Có cần địa vị mới được cứu rỗi?
Bởi Y Tiêm, Trung Quốc Nhiều năm trời, tôi xa nhà phụng sự bổn phận lãnh đạo, phụ trách một số hội thánh. Mặc dù tôi bị bệnh tim bẩm sinh,...
Hoan nghênh tất cả những người tìm kiếm sự xuất hiện của Đức Chúa Trời!
Năm 2010, vợ tôi đã rao truyền phúc âm của vương quốc cho tôi. Qua việc đọc lời Đức Chúa Trời, tôi mới biết rằng Đức Chúa Trời Toàn Năng chính là Đức Chúa Jêsus tái lâm, và Ngài đang bày tỏ lẽ thật để làm tinh sạch và cứu rỗi nhân loại. Tôi vô cùng vui mừng và thầm nghĩ: “Từ nay về sau, mình phải chuyên tâm tin và đi theo Đức Chúa Trời. Nếu sau này mình có thể nhận được phước lành và sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời thì thật là có phước biết bao!”. Một thời gian sau, tôi bắt đầu chăm tưới cho người mới trong hội thánh, rồi sau đó làm lãnh đạo hội thánh. Mỗi ngày tôi bận rộn xử lý các công tác khác nhau của hội thánh và cảm thấy rất vui, nghĩ rằng chỉ cần mình cứ thực hiện bổn phận như thế này thì chắc chắn sẽ đạt được sự cứu rỗi. Để có thể toàn tâm toàn ý cho bổn phận, tôi đã chuyển nhượng lại việc kinh doanh gỗ đang phát đạt của mình cho một người họ hàng.
Tháng 1 năm 2017, tôi phẫu thuật mắt trái do bị bong võng mạc, nhưng kết quả phẫu thuật không tốt nên thị lực của tôi chỉ còn 0.1. Ngay cả chữ cũng không nhìn rõ, chỉ có thể dùng mắt phải để nhìn. Tôi vốn định một thời gian sau sẽ phẫu thuật lại, nhưng đến tháng 6, vì có một Giu-đa bán đứng, nên cảnh sát ĐCSTQ bắt đầu truy bắt chúng tôi khắp nơi, vì vậy hai vợ chồng tôi phải trốn đến một vùng khác, và tôi không dám đến bệnh viện điều trị. Lúc đó, tôi chỉ có thể ở nhà làm các công tác văn tự, nhưng khi nhìn máy tính lâu thì mắt tôi lại mờ đi, làm bổn phận thật sự rất vất vả. Thấy các anh chị em xung quanh thị lực khá tốt, tôi thầm nghĩ: “Mấy năm nay, mình đã từ bỏ việc kinh doanh và luôn làm bổn phận trong hội thánh, tại sao người mắc bệnh về mắt lại là mình chứ? Mắt phải của mình trước đây cũng đã phẫu thuật rồi, lỡ như nó cũng có vấn đề gì thì mình còn làm được bổn phận gì nữa? Nếu không làm bổn phận thì làm sao được cứu rỗi?”. Tôi muốn liều mình đến bệnh viện điều trị, nhưng lại sợ bị ĐCSTQ bắt nên không dám đi. Tôi nghĩ đến chuyện một số anh chị em sau khi bị bệnh vẫn kiên trì thực hiện bổn phận, rồi sau đó đã hoàn toàn bình phục. Nếu tôi kiên trì thực hiện bổn phận, chẳng phải Đức Chúa Trời cũng sẽ thương xót và chữa lành cho mình sao? Có lẽ mắt tôi rồi sẽ khá hơn chăng? Thế là tôi cứ tiếp tục thực hiện bổn phận như vậy.
Ngày 1 tháng 5 năm 2024, mắt phải của tôi đột nhiên sưng vù và đau nhức, tôi cảm thấy chóng mặt và buồn nôn. Có một lúc không nhìn thấy gì cả. Một lát sau, tôi có thể lờ mờ thấy bóng người lay động trước mặt, nhưng không thể nhìn rõ đường đi. Tôi đột nhiên hoang mang bối rối, nghĩ thầm: “Chuyện gì thế này? Hơn hai mươi năm trước, mắt phải của mình đã phẫu thuật bong võng mạc. Lẽ nào là bệnh cũ tái phát? Thế này thì gay go thật. Mắt trái vẫn chưa lành, giờ mắt phải cũng không nhìn thấy gì. Nếu cả hai mắt đều mù thì mình sẽ không thể làm bất kỳ bổn phận nào nữa. Công tác của Đức Chúa Trời sắp kết thúc rồi, vào thời điểm quan trọng này, nếu mình không nhìn thấy gì, chẳng phải mình sẽ trở thành người vô dụng sao? Liệu mình có bị đào thải không?”. Tôi rất lo lắng, nhưng cũng không biết phải làm sao. Sau đó, mắt phải của tôi nóng rát và đau nhói từng cơn, đầu cũng rất đau, và tôi cứ có cảm giác muốn nôn. Hết cách, tôi đành liều mình đến bệnh viện kiểm tra. Bác sĩ nói tôi bị bệnh tăng nhãn áp góc đóng cấp tính, nên nhãn áp cao, đồng tử giãn, mắt bị sung huyết nghiêm trọng. Ông nói thị lực mờ có thể do đục dịch kính hoặc lệch thủy tinh thể, và tôi cần phải nhập viện ngay lập tức, nếu không mắt phải của tôi có thể bị mù. Nghe đến đây, tôi nghĩ: “Mình tiêu rồi. Mắt trái thị lực đã kém, nếu mắt phải cũng không nhìn thấy gì nữa, chẳng phải mình sẽ thật sự bị mù sao? Đừng nói đến việc thực hiện bổn phận, ngay cả sinh hoạt hàng ngày cũng sẽ trở thành vấn đề. Vậy thì mình sẽ phải làm sao đây? Mấy năm nay mình đã thực hiện bổn phận toàn thời gian trong hội thánh, sao mình lại mắc phải căn bệnh như thế này chứ? Nếu chỉ là đau lưng hay đau chân thì còn đỡ, ít nhất cũng không làm ảnh hưởng đến bổn phận. Nhưng nếu mắt không nhìn thấy, không làm được bổn phận, chẳng phải mình sẽ trở thành người vô dụng sao? Như thế này thì làm sao còn được cứu rỗi nữa?”