Trở thành người Pha-ri-si thời hiện đại

29/05/2022

Bởi Lý Trí, Trung Quốc

Tôi bắt đầu đi theo Đức Chúa Jêsus từ năm 1989. Thông qua việc đi lễ và đọc Kinh Thánh, tôi biết rằng trời đất và muôn vật đều do Đức Chúa Trời tạo dựng, rằng Đức Chúa Jêsus đã đích thân trở nên xác thịt và chết trên thập tự giá để cứu nhân loại khỏi tay của Sa-tan, mang lại cho chúng ta ân điển, hòa bình và niềm vui lớn lao. Tôi thấy rất biết ơn Chúa. Sau đó, tôi bắt đầu chia sẻ Phúc Âm trong khi đi làm, và việc đi nhà thờ, đọc Kinh thánh thực sự thành cuộc sống của tôi. Trong vài năm, Phúc Âm lan truyền rất nhanh, và chẳng mấy chốc chúng tôi lập được nhiều hội thánh mới. Tôi được bầu vào vị trí lãnh đạo, phụ trách công tác của hai tỉnh. Cuối cùng tôi đã nghỉ việc và dồn toàn lực vào công tác hội thánh. Mỗi ngày đều thấy rất mãn nguyện.

Rồi từ năm 1997 trở đi, đủ loại vấn đề bắt đầu xảy ra mà tôi không thể giải quyết được. Việc truyền giảng không diễn ra thuận lợi, cầu nguyện không chữa được bệnh tật, và chúng tôi không thể đuổi quỷ. Rõ ràng nhất là các bài giảng của tôi tẻ nhạt và thiếu sự thông sáng. Tôi nhớ các đồng sự thường hỏi tôi họ nên giảng gì, và tôi đáp: “Nếu thấy khó quá thì cứ đọc Kinh Thánh”. Tôi biết đó không phải là giải pháp, các anh chị em có thể tự đọc Kinh Thánh nên không cần chúng tôi đọc. Các thành viên hội thánh không được nuôi dưỡng thuộc linh và thấy yếu đuối. Chúng tôi không chỉ không có thêm thành viên mới mà cả những thành viên hiện có cũng rời khỏi hội thánh. Một số hoàn toàn từ bỏ đức tin còn một số đồng sự thậm chí còn quay trở lại thế giới. Tôi và các đồng sự không ngừng ăn chay và cầu nguyện, kêu cầu Chúa, chúng tôi cũng liên hệ với với các giáo sĩ ở tỉnh Hà Nam. Nhưng dù có làm gì thì cũng không xoay chuyển được tình trạng hoang tàn của hội thánh. Tôi lo lắng bồn chồn, ăn không ngon ngủ không yên. Tôi tự hỏi, nếu mọi chuyện cứ thế này, tất cả những hội thánh mà chúng tôi đã dày công xây dựng sẽ tan rã thế này sao? Rồi khi Chúa tái lâm, tôi sẽ khai trình gì với Ngài? Chẳng phải thế khiến tôi thành tội nhân sao? Không thể được, tôi thấy mình phải ra ngoài xem các hội thánh khác.

Đầu tiên tôi đến thăm trưởng lão Ngô, trưởng lão có uy tín nhất trong vùng của chúng tôi, nhưng ông ấy cũng chỉ giảng những điều cũ kỹ. Rồi tôi đến Bắc Kinh gặp trưởng lão Nguyên theo lời giới thiệu của trưởng lão Ngô. Ông ấy cũng là một trưởng lão rất được kính trọng. Tôi nghĩ ông ấy chắc chắn có thể chia sẻ điều thông sáng để giúp hồi sinh hội thánh, nhưng qua ba ngày thông công, ông ấy chỉ nói về cuộc sống của mình, ông ta hi sinh cho Chúa như thế nào, Đảng Cộng sản đàn áp ông ta ra sao. Không hề có gì thông sáng cả. Chuyến đi đến Bắc Kinh thật uổng công. Sau đó, một chị giới thiệu tôi gặp một vài nhà truyền giáo đến từ Hàn Quốc. Tôi nghĩ vì Phúc Âm đến Trung Quốc muộn, nên có thể họ sẽ có những điều hay hơn để chia sẻ, vậy là có hi vọng cho hội thánh của chúng tôi. Cũng vẫn là những điều cũ kỹ mà thôi, chẳng gì có gì thông sáng cả. Khi đó, tôi hoàn toàn chán nản. Tôi kêu cầu với Chúa: “Lạy Chúa, con phải làm sao? Con đã làm mọi điều mình biết, tìm hỏi những ai có thể. Con thật sự vô phương kế, không biết phải đi đâu giờ”.

Khoảng cuối năm 1998. Khi một lãnh đạo cấp trên từ Hà Nam đến làm lễ chỗ chúng tôi, anh ấy có nhắc đến một hội thánh có tên là Tia chớp phương Đông nói rằng Chúa đã tái lâm. Tôi vừa kinh ngạc vừa vui mừng khi nghe điều đó. Tôi đã mong Chúa tái lâm bao năm nay, cuối cùng ngày này đã đến! Nhưng ngay khi tôi đang phấn khởi, tôi nghe thấy anh ấy nói: “Tia chớp phương Đông nói rằng Chúa đã tái lâm, Ngài đang làm công tác mới và phán lời mới. Họ thậm chí còn không đọc Kinh Thánh nữa, nói Chúa đã tái lâm là người nữ”. Anh vừa dứt lời là tiếng bàn tán xôn xao của mọi người rộ lên. Một số người nói: “Sao? Chúa đã tái lâm ư? Sao chúng ta lại có thể không biết chứ? Sao Ngài lại trở lại là người nữ chứ? Đức Chúa Jêsus là người nam, nên khi tái lâm Ngài phải là nam!”. Một số thì nói: “Trong Kinh Thánh không nói việc Chúa phán lời mới, làm công tác mới khi tái lâm. Những gì Tia chớp phương Đông nói hoàn toàn không thể xảy ra”. Tôi nghĩ tuyên bố rằng Chúa đã tái lâm và đang làm công tác mới, và đã nhập thể là người nữ, không phải là điều có trong Kinh Thánh. Thế nên, không có cơ sở trong Kinh thánh thì không thể là công tác của Đức Chúa Trời được. Là tín hữu, chúng ta phải tuân theo Kinh Thánh, ai mà lạc lối thì không phải là Cơ đốc nhân. Hơn nữa, lời cầu nguyện của Chúa có câu: “Lạy Cha chúng tôi ở trên trời” (Ma-thi-ơ 6:9). Chẳng phải “Cha” là ám chỉ người nam sao? Sao Đức Chúa Trời có thể nhập thể là người nữ chứ? Tôi đang ngẫm nghĩ chuyện này thì nghe tiếng lãnh đạo cấp trên: “Tuyệt đối không được tin vào Tia chớp phương Đông! Điều họ nói không phù hợp với Kinh Thánh. Chúng ta phải luôn cảnh giác để không bị lạc lối. Kể từ giờ, mọi người phải cảnh giác, và thực hiện ‘Ba Không’: Không nghe, không đọc, không tiếp đãi. Mọi người tuyệt đối không được để họ cướp chiên của chúng ta”. Sau buổi họp, tôi đã trao đổi với anh lãnh đạo đó một lúc. Anh ấy bảo rất nhiều tín hữu và đồng sự lâu năm, những người mưu cầu giỏi đã chấp nhận Tia chớp phương Đông. Tôi hơi bối rối nên đã hỏi anh ấy tại sao những người hiểu rõ Kinh thánh và nhiệt thành trong đức tin lại đi sang Tia chớp phương Đông. Họ đang giảng gì chứ? Anh ấy không thể trả lời rõ ràng. Anh ấy bảo nó không phù hợp với Kinh Thánh, tin Chúa là tin vào Kinh Thánh, và chúng ta không thể tin vào điều không có cơ sở Kinh thánh. Anh ấy cũng rất nhấn mạnh: “Chị là lãnh đạo hội thánh, nên đời sống các anh chị em nằm trong tay chị. Giờ chị tuyệt đối không thể hoang mang mà phải tuân theo Kinh Thánh. Chúa đã giao phó chiên của Ngài cho chị và chị phải bảo vệ họ. Chị không thể biện minh với Chúa nếu để họ cướp một con chiên nào”.

Sau khi anh ấy đi rồi, tôi chia sẻ mọi điều anh ấy đã nói với các anh chị em khác, dặn họ không được tiếp người lạ hoặc đưa người thân vào hội thánh khi chưa được phép. Có trường hợp đặc biệt nào cũng phải được sự đồng ý của tôi trước. Tuyệt đối không có ngoại lệ, ai không làm theo sẽ bị khai trừ. Tôi cũng bảo họ đấy là tốt cho họ, vì họ còn non nớt trong đời sống, thiếu sáng suốt nên dễ bị lừa. Sau đó, để dọa mọi người không sang Tia chớp phương Đông, tôi đã bịa ra một số tin đồn như người lãnh đạo đó bảo. Tôi không từ việc gì nỗ lực ngăn các anh chị em không nghiên cứu công tác thời kỳ sau rốt của Đức Chúa Trời. Nhưng dẫu vậy, thật bất ngờ khi vẫn có nhiều người chuyển sang Tia chớp phương Đông. Tôi càng trở nên cảnh giác hơn, và nếu bất kỳ người lạ nào nói về vấn đề đức tin, tôi sẽ nghi ngờ họ ở phía Tia chớp phương Đông. Khi đó tôi rất nhạy cảm, lo lắng rằng ai cũng có thể là người giảng đạo của Tia chớp phương Đông.

