Bài học tôi rút ra từ việc mẹ bị bắt giam

28/07/2026

Bởi Tiêu Ngữ Tâm, Trung Quốc

Tháng 8 năm 2023, mẹ tôi bị Trung Cộng bắt khi đang thực hiện bổn phận. Lúc đó, tôi và các anh chị em không hề hay biết gì. Chúng tôi không hề có tin tức gì về mẹ cho đến tháng 9 năm 2024, khi mẹ gửi thư từ trong tù về. Lúc đó chúng tôi mới biết mẹ đã bị kết án bốn năm tù. Nghe tin, cả người tôi bủn rủn. Lòng tôi vô cùng đau đớn, và tôi nghĩ: “Trước đây mẹ từng bị giam vì rao truyền phúc âm. Sau khi được thả, mẹ vẫn tiếp tục làm bổn phận xa nhà. Suốt những năm qua, cảnh sát luôn đến nhà gặng hỏi tung tích của mẹ. Giờ mẹ lại rơi vào tay chúng rồi. Không biết cảnh sát sẽ tra tấn và giày vò mẹ thế nào. Cuộc sống trong tù rất khổ cực, liệu mẹ có đứng vững được không?”. Lúc đó, một chị em đã thông công với tôi. Chị ấy nói rằng những hoàn cảnh chúng ta trải nghiệm và những khổ đau chúng ta phải chịu trong đời đều do Đức Chúa Trời tiền định. Chị ấy nói tôi nên giao phó mẹ trong tay Đức Chúa Trời, thuận phục sự tể trị và sắp đặt của Ngài. Tôi cũng biết mình nên thuận phục, nhưng cứ hễ nghĩ đến cách Trung Cộng đối xử tàn độc với các tín đồ của Đức Chúa Trời Toàn Năng, và nghĩ đến việc mẹ chắc chắn sẽ phải chịu không ít đau khổ, thì lòng tôi lại rối bời, chẳng nghe lọt được lời nào chị ấy nói. Sau đó, tuy tôi vẫn tiếp tục làm bổn phận, nhưng mỗi khi rảnh rỗi hoặc ban đêm không ngủ được, đầu óc tôi lại tràn ngập hình ảnh các anh chị em bị bắt, bị cảnh sát tra tấn dã man hoặc bị bạn tù ức hiếp, và tôi lại rất lo lắng cho mẹ. Tôi tự hỏi: “Không biết mẹ ở trong tù thế nào rồi. Bản án bốn năm tù còn biết bao ngày đêm, làm sao mẹ có thể vượt qua được đây? Có người sau khi bị bắt không chịu đựng nổi sự tra tấn nên đã trở thành Giu-đa. Người khác thì ký vào Tam thư và phản bội Đức Chúa Trời. Lỡ như mẹ không đứng vững làm chứng và phản bội Đức Chúa Trời thì sao? Chẳng phải mọi khổ đau mẹ đã chịu sẽ thành công cốc hay sao?”. Rồi tôi nhớ lại mấy tháng trước có một chị em kể với tôi rằng chồng chị đã bị kết án tù năm năm rưỡi vì đức tin của mình. Anh ấy sắp được mãn hạn tù, nhưng vì không chịu bán đứng hội thánh hay phủ nhận Đức Chúa Trời, cảnh sát đã đánh chết anh ấy. Họ thậm chí còn bóp méo sự thật và nói rằng anh ấy đã tự sát. Một anh em khác cũng bị tra tấn đến chết một năm sau khi bị bắt. Nghĩ đến đây, tôi lại càng lo lắng hơn. Nếu cảnh sát tra tấn mẹ đến chết, thì làm sao mẹ có thể được Đức Chúa Trời cứu rỗi đây? Trong lòng tôi phần nào khó hiểu, nghĩ rằng: “Sau khi tin Đức Chúa Trời, mẹ đã tích cực làm bổn phận. Lần trước bị bắt, mẹ chưa bao giờ bán đứng bất kỳ ai hay hội thánh. Sau đó, mẹ luôn làm bổn phận xa nhà để tránh bị bắt. Bao năm nay Đức Chúa Trời vẫn luôn chăm nom và bảo vệ mẹ, tại sao lần này Ngài lại không bảo vệ mẹ? Tại sao Đức Chúa Trời lại cho phép Trung Cộng bắt bớ và bách hại chúng ta? Nếu không có sự bách hại này, chúng ta có thể yên ổn tin Đức Chúa Trời và làm bổn phận, mẹ cũng sẽ không phải chịu khổ trong tù”. Những ngày đó, tâm trạng tôi nặng nề và ức chế. Khi cầu nguyện, tôi không biết phải nói gì với Đức Chúa Trời, làm bổn phận cũng không thể tĩnh tâm được. Tôi không kìm được mà cứ nghĩ mãi về tình hình của mẹ, trong lòng vô cùng giày vò, đau đớn. Tôi biết tình trạng của mình không ổn, và tôi đã nảy sinh quan niệm về Đức Chúa Trời. Sau đó, tôi nhớ đến một đoạn lời của Đức Chúa Trời: “Quan niệm là vấn đề lớn. Con người có những quan niệm về Đức Chúa Trời giống như một bức tường chắn giữa họ và Đức Chúa Trời, thứ ngăn cản họ nhìn thấy khuôn mặt thật của Đức Chúa Trời, ngăn cản họ nhìn thấy tâm tính thật và thực chất thật của Đức Chúa Trời. Tại sao vậy? Bởi vì con người sống trong những quan niệm của họ, và trong những tưởng tượng của họ, và họ dùng những quan niệm của mình để xác định Đức Chúa Trời là đúng hay sai, và để đánh giá, xét đoán và lên án tất cả những gì Đức Chúa Trời làm. Con người thường sa vào loại tình trạng gì khi làm điều này? Liệu con người có thể thật sự thuận phục Đức Chúa Trời khi họ sống giữa những quan niệm của họ không? Liệu họ có thể có đức tin thật nơi Đức Chúa Trời không? (Không, họ không thể.) Ngay cả khi con người có thuận phục một chút, thì họ cũng làm thế theo những quan niệm và tưởng tượng của riêng họ. Khi người ta dựa vào những quan niệm và tưởng tượng của họ, thì nó trở nên bị uế tạp bởi những thứ cá nhân thuộc về Sa-tan và thế giới, nó cũng mâu thuẫn với lẽ thật. Vấn đề của những quan niệm của con người về Đức Chúa Trời là một vấn đề nghiêm trọng; nó là một vấn đề lớn giữa con người và Đức Chúa Trời, là điều khẩn thiết cần được giải quyết(Chỉ bằng cách giải quyết những quan niệm của mình thì mới có thể tiến vào đúng hướng của đức tin nơi Đức Chúa Trời (1), Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt). Từ lời Đức Chúa Trời, tôi mới nhận ra việc có quan niệm về Ngài nguy hiểm đến mức nào. Chúng tạo ra sự hiểu lầm và một rào cản giữa con người và Đức Chúa Trời. Nếu một người không hiểu được tâm ý của Đức Chúa Trời đằng sau những chuyện xảy ra, họ sẽ không thể thuận phục sự sắp đặt và an bài của Ngài. Đó chính xác là tình trạng của tôi trong suốt thời gian đó. Kể từ khi biết tin mẹ ở trong tù, hễ nghĩ đến việc mẹ phải chịu khổ rất nhiều và không biết liệu mẹ có sống sót ra tù được không, tôi lại nảy sinh quan niệm về Đức Chúa Trời. Tôi không hiểu tại sao Ngài lại cho phép con rồng lớn sắc đỏ bắt bớ và bách hại các tín đồ, tôi oán trách Ngài đã không bảo vệ mẹ tôi, và lòng tôi không còn đặt vào bổn phận nữa. Nếu cứ sống trong những quan niệm của mình mà không tìm kiếm lẽ thật, thì rào cản giữa tôi và Đức Chúa Trời sẽ chỉ ngày một lớn hơn. Thế là tôi cầu nguyện: “Lạy Đức Chúa Trời, con vẫn không sao thuận phục được việc mẹ bị bắt, và đã nảy sinh quan niệm về Ngài. Con không muốn tiếp tục phản nghịch như vậy nữa. Xin Ngài dẫn dắt để con có thể hiểu được tâm ý của Ngài”.

