Bổn phận không phân biệt địa vị cao thấp

20/03/2026

Bởi Lâm Sâm, Trung Quốc

Từ nhỏ, ở nhà tôi, đàn ông luôn là người làm chủ, và mọi việc đều do bố tôi quyết định hết. Ông ấy không bao giờ làm việc nhà; những việc như nấu ăn, giặt giũ, dọn dẹp đều là việc của mẹ và chị tôi. Bố thường dạy mấy anh em chúng tôi rằng “nam chủ ngoại, nữ chủ nội”, việc đồng áng, kiếm tiền là chuyện của đàn ông, còn nấu nướng, giặt giũ là việc của đàn bà. Dưới sự dạy dỗ bằng cả lời nói và việc làm của bố, mấy ông anh của tôi sau khi lập gia đình đều làm chủ gia đình và không bao giờ đụng tay vào việc nhà. Tôi cũng muốn giống hệt họ, vì tôi thấy chỉ có như vậy mới có được phong thái và tôn nghiêm của một người đàn ông. Sau khi kết hôn, vợ tôi là một người rất hiền thục, đảm đang, gánh vác hết mọi việc nhà. Đôi khi trong bữa ăn, cô ấy còn bưng cơm dọn đồ ăn đến tận trước mặt tôi. Điều này càng làm tôi thấy rằng, là một người đàn ông, mình không nên làm những việc như giặt giũ, may vá, hay chăm sóc con cái. Đó đều là việc của phụ nữ. Nếu tôi mà làm thì thật là mất mặt, thật là mất giá. Sau này, khi vợ tôi sinh con, mỗi khi đi làm về, tôi thấy cô ấy vừa bế con vừa nấu cơm, làm việc nhà rất vất vả. Tôi cũng muốn giúp cô ấy, nhưng rồi lại nghĩ, một thằng đàn ông như mình mà đi làm những việc đó, nhỡ người khác biết được thì mất mặt biết bao. Thế là tôi lại đi ra ngoài chơi bài, chứ không giúp vợ làm việc nhà. Sau khi tiếp nhận công tác thời kỳ sau rốt của Đức Chúa Trời, tôi rất thích đọc lời Đức Chúa Trời. Từ lời Ngài, tôi nhận ra rằng để tin Đức Chúa Trời, mình phải thực hành lẽ thật trong mọi việc và sống thể hiện ra nhân tính bình thường. Tôi không thể cứ để người khác hầu hạ mình mãi được – như vậy thì thật quá thiếu lý trí. Kể từ đó, tôi bắt đầu giúp vợ làm một vài việc nhà, học nấu ăn, rửa rau và dọn dẹp.

Một hôm vào tháng 1 năm 2023, lãnh đạo nói một nhà tiếp đãi đang có nguy cơ về an toàn, và cần phải nhanh chóng chuyển mấy chị em trẻ tuổi đang ở đó ra ngoài ngay. Anh ấy nhờ tôi tạm thời tiếp đãi họ, và nói rằng sau Tết, khi tìm được nhà tiếp đãi phù hợp thì họ sẽ dọn đi. Tôi thầm nghĩ: “Mình là một người anh em, mà cả ngày cứ quanh quẩn bên bếp núc – thế thì mất giá và ngượng ngùng biết bao! Sao lãnh đạo lại sắp đặt cho mình làm bổn phận tiếp đãi nhỉ? Đây chẳng phải là đang làm khó mình sao?”. Nhưng rồi tôi lại nghĩ: “Mình đã tin Đức Chúa Trời nhiều năm rồi. Nếu mình từ chối bổn phận này, chẳng phải lãnh đạo sẽ nói mình không phải là người mưu cầu lẽ thật hay sao? Vả lại, nhà mình cũng khá phù hợp để tiếp đãi. Dù vợ mình đã bị hội thánh thanh trừ, nhưng cô ấy vẫn ủng hộ mình thực hiện bổn phận, hai đứa con cũng không phản đối. Mấy chị em trẻ mà ở nhà mình ăn Tết thì còn gì phù hợp hơn. Hơn nữa, lãnh đạo cũng chỉ nhờ mình tiếp đãi tạm thời thôi. Ngay khi tìm được nhà tiếp đãi phù hợp là họ sẽ dọn đi”. Nghĩ đến đây, tôi đã đồng ý. Nhưng khi đến lúc bắt đầu tiếp đãi, cái tư tưởng “nam chủ ngoại, nữ chủ nội” lại trỗi dậy. Vì vợ tôi làm việc ở quán ăn sáng, nên mỗi ngày, tôi là người nấu bữa sáng và bữa trưa ở nhà. Vợ tôi đã nhắc tôi nhiều lần: “Anh nấu cơm thì nên đeo tạp dề với ống tay áo vào, không thì quần áo bẩn khó giặt lắm đó”. Ngoài miệng thì tôi nói sẽ làm, nhưng chưa một lần làm theo. Tôi nghĩ: “Còn bắt mình đeo ống tay áo với tạp dề nữa à? Trông ra cái thể thống gì chứ? Chẳng khác nào một bà nội trợ! Mấy chị em mà thấy mình như vậy thì còn mặt mũi nào nữa? Nấu nướng giặt giũ vốn là việc của các chị em chứ đâu phải của các anh em. Nếu anh chị em mà biết mình làm bổn phận tiếp đãi này, chắc chắn họ sẽ coi thường mình. Không thể tin được, một người làm công tác văn tự như mình, giờ lại trở thành đầu bếp chuyên nghiệp!”. Một thời gian sau, lãnh đạo lại sắp xếp thêm một chị em trẻ nữa đến ở nhà tôi, và mấy chị em dường như chẳng có ý định dọn đi gì cả. Tôi lại nghĩ: “Chẳng phải đã nói là qua Tết sẽ dọn đi sao? Sao lại còn thêm người vào nhà mình nữa vậy? Cái việc nấu nướng hàng ngày này thật là mất giá quá đi. Bao giờ chuyện này mới kết thúc đây?”. Tôi bị sự tiêu cực kìm hãm, nấu nướng cũng chẳng còn để tâm vào nữa mà bắt đầu làm qua loa chiếu lệ. Cơm tôi nấu khi thì cứng, khi thì nhão, món xào khi thì mặn chát, khi thì nhạt thếch. Ấy thế mà tôi chẳng hề phản tỉnh bản thân chút nào; thậm chí tôi còn thấy mình nấu được cho có bữa ăn là đã tốt lắm rồi. Sau đó, mọi người bắt đầu góp ý với tôi, nói rằng mì tôi nấu chưa chín, còn món nộm thì hạt muối chưa tan hết. Nghe vậy, lòng tôi càng thấy khó chịu hơn. “Một thằng đàn ông như tôi phải nấu ăn cho các cô cả ngày đã đủ mất giá lắm rồi, giờ các cô còn chê bai này nọ nữa à? Thật không thể chịu nổi!”. Trong lòng, tôi chỉ mong họ dọn đi cho sớm. Sau này, tôi nhận ra tình trạng của mình không ổn, nên đã cầu nguyện xin Đức Chúa Trời dẫn dắt để tôi nhận ra vấn đề của bản thân.

Lúc đó, tôi nghe được một bài thánh ca lời Đức Chúa Trời:

Loài người ban đầu là những sinh vật có linh hồn

1  Ban đầu, Ta đã tạo dựng nên loài người; nghĩa là, Ta đã tạo dựng nên tổ tiên loài người, là A-đam. Người đã được phú cho hình và ảnh, tràn đầy sinh khí, tràn đầy sức sống, và hơn nữa, còn có vinh quang của Ta theo cùng. Đó là ngày vinh quang khi Ta tạo dựng nên con người. Sau đó, Ê-va đã được tạo nên từ cơ thể của A-đam, và người cũng là tổ tiên của con người, và vì vậy những người mà Ta đã tạo dựng nên đều tràn đầy hơi thở của Ta và tràn ngập vinh quang của Ta.

2  A-đam ban đầu được sinh ra từ bàn tay Ta và là đại diện cho ảnh tượng của Ta. Do đó, ý nghĩa ban đầu của “A-đam” là loài được Ta tạo dựng nên, thấm nhuần sức sống của Ta, thấm nhuần vinh quang của Ta, có hình và ảnh, có linh hồn và hơi thở. A-đam là loài thọ tạo duy nhất sở hữu một linh hồn, có khả năng đại diện cho Ta, mang ảnh tượng của Ta, và nhận được hơi thở của Ta.