Tôi nhớ một lần, một đồng sự tình cờ gặp một người giảng đạo Tia chớp phương Đông trong một buổi họp mặt. Chị ấy đã lắng nghe cô ấy cả ngày và thực sự thích nghe, rồi sực nhớ đến những gì tôi nói về việc đuổi bất cứ ai đã tiếp xúc với Tia chớp phương Đông. Chị ấy sợ quá không nghe tiếp nên vội quay lại báo với tôi. Chị ấy bảo đã nghe cả ngày và rất thích, nhưng không dám tiếp nhận, sợ tôi đuổi chị ấy. Nghe thấy thế, tôi giận dữ nhìn chằm chằm chị ấy, nói thẳng là “Tôi đã bảo chị bao lần là không tiếp xúc với họ, sao chị có thể làm thế chứ? Chúng ta biết Đức Chúa Jêsus là người nam, còn họ nói Chúa tái lâm là người nữ. Rõ ràng là không thể đúng được! Và chị đã nghe bao năm nay – chị không sợ tôi khai trừ chị sao?”. Chị ấy vội thanh minh nhưng tôi không nghe. Tôi bảo chị ấy không được tham dự những cuộc họp đó nữa, mà tôi sẽ tự đến đó. Sau đó, cuối cùng tôi đã gặp những người của Tia chớp phương Đông ở nơi nhóm họp đó. Họ chia sẻ chứng ngôn về công tác thời kỳ sau rốt của Đức Chúa Trời. Tôi nghĩ chúng ta có thể tranh luận về điều đó, nhưng rồi tôi nhớ giáo sĩ ở Hồ Nam có nói ai đến từ Tia chớp phương Đông cũng không là người tốt, nên tôi đứng lên bỏ về. Người chị tiếp đãi ở đó bảo tôi ở lại nghe họ nói đã, nhưng tôi rất khó chịu nên cũng đã lớn tiếng với chị ấy. Tôi quay về và bảo với các đồng sự khác rằng một số người ở điểm họp đó chắc chắn đã tiếp nhận Tia chớp phương Đông, chúng tôi phải đuổi bọn họ. Và tôi cũng bảo các đồng sự rằng nếu không đuổi họ mà để họ cải đạo các anh chị em khác, khi đó tội lỗi của chúng tôi sẽ càng lớn hơn, và sẽ không bao giờ có thể biện minh với Chúa.

Rồi một ngày cuối tháng 3 năm 1999, một người bạn của tôi, một giáo hữu, có ghé qua nhà tôi và nói hội thánh của họ đang rất tốt. Tôi không biết phải nghĩ sao. Hội thánh chúng tôi thì quá kém, hầu như chẳng ai đến nữa, còn họ thì lại đang hoạt động tốt. Hay họ cũng ở phía Tia chớp phương Đông? Muốn làm rõ chuyện này nên tôi gọi cho chị Hình, lãnh đạo hội thánh của họ. Chị Hình bảo họ không còn đọc Kinh Thánh nữa, chỉ đọc cuộn sách được nhắc trong Sách Khải Huyền. Lòng tôi chùng xuống khi nghe chị ấy nói vậy. Tôi nhận ra chị ấy cũng đã tin Tia chớp phương Đông. Chị ấy là người tốt, thông thuộc Kinh Thánh, và có uy tín với các tín hữu. Nếu chị ấy qua Tia chớp phương Đông, những người khác chắc chắn cũng sẽ đi theo chị ấy. Tôi không thể chỉ nhìn những người khác tin theo chị ấy. Ngay hôm sau, tôi lên tàu rời thị trấn. Khi tới đó tôi nhận thấy có hơn 20 anh chị em đã tiếp nhận Tia chớp phương Đông cùng với chị ấy. Tôi cố nài nỉ chị ấy quay lại nhưng dù tôi có nói gì, chị ấy vẫn quyết tâm tin tưởng. Khi về lại thị trấn, tôi thông báo cho mọi hội thánh rằng chị Hình và những người khác đã chấp nhận Tia chớp phương Đông. Nhưng một số anh chị em, khi thấy một người tìm kiếm hăng hái cùng quan điểm mạnh mẽ như vậy đã gia nhập, thì không né tránh Tia chớp phương Đông mà bắt đầu nghĩ có thể đó là con đường thật. Một số người thậm chí âm thầm tiếp đãi thành viên của Tia chớp phương Đông. Tôi cũng nghe nói một hội thánh ở Sơn Đông, nơi hơn 100 thành viên cũng đã tham gia, gồm cả một vài đồng sự mà tôi biết là những người khá sùng đạo.

Tôi thấy nó phát triển mạnh và ngày càng phát triển lớn mạnh, tôi không thể hiểu được tại sao rất nhiều người đã chấp nhận, gồm cả nhiều đồng sự hiểu rõ Kinh Thánh và những người tìm kiếm tận tụy. Vì tôi không cho mọi người tìm hiểu, nên một số anh chị em và các đồng sự khác hỏi tại sao ngày càng nhiều người tham gia, và không cách gì kéo họ quay lại. Tôi hoàn toàn bối rối trước những câu hỏi của họ. Vậy, toàn bộ những điều Tia chớp phương Đông rao truyền là gì, sao lại hấp dẫn đến thế? Liệu việc Chúa tái lâm có thật không? Nhưng rồi tôi lại nghĩ Chúa không thể tái lâm là người nữ được, và nếu tin Chúa mà không đọc Kinh Thánh thì không đúng được! Hội thánh của bọn họ nở rộ như thế có lẽ chỉ nhất thời thôi – không được lâu đâu. Thế là tôi không muốn tìm hiểu hay để các thành viên hội thánh khác tiếp nhận. Sau đó tôi bắt đầu theo dõi hội thánh kỹ hơn, quyết tâm giữ anh chị em tránh xa Tia chớp phương Đông.

Nhưng đột ngột tháng 7 năm đó, tôi bắt đầu bị sưng tấy khắp người. Lúc bị nặng, nếu tôi ngồi xổm xuống thậm chí tôi không đứng lên lại được. Các thành viên trong hội thánh đã ăn chay và cầu nguyện cho tôi, nhưng không khá hơn gì. Bác sĩ bảo tôi có một khối u to bằng quả trứng trên tử cung. Tôi đã rất sốc khi nghe vậy và chỉ biết quay về nhà nước mắt lưng tròng. Tôi bắt đầu tự kiểm điểm mình. Tôi tự hỏi liệu bị bệnh nặng như vậy có phải là Đức Chúa Trời đang trừng phạt tôi không. Tôi cũng nghĩ đến câu này: “Chớ quên sự tiếp khách; có khi kẻ làm điều đó, đã tiếp đãi thiên sứ mà không biết” (Hê-bơ-rơ 13:2). Nhưng từ đầu tới giờ, tôi cứ phong tỏa hội thánh, từ chối nhận người của Tia chớp phương Đông và dù họ có nói gì về sự tái lâm của Chúa, tôi đều không nghe hay liên hệ với họ hay để các thành viên hội thánh tìm hiểu điều họ nói. Khi cư xử như vậy rõ ràng là tôi đang làm trái với Kinh Thánh. Tôi thực sự không biết Tia chớp phương Đông rao giảng gì, mà chỉ biết đề phòng bất cứ ai từ phía đó. Có lẽ tôi đã thực sự hấp tấp về chuyện này. Tôi không khỏe đến nỗi không có sức lực, ý chí để tiếp tục chống lại Tia chớp phương Đông. Trong một thời gian, tôi cảm thấy cô đơn và bơ vơ, ngày càng xa Đức Chúa Trời. Tôi đã khóc và cầu nguyện với Chúa: “Lạy Chúa, giờ con thấy quá yếu đuối. Ngài thực sự bỏ rơi con sao? Lạy Chúa, làm sao con có thể trở lại như xưa, có Ngài ở bên? Chúa ơi, Ngài đang ở đâu? Xin hãy hiện ra với con và cứu rỗi con!”.

Hàng ngày tôi sống trong sự đau khổ tột cùng, nhưng vẫn có thể thấy các thành viên của Tia chớp phương Đông tràn đầy niềm tin và thực sự lạc quan về mặt thuộc linh. Tôi nhớ tới mẹ của một đồng sự bà quá chán nản và yếu đuối, không muốn giữ đức tin, nhưng sau khi chấp nhận Tia chớp phương Đông, bà ấy như từ cõi chết trở về – trông bà tràn đầy năng lượng. Hàng ngày bà dậy lúc 5 giờ, ra ngoài rao giảng Phúc Âm lúc 7 giờ và mãi tối mới về nhà. Đức tin của bà rất mãnh liệt. Bà cứ như một người khác vậy. Còn nhìn vào thành viên hội thánh của chúng tôi, một số người đau ốm, một số thì rệu rã. Không khí chết chóc và buồn tẻ, không có chút sinh khí.

Tôi không thể hiểu nổi. Giới giáo sĩ nói rằng Tia chớp phương Đông không tốt, nó đến từ một người thường, không phải từ Đức Chúa Trời, nó sẽ không tồn tại lâu. Nhưng trong thực tế, nó chỉ ngày càng phát triển hơn. Điều này khiến tôi nghĩ tới câu trong Kinh Thánh: “Vì nếu mưu luận và công cuộc nầy ra bởi người ta, thì sẽ tự hư đi; nhưng nếu bởi Ðức Chúa Trời ra, thì các ngươi phá diệt những người đó chẳng nổi, và lại là liều mình đánh giặc cùng Ðức Chúa Trời” (Công Vụ Các Sứ đồ 5:38-39). Nếu họ không có công tác của Đức Thánh Linh, sao họ có thể gây dựng được nhiều đức tin và phát triển mạnh mẽ như vậy chỉ bằng nỗ lực của con người? Lẽ nào thực sự nó đến từ Đức Chúa Trời? Nếu là vậy, thì khi chống lại Tia chớp phương Đông là tôi đang chống lại Đức Chúa Trời.

Một số đồng sự thậm chí còn nhờ tôi tìm ai đó để chia sẻ bài giảng phục hồi tinh thần cho chúng tôi. Nghe thế khiến tôi cảm thấy khó chịu vô cùng. Tôi đã là một tín hữu bao năm nay và tự cho mình là một người tìm kiếm nhiệt thành. Tôi chưa bao giờ tưởng tượng cuối cùng mình sẽ dẫn người khác vào con đường cụt. Làm sao tôi có thể trả lời với Chúa về chuyện đó? Đôi khi tôi thực sự muốn nói chuyện với những người ở Tia chớp phương Đông để xem họ thực sự rao giảng điều gì và tại sao các thành viên trong hội thánh của họ lại tràn đầy năng lượng như vậy.

Một ngày tháng 8, chị Tô đưa hai người anh em đến ở nhà tôi, tôi tiếp đãi họ nồng hậu. Khi trò chuyện, anh Vương hỏi tôi sao tôi lại nghĩ mọi người tin Đức Chúa Trời. Tôi bảo là: “Để lên thiên đàng, để có sự sống đời đời”. Rồi anh ấy lại hỏi: “Nếu họ không thể lên thiên đàng, chị nghĩ họ có nên tin nữa không?”. “Thế ai còn tin chứ?”, tôi buột miệng nói. Anh ấy mỉm cười đáp: “Là tạo vật, lẽ đương nhiên là chúng ta phải tôn thờ Đấng Tạo Hóa. Chúng ta nên tin và yêu Đức Chúa Trời, và không nên tin để được lên thiên đàng”. Chỉ vài câu ngắn ngủi, anh đã khiến lòng tôi rộn lên và tôi gật đầu đồng ý lia lịa. Sau ngần ấy năm tin Chúa, tôi chưa bao giờ nghe điều gì như vậy. Không phải từ một lãnh đạo hội thánh, đồng sự từ các giáo phái khác, hay ngay cả những nhà truyền đạo ở nước ngoài. Tất cả bọn họ đều nói về việc mưu cầu để được phước và lên thiên đường, nhưng chưa ai rao giảng điều gì cao cả như thế về đức tin, hiểu biết thuần khiết như vậy. Tôi chợt thấy có một tia hy vọng. Tôi hỏi ngay về cách giải quyết tình trạng hoang tàn trong hội thánh.

