Phước lành “trộm được”

02/12/2022

Bởi A Siêu, Trung Quốc

Vào tháng Ba năm 2012, không biết bắt đầu từ ngày nào, nhưng tôi để ý thấy ngày nào sau bữa tối, vợ tôi cũng vội làm việc nhà, sau đó vào phòng ngủ để đọc một cuốn sách. Ngày này sang ngày khác… cứ như thế. Tôi đã rất tò mò. Vợ mình đang đọc sách gì vậy? tại sao nó lại thu hút cô ấy đến thế? Một tối nọ, tôi buộc phải đẩy cửa vào để xem chuyện gì đang diễn ra. Khi thấy tôi bước vào phòng, vợ tôi muốn cất cuốn sách đi. Tôi chụp lấy tay cô ấy đang cầm sách và hỏi cô ấy đang đọc sách gì. Vợ tôi cười nói: “Đây là Cuốn Kỳ Thư Mà Chiên Con Đã Mở. Đây là những lời được Đức Chúa Jêsus tái lâm bày tỏ. Chúng ta đã khao khát sự tái lâm của Ngài, và giờ Ngài đã trở lại”. Khi nghe thấy vậy, tôi đã sốc và sợ hãi. Tôi nhớ mục sư từng nói: “Chúng ta tin vào Chúa, vì vậy chúng ta được cứu rỗi. Khi Ngài đến, Ngài sẽ trực tiếp cất chúng ta vào vương quốc thiên đàng, nên bất cứ ai rao giảng rằng Chúa đã đến đều là giả”. Tôi tức giận nói: “Anh nghĩ em đang phạm sai lầm rồi. Em quên những gì mục sư nói với chúng ta rồi sao? Chúng ta đã được cứu rỗi vì tin vào Chúa. Nếu Chúa đã tái lâm, thì chúng ta hẳn đã được cất lên vương quốc thiên đàng rồi. Nhưng chúng ta vẫn ở đây, không phải sao? Là người tin vào Chúa, chúng ta phải đọc Kinh Thánh và tuân giữ con đường của Chúa. Chỉ như vậy chúng ta mới có thể được đưa vào vương quốc thiên đàng khi Chúa đến”. Vợ tôi nói: “Anh đừng vội quả quyết như vậy. Hãy đọc cuốn sách này trước đã, rồi anh sẽ biết liệu Chúa đã thực sự tái lâm hay chưa”. Nhưng lúc đó, tôi đã rất đề phòng, nên không thể tiếp nhận những gì vợ mình đã nói, vì vậy cô ấy chỉ có thể mang cuốn sách đi.