3  Ban đầu, Ê-va là người thứ hai được phú cho hơi thở, sự tạo dựng mà Ta đã tiền định, vì vậy ý nghĩa ban đầu của “Ê-va” là một loài thọ tạo sẽ tiếp tục vinh quang của Ta, đầy dẫy sức sống của Ta, và hơn nữa, được phú cho vinh quang của Ta. Ê-va xuất thân từ A-đam, vì vậy người cũng mang ảnh tượng của Ta, vì người là người thứ hai được tạo dựng ra trong ảnh tượng của Ta. Ý nghĩa ban đầu của “Ê-va” là một người sống, với linh hồn, thịt và xương, chứng ngôn thứ hai của Ta cũng như ảnh tượng thứ hai của Ta ở giữa nhân loại. Họ là tổ tiên của loài người, kho báu tinh nguyên và quý giá của con người, và từ ban đầu, họ là những sinh vật được phú cho linh hồn.

– Một con người thực sự có nghĩa là gì, Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời

Khi suy ngẫm về lời bài hát, tôi nhận ra rằng khi Đức Chúa Trời ban đầu tạo dựng nên loài người – A-đam và Ê-va – Ngài chưa bao giờ nói rằng đàn ông cao quý hơn phụ nữ hay phụ nữ có địa vị thấp hơn đàn ông. Trong mắt Đức Chúa Trời, nam và nữ bình đẳng. Ở trong nhà Đức Chúa Trời cũng vậy. Bất kể người ta thực hiện bổn phận gì, Đức Chúa Trời chưa bao giờ nói rằng bổn phận nào đó phải do các anh em làm, còn bổn phận khác thì chỉ có các chị em mới được làm. Nhưng từ nhỏ, tôi đã được bố tôi dạy dỗ và làm gương, nên đã sống theo những tư tưởng trọng nam khinh nữ. Tôi luôn xem thường phụ nữ và coi nhẹ những việc như nấu nướng, giặt giũ, cho rằng đó đều là việc của đàn bà. Đó là lý do tại sao tôi đã rất chống đối bổn phận tiếp đãi của mình, và ngay cả khi làm, tôi cũng chỉ làm qua loa chiếu lệ. Mọi điều tôi nghĩ và làm đều không hợp với tâm ý của Đức Chúa Trời. Khi nhận ra điều này, tôi đã nguyện thuận phục và chăm chỉ làm tốt bổn phận tiếp đãi của mình. Sau đó, mỗi khi nấu mì, tôi đều luộc lâu hơn một chút, và món nộm thì tôi ướp trước. Tôi cũng bắt đầu nghĩ đến việc thay đổi các món ăn cho đa dạng. Khi thấy mấy chị em trẻ bị ốm và ho, tôi đã nấu nước lê chưng đường phèn cho họ uống. Ngay khi tôi vừa bắt đầu có chút thay đổi, thì mấy chị em trẻ đã dọn đi.

