Những năm tháng bị tra tấn dã man

18/01/2021

Bởi Trần Huy, Trung Quốc

Tôi lớn lên trong một gia đình bình thường ở Trung Quốc. Cha tôi phục vụ trong quân đội và vì tôi đã được nhào nặn cũng như chịu ảnh hưởng bởi ông từ khi còn nhỏ, nên tôi tin rằng thiên chức và bổn phận của một người lính là phục vụ tổ quốc, tuân theo mệnh lệnh và quên mình phục vụ nhân danh Đảng Cộng sản và dân tộc. Tôi cũng đã quyết tâm trở thành một người lính và đi theo bước chân của cha. Tuy nhiên, thời gian trôi qua, một số sự kiện xảy ra, cuộc đời và định hướng theo đuổi của tôi đã dần thay đổi. Vào năm 1983, tôi đã nghe Phúc Âm của Đức Chúa Jêsus. Chính sự dẫn dắt đặc biệt của Đức Thánh Linh đã cho phép một người như tôi, người đã bị đầu độc bởi chủ nghĩa vô thần và hệ tư tưởng Cộng sản Trung Quốc từ thuở ấu thơ, được tình yêu của Đức Chúa Jêsus cảm thúc sâu sắc. Sau khi nghe Phúc Âm, tôi đã bắt đầu một cuộc sống tin vào Đức Chúa Trời – tôi bắt đầu tham gia Hội thánh, cầu nguyện và hát những bài Thánh Ca ca ngợi Đức Chúa Trời. Cuộc sống mới này đã mang lại cho tôi sự thanh thản và bình yên tuyệt vời. Vào năm 1999, tôi đã tiếp nhận Phúc Âm của thời kỳ sau rốt về việc Đức Chúa Jêsus đã tái lâm – Đức Chúa Trời Toàn Năng. Thông qua việc không ngừng đọc lời Đức Chúa Trời, gặp gỡ và thông công với các anh chị em, tôi đã hiểu được nhiều lẽ thật và biết được ý định cấp bách về việc cứu rỗi nhân loại của Đức Chúa Trời. Tôi cảm thấy rằng Đức Chúa Trời đã ban cho mỗi chúng ta một ơn gọi và trách nhiệm lớn lao, và vì vậy tôi hăng hái lao vào thực hiện công tác truyền bá Phúc Âm.

Tuy nhiên, sự bách hại tàn khốc của chính quyền ĐCSTQ đã phá tan cuộc sống thanh bình và vui vẻ của tôi. Vào tháng 8 năm 2002, tôi cùng chồng đi về hướng Tây Bắc để truyền bá Phúc Âm cho một số đồng sự trong Chúa. Một đêm nọ, khi tôi đang gặp mặt hai anh chị em vừa mới tiếp nhận công tác của Đức Chúa Trời trong thời kỳ sau rốt, đột nhiên tôi nghe thấy một tiếng va chạm lớn và thấy cánh cửa bị đạp đổ thật mạnh, rồi sáu hay bảy tên cảnh sát trông hung ác cầm dùi cui xông vào. Một tên chỉ vào tôi hằn học nói: “Còng tay nó lại!” Hai tên cảnh sát ra lệnh cho chúng tôi đứng im sát tường, trong khi chúng bắt đầu lục lọi các thùng và tủ trong nhà như một băng cướp đột kích. Chúng cẩn thận tìm kiếm bất cứ thứ gì mà chúng nghi ngờ có thể được sử dụng để giấu đồ và ngay lập tức, chúng đã làm cho nơi đó lộn xộn hết cả lên. Cuối cùng, một trong những tên cảnh sát tìm thấy một cuốn Phúc Âm nhỏ và một cuốn sách về lời Đức Chúa Trời trong giỏ của một chị và trừng mắt nhìn tôi với ánh mắt dữ tợn rồi hét lên: “Mẹ kiếp! Mày muốn chết hay sao mà đến đây truyền bá Phúc Âm? Cái này ở đâu ra?” Tôi không trả lời và vì vậy hắn đã quát lên với tôi: “Không chịu nói hả? Bọn tao sẽ bắt mày mở miệng. Đi! Đến nơi rồi mày sẽ nói thôi!” Nói xong hắn lôi tôi ra khỏi nhà và ném tôi vào xe cảnh sát. Lúc đó, tôi nhận ra rằng chúng không chỉ cử sáu hay bảy tên cảnh sát đến – nhiều tên cảnh sát đặc nhiệm có vũ trang đang đứng dọc hai bên con đường phía bên ngoài. Khi thấy chúng đã triển khai rất nhiều nhân lực để bắt chúng tôi, tôi đã rất sợ hãi và ngay lập tức bắt đầu cầu nguyện với Đức Chúa Trời, cầu xin sự dẫn dắt và bảo vệ của Ngài. Không lâu sau, một đoạn lời của Đức Chúa Trời xuất hiện trong tâm trí tôi: “Ngươi biết rằng muôn vật trong môi trường quanh ngươi được ở đó là bởi sự cho phép của Ta, tất cả đều được Ta lên kế hoạch. Hãy nhìn cho rõ và làm thỏa lòng Ta trong môi trường mà Ta đã ban cho ngươi. Đừng lo sợ, Đức Chúa Trời Toàn Năng vạn quân chắc chắn sẽ ở bên ngươi; Ngài đứng sau các ngươi và Ngài là cái khiên của các ngươi” (“Chương 26” của Những lời của Đấng Christ buổi ban đầu trong Lời xuất hiện trong xác thịt). Tôi đã nghĩ: “Đúng rồi! Đức Chúa Trời là chỗ dựa của mình; cho dù mình có gặp phải loại tình cảnh nào, thì Đức Chúa Trời, Đấng Cai Trị và Đấng Tạo Hóa của muôn loài, vẫn luôn ở bên cạnh mình. Ngài sẽ dẫn dắt mình vượt qua mọi tình cảnh mà mình có thể gặp phải. Vì Ngài thành tín và chính Ngài cai trị và sắp đặt mọi sự”. Nghĩ đến những điều này, tôi đã lấy lại bình tĩnh.