Sau đó, có lần tôi về nhà lấy đồ vào giữa giờ làm việc, thì thấy vợ tôi lại đang đọc cuốn sách đó, tôi cau mày phớt lờ cô ấy và cầm lấy thứ mình cần rồi rời đi. Trên đường đi, tôi cứ nghĩ: “Tại sao vợ mình lại quá sốt sắng về chuyện này thế nhỉ? Hễ có thời gian là cô ấy lại đọc và ra ngoài rao giảng Phúc Âm”. Tôi đột nhiên nhớ đến những điều mẹ tôi nói trước kia: “‘Tia Chớp Phương Đông’ là một thế lực cần được xem xét. Các anh chị em hiểu rõ Kinh Thánh và hăng hái theo đuổi khi đọc sách của họ xong thì không thoát ra được”. Tôi nghĩ: “Vợ mình đang đọc một cuốn sách của Tia Chớp Phương Đông sao? Cô ấy có bị nó làm cho hoang mang không? Lỡ như vợ mình thực sự bị lừa gạt và đánh mất sự cứu rỗi của Chúa thì sao? Nhưng mình chưa trưởng thành trong sự sống, và không nắm rõ Kinh Thánh. Mình không biết làm sao để đưa vợ mình quay lại cả”. Sau đó, tôi đã đến nhà mục sư Trần để giúp ông ấy trang trí nhà cửa. Tôi nghĩ ông ấy đã tin vào Chúa nhiều năm, hiểu rõ Kinh Thánh và trưởng thành trong sự sống. Ông ấy sẽ có một số cách thông minh để đưa vợ tôi từ bờ vực trở về. Vì vậy, tôi nói với mục sư Trần: “Gần đây vợ con đang đọc một cuốn sách. Vợ con nói Chúa đã tái lâm và đang tích cực rao giảng Phúc Âm. Cô ấy đã thay đổi rất nhiều. Cha biết rằng trước kia, đức tin của vợ con nơi Chúa rất kém, và cô ấy không đọc Kinh Thánh nhiều. Con không biết tại sao giờ cô ấy lại theo đuổi mãnh liệt như thế”. Nghe thấy vậy, ông ấy nghiêm nghị nói: “Vợ anh đang gặp nguy hiểm! Lúc này, trong thế giới tôn giáo, chỉ có Tia Chớp Phương Đông là làm chứng Chúa tái lâm, và họ là những người duy nhất không đọc Kinh Thánh. Vợ anh có thể đã tiếp nhận Tia Chớp Phương Đông. Nếu tin vào Tia Chớp Phương Đông, cô ấy sẽ đánh mất sự cứu rỗi của Chúa, và sẽ không có chỗ cho cô ấy trong vương quốc thiên đàng. Con phải nhanh chóng làm gì đó để đưa vợ con trở về”. Nghe vậy khiến tôi rất sợ. Tôi lo niềm tin sai lầm của vợ sẽ khiến Chúa bỏ rơi cô ấy, và cô ấy sẽ rơi vào thảm họa. Tôi đã hỏi mục sư Trần mình nên làm gì. Ông ấy suy nghĩ một hồi rồi nói: “Tôi là một mục sư, tôi biết rõ Kinh Thánh hơn anh. Tối nay, hãy lấy trộm cuốn sách mà vợ anh đang đọc, và tôi sẽ xem xét nó giúp anh. Nhưng đừng để vợ anh biết”. Lúc đó, tôi nghĩ tốt hơn là để mục sư giúp tôi phân tích nó. Bằng cách đó, tôi sẽ biết trong đó viết gì, và có thể có được chút khả năng nhận định. Nếu đức tin của vợ tôi là sai, chúng tôi có thể thuyết phục cô ấy quay đầu kịp thời. Tối hôm đó, Tôi bí mật mang Cuốn Kỳ Thư Mà Chiên Con Đã Mở đến nhà mục sư Trần. Mục sư Trần cầm lấy cuốn sách, lật xem một cách ngẫu nhiên, rồi đập mạnh nó xuống bàn. Nhìn chằm chằm vào bìa sách, ông ấy khinh miệt nói: “Chính xác, đây là sách của Tia Chớp Phương Đông. Tôi chắc chắn vợ anh tin vào Tia Chớp Phương Đông. Lời giảng của họ rất trác tuyệt, và hầu hết mọi người đều không thể bác bỏ nó. Một số người mưu cầu hăng hái và hiểu rõ Kinh Thánh hoàn toàn bỏ đọc Kinh Thánh sau khi đọc sách của họ. Nếu họ không đọc Kinh Thánh, họ vẫn là người tin vào Chúa sao? Vợ anh đã bị Tia Chớp Phương Đông lừa gạt rồi. Nếu không quay đầu, cô ấy sẽ đánh mất phước lành của vương quốc thiên đàng”. Tôi đã hơi bối rối khi nghe ông ấy nói: “Những người không hiểu rõ Kinh Thánh thiếu khả năng nhận định, nên việc họ bị lừa là điều bình thường, nhưng nếu những người đã là lãnh đạo nhiều năm và biết rõ Kinh Thánh mà tin vào Tia Chớp Phương Đông, thì chẳng lẽ lại có gì đó bí ẩn trong cuốn sách này sao? Nếu không, tại sao những người biết rõ Kinh Thánh lại bị nó thu hút như thế và cuối cùng là tin vào Tia Chớp Phương Đông? Tôi cũng không hiểu nữa”. Vậy nên, tôi nói với mục sư: “Cha hiểu nhiều về Kinh Thánh. Cha hãy xem nội dung của cuốn sách và nói cho con biết nó viết cái gì. Con nên làm gì để thuyết phục vợ con quay về?”. Tôi đã rất ngạc nhiên khi mục sư Trần nghiêm nghị nói: “Tôi là một mục sư, tôi đã trưởng thành trong sự sống, nên không cần phải đọc cuốn sách này. Chúng ta được cứu rỗi vì tin vào Chúa, và chúng ta chỉ cần dợi Ngài đưa chúng ta vào vương quốc của Đức Chúa Trời. Nếu vợ anh rao giảng Tia Chớp Phương Đông với anh, thì đừng có tin. Tia Chớp Phương Đông chỉ là một trò lừa gạt để lấy tiền thôi. Về vấn đề này, điều duy nhất anh có thể làm là đừng có đưa nhiều tiền cho vợ anh. Đem gửi hết tiền đi, đừng để vợ anh biết mật khẩu truy cập, và hãy để mắt đến từng hành động của cô ấy”. Lúc đó, tôi cảm thấy mục sư hiểu biết hơn tôi, và làm vậy là để bảo vệ tôi, nên tôi đã quyết định làm theo lời ông ấy. Khi trở về nhà, tôi tưởng vợ tôi chưa về, nên đã cẩn thận đặt cuốn sách vào chỗ cũ, nhưng tôi chưa kịp cất đi thì vợ tôi đã từ phòng khác đi ra. Tôi rất ngạc nhiên và vợ tôi lo lắng hỏi tôi: “Anh lấy sách của em à?”. Tôi sợ vợ phát hiện mình đã lấy trộm nó, nên đã nói dối cô ấy rằng: “Anh đâu có lấy. Em luôn để đồ lung tung. Để anh giúp em tìm nó nhé”. Sau đó, tôi lục tung trong phòng, và cuối cùng lấy ra cuốn sách đưa cho cô ấy, tôi nói: “Nó đây nè. Em luôn để đồ nằm lung tung. Thực sự là em nên để đồ cho đúng chỗ”. Vợ tôi cứ nhìn tôi chằm chằm, và tôi cảm thấy mặt mình đỏ bừng vì cảm giác tội lỗi bao trùm lấy trái tim tôi. May thay, vợ tôi không hỏi thêm gì nữa. Cô ấy chỉ cầm lấy cuốn sách rồi bỏ đi. Lúc đó, tôi nhớ Đức Chúa Jêsus đã yêu cầu chúng ta hãy làm người trung thực. “Ngươi phải nói rằng: phải, phải; không, không(Ma-thi-ơ 5:37). Nhưng tôi đã làm gì vậy chứ? Tôi đã làm trái lời dạy của Chúa, trái với lương âm của mình, và đã hành động như một tên trộm. Nhưng tôi đã tự an ủi mình bằng cách tự nhủ rằng mình làm vậy là để bảo vệ cô ấy.

Ngày hôm sau, tôi đến ngân hàng, thay đổi mã PIN tất cả các thẻ và sổ ngân hàng, và gửi hết tiền chúng tôi còn dư, chỉ để lại đủ ăn. Nào ngờ, sau khi phát hiện, vợ tôi chẳng nói gì cả. Ngoài việc đọc sách, cô ấy làm hết mọi việc nhà như thường lệ, và đối xử dịu dàng với tôi như trước giờ luôn như thế. Nhưng tôi lại cảm thấy xấu hổ và bất an. Tôi đã tin vào Chúa rất nhiều năm, nhưng vẫn đối xử với vợ mình theo cách đáng khinh như thế. Đây không phải là cách mà một Cơ đốc nhân nên hành xử. Tôi nhận ra vợ mình đã thay đổi rất nhiều từ khi chăm chú đọc cuốn sách đó. Tôi đã đối xử với cô ấy như thế mà cô ấy thậm chí còn chẳng tức giận. Lẽ nào những lời trong cuốn sách đó đã thay đổi cô ấy? Tôi có đang mắc sai lầm không? Có thể nào Tia Chớp Phương Đông mà vợ tôi tin thực sự là sự tái lâm của Đức Chúa Jêsus? Tôi biết mình phải tìm hiểu rõ mọi chuyện.