Sau khi họ đi, tôi thường suy ngẫm: “Tại sao trong suốt thời gian tiếp đãi, mình lại bộc lộ nhiều sự chống đối đến vậy?”. Sau này, tôi đọc được những lời của Đức Chúa Trời vạch trần vấn đề về tư tưởng trọng nam khinh nữ, và tôi đã có được một chút nhận thức về bản thân. Đức Chúa Trời Toàn Năng phán: “Nhiều người nghĩ: ‘Giặt giũ và may vá đều là việc của phụ nữ. Cứ để phụ nữ lo mấy việc đó. Phải làm việc đó khiến mình phát bực, cảm giác bản thân không giống đàn ông’. … Đàn ông có những tư tưởng của chủ nghĩa sô vanh này, họ xem thường một số việc nhất định như chăm con, dọn dẹp nhà cửa, giặt giũ và lau dọn. Có người có chủ nghĩa sô vanh rất nghiêm trọng, họ kỳ thị việc nhà, không sẵn lòng làm những việc đó, và nếu có làm thì cũng rất miễn cưỡng, sợ người khác coi thường mình. Họ nghĩ: ‘Nếu mình luôn làm mấy công việc này, chẳng phải mình sẽ thành bà cô trong nhà sao?’ Điều này bị tư tưởng và quan điểm nào chi phối? Chẳng phải tư tưởng của họ có vấn đề sao? (Thưa, phải.) Tư tưởng của họ có vấn đề. … Ở một số vùng mà chủ nghĩa sô vanh đặc biệt nghiêm trọng, thì chắc chắn người ta bị sự hun đúc và ảnh hưởng của gia đình làm cho hư hỏng. Sự hun đúc này cứu họ hay hại họ? (Thưa, nó hại họ.) Nó gây hại cho họ(Cách mưu cầu lẽ thật (14), Lời, Quyển 6 – Về việc mưu cầu lẽ thật). “Ví dụ, ngươi là đàn ông, nếu bảo ngươi nấu ăn, rửa chén mỗi ngày cho anh chị em, ngươi có thể thuận phục không? (Thưa, hẳn là có thể.) Trong thời gian ngắn, có lẽ ngươi sẽ có thể thuận phục, nhưng nếu bắt ngươi làm bổn phận này thời gian dài, liệu ngươi có thể thuận phục hay không? (Thưa, nếu là thỉnh thoảng thì con vẫn có thể thuận phục, nhưng về lâu dài thì có thể con sẽ không thuận phục được.) Đó chính là không thuận phục. Vậy do đâu mà không thuận phục? (Thưa, bởi vì trong lòng con người có quan niệm truyền thống, cho rằng đàn ông lo chuyện bên ngoài, đàn bà lo chuyện trong nhà. Nấu ăn là chuyện của phụ nữ, đàn ông mà nấu ăn thì thật mất mặt, cho nên họ không dễ thuận phục.) Đúng vậy, trong việc phân công công việc cũng có phân biệt giới tính. Đàn ông thì cho rằng: ‘Đàn ông chúng tôi nên dốc sức làm việc ở bên ngoài, những công việc như nấu ăn, giặt giũ nên do phụ nữ làm, không nên để đàn ông chúng tôi làm’. Nhưng nếu bây giờ gặp phải hoàn cảnh đặc biệt, ngươi buộc phải làm, thì ngươi phải làm sao? Ngươi phải giải quyết những khó khăn nào mới có thể đạt đến sự thuận phục? Đó là mấu chốt của vấn đề. Ngươi phải phá vỡ sự phân biệt giới tính, không có việc gì phải là nam làm hay cũng không có việc gì phải là nữ làm. Trước tiên không nên phân công như vậy, không nên căn cứ vào giới tính để phân chia người nào làm bổn phận gì(Thực hành lẽ thật mới có lối vào sự sống, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt). Lời của Đức Chúa Trời đã vạch trần đúng tình trạng của tôi. Tôi nghĩ lại, từ nhỏ do ảnh hưởng bởi lời nói và tấm gương của bố, cùng sự hun đúc của gia đình, tôi đã luôn tin rằng “nam tôn nữ ty” và “nam chủ ngoại, nữ chủ nội”. Tôi cho rằng những việc nhà như giặt giũ, nấu nướng, dọn dẹp đều là việc của phụ nữ, còn đàn ông chỉ cần làm ruộng hoặc đi làm kiếm tiền là được. Tôi tin rằng địa vị của đàn ông cao hơn phụ nữ, nên vợ phải hầu hạ chồng là lẽ đương nhiên, và nếu đàn ông mà làm việc nhà thì sẽ mất giá, bị người khác coi thường. Vì vậy, trước khi tin Đức Chúa Trời, tôi không bao giờ làm việc nhà. Khi thấy vợ vừa bế con vừa tất bật làm việc nhà, dù trong lòng áy náy muốn giúp một tay, nhưng rồi tôi lại nhớ rằng một thằng đàn ông như mình phải giữ phong thái và tôn nghiêm của một đấng nam nhi chân chính. Tôi nghĩ đến chuyện nếu người khác thấy mình làm việc của đàn bà thì sẽ mất mặt biết bao, thế là tôi lại đi ra ngoài chơi bài giải khuây thay vì phụ giúp cô ấy việc nhà. Suốt những năm đó, vợ tôi đã âm thầm chịu đựng, sống trong mệt mỏi và cay đắng. Quan trọng nhất là, vì bị ảnh hưởng sâu sắc bởi những tư tưởng trọng nam khinh nữ, tôi đã không thể thuận phục sự sắp đặt và an bài của Đức Chúa Trời. Khi lãnh đạo sắp xếp cho tôi tạm thời tiếp đãi mấy chị em, tôi xem việc nhà là việc của phụ nữ và cảm thấy mình là một anh em mà lại đi thực hiện bổn phận tiếp đãi thì thật mất mặt, mất giá. Để bảo vệ hình tượng nam nhi của mình, lúc nấu ăn tôi còn không dám đeo tạp dề hay ống tay áo, chỉ sợ bị mấy chị em coi thường. Vì trong lòng chống đối, tôi đã làm bổn phận qua loa chiếu lệ; đến cả mì mà tôi cũng nấu không chín, món nộm thì muối còn chưa tan hết. Khi mấy chị em góp ý, tôi còn cho là họ đòi hỏi quá đáng và chỉ mong họ mau chóng dọn đi cho xong. Tôi nhận ra rằng, vì sống theo những tư tưởng văn hóa truyền thống này, để bảo vệ cái gọi là phẩm giá và địa vị đàn ông của mình, mà tôi đã trở nên vô cùng ích kỷ và lạnh lùng, không có chút nhân tính bình thường nào. Tôi không có một chút thuận phục hay sự tận tâm nào đối với bổn phận của mình. Khi nhận ra điều này, tôi đã cầu nguyện, xin Đức Chúa Trời dẫn dắt để tôi hiểu lẽ thật và thoát khỏi sự trói buộc, kìm hãm của những tư tưởng trọng nam khinh nữ.