. Càng nghĩ, tôi càng trở nên tiêu cực. Tôi nhập viện ba ngày, bác sĩ đã thử nhiều phương pháp điều trị khác nhau, nhưng nhãn áp của tôi cứ lên xuống thất thường. Đồng tử không thể trở lại bình thường, tôi nhìn thứ gì cũng một hóa thành hai, như thể đang đeo kính hai tròng 2000 độ vậy. Thị lực của tôi chỉ còn 0.04. Bác sĩ nói tạm thời không có phương pháp điều trị hiệu quả, lựa chọn duy nhất là trước tiên phải phẫu thuật chọc hút. Bằng cách này, ông có thể xem nhãn áp có hạ được không, kiểm tra tình trạng thủy tinh thể, rồi mới quyết định có tiến hành phẫu thuật lần hai hay không. Nghe vậy, lòng tôi chùng xuống. Nằm trên giường bệnh, đầu óc tôi bắt đầu suy nghĩ lung tung: “Mình bị ĐCSTQ truy bắt bao nhiêu năm, lại từ bỏ việc kinh doanh để thực hiện bổn phận. Ngay cả khi chỉ còn một mắt hoạt động tốt, mình vẫn kiên trì thực hiện bổn phận, và bổn phận cũng có chút kết quả, tại sao Đức Chúa Trời không bảo vệ mình? Lẽ nào mình trả giá và dâng mình chưa đủ?”. Về mặt đạo lý, tôi biết mình nên thuận phục sự sắp đặt và an bài của Đức Chúa Trời, nhưng trong lòng, tôi vẫn hy vọng Đức Chúa Trời sẽ chữa lành mắt cho mình. Giá mà có phép lạ xảy ra thì tốt biết mấy! Sau đó, tôi thấy một bệnh nhân ở giường bên cạnh, ông ấy đã phẫu thuật bong võng mạc, nhưng sau đó nhãn áp vẫn cao. Thị lực cả hai mắt gần như không còn, đi lại cũng phải vịn vào vai vợ mới đi chậm được, và đã không còn hy vọng chữa khỏi. Điều này lại khiến tôi bắt đầu lo lắng không biết mình có bị như ông ấy không. Con tôi nói trên mạng bảo rằng mất thị lực do bệnh tăng nhãn áp là không thể phục hồi và hiện tại bệnh này chưa có cách chữa trị. Nghe vậy, lòng tôi càng thêm buồn bã và đau khổ, và tôi bắt đầu oán trách: “Bao nhiêu anh chị em khi gặp bệnh tật đều được Đức Chúa Trời chữa lành, tại sao Đức Chúa Trời lại không ban ân điển cho mình?”. Trong lòng tôi không thể nào thuận phục được, và cũng không muốn cầu nguyện nữa. Suốt ngày tôi chỉ thở dài, không muốn ăn, ngủ cũng không yên. Chỉ trong vài ngày, tôi đã sụt mấy cân. Sau ca phẫu thuật thứ hai, bác sĩ đã cấy một thủy tinh thể nhân tạo vào mắt tôi. Khi ra khỏi phòng mổ, mắt tôi nóng rát và đau nhói, đầu cũng đau dữ dội. Nhãn áp cao đến mức không thể đo được. Bác sĩ chỉ có thể cứ nửa tiếng lại xả thủy dịch qua vết mổ và dùng thuốc để hạ nhãn áp. Nhưng sáu tiếng trôi qua mà nhãn áp vẫn không hạ. Bác sĩ nói tình hình này rất nguy hiểm, ca phẫu thuật có thể sẽ thành công cốc, và thị lực của tôi không thể cứu vãn được. Nghĩ rằng sau này mắt phải của mình có thể sẽ không nhìn thấy gì nữa, lòng tôi đau như cắt. Chính lúc đó, tôi mới bắt đầu phản tỉnh. Từ lúc mới mắc bệnh về mắt cho đến tận bây giờ, tôi không hề có thái độ thuận phục, chỉ toàn oán trách và hiểu lầm Đức Chúa Trời, thiếu đi lý trí mà một người tin Đức Chúa Trời phải có. Thế là tôi cầu nguyện và giao phó bệnh tình của mình vào tay Đức Chúa Trời, nguyện thuận phục sự sắp đặt và an bài của Ngài dù cho mắt tôi có ra sao đi nữa. Không ngờ, một lúc sau, mắt tôi có thể lờ mờ nhìn thấy một chút, và nhãn áp cũng dần trở lại bình thường. Ngày hôm sau, dù thị lực vẫn còn mờ, nhưng đã cải thiện lên 0.2. Tôi đột nhiên mừng rỡ vô cùng, biết rằng đây là lòng thương xót của Đức Chúa Trời và Ngài đã thông cảm cho sự yếu đuối của tôi, tôi không ngừng tạ ơn Đức Chúa Trời trong lòng.