Khoảng mười giờ tối hôm đó tôi đã được đưa đến Đội Cảnh sát Hình sự. Chúng chụp hình và sau đó dẫn tôi vào một phòng thẩm vấn. Thật ngạc nhiên là ở đó đã có bốn, năm tên côn đồ trông rất hung tợn nhìn tôi chằm chằm khi tôi bước vào. Ngay sau khi tôi bước vào phòng, chúng đã vây quanh tôi như một bầy sói đói dường như sắp sửa giết chóc. Tôi đã vô cùng lo lắng và cầu nguyện thống thiết với Đức Chúa Trời. Trước tiên, những tên cảnh sát côn đồ này đã không chạm tay đến tôi, mà chỉ ra lệnh cho tôi đứng yên trong ba, bốn tiếng. Tôi đứng lâu đến nỗi cẳng chân và bàn chân bắt đầu đau nhức và tê cứng, toàn thân mệt mỏi vô cùng. Vào khoảng một hoặc hai giờ sáng, tên cảnh sát trưởng của Đội Cảnh sát Hình sự đã đến để hỏi cung tôi. Tôi không khỏi run rẩy vì lo lắng. Hắn nhìn tôi chằm chằm và bắt đầu tra hỏi tôi: “Nói! Mày từ đâu đến? Ở đây mày liên lạc với ai? Cấp trên của mày là ai? Chúng mày gặp nhau ở đâu? Có bao nhiêu người làm việc dưới quyền mày?” Khi tôi không nói, hắn nổi giận, túm tóc tôi và đấm đá tôi túi bụi. Khi tôi bị đánh té xuống đất, hắn tiếp tục đá tôi thậm chí còn mạnh hơn. Ngay lập tức tai tôi bắt đầu ù lên vì thế tôi đã không thể nghe thấy gì. Đầu tôi đau nhói, cảm giác như sắp nổ tung ra. Tôi không thể không khóc trong đau đớn. Sau khi đã chật vật vài phút nữa, tôi nằm ra sàn, không thể di chuyển. Tên cảnh sát trưởng lại túm tóc tôi lần nữa và kéo tôi đứng lên, lúc ấy bốn hoặc năm tên côn đồ hung tợn đó đã vây quanh tôi và bắt đầu đấm đá tôi; tôi ngã xuống đất, hai tay che lấy đầu, lăn lộn và quằn quại trong đau đớn. Những tên cảnh sát côn đồ này không hề kiềm chế – mỗi cú đá và cú đấm đều mạnh chết người. Khi đánh tôi, chúng hét lên: “Mày có chịu khai hay không? Tao đố mày dám không khai đó! Khai hay là chết!” Khi tên cảnh sát trưởng thấy tôi vẫn không chịu khai, hắn đã đá vào mắt cá chân tôi một cách tàn nhẫn. Mỗi lần hắn ta đá tôi, có cảm giác như ai đó đã đóng một cây đinh vào xương tôi, vô cùng đau đớn. Sau đó, chúng tiếp tục đá tôi khắp người cho đến khi tôi cảm thấy như chúng đã làm gãy hết mọi cái xương trong cơ thể tôi, và những cơn co thắt dữ dội hành hạ bên trong khiến tôi đau đến mức khó thở. Tôi nằm trên mặt đất thở hổn hển và khóc những giọt nước mắt thống khổ. Trong thâm tâm, tôi kêu cầu Đức Chúa Trời, thưa rằng: “Lạy Đức Chúa Trời! Con không thể chịu nổi nữa. Xin hãy bảo vệ con vì con sợ mình sẽ không thể qua khỏi đêm nay. Lạy Đức Chúa Trời! Xin ban cho con sức mạnh…” Tôi không biết sự tra tấn đã diễn ra trong bao lâu. Tôi chỉ cảm thấy vô cùng choáng váng và đau đớn đến mức như thể rụng rời chân tay. Cơn đau dữ dội đến nỗi toàn thân tôi tê liệt. Một trong những tên cảnh sát côn đồ nói: “Có vẻ như vẫn chưa đủ với mày. Mày sẽ khai thôi!” Khi nói, hắn ta cầm lên một vật trông giống như một cây búa điện và đập vào trán tôi. Tôi cảm thấy từng cú đánh thấu tận xương tủy, và mỗi lần hắn đánh tôi, toàn bộ cơ thể tôi bị tê dại, sau đó tôi bủn rủn và không ngừng run rẩy. Khi thấy tôi chịu đựng nhiều đau đớn, chúng có vẻ hài lòng với công việc của mình và bắt đầu cười rống lên. Trong cơn đau, một đoạn lời của Đức Chúa Trời đã dẫn dắt và khai sáng cho tôi: “Các ngươi phải chịu đựng gian khổ vì lẽ thật, các ngươi phải dâng hiến bản thân cho lẽ thật, các ngươi phải nhịn nhục vì lẽ thật, và càng muốn có được thêm lẽ thật các ngươi càng phải chịu khổ nhiều hơn. Đây chính là những gì các ngươi nên làm” (“Các kinh nghiệm của Phi-e-rơ: Hiểu biết của ông về hình phạt và sự phán xét” trong Lời xuất hiện trong xác thịt). Lời Đức Chúa Trời đã cho tôi sức mạnh phi thường, và tôi lặp đi lặp lại nhiều lần đoạn lời đó trong tâm trí mình. Tôi nghĩ: “Mình không thể chịu thua Sa-tan và làm Đức Chúa Trời thất vọng. Để đạt được lẽ thật, mình nguyện sẽ chịu đựng bất kỳ đau khổ nào, và ngay cả khi điều đó có nghĩa là phải chết thì vẫn xứng đáng, và mình sẽ không sống vô ích!” Bầy quỷ này đã hỏi cung tôi suốt đêm cho đến sáng hôm sau, nhưng vì đã có lời Đức Chúa Trời khích lệ, nên tôi có thể chịu được sự tra tấn của chúng! Cuối cùng, chúng đã dùng hết mọi sách lược có thể nghĩ ra và nói một cách bất lực: “Mày có vẻ như chỉ là một bà nội trợ bình thường không có tài năng gì đặc biệt, vậy mà sao Đức Chúa Trời của mày lại ban cho mày một sức mạnh khủng khiếp như thế?” Tôi biết rằng những tên cảnh sát côn đồ này không phải nhượng bộ tôi, mà là đang đầu hàng thẩm quyền và quyền năng của Đức Chúa Trời. Tôi đã đích thân chứng kiến lời Đức Chúa Trời là lẽ thật, rằng nó có thể cung cấp cho con người sức mạnh to lớn, và rằng bằng cách thực hành theo lời Đức Chúa Trời, người ta có thể vượt qua nỗi sợ chết và đánh bại Sa-tan. Sau tất cả những điều này, đức tin của tôi vào Đức Chúa Trời càng trở nên mạnh mẽ hơn.

