Buông bỏ địa vị không phải là chuyện dễ dàng

14/07/2021

Bởi Lý Chính, Trung Quốc

Tôi sinh ra trong một gia đình nhà nông. Khi còn nhỏ, tôi đã mất cha mẹ, nên anh trai tôi và tôi đã phải dựa vào nhau mà sống. Chúng tôi rất nghèo và bị mọi người coi thường. Tôi từng nghĩ: “Mình sẽ đi học, và một ngày nào đó sẽ xuất sắc hơn người khác”. Thật không may, tôi đã phải bỏ học từ năm lớp mười một vì không có tiền. Giấc mơ xuất sắc hơn người khác của tôi đã tiêu tan, và tôi đã cảm thấy hoàn toàn sụp đổ.

Năm 1990, tôi tìm thấy đức tin nơi Đức Chúa Jêsus. Người rao giảng đã nói rằng bằng cách tin vào Chúa, không những chúng ta sẽ tìm được bình an ở đời này, mà còn có cuộc sống vĩnh hằng ở đời sau. Ông ấy cũng nói rằng chúng ta càng cải đạo được cho nhiều người bằng cách truyền bá phúc âm, thì càng được ban nhiều phước lành, rằng ta sẽ nhận được phần thưởng và mão triều thiên và trị vì như những vị vua bên cạnh Đức Chúa Trời. Lúc đó, tôi đã đọc được đoạn này trong Kinh Thánh: “Ta đã đánh trận tốt lành, đã xong sự chạy, đã giữ được đức tin. Hiện nay mão triều thiên của sự công bình đã để dành cho ta” (2 Ti-mô-thê 4:7-8). Vì thế tôi quyết định từ bỏ gia đình và rao giảng phúc âm cho Đức Chúa Trời. Lúc đó tôi tràn đầy nhiệt huyết, và trong vòng chưa đầy một năm tôi đã cải đạo được cho mấy trăm người. Khi lượng người được cải đạo tăng lên, năm 1997 chúng tôi đã thành lập hàng trăm hội thánh với hơn 30.000 người. Mọi việc liên quan đến các hội thánh đều do tôi quyết định và bất kể tôi công tác ở hội thánh nào, các anh chị em ở đó đều chào đón tôi bằng sự kính trọng và chở tôi đến bất cứ nơi nào tôi muốn. Họ cung cấp cho tôi đồ ăn ngon và một nơi ở tốt, lại còn trả phí đi lại cho tôi nữa. Tôi bắt đầu tận hưởng những điều này.

Một ngày nọ, một lãnh đạo cấp trên mời chúng tôi tham gia một cuộc họp, và nói rằng hiện đang có một giáo phái tên là Tia Chớp Phương Đông, đang rao giảng rằng Đức Chúa Jêsus đã tái lâm làm Đức Chúa Trời Toàn Năng và các bài giảng của họ rất tuyệt vời. Chị ấy nói rằng nhiều con chiên ngoan đạo của giáo đoàn đã bị họ cướp mất, kể cả hai đồng sự trong hội thánh của chúng tôi, anh Vương và anh Ngô đã tiếp nhận Tia Chớp Phương Đông. Chị lãnh đạo yêu cầu chúng tôi loại bỏ luôn hai người anh em này và rằng nếu chúng tôi phát hiện ra ai khác đi nghe Tia Chớp Phương Đông rao giảng, thì phải khai trừ họ ngay lập tức. Nghe vậy tôi thấy rất ngạc nhiên. Tôi biết khá rõ hai người anh em này. Họ đều hiểu rất rõ Kinh Thánh và tin Chúa chân thành. Tôi không hiểu tại sao họ lại có thể tiếp nhận Tia Chớp Phương Đông. Đến cuối năm, hai người anh em này bất ngờ đến nhà tôi. Tôi đã ngần ngại một lúc lâu trước khi quyết định mời họ vào nhà. Tôi sợ rằng họ đến để lừa gạt mình. Nhưng sau đó tôi nghĩ: “Mình tin vào Chúa, nên dù thế nào đi nữa cũng không thể đuổi hai người bọn họ ra khỏi nhà được”. Vì vậy tôi đã tiếp họ. Họ nói rằng để nghênh tiếp Chúa, tôi phải tập trung lắng nghe lời của Đức Chúa Trời, và không nên từ chối tìm kiếm hay tìm hiểu con đường thật chỉ vì sợ bị lừa. Sau đó họ đã thông công chi tiết với tôi về cách để trở thành một trinh nữ khôn ngoan biết lắng nghe tiếng của Đức Chúa Trời, và cách để phân biệt con đường thật và con đường giả. Tôi nghĩ những điều họ nói đều rất mới mẻ và khai sáng. Tôi đã hoàn toàn bị thuyết phục. Khi về, họ đã đưa cho tôi một quyển sách, nói rằng nó chứa đựng phán ngôn của Đức Chúa Trời Toàn Năng, và giục tôi đọc nó, để không bỏ lỡ cơ hội nghênh tiếp Chúa. Sau khi họ đi, tôi bắt đầu lo rằng mình sẽ bị dẫn đi sai đường, và nếu lãnh đạo cấp trên phát hiện tôi đã đón tiếp hai người bọn họ ở nhà mình, thì tôi sẽ bị khai trừ khỏi hội thánh. Nhưng sau đó tôi lại nghĩ: “Nếu Đức Chúa Trời Toàn Năng quả thực là Đức Chúa Jêsus đã tái lâm, mà mình không chịu tìm kiếm chỉ vì sợ bị khai trừ, vậy thì chẳng phải mình là kẻ chối bỏ và chống đối Đức Chúa Trời sao?” Nghĩ vậy, lúc đó tôi đã quyết định phải lập tức tìm hiểu công tác của Đức Chúa Trời Toàn Năng trong thời kỳ sau rốt.