Sau khi xuất viện, tôi ở nhà một người họ hàng một thời gian để nghỉ ngơi hồi phục. Trong thời gian này, lãnh đạo, người làm công và các anh chị em khác cũng viết thư quan tâm, hỏi han tình trạng của tôi và tìm những lời của Đức Chúa Trời để giúp đỡ, hỗ trợ tôi. Vợ tôi cũng đọc lời Đức Chúa Trời cho tôi nghe, trong đó, có hai đoạn lời của Đức Chúa Trời đã giúp ích cho tôi rất nhiều. Đức Chúa Trời Toàn Năng phán: “Khi gặp bệnh tật và đau khổ, ngươi có cầu nguyện với Đức Chúa Trời và tìm kiếm Ngài không? Công tác của Đức Thánh Linh hướng dẫn ngươi và dẫn dắt ngươi như thế nào? Có phải Ngài chỉ khai sáng và soi sáng cho ngươi không? Đó không phải là phương pháp duy nhất của Ngài; Ngài cũng sẽ thử luyện ngươi và tinh luyện ngươi. Đức Chúa Trời thử luyện con người như thế nào? Chẳng phải Ngài thử luyện con người bằng cách khiến họ đau khổ sao? Đau khổ đi đôi với việc bị thử luyện. Nếu không phải là thử luyện thì sao con người lại đau khổ chứ? Nếu không đau khổ thì làm sao con người có thể thay đổi được chứ? Đau khổ đi đôi với việc bị thử luyện – đó là công tác của Đức Thánh Linh” (Khi tin Đức Chúa Trời, điều quan trọng nhất là đạt được lẽ thật, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt). “Khi bệnh tật ập đến, con người nên đi theo con đường nào? Họ nên lựa chọn như thế nào? Con người không nên chìm vào sầu khổ, âu lo, lo lắng và dự liệu về tiền đồ, đường lùi của bản thân. Thay vào đó, càng trong những thời điểm như thế này, trong những hoàn cảnh và bối cảnh đặc biệt như vậy, càng thấy mình gặp những khó khăn trực tiếp như vậy thì con người ta càng nên tìm kiếm lẽ thật và mưu cầu lẽ thật. Chỉ khi làm như vậy thì những bài giảng mà ngươi đã nghe trước đây và những lẽ thật mà ngươi đã hiểu mới không trở nên vô ích và sẽ mang lại hiệu quả. Càng gặp những khó khăn như thế này thì ngươi càng nên từ bỏ những mong muốn của bản thân và quy phục sự sắp đặt của Đức Chúa Trời. Mục đích của Đức Chúa Trời khi sắp đặt kiểu hoàn cảnh này và an bài những điều kiện này cho ngươi không phải là để khiến ngươi chìm vào những cảm xúc sầu khổ, âu lo và lo lắng, không phải để ngươi thử xem Đức Chúa Trời có chữa bệnh cho ngươi khi bệnh tật ập đến hay không, và cũng không phải để ngươi thăm dò sự thật của chuyện này; Đức Chúa Trời sắp đặt những hoàn cảnh và điều kiện đặc biệt này cho ngươi là để ngươi có thể học được những bài học thực tế trong những hoàn cảnh và điều kiện đó, để đạt được lối vào lẽ thật sâu hơn và bước vào sâu hơn trong sự quy phục Đức Chúa Trời, cũng như để ngươi hiểu rõ hơn và chính xác hơn cách Đức Chúa Trời sắp đặt mọi người, mọi việc và mọi vật. Vận mệnh của con người nằm trong tay Đức Chúa Trời và bất kể con người có thể cảm nhận được điều đó hay không, có thực sự nhận thức được điều đó hay không thì họ cũng nên thuận phục, không được phản kháng, không được cự tuyệt, càng không được thử thách Đức Chúa Trời. Dù thế nào thì ngươi cũng chết, và nếu ngươi phản kháng, cự tuyệt và thử thách Đức Chúa Trời, thì chắc không cần phải nói kết cục của ngươi sẽ thế nào. Ngược lại, nếu trong những hoàn cảnh và điều kiện tương tự mà ngươi có thể tìm hiểu xem một loài thọ tạo phải quy phục sự sắp đặt của Đấng Tạo Hóa như thế nào, tìm xem mình phải rút ra những bài học nào và phải nhận ra những tâm tính bại hoại nào trong những tình huống mà Đức Chúa Trời mang đến cho ngươi, cũng như hiểu được tâm ý Đức Chúa Trời trong những tình huống như vậy, làm chứng thật tốt để đáp ứng những yêu cầu của Đức Chúa Trời, thì đấy chính là điều mà ngươi nên làm” (Cách mưu cầu lẽ thật (3), Lời, Quyển 6 – Về việc mưu cầu lẽ thật). Sau khi đọc lời Đức Chúa Trời, tôi cảm nhận được sự lao tâm khổ tứ của Ngài. Tâm ý của Đức Chúa Trời không phải là để tôi sống trong những cảm xúc tiêu cực lo lắng và đau khổ, mà là để tôi có thể cầu nguyện, cậy dựa vào Ngài, và thuận phục sự sắp đặt và an bài của Ngài, để từ chuyện này, tôi có thể tìm kiếm lẽ thật, phản tỉnh, và nhận biết bản thân. Đức Chúa Trời đã dùng bệnh tật của tôi để làm tinh sạch sự bại hoại của tôi, và đây chính là tình yêu của Ngài. Một khi đã hiểu tâm ý của Đức Chúa Trời, tôi bắt đầu cầu nguyện mỗi ngày, xin Đức Chúa Trời dẫn dắt tôi rút ra bài học. Vợ tôi cũng thường đọc lời Đức Chúa Trời cho tôi nghe. Dần dần, tôi không còn cảm thấy chán nản lắm nữa, và tình trạng của tôi đã cải thiện rất nhiều. Một thời gian sau, tôi quay lại bệnh viện tái khám, và thật bất ngờ, thị lực của tôi đã đạt đến 0.3. Tôi đi cắt một cặp kính khác, và đã có thể nhìn chữ trên máy tính rõ hơn một chút, việc đánh máy của tôi cũng không còn bị ảnh hưởng nhiều nữa.