Một ngày nọ, trong bữa tối, vợ tôi đã khuyến khích tôi đọc sách lần nữa, và nói: “Anh nói chúng ta được cứu rỗi vì tin vào Chúa, và Ngài sẽ đưa chúng ta vào vương quốc thiên đàng khi Ngài đến. Nhưng hãy nhìn mẹ và chị dâu cũng như chính chúng ta đi, chúng ta đã tin vào Chúa nhiều năm, nhưng ban ngày chúng ta vẫn luôn phạm tội và ban đêm lại thú tội. Chúng ta không thể thoát khỏi sự ràng buộc của tội lỗi. Thánh Thư nói rằng nếu không thánh khiết, chúng ta không thể thấy được Chúa. Đức Chúa Trời rất thánh khiết, nên nếu vẫn phạm tội quá thường xuyên, thì làm sao chúng ta có đủ tư cách bước vào vương quốc thiên đàng? Giờ đây, Đức Chúa Jêsus đã tái lâm. Ngài bày tỏ lẽ thật và thực hiện công tác phán xét khởi từ nhà Đức Chúa Trời để làm tinh sạch triệt để tội lỗi của con người và đưa chúng ta vào vương quốc của Ngài. Để bước vào vương quốc thiên đàng, chúng ta phải tiếp nhận công tác của Đức Chúa Trời Toàn Năng trong thời kỳ sau rốt”. Tôi thấy những điều vợ tôi nói cũng có lý. Chúng ta vẫn sống trong tình trạng ban ngày thì phạm tội, còn ban đêm thì thú tội, và chúng ta vẫn không thể thoát khỏi sự ràng buộc của tội lỗi. Chúa rất thánh khiết, vì vậy thật khó để nói những người nhơ bẩn và bại hoại như chúng ta có thể vào vương quốc thiên đàng hay không. Khi nhận ra điều này, tôi gật đầu đồng tình. Vợ tôi thấy tôi không phản kháng, nên đã vui vẻ nói, ngày hôm sau, sẽ có hai người chị em đến nói chuyện với tôi về sự tái lâm của Chúa. Tôi đã đồng ý nghe họ nói. Nhưng tôi biết mình có hiểu biết ít ỏi về Kinh Thánh, nên tôi muốn mục sư Trần cùng đến để giúp tôi hiểu và tranh cãi với họ. Như vậy, tôi có thể có được khả năng nhận định và xét xem lời của ai là phù hợp với Kinh Thánh nhất. Vì vậy, tôi đã nói với mục sư Trần về việc này.

Ngày hôm sau, sau bữa tôi, mọi người đã đến. Một trong hai người chị em thông công: “Chú đã tái lâm, Ngài bày tỏ lẽ thật và thực hiện công tác phán xét và làm tinh sạch con người…”. Chị ấy chưa nói xong thì mục sư Trần đã hét lớn: “Dựa vào đâu mà chị lại nói Chúa đã tái lâm? Tội lỗi của chúng ta đã được tha thứ nhờ tin vào Đức Chúa Jêsus. Chúng ta đã được ân điển cứu rỗi. Chúng ta không cần công tác phán xét. Chị không hiểu tí gì về Kinh Thánh cả!”. Người chị em kia nói với mục sư: “Người anh em, chúng ta không thể đạt được lẽ thật bằng cách cãi nhau về chuyện này. Chúa thực sự đã tái lâm, và nếu anh đọc lẽ thật mà Chúa bày tỏ, anh sẽ biết liệu Ngài có trở lại thật hay không”. Mục sư Trần mất kiên nhẫn nói: “Tại sao tôi phải đọc chứ? Chúa chưa tái lâm. Các người không hiểu gì về Kinh Thánh, vậy tại sao lại rao giảng Phúc Âm? Tôi hiểu rõ về Kinh Thánh hơn các chị, nên tôi sẽ không đọc cái này”. Hai người chị em đó đã dùng Kinh Thánh để nói chuyện về công tác của Đức Chúa Trời trong thời kỳ sau rốt, nhưng mục sư Trần lại không hề lắng nghe, và ông ta cứ liên tục ngắt lời họ, không cho họ nói, cho đến khi hai người chị em đó không còn lựa chọn nào khác ngoài rời đi. Sau đó ông ta nói với vợ tôi: “Đừng nghe lời họ. Cô không hiểu Kinh Thánh, nên đừng để bị lừa, và sau này hãy đọc Kinh Thánh nhiều hơn”. Và như thế, chỉ trong chưa đầy mười lăm phút, tất cả họ đều đã bỏ về. Tôi đã rất thất vọng. Là mục sư của một hội thánh, nếu ai đó làm chứng rằng Chúa đã tái lâm, thì ông ta nên tìm kiếm, tìm hiểu, và tranh luận với những người từ Hội thánh Đức Chúa Trời Toàn Năng. Nếu quả thực Chúa đã tái lâm, chúng ta nên cùng nhau tiếp nhận, và nếu không phải, thì chúng ta sẽ có được chút khả năng nhận định. Như vậy mới tốt cho mọi người. Tại sao mục sư Trần lại ngạo mạn như vậy? Nếu thực sự hiểu Kinh Thánh, thì ông ta nên thảo luận đàng hoàng với họ. Tôi nghĩ tối hôm đó, mình đã hiểu được đôi điều. Tôi rất ngạc nhiên khi phát hiện mình đã sai, và không hài lòng với cách xử lý của mục sư Trần. Nhưng mối thông công của ông ta dựa trên Kinh Thánh, và hai người chị em đó đã không thông công về bất cứ điều gì nằm ngoài Kinh Thánh. Cả hai người họ đều có nền tảng Kinh Thánh, vậy sao sự giải thích và hiểu biết của họ lại quá khác nhau như vậy? Tôi đã rất bối rối.