Sau đó, tôi đọc được một đoạn lời của Đức Chúa Trời và đã tìm thấy con đường thực hành. Đức Chúa Trời Toàn Năng phán: “Có nên phân biệt trách nhiệm xã hội giữa nam và nữ không? Nam và nữ có nên có vị thế xã hội bình đẳng không? Có công bằng không khi đề cao quá mức vị thế của nam giới và hạ thấp nữ giới? (Thưa, không công bằng.) Vậy chính xác thì vị thế xã hội của nam và nữ nên được xử lý như thế nào cho công bằng và hợp lý? Nguyên tắc cho việc này là gì? (Thưa, đó là nam và nữ đều bình đẳng và nên được đối xử công bằng.) Đối xử công bằng là cơ sở lý luận, nhưng nên đưa điều đó vào thực hành như thế nào để phản ánh được sự công bằng và hợp lý? Chẳng phải điều này liên quan đến các vấn đề thực tế sao? Trước hết, chúng ta phải xác định rằng vị thế giữa nam và nữ là bình đẳng – điều này không thể bàn cãi. Vì vậy, sự phân công lao động xã hội giữa nam và nữ cũng nên bình đẳng, và nên được cân nhắc, sắp xếp dựa trên tố chất cũng như khả năng thực hiện công việc của họ. Đặc biệt trong vấn đề nhân quyền thì càng phải bình đẳng, ở chỗ nữ giới cũng nên được hưởng những gì nam giới có thể được hưởng, để đảm bảo vị thế bình đẳng giữa nam và nữ trong xã hội. Bất kỳ ai có thể làm được công việc, hoặc bất kỳ ai đủ năng lực làm lãnh đạo, thì nên để họ làm, không phân biệt nam nữ. Các ngươi nghĩ sao về nguyên tắc này? (Thưa, hay ạ.) Điều này phản ánh sự bình đẳng giữa nam và nữ. Ví dụ: nếu có hai nam và hai nữ ứng tuyển làm lính cứu hỏa, thì nên tuyển ai? Đối xử công bằng là cơ sở lý luận và nguyên tắc. Vậy thì trên thực tế, người ta nên làm điều đó như thế nào? Như Ta vừa nói, ai đáp ứng yêu cầu công việc thì để họ làm, tùy theo khả năng và tố chất của họ. Chỉ cần lựa chọn theo nguyên tắc này, bằng cách xem ai trong số những ứng viên này có đủ sức khỏe và không vụng về. Chữa cháy đòi hỏi phải hành động nhanh trong trường hợp khẩn cấp. Nếu ngươi quá vụng về, đần độn và chậm chạp như con rùa hay con bò già, thì ngươi sẽ làm chậm trễ mọi việc. Sau khi xác định đặc điểm của từng ứng viên, về mặt tố chất, khả năng, kinh nghiệm, trình độ năng lực trong công tác chữa cháy, v.v., kết luận được đưa ra là một nam và một nữ là khá phù hợp: người nam thì cao to, cường tráng, có kinh nghiệm chữa cháy và đã tham gia một số hoạt động chữa cháy và cứu hộ; người nữ thì nhanh nhẹn, đã qua đào tạo nghiêm ngặt, am hiểu về chữa cháy và các quy trình công việc liên quan, có tố chất, đã thể hiện nổi bật trong các công việc khác và được khen thưởng. Vì vậy cuối cùng, cả hai đều được chọn. Làm như vậy có đúng không? (Thưa, đúng.) Đây gọi là chọn người tốt nhất trong những người tốt nhất, không thiên vị bất kỳ ai. … Trước hết, khi giải quyết một vấn đề, ngươi