Khoảng 7 giờ sáng của ngày thứ hai, tên cảnh sát trưởng lại đến hỏi cung tôi một lần nữa. Khi thấy tôi vẫn không sẵn sàng khai, hắn đã cố gắng dụ dỗ tôi bằng một mánh khóe xảo quyệt khác. Một cảnh sát mặc thường phục, hói đầu bước vào, giúp tôi đứng dậy và dìu tôi đi đến ghế sofa. Hắn vuốt quần áo tôi cho ngay ngắn, vỗ vai tôi và giả vờ quan tâm, nói với một nụ cười giả tạo: “Nhìn chị nè, việc gì phải chịu khổ thế này. Chỉ cần nói ra là chị có thể về nhà mà. Tại sao phải ở đây chịu hành hạ như vậy? Các con chị đang đợi chị ở nhà. Chị có biết tôi đau lòng thế nào khi thấy chị khổ sở thế này không?” Lắng nghe tất cả những lời dối trá của hắn và nhìn vào khuôn mặt đáng ghét và trơ tráo đó, tôi nghiến răng giận dữ và nghĩ thầm: “Mày chỉ là một con quỷ phun ra đủ thứ dối trá để lừa gạt tao. Mày đừng bao giờ nghĩ rằng tao sẽ phản bội Đức Chúa Trời. Thậm chí mày đừng có mơ rằng tao sẽ nói một lời về Hội thánh!” Khi tên cảnh sát thấy tôi vẫn không động đậy, hắn ta đã nhìn tôi chằm chằm đầy quyến rũ và bắt đầu vuốt ve tôi. Tôi tự động nhích xa hắn ta ra, nhưng tên vô lại đó đã dùng một tay giữ tôi lại để tôi không thể di chuyển và sau đó hắn ta bóp chặt ngực tôi bằng tay kia. Tôi kêu lên đau đớn và cảm thấy vô cùng căm thù gã này; tôi đã tức giận đến nỗi toàn thân run lên và nước mắt chảy dài trên má. Tôi trừng mắt giận dữ nhìn hắn, và khi nhìn thấy ánh mắt của tôi hắn đã buông tôi ra. Qua trải nghiệm cá nhân này, tôi đã thực sự chứng kiến bản tính xấu xa, phản động và độc ác của chính quyền ĐCSTQ. Tôi đã thấy bọn “Cảnh sát Nhân dân” làm việc cho thể chế của ĐCSTQ thực sự chỉ là những tên côn đồ đáng khinh, vô liêm sỉ và những kẻ đê tiện không hề có chút lương tâm nào! Vì tôi không có một giọt nước nào trong 24 giờ, cơ thể tôi đã kiệt sức và suy kiệt đến mức nguy hiểm, đồng thời, tôi thực sự không chắc liệu có thể chịu đựng được nữa không. Đột nhiên tôi có cảm giác cực kỳ đau khổ và tuyệt vọng. Đúng lúc đó, tôi nghĩ đến một bài thánh ca của Hội thánh. “Dù bị con rồng lớn sắc đỏ áp bức và bắt giữ, tôi lại càng quyết tâm theo Đức Chúa Trời hơn. Tôi thấy con rồng lớn sắc đỏ ác đến mức nào; làm sao nó có thể dung tha cho Đức Chúa Trời? Đức Chúa Trời đã đến trong xác thịt – làm sao tôi có thể không theo Ngài? Tôi phản bội Sa-tan và theo Đức Chúa Trời với một ý chí sắt đá. Ma quỉ nắm quyền ở đâu, con đường tin vào Đức Chúa Trời gian nan ở đó. Sa-tan bám sát gót tôi; không có nơi an toàn để dung thân. Tin và thờ phượng Đức Chúa Trời là điều hoàn toàn nên làm. Đã chọn yêu kính Đức Chúa Trời, tôi sẽ trung thành cho đến cùng. Thủ đoạn của ma quỷ thật man rợ, độc ác và thực sự đáng khinh. Khi đã thấy rõ được mặt của Sa-tan, tôi càng yêu kính Đấng Christ hơn. Tôi sẽ không bao giờ khuất phục trước Sa-tan hay kiếm tìm một sự tồn tại vô giá trị. Tôi sẽ chịu mọi dằn vặt, khó khăn cũng như đau đớn, và chịu đựng qua những đêm đen tối nhất. Để mang lại sự an ủi cho Đức Chúa Trời, tôi sẽ làm chứng vang dội và làm ô danh Sa-tan” (“Trỗi dậy giữa bóng tối và áp bức” Theo Chiên Con và hát những bài ca mới). Bài Thánh Ca vang dội và mạnh mẽ này là động lực to lớn cho tôi: Những con quỷ này đang bách hại các tín hữu của Đức Chúa Trời như vậy bởi chúng ghét Đức Chúa Trời. Mục đích đê tiện và xấu xa của chúng là ngăn chúng tôi tin và đi theo Đức Chúa Trời, qua đó làm gián đoạn và phá hoại công tác của Đức Chúa Trời và hủy hoại cơ hội được cứu rỗi của loài người. Trong thời khắc quan trọng của trận chiến thuộc linh này, tôi không thể nằm xuống và để mình trở thành trò cười cho Sa-tan. Sa-tan càng hành hạ tôi, tôi càng thấy rõ bộ mặt quỷ dữ của nó, tôi càng muốn từ bỏ nó và đứng về phía Đức Chúa Trời. Tôi tin rằng Đức Chúa Trời sẽ đắc thắng, và rằng Sa-tan sẽ phải chịu thất bại. Tôi không thể bỏ cuộc, và tôi mong muốn cậy dựa vào Đức Chúa Trời cũng như làm chứng mạnh mẽ và vang dội cho Ngài.