Thế là từ hôm đó, ngày nào tôi cũng đọc lời của Đức Chúa Trời Toàn Năng. Trong khi đó, hai người anh em kia đã thông công cho tôi về ba giai đoạn công tác của Đức Chúa Trời để cứu rỗi nhân loại, lẽ nhiệm mầu về sự nhập thể của Đức Chúa Trời, cách Đức Chúa Trời thực hiện công tác phán xét của Ngài vào thời kỳ sau rốt để làm tinh sạch và cứu rỗi con người, cách Đức Chúa Trời kết thúc các thời đại, cách mà vương quốc của Đấng Christ được hiện thực hóa, vân vân. Trong nhiều năm tin vào Chúa, tôi chưa từng được nghe bất cứ điều gì như thế và càng nghe tôi càng thấy lời của Đức Chúa Trời Toàn Năng có quyền năng và thẩm quyền. Tôi ngày càng cảm thấy Đức Chúa Trời Toàn Năng thực sự có thể là Đức Chúa Jêsus đã tái lâm và rằng tôi nên tìm hiểu. Nhưng tôi luôn cảm thấy lòng mâu thuẫn. Các mục sư và trưởng lão đã lên án Tia Chớp Phương Đông nhiều năm rồi, và tôi cũng đã cùng họ phong tỏa thật chặt hội thánh, không cho ai liên hệ với Tia Chớp Phương Đông, cũng như khai trừ bất cứ ai tiếp nhận con đường của họ. Nếu tôi cũng tiếp nhận Tia Chớp Phương Đông, thì hơn 30.000 tín hữu bên dưới tôi trong hội thánh sẽ nghĩ gì? Nếu họ đều theo tôi tiếp nhận Tia Chớp Phương Đông thì tốt quá, nhưng nếu không, chắc chắn bọn họ sẽ loại bỏ tôi. Tôi nghĩ về việc mình đã từng bất kể nắng mưa, đi công tác và rao giảng ngày đêm, bất chấp nguy cơ bị Trung Cộng săn đuổi, thành lập tất cả những hội thánh này bằng máu, mồ hôi và nước mắt. Phải tốn rất nhiều công sức tôi mới có được địa vị đó, và được nhiều người nể trọng – sao tôi có thể vứt bỏ mọi thứ dễ dàng như vậy được? Hơn nữa, nếu mọi người dưới tôi trong hội thánh tiếp nhận Đức Chúa Trời Toàn Năng, thì liệu tôi vẫn có thể là lãnh đạo của họ không? Nhưng sau đó tôi lại nghĩ: “Nếu Đức Chúa Trời Toàn Năng quả thực là Đức Chúa Jêsus tái lâm mà mình không tiếp nhận Ngài, chẳng phải mình sẽ lỡ mất cơ hội nghênh tiếp Chúa sao?” Tôi cứ nghĩ đi nghĩ lại trong đầu, không biết phải nên làm gì nữa. Vừa lúc đó, thật ngạc nhiên là vợ tôi sau khi nghe lời của Đức Chúa Trời Toàn Năng, đã phấn khích chạy đến nói với tôi rằng: “Em đã nghe lời phán của Đức Chúa Trời Toàn Năng và tin rằng đó là tiếng của Đức Chúa Trời. Nếu Đức Chúa Trời Toàn Năng quả thực là Đức Chúa Jêsus tái lâm, chúng ta phải tìm hiểu và tiếp nhận càng sớm càng tốt!” Tôi cáu kỉnh trả lời: “Anh biết chứ, nhưng chuyện không đơn giản như vậy đâu. Các lãnh đạo và đồng sự trong hội thánh của chúng ta đã phong tỏa hội thánh để không ai được phép tìm hiểu Tia Chớp Phương Đông. Nếu anh tiếp nhận con đường của họ, thì chắc chắn họ sẽ loại bỏ anh”. Nghe vậy, vợ tôi giận dữ nói: “Nhiều năm qua chúng ta tin vào Chúa là vì cái gì chứ? Chẳng phải chúng ta đã mong mỏi Chúa tái lâm để có thể được cất lên thiên quốc sao? Giờ Chúa đã tái lâm rồi, dù anh không được làm lãnh đạo nữa, anh vẫn phải tiếp nhận công tác của Đức Chúa Trời và nghênh tiếp Chúa!” Tôi đã nói mình đồng ý với cô ấy, nhưng trong lòng lại nghĩ: “Suy nghĩ của đàn bà như em quá đơn giản rồi. Có đến hơn 30.000 người dưới quyền anh, và anh phải thật thận trọng. Anh cần suy nghĩ kỹ hơn”. Rồi nhiều tháng trôi qua mà tôi vẫn chưa tiếp nhận Tia Chớp Phương Đông. Trong thời gian đó, các anh chị em ở Hội Thánh Đức Chúa Trời Toàn Năng thường đến gặp tôi. Họ kiên nhẫn thông công với tôi, và thực tế là lòng tôi đã cảm thấy rõ ràng đó quả thật là công tác của Đức Chúa Trời, nhưng vì không thể từ bỏ địa vị của mình, tôi vẫn chưa tiếp nhận ngay. Sau một thời gian, các anh chị em nhận ra tình trạng của tôi. Một lần, khi đang họp với anh Bạch và anh Tống, anh Tống đã thông công trải nghiệm của anh với tôi. Anh nói trước kia anh cũng là lãnh đạo của một hội thánh, quản lý hàng chục hội thánh. Sau đó có người đã rao giảng phúc âm cho anh. Bằng cách đọc lời của Đức Chúa Trời Toàn Năng, anh chắc chắn rằng Đức Chúa Trời Toàn Năng là Đức Chúa Jêsus đã tái lâm. Nhưng khi thực sự đã đến lúc tiếp nhận, thì anh bắt đầu lưỡng lự và nghĩ: “Nếu mình tiếp nhận Đức Chúa Trời Toàn Năng, mình có còn là lãnh đạo không? Mình vẫn được dẫn dắt mọi người chứ?” Sau đó anh nhớ đến câu chuyện dụ ngôn về những người nông dân gian ác của Đức Chúa Jêsus trong Ma-thi-ơ chương 21, câu 33 đến câu 41: “Có người chủ nhà kia, trồng một vườn nho, rào chung quanh, ở trong đào một cái hầm ép rượu, và cất một cái tháp; rồi cho những kẻ trồng nho mướn, và đi qua xứ khác. Ðến mùa hái trái, người chủ sai đầy tớ đến cùng bọn trồng nho, đặng thâu hoa lợi. Bọn trồng nho bắt các đầy tớ, đánh người nầy, giết người kia, và ném đá người nọ. Người chủ lại sai đầy tớ khác đông hơn khi trước; thì họ cũng đối đãi một cách. Sau hết, người chủ sai chính con trai mình đến cùng họ, vì nói rằng: Chúng nó sẽ kính trọng con ta. Nhưng khi bọn trồng nho thấy con đó, thì nói với nhau rằng: Người nầy là kẻ kế tự đây; hè! hãy giết nó đi, và chiếm lấy phần gia tài nó. Họ bèn bắt con ấy, quăng ra ngoài vườn nho, và giết đi. Vậy, khi người chủ vườn đến, thì sẽ xử với bọn làm vườn ấy thể nào? Chúng trả lời rằng: Người chủ sẽ diệt đồ hung ác ấy cách khổ sở, và cho bọn trồng nho khác mướn vườn ấy, là kẻ sẽ nộp hoa lợi lúc đến mùa”. Anh Tống nói anh cảm thấy mình thật đáng trách. Chúa đã tin tưởng giao bầy cho anh, vậy mà khi Chúa tái lâm, thay vì dẫn dắt các anh chị em nghênh tiếp Chúa, anh lại đang cố chiếm đoạt bầy chiên của Chúa và chối bỏ Chúa. Anh nói mình đã hành động y hệt những nông dân gian ác đó và rằng anh là một bề tôi xấu đang chống đối Chúa. Anh đã tự vấn rằng: “Mình tin vào Đức Chúa Trời để có thể trở thành lãnh đạo, hay vì địa vị và sinh kế của mình ư? Có thực là mình tin vào Đức Chúa Trời không?” Anh cảm thấy hối hận khi nghĩ về những điều này, nên đã thú tội và ăn năn với Đức Chúa Trời, và rồi tiếp nhận Đức Chúa Trời Toàn Năng. Sau đó anh truyền bá phúc âm cho các anh chị em dưới mình. Khi nghe anh thông công như vậy, tôi cảm thấy xấu hổ và rất buồn. Để bảo vệ địa vị, tôi đã trì hoãn tiếp nhận công tác của Đức Chúa Trời Toàn Năng mặc dù biết đó là công tác của Đức Chúa Trời. Tôi cũng đã không để các anh chị em tìm hiểu nó, và từ chối trao trả chiên của Đức Chúa Trời cho Ngài. Tôi là một bề tôi xấu, đáng bị rủa sả và trừng phạt! Nhưng khi nghĩ về việc mình đã phong tỏa hội thánh chặt chẽ như thế nào, và không ai trong hội thánh của chúng tôi tiếp nhận công tác của Đức Chúa Trời Toàn Năng trong thời kỳ sau rốt, tôi đã nghĩ: “Nếu mình tiếp nhận, chẳng phải là đang tự vả vào mặt mình sao? Rồi mặt mũi mình sẽ để đâu? Nếu người trong hội thánh phát hiện mình đã tiếp nhận công tác của Đức Chúa Trời Toàn Năng trong thời kỳ sau rốt, chắc chắn họ sẽ căm ghét và loại bỏ mình, và mình sẽ chẳng còn gì cả”. Nên tôi đã quyết định tốt nhất là không tiếp nhận.