Đầu tiên anh Vương nói cho tôi về lý do của sự hoang tàn của đền thờ vào cuối Thời đại Luật pháp. Anh nói trước đó trong Thời đại Luật pháp, đền tràn đầy vinh hiển của Đức Giê-hô-va, không ai dám làm bậy trong đền. Nhưng vào cuối Thời đại Luật pháp, nó trở thành nơi trao đổi tiền bạc, mua bán gia súc. Đền thờ mất đi sự vinh hiển của Đức Chúa Trời trong một thời gian dài và trở thành hang ổ của trộm cắp, một vùng đất hoang. Anh ấy nói chúng ta có thể thấy từ những lời Đức Chúa Jêsus quở trách những người Pha-ri-si rằng các thầy tế lễ cả, thầy thông giáo và người Pha-ri-si phục vụ trong đền thờ chỉ dẫn dắt mọi người thực hiện các nghi thức và tuân theo quy tắc, mà không thực hành lời Đức Chúa Trời. Họ đã lạc khỏi con đường của Đức Chúa Trời. Đó là lý do tại sao Đức Chúa Jêsus không làm việc trong đền thờ khi Ngài đến, mà thực hiện công tác mới ngoài đền thờ. Tất cả những người ra khỏi đền thờ và làm theo công tác mới của Chúa có thể đạt được sự chu cấp trong đời sống và công tác của Đức Thánh Linh. Ân điển của Chúa đi theo họ. Còn những ai bám víu vào luật pháp, không tiếp nhận công tác mới của Chúa rơi vào bóng tối và ngày càng sa đọa. Như Kinh Thánh có ghi: “Chúa Giê-hô-va phán: Nầy, những ngày sẽ đến, là khi ta khiến sự đói kém đến trong đất, chẳng phải là đói về bánh, cũng chẳng phải khát về nước, bèn là về nghe lời của Ðức Giê-hô-va” (A-mốt 8:11). Rồi anh nói tiếp thế giới tôn giáo ngày nay cũng giống như đền thờ cuối Thời đại Luật pháp, hoang vắng và tăm tối, và ngày càng bừa bãi hơn. Các tín hữu đang mất đức tin và thiếu tình yêu thương vì các giáo sĩ dẫn dắt họ không thực hành lời Chúa, thêm nữa công tác của Đức Chúa Trời đã tiến thêm một bước và công tác của Đức Thánh Linh đã chuyển hướng. Chúng ta phải tìm kiếm công tác mới của Đức Chúa Trời để tìm được một con đường! Thông công của anh Vương đã giúp tôi thấy được hội thánh quá ảm đạm không phải vì Chúa đã từ bỏ chúng ta, mà vì Ngài đang làm công tác mới mà chúng ta không theo kịp. Chúng ta chỉ cần tìm kiếm công tác mới của Ngài và theo kịp bước chân của Đức Chúa Trời, để có được sự hiện diện của Chúa và công tác của Đức Thánh Linh. Thấy tôi bắt đầu hiểu chuyện, anh ấy đọc cho tôi một vài đoạn lời Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời Toàn Năng phán: “Đức Chúa Trời sẽ hoàn thành việc này: Ngài sẽ làm cho tất cả mọi người khắp vũ trụ đến trước Ngài và thờ phượng Đức Chúa Trời trên đất, công tác của Ngài ở những nơi khác sẽ dừng lại, và con người sẽ buộc phải tìm kiếm con đường thật. Điều đó sẽ giống như Giô-sép vậy: Mọi người đến với ông để xin thức ăn, sấp mình xuống trước ông, vì ông có thức ăn. Để tránh khỏi nạn đói, con người sẽ buộc phải tìm con đường thật. Toàn bộ cộng đồng tôn giáo sẽ phải chịu nạn đói nghiêm trọng, và chỉ có Đức Chúa Trời của ngày nay mới là nguồn nước sống, sở hữu nguồn nước vô tận cung cấp cho con người tận hưởng, và con người sẽ đến và nương tựa vào Ngài” (“Vương quốc Một Nghìn năm đã đến” trong Lời xuất hiện trong xác thịt). “Không ai có niềm tin rằng họ sẽ thấy được vinh quang của Ta, và Ta không bắt họ phải thấy, mà thay vào đó Ta rút vinh quang của Ta ra khỏi loài người và mang nó đến một thế giới khác. Khi con người ăn năn một lần nữa, thì Ta sẽ lấy vinh quang của Ta và thậm chí cho nhiều người có đức tin xem hơn. Đây là nguyên tắc làm việc của Ta. Vì có lúc vinh quang của Ta rời bỏ Ca-na-an, và cũng có lúc vinh quang của Ta rời bỏ những người được chọn. Hơn nữa, có lúc vinh quang của Ta rời bỏ cả thế gian, khiến nó mờ đi và chìm vào bóng tối. Ngay cả vùng đất Ca-na-an cũng sẽ không thấy ánh thái dương; toàn thể nhân loại sẽ mất đức tin của họ, nhưng không một ai có thể chịu rời bỏ hương thơm của vùng đất Ca-na-an. Chỉ khi Ta chuyển sang trời và đất mới thì Ta mới lấy phần vinh quang kia của Ta và mặc khải nó trước tiên ở xứ Ca-na-an, tạo một tia sáng le lói chiếu rọi ra cả thế gian, nhấn chìm bóng đêm đen tối, để cả thế gian có thể bước ra ánh sáng; để con người trên toàn thế gian có thể tới lấy sức mạnh từ quyền năng của sự sáng, cho phép vinh quang của Ta gia tăng và hiện ra một lần nữa cho mọi quốc gia; và để toàn bộ nhân loại có thể nhận ra rằng từ lâu Ta đã đến thế giới loài người và từ lâu đã mang vinh quang của Ta từ Y-sơ-ra-ên đến phương Đông; để vinh quang của Ta soi sáng từ phương Đông, và nó đã được mang tới từ Thời đại Ân điển đến ngày nay. Nhưng Ta rời đi chính từ Y-sơ-ra-ên và Ta đến phương Đông cũng chính từ đó. Chỉ khi ánh sáng của phương Đông dần chuyển sang màu trắng thì bóng tối trên toàn thế gian mới bắt đầu chuyển thành ánh sáng, và chỉ khi đó thì con người mới phát hiện ra rằng từ lâu Ta đã rời Y-sơ-ra-ên và Ta đang xuất hiện một lần nữa ở phương Đông. Đã một lần giáng trần xuống Y-sơ-ra-ên và sau đó rời đi, Ta không thể được sinh ra một lần nữa tại Y-sơ-ra-ên, bởi vì công tác của Ta dẫn dắt cả vũ trụ và, hơn thế nữa, tia chớp lóe sáng thẳng hướng từ phía Đông sang phía Tây. Vì lý do này, Ta đã giáng trần xuống phương Đông và mang Ca-na-an tới cho con người ở phương Đông. Ta sẽ mang người từ khắp thế gian tới vùng đất Ca-na-an, và như vậy Ta tiếp tục cất lời phán ở xứ Ca-na-an để kiểm soát toàn vũ trụ. Lúc này, không có ánh sáng ở bất kỳ nơi đâu trên thế gian trừ Ca-na-an, và cả nhân loại đang gặp hiểm nguy vì đói và lạnh. Ta đã ban vinh quang của Ta cho Y-sơ-ra-ên rồi lại tước bỏ nó đi, bằng cách đó mang người Y-sơ-ra-ên đến phương Đông, và cả nhân loại đến phương Đông. Ta đã mang tất cả bọn họ đến với sự sáng để họ có thể đoàn tụ với sự sáng, được gắn kết với sự sáng, và không còn phải tìm kiếm sự sáng nữa. Ta sẽ để tất cả những ai đang tìm kiếm sự sáng nhìn thấy lại sự sáng và thấy được vinh quang mà Ta đã có ở Y-sơ-ra-ên; Ta sẽ để họ thấy rằng từ lâu Ta đã giáng trần trên một đám mây trắng vào giữa nhân loại, cho họ thấy vô số các đám mây trắng và trái cây sai trĩu trịt, và, hơn nữa, để họ thấy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Ta sẽ để họ nhìn lên Đức Thầy của người Do Thái, Đấng Mê-si mà họ hằng mong ước, và diện mạo đầy đủ của Ta, Đấng đã bị bách hại bởi các vị vua trong suốt các thời đại. Ta sẽ làm việc trên toàn vũ trụ và Ta sẽ thực hiện công tác vĩ đại, mặc khải tất cả vinh quang của Ta và tất cả việc làm của Ta cho con người trong thời kỳ sau rốt. Ta sẽ cho những người đã đợi Ta nhiều năm, những người đã mong mỏi Ta đến trên một đám mây trắng, cho một Y-sơ-ra-ên đã mong mỏi Ta xuất hiện một lần nữa, và cho cả nhân loại đã bức hại Ta thấy được đầy đủ nhất diện mạo vinh quang của Ta, để tất cả sẽ đều biết rằng từ lâu Ta đã lấy đi vinh quang của Ta và mang nó tới phương Đông, và nó không còn ở Giu-đê nữa. Vì thời kỳ sau rốt đã đến!” (“Bảy tiếng sấm rền – Tiên đoán rằng Phúc Âm của vương quốc sẽ truyền bá khắp vũ trụ” trong Lời xuất hiện trong xác thịt). Khi nghe điều này tôi đã rất ngạc nhiên. Những lời này rất có thẩm quyền. Tôi biết chúng không thể đến từ bất cứ con người nào. Sau đó, anh ấy tiếp tục thông công nói rằng Chúa đã tái lâm và đang làm công tác mới, mang vinh hiển của Ngài từ Y-sơ-ra-ên tới phương Đông. Tức là công tác của Đức Thánh Linh đang tiến lên, và chỉ những ai theo kịp công tác mới của Đức Chúa Trời và chấp nhận những lời hiện tại của Ngài mới có thể đạt được công tác của Đức Thánh Linh, nguồn chu cấp sự sống bất tận.