Trong lúc tĩnh nguyện, tôi đọc được một đoạn lời của Đức Chúa Trời đã giúp ích cho tôi rất nhiều. Đức Chúa Trời Toàn Năng phán: “Mọi người phải thường xuyên kiểm điểm xem trong lòng họ có điều gì không tương hợp với Đức Chúa Trời, hoặc có điều gì hiểu lầm về Ngài hay không. Sự hiểu lầm nảy sinh như thế nào? Tại sao người ta lại hiểu lầm Đức Chúa Trời? (Thưa, vì lợi ích của họ bị ảnh hưởng.) Sau khi con người thấy sự thật về việc người Do Thái bị trục xuất khỏi xứ Giu-đê, họ cảm thấy bị tổn thương và nói: ‘Lúc đầu, Đức Chúa Trời rất yêu thương dân Y-sơ-ra-ên. Ngài dẫn họ ra khỏi Ai Cập và băng qua Biển Đỏ, ban cho họ bánh ma-na từ trên trời rơi xuống và nước suối để uống, rồi đích thân ban hành luật pháp cho họ để dẫn dắt và dạy họ cách sống. Tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho con người mới chan chứa làm sao – những người sống thời đó thật quá có phúc! Làm sao mà thái độ của Đức Chúa Trời có thể thay đổi một trăm tám mươi độ chỉ trong chớp mắt chứ? Tình yêu thương của Ngài đã đi đâu mất rồi?’. Tình cảm của con người không thể vượt qua chuyện này, và họ bắt đầu nghi ngờ rằng: ‘Đức Chúa Trời là tình yêu thương hay là không phải vậy? Tại sao thái độ ban đầu của Ngài đối với dân Y-sơ-ra-ên giờ không còn thấy được nữa? Tình yêu của Ngài đã biến mất không còn chút dấu vết. Rốt cuộc Ngài có chút tình yêu thương nào không?’. Thế là con người bắt đầu nảy sinh hiểu lầm. Bối cảnh con người nảy sinh sự hiểu lầm là gì? Có thể nào là do việc Đức Chúa Trời làm không tương hợp với quan niệm và tưởng tượng của con người không? Sự thật này có phải là nguyên nhân khiến con người hiểu lầm Đức Chúa Trời không? Chẳng phải lý do con người hiểu sai về Đức Chúa Trời là vì họ tự quy định về tình yêu của Ngài sao? Họ nghĩ: ‘Đức Chúa Trời là tình yêu. Vì vậy, Ngài nên chăm sóc và bảo vệ con người, ban cho con người ân điển và phúc lành. Như thế mới là tình yêu của Đức Chúa Trời! Tôi thích Đức Chúa Trời yêu con người theo cách này. Tôi đặc biệt có thể thấy được Đức Chúa Trời yêu thương con người biết bao khi Ngài dẫn họ qua Biển Đỏ. Con người thời đó thật là có phúc! Ước gì tôi có thể là một trong số họ’. Khi say sưa với câu chuyện này, ngươi coi tình yêu mà Đức Chúa Trời bộc lộ trong khoảnh khắc đó là lẽ thật cao nhất và là dấu hiệu duy nhất về thực chất của Ngài. Ngươi quy định về Ngài trong lòng mình, và coi mọi việc Đức Chúa Trời đã làm lúc đó là lẽ thật cao nhất. Ngươi nghĩ rằng đây là khía cạnh đáng mến nhất của Đức Chúa Trời, và là khía cạnh khiến con người tôn kính và kính sợ Ngài nhất, nghĩ rằng như thế mới là tình yêu thương của Đức Chúa Trời. Trên thực tế, bản thân các hành động của Đức Chúa Trời là điều tích cực, nhưng do ngươi quy định những chuyện này mà chúng đã trở thành những quan niệm trong lòng ngươi, và là căn cứ để ngươi quy định Đức Chúa Trời. Chúng khiến ngươi hiểu sai về tình yêu của Đức Chúa Trời, như thể tình yêu của Ngài không có gì ngoài lòng thương xót, sự quan tâm, bảo vệ, dẫn dắt, ân điển và phúc lành – rằng tình yêu của Đức Chúa Trời chỉ có thế thôi. Tại sao ngươi lại trân quý những khía cạnh này đến vậy? Có phải vì nó gắn liền với lợi ích cá nhân của ngươi không? (Thưa, phải.) Nó gắn liền với lợi ích cá nhân nào? (Thưa, là những hưởng thụ của xác thịt và một cuộc đời an nhàn.) Khi người ta tin vào Đức Chúa Trời, họ muốn nhận được những điều này từ Ngài, chứ không muốn nhận những điều khác. Người ta không muốn nghĩ về sự phán xét, hình phạt, thử luyện, tinh luyện, chịu khổ vì Đức Chúa Trời, vứt bỏ mọi thứ và dâng mình, hay thậm chí hy sinh mạng sống của mình. Con người chỉ nghĩ đến chuyện vui hưởng tình yêu thương, sự chăm sóc, bảo vệ và dẫn dắt của Đức Chúa Trời, vì vậy họ quy định tình yêu của Đức Chúa Trời thành biểu tượng duy nhất trong thực chất của Ngài, và là thực chất duy nhất của Ngài. Chẳng phải những việc Đức Chúa Trời đã làm khi dẫn dắt dân Y-sơ-ra-ên băng qua Biển Đỏ đã trở thành nguồn gốc những quan niệm của con người sao? (Thưa, phải.) Điều này tạo thành bối cảnh mà con người nảy sinh quan niệm về Đức Chúa Trời. Nếu nảy sinh quan niệm về Đức Chúa Trời, thì liệu họ có thể đạt đến thực sự nhận biết về công tác và tâm tính của Đức Chúa Trời không? Rõ ràng là không những họ không hiểu được mà còn hiểu sai và nảy sinh quan niệm. Điều này chứng tỏ nhận thức của con người quá phiến diện, và không phải là nhận thức đích thực. Vì đây không phải là lẽ thật, mà đúng hơn là một dạng tình yêu và nhận thức mà con người phân tích và diễn giải về Đức Chúa Trời dựa trên quan niệm, tưởng tượng và ham muốn ích kỷ của họ, nên nó không tương hợp với thực chất