Vài ngày sau, tại một cuộc họp khác với hai người anh em đó, tôi đã nói với họ về khúc mắc của mình. Lúc đó tôi đã quá dối trá và quanh co: “Nếu những người tôi dẫn dắt cũng bắt đầu tin vào Đức Chúa Trời Toàn Năng, vậy thì ai sẽ dẫn dắt họ? Có phải cũng sẽ là những người lãnh đạo hay đồng sự hiện tại không?” Thực ra ý tôi là: “Tôi vẫn phải là lãnh đạo và quản lý họ”. Nhưng anh Bạch đã khiến tôi ngạc nhiên khi nói như thế này: “Sau khi chúng ta tiếp nhận công tác của Đức Chúa Trời Toàn Năng trong thời kỳ sau rốt, chính Đức Chúa Trời sẽ dẫn dắt, chăm tưới và chăn dắt chúng ta. Trong hội thánh của chúng tôi, Đấng Christ và lẽ thật có thẩm quyền tối cao. Các lãnh đạo hội thánh sẽ được bầu chọn, nên bất cứ ai hiểu lẽ thật và sở hữu thực tế, và bất cứ ai có thể chăm tưới cho các anh chị em cũng như giải quyết vấn đề thực tế của họ thì đều sẽ được bầu”. Anh ấy nói tiếp: “Nếu theo đuổi lẽ thật, thì anh cũng có thể được chọn làm lãnh đạo. Có rất nhiều loại bổn phận khác nhau trong hội thánh: Lãnh đạo, người rao giảng phúc âm – mỗi người đều có chức năng riêng. Không có sự phân biệt giữa ‘quan trọng’ hay ‘không quan trọng’, hoặc địa vị ‘thấp’ hay ‘cao’ khi nói đến bổn phận. Đó là vì mọi người đều bình đẳng trước Đức Chúa Trời. Điều này hoàn toàn khác với các giáo phái tôn giáo khác”. Càng nghe anh Bạch nói, tôi càng thấy chán nản cho đến khi mặt mũi ủ rũ. Tôi nghĩ: “Sau chuyện này chắc là mình sẽ không được lãnh đạo nhiều người như vậy nữa”.

Anh Tống để ý thấy cảm giác của tôi nên đã thông công cho tôi về trải nghiệm của vua xứ Nineveh. Anh nói: “Vua xứ Nineveh là người cai trị vương quốc. Khi nghe Jonah rao giảng lời của Đức Chúa Trời, rằng Nineveh sẽ bị hủy diệt, ông đã từ bỏ ngai vàng, bảo toàn bộ dân trong thành phố mặc áo vải thô và ngồi trên tro, quỳ xuống xưng tội và ăn năn với Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đã thương xót họ, và thành phố được tha”. Anh lại nói tiếp: “Là lãnh đạo hội thánh, chẳng phải anh nên cố bắt chước vua xứ Nineveh khi đối mặt với một sự kiện lớn như sự tái lâm của Chúa, và dẫn dắt các anh chị em thú tội cũng như ăn năn với Đức Chúa Trời sao?” Điều anh ấy nói khiến tôi rất xúc động. Anh ấy nói đúng. Vua của Nineveh là người cai trị vương quốc. Khi người có địa vị cao như thế có thể khiêm nhường thú tội và ăn năn với Đức Chúa Trời, vậy thì tại sao tôi lại không thể từ bỏ địa vị và tiếp nhận công tác của Đức Chúa Trời trong thời kỳ sau rốt? Rồi anh Tống nói tiếp: “Khi Đức Chúa Jêsus thực hiện công tác của Ngài, những người Pha-ri-si vì muốn bảo vệ địa vị và sinh kế của họ, nên đã cố hết sức chống đối và lên án Đức Chúa Jêsus, giữ các tín hữu dưới quyền kiểm soát của họ. Đức Chúa Jêsus đã trách họ rằng: ‘Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi đóng nước thiên đàng trước mặt người ta; các ngươi không vào đó bao giờ, mà có ai muốn vào, thì lại ngăn trở’ (Ma-thi-ơ 23:13)”. Rồi anh nói với tôi: “Việc Đức Chúa Trời đang bày tỏ lẽ thật và thực hiện công tác phán xét vào thời kỳ sau rốt là phúc âm của sự đến của thiên quốc. Lúc đầu, anh đã tin vào những lời dối trá mà người ta đã nói với anh và cùng các lãnh đạo tôn giáo phong tỏa hội thánh, ngăn các anh chị em tiếp nhận công tác của Đức Chúa Trời trong thời kỳ sau rốt. Làm vậy tức là anh đã bất tuân Đức Chúa Trời. Nhưng bây giờ anh đã đọc lời của Đức Chúa Trời Toàn Năng và đã kết luận rằng Ngài chính là Đức Chúa Jêsus tái lâm. Nếu anh cứ tiếp tục ngoan cố từ chối tiếp nhận công tác của Đức Chúa Trời hay không chịu nói cho các anh chị em tin tức về sự tái lâm của Chúa, ngăn không để họ vào thiên quốc, thì anh đang cố tình làm sai và mắc thêm một sai lầm nữa”. Anh ấy nói: “Đó sẽ là một điều ác khủng khiếp chống lại Đức Chúa Trời! Nếu các anh chị em lỡ mất cơ hội được cứu rỗi vì chúng ta đã ngăn cản họ, vậy thì đó sẽ là một món nợ máu! Chúng ta sẽ không thể trả nổi món nợ này dù có chết đi hết lần này đến lần khác. Tuy nhiên, nếu anh dẫn dắt các anh chị em đến trước Đức Chúa Trời, thì không những họ không ghét anh, mà sẽ còn cảm ơn anh vì đã chia sẻ phúc âm của thiên quốc và con đường để có cuộc sống vĩnh hằng với họ”.