không có thiên kiến với nam hay nữ. Ngươi tin rằng có rất nhiều phụ nữ xuất sắc và tài năng, và ngươi biết khá nhiều cá nhân như vậy. Do đó, hiểu biết của ngươi khiến ngươi tin rằng khả năng làm việc của nữ giới không thua kém nam giới và giá trị nữ giới mang lại cho xã hội không kém gì so với nam giới. Khi ngươi có hiểu biết và nhận thức này, ngươi sẽ đưa ra được những đánh giá và lựa chọn chính xác dựa trên thực tế này mỗi khi hành động trong tương lai. Nói cách khác, nếu ngươi không thiên vị bất kỳ ai và không có bất kỳ thiên kiến giới tính nào, thì nhân tính của ngươi sẽ tương đối bình thường ở khía cạnh này và ngươi có thể hành động công bằng. Những cấm đoán của văn hóa truyền thống, theo nghĩa nam tôn nữ ty, sẽ được dỡ bỏ, suy nghĩ của ngươi sẽ không còn bị giam hãm, và ngươi sẽ không còn bị ảnh hưởng bởi khía cạnh này của văn hóa truyền thống nữa(Mưu cầu lẽ thật là gì (11), Lời, Quyển 6 – Về việc mưu cầu lẽ thật). Sau khi đọc lời Đức Chúa Trời, lòng tôi cảm thấy vô cùng sáng tỏ, và tôi hiểu rằng để thoát khỏi xiềng xích của những tư tưởng văn hóa truyền thống như “nam tôn nữ ty” và “nam chủ ngoại, nữ chủ nội”, trước hết tôi phải chấp nhận sự thật rằng nam nữ đều bình đẳng. Đàn ông không nên có thành kiến với phụ nữ, càng không nên xem thường hay chèn ép họ. Đó là hành vi vô đạo đức và vô nhân tính. Đàn ông nên đối xử công bằng với phụ nữ, không nên xem việc nhà là việc phụ nữ sinh ra đã phải làm, trong khi lại xem những công việc được xuất đầu lộ diện và có địa vị là việc của đàn ông. Quan điểm như vậy chính là tà thuyết và luận điệu sai lầm của Sa-tan, hoàn toàn đi ngược lại với lẽ thật. Nhà Đức Chúa Trời không có quy định bổn phận nào phải do các anh em làm, bổn phận nào phải do các chị em làm. Ở trong nhà Đức Chúa Trời, việc sắp xếp bổn phận không bao giờ dựa trên giới tính, mà được sắp xếp hợp lý dựa trên tố chất, sở trường, năng lực công tác của mỗi người, và nhu cầu của công tác hội thánh. Ví dụ như, lãnh đạo sắp xếp cho tôi làm bổn phận tiếp đãi là vì nhà tiếp đãi mà mấy chị em đang ở có nguy cơ về an toàn, và nhất thời không tìm được nhà nào an toàn. Còn nhà tôi thì lại phù hợp, vợ con cũng ủng hộ tôi thực hiện bổn phận. Sự sắp xếp của lãnh đạo một mặt là để bảo vệ sự an toàn cho mấy chị em, mặt khác là để họ có thể thực hiện bổn phận một cách bình thường, đảm bảo công tác của hội thánh không bị ảnh hưởng. Việc tôi tiếp đãi họ cũng là đang gìn giữ công tác của hội thánh, là đang thực hiện bổn phận. Lẽ ra tôi phải tiếp nhận sự sắp xếp đó, và thuận phục, từ bỏ những tư tưởng và quan điểm sai lầm “nam tôn nữ ty” và “nam chủ ngoại, nữ chủ nội”, và dựa theo lời Đức Chúa Trời mà làm tốt bổn phận tiếp đãi của mình.