Sau đó, vợ chồng tôi về quê, và mục sư Lưu cùng đồng sự Lương từ hội thánh địa phương đã đến nhà chúng tôi để thuyết phục vợ tôi đừng tin vào Tia Chớp Phương Đông nữa. Khi họ thấy vợ tôi không nghe, đồng sự Lương tức giận chỉ vào vợ tôi và mắng mỏ cô ấy, nói nhiều câu lên án Tia Chớp Phương Đông để đe dọa cô ấy. Tôi nghĩ: “Ông ta như thế mà vẫn là người tin vào Chúa sao? Vợ tôi chỉ tin vào Tia Chớp Phương Đông thôi mà. Ông nên giúp đỡ và hỗ trợ cô ấy bằng tình yêu thương như Chúa đã dạy, chứ không phải chỉ tay vào mặt cô ấy”. Tôi đã rất tức giận, và muốn cãi lý với ông ta. nhưng đúng lúc đó, mục sư Lưu lôi tôi ra cửa và nói: “Anh phải thuyết phục vợ anh. Cô ta tin vào Tia Chớp Phương Đông chưa lâu, nên hãy bảo cô ta thú tội với Chúa và ăn năn đi, nếu cô ta không nghe, nếu cần thiết, anh có thể gọi cho cảnh sát”. Lúc đó, tôi cảm thấy mục sư Lưu đã sai khi nói như vậy, nhưng tôi cũng cảm thấy chẳng còn cách nào khác để ngăn cản cô ấy. Sau khi họ bỏ đi, vợ tôi nói với tôi: “Khi tin vào Chúa, em đã thụ động và yếu đuối, đức tin của em đã nguội lạnh, nhưng không mục sư hay trưởng lão nào đến để giúp đỡ hay hỗ trợ em. Giờ em đã nghênh tiếp Chúa, và anh có thể thấy họ đã sốt sắng như thế nào. Rõ ràng là họ không hề quan tâm đến cuộc sống của em. Họ chỉ muốn kéo em vào tôn giáo để em tiếp tục dâng của lễ cho họ, và khi không làm được, thì họ quay ngoắt thái độ. Họ chỉ tay vào mặt em, mắng nhiếc em, và nói những lời báng bổ. Điều này có phù hợp với lời dạy của Chúa không? Họ có hành xử giống những người tin Chúa không? Anh cần phải có khả năng nhận định về họ và không mù quáng lắng nghe những gì họ nói. Những người tin vào đạo Do Thái đã mù quáng đi theo những người Pha-ri-si lên án Đức Chúa Jêsus, và cuối cùng, họ đã đóng đinh Chúa cũng như xúc phạm tâm tính Đức Chúa Trời”. Sau khi nghe vợ nói, tôi nhớ lại việc mục sư Lưu nói ông ta đến để đưa vợ tôi trở về, nhưng ông ta lại không nói được một lời nào thể hiện tình yêu thương và sự hỗ trợ. Những gì họ nói chỉ là hăm dọa, đe dọa và lên án. Họ cũng bảo tôi gọi cảnh sát để bắt vợ tôi. Đây mà là điều những người tin vào Chúa nói ư? Chẳng phải đó chỉ là đang đẩy vợ tôi xuống hố sao? Tôi đã rất tức giận, và sau đó, tôi không dám tin vào các mục sư nữa.

Sau sự việc đó, vợ tôi vẫn thường thuyết phục tôi đọc lời Đức Chúa Trời Toàn Năng. Tôi đã rất tò mò. Tôi muốn xem nội dung cuốn sách này là gì mà lại khiến đức tin của vợ tôi vững vàng như vậy, và khiến cô ấy quyết tâm thuyết phục tôi đọc nó. Nhưng tôi không muốn vợ biết thái độ của mình, vì tôi quá xấu hổ nên không dám nói với cô ấy. Một ngày nọ, khi vợ không có ở nhà, tôi đã lấy cuốn sách của cô ấy ra đọc. Tôi mở chương đầu tiên và đọc tựa đề: “Lời tựa”. Đây là đoạn tôi đọc được trong sách: “Dù nhiều người tin vào Đức Chúa Trời, nhưng ít ai hiểu đức tin nơi Đức Chúa Trời nghĩa là gì, và họ phải làm gì để phù hợp với ý muốn của Đức Chúa Trời. Đó là vì dù con người quen với từ ‘Đức Chúa Trời’ và những cụm từ như ‘công tác của Đức Chúa Trời’, nhưng họ lại không biết về Đức Chúa Trời, và càng không biết về công tác của Ngài. Thế nên, không lạ gì khi tất cả những ai không biết về Đức Chúa Trời đều mơ hồ trong niềm tin vào Ngài. Con người không xem trọng niềm tin vào Đức Chúa Trời, và điều này hoàn toàn là vì việc tin vào Đức Chúa Trời quá lạ lẫm, quá xa lạ đối với họ. Theo cách này, họ không đáp ứng được các yêu cầu của Đức Chúa Trời. Nói cách khác, nếu con người không biết về Đức Chúa Trời, và không biết về công tác của Ngài, thì họ không phù hợp để được Đức Chúa Trời sử dụng, và càng không thể đáp ứng ý muốn của Ngài. ‘Niềm tin nơi Đức Chúa Trời’ nghĩa là tin rằng có một Đức Chúa Trời; đây là khái niệm đơn giản nhất về việc tin vào Đức Chúa Trời. Hơn nữa, tin rằng có một Đức Chúa Trời không giống với thực sự tin vào Đức Chúa Trời; đúng hơn, đó chỉ là một loại đức tin đơn giản mang đậm màu sắc tôn giáo. Đức tin thực sự nơi Đức Chúa Trời nghĩa là như sau: Trên cơ sở niềm tin rằng Đức Chúa Trời nắm quyền tối thượng trên vạn vật, một người trải nghiệm lời Ngài và công tác của Ngài, gột sạch tâm tính bại hoại của mình, thỏa mãn ý muốn của Đức Chúa Trời, và đi đến hiểu biết về Đức Chúa Trời. Chỉ có hành trình kiểu này mới có thể được gọi là ‘đức tin nơi Đức Chúa Trời’(Lời, Quyển 1 – Công tác của Đức Chúa Trời và hiểu biết về Đức Chúa Trời). Khi đọc đến đây, tôi cảm thấy không con người nào có thể nói được những lời như thế. Trong đức tin nơi Đức Chúa Trời, ngoài việc tin rằng vạn vật là do Đức Chúa Trời tạo dựng, chúng ta phải trải nghiệm công tác và lời của Đức Chúa Trời, loại bỏ tâm tính bại hoại và bắt đầu biết Đức Chúa Trời. Những lời này đã nói rõ đức tin nơi Đức Chúa Trời là gì. Trong những năm tin vào Chúa, tôi chỉ biết mình phải đọc Kinh Thánh, cầu nguyện và nghe giảng. Tôi tin bất cứ gì các mục sư nói, và họ nói gì tôi cũng nghe. Đó mà là đức tin nơi Đức Chúa Trời sao? Đó là tin vào các mục sư! Càng đọc những lời này, lòng tôi càng sáng tỏ hơn, và càng muốn đọc nhiều hơn. Bất cứ lúc nào không có vợ ở nhà là tôi đều âm thầm lấy cuốn sách đó ra đọc.