thực sự của Đức Chúa Trời. Tình yêu của Đức Chúa Trời đối với con người, ngoài lòng thương xót, sự cứu rỗi, chăm sóc, bảo vệ và lắng nghe lời cầu nguyện của họ, thì còn gì nữa? (Thưa, là sự sửa phạt, sửa dạy, tỉa sửa, phán xét, hành phạt, thử luyện và tinh luyện.) Đúng vậy. Đức Chúa Trời thể hiện tình yêu của Ngài theo vô số cách: bằng cách đánh đập, sửa dạy, khiển trách, và bằng sự phán xét, trừng phạt, thử luyện, tinh luyện, v.v.. Đây đều là tình yêu của Đức Chúa Trời. Chỉ có quan điểm này mới là toàn diện và phù hợp với lẽ thật. Nếu ngươi nhận thức được như thế, khi ngươi kiểm điểm bản thân và nhận ra mình có những hiểu lầm về Đức Chúa Trời, chẳng phải khi đó ngươi sẽ có thể nhận ra những lệch lạc của mình và ngẫm lại xem mình đã sai ở đâu sao? Chẳng phải điều này có thể giúp ngươi giải quyết những hiểu lầm của mình về Đức Chúa Trời sao? (Thưa, phải.) Để đạt được điều này, ngươi phải tìm kiếm lẽ thật. Con người chỉ cần tìm kiếm lẽ thật thì có thể giải trừ được những hiểu lầm của mình về Đức Chúa Trời, và một khi đã giải trừ được những hiểu lầm của mình về Đức Chúa Trời, thì họ có thể thuận phục mọi sự an bài của Đức Chúa Trời(Chỉ bằng cách hiểu lẽ thật thì mới có thể nhận thức những việc làm của Đức Chúa Trời, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt). Sau khi đọc lời Đức Chúa Trời, tôi nhận ra mình không thể hiểu được những việc làm của Ngài vì tôi đã quy định tình yêu của Ngài theo một cách nhất định. Tôi cứ nghĩ rằng tình yêu của Đức Chúa Trời nghĩa là Ngài sẽ chăm nom và bảo vệ con người, ban cho họ ân điển và phước lành, và không bao giờ để họ phải đối mặt với đau khổ hay hoạn nạn. Khi những việc làm của Đức Chúa Trời không phù hợp với quan niệm của mình, tôi không thể tiếp nhận hay thuận phục. Tất cả là vì tôi không thật sự biết công tác của Ngài. Tôi nhớ hồi còn nhỏ, mẹ thường kể cho tôi nghe chuyện Đức Chúa Trời đã tạo dựng nên nhân loại và chuẩn bị mọi thứ cho chúng ta. Vào Thời đại Luật pháp, Ngài đã dùng Môi-se dẫn dắt dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập và vượt qua Biển Đỏ. Ngài ban cho họ chim cút và ma-na trong đồng vắng, và dẫn dắt họ vào miền đất tốt tươi Ca-na-an. Vào Thời đại Ân điển, Đức Chúa Jêsus đã chữa lành người bệnh, đuổi quỷ, và bị đóng đinh trên thập tự giá để cứu chuộc nhân loại. Vì vậy trong lòng mình, tôi cho rằng tình yêu của Đức Chúa Trời chính là sự chăm sóc và bảo vệ, là ban cho ân điển và phước lành. Sau khi tin Đức Chúa Trời, tôi thấy Ngài giữ cho chúng tôi bình an vô sự, chúng tôi được hưởng ân điển và phước lành của Ngài trong cuộc sống, điều này càng khiến tôi cảm thấy Ngài yêu thương chúng tôi vô cùng. Nhưng lần này, mẹ bị bắt và ở trong tù, xác thịt chắc chắn sẽ phải chịu nhiều khổ cực. Tôi lo rằng nếu mẹ không đứng vững làm chứng hoặc bị cảnh sát tra tấn đến chết, mẹ sẽ mất đi cơ hội được cứu rỗi. Vì vậy, tôi đã oán trách Đức Chúa Trời vì đã không bảo vệ mẹ. Tôi thậm chí còn cố lý luận với Ngài, chỉ ra rằng mẹ đã tích cực làm bổn phận như thế nào và mẹ chưa bao giờ bán đứng bất kỳ ai hay hội thánh khi bị bắt. Tôi quả thật không có chút lý trí nào! Tôi đã đo lường tình yêu của Đức Chúa Trời dựa trên việc xác thịt có nhận được lợi ích và phước lành hay không, điều này hoàn toàn không phù hợp với lẽ thật. Tình yêu của Đức Chúa Trời không chỉ là ân điển và phước lành; nó còn bao gồm sự phán xét, hình phạt, thử luyện và tinh luyện. Khi Đức Chúa Trời ban cho con người ân điển và phước lành, đó là tình yêu của Ngài; nhưng khi Ngài sắp đặt những hoàn cảnh để thử luyện và tinh luyện con người, trong đó lại càng chứa đựng tình yêu của Ngài. Lấy ví dụ như việc mẹ tôi bị bắt. Từ góc độ xác thịt, tôi xem đó là một chuyện xấu và đã quy định rằng đó không phải là tình yêu của Đức Chúa Trời. Thực ra, nhận thức của tôi đã quá phiến diện. Nếu chuyện này không xảy ra, tôi sẽ không bao giờ nhận ra rằng mình đã quy định Đức Chúa Trời, có những quan niệm và hiểu lầm về Ngài, hay rằng tôi không có nhận thức thật sự về công tác và tình yêu của Ngài. Tương tự như vậy, mặc dù mẹ tôi đang phải chịu khổ về xác thịt khi trải nghiệm việc bị bắt và ở tù, nhưng nếu mẹ có thể cầu nguyện và cậy dựa vào Đức Chúa Trời và tìm kiếm tâm ý của Ngài trong gian khó, mẹ có thể hiểu được lẽ thật, trưởng thành trong sự sống, và đức tin của mẹ nơi Đức Chúa Trời cũng có thể tăng lên. Đó sẽ là một điều tốt cho mẹ. Rất nhiều công tác của Đức Chúa Trời không phù hợp với quan niệm của chúng ta hay mang lại lợi ích cho xác thịt, nhưng lại có lợi cho sự sống của chúng ta, điều đó càng chứng tỏ tình yêu của Ngài. Suy ngẫm đến đây, lòng tôi đã sáng ra.