Khi cảnh sát nhận ra sẽ không lấy được bất kỳ thông tin có giá trị nào từ tôi, chúng đã thôi không hỏi cung và tối hôm đó chúng đã đưa tôi đến một trại tạm giam. Vào thời điểm đó, tôi đã bị đánh đến mức không thể nhận ra được – mặt tôi bị sưng lên, tôi không thể mở mắt ra và môi của tôi đầy lở loét. Những tên cai ngục trong trại tạm giam nhìn tôi và thấy tôi đã bị đánh gần chết, chúng không muốn chịu trách nhiệm cho những gì đã xảy ra và từ chối tiếp nhận tôi. Tuy nhiên, sau một vài trao đổi, cuối cùng khoảng 7 giờ tối hôm đó tôi đã được áp giải vào phòng giam.

Tối đó, tôi đã ăn bữa ăn đầu tiên kể từ khi bị bắt: một chiếc bánh bao hấp cứng, đen và có sạn rất khó nhai và khó nuốt, một bát canh rau héo có những con sâu chết nổi lềnh bềnh trong đó và một lớp cặn bẩn dưới đáy bát. Không có điều gì trong số đó ngăn tôi ăn ngấu nghiến bữa ăn đó nhanh nhất có thể. Vì tôi là một tín hữu, trong những ngày sau đó, cán bộ cải huấn thường xúi giục các tù nhân khác khiến cuộc sống của tôi thành địa ngục. Một lần, chị đại phòng giam của chúng tôi đã ra lệnh và thuộc hạ của bà ta túm tóc tôi và đập đầu tôi vào tường. Chúng đã đập đầu tôi mạnh đến nỗi tôi cảm thấy chóng mặt và không thể nhìn rõ. Ngoài ra, vào ban đêm, chúng sẽ không cho phép tôi ngủ trên giường và vì vậy tôi phải ngủ trên sàn bê tông lạnh bên cạnh nhà vệ sinh. Hơn thế nữa, đám cai ngục đã bắt tôi phải thuộc các nội quy của trại tạm giam và nếu tôi đọc sai hoặc quên, thì chúng sẽ quất tôi bằng thắt lưng da. Đối mặt với sự tra tấn và sỉ nhục vô nhân tính gần như liên tục này, tôi đã trở nên yếu đuối và nghĩ rằng thà chết còn hơn chịu đựng như một con vật bị nhốt hết ngày này qua ngày khác. Nhiều lần, ngay khi tôi đang sắp đập đầu vào tường để kết thúc chuyện này thì lời của Đức Chúa Trời đã dẫn dắt tôi rằng: “Trong thời kỳ sau rốt này các ngươi phải mang chứng ngôn cho Đức Chúa Trời. Cho dù nỗi đau khổ của các ngươi lớn đến đâu, các ngươi vẫn nên đi đến tận cùng, và thậm chí đến hơi thở sau cùng, các ngươi vẫn phải trung tín với Đức Chúa Trời, và đầu phục sự sắp đặt của Đức Chúa Trời; chỉ có điều này mới là yêu kính Đức Chúa Trời thực sự, và chỉ có điều này mới là lời chứng mạnh mẽ và vang dội” (“Chỉ bằng cách trải qua những sự thử luyện đau đớn, ngươi mới có thể biết được sự đáng mến của Đức Chúa Trời” trong Lời xuất hiện trong xác thịt). Lời Đức Chúa Trời đã khích lệ tôi và sưởi ấm lòng tôi. Khi tôi suy ngẫm về lời Đức Chúa Trời, tôi đã rơi nước mắt. Tôi nghĩ về việc khi mình bị bọn cảnh sát côn đồ đánh đập tàn nhẫn, chính tình yêu của Đức Chúa Trời đã luôn luôn chăm sóc cho tôi, Ngài đã dẫn dắt tôi bằng lời Ngài, và Ngài đã ban cho tôi đức tin và sức mạnh, cho phép tôi ngoan cường vượt qua sự tra tấn khủng khiếp đó. Sau khi bị chị đại phòng giam ngược đãi, bắt nạt và bị các tù nhân khác tra tấn đến mức gần như suy sụp tinh thần và đang nghĩ đến việc kết liễu đời mình, một lần nữa lời Đức Chúa Trời đã cho tôi đức tin và sự can đảm để trỗi dậy. Nếu Đức Chúa Trời đã không ở bên cạnh tôi, trông chừng cho tôi, thì tôi đã bị lũ quỷ độc ác đó hành hạ cho đến chết từ lâu rồi. Trước tình yêu và lòng thương xót lớn lao của Đức Chúa Trời, tôi không thể chống đối và làm buồn lòng Ngài. Tôi phải đứng vững với Đức Chúa Trời và đền đáp tình yêu của Ngài bằng lòng trung thành. Không ngờ, khi tôi đã lấy lại được tâm trạng của mình, Đức Chúa Trời đã khiến một tù nhân khác đứng lên phản đối thay tôi, chị ấy và chị đại của phòng đã lao vào đánh nhau dữ dội. Cuối cùng, chị đại đã nhượng bộ và cho phép tôi ngủ trên giường. Tạ ơn Đức Chúa Trời. Nếu không phải vì lòng thương xót của Đức Chúa Trời, thì việc ngủ lâu dài trên sàn bê tông lạnh lẽo, ẩm ướt sẽ giết chết tôi hoặc khiến tôi bị tê liệt vì thể chất yếu ớt của mình. Cứ thế, tôi đã cố gắng sống sót qua hai tháng gian khổ trong trại tạm giam. Trong thời gian đó, những tên cảnh sát côn đồ đã hỏi cung tôi hai lần nữa bằng cách sử dụng cùng một chiến lược cảnh sát tốt và cảnh sát xấu. Tuy nhiên, với sự bảo vệ của Đức Chúa Trời, tôi đã có thể nhìn thấu âm mưu xảo quyệt của Sa-tan và đánh bại âm mưu độc ác của chúng. Cuối cùng, chúng đã hết sạch chiến lược và sau tất cả các cuộc hỏi cung thất bại, chúng đã kết án tôi ba năm tù giam và đưa tôi đến Nhà tù Phụ nữ Thứ hai để thụ án.