Khi anh Vương nói Chúa đã tái lâm, tôi chợt nhận ra rằng trong toàn bộ thế giới tôn giáo, chỉ có Tia chớp phương Đông là làm chứng cho điều này, nên mọi người phải ở cùng họ. Tôi thấy hơi mâu thuẫn. Tôi nhớ các giáo sĩ nói các thành viên Tia chớp phương Đông không phải là người tốt, nhưng theo như tôi thấy, hai anh này thật sự đàng hoàng, ngay thẳng, hòa nhã. Thông điệp họ chia sẻ cũng thực sự mới lạ và thực tế – họ rõ ràng có công tác của Đức Thánh Linh. Họ cũng giải thích lý do tại sao hội thánh quá hoang tàn, một điều khiến tôi bối rối nhiều năm. Tôi hoàn toàn tâm phục khẩu phục. Tôi nghĩ việc được gặp họ ngày hôm đó là nhờ ý tốt của Chúa. Tôi nghĩ mình cũng có thể nghe họ và đặt câu hỏi cho họ để hiểu tại sao các thành viên Tia chớp phương Đông lại tràn đầy đức tin đến vậy và sau khi tin nhận thì sẽ không quay lại. Vì vậy tôi đã hỏi thẳng hỏi: “Tôi biết các anh ở bên Tia chớp phương Đông. Có cơ sở nào trong Kinh Thánh cho lời khẳng định rằng Chúa đã tái lâm và đang làm công tác mới không? Toàn bộ công tác và lời Đức Chúa Trời đều ở trong Kinh Thánh, và chúng ta phải theo Kinh Thánh khi tin. Những điều các anh nói nằm ngoài Kinh Thánh nên tôi không chấp nhận được”. Anh Vương cười và bảo: “Chị nói khi ta tin thì phải theo Kinh Thánh. Thế là chị đang nói Chúa không thể làm công tác nào không có cơ sở Kinh Thánh phải không?”. Tôi tự tin đáp: “Đúng thế”. Rồi anh ấy hỏi tôi: “Chị nói Đức Chúa Trời có trước hay Kinh Thánh có trước?”. Điều này làm tôi choáng váng. Tôi đã là tín hữu bao năm nay nhưng lại chưa hề nghĩ về điều đó. Tôi nghĩ một chút rồi nói dĩ nhiên là Đức Chúa Trời có trước. Anh Vương nói: “Đúng vậy. Kinh Thánh chỉ là ghi chép lịch sử về công tác của Đức Chúa Trời. Đó là lời chứng cho công tác của Ngài trong Thời đại Luật pháp và Thời đại Ân điển. Kinh Cựu ước ghi lại công tác của Đức Chúa Trời ở Y-sơ-ra-ên, còn Tân Ước ghi lại công tác của Đức Chúa Jêsus trong Thời đại Ân điển. Thế nên công tác của Đức Chúa Trời có trước rồi Kinh thánh có sau. Công tác của Đức Chúa Trời không dựa trên Kinh Thánh, mà dựa trên kế hoạch quản lý của Ngài”.

Sau đó anh đọc một đoạn trong lời Đức Chúa Trời Toàn Năng: “Trong thời của Jêsus, Jêsus đã dẫn dắt dân Do Thái và tất cả những người theo Ngài dựa theo công tác của Đức Thánh Linh trong Ngài vào thời điểm đó. Ngài đã không lấy Kinh Thánh làm nền tảng cho những gì Ngài làm, mà phán theo công tác của Ngài; Ngài đã không chú ý đến những gì Kinh Thánh nói, và Ngài cũng không tìm kiếm trong Kinh Thánh một con đường để dẫn dắt các môn đệ của Ngài. Ngay từ khi bắt đầu công tác, Ngài đã rao truyền con đường ăn năn – một từ hoàn toàn không được đề cập trong các lời tiên tri của Cựu Ước. Ngài không những không hành động theo Kinh Thánh, mà Ngài còn dẫn dắt một con đường mới, và làm công tác mới. Không bao giờ Ngài nhắc đến Kinh Thánh khi rao giảng. Trong Thời đại Luật pháp, không ai từng có thể làm các phép lạ của Ngài trong việc chữa lành người bệnh và đuổi quỷ. Vậy nên, công tác của Ngài, những lời dạy dỗ của Ngài, thẩm quyền và quyền năng của lời Ngài cũng vượt xa bất kỳ con người nào trong Thời đại Luật pháp. Jêsus chỉ đơn giản đã làm công tác mới hơn của Ngài, và mặc dù nhiều người đã lên án Ngài bằng cách sử dụng Kinh Thánh – và thậm chí đã sử dụng Cựu Ước để đóng đinh Ngài trên thập tự giá – nhưng công tác của Ngài đã vượt qua Cựu Ước; nếu không phải vậy, tại sao người ta lại đóng đinh Ngài trên thập tự giá? Chẳng phải vì trong Cựu Ước đã không nói gì đến sự dạy dỗ của Ngài, khả năng chữa lành người bệnh và đuổi quỷ của Ngài sao? Công tác của Ngài đã được thực hiện để dẫn dắt một con đường mới, chứ không phải để cố tình khiêu chiến với Kinh Thánh, hay cố tình bỏ qua Cựu Ước. Ngài chỉ đơn giản đến để thực hiện chức vụ của Ngài, để mang lại công tác mới cho những ai mong mỏi và tìm kiếm Ngài. Ngài không đến để giải nghĩa Cựu Ước hay duy trì công tác của nó. Công tác của Ngài không nhằm để cho Thời đại Luật pháp tiếp tục phát triển, vì công tác của Ngài không xét đến việc có lấy Kinh Thánh làm cơ sở hay không; Jêsus chỉ đơn giản đến làm công tác Ngài phải làm. Do đó, Ngài đã không giải nghĩa những lời tiên tri của Cựu Ước, và Ngài cũng đã không làm việc dựa theo những lời của Thời đại Luật pháp Cựu Ước. Ngài đã bỏ qua những gì Cựu Ước nói, Ngài không quan tâm liệu nó có khớp với công tác của Ngài hay không, và không quan tâm những gì người khác biết về công tác của Ngài, hoặc họ đã lên án nó như thế nào. Ngài chỉ đơn giản tiếp tục làm công tác Ngài phải làm, mặc cho nhiều người đã sử dụng sự tiên báo của các tiên tri trong Cựu Ước để lên án Ngài. Đối với mọi người, có vẻ như công tác của Ngài không có cơ sở, và trong đó có rất nhiều điều mâu thuẫn với các bản ghi chép của Cựu Ước. Đây chẳng phải là sai lầm của con người sao? Liệu giáo lý có cần được áp dụng cho công tác của Đức Chúa Trời không? Và công tác của Đức Chúa Trời có phải dựa theo tiên báo của các tiên tri không? Rốt cuộc, Đức Chúa Trời hay Kinh Thánh vĩ đại hơn? Tại sao công tác của Đức Chúa Trời phải dựa theo Kinh Thánh? Lẽ nào Đức Chúa Trời không có quyền vượt qua Kinh Thánh sao? Đức Chúa Trời không thể rời khỏi Kinh Thánh và làm công tác khác ư? Tại sao Jêsus và các môn đồ của Ngài đã không giữ ngày Sa-bát? Nếu Ngài phải thực hành theo ngày Sa-bát và dựa theo các điều răn của Cựu Ước, thì tại sao Jêsus đã không giữ ngày Sa-bát sau khi Ngài đến, mà thay vào đó lại rửa chân, trùm đầu, bẻ bánh, và uống rượu? Chẳng phải tất cả những điều này đều không có trong các điều răn của Cựu Ước sao? Nếu Jêsus tôn vinh Cựu Ước, tại sao Ngài lại phá vỡ những giáo lý này? Ngươi nên biết Đức Chúa Trời hay Kinh Thánh đến trước! Là Chúa của ngày Sa-bát, chẳng phải Ngài cũng có thể là Chúa của Kinh Thánh sao?” (“Xét về Kinh Thánh (1)” trong Lời xuất hiện trong xác thịt). Sau khi đọc đoạn này, Anh Vương thông công rằng: “Khi Đức Chúa Jêsus đến làm công tác, Ngài đã vượt ra ngoài luật pháp của Cựu Ước để làm công tác của Thời đại Ân điển. Ngài có những đòi hỏi mới, cách làm mới cho nhân loại, như không tuân giữ ngày Sa-bát, tha thứ cho người ta 70 lần 7. Con người thấy điều này không phù hợp với luật pháp Cựu ước, hoàn toàn nằm ngoài Kinh thánh. Điều này cho ta thấy công tác của Đức Chúa Trời không bị giới hạn bởi Kinh thánh. Khi các môn đồ của Đức Chúa Jêsus thấy công tác và lời Ngài có uy quyền và thẩm quyền ra sao, thấy không con người nào có thể đạt được, do đó phải đến từ Đức Chúa Trời, họ đã đi theo Chúa. Họ không bị câu chữ Kinh thánh kiềm giữ, mà họ tìm kiếm công tác của Đức Thánh Linh và đi theo bước chân của Đức Chúa Trời. Vì vậy, khi tin, ta không thể dùng Kinh thánh để phán xét công tác của Đức Chúa Trời, mà phải biết Đức Chúa Trời qua lời và công tác của Ngài”.