Sau đó, tôi lại phản tỉnh: Tại sao mình không thể thuận phục việc mẹ bị bắt? Rồi tôi đọc lời của Đức Chúa Trời: “Ta không cho con người cơ hội được bày tỏ tình cảm của họ, bởi Ta không có cảm xúc xác thịt, và đã trở nên khinh ghét những tình cảm của con người đến tột độ. Chính bởi vì những tình cảm giữa con người mà Ta đã bị gạt sang một bên, và do đó Ta đã trở thành ‘người khác’ trong mắt họ; chính bởi những tình cảm giữa con người mà Ta đã bị quên lãng; chính bởi những tình cảm của con người mà họ nắm bắt được cơ hội để nhặt lấy ‘lương tâm’ mình; chính vì những tình cảm của con người mà họ luôn chán ghét hình phạt của Ta; chính bởi những tình cảm của con người mà họ gọi Ta là bất công và bất chính, và nói rằng Ta không quan tâm đến cảm giác của con người khi Ta xử lý mọi việc. Ta cũng có người thân trên đất chứ? Có ai từng, giống như Ta, đã làm việc đêm ngày, chẳng đoái hoài ăn ngủ, vì toàn bộ kế hoạch quản lý của Ta? Làm sao con người có thể so sánh được với Đức Chúa Trời? Làm sao con người có thể tương hợp với Đức Chúa Trời?(Những lời của Đức Chúa Trời với toàn vũ trụ – Chương 28, Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). “Con người đều sống trong tình cảm, và do đó Đức Chúa Trời không tránh một người nào trong họ, và phơi bày những bí mật ẩn trong lòng toàn thể nhân loại. Tại sao con người lại khó tách khỏi tình cảm như vậy? Có phải làm như thế là vượt quá các tiêu chuẩn của lương tâm không? Lương tâm có thể hoàn thành ý chỉ của Đức Chúa Trời không? Tình cảm có thể giúp con người vượt qua nghịch cảnh không? Trong mắt Đức Chúa Trời – tình cảm là kẻ thù của Ngài – chẳng phải điều này đã được tuyên bố rõ trong lời Đức Chúa Trời sao?(Chỉ ra những mầu nhiệm của “Lời Đức Chúa Trời với toàn vũ trụ” – Chương 28, Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). Tôi phản tỉnh và nhận ra mình không thể thuận phục là vì tôi đang bị tình cảm xác thịt chi phối. Về mặt đạo lý, tôi biết rằng con người, sự việc, sự vật xảy đến với chúng ta mỗi ngày, dù tốt hay xấu, đều được Đức Chúa Trời cho phép và nên được đón nhận từ Ngài. Nhưng khi biết tin mẹ ở trong tù, tôi không thể đón nhận điều đó từ Đức Chúa Trời, và càng không tìm kiếm tâm ý của Ngài. Chỉ cần nghĩ đến nỗi đau và sự giày vò về thể xác lẫn tinh thần của mẹ trong tù là tôi lại thấy thương mẹ. Tôi không muốn mẹ phải chịu khổ. Tôi cũng sợ mẹ sẽ không đứng vững làm chứng, trở thành Giu-đa và do đó không được cứu rỗi, hoặc sợ cảnh sát sẽ tra tấn mẹ đến chết trong tù và tôi sẽ mất mẹ. Tôi đã chiều theo tình cảm xác thịt của mình và lý luận với Đức Chúa Trời, oán trách Ngài đã không bảo vệ mẹ. Mọi điều tôi nghĩ đều là chống đối Đức Chúa Trời. Tôi đang đặt mình vào thế đối lập và đối kháng với Ngài. Tôi nghĩ đến Gióp trong những sự thử luyện của ông. Ông mất hết gia súc, toàn bộ tài sản, và cả mười người con, thân thể ông lại còn mọc đầy nhọt độc. Nhưng Gióp không hề oán trách. Ông tin rằng mọi sự đều ở trong tay Đức Chúa Trời và ngay cả nghịch cảnh cũng đến với sự cho phép của Đức Chúa Trời, ông vẫn thuận phục Đức Chúa Trời và ca ngợi danh Ngài. Tôi thấy Gióp có một tấm lòng kính sợ Đức Chúa Trời. So với ông ấy, tôi thật quá kém cỏi! Khi nghe tin mẹ bị bắt và ở trong tù, tôi không thể nào tiếp nhận được. Tôi hoàn toàn sống trong tình cảm. Mặc dù biết điều này có sự cho phép của Đức Chúa Trời, tôi vẫn không thể thuận phục. Tôi đã lý luận với Đức Chúa Trời và đối kháng với Ngài trong lòng. Tôi làm gì có lòng kính sợ Đức Chúa Trời? Rõ ràng là con rồng lớn sắc đỏ thù hận Đức Chúa Trời, bắt bớ và bách hại các tín đồ, và đó là lý do tại sao mẹ tôi phải chịu khổ nhiều như vậy sau khi bị bắt. Nhưng thay vì thù hận Trung Cộng, tôi lại oán trách Đức Chúa Trời. Tôi đã hoàn toàn đảo lộn trắng đen, không phân biệt được đúng sai!