Từ ngày đầu tiên vào tù, tôi đã bị bắt phải làm những việc lao động chân tay cực nhọc. Tôi phải làm việc hơn mười tiếng một ngày. Tôi phải đan một chiếc áo len, hoặc may ba mươi đến bốn mươi bộ quần áo, hay đóng gói mười nghìn đôi đũa mỗi ngày. Nếu không thể hoàn thành các nhiệm vụ này, thời hạn tù của tôi sẽ bị gia hạn. Như thể lao động chân tay cực nhọc chưa đủ gây kiệt sức, vào ban đêm, chúng tôi buộc phải tham gia vào một kiểu tẩy não chính trị nhằm đập vỡ tinh thần của chúng tôi, trong đó chúng tôi bị bắt phải học các nội quy của nhà tù, luật pháp, chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Mao Trạch Đông. Bất cứ khi nào tôi nghe thấy các cán bộ cải huấn đưa ra những điều phi lý vô thần của chúng, tôi đều cảm thấy muốn ói và cảm thấy cực kỳ căm ghét con đường đáng khinh, đáng xấu hổ của chúng. Toàn bộ thời gian ở trong tù, tôi chưa bao giờ có một đêm ngủ ngon giấc, chúng tôi thường giật mình vào giữa đêm bởi những tiếng còi của các tên cai ngục. Chúng hoặc bắt chúng tôi thức dậy và đứng trong hành lang mà không có lý do rõ ràng nào, hoặc giao cho chúng tôi các nhiệm vụ như vận chuyển khoai tây, ngô và thức ăn. Mỗi bao nặng hơn 50 kg. Trong những đêm mùa đông, chúng tôi phải chống chọi với những cơn gió hú lạnh thấu xương. Chúng tôi dò dẫm và lảo đảo bước đi từng bước một, đôi khi thậm chí té nhào vì bao hàng nặng. Thông thường, tôi lê lết cơ thể mệt mỏi của mình trở lại phòng giam vào lúc hai hoặc ba giờ sáng, kiệt sức và đẫm nước mắt. Vào những đêm như thế, sự mệt mỏi, lạnh lẽo pha trộn với tức giận sẽ khiến tôi không ngủ lại được. Bất cứ khi nào nghĩ về việc mình vẫn phải chịu đựng ba năm tù dài như thế, tôi càng rơi sâu vào tuyệt vọng và toàn thân tê liệt vì kiệt sức. Đức Chúa Trời biết rất rõ về sự đau khổ của tôi, và ở những thời điểm tôi tồi tệ nhất, Ngài đã dẫn dắt tôi nhớ đến đoạn lời này trong lời Ngài: “Đừng nản lòng, đừng yếu đuối và Ta sẽ làm mọi thứ trở nên rõ ràng cho ngươi. Con đường đến với vương quốc không quá bằng phẳng; không có gì đơn giản như thế! Ngươi muốn phước lành đến với mình một cách dễ dàng phải không? Ngày nay, mọi người sẽ phải đối mặt với những sự thử luyện cay đắng. Nếu không có những sự thử luyện như vậy, lòng yêu thương mà các ngươi dành cho Ta sẽ không lớn mạnh hơn, và các ngươi sẽ không có tình yêu đích thực dành cho Ta. Ngay cả khi những sự thử luyện này chỉ bao gồm những tình huống nhỏ, thì mọi người đều phải vượt qua chúng; chỉ là độ khó của các sự thử luyện sẽ khác nhau đối với từng người” (“Chương 41” của Những lời của Đấng Christ buổi ban đầu trong Lời xuất hiện trong xác thịt). Lời Đức Chúa Trời là một sự an ủi sâu sắc cho tấm lòng buồn bã và đau khổ của tôi, đồng thời cho phép tôi hiểu được ý muốn của Ngài. Tình huống hiện giờ của tôi là một thử thách thực sự. Đức Chúa Trời muốn xem liệu tôi có trung thành với Ngài giữa đau khổ như thế không và liệu tôi có thực sự yêu Ngài hay không. Mặc dù ba năm trong tù là một khoảng thời gian rất dài, nhưng với sự dẫn dắt của lời Đức Chúa Trời và sự hỗ trợ bởi tình yêu của Ngài, tôi biết mình không cô đơn. Tôi sẽ cậy dựa vào Đức Chúa Trời để chịu đựng mọi đau đớn, khổ cực và đắc thắng Sa-tan. Tôi không cho phép bản thân trở nên rụt rè.