Sau khi nghe thông công của anh ấy, tôi có thể thấy được Kinh Thánh chỉ là ghi chép lịch sử về công tác của Đức Chúa Trời, chứ không phải là cơ sở cho việc đó. Tôi đã rao giảng bao năm nay, thế sao tôi không hiểu được mối quan hệ giữa Đức Chúa Trời và Kinh Thánh chứ? Tôi cũng đã đi khắp nơi để nghe giảng, mà chưa bao giờ nghe ai nói điều như vậy. Tôi luôn nghĩ công tác và lời của Đức Chúa Trời có trong Kinh Thánh, và chệch khỏi Kinh Thánh là không có đức tin. Tôi thật ngu ngốc quá. Rồi anh Thạch đọc thêm một vài đoạn lời Đức Chúa Trời Toàn Năng: “Trong nhiều năm, phương tiện tín ngưỡng truyền thống của mọi người (của Cơ Đốc giáo, một trong ba tôn giáo chính của thế giới) đã là đọc Kinh Thánh; rời khỏi Kinh Thánh không phải là một niềm tin vào Chúa, rời khỏi Kinh Thánh là tà giáo và dị giáo, và ngay cả khi mọi người đọc các sách khác, thì nền tảng của các sách này phải là sự giải nghĩa Kinh Thánh. Điều đó có nghĩa là, nếu ngươi tin vào Chúa, thì ngươi phải đọc Kinh Thánh, và ngoài Kinh Thánh, ngươi không được tôn sùng bất kỳ quyển sách nào không liên quan đến Kinh Thánh. Nếu ngươi làm như vậy, thì ngươi đang phản bội Đức Chúa Trời. Từ khi có Kinh Thánh, niềm tin vào Chúa của mọi người đã là niềm tin vào Kinh Thánh. Thay vì nói mọi người tin vào Chúa, tốt hơn nên nói họ tin vào Kinh Thánh; thay vì nói họ đã bắt đầu đọc Kinh Thánh, tốt hơn nên nói họ đã bắt đầu tin vào Kinh Thánh; và thay vì nói họ đã trở lại trước nhan Chúa, sẽ tốt hơn khi nói rằng họ đã trở lại trước Kinh Thánh. Theo cách này, mọi người thờ phượng Kinh Thánh như thể nó là Đức Chúa Trời, như thể nó là huyết mạch của mình, và mất nó cũng giống như mất đi mạng sống của mình. Mọi người xem Kinh Thánh cao bằng Đức Chúa Trời, và thậm chí có những người còn xem nó cao hơn cả Đức Chúa Trời. Nếu mọi người không có công tác của Đức Thánh Linh, nếu họ không thể cảm nhận được Đức Chúa Trời, họ có thể tiếp tục sống – nhưng ngay khi họ mất đi Kinh Thánh, hoặc mất đi những chương và câu nói nổi tiếng từ Kinh Thánh, thì như thể họ đã mất đi mạng sống của mình vậy” (“Xét về Kinh Thánh (1)” trong Lời xuất hiện trong xác thịt). “Họ tin vào sự hiện hữu của Ta chỉ trong phạm vi của Kinh Thánh, và họ đánh đồng Ta với Kinh Thánh; không có Kinh Thánh thì không có Ta, và không có Ta thì không có Kinh Thánh. Họ không chú ý gì đến sự hiện hữu hay những hành động của Ta, mà thay vào đó dành sự chú ý tột bậc và đặc biệt cho mỗi một lời của Kinh Thánh. Thậm chí nhiều người còn tin rằng Ta không nên làm bất cứ điều gì Ta muốn làm trừ khi điều đó được Kinh Thánh tiên báo. Họ quá coi trọng Kinh Thánh. Có thể nói rằng họ xem những lời lẽ và sự bày tỏ là quá quan trọng, đến mức họ dùng các câu trong Kinh Thánh để so đo mọi lời Ta nói và để lên án Ta. Cái họ tìm kiếm không phải là cách tương hợp với Ta hay cách tương hợp với lẽ thật, mà là cách tương hợp với những lời trong Kinh Thánh, và họ tin rằng bất cứ điều gì không phù hợp với Kinh Thánh, không có ngoại lệ, đều không phải là công tác của Ta. Chẳng phải những kẻ đó là con cháu ngoan ngoãn của người Pha-ri-si sao? Người Pha-ri-si Do Thái đã dùng luật pháp của Môi-se để kết án Jêsus. Họ đã không tìm kiếm sự tương hợp với Jêsus của thời đó, mà hết mực tuân theo luật pháp đến từng câu chữ, đến mức – sau khi buộc tội Ngài không tuân theo luật pháp của Cựu Ước và không phải là Đấng Mê-si – cuối cùng họ đã đóng đinh Jêsus vô tội lên cây thập tự. Bản chất của họ là gì? Chẳng phải họ đã không tìm cách tương hợp với lẽ thật đó sao?” (“Ngươi nên tìm cách tương hợp với Đấng Christ” trong Lời xuất hiện trong xác thịt). Anh Thạch thông công tiếp: “Rất nhiều người thề thốt tin Đức Chúa Trời, nhưng thực ra họ tin Kinh Thánh. Họ giới hạn Đức Chúa Trời trong phạm vi của Kinh thánh so sánh công tác của Ngài với câu chữ của Kinh Thánh. Điều gì không hợp Kinh Thánh là họ phủ nhận và lên án. Thế có gì khác với người Pha-ri-si? Người Pha-ri-si so sánh công tác của Đức Chúa Jêsus với luật pháp Cựu ước, và khi thấy vượt ra ngoài những ranh giới đó, họ lên án Ngài, và cuối cùng đóng đinh Ngài lên thập tự giá. Đây là một bài học đau đớn. Trong đức tin, ta nên tìm kiếm lẽ thật và dấu chân của Đức Chúa Trời. Trong thời kỳ sau rốt, Đức Chúa Trời Toàn Năng đã bày tỏ rất nhiều lẽ thật để làm công tác phán xét, để hoàn toàn tẩy sạch tội lỗi chúng ta và đưa chúng ta vào thiên quốc. Giai đoạn công tác này sâu hơn và cao hơn công tác cứu chuộc của Chúa, hoàn toàn nằm ngoài phạm vi của Kinh Thánh. Nếu chúng ta đánh giá dựa trên câu từ trong Kinh Thánh, phân định công tác của Đức Chúa Trời trong thời kỳ sau rốt, chẳng phải là phạm sai lầm như những người Pha-ri-si sao?”.

Tôi luôn nghĩ công tác của Đức Chúa Trời không thể vượt ra ngoài Kinh Thánh, điều gì không được ghi trong Kinh Thánh thì không thể là công tác của Đức Chúa Trời. Sau ngần ấy năm tin nhận, sao tôi có thể nghĩ về Đức Chúa Trời chỉ giới hạn trong Kinh Thánh chứ? Tôi chưa bao giờ nhận ra đó không phải là kiểu tin nhận đúng đắn. Có một câu trích dẫn rất hay từ Đức Chúa Trời Toàn Năng: “Họ đánh đồng Ta với Kinh Thánh; không có Kinh Thánh thì không có Ta, và không có Ta thì không có Kinh Thánh. Họ không chú ý gì đến sự hiện hữu hay những hành động của Ta, mà thay vào đó dành sự chú ý tột bậc và đặc biệt cho mỗi một lời của Kinh Thánh. Thậm chí nhiều người còn tin rằng Ta không nên làm bất cứ điều gì Ta muốn làm trừ khi điều đó được Kinh Thánh tiên báo” (“Ngươi nên tìm cách tương hợp với Đấng Christ” trong Lời xuất hiện trong xác thịt). Từng lời từng chữ rất thấm thía với tôi. Sao tôi có thể coi Kinh Thánh như chính Đức Chúa Trời được? Đó là đặt Đức Chúa Trời lên trên hết sao? Tôi chỉ quan tâm đến Kinh Thánh, chứ không phải Đức Chúa Trời!

Tôi đã không nhận ra lời rao giảng của Tia chớp phương Đông hay biết bao, nhưng tôi vẫn còn rất nhiều câu hỏi chưa được giải đáp. Tôi nghĩ vì tôi đã nghe họ, nên có thể tôi sẽ nhận được một số câu trả lời. Tôi không thể cứ mơ hồ trong đức tin được. Tôi cũng muốn nghe thêm nữa về các quan điểm khác của hai người anh em về đức tin. Thế nên tôi hỏi họ về Khải Huyền 22:18: “Tôi ngỏ cho kẻ nào nghe lời tiên tri trong sách nầy: nếu ai thêm vào sách tiên tri nầy điều gì, thì Ðức Chúa Trời sẽ thêm cho người ấy tai nạn đã ghi chép trong sách nầy”. Vì họ nói Đức Chúa Trời đã đến và phán những lời mới, làm công tác mới, vậy câu này nên được giải nghĩa thế nào? Anh Vương đáp: “‘Thêm’ trong câu này nghĩa là không thêm bất cứ điều gì vào những lời tiên tri trong Khải Huyền, chứ không phải là Đức Chúa Trời sẽ không tái lâm và phán nhiều hơn trong thời kỳ sau rốt. Nếu theo ý chị là Đức Chúa Trời sẽ không tái lâm và không phán thêm trong thời kỳ sau rốt, vậy hãy nghĩ về lời của Chúa: ‘Ta còn có nhiều chuyện nói với các ngươi nữa; nhưng bây giờ những điều đó cao quá sức các ngươi. Lúc nào Thần lẽ thật sẽ đến, thì Ngài dẫn các ngươi vào mọi lẽ thật’ (Giăng 16:12-13). Điều này ứng nghiệm thế nào? Và Khải Huyền đề cập đến bảy lần ‘Ai có tai, hãy nghe lời Ðức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh’ (Khải Huyền Chương 2, 3). Làm sao để giải thích điều này? Chẳng phải chị đang phủ nhận và lên án những lời của Đức Thánh Linh phán cùng các hội thánh trong thời kỳ sau rốt, những lẽ thật Ngài bày tỏ sao? Tất cả chúng ta đều biết Đức Chúa Trời là nguồn sống, là suối nguồn nước sự sống bất tận. Do đó phân định công tác và lời của Đức Chúa Trời bằng Kinh Thánh sẽ như nói Đức Chúa Trời chỉ có thể phán những gì đã được ghi chép trong Kinh Thánh và làm công tác Ngài đã làm trong quá khứ. Chẳng phải đó là không tôn trọng và giới hạn Đức Chúa Trời sao? Đức Chúa Trời Toàn Năng giờ đã phán hàng triệu lời, và Ngài đang làm công tác phán xét khởi từ nhà Đức Chúa Trời. Điều này ứng nghiệm lời tiên tri của Đức Chúa Jêsus, ‘Người nào bỏ ta ra và không nhận lãnh lời ta, đã có kẻ xét đoán rồi; lời ta đã rao giảng, chính lời đó sẽ xét đoán họ nơi ngày sau cùng’ (Giăng 12:48). Và trong 1 Phi-e-rơ có ghi: ‘Vì thời kỳ đã đến, là khi sự phán xét sẽ khởi từ nhà Ðức Chúa Trời’ (1 Phi-e-rơ 4:17). Chỉ bằng cách chấp nhận lẽ thật của Đức Chúa Trời trong thời kỳ sau rốt và sự phán xét của lời Ngài thì chúng ta mới có thể hiểu căn nguyên tội lỗi của mình, thoát khỏi những ràng buộc của sự bại hoại, thôi không phạm tội và chống lại Đức Chúa Trời. Khi đó mới có thể thực sự vâng phục và thờ phượng Đức Chúa Trời, cuối cùng được Ngài đưa vào vương quốc của Ngài và đạt được một đích đến tốt đẹp”. Sau khi nghe xong, tôi nhận ra việc Chúa phán lời mới và làm công tác mới trong thời kỳ sau rốt thực sự đã được tiên tri trong Kinh Thánh. Trước đây, tôi luôn nghĩ mình biết Kinh thánh rất rõ, nhưng tôi hoàn toàn không hiểu câu chuyện bên trong và không biết cách tiếp cận Kinh Thánh đúng cách.