Sau đó, tôi bắt đầu suy ngẫm: “Qua cơn bệnh này, mình đã bộc lộ quá nhiều oán trách và hiểu lầm – vậy mình nên phản tỉnh về phương diện nào trong tâm tính bại hoại của mình?”. Một ngày nọ, tôi đọc được lời của Đức Chúa Trời: “Mọi người tin Đức Chúa Trời hòng để được ban phước, được tưởng thưởng, được đội mão triều thiên. Chẳng phải điều này tồn tại trong lòng mọi người sao? Thật sự là như vậy. Mặc dù mọi người không thường nói về nó, và thậm chí còn che đậy động cơ và ham muốn được phước, nhưng khao khát và động cơ sâu thẳm trong lòng người này luôn bất di bất dịch. Dù con người có hiểu được bao nhiêu lý thuyết thuộc linh, họ có nhận thức trải nghiệm gì, có thể thực hiện bổn phận gì, phải chịu đựng bao nhiêu đau khổ, hay phải trả giá thế nào, họ cũng không bao giờ buông bỏ được động lực muốn có phước lành ẩn giấu sâu trong lòng, và luôn âm thầm lao nhọc phục vụ động lực đó. Chẳng phải đây là điều sâu kín nhất trong lòng người sao? Nếu không có động cơ nhận được phước lành này, các ngươi sẽ cảm thấy thế nào? Các ngươi sẽ thực hiện bổn phận của mình và đi theo Đức Chúa Trời với thái độ ra sao? Con người sẽ ra sao nếu động cơ được nhận phước lành ẩn sâu trong lòng họ bị dẹp bỏ? Có lẽ nhiều người sẽ trở nên tiêu cực, trong khi một số người sẽ trở nên mất động lực làm bổn phận. Họ sẽ mất hứng thú trong đức tin nơi Đức Chúa Trời, như thể linh hồn của họ đã tan biến. Trông họ như thể bị mất hồn. Đó là lý do tại sao Ta phán động cơ được nhận phước lành là điều được ẩn giấu sâu kín trong lòng người” (Sáu dấu chỉ của sự phát triển trong sự sống, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt). “Mục đích của những người này khi đi theo Đức Chúa Trời rất đơn giản, chỉ có một mục tiêu mà thôi: đó là nhận lãnh phúc lành. Những người như thế chẳng màng đến bất kỳ thứ gì không liên quan đến mục tiêu này. Đối với họ, không có mục tiêu nào chính đáng hơn là tin vào Đức Chúa Trời để nhận lãnh ơn phước – đó chính là giá trị đức tin của họ. Nếu điều gì không đóng góp vào mục tiêu này, họ cứ hoàn toàn thờ ơ với nó. Đây là tình hình của hầu hết mọi người tin vào Đức Chúa Trời ngày nay. Mục tiêu và ý định của họ có vẻ chính đáng, bởi vì khi họ tin Đức Chúa Trời, họ cũng dâng mình cho Đức Chúa Trời, dâng hiến cho Đức Chúa Trời, và thực hiện bổn phận của mình. Họ hy sinh tuổi trẻ, từ bỏ gia đình và sự nghiệp, và thậm chí còn sống nhiều năm tất bật xa gia đình. Vì mục đích cuối cùng của họ, họ thay đổi sở thích của riêng mình, quan điểm về cuộc sống của mình, và thậm chí là phương hướng mưu cầu của mình; thế nhưng họ vẫn không thể thay đổi mục tiêu đức tin của mình vào Đức Chúa Trời. … Ngoài những lợi ích trực tiếp liên quan đến họ, liệu có còn các lý do nào khác để những người mà chẳng bao giờ hiểu Đức Chúa Trời lại dâng hiến quá nhiều cho Ngài? Trong việc này, chúng ta phát hiện ra một vấn đề mà trước đây chưa xác định được: Mối quan hệ của con người với Đức Chúa Trời chỉ là quan hệ lợi ích trần trụi. Đó là mối quan hệ giữa người nhận phúc và người ban phúc. Nói thẳng ra, nó là quan hệ giữa người làm công và người chủ. Người làm công chăm chỉ làm việc chỉ để nhận tiền thưởng của người chủ. Trong mối quan hệ lợi ích như thế thì chẳng có tình thân, mà chỉ có giao dịch. Chẳng có yêu mến hay được yêu mến, chỉ có sự bố thí và thương xót. Chẳng có thấu hiểu, chỉ có bất lực bấm bụng nuốt giận và lừa dối. Chẳng có sự thân tình, chỉ có một hố sâu ngăn cách không thể vượt qua. Bây giờ mọi thứ đã đến mức này, ai có thể đảo ngược được chiều hướng như thế? Và mấy ai có khả năng thực sự hiểu rằng mối quan hệ này đã trở nên nguy cấp như thế nào? Ta tin rằng khi người ta chìm đắm trong niềm vui sướng được phước, chẳng ai có thể tưởng tượng mối quan hệ như vậy với Đức Chúa Trời lại ngượng ngùng và khó coi thế nào” (Phụ lục 3: Con người chỉ có thể được cứu rỗi giữa sự quản lý của Đức Chúa Trời, Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). Đức Chúa Trời đã vạch trần đúng tình trạng của tôi. Trong nhiều năm tin Đức Chúa Trời, tôi đã từ bỏ gia đình và sự nghiệp, chịu khổ và dâng mình, tất cả đều là để có thể nhận được phước lành, được cứu rỗi và vào thiên quốc. Nghĩ lại lúc mới tin Đức Chúa Trời, tôi tin rằng chỉ cần mình thực hiện bổn phận, từ bỏ và dâng mình, thì chắc chắn sẽ nhận được phước lành của Đức Chúa Trời. Vì lý do này, tôi đã tích cực thực hiện bổn phận, và để tránh làm trì hoãn bổn phận, tôi thậm chí đã từ bỏ việc kinh doanh của mình. Tôi cảm thấy mình có nguồn năng lượng vô tận, và mục tiêu duy nhất của tôi là mưu cầu phước lành. Sau này, mắt trái của tôi bị bệnh và thị lực suy giảm, nhưng tôi vẫn kiên trì làm bổn phận. Tôi nghĩ rằng khi Đức Chúa Trời nhìn thấy tôi kiên trì làm bổn phận và thuận phục Ngài thì Ngài sẽ chữa lành mắt cho tôi, ban cho tôi một đích đến tốt đẹp trong tương lai. Nào ngờ, mắt trái không những không khá hơn, mà mắt phải của tôi cũng bị tăng nhãn áp. Tôi không thể nhìn thấy gì cả, và không thể làm bất kỳ bổn phận nào. Khi thấy không còn hy vọng nhận được phước lành, tôi cảm thấy vô cùng đau đớn và khổ sở, và tôi đầy dẫy những hiểu lầm và oán trách đối với Đức Chúa Trời. Tôi không ngừng nói lý lẽ với Đức Chúa Trời trong lòng và đòi Ngài phải chữa bệnh cho tôi. Qua sự phán xét và vạch trần của lời Đức Chúa Trời, cuối cùng tôi mới thấy rằng tôi đã cố dùng bổn phận của mình để mặc cả đổi lấy phước lành của thiên quốc, và mối quan hệ của tôi với Đức Chúa Trời chỉ đơn thuần là mối quan hệ lợi ích trần trụi. Trong suốt những năm thực hiện bổn phận, tôi đã không mưu cầu lẽ thật, và tâm tính bại hoại của tôi không thay đổi được bao nhiêu. Đằng sau sự chịu khổ và trả giá của tôi là những ý đồ mặc cả ngấm ngầm với Đức Chúa Trời. Tôi đầy dẫy những đòi hỏi và sự lừa dối đối với Đức Chúa Trời, không có lấy một chút chân thành nào. Sau đó, tôi bắt đầu tìm kiếm: “Đâu là căn nguyên sâu xa của việc tôi luôn mong muốn có được phước lành trong đức tin của mình?”.