Sau đó, tôi đọc thêm vài đoạn lời của Đức Chúa Trời và bắt đầu hiểu một chút về ý nghĩa tại sao Đức Chúa Trời lại cho phép sự bách hại và hoạn nạn xảy ra. Đức Chúa Trời phán: “Trong suốt quá trình công tác của Ngài, ngay từ thuở ban đầu, Đức Chúa Trời đã đặt ra những thử luyện cho mọi người – hay ngươi có thể nói là mọi người đi theo Ngài – và những thử luyện này đến trong những phạm vi khác nhau. Có những người đã trải qua thử luyện bị gia đình từ bỏ, những người trải qua thử luyện trong những môi trường bất lợi, những người trải qua thử luyện bị bắt giữ và tra tấn, những người trải qua thử luyện phải đối diện với những sự lựa chọn, và những người đối diện những thử luyện về tiền tài địa vị. Nói chung, từng người trong các ngươi đều đã đối diện với đủ kiểu thử luyện. Tại sao Đức Chúa Trời lại làm như thế này? Tại sao Ngài lại đối xử với mọi người theo cách này? Ngài tìm kiếm loại kết quả gì? Đây là điểm mà Ta mong muốn truyền đạt lại cho các ngươi: Đức Chúa Trời muốn nhìn thấy con người này có phải là loại người kính sợ Ngài và lánh khỏi điều ác hay không. Điều này có nghĩa là khi Đức Chúa Trời đưa ra một thử luyện cho ngươi, và để ngươi đối diện với tình cảnh nào đó, thì ý định của Ngài là thử xem ngươi có phải là người kính sợ Ngài và lánh khỏi điều ác hay không(Cách nhận biết tâm tính của Đức Chúa Trời và các kết quả mà công tác của Ngài sẽ đạt được, Lời, Quyển 2 – Về việc biết Đức Chúa Trời). “Trong công tác trường kỳ chu cấp và hỗ trợ con người của Đức Chúa Trời, Ngài nói về toàn bộ tâm ý và những yêu cầu của Ngài cho con người, và cho thấy những việc làm, tâm tính của Ngài, cũng như Ngài có gì và là gì. Mục tiêu là trang bị vóc giạc cho con người, và cho phép con người đạt được những lẽ thật khác nhau từ Đức Chúa Trời trong khi theo Ngài – những lẽ thật này là vũ khí mà Đức Chúa Trời ban cho con người để chiến đấu với Sa-tan. Bởi đã được trang bị, con người phải đối diện với những bài kiểm tra của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời có nhiều phương tiện và con đường để thử luyện con người, nhưng mỗi cái trong số chúng đều đòi hỏi ‘sự hợp tác’ từ kẻ thù của Đức Chúa Trời: Sa-tan. Nói vậy nghĩa là, khi đã ban cho con người những vũ khí để chiến đấu với Sa-tan, Đức Chúa Trời trao con người cho Sa-tan và cho phép Sa-tan ‘kiểm tra’ vóc giạc của con người. Nếu con người có thể thoát khỏi doanh trại của Sa-tan, nếu họ có thể thoát khỏi vòng vây của Sa-tan và vẫn sống sót, thì con người sẽ vượt qua được bài kiểm tra. Nhưng nếu con người không thể thoát khỏi doanh trại của Sa-tan, đã hàng phục Sa-tan rồi, thì họ sẽ không vượt qua bài kiểm nghiệm. Cho dù Đức Chúa Trời kiểm nghiệm phương diện nào của con người, thì tiêu chí kiểm nghiệm của Ngài là liệu con người có đứng vững trong lời chứng của mình khi bị tấn công bởi Sa-tan hay không, và liệu họ có từ bỏ Đức Chúa Trời, đầu hàng và quy phục Sa-tan, trong khi bị Sa-tan gài bẫy hay không. Có thể nói rằng con người có thể được cứu rỗi hay không là tùy thuộc vào việc họ có thể vượt qua và đánh bại Sa-tan hay không, và họ có thể đạt được sự tự do hay không là tùy thuộc vào việc họ có thể tự mình giương cao những vũ khí mà Đức Chúa Trời đã ban cho họ để vượt ra khỏi sự trói buộc của Sa-tan, khiến Sa-tan hoàn toàn hết hy vọng và từ bỏ hay không. Nếu Sa-tan hết hy vọng và từ bỏ ai đó, điều này có nghĩa là Sa-tan sẽ không bao giờ cố tranh giành người này với Đức Chúa Trời nữa, sẽ không bao giờ cáo buộc và quấy nhiễu người này nữa, sẽ không bao giờ hành hạ hay tấn công họ bừa bãi nữa; chỉ người như thế này mới thật sự được Đức Chúa Trời thu phục. Đây là toàn bộ quá trình Đức Chúa Trời thu phục con người(Công tác của Đức Chúa Trời, tâm tính của Đức Chúa Trời, và chính Đức Chúa Trời II, Lời, Quyển 2 – Về việc biết Đức Chúa Trời). “Những ai thật lòng đi theo Đức Chúa Trời thì có thể chịu đựng được sự kiểm nghiệm công trình của họ, trong khi những ai không thật lòng đi theo Đức Chúa Trời thì không chịu nổi bất kỳ thử luyện nào của Đức Chúa Trời. Sớm muộn gì họ sẽ bị trục xuất, trong