Sau đó anh Bạch đã đọc cho chúng tôi một vài đoạn lời của Đức Chúa Trời Toàn Năng. “Khi Đức Chúa Trời trở nên xác thịt và đến làm việc giữa con người, tất cả mọi người trông thấy Ngài và nghe thấy những lời của Ngài, và tất cả mọi người nhìn thấy những việc mà Đức Chúa Trời làm trong thân thể xác thịt của Ngài. Vào lúc đó, tất cả những quan niệm của con người đều trở thành bọt nước. Với những ai đã nhìn thấy Đức Chúa Trời xuất hiện trong xác thịt, họ sẽ không bị kết án nếu họ sẵn sàng vâng lời Ngài, trong khi những ai cố tình chống đối Ngài sẽ bị xem là người chống đối Đức Chúa Trời. Những con người như thế là những kẻ địch lại Đấng Christ, những kẻ thù cố ý chống đối Đức Chúa Trời” (“Tất cả những ai không biết Đức Chúa Trời đều là những người chống đối Đức Chúa Trời” trong Lời xuất hiện trong xác thịt). “Có những người đọc Kinh Thánh trong những hội thánh lớn và nghêu ngao nó suốt cả ngày, nhưng không ai trong số họ hiểu được mục đích công tác của Đức Chúa Trời. Không ai trong số họ có thể biết Đức Chúa Trời; càng không ai trong số họ có thể phù hợp với ý muốn của Đức Chúa Trời. Tất cả họ đều là người vô giá trị, hèn hạ, từng người một đứng trên cao để thuyết giảng Đức Chúa Trời. Họ cố ý chống đối Đức Chúa Trời ngay cả khi họ mang cờ xí của Ngài. Sau khi tuyên xưng đức tin nơi Đức Chúa Trời, họ vẫn ăn thịt và uống huyết của con người. Tất cả những kẻ như thế là những con quỷ nuốt linh hồn của con người, những con quỷ vương cố tình cản đường những ai đang cố gắng bước trên con đường đúng, và là những chướng ngại vật cản trở những ai tìm kiếm Đức Chúa Trời. Họ có thể ra vẻ có ‘thể chất tốt’, nhưng làm sao những người đi theo họ biết rằng họ không ai khác hơn là những kẻ địch lại Đấng Christ, là những người dẫn dắt con người chống lại Đức Chúa Trời? Làm sao những người đi theo họ biết rằng họ là những con quỷ sống hết mình trong việc nuốt những linh hồn của con người?” (“Tất cả những ai không biết Đức Chúa Trời đều là những người chống đối Đức Chúa Trời” trong Lời xuất hiện trong xác thịt). Sau khi anh ấy đọc xong, tôi rất buồn. Tôi cảm thấy như bị tát vào mặt và đỏ mặt vì xấu hổ, chỉ muốn độn thổ luôn cho rồi. Tôi biết rất rõ rằng Đức Chúa Jêsus đã tái lâm, và Ngài đang bày tỏ rất nhiều lẽ thật cũng như thực hiện công tác phán xét và làm tinh sạch con người. Nhưng để bảo vệ địa vị và sinh kế, tôi đã từ chối tiếp nhận công tác của Đức Chúa Trời trong thời kỳ sau rốt và phong tỏa hội thánh để chiên của Đức Chúa Trời không nghe được tiếng Ngài và quay về với Ngài. Tôi có khác gì những người Pha-ri-si chống đối Đức Chúa Jêsus trước kia chứ? Chúa là người chăn chiên của chúng ta, và giờ Ngài đã tái lâm để gọi chiên của Ngài về. Tôi phải trả lại chiên cho Ngài. Sao tôi có thể vẫn cố bảo vệ địa vị của mình được chứ? Chẳng lẽ tôi lại chờ cho đến khi sự trừng phạt của Đức Chúa Trời giáng xuống hay sao? Tôi đã quyết định không được bất tuân Đức Chúa Trời thêm nữa. Dù cho không còn được làm lãnh đạo và bị mọi người chối bỏ, tôi vẫn phải tiếp nhận công tác của Đức Chúa Trời trong thời kỳ sau rốt, dẫn các anh chị em đến trước Đức Chúa Trời, và trả bầy chiên về cho Ngài. Nghĩ vậy, tôi quyết định tiếp nhận công tác của Đức Chúa Trời Toàn Năng trong thời kỳ sau rốt và bắt đầu rao giảng phúc âm cho những người mà mình đang dẫn dắt.

Một thời gian sau, dưới sự dẫn dắt của Đức Thánh Linh, hơn 10.000 người trong hội thánh của tôi đã tiếp nhận công tác của Đức Chúa Trời trong thời kỳ sau rốt. Tạ ơn Đức Chúa Trời, cuối cùng tôi đã dẫn bầy của Ngài đến trước mặt Ngài, và tôi cảm thấy rất bình yên và thoải mái.

Sáu tháng sau, ngày càng có nhiều người trong một khu vực lớn gia nhập hội thánh, vì vậy các hội thánh đã phải phân chia theo khu vực, và các lãnh đạo cũng như đồng sự được bầu chọn. Mặc dù vậy tôi đã rất ngạo mạn, tôi nghĩ: “Bất kể có phân chia như thế nào, với kinh nghiệm và khả năng của mình, tôi vẫn sẽ là lãnh đạo. Tôi có thể quản lý vài hội thánh cùng lúc, không vấn đề gì”. Tuy nhiên, vài ngày sau, khi tôi đang họp với hai người anh em khác thì một lãnh đạo hội thánh đã đến nói: “Giờ đã đến lúc truyền bá phúc âm vương quốc. Chúng ta cần một số anh chị em có tố chất tốt biết rõ Kinh Thánh để truyền bá phúc âm ở các vùng khác. Đây là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng. Ba anh có sẵn sàng đảm nhận không?” Hai người anh em kia vui vẻ đồng ý, nhưng tôi lại không hài lòng với chuyện đó lắm, tôi nghĩ: “Tôi từng lãnh đạo các hội thánh trong giáo phái của mình nhiều năm, quản lý hàng ngàn người. Giờ tôi lại phải đi rao giảng phúc âm một lần nữa trong khi một số đồng sự dưới tôi đã trở thành lãnh đạo. Vậy thì tôi biết giấu mặt đi đâu chứ? Thật là nhục nhã!” Nhớ khi xưa tôi từng làm lãnh đạo nhiều năm, đi đến đâu cũng được mọi người ngưỡng mộ và nể trọng, muốn gì có nấy. Giờ đây tôi chẳng có gì, mà còn phải chịu khổ cực đi rao giảng phúc âm lần nữa. Tôi thật không cam tâm. Nhưng nếu từ chối trước mặt mọi người thì mất mặt quá, nên tôi đã miễn cưỡng đồng ý. Tôi thầm nghĩ: “Mình phải rao giảng phúc âm thật tốt. Chỉ cần có thể cải đạo cho nhiều người, thì các anh chị em vẫn sẽ ngưỡng mộ mình”. Và khi bắt đầu làm, tôi đã cố rao giảng phúc âm thật tốt. Chẳng bao lâu sau, hơn 400 người đã tiếp nhận công tác mới của Đức Chúa Trời. Tôi cảm thấy lúc đó dù đi tới đâu, các anh chị em cũng nồng nhiệt chào đón và ngưỡng mộ tôi. Một lần nữa tôi lại được sống trong niềm vui sướng mà địa vị của mình mang lại, và tôi lại càng hăng hái truyền bá phúc âm.

Tháng Tám năm 2000, tôi cùng anh Lưu đã ra ngoại thành truyền bá phúc âm. Anh Lưu đã tin vào Đức Chúa Trời Toàn Năng lâu hơn tôi và thông công về lẽ thật rất rõ ràng. Tôi cũng rất vui, vì sẽ rất tốt nếu có thể dùng điểm mạnh của anh để bù đắp cho những thiếu sót của tôi. Một lần nọ, anh và tôi rao giảng phúc âm cho một nhóm người thuộc một giáo phái khác. Họ đưa ra một số quan niệm tôn giáo, và tôi muốn thông công cho họ. Nhưng vì hiểu biết của tôi về lẽ thật còn ít, nên tôi không thể giúp họ mặc dù rất muốn. Cuối cùng, anh Lưu đã bình tĩnh thông công để bác bỏ quan niệm của họ. Anh nói rất xác đáng và hợp lý. Những người chúng tôi thông công cho lúc đầu không chịu tiếp nhận, nhưng khi lắng nghe, họ bắt đầu chắc chắn rằng điều anh Lưu nói là đúng, cuối cùng họ cũng gật đầu đồng ý. Thấy cảnh đó, tôi vừa ganh tị vừa khâm phục anh Lưu. Tôi nghĩ: “Anh Lưu thông công quá rõ ràng. Nếu cứ tiếp tục thế này, mình chỉ làm nền cho anh ấy, và người khác sẽ nói anh ấy giỏi hơn mình. Không thể được! Mình phải trang bị lẽ thật cho bản thân và cố vượt qua anh Lưu”. Sau khi về nhà, tôi bắt đầu đọc lời Đức Chúa Trời từ sáng đến tối, trang bị lẽ thật về việc truyền bá phúc âm. Kể cả trong giờ ăn, tôi cũng nghĩ đến cách anh Lưu thông công, để lần tới có thể biết cách thông công vì các mục tiêu phúc âm, sao cho ít nhất trông tôi cũng giỏi như anh Lưu.