Một ngày nọ, tôi đọc được lời của Đức Chúa Trời: “Trong mọi việc họ làm, dù là cầu nguyện, thông công hay giảng đạo, thì sự mưu cầu, suy nghĩ và nguyện vọng của họ đều là đòi hỏi Đức Chúa Trời và cố nài xin nhiều điều từ Ngài, người ta làm mọi việc này chỉ vì hy vọng đạt được điều gì đó từ Đức Chúa Trời. Có người nói rằng ‘đây là bản tính của con người’, đúng là vậy! Hơn thế nữa, việc người ta đòi hỏi Đức Chúa Trời quá nhiều và có quá nhiều ham muốn ngông cuồng chứng tỏ rằng người ta thật sự thiếu lương tâm và lý trí. Ai cũng đòi hỏi và nài xin nhiều điều cho bản thân mình, hoặc cố cãi lý và viện cớ cho bản thân mình, họ làm tất cả mọi việc này vì bản thân mình. Trong nhiều chuyện, có thể thấy rằng việc người ta làm hoàn toàn không có chút lý trí nào, và đây là bằng chứng hoàn hảo cho thấy lô-gic của Sa-tan ‘Người không vì mình, trời tru đất diệt’ đã trở thành bản tính của con người. Việc người ta đòi hỏi Đức Chúa Trời quá nhiều cho thấy vấn đề gì? Nó cho thấy rằng con người đã bị Sa-tan làm cho bại hoại đến một mức độ nhất định, và rằng trong đức tin của họ vào Đức Chúa Trời, họ không hề đối xử với Ngài như Đức Chúa Trời” (Mọi người đòi hỏi Đức Chúa Trời quá nhiều, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt). “Cho dù họ có bị thử luyện thế nào, lòng trung thành của những người có Đức Chúa Trời trong lòng mình vẫn không thay đổi; nhưng đối với những ai không có Đức Chúa Trời trong lòng mình, một khi công tác của Đức Chúa Trời không thuận lợi cho xác thịt của họ, thì họ thay đổi quan điểm của mình về Đức Chúa Trời, và thậm chí còn rời xa Đức Chúa Trời. Đó là những người sẽ không đứng vững vào lúc cuối cùng, những người chỉ tìm kiếm các phúc lành của Đức Chúa Trời và không có mong muốn dâng mình cho Đức Chúa Trời và cống hiến cho Ngài. Tất cả những kẻ hèn hạ như thế đều sẽ bị trục xuất khi công tác của Đức Chúa Trời kết thúc, và chúng không xứng đáng với bất kỳ sự cảm thông nào. Những người vô nhân tính không có khả năng thực sự yêu kính Đức Chúa Trời. Khi tình cảnh an toàn và bảo đảm, hoặc có thể làm lợi, thì họ hoàn toàn thuận phục Đức Chúa Trời, nhưng một khi dục vọng của họ bị tổn hại hoặc cuối cùng bị bác bỏ, họ nổi loạn ngay lập tức. Thậm chí chỉ trong một đêm, họ có thể đi từ một người tươi cười, ‘tốt bụng’ đến một tên sát nhân xấu xí và tàn bạo, bất thình lình đối xử với ân nhân của mình ngày hôm qua như là kẻ thù không đội trời chung, mà chẳng có lí do chính đáng gì. Nếu những con quỷ giết người không chớp mắt này không bị đuổi ra, thì chẳng phải chúng sẽ là nguồn gốc của nguy hiểm tiềm ẩn sao?” (Công tác của Đức Chúa Trời và sự thực hành của con người, Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). Lời của Đức Chúa Trời khiến tôi nhận ra rằng việc tôi không ngừng mưu cầu phước lành bắt nguồn từ việc tôi sống theo những nọc độc của Sa-tan như “Người không vì mình, trời tru đất diệt”, “Người chết vì của cải, chim chết vì miếng ăn”, và “Không có lợi đừng làm”. Mọi việc tôi làm đều nhằm mục đích tư lợi, và bản tính của tôi đặc biệt tham lam và ích kỷ. Khi mới tiếp nhận công tác thời kỳ sau rốt của Đức Chúa Trời, tôi biết được rằng Đức Chúa Trời đang thực hiện giai đoạn công tác cuối cùng để cứu rỗi nhân loại, và chỉ có tin Đức Chúa Trời và thực hiện bổn phận thì mới có cơ hội được cứu rỗi và sống sót. Tôi coi đây là một cơ hội ngàn năm có một, nên đã không do dự từ bỏ việc kinh doanh và chọn làm bổn phận toàn thời gian. Nếu không phải vì phước lành và lợi ích, tôi đã chẳng nhiệt tình đến vậy. Suốt những năm qua, dù chỉ có một mắt nhìn rõ, tôi vẫn kiên trì thực hiện bổn phận, nghĩ rằng làm như vậy thì sẽ được cứu rỗi và có một đích đến tốt đẹp. Tôi đã coi Đức Chúa Trời như một chủ thuê, và sau khi làm được một chút bổn phận, tôi đã trơ trẽn đòi hỏi phước lành và lời hứa từ Đức Chúa Trời, chỉ nghĩ xem làm thế nào để được lợi từ Ngài. Khi mắt phải của tôi bị bệnh và tôi đối mặt với viễn cảnh bị mù và không thể làm bất kỳ bổn phận nào, tôi nghĩ mình sắp trở thành người vô dụng và bị đào thải. Tôi cảm thấy tất cả những năm tháng nỗ lực và dâng mình của mình có thể sẽ thành công cốc, và hy vọng nhận được phước lành của tôi có thể tan thành mây khói. Vì vậy, tôi không thể nào chấp nhận được và đầy dẫy những hiểu lầm và oán trách đối với Đức Chúa Trời. Tôi thậm chí còn chất vấn tại sao Ngài lại để cho một căn bệnh như vậy xảy đến với tôi. Những biểu hiện này của tôi chính xác là những gì Đức Chúa Trời đã vạch trần: “Những người vô nhân tính không có khả năng thực sự yêu kính Đức Chúa Trời. Khi tình cảnh an toàn và bảo đảm, hoặc có thể làm lợi, thì họ hoàn toàn thuận phục Đức Chúa Trời, nhưng một khi dục vọng của họ bị tổn hại hoặc cuối cùng bị bác bỏ, họ nổi loạn ngay lập tức. Thậm chí chỉ trong một đêm, họ có thể đi từ một người tươi cười, ‘tốt bụng’ đến một tên sát nhân xấu xí và tàn bạo, bất thình lình