Một ngày nọ, tôi đọc được đoạn này trong lời Đức Chúa Trời Toàn Năng: “Có những người đọc Kinh Thánh trong những hội thánh lớn và nghêu ngao nó suốt cả ngày, nhưng không ai trong số họ hiểu được mục đích công tác của Đức Chúa Trời. Không ai trong số họ có thể biết Đức Chúa Trời; càng không ai trong số họ có thể phù hợp với ý muốn của Đức Chúa Trời. Họ đều là những người vô giá trị, hèn hạ, từng người một đứng trên cao để dạy bảo Đức Chúa Trời. Họ cố ý chống đối Đức Chúa Trời ngay cả khi họ mang cờ xí của Ngài. Trong khi họ tuyên xưng đức tin ở nơi Đức Chúa Trời, họ vẫn ăn thịt và uống huyết của con người. Tất cả những kẻ như thế là những con quỷ nuốt linh hồn của con người, những con quỷ vương cố tình cản đường những ai đang cố gắng bước trên con đường đúng, và là những chướng ngại vật cản trở những ai tìm kiếm Đức Chúa Trời. Họ có thể ra vẻ có ‘thể chất tốt’, nhưng làm sao những người đi theo họ biết rằng họ không ai khác hơn là những kẻ địch lại Đấng Christ, là những người dẫn dắt con người chống lại Đức Chúa Trời? Làm sao những người đi theo họ biết rằng họ là những con quỷ sống hết mình trong việc nuốt những linh hồn của con người?(Tất cả những ai không biết Đức Chúa Trời đều là những người chống đối Đức Chúa Trời, Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). Sau khi đọc những lời này, tôi lập tức nghĩ đến các mục sư và trưởng lão. Họ biết rõ Kinh Thánh, bề ngoài thì khiên nhường, kiên nhẫn, tỏ ra yêu thương, và thường bảo chúng tôi trông chừng, chờ đợi sự đến của Chúa, nhưng khi có ai đó thực sự làm chứng cho sự tái lâm của Chúa, thì họ lại không hề muốn tìm kiếm và tìm hiểu. Mục sư Trần bảo tôi lấy trộm cuốn sách, nói rằng muốn kiểm tra nó giúp tôi, nên về lý mà nói ông ta nên đọc nội dung của nó, nhưng ông ta thậm chí còn chẳng thèm nhìn mà lập tức lên án vợ tôi đã phạm sai lầm. Đồng sự Lương đã la mắng vợ tôi, và hăm dọa, đe dọa cô ấy bằng những lời lên án, mục sư Lưu còn bảo tôi gọi cảnh sát, phản bội vợ tôi và giao nộp cô ấy. Người tin vào Đức Chúa Trời mà có thể làm những việc như thế sao? Nếu Đức Chúa Trời Toàn Năng thực sự là Đức Chúa Jêsus đến lần thứ hai, mà các mục sư, thay vì dẫn dắt chúng ta tìm kiếm và tìm hiểu, lại cố gắng hết sức để ngăn cản chúng ta, thậm chí còn muốn tôi gọi cảnh sát bắt vợ tôi, thì chẳng phải họ đúng như những lời này mô tả, là các trở ngại và chướng ngại vật ngăn chúng ta tìm hiểu con đường thật hay sao? Chẳng phải họ chỉ là những kẻ chống đối Đức Chúa Trời dưới danh nghĩa tin vào Ngài sao? Tôi nhớ đến việc, khi Đức Chúa Jêsus đến công tác, những người Pha-ri-si cũng không tìm kiếm hay tìm hiểu, mà lại cố hết sức để chống đối và lên án Ngài, và cuối cùng, Chúa đã bị đóng đinh trên thập giá. Nếu Đức Chúa Trời Toàn Năng thực sự là sự tái lâm của Đức Chúa Jêsus, thì các mục sư đang làm điều mà những người Pha-ri-si đã làm vào thời của họ. Tôi thấy có vẻ các mục sư và trưởng lão có thể là những người chống đối Chúa. Lúc đó, tôi nghĩ: “Mình không thể nghe lời các mục sư được nữa. Mình cần cẩn thận tìm hiểu công tác của Đức Chúa Trời Toàn Năng đẻ xem liệu Ngài có phải là Chúa tái lâm không”.