Tuy nhiên, ngạc nhiên thay, lần tiếp theo khi chúng tôi đi rao giảng phúc âm cho những người đó, họ lại có những câu hỏi mới, và một lần nữa tôi lại không thể thông công rõ ràng được. Thấy họ không thực sự hiểu tôi đang nói gì, tôi cảm thấy rất xấu hổ. Lúc đó, anh Lưu đã nhanh chóng trả lời thay tôi. Họ chăm chú lắng nghe anh nói, thỉnh thoảng lại gật đầu đồng tình, và cuối cùng họ đã hiểu rất rõ mọi thứ. Còn tôi chỉ thành công trong việc làm bẽ mặt mình và muốn độn thổ luôn cho rồi. Tôi nghĩ: “Mình đến đây với anh Lưu, nhưng lại không thông công rõ ràng được và chẳng được tích sự gì. Họ vẫn cần phải có anh ấy mới giúp giải quyết vấn đề được. Mình xấu hổ quá!” Để gỡ gạc chút nhân phẩm, tôi lợi dụng lúc anh Lưu ngừng thông công để nói vài lời. Một ngày sau đó, họ đều tiếp nhận phúc âm. Điều đó khiến tôi rất hạnh phúc, nhưng lòng lại cảm thấy có chút ê chề. Tôi thấy việc họ tiếp nhận phúc âm không phải là nhờ tôi, và tôi đã chẳng thể hiện được gì hay ho. Sau khi chúng tôi ăn tối cùng nhau, những người mới gia nhập hội thánh đã yêu cầu chúng tôi nói về trải nghiệm của mình. Tôi nghĩ: “Thường thì anh Lưu là người nổi bật, nhưng lần này tôi phải nhân cơ hội để nói về trải nghiệm của mình để họ không nghĩ tôi là kẻ tầm thường”. Nên tôi bắt đầu nói liền tằng tằng về công tác mà mình đã làm, những đau khổ mà mình đã chịu đựng, và cách mà mình đã dẫn hơn 10.000 người về với Đức Chúa Trời. Thực ra tôi đã nói quá lên. Một số anh chị em đã rất ngạc nhiên, số khác lại nhìn tôi với vẻ ngưỡng mộ, trong khi những người khác chỉ chăm chú lắng nghe. Tôi rất sung sướng. Tôi ngồi ưỡn ngực nói rất tự tin.

Hôm đó khi về nhà, tôi nghĩ: “Khi nói đến truyền bá phúc âm, mình thiếu rất nhiều lẽ thật. Mình có nên tìm anh Lưu giúp không nhỉ?” Nhưng sau đó tôi nghĩ: “Nếu tìm anh Lưu giúp đỡ, chẳng phải điều đó cho thấy anh ấy giỏi hơn mình sao? Bỏ đi, mình cứ bí mật tự trang bị lẽ thật. Mình sẽ không hỏi anh ấy đâu”. Sau đó, khi hai chúng tôi đi rao giảng phúc âm, các anh chị em đã chào đón anh Lưu rất nồng nhiệt. Họ vây quanh anh, hỏi anh đủ thứ. Điều này khiến tôi rất buồn và chỉ biết cúi đầu đứng sang một bên. Tôi nghĩ: “Mình ở đây làm gì trong khi anh Lưu thông công giỏi như vậy? Chẳng phải trong mắt người khác mình chỉ là của thừa sao? Anh ấy luôn là người nổi bật và nếu cứ tiếp tục như thế thì sẽ chẳng còn ai đánh giá cao mình nữa”. Đột nhiên tôi đã có một ý nghĩ nổi loạn, rằng tôi thực sự không muốn thực hiện bổn phẩn với anh Lưu nữa. Sau khi nghĩ vậy, bất cứ khi nào tôi và anh Lưu sắp đi rao giảng phúc âm, là tôi lại viện cớ, nói rằng mình cảm thấy không khỏe và muốn ở nhà. Thỉnh thoảng, kể cả khi có đi chung, tôi cũng không thông công, và chỉ khi ai đó hỏi thì tôi mới miễn cưỡng thông công vài lời. Về cơ bản là tôi không làm việc với anh. Chúng tôi làm việc với nhau như vậy hơn hai tháng, và tôi không ngừng tranh danh đoạt lợi. Tình trạng của tôi ngày càng tồi tệ và tối tăm hơn, tuy nhiên tôi chưa từng nghĩ đến việc ăn năn. Đó là lúc Đức Chúa Trời sửa phạt và sửa dạy tôi.