Sau đó hai người anh này thông công nhiều hơn về cách tiếp cận Kinh Thánh đúng đắn. Tôi không còn nghi ngờ gì nữa. Nhưng tôi cũng thấy rất buồn. Tôi không biết sao mình lại lầm đường lạc lối như thế sau ngần ấy năm tin nhận. Tôi luôn nghĩ tin vào Đức Chúa Trời nghĩa là tin vào Kinh Thánh, còn những gì khác đều không phải là tin vào Đức Chúa Trời. Tôi nghĩ công tác và lời của Đức Chúa Trời đều chỉ giới hạn trong Kinh Thánh, vì vậy thấy Kinh Thánh còn vĩ đại hơn cả Đức Chúa Trời. Tôi chống lại và lên án bất cứ ai tuyên bố Đức Chúa Trời đang làm công tác mới và phán lời mới và tôi không có ý muốn tìm kiếm Tôi chỉ cố chấp bám vào quan niệm của mình gieo rắc những điều này cho các anh chị em, làm mọi người mê muội, Tôi cảm thấy như việc mình rao giảng suốt ngần ấy năm là một kiểu lừa gạt các thành viên hội thánh, làm tổn thương họ. Khi đó tôi mới thấy mình chỉ là một nhà thuyết giáo dốt nát, ngu dại. Trước đây tôi đã tiếp xúc với nhiều nhà thuyết giáo và thảo luận Kinh Thánh với họ, nhưng những người anh em đó thông công rõ ràng nhất. Tôi là người rất kiêu ngạo, không dễ bị thuyết phục, nhưng lần này thì không còn nghi ngờ gì nữa!

Tôi rất muốn được nghe họ giải thích mọi điều để làm sáng tỏ mọi sự mơ hồ. Tôi nói với họ: “Tôi hiểu tất cả mối thông công của các anh, nhưng tôi vẫn có một câu hỏi quan trọng. Anh nói Chúa đã trở lại trong xác thịt người nữ, tôi không thể chấp nhận điều này. Đức Chúa Jêsus là nam, nên khi tái lâm cũng là người nam!”. Anh Vương nói: “Đức Chúa Trời là Thần, Thần không có dạng thức hay giới tính. Ngài đến làm công tác trong xác thịt vì nhu cầu cần thiết cho công tác của Ngài, đó là lý do duy nhất Ngài chọn bất kỳ giới tính nào. Dù là nam hay nữ, Ngài đều có thể làm công tác của Đức Chúa Trời. Trong Thời đại Ân điển, Đức Chúa Trời nhập thể đã bị đóng đinh như của lễ chuộc lỗi cho loài người. Đức Chúa Jêsus là nam và Ngài có thể cứu chuộc loài người qua việc bị đóng đinh. Nếu Đức Chúa Jêsus đến là người nữ, Ngài cũng có thể bị đóng đinh như vậy. Một khi công tác của Ngài trong xác thịt được hoàn thành, Đức Chúa Trời sẽ biến đổi thành linh thể, khi đó Ngài sẽ không là nam hay là nữ. Kinh Thánh có ghi: ‘Ðức Chúa Trời dựng nên loài người như hình Ngài; Ngài dựng nên loài người giống như hình Ðức Chúa Trời; Ngài dựng nên người nam cùng người nữ’ (Sách sáng thế 1:27). Câu KinhThánh này cho chúng ta biết Đức Chúa Trời tạo ra nam và nữ theo ảnh tượng của Ngài, Đức Chúa Trời nhập thể là nam có thể đại diện cho Đức Chúa Trời, vậy chẳng phải Ngài nhập thể thành nữ cũng có thể đại diện cho Đức Chúa Trời sao? Dù là nam hay nữ thì đều là sự nhập thể xác thịt của Thần của Đức Chúa Trời, và trong cả hai trường hợp, Đức Chúa Trời đang thực hiện công tác của Ngài. Đây không phải là lẽ thật mà chúng ta đã biết trước, vì vậy kể từ lần đầu Đức Chúa Trời nhập thể là nam, rất nhiều người đã phân định Ngài, nghĩ rằng Đức Chúa Trời nhập thể chỉ có thể là nam, không bao giờ là nữ”. Sau đó anh Vương đọc một vài đoạn lời Đức Chúa Trời Toàn Năng: “Mỗi giai đoạn công tác được Đức Chúa Trời thực hiện đều có ý nghĩa thực tế riêng của nó. Thời xưa, khi Jêsus đến, Ngài đến trong hình hài người nam, và khi Đức Chúa Trời đến lần này, hình hài của Ngài là người nữ. Từ điều này, ngươi có thể thấy rằng sự tạo dựng cả người nam và người nữ của Đức Chúa Trời đều có thể hữu dụng trong công tác của Ngài, và với Ngài không có sự phân biệt giới tính. Khi Thần của Ngài đến, Ngài có thể mang lấy bất kỳ xác thịt nào mà Ngài muốn, và xác thịt đó có thể đại diện cho Ngài; dù là nam hay nữ, nó có thể đại diện cho Đức Chúa Trời miễn nó là xác thịt nhập thể của Ngài. Nếu Jêsus đã xuất hiện trong thân phận một người nữ khi Ngài đến, nói cách khác, nếu một bé gái sơ sinh, chứ không phải một bé trai, đã được thai dựng bởi Đức Thánh Linh, thì giai đoạn công tác đó sẽ được hoàn thành dù thế nào đi chăng nữa. Nếu đúng là như thế, thì giai đoạn công tác hiện tại thay vào đó sẽ phải được hoàn thành bởi một người nam, nhưng công tác sẽ được hoàn thành dù thế nào đi chăng nữa. Công tác được thực hiện trong mỗi giai đoạn đều có ý nghĩa; không có giai đoạn công tác nào bị lặp lại, chúng cũng không mâu thuẫn với nhau. Vào thời điểm đó, Jêsus, khi thực hiện công tác của Ngài, đã được gọi là Con trai một, và ‘Con trai’ ám chỉ giới tính nam. Tại sao Con trai một không được đề cập trong giai đoạn hiện tại này? Bởi vì những yêu cầu của công việc đã đòi hỏi một sự thay đổi về giới tính so với của Jêsus. Với Đức Chúa Trời, không có sự phân biệt giới tính. Ngài làm công tác của Ngài như Ngài muốn, và khi thực hiện công tác của mình thì Ngài không phải chịu bất kỳ sự hạn chế nào, mà được đặc biệt tự do. Tuy nhiên, mỗi giai đoạn công tác đều có ý nghĩa thực tế riêng của nó. Đức Chúa Trời đã trở nên xác thịt hai lần, và điều hiển nhiên là sự nhập thể của Ngài trong thời kỳ sau rốt là lần cuối cùng. Ngài đã đến để khiến cho mọi việc làm của Ngài được biết đến. Nếu trong giai đoạn này Ngài không trở nên xác thịt để đích thân làm việc cho con người chứng kiến, thì con người sẽ mãi mãi bám lấy quan niệm cho rằng Đức Chúa Trời chỉ là nam, chứ không phải là nữ” (“Hai lần nhập thể hoàn tất ý nghĩa của sự nhập thể” trong Lời xuất hiện trong xác thịt). “Nếu giai đoạn công tác này không được thực hiện trong thời đại cuối cùng, thì đối với Đức Chúa Trời, toàn thể nhân loại sẽ bị che phủ dưới một bóng đen. Nếu vậy, người nam sẽ nghĩ mình cao trọng hơn người nữ, và người nữ sẽ không bao giờ có thể ngẩng đầu lên được, và khi đó thậm chí không một phụ nữ nào có thể được cứu rỗi. Mọi người luôn tin rằng Đức Chúa Trời là nam, và hơn nữa, rằng Ngài luôn xem thường người nữ và sẽ không ban sự cứu rỗi cho người nữ. Nếu vậy, chẳng phải đúng là tất cả người nữ, là những người đã được tạo dựng nên bởi Đức Giê-hô-va và những người cũng đã bị bại hoại, sẽ không bao giờ có cơ hội được cứu rỗi sao? Vậy thì chẳng phải sẽ là vô nghĩa khi Đức Giê-hô-va tạo dựng nên người nữ, nghĩa là tạo dựng nên Ê-va sao? Và chẳng phải người nữ sẽ bị diệt mất đời đời sao? Vì lý do này, giai đoạn công tác trong thời kỳ sau rốt được thực hiện để cứu rỗi toàn thể nhân loại, chứ không chỉ người nữ. Nếu bất cứ ai nghĩ rằng Đức Chúa Trời phải nhập thể trở thành người nữ chỉ để cứu rỗi người nữ, thì người đó thực sự là một kẻ ngốc!” (“Hai lần nhập thể hoàn tất ý nghĩa của sự nhập thể” trong Lời xuất hiện trong xác thịt). Rồi anh nói: “Có ý nghĩa bên trong việc Đức Chúa Trời nhập thể là người nam hay nữ, và có lẽ thật mà chúng ta nên tìm kiếm. Nếu Đức Chúa Trời nhập thể cả hai lần là nam, mọi người sẽ nghĩ Đức Chúa Trời chỉ có thể là nam, không bao giờ là nữ. Vậy đó chẳng phải là phân định Đức Chúa Trời sao? Đức Chúa Trời nhập thể là nữ trong những thời kỳ sau rốt cho chúng ta thấy rằng dù Ngài mang thân thể nam hay nữ, thực chất của Ngài không bao giờ thay đổi – Ngài là chính Đức Chúa Trời, luôn có thể bày tỏ lẽ thật và thực hiện công tác của Đức Chúa Trời. Điều này giúp chúng ta hiểu chính xác hơn về Đức Chúa Trời. Ngoài ra, sự nhập thể của Đức Chúa Trời giúp chúng ta thấy Ngài không chỉ là Đức Chúa Trời của nam mà cũng là Đức Chúa Trời cho cả nữ. Nếu Ngài nhập thể thành nam trong thời kỳ sau rốt, thì mãi mãi sẽ có định kiến với nữ, và mọi người thậm chí có thể nghĩ Đức Chúa Trời ghét phụ nữ, họ không thể được cứu rỗi. Đó không phải là hiểu lầm sao? Đức Chúa Trời nhập thể là nữ trong thời kỳ sau rốt không phù hợp với quan niệm của mọi người, nhưng có ý nghĩa và có lợi cho sự cứu rỗi và hiểu biết của con người về Đức Chúa Trời. Trong đó có tình yêu của Đức Chúa Trời”.