khi những người đắc thắng sẽ ở lại trong vương quốc. Việc người ta có thật lòng tìm kiếm Đức Chúa Trời hay không được quyết định bởi sự kiểm nghiệm công trình của họ, nghĩa là, qua sự thử luyện của Đức Chúa Trời, chứ không liên quan gì đến quyết định của chính con người. Đức Chúa Trời không tùy tiện vứt bỏ ai; tất cả những gì Ngài làm đều khiến người ta tâm phục khẩu phục. Ngài không làm điều gì mà con người không thể thấy được, hoặc bất kỳ công tác nào mà không thể thuyết phục con người. Việc đức tin của người ta là thật hay giả được kiểm chứng bởi sự thật, chứ không thể do con người quyết định. ‘Lúa mì không thể trở thành cỏ lùng, và cỏ lùng không thể trở thành lúa mì’ là điều không có gì để nghi ngờ nữa. Hễ là người thật lòng yêu kính Đức Chúa Trời thì cuối cùng đều có thể ở lại trong vương quốc, và Đức Chúa Trời sẽ không bạc đãi bất kỳ ai thật lòng yêu kính Ngài(Công tác của Đức Chúa Trời và sự thực hành của con người, Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). Từ lời Đức Chúa Trời, tôi hiểu rằng Ngài cho phép sự bách hại và hoạn nạn xảy đến với con người để hoàn thiện họ và khiến họ trung thành và thuận phục Ngài. Đồng thời, Ngài tỏ lộ và đào thải những kẻ không thật lòng với Ngài. Trong thời kỳ sau rốt, Đức Chúa Trời bày tỏ lẽ thật để cung ứng cho chúng ta và cho chúng ta biết mọi yêu cầu của Ngài. Sau đó, Ngài sắp đặt một số hoàn cảnh thực tế để thử luyện và kiểm tra chúng ta, để xem chúng ta có thật lòng và thuận phục Ngài hay không. Nếu chúng ta có thể lấy lẽ thật làm vũ khí để chiến đấu với Sa-tan, đứng vững làm chứng cho Đức Chúa Trời trong những sự thử luyện, và khiến Sa-tan phải hổ thẹn hoàn toàn, thì chúng ta sẽ trở thành những người đã được Đức Chúa Trời thu phục. Lấy ví dụ như việc bị Trung Cộng bắt bớ và bách hại. Những tín đồ thật lòng, dù đau đớn và yếu đuối, cũng không phủ nhận hay phản bội Đức Chúa Trời. Thay vào đó, qua sự bách hại của Sa-tan, họ nhìn rõ bộ mặt xấu xa của ma quỷ. Trong những lúc yếu đuối và đau khổ, sự khai sáng và dẫn dắt của lời Đức Chúa Trời ban cho họ đức tin lớn hơn, và họ sẵn lòng liều mạng để đứng vững làm chứng. Qua loại hoàn cảnh này, Đức Chúa Trời thu phục được tấm lòng chân thật của con người và đem lẽ thật vào bên trong họ. Giống như nhân vật chính trong bộ phim Lửa của Thợ Luyện. Để ép cô phản bội Đức Chúa Trời, cảnh sát đã lột sạch quần áo và kích điện cả người cô. Cô ấy đã chịu đựng sự tra tấn tột cùng, nhưng lời Đức Chúa Trời đã ban cho cô ấy đức tin. Cô ấy thà chết chứ không phản bội hay phủ nhận Đức Chúa Trời. Cô ấy đã mang một lời chứng vang dội cho Ngài và cuối cùng đã khiến Sa-tan phải hổ thẹn. Tôi thấy rằng những tín đồ thật lòng, bất kể họ trải qua hoàn cảnh nào hay chịu đựng bao nhiêu khổ đau, tra tấn, đều có thể giữ vững lòng trung thành với Đức Chúa Trời. Đối với họ, hoạn nạn và khổ đau là một cách để được hoàn thiện, và cũng là một phước lành đặc biệt từ Đức Chúa Trời. Nhưng những kẻ không thật lòng với Đức Chúa Trời thì lại phủ nhận và phản bội Ngài vì muốn bảo toàn bản thân khi đối mặt với sự tra tấn và đau đớn về xác thịt, hay sự đe dọa của cái chết. Những người như vậy là cỏ lùng bị tỏ lộ, chính là những kẻ mà Đức Chúa Trời sẽ đào thải. Đức Chúa Trời dùng con rồng lớn sắc đỏ làm người phục vụ để vừa tỏ lộ vừa hoàn thiện con người. Đức Chúa Trời thật quá khôn ngoan! Tôi nhớ lại mẹ tôi đã hạ quyết tâm sau lần bị bắt trước: Dù có bị bắt lần nữa, mẹ cũng sẽ giữ vững đức tin và kiên trì đi theo Đức Chúa Trời, không bao giờ phản bội Ngài. Lần bị bắt này là bài kiểm tra của Đức Chúa Trời dành cho mẹ. Nếu mẹ phản bội Đức Chúa Trời để bảo vệ xác thịt của mình, mẹ sẽ bị tỏ lộ. Nhưng nếu mẹ có thể cầu nguyện và cậy dựa vào Đức Chúa Trời, và đứng vững làm chứng cho Đức Chúa Trời bất kể Sa-tan bách hại mẹ thế nào, thì hoàn cảnh này sẽ hoàn thiện mẹ, làm tăng thêm đức tin và tình yêu của mẹ. Đó cũng là một cơ hội mà Đức Chúa Trời đã ban cho mẹ để làm chứng – một phước lành đặc biệt từ Ngài. Hiểu được điều này, tôi đã vơi đi phần nào nỗi lo cho mẹ trong lòng.