Sau đó, tôi đọc thêm những lời của Đức Chúa Trời và đã học được cách đối đãi đúng đắn với bổn phận của mình. Đức Chúa Trời Toàn Năng phán: “Dù bổn phận của ngươi là gì, đừng phân biệt cao quý và thấp hèn. Giả sử ngươi nói: ‘Tuy nhiệm vụ này là sự ủy thác từ Đức Chúa Trời và công tác của nhà Đức Chúa Trời, nhưng nếu tôi làm điều đó, mọi người có thể coi thường tôi. Những người khác làm công việc mà khiến họ nổi bật. Tôi đã được giao nhiệm vụ này, là nhiệm vụ không giúp tôi nổi bật mà khiến tôi phải ráng sức âm thầm ở đằng sau, thật bất công! Tôi sẽ không làm bổn phận này đâu. Bổn phận của tôi phải là một bổn phận khiến tôi nổi bật trước người khác và giúp tôi thành danh – và ngay cả khi tôi không lưu danh hoặc nổi bật, tôi vẫn phải được hưởng lợi từ điều đó và cảm thấy thoải mái về thể xác’. Đây có phải là một thái độ chấp nhận được không? Kén chọn là không đón nhận những gì đến từ Đức Chúa Trời; đó là lựa chọn theo sở thích của riêng ngươi. Điều này không phải là chấp nhận bổn phận của ngươi; đó là một sự từ chối bổn phận của ngươi, một biểu hiện cho việc ngươi phản nghịch Đức Chúa Trời. Sự kén chọn như vậy được pha trộn với sở thích và tham muốn cá nhân của ngươi. Khi ngươi tính đến lợi ích của riêng mình, danh tiếng của ngươi, v.v., thái độ của ngươi đối với bổn phận của ngươi là không thuận phục. Thái độ mà ngươi nên có đối với bổn phận là gì? Trước tiên, ngươi không được phân tích nó, cũng không được xem thử ai đã giao nó cho ngươi; thay vào đó, ngươi phải đón nhận nó từ Đức Chúa Trời, như sự ủy thác của Đức Chúa Trời, như bổn phận của mình, và ngươi nên thuận phục những sự sắp đặt và an bài của Đức Chúa Trời, và tiếp nhận bổn phận của mình từ Đức Chúa Trời. Thứ hai, đừng phân biệt cao thấp, và đừng quan tâm gì đến tính chất của nó, liệu nó có giúp ngươi nổi bật hay không, liệu nó được thực hiện trước mặt mọi người hay khuất mắt họ. Đừng xem xét những điều này. Cũng có một thái độ khác: thuận phục và chủ động hợp tác(Thực hiện bổn phận đạt tiêu chuẩn là gì? Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt). “Ví dụ như, nếu ngươi phụ trách nấu ăn cho các anh chị em, thì đó là bổn phận của ngươi. Ngươi phải đối xử thế nào với nhiệm vụ này? (Thưa, con phải tìm kiếm các nguyên tắc lẽ thật.) Ngươi tìm kiếm các nguyên tắc lẽ thật như thế nào? Chuyện này liên quan đến thực tế và lẽ thật. Ngươi phải nghĩ về cách đưa lẽ thật vào thực hành, cách để làm tròn bổn phận, và nghĩ xem bổn phận này liên quan đến những phương diện lẽ thật nào. Bước thứ nhất là trước hết ngươi phải biết rằng: ‘Mình không nấu ăn cho bản thân mình. Đây là bổn phận mà mình đang làm’. Đây là phương diện khải tượng. Còn bước thứ hai là gì? (Thưa, con phải nghĩ cách để nấu ăn cho tốt.) Tiêu chí của nấu ăn tốt là gì? (Thưa, con phải tìm kiếm các yêu cầu của Đức Chúa Trời.) Đúng vậy. Chỉ có các yêu cầu của Đức Chúa Trời mới là lẽ thật, tiêu chuẩn và nguyên tắc. Nấu ăn theo các yêu cầu của Đức Chúa Trời là một phương diện của lẽ thật. Trước hết, ngươi phải cân nhắc phương diện lẽ thật này, rồi suy ngẫm: ‘Đức Chúa Trời đã giao cho mình bổn phận này để thực hiện. Tiêu chuẩn mà Đức Chúa Trời yêu cầu là gì?’