Sau đó, vợ tôi đã mời anh Chu từ Hội thánh Đức Chúa Trời Toàn Năng đến thông công với tôi. Tôi đã hỏi anh ấy: “Kinh Thánh nói: ‘Vì tin bởi trong lòng mà được sự công bình, còn bởi miệng làm chứng mà được sự cứu rỗi’ (Rô-ma 10:10). Chúng ta tin vào Chúa và đã được cứu rỗi, tại sao chúng ta vẫn cần Đức Chúa Trời thực hiện một giai đoạn công tác phán xét?”. Anh Chu thông công: “Được cứu rỗi nhờ tin vào Đức Chúa Jêsus nghĩa là gì? Thực ra, ‘sự cứu rỗi’ là để chỉ những người tin vào Đức Chúa Jêsus, cầu nguyện với Chúa và thú tội. Tội lỗi của chúng ta được tha thứ, chúng ta không bị luật pháp lên án, và được hưởng sự bình an, niềm vui, ân điển dồi dào mà Chúa ban. Ý nghĩa của chữ ‘được cứu rỗi’ trong Thời đại Ân điển là thế. Nhưng bản tính tội lỗi của chúng ta vẫn tồn tại bên trong chúng ta, và chúng ta vẫn chưa loại bỏ được tội lỗi. Đức Chúa Trời rất thánh khiết, vương quốc của Ngài là một nơi thánh khiết, và Đức Chúa Trời không thể đưa những người vẫn có thể phạm tội và chống đối Ngài vào vương quốc của Ngài. Vì vậy, trong thời kỳ sau rốt, Đức Chúa Trời thực hiện giai đoạn công tác phán xét để làm tinh sạch hoàn toàn con người. Bằng cách này, con người có đủ tiêu chuẩn để bước vào vương quốc của Ngài”. Anh Chu cũng nói công tác của Đức Chúa Trời trong thời kỳ sau rốt đã được tiên tri từ lâu trong Kinh Thánh. Đúng như Đức Chúa Jêsus đã phán: “Ta còn có nhiều chuyện nói với các ngươi nữa; nhưng bây giờ những điều đó cao quá sức các ngươi. Lúc nào Thần lẽ thật sẽ đến, thì Ngài dẫn các ngươi vào mọi lẽ thật; vì Ngài không nói tự mình, nhưng nói mọi điều mình đã nghe, và tỏ bày cho các ngươi những sự sẽ đến(Giăng 16:12-13). “Người nào bỏ ta ra và không nhận lãnh lời ta, đã có kẻ xét đoán rồi; lời ta đã rao giảng, chính lời đó sẽ xét đoán họ nơi ngày sau cùng(Giăng 12:48). Và Phi-e-rơ 4:17 nói: “Vì thời kỳ đã đến, là khi sự phán xét sẽ khởi từ nhà Ðức Chúa Trời”. Anh nói: “Từ những lời này, chúng ta có thể thấy Chúa vẫn sẽ bày tỏ lẽ thật khi Ngài tái lâm trong thời kỳ sau rốt, cũng như thực hiện công tác phán xét và làm tinh sạch con người, và sự phán xét sẽ khởi từ nhà Đức Chúa Trời. Công tác của Đức Chúa Trời Toàn Năng đã ứng nghiệm những lời tiên tri này”. Sau đó, anh Chu đã cho tôi xem một đoạn phim đọc lời Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời Toàn Năng phán: “Một tội nhân như các ngươi, người vừa mới được cứu chuộc, và chưa được thay đổi hoặc được Đức Chúa Trời hoàn thiện, ngươi có thể hợp lòng Đức Chúa Trời sao? Đối với ngươi, ngươi vẫn còn bản ngã cũ của mình, đúng là ngươi đã được Jêsus cứu rỗi, và ngươi không bị xem là một tội nhân nhờ sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời, nhưng điều này không chứng minh rằng ngươi vô tội và không ô uế. Làm sao ngươi có thể nên thánh nếu ngươi chưa được thay đổi? Bên trong, ngươi bị bủa vây bởi sự bất khiết, ích kỷ và hèn hạ, nhưng ngươi vẫn muốn được ngự xuống với Jêsus – ngươi chẳng thể may mắn vậy được! Ngươi đã bỏ qua một bước trong niềm tin của mình vào Đức Chúa Trời: Ngươi chỉ đơn thuần đã được cứu chuộc, nhưng ngươi vẫn chưa được thay đổi. Để ngươi hợp lòng Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời phải đích thân thực hiện công tác thay đổi và làm cho ngươi thanh sạch; nếu không thì ngươi, kẻ chỉ được cứu chuộc, sẽ không có khả năng đạt được sự nên thánh. Theo cách này, ngươi sẽ không đủ tư cách để dự phần trong những phước lành của Đức Chúa Trời, vì ngươi đã bỏ qua một bước trong công tác quản lý con người của Đức Chúa Trời, là bước then chốt để thay đổi và hoàn thiện. Và vì vậy, ngươi, một tội nhân vừa được cứu chuộc, không có khả năng trực tiếp thừa hưởng cơ nghiệp của Đức Chúa Trời(Xét về danh xưng và thân phận, Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). “Con người đã chỉ được cứu rỗi và được tha tội nhờ đức tin của mình, nhưng bản tính tội lỗi của con người đã không bị tiệt trừ mà vẫn còn trong họ. Những tội lỗi của con người đã được tha thứ thông qua Đức Chúa Trời nhập thể, nhưng điều này không có nghĩa là con người không còn tội lỗi trong mình nữa. Những tội lỗi của con người có thể được tha thứ thông qua của lễ chuộc tội, nhưng