đối xử với ân nhân của mình ngày hôm qua như là kẻ thù không đội trời chung, mà chẳng có lí do chính đáng gì”. Trong đức tin của mình, tôi hoàn toàn không xem Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời. Tôi coi bổn phận của mình như một con bài mặc cả để đổi lấy phước lành và việc được vào thiên quốc. Về thực chất, tôi đã cố gắng lợi dụng và tính kế với Đức Chúa Trời, nghĩ rằng mình có thể dùng sự trả giá và lao khổ của mình để đổi lấy những phước lành lớn lao. Tôi có chút nhân tính hay lý trí nào không chứ? Khi sự thử luyện này đến, tôi không hề nghĩ đến việc làm thế nào để thỏa mãn Đức Chúa Trời, và tất cả những gì tôi lo lắng là tương lai và đích đến của chính mình. Tôi thật quá ích kỷ và đê tiện! Kể từ khi tiếp nhận công tác thời kỳ sau rốt của Đức Chúa Trời, tôi đã nhận được sự chăm tưới và cung ứng từ lời của Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời cũng cho tôi cơ hội để thực hiện bổn phận, nhờ đó mà trong quá trình làm bổn phận, tôi dần dần hiểu và đạt được các phương diện khác nhau của lẽ thật. Tất cả những điều này đều là tình yêu và sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời dành cho tôi, nhưng tôi lại coi bổn phận của mình như một bàn đạp để nhận được phước lành. Điều này thật đáng ghê tởm và đáng ghét đối với Đức Chúa Trời! Tôi nghĩ đến những gì Phao-lô đã nói, “Ta đã đánh trận tốt lành, đã xong sự chạy, đã giữ được đức tin: Hiện nay mão triều thiên của sự công bình đã để dành cho ta” (2 Ti-mô-thê 4:7-8). Phao-lô đã dùng sự lao khổ và cái giá mình đã trả để đòi hỏi mão triều thiên công chính từ Đức Chúa Trời, tuyên bố rằng Đức Chúa Trời mà không ban nó cho ông thì Đức Chúa Trời không công chính, ông đã công khai kêu gào và chống đối Đức Chúa Trời. Điều này đã xúc phạm tâm tính của Đức Chúa Trời và vì vậy Phao-lô đã bị Đức Chúa Trời trừng phạt. Chẳng phải bây giờ tôi cũng đang đi trên con đường giống như Phao-lô sao? Nếu tôi không ăn năn, cuối cùng tôi sẽ bị trừng phạt trong địa ngục!
Sau đó, tôi đọc thêm những lời khác của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời Toàn Năng phán: “Bổn phận của người ta không liên quan gì đến chuyện họ được phúc hay gặp họa. Bổn phận là việc con người nên làm tròn; là thiên chức của họ, và họ nên thực hiện bổn phận mà không đòi thù lao, không nêu điều kiện hay lý do. Chỉ như vậy mới được gọi là thực hiện bổn phận. Được ban phúc là chỉ những phúc lành người ta được hưởng lúc được làm cho hoàn thiện sau khi trải qua sự phán xét. Gặp họa là chỉ sự trừng phạt một người phải chịu khi tâm tính của họ không thay đổi sau khi đã trải qua hình phạt và sự phán xét – nghĩa là, khi họ không được làm cho hoàn thiện. Nhưng bất kể là được ban phúc hay gặp họa, đã là loài thọ tạo thì nên làm tròn bổn phận của mình, làm việc mình nên làm, và làm những gì mình có thể làm; đây là điều tối thiểu mà một con người, một người mưu cầu Đức Chúa Trời, nên làm. Ngươi không nên thực hiện bổn phận để được ban phúc, cũng không nên từ chối thực hiện bổn phận vì sợ gặp họa” (Sự khác nhau giữa chức vụ của Đức Chúa Trời nhập thể và bổn phận của con người, Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). Lời của Đức Chúa Trời thật quá rõ ràng! Bổn phận là sự ủy thác của Đức Chúa Trời cho con người, và đó là trách nhiệm không thể thoái thác của một loài thọ tạo. Trong đó không nên có bất kỳ ý đồ hay uế tạp nào. Giống như việc con cái hiếu thảo với cha mẹ là thiên kinh địa nghĩa, không nên có tính toán gì. Hơn nữa, một người có thể được cứu rỗi hay không phụ thuộc vào việc, trong quá trình thực hiện bổn phận, họ có mưu cầu lẽ thật, nhìn nhận con người và sự việc theo lời Đức Chúa Trời hay không, và tâm tính bại hoại của họ có thể được làm tinh sạch và biến đổi hay không. Nếu một người có thể chiếu theo yêu cầu của Đức Chúa Trời để làm người có khuôn phép và làm việc đúng chức phận, đứng vào vị trí của một loài thọ tạo và làm tròn bổn phận của mình, và cho dù có gặp phải những sự thử luyện hay tinh luyện lớn lao nào, họ cũng không có những hiểu lầm hay oán trách, và có thể thuận phục vô điều kiện sự sắp đặt và an bài của Đức Chúa Trời, và cuối cùng đạt được sự thuận phục và kính sợ Đức Chúa Trời, thì một người như vậy có thể được cứu rỗi và cuối cùng sẽ có thể được sống sót. Chứ không phải là hễ ai có thể thực hiện bổn phận thì sẽ được cứu rỗi ngay cả khi tâm tính bại hoại của họ không hề thay đổi – đó hoàn toàn là quan niệm và tưởng tượng của riêng tôi, và hoàn toàn vô lý. Từ đó trở đi, tôi nguyện tìm kiếm tâm ý của Đức Chúa Trời và mưu cầu lẽ thật trong mọi việc xảy đến với mình và làm tốt bổn phận để báo đáp sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Tình trạng của tôi sau đó đã có chút chuyển biến. Đôi khi mắt tôi vẫn bị mờ sau khi đọc các bài giảng một lúc và tôi phải nghỉ ngơi, nhưng trong lòng tôi không còn cảm thấy đau khổ như trước nữa.