Bóng tối và sự xấu xa của chính quyền ĐCSTQ đã hiện rõ trong mọi khía cạnh của nhà tù mà chúng cai trị, nhưng tình yêu của Đức Chúa Trời luôn ở cùng tôi. Một lần, một ả cai ngục ra lệnh cho tôi vác một bao đũa lên tầng năm. Vì cầu thang bị đóng băng, tôi đã phải đi rất chậm do trọng lượng của bao. Tuy nhiên, ả cai ngục cứ hối thúc tôi đi nhanh lên. Sợ rằng sẽ bị đánh thậm tệ nếu không hoàn thành nhiệm vụ, nên tôi đã lo lắng, hấp tấp rồi trượt chân, ngã xuống cầu thang và gãy xương gót chân. Tôi nằm sõng soài trên sàn nhà, chân không thể cử động và toát mồ hôi lạnh vì cơn đau nhói do bị gãy. Tuy nhiên, ả cai ngục không tỏ ra chút xíu quan tâm nào. Cô ta nói tôi đang giả vờ và ra lệnh cho tôi đứng dậy tiếp tục làm việc, nhưng tôi không thể đứng vững được. Một chị từ Hội thánh, người đang thụ án trong cùng nhà tù với tôi, thấy những gì đã xảy ra và ngay lập tức đưa tôi đến phòng khám của nhà tù. Tại phòng khám, người bác sĩ trực chỉ băng bó chân cho tôi, đưa cho tôi một vài viên thuốc rẻ tiền rồi cho tôi về. Sợ rằng tôi sẽ không thể đạt được chỉ tiêu công việc, nên ả cai ngục đã không cho phép tôi điều trị, vì vậy tôi phải tiếp tục làm việc với bàn chân bị gãy. Bất cứ khi nào đi làm việc, chị gái ấy cũng đều cõng tôi đến đó. Bởi vì tình yêu của Đức Chúa Trời đã kết nối trái tim của chúng tôi với nhau, bất kỳ khi nào có cơ hội, chị đều thông công với tôi về lời Đức Chúa Trời để khích lệ tôi. Đây là một sự an ủi lớn lao đối với tôi vào những thời điểm tồi tệ và khó khăn nhất. Trong khoảng thời gian đó, không biết bao nhiêu lần tôi cảm thấy đau đớn và yếu đuối đến mức khó có thể thức dậy, và hầu như không có sức để thở, và rất nhiều lần tôi trốn trong chăn cầu nguyện trong nước mắt với Đức Chúa Trời, nhưng hai bài Thánh Ca này luôn luôn mang đến cho tôi sự khích lệ và an ủi: “Việc ngươi có thể chấp nhận sự phán xét, hình phạt, sự đánh đòn, và sự tinh luyện của lời Đức Chúa Trời, hơn thế nữa, có thể chấp nhận những sự ủy nhiệm của Đức Chúa Trời, đã được Đức Chúa Trời định trước các thời đại, và vì thế ngươi chớ quá đau buồn khi bị hành phạt. Không ai có thể lấy đi công tác đã được thực hiện nơi các ngươi cùng các phước lành đã được ban cho các ngươi, và không ai có thể lấy đi tất cả những gì đã được ban cho các ngươi. Những người theo tôn giáo không thể so sánh với các ngươi. Các ngươi không có kiến thức chuyên môn sâu về Kinh Thánh, và không được trang bị lý thuyết tôn giáo, nhưng bởi vì Đức Chúa Trời đã làm việc bên trong các ngươi, nên các ngươi đã có được nhiều hơn bất kỳ ai qua các thời đại – và vì thế, đây là phước lành lớn nhất của các ngươi” (“Ngươi không thể làm hỏng ý muốn của Đức Chúa Trời” Theo Chiên Con và hát những bài ca mới). “Con đường đến vương quốc có nhiều thăng trầm. Tôi lơ lửng giữa sự sống và cái chết, giữa sự tra tấn và nước mắt. Nếu không có sự bảo vệ của Đức Chúa Trời, ai có thể còn tới được ngày hôm nay? Ngài đã hoạch định sự ra đời của chúng ta trong thời kỳ sau rốt, chúng ta may mắn được theo Đấng Christ. Đức Chúa Trời hạ mình xuống để làm con người, chịu sự sỉ nhục lớn lao. Tôi làm người thế nào được nếu không yêu kính Đức Chúa Trời? … Khi tôi yêu kính Đức Chúa Trời, tôi không hối hận khi đi theo và làm chứng. Dù tôi yếu đuối và tiêu cực, tôi vẫn yêu kính Đức Chúa Trời trong nước mắt. Tôi đau khổ và dâng tình yêu của mình cho Ngài, không bao giờ khiến Ngài đau buồn. Được tôi luyện trong sự thử luyện giống như vàng thử lửa; Lòng tôi được tôi luyện như vàng; làm sao tôi có thể không dâng Ngài tấm lòng mình? Dù con đường lên thiên đàng là gian khó và sẽ có nhiều nước mắt, Tôi sẽ mãi yêu kính Đức Chúa Trời không hối tiếc” (“Khúc ca yêu kính Đức Chúa Trời không hối tiếc” Theo Chiên Con và hát những bài ca mới). Lời Đức Chúa Trời và tình yêu của Ngài đã cứu rỗi tôi khỏi vực sâu của sự tuyệt vọng và hết lần này đến lần khác cho tôi dũng khí để tiếp tục sống. Trong địa ngục trần gian lạnh lẽo, tối tăm này, tôi đã trải nghiệm sự ấm áp và bảo vệ bởi tình yêu của Đức Chúa Trời, và tôi quyết tâm tiếp tục sống để có thể đền đáp tình yêu của Ngài. Dù có phải chịu đau khổ đến mức nào, tôi cũng phải sống tiếp; ngay cả khi chỉ còn một hơi thở, tôi vẫn phải trung thành với Đức Chúa Trời. Trong ba năm ở tù, tôi đã vô cùng xúc động khi người chị đó đã đưa cho tôi vài trang lời Đức Chúa Trời viết tay. Việc tôi có thể đọc lời Đức Chúa Trời trong một nhà tù do những con quỷ điều hành, nơi kiểm soát chặt chẽ còn hơn là kho vàng Fort Knox, thực sự là một minh chứng cho tình yêu và lòng thương xót lớn lao mà Đức Chúa Trời đang thể hiện với tôi. Chính những lời này của Đức Chúa Trời đã khuyến khích và dẫn dắt tôi, cho phép tôi chịu được những thời điểm khó khăn nhất đó.