Lời Đức Chúa Trời Toàn Năng đã phơi bày những quan niệm của tôi. Đức Chúa Trời tạo dựng cả nam và nữ là điều tôi chỉ nói môi miệng mà thôi. Tôi tự vấn sao mình lại nghĩ Ngài không thể mang hình dáng người nữ được. Sao tôi có thể ngu muội như vậy? Anh Vương đọc thêm lời Đức Chúa Trời Toàn Năng cho tôi: “Đức Chúa Trời không chỉ là Đức Thánh Linh, là Thần, là Thần uy lực gấp bảy lần, hay là Thần toàn diện, mà còn là một con người – một con người bình thường, một con người đặc biệt bình dân. Ngài không chỉ là nam giới, mà còn là nữ giới. Họ giống nhau ở chỗ Họ đều được sinh ra bởi con người, và khác nhau ở chỗ một người được thai dựng bởi Đức Thánh Linh, còn người kia được sinh ra bởi con người mặc dù bắt nguồn trực tiếp từ Thần. Họ giống nhau ở chỗ cả hai đều là xác thịt nhập thể của Đức Chúa Trời để thực hiện công tác của Đức Chúa Cha, và khác nhau ở chỗ một người đã thực hiện công tác cứu chuộc, trong khi người kia làm công tác chinh phục. Cả hai đều đại diện cho Đức Chúa Cha, nhưng một người là Đấng Cứu Chuộc, tràn đầy lòng từ ái và thương xót, còn người kia là Đức Chúa Trời công chính, đầy thạnh nộ và phán xét. Một người là Đấng Chỉ Huy Tối Cao khởi đầu công tác cứu chuộc, trong khi người kia là Đức Chúa Trời công chính hoàn thành công tác chinh phục. Một người là Đấng thứ nhứt, còn người kia là Đấng sau chót. Một người là xác thịt vô tội, trong khi người kia là xác thịt hoàn tất việc cứu chuộc, tiếp tục công tác và không bao giờ tội lỗi. Cả hai đều cùng là một Thần, nhưng Họ sống trong những xác thịt khác nhau và được sinh ra tại những nơi khác nhau, và Họ cách nhau đến vài nghìn năm. Tuy nhiên, tất cả công tác của Họ đều bổ trợ cho nhau, không bao giờ mâu thuẫn, và có thể được ví sánh cùng nhau. Cả hai đều là con người, nhưng một người là bé trai còn người kia là bé gái. Trong hết thảy ngần ấy năm, những gì con người nhìn thấy không chỉ là Thần và không chỉ là con người, một người đàn ông, mà còn là nhiều điều không hợp với những quan niệm của con người; như thế, con người chẳng bao giờ có thể thấu hiểu Ta hoàn toàn. Họ cứ nửa tin nửa ngờ Ta – như thể Ta có tồn tại, nhưng Ta cũng là một giấc mơ hão huyền – đó là lí do tại sao đến tận ngày nay con người vẫn không biết Đức Chúa Trời là gì. Ngươi có thể thật sự tóm lược về Ta trong một câu đơn giản hay không? Ngươi có thật sự dám nói rằng: ‘Jêsus không ai khác chính là Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời không ai khác chính là Jêsus’ hay không? Ngươi có thực sự mạnh dạn nói rằng: ‘Đức Chúa Trời không ai khác chính là Thần, và Thần không ai khác chính là Đức Chúa Trời’ hay không? Ngươi có thoải mái khi nói rằng: ‘Đức Chúa Trời chỉ là một con người mặc lấy xác thịt’ hay không? Ngươi có thực sự can đảm khẳng định rằng: ‘Ảnh tượng của Jêsus là ảnh tượng vĩ đại của Đức Chúa Trời’ hay không? Ngươi có thể dùng tài hùng biện của mình để giải thích thấu đáo về tâm tính và ảnh tượng của Đức Chúa Trời hay không? Ngươi có thực sự dám nói rằng: ‘Đức Chúa Trời chỉ tạo ra nam giới, chứ không phải nữ giới theo hình của chính Ngài’ hay không? Nếu ngươi nói điều này, thì chẳng có một người nữ nào trong số những người Ta chọn, càng không có một giới nào là nữ trong nhân loại. Bây giờ thì ngươi có thực sự biết Đức Chúa Trời là gì không? Đức Chúa Trời có phải là một con người không? Đức Chúa Trời có phải là Thần không? Đức Chúa Trời có thật sự là một người nam không? Chỉ có Jêsus mới có thể hoàn tất công tác Ta trù định làm hay sao? Nếu ngươi chỉ chọn một trong những ý trên để tóm lược về thực chất của Ta, thì ngươi là một tín đồ trung thành mê muội vô cùng. Nếu Ta làm việc như một xác thịt nhập thể một và chỉ một lần, thì liệu các ngươi có giới hạn Ta hay không? Liệu ngươi có thể nhìn qua là thực sự hiểu về Ta thấu đáo hay không? Liệu ngươi có thể thực sự tóm lược đầy đủ về Ta dựa trên những trải nghiệm của ngươi trong cuộc đời hay không? Nếu Ta làm công tác giống nhau trong cả hai lần nhập thể của Ta, thì các ngươi sẽ hiểu về Ta như thế nào? Liệu các ngươi có bỏ mặc Ta vĩnh viễn bị treo trên thập tự giá hay không? Liệu Đức Chúa Trời có thể đơn giản như ngươi nói không?” (“Ngươi hiểu gì về Đức Chúa Trời?” trong Lời xuất hiện trong xác thịt). Những lời này khiến tôi xúc động ngay lập tức. Tôi luôn nói Đức Chúa Trời là Thần, Đấng ngự trị vạn vật, toàn năng và hiện diện khắp nơi, vậy sao tôi lại có thể phân định Ngài chứ? Lần đầu Ngài nhập thể là nam, vậy chẳng phải hoàn toàn là bình thường khi lần này Ngài đến là một người nữ sao? Khi Ngài nhập thể là người nam hay người nữ, Ngài đại diện cho Đức Chúa Trời – Ngài có thể bày tỏ lẽ thật và cứu rỗi nhân loại. Thực sự rất đơn giản vậy, sao tôi lại coi đó như một bí ẩn lớn? Càng nghĩ tôi lại càng thấy mình sai. Tôi đã thực sự không biết Đức Chúa Trời, mà luôn phân định và giới hạn Ngài. Thật quá vô lý!

Rồi anh Thạch thông công: “Để xác định xem đó có phải là sự nhập thể của Đức Chúa Trời hay không, điều quan trọng là xem liệu Ngài có bản thể thiêng liêng và có thể bày tỏ lẽ thật không, chứ không dựa vào giới tính hay hình dáng bề ngoài. Đức Chúa Trời Toàn Năng phán: ‘Đấng là Đức Chúa Trời nhập thể sẽ sở hữu thực chất của Đức Chúa Trời, và Đấng là Đức Chúa Trời nhập thể sẽ sở hữu biểu hiện của Đức Chúa Trời. Bởi vì Đức Chúa Trời trở nên xác thịt, Ngài sẽ đưa ra công tác mà Ngài định làm, và bởi vì Đức Chúa Trời trở nên xác thịt, Ngài sẽ bày tỏ Ngài là gì, và sẽ đem đến lẽ thật cho con người, ban sự sống cho con người, và chỉ lối cho con người. Xác thịt không có thực chất của Đức Chúa Trời thì dứt khoát không phải là Đức Chúa Trời nhập thể; điều này không có gì phải nghi ngờ. Nếu con người định tìm hiểu xem đó có phải là xác thịt nhập thể của Đức Chúa Trời hay không, thì họ phải chứng thực điều này từ tâm tính Ngài bày tỏ và những lời Ngài phán ra. Nghĩa là, để chứng thực đó có phải xác thịt nhập thể của Đức Chúa Trời hay không, và đó có phải là con đường thật hay không, thì người ta phải phân biệt dựa trên thực chất của Ngài. Và vì thế, để xác định đó có phải là xác thịt nhập thể của Đức Chúa Trời hay không, điều cốt yếu nằm ở thực chất của Ngài (công tác của Ngài, những lời phán của Ngài, tâm tính của Ngài và nhiều khía cạnh khác), chứ không phải là hình dáng bên ngoài’ (Lời tựa của Lời xuất hiện trong xác thịt). Lời Đức Chúa Trời rất rõ ràng. Đấng bày tỏ lẽ thật, chỉ đường cho chúng ta và ban sự sống cho chúng ta là Đức Chúa Trời trong xác thịt. Khi Đức Chúa Jêsus đến làm công tác trong xác thịt, Ngài trông giống như một người bình thường – Ngài là con trai của một người thợ mộc. Vì lý do đó mà nhiều người không thừa nhận Ngài là Đức Chúa Trời. Vậy tại sao nhiều người theo Đức Chúa Jêsus? Đó là vì công tác và lời của Ngài không ai có thể đạt được. Ngài có thể bày tỏ lẽ thật và cho chúng ta con đường ăn năn. Ngài là tình yêu, lòng thương xót và sự cứu chuộc cho nhân loại. Không ai có những điều đó hay có thể làm tất cả những điều đó. Vì vậy, Đức Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời nhập thể. Và giờ Đức Chúa Trời Toàn Năng đã đến và bề ngoài Ngài nhìn như người thường, nhưng Ngài đã bày tỏ rất nhiều lẽ thật và đang làm công tác phán xét trong thời kỳ sau rốt. Ngài đã chinh phục và hoàn thiện một nhóm người đắc thắng. Đức Chúa Trời Toàn Năng đã làm công tác vĩ đại, gây chấn động toàn thế giới, mặc khải tâm tính công chính của Đức Chúa Trời cho nhân loại và mang đến cho chúng ta con đường sự sống vĩnh cửu. Đây là những điều không người nào có thể đạt được. Nếu tất cả những gì chúng ta xem xét là giới tính của sự nhập thể, chứ không phải lẽ thật mà Đức Chúa Trời bày tỏ, đó thật là ngu xuẩn, và đó là mắc sai lầm của người Pha-ri-si chống lại Đức Chúa Trời”.