Trong giờ tĩnh nguyện, tôi đọc được những đoạn lời này của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời phán: “Chỉ nói về chuyện ốm đau, đây là điều mà đa số mọi người đều phải trải nghiệm trong đời, cho nên sức khỏe vào thời gian nào, ở độ tuổi nào có đau ốm như thế nào, có tình trạng như thế nào, những chuyện này đều có sự an bài của Đức Chúa Trời, bản thân con người không có cách nào quyết định, cũng giống như chuyện con người không thể quyết định thời điểm mà mình sinh ra. Cho nên, ngươi sầu khổ, âu lo, lo lắng vì những chuyện mình không quyết định được, thì có phải là ngu xuẩn hay không? (Thưa, phải.) Việc con người có thể giải quyết được thì bắt tay vào giải quyết, việc nào không làm được thì chờ đợi Đức Chúa Trời, con người nên âm thầm thuận phục, cầu xin Đức Chúa Trời che chở, đây là tâm thái họ nên có. Nếu thật sự có ốm đau, thật sự cận kề cái chết, thì con người cũng nên thuận phục, đừng nói những lời oán giận, đừng phản nghịch Đức Chúa Trời, đừng nói ra những lời báng bổ Ngài, công kích Ngài, mà phải giữ vững cương vị của loài thọ tạo, trải nghiệm, lĩnh hội tất cả những gì đến từ Đức Chúa Trời, mà không lựa chọn. Đây có thể là một trải nghiệm đặc biệt làm phong phú cuộc đời ngươi, chưa chắc đây không phải là một chuyện tốt, phải không? Cho nên, đối với chuyện ốm đau này, đầu tiên nên giải quyết tư tưởng và quan điểm sai lầm của người ta liên quan đến nguồn gốc bệnh tật, thì người ta sẽ không có loại lo lắng này nữa. Ngoài ra, đối với những điều chưa biết hoặc những điều đã biết, con người đều không có quyền kiểm soát, cũng không có năng lực để kiểm soát, bởi vì mọi sự đều nằm dưới sự tể trị của Đức Chúa Trời. Thái độ và nguyên tắc thực hành mà con người nên có chính là chờ đợi và thuận phục. Từ nhận thức cho đến thực hành, đều nên căn cứ theo nguyên tắc lẽ thật mà làm, đây chính là mưu cầu lẽ thật” (Cách mưu cầu lẽ thật (4), Lời, Quyển 6 – Về việc mưu cầu lẽ thật). “Vậy ngươi nên lựa chọn như thế nào và ngươi nên tiếp cận vấn đề mắc bệnh như thế nào? Rất đơn giản và chỉ có một con đường để theo, đó là mưu cầu lẽ thật. Hãy mưu cầu lẽ thật và nhìn nhận vấn đề theo lời Đức Chúa Trời và theo các nguyên tắc lẽ thật – đây là sự hiểu biết mà con người nên có. Và ngươi nên thực hành như thế nào? Một mặt, ngươi đưa vào thực hành sự hiểu biết mà mình đã đạt được cùng những nguyên tắc lẽ thật đã hiểu theo lẽ thật và lời Đức Chúa Trời trong tất cả những trải nghiệm này, đồng thời biến chúng thành thực tế và sự sống của mình. Mặt khác là ngươi không được từ bỏ bổn phận của mình. Dù bị bệnh hay đau khổ, chỉ còn một hơi thở, chỉ cần vẫn còn sống, chỉ cần vẫn có thể nói năng và đi lại, thì ngươi có đủ sức lực để thực hiện bổn phận của mình, và ngươi nên thực hiện bổn phận của mình một cách vững vàng và thực tế. Ngươi không được từ bỏ bổn phận của một loài thọ tạo hay trách nhiệm mà Đấng Tạo Hóa giao cho ngươi. Chỉ cần ngươi chưa chết thì ngươi phải hoàn thành và làm tốt bổn phận của mình. Có người nói: ‘Những điều Ngài phán không được quan tâm đến ý muốn của con người cho lắm. Con bị bệnh mà, rất khổ sở!’. Khi khó khăn, ngươi có thể nghỉ ngơi, dưỡng bệnh và điều trị. Nếu vẫn muốn tiếp tục thực hiện bổn phận của mình, ngươi có thể giảm bớt khối lượng công việc và thực hiện một số bổn phận phù hợp, không ảnh hưởng đến quá trình hồi phục của ngươi. Điều này sẽ chứng tỏ rằng lòng ngươi không từ bỏ bổn phận của mình, không lạc xa khỏi Đức Chúa Trời, không chối bỏ danh Đức Chúa Trời, và không từ bỏ mong muốn trở thành một loài thọ tạo thích đáng. Có người nói: ‘Nếu tôi làm mọi việc đó, Đức Chúa Trời có lấy đi căn bệnh này của tôi không?’ Ngài sẽ làm vậy chứ? (Thưa, không nhất định là vậy.) Dù Đức Chúa Trời có lấy đi căn bệnh đó của ngươi hay không, dù Đức Chúa Trời có chữa lành cho ngươi hay không, thì những gì ngươi làm là điều mà một loài thọ tạo phải làm. Cho dù thể chất ngươi có đủ để đảm nhiệm bất kỳ công tác nào hay có cho phép ngươi làm bổn phận của mình hay không, thì lòng của ngươi cũng không được lạc xa khỏi Đức Chúa Trời, không được từ bỏ bổn phận của mình. Như thế, ngươi sẽ hoàn thành trách nhiệm, nghĩa vụ và bổn phận của mình – đây là lòng trung thành mà ngươi nên giữ vững” (Cách mưu cầu lẽ thật (3), Lời, Quyển 6 – Về việc mưu cầu lẽ thật). Từ lời của Đức Chúa Trời, tôi nhận ra rằng chuyện người ta gặp phải bệnh tật hay khó khăn ở bất kỳ giai đoạn nào của cuộc đời, tất cả đều nằm dưới sự tể trị và sắp xếp của Đức Chúa Trời, và tất cả đều có ý nghĩa. Cũng như tôi đây – nếu không phải vì căn bệnh về mắt này khiến tôi gần như bị mù, tôi sẽ không bao giờ biết được ý đồ đê tiện của mình là cố gắng giao dịch với Đức