Vào tháng 9 năm 2005, tôi mãn hạn tù và cuối cùng đã có thể bỏ lại sau lưng những ngày tù đen tối. Khi bước ra khỏi nhà tù, tôi đã hít một hơi thật sâu và cảm tạ Đức Chúa Trời từ tận đáy lòng vì tình yêu và sự bảo vệ của Ngài, điều đã cho phép tôi sống sót qua thời gian tù đày. Nhờ trải nghiệm cá nhân của tôi khi bị chính quyền ĐCSTQ bắt giữ và bách hại, giờ đây tôi biết điều gì là công chính và xấu xa, điều gì là thiện và là ác, điều gì là tích cực và tiêu cực. Tôi biết mình nên từ bỏ mọi thứ để theo đuổi điều gì và những gì tôi nên chối bỏ với sự căm ghét và nguyền rủa. Qua trải nghiệm này, tôi thực sự biết rằng lời Đức Chúa Trời là lẽ sống của chính Đức Chúa Trời và có sức mạnh siêu nhiên có thể là động lực thúc đẩy cuộc sống của con người. Chừng nào con người còn sống theo lời Đức Chúa Trời, thì họ sẽ có khả năng đắc thắng tất cả các thế lực của Sa-tan và có thể chiến thắng ngay cả trong hoàn cảnh bất lợi nhất. Tạ ơn Đức Chúa Trời!

Hồi chuông thời sau hết báo động đã vang lên, đại thảm họa đã ập xuống, bạn có muốn cùng gia đình nghênh đón được Thiên Chúa, và có cơ hội nhận được sự che chở của Thiên Chúa không?

Nội dung liên quan

Dành cả thanh xuân nơi tù đày

Bởi Thần Thác, Trung Quốc Ai cũng nói tuổi thanh xuân là quãng thời gian đẹp đẽ và tinh khôi nhất trong cuộc đời. Có lẽ đối với nhiều...

Đức tin không thể lay chuyển

Bởi Mạnh Dũng, Trung Quốc Tháng 12 năm 2012, tôi cùng một số anh chị em lái xe tới một nơi để truyền bá phúc âm, nhưng rốt cuộc lại bị kẻ...

Liên hệ với chúng tôi qua Messenger