thể đạt được sự thay đổi trong tâm tính và thuận phục mọi sự sắp đặt và an bài của Đức Chúa Trời; không nên làm việc và dâng mình chỉ để nhận được phước lành và mão triều thiên như Phao-lô. Sự mưu cầu của Phao-lô trái ngược với những yêu cầu của Đức Chúa Trời. Ông tin cho đến cuối cùng, nhưng không đạt được sự thay đổi nào trong tâm tính, vẫn đầy những đòi hỏi và yêu cầu đối với Đức Chúa Trời, và bản tính của ông vẫn chống đối và phản nghịch Đức Chúa Trời. Khi đối chiếu với bản thân, tôi thấy rằng mình đang đi trên con đường thất bại của Phao-lô. Tôi đã luôn cho rằng làm lãnh đạo sẽ cho tôi nhiều cơ hội rèn luyện, cho tôi nhiều hy vọng được cứu rỗi hơn. Vì vậy, tôi đã luôn muốn làm lãnh đạo. Điều tôi mưu cầu trong đức tin nơi Đức Chúa Trời là nhận được phước lành và mão triều thiên, thay vì mưu cầu lẽ thật và sự thay đổi trong tâm tính. Vì vậy, khi bị cách chức vì tố chất kém, tôi cảm thấy có lẽ mình sẽ không bao giờ có cơ hội làm lãnh đạo nữa và hy vọng nhận được phước lành cũng rất mong manh, tôi đã trở nên tiêu cực và thờ ơ, không để tâm đến bổn phận của mình nữa. Tôi nhận ra rằng mình không hề có chút chân thành nào đối với Đức Chúa Trời. Nếu tôi tiếp tục đi trên con đường sai lầm này, thì ngay cả khi tôi có được địa vị lãnh đạo, vì tôi không mưu cầu lẽ thật, tâm tính sự sống của tôi sẽ không thay đổi, tôi sẽ không hề có chút thuận phục nào đối với sự sắp đặt và an bài của Đức Chúa Trời, chẳng phải kết cục của tôi sẽ giống hệt như của Phao-lô sao? Khi hiểu được điều này, tôi tạ ơn Đức Chúa Trời từ tận đáy lòng vì đã sắp đặt một hoàn cảnh như vậy để tỏ lộ quan điểm sai lầm đằng sau sự mưu cầu của tôi. Đây là sự cứu rỗi dành cho tôi! Khi hiểu được điều này, tôi không còn cảm thấy đau khổ vì việc tố chất của mình kém và thiếu những điều kiện cần thiết để làm lãnh đạo nữa. Tôi là một loài thọ tạo, và không nên mưu cầu phước lành hay cố gắng mặc cả với Đức Chúa Trời. Thay vào đó, tôi nên làm tốt bổn phận của mình với tư cách loài thọ tạo, đạt đến việc yêu kính và thuận phục Đức Chúa Trời. Đây mới chính là con đường đúng đắn trong cuộc đời và là hình tượng mà một loài thọ tạo nên có. Kể từ đó, thái độ của tôi đối với bổn phận sự vụ đã đúng đắn hơn, và tôi đã có thể làm bổn phận của mình một cách thiết thực. Một khi tình trạng của tôi được xoay chuyển, hiệu quả công việc cũng cải thiện hơn một chút.