. Nền tảng này là điều kiện phải có trước hết. Vậy thì ngươi phải nấu ăn như thế nào để đáp ứng tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời? Thức ăn ngươi nấu phải lành mạnh, ngon miệng, sạch sẽ và không có hại cho cơ thể, đây là những chi tiết được tính đến. Chỉ cần ngươi nấu ăn theo nguyên tắc này, thì thức ăn ngươi nấu sẽ được làm theo các yêu cầu của Đức Chúa Trời. Tại sao Ta lại nói như thế? Bởi vì ngươi đã tìm hiểu các nguyên tắc của bổn phận này và ngươi không vượt quá phạm vi mà Đức Chúa Trời đã vạch ra. Đây là cách nấu ăn đúng đắn. Ngươi đã làm tròn bổn phận và đã làm đạt tiêu chuẩn(Chỉ có tìm kiếm nguyên tắc lẽ thật thì mới có thể làm tròn bổn phận của mình, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt). Ở trong nhà Đức Chúa Trời, không có bổn phận nào được sắp xếp dựa trên giới tính của người ta, và cũng không có bổn phận cao quý hay thấp hèn. Thái độ đúng đắn đối với bổn phận của mình là đón nhận từ Đức Chúa Trời, tiếp nhận và thuận phục. Bất kể là ai sắp xếp, hay mình có được vẻ vang hay không, mình đều nên tìm kiếm các nguyên tắc lẽ thật để làm tròn bổn phận. Đây là cách thực hành đúng đắn, và hợp với tâm ý của Đức Chúa Trời. Khi lãnh đạo sắp xếp bổn phận tiếp đãi cho tôi, lẽ ra tôi không nên lo lắng sẽ bị người khác coi thường, mà thay vào đó, nên tìm kiếm các nguyên tắc lẽ thật và cố hết sức mình để làm tốt bổn phận. Đầu tiên, tôi phải làm mọi cách để duy trì một môi trường an toàn cho mấy chị em. Ngoài ra, tôi phải giữ nhà cửa sạch sẽ, và khi nấu ăn, tôi phải cân nhắc làm sao để bữa ăn vừa đủ dinh dưỡng, vừa tốt cho sức khỏe. Việc thực hiện bổn phận tiếp đãi, một mặt, đã xoay chuyển quan điểm trọng nam khinh nữ sai lầm của tôi, để tôi không còn nhìn phụ nữ qua lăng kính truyền thống “nam tôn nữ ty” nữa. Mặt khác, nó cũng giúp tôi cải thiện kỹ năng sống của mình. Bây giờ tôi rửa rau, thái rau đã thành thạo hơn nhiều, và ở nhà, về cơ bản, tôi là người nấu nướng và dọn dẹp. Tôi nhớ có lần trong bữa trưa, vợ tôi cười nói: “Trước đây là em nấu cho anh ăn, không ngờ bây giờ lại ngược lại”. Các con tôi cũng nói tôi đã thay đổi. Đôi khi, có mấy chị em đến nhà tôi để thảo luận về bài giảng, và hầu như lúc nào, tôi cũng là người lo bữa ăn. Tôi không còn cảm thấy mất giá hay mất mặt chút nào nữa. Mấy chị em còn khen món cá tôi nấu rất ngon. Việc có thể thoát khỏi những tư tưởng trọng nam khinh nữ truyền thống này và sống thể hiện ra được một chút nhân tính bình thường đều là kết quả đạt được nhờ lời của Đức Chúa Trời. Tạ ơn Đức Chúa Trời!

Hồi chuông thời sau hết báo động đã vang lên, đại thảm họa đã ập xuống, bạn có muốn cùng gia đình nghênh đón được Thiên Chúa, và có cơ hội nhận được sự che chở của Thiên Chúa không?

Nội dung liên quan

Liên hệ với chúng tôi qua Messenger