Một ngày nọ, tôi được yêu cầu đến vùng đông bắc Trung Quốc để truyền bá phúc âm. Khi nghe tin này, tôi rất vui và nghĩ: “Cuối cùng, mình không cần phải làm việc với anh Lưu nữa. Đây là thời điểm để mình tỏa sáng, và khi cải đạo được cho mọi người bằng cách rao giảng phúc âm cho họ, mọi công trạng đều thuộc về mình. Các anh chị em chắc chắn sẽ ngưỡng mộ mình”. Điều mà tôi không biết đó là, trên đường đi đến đó, cảnh sát lại phát hiện tôi không mang theo chứng minh nhân dân và đã bắt giữ tôi. Họ nghĩ tôi là một kẻ sát nhân đang tìm đường tẩu thoát. Dù tôi có cố giải thích thế nào thì họ cũng chẳng thèm nghe, và đã tra tấn tôi ba ngày ba đêm. Tôi không được ăn gì, ngủ nghỉ hay thậm chí là uống một ngụm nước. Họ đánh tôi đến lúc mặt mũi bê bết máu và mắt sưng húp không mở nổi. Họ đánh tôi tơi tả. Tôi nhớ mình đã bị ngất đi mấy lần; chết có khi còn sướng hơn. Tôi cảm thấy lòng nặng trĩu và căm ghét những con quỷ vô cùng độc ác này. Chúng không điều tra kỹ và chẳng có bằng cớ gì, vậy mà lại thẩm vấn tôi một cách dã man. Lúc đó, tôi chỉ biết liên tục cầu nguyện với Đức Chúa Trời, xin Ngài bảo vệ và dẫn dắt tôi. Tôi nhận ra Đức Chúa Trời đã để chuyện này xảy ra với tôi, và rằng tôi phải tìm kiếm lẽ thật và rút ra bài học từ những gì đang diễn ra. Sau đó tôi bắt đầu nghiệm lại bản thân: “Tại sao chuyện này lại xảy ra với mình?” Đúng lúc đó, tôi chợt nhớ tới đoạn lời này của Đức Chúa Trời: “Ngươi càng tìm kiếm theo cách này, ngươi gặt hái càng ít. Một người càng khao khát địa vị, họ sẽ càng bị xử lý nghiêm khắc hơn và họ sẽ càng phải trải qua sự tinh luyện đặc biệt. Những người như thế thật vô giá trị! Họ phải bị xử lý và phán xét một cách thích đáng để họ hoàn toàn buông bỏ những điều này. Nếu các ngươi theo đuổi cách này cho đến cuối cùng, thì các ngươi sẽ không gặt hái được gì” (“Tại sao ngươi không sẵn sàng là một vật làm nền?” trong Lời xuất hiện trong xác thịt). Khi suy ngẫm về lời của Đức Chúa Trời, tôi nhận ra mình đã quá khao khát địa vị. Tôi nghĩ về khoảng thời gian mình đi rao giảng phúc âm cùng anh Lưu. Khi thấy anh thông công rất hay và mọi người nhìn anh với vẻ ngưỡng mộ, tôi đã ganh tỵ và muốn tranh đua với anh xem ai giỏi hơn. Tôi đã nói về trải nghiệm của mình trước mặt những người mới gia nhập hội thánh để tôn cao bản thân và phô trương để họ ngưỡng mộ và thần tượng tôi. Khi không nhận được sự ngưỡng mộ của các anh chị em, tôi trở nên tiêu cực và chống đối, không muốn làm việc với anh Lưu nữa, và khi thực hiện bổn phận, tôi chỉ làm qua loa đại khái. Tôi nhận ra mình đã không thực hiện bổn phận để làm chứng cho Đức Chúa Trời mà chỉ để đổi lấy địa vị và danh tiếng; tôi thật quá đáng khinh! Tôi chỉ biết theo đuổi danh vọng và tư lợi, không bao giờ nghĩ đến chuyện ăn năn, kể cả có chìm sâu vào bóng tối. Tôi đã quá dấy loạn! Càng nghĩ tôi càng căm hận bản thân, nên đã cầu nguyện với Đức Chúa Trời. Tôi nói: “Lạy Đức Chúa Trời, con từng luôn chỉ chạy theo địa vị khi thực hiện bổn phận và tranh danh đoạt lợi. Điều mà Ngài cực kỳ căm ghét! Giờ Ngài đang sửa phạt và sửa dạy con, và con muốn nghiêm túc nhìn lại bản thân, tuân theo sự sắp đặt và an bài của Ngài. Nếu sống sót qua khỏi chuyện này, con nguyện sẽ buông bỏ địa vị và nghiêm túc theo đuổi lẽ thật”. Thật ngạc nhiên là khi tôi đã vâng phục và rút ra được bài học, Đức Chúa Trời đã cho tôi thấy lòng thương xót của Ngài. Cảnh sát đã tìm ra chứng minh nhân dân của tôi trong hệ thống của họ, thấy tôi không phải là kẻ giết người, nên đã thả tôi đi.

Khi về nhà, tôi đã đến bệnh viện kiểm tra. Chân phải và một chiếc xương sườn của tôi đã bị gãy. Vài tháng sau, tôi đã ăn và uống lời của Đức Chúa Trời, nghiệm lại bản thân trong khi bình phục tại nhà. Một ngày nọ, tôi đọc một đoạn trong lời của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời Toàn Năng phán: “Trong việc tìm kiếm của các ngươi, các ngươi có quá nhiều quan niệm cá nhân, hy vọng và tương lai. Công tác hiện tại là để xử lý những mong muốn về địa vị và những ham muốn vô độ của các ngươi. Hy vọng, địa vị và quan niệm là tất cả những điển hình kinh điển về tâm tính Sa-tan. Lý do những thứ này tồn tại trong lòng con người là hoàn toàn bởi vì độc tố của Sa-tan luôn luôn ăn mòn tư tưởng của con người, và con người luôn luôn không thể rũ bỏ những cám dỗ này của Sa-tan. Họ đang sống giữa tội lỗi nhưng lại không tin đó là tội lỗi, và họ vẫn nghĩ rằng: ‘Chúng ta tin vào Đức Chúa Trời, vì vậy Ngài phải ban phước cho chúng ta và sắp đặt mọi thứ thích hợp cho chúng ta. Chúng ta tin vào Đức Chúa Trời, vì thế chúng ta phải vượt trội hơn những người khác, và chúng ta phải có địa vị và tương lai hơn bất kỳ ai khác. Vì chúng ta tin vào Đức Chúa Trời, Ngài phải ban cho chúng ta vô số phước lành. Nếu không, sẽ không được gọi là tin vào Đức Chúa Trời’. Trong nhiều năm, những suy nghĩ mà con người dựa vào vì sự sống còn của họ đang ăn mòn tâm hồn họ đến mức họ đã trở nên gian dối, hèn nhát và đáng khinh. Họ không những thiếu ý chí và quyết tâm, mà còn trở nên tham lam, kiêu ngạo và ngoan cố. Họ hoàn toàn không có bất kỳ quyết tâm nào để vượt qua bản ngã, và hơn thế nữa, họ không có một chút can đảm nào để rũ bỏ sự chỉ trích của những thế lực tối tăm. Những tư tưởng và đời sống của con người mục nát đến nỗi những quan điểm của họ về việc tin vào Đức Chúa Trời vẫn còn đáng ghê tởm không thể chịu được, và ngay cả khi con người nói đến quan điểm của họ về niềm tin nơi Đức Chúa Trời thì hoàn toàn không thể nghe được. Hết thảy mọi người đều hèn nhát, bất tài, ti tiện và yếu đuối. Họ không cảm thấy kinh tởm các thế lực của bóng tối, và họ không cảm thấy yêu sự sáng và lẽ thật; thay vào đó, họ làm hết sức mình để trục xuất chúng. Chẳng phải tư tưởng và quan điểm hiện nay của các ngươi giống y như vậy sao? ‘Vì tôi tin vào Đức Chúa Trời, tôi nên nhận được cơn mưa phước lành và nên được bảo đảm rằng địa vị của tôi không bao giờ trượt dốc và rằng nó vẫn cao hơn so với những người không tin’. Các ngươi đã không nuôi dưỡng loại quan điểm đó trong các ngươi chỉ trong một hoặc hai năm, mà trong nhiều năm. Lối tư duy đổi chác của các ngươi quá phát triển. Mặc dù ngày nay các ngươi đã đến được bước này, nhưng các ngươi vẫn chưa buông bỏ được địa vị mà lại liên tục cố gắng dò hỏi về nó, và quan sát nó hàng ngày, với nỗi lo sợ sâu sắc rằng một ngày nào đó, địa vị của các ngươi sẽ bị mất và danh tiếng của ngươi sẽ bị hủy hoại. Con người chưa bao giờ gác lại mong muốn được thoải mái của mình. … Các ngươi khó mà đặt triển vọng và vận mệnh của mình sang một bên. Bây giờ các ngươi là những người đi theo, và các ngươi đã có được một số hiểu biết về giai đoạn công tác này. Tuy nhiên, các ngươi vẫn chưa đặt ham muốn địa vị của mình sang một bên. Khi các ngươi có địa vị cao thì các ngươi giỏi truy cầu, nhưng khi các ngươi có địa vị thấp thì các ngươi không còn truy cầu nữa. Các phước lành về địa vị luôn luôn ở trong tâm trí các ngươi. Tại sao phần lớn mọi người không thể bỏ tính tiêu cực? Chẳng lẽ đáp án lúc nào cũng bởi vì những triển vọng ảm đạm sao?” (“Tại sao ngươi không sẵn sàng là một vật làm nền?” trong Lời xuất hiện trong xác thịt).