Khi tôi tiếp tục tìm kiếm, tôi nhận ra mình còn có một quan điểm sai lầm khác. Tôi đã nghĩ rằng nếu một người bị bách hại đến chết trong tù, họ không thể được cứu rỗi. Mãi cho đến khi tôi đọc một đoạn lời của Đức Chúa Trời, quan điểm của tôi mới được xoay chuyển. Đức Chúa Trời phán: “Chúng ta không nhắc đến kết cục cuối cùng của những người tử vì đạo đó, hay việc Đức Chúa Trời quy định hành vi của họ như thế nào, mà hãy nói xem khi họ đi đến cuối cùng, thì cách họ kết thúc sự sống có hợp với quan niệm của con người không? (Thưa, không.) Từ góc độ quan niệm của con người, nếu họ trả cái giá đắt như thế để rao truyền công tác của Đức Chúa Trời, thế mà họ lại bị Sa-tan giết chết. Điều này không phù hợp với các quan niệm của con người, nhưng chính xác là chuyện xảy ra với họ – Đây là chuyện Đức Chúa Trời cho phép xảy ra. Lẽ thật nào có thể tìm thấy trong chuyện này? Có phải việc Đức Chúa Trời cho phép họ chết theo cách này chính là sự nguyền rủa và lên án của Ngài, hay đó là kế hoạch và phúc lành của Ngài không? Cả hai đều không phải. Đó là gì? Mọi người giờ đây thật đau lòng khi suy ngẫm về cái chết của họ, nhưng mọi việc đã diễn ra như thế: Những người tin vào Đức Chúa Trời đã chết theo cách đó, có thể giải thích điều này như thế nào? Khi chúng ta nhắc đến chủ đề này, các ngươi hãy đặt mình vào vị trí của họ; lòng của các ngươi khi đó có buồn không, và các ngươi có cảm nhận một nỗi đau âm ỉ không? Các ngươi nghĩ rằng: ‘Những người này đã thực hiện bổn phận rao truyền phúc âm của Đức Chúa Trời và nên được coi là người tốt, vậy tại sao họ có thể đi đến một hồi kết như thế, một kết cục như thế?’. Thật ra, đây là cách thể xác của họ đã chết và qua đời; đây là cách thức họ rời khỏi thế giới loài người, nhưng điều đó không có nghĩa kết cục của họ là như vậy. Bất kể những cách thức họ chết và ra đi như thế nào đi nữa, hay nó đã xảy ra làm sao, thì cũng không phải là cách Đức Chúa Trời quy định kết cục cuối cùng cho những sinh mệnh, cho những loài thọ tạo đó. Đây là một điều ngươi phải thấy rõ. Trái lại, họ đã sử dụng một cách chính xác những cách thức đó để lên án thế gian này và làm chứng cho những việc làm của Đức Chúa Trời. Những loài thọ tạo này đã sử dụng mạng sống quý giá nhất của họ – họ đã sử dụng khoảnh khắc cuối cùng của sự sống để làm chứng cho những việc làm của Đức Chúa Trời, để làm chứng cho quyền năng vĩ đại của Đức Chúa Trời và tuyên bố cho Sa-tan và thế gian rằng những việc làm của Đức Chúa Trời là đúng, rằng Đức Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời, rằng Ngài là Chúa và là xác thịt nhập thể của Đức Chúa Trời. Thậm chí đến giây phút cuối cùng của sự sống họ, họ không bao giờ chối bỏ danh của Đức Chúa Jêsus. Đây chẳng phải là một hình thức tuyên án thế gian này hay sao? Họ đã dùng mạng sống của mình để tuyên bố với thế gian, để xác nhận với loài người rằng Đức Chúa Jêsus là Chúa, rằng Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ, rằng Ngài là xác thịt nhập thể của Đức Chúa Trời, rằng công tác cứu chuộc toàn nhân loại mà Ngài làm khiến cho nhân loại này được tiếp tục sống sót – sự thật này đời đời không bao giờ thay đổi. Những người đã tử vì đạo vì rao truyền phúc âm của Đức Chúa Jêsus, họ đã thực hiện bổn phận của mình đến mức độ nào? Đã đến mức tối đa chưa? Mức tối đa được biểu lộ như thế nào? (Họ đã dâng mạng sống của mình.) Đúng vậy, họ đã trả giá bằng mạng sống của mình. Gia đình, của cải và những thứ vật chất của cuộc đời này đều là những thứ bên ngoài; điều duy nhất liên quan đến bản thân là sự sống. Đối với mỗi người sống, thì sự sống là thứ đáng trân trọng nhất, là thứ quý giá nhất và, thật tình cờ, những người này đã có thể dâng tài sản quý giá nhất của họ – sự sống – như một sự xác nhận và lời chứng cho tình yêu của Đức Chúa Trời đối với nhân loại. Cho đến ngày họ chết, họ không chối bỏ danh của Đức Chúa Trời, họ cũng không chối bỏ công tác của Đức Chúa Trời, và họ đã sử dụng khoảnh khắc cuối cùng của cuộc đời mình để làm chứng cho sự hiện hữu của sự thật này – chẳng phải đây là dạng chứng ngôn cao cả nhất sao? Đây là cách thực hiện bổn phận tốt nhất; đây là ý nghĩa của việc làm tròn trách nhiệm của một người(Rao truyền phúc âm là bổn phận không thể thoái thác của tất cả những người tin Đức Chúa Trời, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt). Sau khi đọc lời Đức Chúa Trời, lòng tôi sáng tỏ hẳn. Trước đây tôi cứ nghĩ rằng bị cảnh sát bách hại đến chết có nghĩa là không thể được Đức Chúa Trời cứu rỗi, nhưng Đức Chúa Trời hoàn toàn không nhìn nhận như vậy. Đức Chúa Jêsus phán: “Ai muốn cứu sự sống mình thì sẽ mất, còn ai vì cớ ta mà mất sự sống mình thì sẽ được lại(Ma-thi-ơ 16:25). Tôi nghĩ đến những kẻ đã trở thành Giu-đa. Sau khi bị bắt, vì sợ hãi sự tra tấn của cảnh sát, họ đã bán đứng các lãnh đạo và người làm công, hoặc các anh chị em của mình và cũng ký vào Tam thư. Tuy họ không phải chịu khổ về xác thịt và được thả ra – họ vẫn còn sống đến ngày nay – nhưng họ đã mất đi cơ hội được cứu rỗi mãi mãi và sẽ phải đối mặt với sự trừng phạt vĩnh viễn trong tương lai. Nhưng những người đã tử vì đạo do bị con rồng lớn sắc đỏ bách hại đến chết – dù xác thịt họ bị tra tấn đến chết, họ đã đứng vững làm chứng bằng chính sự sống của mình. Đó là điều ý nghĩa và quý giá nhất, và được Đức Chúa Trời ghi nhớ. Điều đó cũng giống như các môn đồ trong Thời đại Ân điển đã tử vì đạo vì loan truyền danh của Đức Chúa Jêsus. Họ đã trung thành với Đức Chúa Trời. Sau khi họ chết, linh hồn họ trở về với Đức Chúa Trời, và Ngài đã có những sự sắp đặt phù hợp cho họ. Hơn nữa, cái chết của họ là bằng chứng cho việc Sa-tan làm điều ác khi tàn bạo với dân được Đức Chúa Trời chọn, và đó là một lời chứng thắng lợi về việc Đức Chúa Trời nhận được vinh hiển và đánh bại Sa-tan. Số phận của mẹ tôi ở trong tay Đức Chúa Trời. Mọi điều mẹ sẽ trải qua đều nằm dưới sự tể trị và sắp đặt của Ngài. Ngay cả khi mẹ bị bách hại đến chết, đó cũng là vì chính nghĩa, và đó sẽ là một điều vinh hiển. Tôi chỉ là một loài thọ tạo nhỏ bé; tôi không có tư cách bảo Đức Chúa Trời phải làm gì. Tôi phải thuận phục sự tể trị và sắp đặt của Ngài. Nhận ra điều này, nỗi giày vò trong lòng tôi bắt đầu lắng xuống.