Về sau, mỗi khi có nhiều công việc sự vụ, tôi vẫn cảm thấy bổn phận này chủ yếu là bận rộn với các vấn đề bên ngoài, và không có lợi cho lối vào sự sống của tôi. Tuy nhiên, tôi biết rằng quan điểm này không đúng, vì vậy tôi đã tìm kiếm cách tập trung vào lối vào sự sống trong khi thực hiện bổn phận này. Tôi đọc một đoạn lời của Đức Chúa Trời: “Các ngươi có trải nghiệm những tình trạng mà, cho dù chuyện gì xảy ra hay đang thực hiện loại bổn phận gì, ngươi cũng có thể thường xuyên tĩnh lặng trước Đức Chúa Trời, để tâm vào việc suy ngẫm lời Ngài và vào việc tìm kiếm lẽ thật, để tâm cân nhắc cách thực hiện bổn phận để phù hợp với tâm ý của Đức Chúa Trời, và lẽ thật nào ngươi nên có để thực hiện bổn phận của mình đạt tiêu chuẩn? Ngươi có nhiều lần tìm kiếm lẽ thật theo cách này không? (Thưa, không.) Việc để tâm vào bổn phận của mình và có thể chịu trách nhiệm đòi hỏi các ngươi phải chịu khổ và trả giá – chỉ nói ngoài miệng thôi thì chưa đủ. Nếu các ngươi không để tâm vào bổn phận của mình, mà thay vào đó luôn muốn ra sức, thì bổn phận của các ngươi chắc chắn sẽ làm không được tốt. Các ngươi sẽ chỉ làm cho có lệ là xong, và các ngươi sẽ không biết rốt cuộc mình đã thực hiện nó như thế nào. Nếu ngươi để tâm thì sẽ dần đi đến hiểu lẽ thật; nếu ngươi không để tâm thì sẽ không hiểu lẽ thật. Khi ngươi để tâm mình vào việc thực hiện bổn phận và mưu cầu lẽ thật, thì ngươi sẽ dần dần hiểu được tâm ý của Đức Chúa Trời, phát hiện ra sự bại hoại cũng như những thiếu sót của chính mình và làm chủ tất cả các trạng thái khác nhau của mình. Khi ngươi chỉ tập trung vào việc ra sức, và không để tâm vào việc tự phản tỉnh thì ngươi sẽ không thể phát hiện được những trạng thái thực sự trong lòng mình và vô số những phản ứng, những bộc lộ của sự bại hoại mà ngươi có trong những hoàn cảnh khác nhau. Nếu ngươi không biết hậu quả sẽ là thế nào khi vấn đề không được giải quyết, thì ngươi gặp phiền phức lớn rồi. Đây là lý do tại sao tin Đức Chúa Trời một cách lơ mơ không rõ thì không được. Ngươi phải sống trước Đức Chúa Trời mọi lúc mọi nơi; bất cứ điều gì xảy đến với ngươi, ngươi cũng phải luôn tìm kiếm lẽ thật, đồng thời ngươi cũng phải phản tỉnh bản thân và biết trong trạng thái của mình tồn tại những vấn đề gì, ngay lập tức tìm kiếm lẽ thật để giải quyết chúng. Chỉ như vậy, ngươi mới có thể làm tốt bổn phận và không gây chậm trễ công tác. Ngươi không những có thể làm tốt bổn phận, mà quan trọng nhất là, ngươi cũng sẽ có lối vào sự sống và có thể giải quyết tâm tính bại hoại của mình. Chỉ như vậy, ngươi mới có thể bước vào thực tế lẽ thật(Chỉ người trung thực mới có thể sống thể hiện ra hình tượng giống con người chân chính, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt). Từ lời Đức Chúa Trời, tôi nhận ra rằng việc đạt được lẽ thật và sự cứu rỗi không phụ thuộc vào việc chúng ta làm bổn phận gì. Thay vào đó, nó phụ thuộc vào việc chúng ta có tìm kiếm các nguyên tắc lẽ thật trong khi thực hiện bổn phận, phản tỉnh, nhận thức về sự bại hoại và thiếu sót của bản thân, và tìm kiếm lẽ thật để giải quyết các vấn đề của chính mình, qua đó đạt được lối vào sự sống trong khi thực hiện bổn phận hay không. Nếu chúng ta tập trung tìm kiếm lẽ thật và thực hành lời Đức Chúa Trời trong khi thực hiện bổn phận, thì cho dù làm bổn phận gì, chúng ta cũng có thể đạt được lẽ thật. Ví dụ, hiện tại tôi tiếp xúc nhiều hơn với công tác sự vụ. Nếu tôi làm mọi việc một cách lơ mơ và không tiếp cận bổn phận của mình một cách tận tâm, thì rất dễ gây gián đoạn và nhiễu loạn cho công tác vì thái độ qua loa chiếu lệ từ tâm tính bại hoại của mình. Hơn nữa, làm bổn phận sự vụ không có nghĩa là sống trong chân không. Con người, sự việc và sự vật vẫn xảy đến với tôi mỗi ngày, và những điều này cũng khiến tôi bộc lộ đủ loại tư tưởng sống động. Nếu tôi có thể tập trung vào những tâm tính bại hoại, tâm tư và ý niệm mà mình bộc lộ mỗi ngày, phản tỉnh, nhận biết bản thân, và bước vào thực tế lẽ thật, thì tôi cũng có thể học được nhiều bài học và đạt được nhiều lẽ thật. Khi hiểu được điều này, tôi cảm thấy thoải mái hơn nhiều.

Sau này, khi thực hiện bổn phận, tôi tập trung vào việc kiểm điểm tâm tư và ý niệm của mình mỗi ngày. Khi bị tỉa sửa, tôi cũng chủ động tìm kiếm lẽ thật và xem các lời chứng trải nghiệm của các anh chị em, xem cách người khác phản tỉnh bản thân và học được bài học khi sự việc xảy đến với họ. Ví dụ, trước đó, các anh chị em đã chỉ ra rằng tôi có tâm tính kiêu ngạo và có xu hướng nói lý lẽ khi sự việc xảy đến với mình. Tôi đã tiếp nhận điều này, phản tỉnh, nhận biết bản thân, và tìm đọc những lời của Đức Chúa Trời về phương diện này. Tôi cũng đã cởi mở về tình trạng của mình và tìm kiếm, thảo luận với các anh chị em về cách giải quyết các vấn đề nóng nảy và nói lý lẽ của mình. Tôi cũng thường dành thời gian để viết các bài lời chứng trải nghiệm, và đã có được sự hiểu biết rõ ràng và sâu sắc hơn về tâm tính bại hoại Sa-tan của mình. Tôi cảm thấy bình an và yên ổn trong lòng khi thực hiện bổn phận theo cách này. Càng rèn luyện theo cách này, tâm trí tôi càng trở nên nhạy bén hơn. Tôi cũng có thể kịp thời phát hiện ra các vấn đề trong bổn phận, có sự dẫn dắt và ban phước của Đức Chúa Trời trong khi thực hiện bổn phận. Tạ ơn Đức Chúa Trời!

Hồi chuông thời sau hết báo động đã vang lên, đại thảm họa đã ập xuống, bạn có muốn cùng gia đình nghênh đón được Thiên Chúa, và có cơ hội nhận được sự che chở của Thiên Chúa không?

Nội dung liên quan

Bài học từ việc bị cách chức

Bởi Tiểu Văn, Tây Ban Nha Năm 2018, tôi đảm trách công tác làm video. Đôi khi một số nhiệm vụ làm video phải thực hiện cùng lúc, và cần...

Liên hệ với chúng tôi qua Messenger