Tôi cũng nghe một bản thánh ca lời Đức Chúa Trời. “Loài người sống trong xác thịt, nghĩa là họ đang sống trong địa ngục trần gian, và không có sự phán xét và hình phạt của Đức Chúa Trời, con người cũng dơ bẩn như Sa-tan. Hình phạt và phán xét bởi Đức Chúa Trời là sự bảo vệ tốt nhất và là ân điển lớn nhất của con người. Chỉ thông qua hình phạt và phán xét bởi Đức Chúa Trời, con người mới có thể thức tỉnh và căm ghét xác thịt, ghét bỏ Sa-tan. Sự sửa dạy nghiêm khắc của Đức Chúa Trời giải thoát con người khỏi ảnh hưởng của Sa-tan, giải thoát con người khỏi thế giới nhỏ bé của chính mình và cho phép con người được sống trong sự sáng của sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Không có sự cứu rỗi nào tốt hơn hình phạt và phán xét!” (“Hình phạt và sự phán xét của Đức Chúa Trời là ánh sáng của sự cứu rỗi của con người” Theo Chiên Con và hát những bài ca mới). Tôi đã khóc rất nhiều khi nghe bài thánh ca này. Cuối cùng tôi nhận ra Đức Chúa Trời phán xét và hành phạt không phải vì Ngài ghét con người, mà vì Ngài muốn cứu rỗi con người. Ngài muốn chấn chỉnh quan điểm sai lầm về việc theo đuổi danh vọng và địa vị của tôi. Ngay từ hồi còn nhỏ, tôi đã sống bởi những chất độc Sa-tan như: “Nên người xuất chúng, rạng danh tiên tổ”, hay “Người vươn đến tầm cao, nước chảy về chốn thấp”. Cứ có cơ hội là tôi lại muốn nổi trội hơn người khác, thậm chí tôi còn mơ về điều đó. Sau khi bắt đầu tin vào Chúa, tôi đã hy sinh và dâng mình chỉ để có được địa vị cao để các anh chị em ngưỡng mộ và thần tượng mình. Tôi thậm chị còn muốn cai trị như một vị vua bên cạnh Đấng Christ. Tham vọng của tôi đúng là không có giới hạn! Khi nghe về phúc âm của Đức Chúa Trời Toàn Năng, tôi biết Chúa đã đến, nhưng vì không thể từ bỏ vị trí lãnh đạo của mình, nên tôi đã không muốn tiếp nhận điều đó và suýt nữa trở thành một bề tôi xấu ngăn các tín hữu vào vương quốc của Đức Chúa Trời. Hai năm qua kể từ khi tiếp nhận công tác của Đức Chúa Trời Toàn Năng, ngoài mặt thì có vẻ tôi đã từ bỏ vị trí lãnh đạo, nhưng trong lòng tôi vẫn bị địa vị và danh vọng kiểm soát. Khi các anh chị em ngưỡng mộ và thần tượng mình, tôi đã vui vẻ và hăng hái thực hiện bổn phận. Nhưng khi họ thờ ơ với tôi, thì tôi lại chán nản và buồn bực, không muốn thực hiện bổn phận nữa. Tôi nhận ra mình không thực hiện bổn phận để theo đuổi lẽ thật và thay đổi tâm tính hay để được Đức Chúa Trời khen ngợi, mà để nổi trội hơn người khác để họ ngưỡng mộ tôi, và để thỏa nguyện tham vọng cũng như ước muốn của riêng tôi. Chẳng phải là tôi đang trơ trẽn lợi dụng Đức Chúa Trời và cố lừa gạt Ngài sao? Đó là tôi đang coi thường Đức Chúa Trời! Tôi đang sống bằng những chất độc Sa-tan này, ngày càng ngạo mạn mà không có chút nhân tính hay lý trí nào. Nếu không nhờ sự phán xét và mặc khải trong lời Đức Chúa Trời, và sự sửa phạt cũng như sửa dạy của Ngài, tôi sẽ không bao giờ nhận ra mình đã bị Sa-tan làm cho bại hoại trầm trọng như thế nào, hay khát vọng địa vị của mình lớn ra sao, tôi sẽ ngày càng thèm muốn phước lành địa vị và trở nên sa đọa, cho đến khi bị Đức Chúa Trời rủa sả và trừng phạt. Cuối cùng tôi đã hiểu rằng dù Đức Chúa Trời có làm gì, phán xét, hành phạt, sửa phạt hay sửa dạy, cũng đều là sự cứu rỗi và tình yêu dành cho nhân loại.

Sau đó tôi đã đọc được đoạn lời này của Đức Chúa Trời: “Quan điểm của Đức Chúa Trời là đòi hỏi con người khôi phục lại bổn phận và địa vị ban đầu của họ. Con người là một loài thọ tạo của Đức Chúa Trời, và vì vậy, con người không nên vượt quá giới hạn của bản thân bằng cách đưa ra bất kỳ đòi hỏi nào với Đức Chúa Trời, và không nên làm điều gì khác hơn là thực hiện bổn phận của mình như một loài thọ tạo của Đức Chúa Trời” (“Thành công hay thất bại phụ thuộc vào con đường mà con người đi” trong Lời xuất hiện trong xác thịt). “Con người, là một loài thọ tạo của Đức Chúa Trời, cũng phải thực hiện bổn phận của con người. Bất kể họ là chúa tể hay người chăm nom mọi thứ, bất kể địa vị của con người cao đến đâu giữa muôn vật, thì họ vẫn chỉ là con người nhỏ bé dưới sự thống trị của Đức Chúa Trời, và chỉ là một con người tầm thường không hơn, một loài thọ tạo của Đức Chúa Trời, và họ sẽ không bao giờ cao hơn Đức Chúa Trời được. Là một loài thọ tạo của Đức Chúa Trời, con người phải cố gắng thực hiện bổn phận của một loài thọ tạo của Đức Chúa Trời, và tìm kiếm tình yêu dành cho Đức Chúa Trời mà không có lựa chọn khác, vì Đức Chúa Trời xứng đáng với tình yêu của con người. Những ai tìm kiếm tình yêu dành cho Đức Chúa Trời không nên tìm kiếm bất kỳ lợi ích cá nhân nào hoặc những điều cá nhân họ ao ước; đây là cách theo đuổi đúng đắn nhất. Nếu những gì ngươi tìm kiếm là lẽ thật, nếu những gì ngươi đưa vào thực hành là lẽ thật, và nếu những gì ngươi đạt được là một sự thay đổi trong tâm tính của mình, thì con đường ngươi bước đi là con đường đúng. Nếu những gì ngươi tìm kiếm là những phước lành của xác thịt, những gì ngươi đưa vào thực hành là lẽ thật theo quan niệm của riêng ngươi, và nếu không có sự thay đổi nào trong tâm tính của ngươi, ngươi không hề vâng lời Đức Chúa Trời trong xác thịt, và ngươi vẫn sống trong sự mơ hồ, thì những gì ngươi tìm kiếm chắc chắn sẽ đưa ngươi xuống địa ngục, vì con đường ngươi đi là con đường thất bại. Việc ngươi sẽ được làm cho hoàn thiện hay bị loại bỏ tùy thuộc vào sự theo đuổi của chính ngươi, điều đó cũng có nghĩa là thành công hay thất bại phụ thuộc vào con đường mà con người đi” (“Thành công hay thất bại phụ thuộc vào con đường mà con người đi” trong Lời xuất hiện trong xác thịt). Sau khi đọc lời của Đức Chúa Trời, tôi đã hiểu rằng mình là một loài thọ tạo và nên ở đúng vị trí của mình, tìm kiếm để yêu kính và vâng lời Đức Chúa Trời, loại bỏ những tâm tính bại hoại của bản thân và thực hiện thật tốt bổn phận của một loài thọ tạo. Đó mới là sự mưu cầu đúng đắn duy nhất. Tôi cũng nhận ra một người có đạt được sự cứu rỗi hay được hoàn thiện hay không chẳng liên quan gì đến việc họ có địa vị hay không. Dù một người có thực hiện bổn phận gì, thì điều mà Đức Chúa Trời nhìn vào chính là sự chân thành và vâng lời của họ, để xem liệu họ có theo đuổi lẽ thật và tâm tính sống của họ có thay đổi hay không. Khi nhận ra điều này, tôi đã cầu nguyện với Đức Chúa Trời: “Dù sau này con có thực hiện bổn phận gì, hay liệu con có địa vị hay không, con muốn nghiêm túc theo đuổi lẽ thật và làm tốt bổn phận của một loài thọ tạo”. Phải hơn hai tháng sau khi bị thương, tôi mới bắt đầu đỡ hơn và đã có thể ra ngoài đi rao giảng phúc âm một lần nữa. Điều khác biệt với trước đây đó là tôi không còn cảm thấy mình không có địa vị nữa, và khi làm việc với người khác, tôi không còn tranh đua để trở thành người giỏi nhất. Tôi cảm thấy chỉ cần thực hiện bổn phận thì chứng tỏ tôi đã được Đức Chúa Trời nâng đỡ.