Chúa Trời, càng không thể biết rằng mình đã luôn đi theo con đường của Phao-lô, và cuối cùng sẽ bị trừng phạt vì chống đối Đức Chúa Trời. Mặc dù khoảng thời gian đó tôi vô cùng đau khổ, nhưng chính điều đó đã giúp tôi phản tỉnh và nhận biết bản thân, và tôi đã có được một chút trưởng thành trong sự sống. Đây đều là ân điển của Đức Chúa Trời. Tôi sẽ không bao giờ học được những điều này trong một hoàn cảnh thoải mái. Tôi cũng nghĩ đến Gióp – ông kính sợ Đức Chúa Trời. Khi đối mặt với những sự thử luyện và tinh luyện thực sự lớn lao, toàn bộ tài sản của ông bị bọn cướp lấy đi, con cái đều chết, và toàn thân ông nổi đầy ung độc. Ông ngồi trong đống tro lấy mảnh sành cạo vào những vết ung độc để giảm đau, nhưng ông không hề phạm tội bởi môi miệng. Ngay cả khi vợ bảo ông từ bỏ danh Đức Chúa Trời, và ba người bạn phán xét ông, ông cũng không hề oán trách Đức Chúa Trời. Ông thậm chí còn nói, “Ðức Giê-hô-va đã ban cho, Ðức Giê-hô-va lại cất đi; đáng ngợi khen danh Ðức Giê-hô-va!” (Gióp 1:21). “Sự phước mà tay Ðức Chúa Trời ban cho chúng ta, chúng ta lãnh lấy, còn sự tai họa mà tay Ngài giáng trên chúng ta, lại chẳng lãnh lấy sao?” (Gióp 2:10). Gióp thà rủa sả bản thân chứ không ngừng thuận phục Đức Chúa Trời hay ngừng để Đức Chúa Trời sắp đặt, qua đó làm cho Sa-tan phải xấu hổ. Rồi còn có Phi-e-rơ – ông đã trải qua hàng trăm thử luyện và tinh luyện chỉ trong bảy năm, và ông đã đi trên con đường mưu cầu lẽ thật suốt cuộc đời. Ông tập trung vào việc phản tỉnh và nhận biết bản thân, và ông tìm cách thỏa mãn tâm ý của Đức Chúa Trời trong mọi việc. Cuối cùng, ông đã yêu kính Đức Chúa Trời đến tột cùng, và ông đã thuận phục cho đến chết. Cả Gióp lẫn Phi-e-rơ đều không đưa ra bất kỳ đòi hỏi hay yêu cầu nào với Đức Chúa Trời, càng không lo lắng về việc mình sẽ có kết cục ra sao. Tất cả những gì họ nghĩ đến là làm thế nào để thuận phục và thỏa mãn Đức Chúa Trời, và cuối cùng, họ đã đứng vững làm chứng cho Đức Chúa Trời và làm cho Sa-tan phải bẽ mặt. Những người này đều là hình mẫu mà tôi nên noi theo. Tôi đã hạ quyết tâm: “Chỉ cần mình vẫn còn cơ hội thực hiện bổn phận, chỉ cần mình vẫn còn nhìn thấy chữ, tay vẫn còn đánh máy được, và đầu óc vẫn còn minh mẫn, thì mình sẽ làm hết sức mình trong bổn phận. Ngay cả khi một ngày nào đó mình mất đi thị lực và không thể làm bổn phận được nữa, mình vẫn nguyện thuận phục. Dù không nhìn thấy, mình vẫn có thể nghe đọc lời Đức Chúa Trời và suy ngẫm lời Ngài trong lòng, và mình có thể dùng lời nói chia sẻ nhận thức trải nghiệm của mình với vợ con, để nhờ họ giúp mình viết thành những bài viết lời chứng trải nghiệm. Mình cũng sẽ tập trung tĩnh tâm trước Đức Chúa Trời để lắng nghe mối thông công của Ngài, và dựa vào lời Đức Chúa Trời để phản tỉnh, nhận biết bản thân và giải quyết tâm tính bại hoại của mình”. Trong thời gian sau đó, tôi đeo kính lão để tham dự các buổi nhóm họp và cùng vợ đọc lời Đức Chúa Trời. Tôi vẫn viết các bài giảng hàng ngày, và khi có thời gian, tôi cũng viết các bài viết lời chứng trải nghiệm. Khi mắt bị mờ sau khi nhìn máy tính một lúc lâu, tôi sẽ nhỏ chút thuốc mắt, cho mắt nghỉ ngơi một lát, đợi khi đỡ khó chịu rồi lại tiếp tục làm bổn phận. Khoảng hai tháng sau ca phẫu thuật mắt, tôi đến bệnh viện tái khám, và bác sĩ đã điều trị cho tôi bằng liệu pháp laser. Điều này đã làm sạch một phần đám mây đục trong dịch kính của mắt tôi, và tôi có thể nhìn thấy các vật ở gần rõ hơn nhiều so với trước đây. Tôi không còn cần đến kính lão để xem chữ trên máy tính nữa, và thậm chí có thể nhìn rõ cả những chữ nhỏ hơn. Tôi thực sự rất phấn khởi và từ tận đáy lòng cảm tạ ân điển của Đức Chúa Trời.
Qua trải nghiệm này, tôi mới nhận ra mình đã ích kỷ và đê tiện đến mức nào khi tin Đức Chúa Trời mà lại cố gắng giao dịch với Ngài. Chính lời của Đức Chúa Trời đã giúp tôi có được chút nhận thức về bản thân và có được một chút thay đổi. Tôi thành tâm cảm tạ Đức Chúa Trời!
Hồi chuông thời sau hết báo động đã vang lên, đại thảm họa đã ập xuống, bạn có muốn cùng gia đình nghênh đón được Thiên Chúa, và có cơ hội nhận được sự che chở của Thiên Chúa không?
Bởi Y Tiêm, Trung Quốc Nhiều năm trời, tôi xa nhà phụng sự bổn phận lãnh đạo, phụ trách một số hội thánh. Mặc dù tôi bị bệnh tim bẩm sinh,...
Bởi Lương Trí, Trung QuốcTú Quyên thân mến:Tôi đã nhận được thư của chị. Qua thư, tôi biết được gần đây chị đã hợp tác với các anh chị em...
Vào đầu năm 2002, tôi tiếp nhận công tác của Đức Chúa Trời vào thời kỳ sau rốt. Không lâu sau đó, tôi bắt đầu truyền bá phúc âm, chăm tưới...
Tôi sinh ra trong một gia đình Cơ Đốc giáo. Năm 60 tuổi, tôi tiếp nhận công tác của Đức Chúa Trời Toàn Năng vào thời kỳ sau rốt. Tôi cảm...