về việc làm sao con người có thể được làm cho không còn phạm tội nữa, và làm sao bản tính tội lỗi của họ có thể bị tiệt trừ hoàn toàn và được chuyển hóa, thì họ không có cách nào giải quyết được vấn đề này. Những tội lỗi của con người đã được tha thứ, và điều này là nhờ công tác chịu đóng đinh của Đức Chúa Trời, nhưng con người vẫn tiếp tục sống trong tâm tính Sa-tan bại hoại như cũ. Như vậy, con người phải được cứu rỗi hoàn toàn khỏi tâm tính Sa-tan bại hoại của mình, hầu cho bản tính tội lỗi của họ có thể bị tiệt trừ hoàn toàn, không bao giờ phát triển trở lại, theo đó cho phép tâm tính của con người được chuyển hóa. Điều này sẽ đòi hỏi con người phải nắm bắt được con đường phát triển trong sự sống, nắm bắt được con đường sự sống, và nắm bắt được cách thay đổi tâm tính của mình. Hơn nữa, nó sẽ đòi hỏi con người phải hành động theo con đường này, hầu cho tâm tính của họ có thể dần dần được thay đổi và họ có thể sống dưới sự chiếu soi của sự sáng, hầu cho mọi điều họ làm đều có thể phù hợp với ý muốn của Đức Chúa Trời, hầu cho họ có thể vứt bỏ tâm tính Sa-tan bại hoại của mình, và hầu cho họ có thể thoát khỏi ảnh hưởng bóng tối của Sa-tan, từ đó hoàn toàn thoát khỏi tội lỗi. Chỉ khi đó con người mới nhận lãnh được sự cứu rỗi hoàn toàn(Lẽ mầu nhiệm của sự nhập thể (4), Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). “Mặc dù Jêsus đã làm nhiều công tác giữa con người, nhưng Ngài chỉ hoàn thành việc cứu chuộc toàn thể nhân loại và trở thành của lễ chuộc tội cho con người; Ngài vẫn chưa loại bỏ khỏi con người tất cả những tâm tính bại hoại của họ. Để hoàn toàn cứu rỗi con người khỏi ảnh hưởng của Sa-tan, không chỉ cần Jêsus trở thành của lễ chuộc tội và gánh lấy những tội lỗi của con người, mà còn cần Đức Chúa Trời làm công tác vĩ đại hơn nữa để hoàn toàn loại bỏ khỏi con người tâm tính Sa-tan bại hoại của họ. Và vì thế, khi con người đã được tha thứ tội lỗi, Đức Chúa Trời đã trở lại xác thịt để dẫn dắt con người vào thời đại mới, và bắt đầu công tác của hình phạt và sự phán xét. Công tác này đã đưa con người vào một cõi cao hơn. Tất cả những ai quy phục dưới sự thống trị của Ngài sẽ được hưởng lẽ thật cao hơn và nhận lãnh những phước lành lớn hơn. Họ sẽ thực sự sống trong sự sáng, và họ sẽ đạt được lẽ thật, đường đi, và sự sống(Lời tựa, Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). Anh Chu thông công: “Lời Đức Chúa Trời Toàn Năng rất rõ ràng. Đức Chúa Jêsus chỉ làm công tác cứu chuộc. Ngài chưa cứu rỗi triệt để con người khỏi tội lỗi. Dù chúng ta tin vào Chúa và tội lỗi của chúng ta được tha thứ, nhưng bản tính tội lỗi của chúng ta vẫn tồn tại trong chúng ta, và chúng ta không thể thoát khỏi sự ràng buộc của tội lỗi. Trong những năm tin vào Chúa, chúng ta thường nói dối và lừa gạt, chúng ta cũng ngạo mạn, tự cho mình là quan trọng, đố kỵ và sẵn sàng đấu đá. Việc chúng ta từ bỏ và dâng mình cho Chúa đều là để đổi chác với Đức Chúa Trời, đổi lấy phước lành của Đức Chúa Trời, và khi đối mặt với thử luyện, hoạn nạn, chúng ta vẫn chống đối, phán xét hoặc thậm chí còn phản bội Chúa. Vân vân. Đối với những người như chúng ta, thường sống trong tội lỗi, chống đối và phán xét Đức Chúa Trời, làm sao chúng ta có thể đủ điều kiện để bước vào vương quốc của Đức Chúa Trời? Trong thời kỳ sau rốt, dựa trên kế hoạch quản lý để cứu rỗi nhân loại của Đức Chúa Trời, nhu cầu của loài người bại hoại, và công tác cứu chuộc của Đức Chúa Jêsus, Đức Chúa Trời Toàn Năng bày tỏ lẽ thật và thực hiện công tác phán xét để làm tinh sạch và thay đổi hoàn toàn con người, cứu rỗi con người khỏi tội lỗi, và đưa họ vào vương quốc thiên đàng. Nếu chúng ta chỉ tiếp nhận công tác cứu chuộc của Đức Chúa Jêsus, thì tâm tính tội lỗi của chúng ta không thể thay đổi được, chúng ta sẽ mãi sống trong tội lỗi, làm nô lệ cho tội lỗi, và không đủ điều kiện vào vương quốc thiên đàng. Đó là lý do chúng ta phải tiếp nhận công tác phán xét và hành phạt của Đức Chúa Trời Toàn Năng, hiểu được con đường dẫn đến sự thay đổi tâm tính, loại bỏ các tâm tính bại hoại, trở thành người vâng phục và kính sợ Đức Chúa Trời. Chỉ như vậy chúng ta mới có thể thực sự được Đức Chúa Trời cứu rỗi”.