Tôi nghĩ nhiều hội thánh đã nói về việc cảnh giác trước các Christ giả nhiều năm nay, nhưng không ai có thể giải thích rõ cách để phân biệt ai là Đức Chúa Trời trong xác thịt. Chỉ có Đức Chúa Trời Toàn Năng mới có thể làm sáng tỏ khía cạnh lẽ thật này. Tôi hoàn toàn bị thuyết phục. Tôi cũng thấy rất có lỗi. Là một tín hữu bao năm nay, đã đọc Kinh Thánh rất nhiều, nhưng tôi thậm chí không biết cách để nhận ra Chúa. Tôi chỉ là một người trần tục, đánh giá qua vẻ bề ngoài, cho rằng Đức Chúa Trời nhập thể không thể là người nữ, Nếu tôi được sinh ra trong Thời đại Ân điển tôi sẽ lên án Đức Chúa Jêsus, giống như người Pha-ri-si. Sau đó chúng tôi còn thông công rất nhiều, gồm cả những lẽ mầu nhiệm về kế hoạch quản lý của Đức Chúa Trời, ba giai đoạn công tác của Ngài, cách Ngài làm công tác phán xét trong thời kỳ sau rốt để làm tinh sạch và cứu rỗi con người, và v.v Tôi càng chắc chắn rằng những lời Đức Chúa Trời Toàn Năng chính là lẽ thật, Ngài là Đức Chúa Jêsus tái lâm. Không ai ngoài Đức Chúa Trời có thể mặc khải những lẽ mầu nhiệm của lẽ thật. Không ai có thể làm tinh sạch và cứu rỗi người khác, và không ai có thể định đoạt kết cục và đích đến của loài người. Điều này thực sự mở mang tầm mắt của tôi. Thảo nào các anh chị em đó sẽ không quay lại sau khi chấp nhận Tia chớp phương Đông. Họ đã tìm được lẽ thật trong lời Đức Chúa Trời Toàn Năng và nghe thấy tiếng Đức Chúa Trời. Họ đã nghênh đón Chúa tái lâm. Ai lại muốn bỏ đi sau khi tìm thấy dấu chân của Đức Chúa Trời và tham dự tiệc cưới của Chiên Con chứ? Như thế sẽ là ngu ngốc. Nhiều năm đã trôi qua. Nếu tôi tìm hiểu sớm hơn và lắng Tia chớp phương Đông, tôi đã có thể sớm thoát khỏi đau đớn, vui hưởng nước sự sống. Tôi đã quá mù quáng và dại dột, chỉ máy móc nghe theo những lời nhảm nhí của giáo sĩ. Tôi thực sự ngạo mạn, cố chấp bám vào Kinh Thánh, đã truyền bá quan niệm sai lầm của mình cho các anh chị em, khiến họ từ chối và lên án công tác mới của Đức Chúa Trời theo tôi. Tôi đã ngăn người khác nghênh đón sự trở lại của Chúa. Điều này nhắc tôi nhớ đến một điều mà Đức Chúa Jêsus đã nói khi quở trách những người Pha-ri-si: “Vì các ngươi đóng nước thiên đàng trước mặt người ta; các ngươi không vào đó bao giờ, mà có ai muốn vào, thì lại ngăn trở” (Ma-thi-ơ 23:13). Tôi đã hành động giống hệt như những người Pha-ri-si đã làm, đóng cửa thiên quốc, không vào hay để người khác vào. Tôi đã làm hại anh chị em – đó là một việc đại ác.

Nghĩ đến tất cả những điều khủng khiếp mà mình đã làm chống lại Đức Chúa Trời Toàn Năng, tôi thực sự ghét bản thân, không kiềm chế được tôi lao vào nhà bếp bật khóc. Sau đó, tôi đọc được một đoạn lời Đức Chúa Trời Toàn Năng khác: “Bởi vì ngươi tin Đức Chúa Trời, nên ngươi phải đặt đức tin mình vào mọi lời của Đức Chúa Trời và vào mọi công tác của Ngài. Điều đó có nghĩa là, vì ngươi tin Đức Chúa Trời, ngươi phải vâng phục Ngài. Nếu ngươi không thể làm điều này, thì ngươi có tin Đức Chúa Trời hay không cũng không quan trọng. Nếu ngươi đã tin Đức Chúa Trời trong nhiều năm, nhưng chưa từng vâng phục Ngài, và không chấp nhận toàn bộ những lời của Ngài, mà thay vào đó, ngươi lại yêu cầu Đức Chúa Trời phục tùng ngươi và hành động theo các quan niệm của ngươi, thì ngươi là kẻ phản nghịch nhất trong tất cả, ngươi là một kẻ chẳng tin. Làm sao những kẻ như thế có thể vâng phục công tác và lời của Đức Chúa Trời, những điều không phù hợp với các quan niệm của con người? Phản nghịch nhất trong tất cả là những kẻ cố ý thách thức và chống lại Đức Chúa Trời. Họ là những kẻ thù của Đức Chúa Trời, những kẻ địch lại Đấng Christ. Thái độ của họ luôn thù địch với công tác mới của Đức Chúa Trời; họ chưa bao giờ có một chút khuynh hướng đầu phục nào, cũng chưa bao giờ vui vẻ đầu phục hay hạ mình. Họ tự đề cao bản thân trước người khác và không bao giờ đầu phục bất kỳ ai. Trước Đức Chúa Trời, họ tự cho mình là người giỏi nhất trong việc giảng đạo, và là người khéo nhất trong việc tác động đến người khác. Họ không bao giờ vứt bỏ ‘những báu vật’ mình đang sở hữu, mà xem chúng như những vật gia truyền để thờ lạy, để giảng cho người khác nghe, và họ dùng chúng để lên lớp cho những kẻ ngu thần tượng họ. Thật sự có một số người như thế trong hội thánh. Có thể nói họ là ‘những anh hùng bất khuất’, tạm trú trong nhà Đức Chúa Trời từ thế hệ này sang thế hệ khác. Họ xem việc giảng đạo (giáo lý) là bổn phận cao cả nhất của họ. Năm này qua năm khác, thế hệ này đến thế hệ khác, họ lo thi hành mạnh mẽ bổn phận ‘thiêng liêng và bất khả xâm phạm’ của mình. Không ai dám đụng đến họ; không một ai dám công khai trách cứ họ. Họ trở thành ‘những ông vua’ trong nhà Đức Chúa Trời, họ lộng hành khi áp chế những người khác từ thời này đến thời khác. Bầy quỷ này tìm cách chung tay và phá hủy công tác của Ta; làm sao Ta có thể để mấy con quỷ sống này tồn tại trước mắt Ta? Ngay cả những người chỉ vâng phục nửa vời cũng không thể tiếp tục đến cuối cùng, chứ đừng nói đến những kẻ bạo ngược không hề có chút vâng phục nào trong lòng này!” (“Những ai vâng phục Đức Chúa Trời với một tấm lòng chân thật chắc chắn sẽ được Đức Chúa Trời thu nhận” trong Lời xuất hiện trong xác thịt). Những lời gay gắt của Đức Chúa Trời như một nhát dao đâm thẳng vào lòng tôi. Cảm giác như từng lời một đều phán xét tôi. Suốt ngần ấy năm, Tôi nghĩ rằng trong hội thánh không ai tin nhận nhiều hơn tôi, tôi là tín hữu sùng đạo nhất. Tôi coi những hy sinh của mình như vốn cá nhân, như thể tôi có thẩm quyền của vua trong hội thánh. Tôi có tiếng nói quyết định trong mọi việc dù to hay nhỏ. Các anh chị em tin nơi Chúa và đọc Kinh Thánh, nhưng họlại lắng nghe tôi. Tôi rất cứng nhắc trong quan niệm về việc nghênh đón Chúa, và còn đe dọa không cho các anh chị em điều tra. Tôi phong tỏa hội thánh hoàn toàn. Các thành viên của hội thánh quá sợ hãi không dám tiếp nhận bất kỳ ai từ Tia chớp phương Đông và không dám nghe họ nói. Một số rất thích những điều họ nói nhưng quá sợ không dám để họ nói hết, sợ tôi khai trừ họ. Tôi thấy mình là một kẻ tôi tớ gian ác đang ngăn cản mọi người nghênh đón Chúa. Tôi là người Pha-ri-si thời hiện đại! Tôi đã xúc phạm tâm tính của Đức Chúa Trời, và Ngài đã sửa dạy tôi, để tôi bị ốm. Nhưng tôi vẫn không quay lại, cứ tiếp tục giữ quan niệm của mình như thể chúng là lẽ thật, thay vì nỗ lực điều tra công tác của Đức Chúa Trời Toàn Năng trong thời kỳ sau rốt. Tôi thật quá sức ngạo mạn! Tôi đã khiến mọi người trong hội thánh nghe theo mình, coi ý tưởng của tôi như lẽ thật. Tôi đang cố gắng đứng vào vị trí của Đức Chúa Trời. Chẳng phải đó giống như là một kẻ địch lại Đấng Christ, như thiên sứ trưởng sao? Sau từng ấy năm là tín hữu, tôi vẫn không biết Đức Chúa Trời và chống lại Ngài. Nhưng thay vì trực tiếp trừng phạt tôi, Ngài đã ngăn tôi theo con đường tà ác bằng vấn đề sức khỏe, và sau đó đưa hai người anh em đó đến chia sẻ Phúc Âm với tôi. Tôi thực sự không xứng đáng với lòng thương xót và sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Khi nhận ra điều này, tôi tràn đầy lòng biết ơn và thấy mắc nợ Đức Chúa Trời. Tôi phủ phục trước Đức Chúa Trời, khóc và cầu nguyện: “Lạy Đức Chúa Trời Toàn Năng! Hành động của con thực sự đáng bị Ngài lên án, rủa xả. Con không đáng sống trong thế giới này. Ngài đã cứu rỗi con, ban ân điển cho con để được nghe tiếng Ngài. Lạy Đức Chúa Trời, con đã làm quá nhiều điều ác và không xứng đáng cầu xin Ngài thương xót. Con chỉ xin Ngài cho con cơ hội để chuộc tội, bù đắp những vi phạm của con. Con sẵn lòng trả bất kỳ giá nào để chia sẻ Phúc Âm để giúp chiên lạc lối của Ngài tìm được đường về nhà Ngài và nhận được Ngài cứu rỗi”.

Trong một thời gian, tôi ngấu nghiến lời Đức Chúa Trời Toàn Năng như một người chết đói và học được rất nhiều lẽ thật mà trước đây chưa bao giờ biết, như sự nhập thể là gì, đức tin vào Đức Chúa Trời là gì, phụng sự Đức Chúa Trời thực sự là gì, thêm nữa, tôi học được về sự thay đổi tâm tính, làm thế nào để thực sự yêu kính và làm hài lòng Đức Chúa Trời, v.v. Tôi cảm thấy như mình đạt được rất nhiều từ sự chăm tưới và chu cấp của lời Ngài. Tôi thực sự đang dự tiệc cưới của Chiên Con. Tôi càng chắc rằng đây là sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời, con đường mà Ngài đích thân chỉ cho chúng ta. Ngoài ra, vấn đề sức khỏe của tôi tiêu tan không chút dấu vết. Qua việc làm việc với các anh chị em, tôi đưa chín đồng sự chính và hơn 30 trưởng nhóm đến trước mặt Đức Chúa Trời. Sau đó, tôi bắt đầu truyền bá Phúc Âm và làm bổn phận để càng nhiều tín hữu chân chính có thể nhận được sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời trong thời kỳ sau rốt sớm hơn. Tạ ơn Đức Chúa Trời Toàn Năng!

Hồi chuông thời sau hết báo động đã vang lên, đại thảm họa đã ập xuống, bạn có muốn cùng gia đình nghênh đón được Thiên Chúa, và có cơ hội nhận được sự che chở của Thiên Chúa không?

Nội dung liên quan

Liên hệ với chúng tôi qua Messenger