Tháng Một vừa qua, ông ngoại tôi viết thư nói rằng mẹ tôi đã gửi thư từ trong tù về. Mẹ nói lao động rất cực nhọc và thị lực của mẹ đã kém đi nhiều. Nghe tin này khiến tôi vừa tức giận vừa đau lòng. Tôi nghĩ: “Mẹ vốn đã có vấn đề về mắt rồi. Ngày nào cũng lao động nặng nhọc như vậy – lỡ như mẹ bị mù thì sao? Bản án của mẹ còn dài lắm. Những ngày tháng sắp tới sẽ khó khăn với mẹ biết bao!”. Sau đó, tôi nhớ đến lời Đức Chúa Trời: “Con đường Đức Chúa Trời dẫn dắt chúng ta không phải là đường thẳng tắp, mà là một con đường quanh co đầy những ổ gà; hơn nữa, Đức Chúa Trời phán rằng con đường càng gồ ghề, nó càng tỏ lộ lòng yêu thương của chúng ta. Tuy nhiên không ai trong chúng ta có thể mở ra một con đường như thế. Theo kinh nghiệm của Ta, Ta đã đi qua nhiều con đường gập ghềnh, nguy hiểm và Ta đã chịu đựng rất nhiều đau khổ; đôi khi Ta thậm chí còn vô cùng đau buồn đến mức Ta muốn khóc vang lên, vậy mà Ta đã đi con đường này cho tới ngày nay. Ta tin rằng đây là con đường do Đức Chúa Trời dẫn dắt, vì thế Ta chịu đựng mọi sự đau khổ dằn vặt và tiếp tục tiến bước. Vì đây là điều Đức Chúa Trời đã định, vậy thì ai có thể trốn thoát? Ta không cầu xin để nhận được bất kỳ phước lành nào; tất cả những gì Ta cầu xin là Ta có thể đi con đường mà Ta phải đi theo tâm ý của Đức Chúa Trời. Ta không cố gắng bắt chước người khác, đi con đường mà họ đi; tất cả những gì Ta tìm kiếm là Ta có thể hoàn thành sự tận hiến của mình để đi trên con đường đã định cho đến cùng. Ta không cầu xin được người khác giúp đỡ; thành thật mà nói, Ta cũng không thể giúp đỡ người khác. Dường như Ta quá nhạy cảm về vấn đề này. Ta không biết người khác nghĩ gì. Đó là vì Ta luôn luôn tin rằng một người phải chịu khổ bao nhiêu và họ phải đi một con đường dài bao nhiêu đều được định trước bởi Đức Chúa Trời, và không ai có thể thực sự giúp đỡ ai khác(Con đường… (6), Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). Suy ngẫm lời Đức Chúa Trời, tôi hiểu rằng con đường đức tin không phải là một con đường bằng phẳng; tất cả chúng ta đều phải chịu đựng rất nhiều khổ đau. Những gian khó mà mỗi người sẽ trải qua đều do Đức Chúa Trời tiền định. Cảnh sát đối xử với mẹ tôi thế nào, mẹ phải chịu bao nhiêu khổ cực trong tù, liệu mẹ có bị mù hay không – tất cả những điều này đều ở trong tay Đức Chúa Trời. Tất cả những gì tôi có thể làm bây giờ là cầu nguyện nhiều hơn, phó thác mẹ trong tay Đức Chúa Trời, và cầu xin Ngài ban cho mẹ đức tin để trải nghiệm hoàn cảnh này. Bây giờ, khi nghĩ về mẹ, dù tôi vẫn cảm thấy hơi lo lắng và quan tâm, nhưng điều đó không còn ảnh hưởng đến tình trạng của tôi nữa. Tôi có thể tĩnh tâm và chuyên tâm vào bổn phận của mình, vì tôi hiểu rằng mọi việc Đức Chúa Trời làm đều là tốt lành và chứa đựng ý tốt của Ngài.

Hồi chuông thời sau hết báo động đã vang lên, đại thảm họa đã ập xuống, bạn có muốn cùng gia đình nghênh đón được Thiên Chúa, và có cơ hội nhận được sự che chở của Thiên Chúa không?

Nội dung liên quan

Thu hoạch từ việc viết lời chứng

Bởi Thành Tâm, Hàn Quốc Gần đây, tôi để ý thấy nhiều anh chị em đang viết lời chứng về trải nghiệm của mình và tôi cũng muốn viết một bài....

Không còn phô trương nữa

Bởi Mộ Văn, Tây Ban Nha Tôi nhớ vào năm 2018, mình đang thực hiện bổn phận rao giảng phúc âm trong hội thánh, sau đó tôi phụ trách công...

Leave a Reply

Liên hệ với chúng tôi qua Messenger