Sau khi nghe anh ấy thông công, lòng tôi bừng sáng. Được cứu rỗi chỉ là sự tha thứ cho tội lỗi, chứ không có nghĩa chúng ta có thể vào vương quốc thiên đàng. Tôi đã theo đạo hơn mười năm, và thường cầu nguyện, thú tội, xin Đức Chúa Trời tha thứ, nhưng tâm tính bại hoại của tôi không hề thay đổi. Ngoài ra, mục sư Trần, mục sư Lưu và những người khác, sau nhiều năm tin Chúa, nhưng khi đối mặt với tin tức Chúa tái lâm, họ không hề tìm kiếm hay tìm hiểu, mà còn ngăn cản các tín hữu khác tìm hiểu con đường thật, thậm chí chống đối và lên án nó. Họ còn khuyến khích tôi báo cảnh sát bắt vợ tôi. Làm sao những người vẫn phạm tội và chống đối Đức Chúa Trời có thể vào vương quốc thiên đàng được? Nghĩ vậy, tôi nói với anh Chu: “Chúng ta vẫn chưa loại bỏ được tội lỗi của mình, vì vậy chúng ta thực sự cần phải tiếp nhận công tác phán xét của Đức Chúa Trời Toàn Năng”. Tiếp theo, tôi hỏi anh ấy Đức Chúa Trời Toàn Năng thực hiện công tác phán xét như thế nào, và anh ấy đã đọc cho tôi nghe một đoạn lời nữa của Đức Chúa Trời Toàn Năng: Đức Chúa Trời Toàn Năng phán: “Đấng Christ của thời kỳ sau rốt dùng nhiều lẽ thật khác nhau để dạy dỗ con người, để phơi bày bản chất của con người, và để mổ xẻ những lời nói và hành động của con người. Những lời này bao gồm nhiều phương diện của lẽ thật, chẳng hạn như bổn phận của con người, con người nên vâng lời Đức Chúa Trời như thế nào, con người nên trung thành với Đức Chúa Trời ra sao, con người phải sống trọn nhân tính bình thường, cũng như sự khôn ngoan và tâm tính của Đức Chúa Trời như thế nào, v.v. Tất cả những lời này đều nhắm vào bản chất của con người và tâm tính bại hoại của họ. Cụ thể, những lời vạch trần cách con người hắt hủi Đức Chúa Trời, được phán ra liên quan đến việc con người là hiện thân của Sa-tan và là một thế lực thù địch chống lại Đức Chúa Trời như thế nào. Trong quá trình thực hiện công tác phán xét của mình, Đức Chúa Trời không chỉ đơn giản làm rõ bản tính của con người bằng một vài lời; Ngài phơi bày, xử lý và tỉa sửa qua thời gian dài. Tất cả những phương pháp phơi bày, xử lý và tỉa sửa khác nhau này không thể được thay thế bằng những lời thông thường, mà phải bằng lẽ thật con người tuyệt đối không bao giờ có. Chỉ có những phương pháp như thế này mới có thể được gọi là sự phán xét; chỉ thông qua kiểu phán xét này thì con người mới có thể bị khuất phục và hoàn toàn bị thuyết phục về Đức Chúa Trời, và hơn nữa mới có được kiến thức thực sự về Đức Chúa Trời. Điều mà công tác phán xét mang lại là sự hiểu biết của con người về diện mạo thật của Đức Chúa Trời và sự thật về sự phản nghịch của chính mình. Công tác phán xét cho phép con người đạt được nhiều hiểu biết về ý muốn của Đức Chúa Trời, về mục đích công tác của Đức Chúa Trời, và về những lẽ mầu nhiệm mà họ không thể hiểu được. Nó cũng cho phép con người nhận ra và biết được thực chất bại hoại và nguồn gốc sự bại hoại của mình, cũng như khám phá ra sự xấu xa của con người. Những tác dụng này đều do công tác phán xét mang lại, vì thực chất của công tác này thực ra là công tác mở ra lẽ thật, đường đi và sự sống của Đức Chúa Trời cho tất cả những ai có đức tin vào Ngài. Công tác này là công tác phán xét được thực hiện bởi Đức Chúa Trời(Đấng Christ thực hiện công tác phán xét bằng lẽ thật, Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). Anh Chu thông công: “Đức Chúa Trời Toàn Năng đã nói rất rõ. Công tác phán xét của Đức Chúa Trời thực tế là việc Ngài mở ra lẽ thật, đường đi và sự sống của Ngài cho con người. Trong thời kỳ sau rốt, Đức Chúa Trời Toàn Năng bày tỏ mọi khía cạnh lẽ của lẽ thật, và với tâm tính oai nghi, công chính của Ngài, Ngài phán xét và vạch trần bản tính Sa-tan của con người, phân tích lời nói và việc làm của con người, và dần dần, Ngài phơi bày các quan niệm khác nhau cũng như động cơ sai trái của chúng ta khi tin vào Đức Chúa Trời, tâm tính Sa-tan ngạo mạn, dối trá và cố chấp của chúng ta, thậm chí là những suy nghĩ và tư tưởng ẩn sâu trong lòng chúng ta. Khi đọc lời Đức Chúa Trời Toàn Năng, cảm giác như Đức Chúa Trời đang trực tiếp phán xét và phơi bày chúng ta. Chúng ta bắt đầu nhận ra bản tính Sa-tan của mình, thấy được sự thật về sự bại hoại của chúng ta do Sa-tan gây ra, đạt được chút hiểu biết về tâm tính công chính không cho phép con người xúc phạm của Đức Chúa Trời, có lòng kính sợ Đức Chúa Trời, có thể căm ghét bản thân và thật lòng ăn năn, có sự ăn năn thực sự, và dần dần thay đổi tâm tính bại hoại của chúng ta”. Công tác của Đức Chúa Trời thật là thực tế! Trước kia, tôi đã tưởng tượng công tác của Đức Chúa Trời quá siêu nhiên và mơ hồ. Tôi nghĩ khi tin vào Chúa, tôi đã được cứu rỗi, và có thể bước vào vương quốc thiên đàng. Điều này hoàn toàn trái với sự thật về công tác của Đức Chúa Trời. Khi nhận ra điều này, tôi đã chắc chắn rằng Đức Chúa Trời Toàn Năng là Đức Chúa Jêsus tái lâm, và đã vui vẻ tiếp nhận công tác của Đức Chúa Trời Toàn Năng trong thời kỳ sau rốt. Tôi rất mừng vì đã không quay về với các mục sư. Nhìn lại thì, tôi thấy mình đã quá bám vào các quan niệm và tưởng tượng, không chịu nghe tiếng Chúa, nghênh tiếp Chúa, và còn ngăn cản vợ. Tôi thật quá ngu ngốc, mù quáng, và thấy vô cùng ân hận khi nghĩ về chuyện này. Nhưng tôi còn cảm tạ Đức Chúa Trời Toàn Năng nhiều hơn vì đã rủ lòng thương xót tôi và từng bước đưa tôi đến trước Ngài, để cuối cùng tôi có thể nghe được tiếng Đức Chúa Trời và nghênh tiếp Chúa.

Hồi chuông thời sau hết báo động đã vang lên, đại thảm họa đã ập xuống, bạn có muốn cùng gia đình nghênh đón được Thiên Chúa, và có cơ hội nhận được sự che chở của Thiên Chúa không?

Nội dung liên quan

Liên hệ với chúng tôi qua Messenger