Nhiều năm trôi qua, tôi nghĩ mình đã thoát khỏi sự ràng buộc và gông cùm của địa vị. Nhưng khi Đức Chúa Trời sắp xếp một tình huống mới cho tôi, khao khát địa vị của tôi một lần nữa lại trỗi dậy. Mùa đông năm 2012, cảnh sát điên cuồng bắt giữ các Cơ Đốc nhân, và đó là thời điểm rất tồi tệ. Một ngày nọ, các lãnh đạo và chấp sự đã tổ chức một cuộc họp trong làng chúng tôi. Một lãnh đạo nhận ra tôi có chút thời gian rảnh, nên đã bảo tôi ra góc đường đứng làm người canh chừng. Tôi cảm thấy không hài lòng về chuyện đó, nhưng vì sự an toàn của các anh chị em, nên tôi đã đồng ý. Sau khi vị lãnh đạo đó rời đi, tôi thầm nghĩ: “Mình từng nhiều năm làm lãnh đạo, và luôn đi rao giảng phúc âm. Sẽ tốt hơn nếu tìm một vài tín hữu bình thường để làm công việc canh chừng thấp kém này. Tại sao lại là mình chứ? Các người đều đi họp trong khi tôi lại phải đứng ngoài trời lạnh, chấp nhận rủi ro. Chẳng phải điều này là vì tôi không có địa vị sao? Nếu tôi là một lãnh đạo, thì sẽ không phải làm bổn phận đứng canh như thế này”. Tôi chợt nhận ra khao khát địa vị của mình lại trỗi dậy, nên đã nhanh chóng cầu nguyện với Đức Chúa Trời. Tôi nói: “Lạy Đức Chúa Trời, giờ con phải thực hiện bổn phận thấp kém này và khao khát địa vị của con lại nổi lên. Đức Chúa Trời ơi, con không muốn bị địa vị trói buộc nữa. Xin hãy dẫn dắt con để con có thể loại bỏ gông cùm địa vị này”. Sau đó tôi đã đọc được đoạn này trong lời Đức Chúa Trời: “Một số người đặc biệt tôn sùng Phao-lô. Họ thích ra ngoài, diễn thuyết và làm việc, họ thích tham dự các buổi tụ họp và rao giảng, và họ thích mọi người lắng nghe họ, tôn thờ họ, và xoay quanh họ. Họ thích có địa vị trong tâm trí người khác, và họ đánh giá cao việc người khác coi trọng hình ảnh mà họ thể hiện. Hãy cùng phân tích bản tính của họ từ những hành vi này: Bản tính của họ là gì? Nếu họ thực sự cư xử như vậy, thì cũng đủ cho thấy họ kiêu ngạo và tự phụ. Họ không thờ phụng Đức Chúa Trời chút nào; họ tìm kiếm một địa vị cao hơn và mong muốn có quyền lực với người khác, chiếm hữu họ, và có địa vị trong tâm trí họ. Đây là hình ảnh điển hình của Sa-tan. Các khía cạnh nổi bật trong bản tính của họ là sự kiêu ngạo và tự phụ, không sẵn lòng thờ phụng Đức Chúa Trời, và tham muốn được người khác tôn thờ. Những hành vi như vậy có thể cho ngươi một cái nhìn rất rõ ràng về bản tính của họ” (“Làm thế nào để biết bản tính con người” trong Ghi chép về những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt). Sau khi đọc lời Đức Chúa Trời, tôi nhận ra mình luôn theo đuổi địa vị cao, luôn muốn người khác ngưỡng mộ và thần tượng mình. Tôi muốn trong lòng người khác có mình, và về bản chất, điều này có nghĩa là tôi muốn chiếm được lòng người khác. Tôi đang tranh giành mọi người với Đức Chúa Trời! Bản tính của tôi quá ngạo mạn! Tôi đã nghĩ về cái cách mà Phao-lô luôn tôn cao và làm chứng cho bản thân, khiến người khác khâm phục và thần tượng ông ta, Đó là lý do ông ta nói: “Vì Ðấng Christ là sự sống của tôi, và sự chết là điều ích lợi cho tôi vậy” (Phi-líp 1:21). Điều này khiến hầu hết mọi người ngưỡng mộ và thờ phụng ông ta, đến mức vị trí của ông ta trong lòng mọi người còn hơn cả Đức Chúa Jêsus. Chẳng phải điều tôi đang nghĩ và theo đuổi lúc đó cũng khiến tôi giống y như Phao-lô sao? Tôi thực sự đã đi trên con đường chống đối Đức Chúa Trời của những kẻ địch lại Đấng Christ; tôi thực sự đã ghê tởm Đức Chúa Trời và mọi người, và đáng bị trừng phạt. Trong thời kỳ sau rốt, Đức Chúa Trời bày tỏ lẽ thật để làm tinh sạch và cứu rỗi con người, nhưng sau nhiều năm theo đạo, tôi đã không nỗ lực theo đuổi lẽ thật hay nghĩ đến việc tìm kiếm để thay đổi bản thân trở thành người vâng lời và thờ phụng Đức Chúa Trời. Thay vào đó, tôi lại dùng mọi suy nghĩ và sức lực để theo đuổi địa vị. Nếu cứ tiếp tục như vậy, tôi sẽ bị Đức Chúa Trời rủa sả và trừng phạt. Tôi thật là một kẻ khờ dại!

Sau đó tôi đã đọc được những lời này của Đức Chúa Trời: “Con người vẫn là những vật thọ tạo không có gì đáng để khoe khoang. Vì các ngươi là những vật thọ tạo của Đức Chúa Trời, nên các ngươi phải thực hiện bổn phận của một vật thọ tạo. Không có yêu cầu nào khác đối với các ngươi. Đây là cách các ngươi nên cầu nguyện: ‘Lạy Đức Chúa Trời! Dù con có địa vị hay không, giờ đây con hiểu bản thân mình. Nếu địa vị của con cao thì đó là bởi sự nâng lên của Ngài, và nếu nó thấp thì đó là bởi sự định đoạt của Ngài. Mọi thứ đều ở trong tay Ngài. Con không có bất kỳ sự lựa chọn nào, và cũng không có bất kỳ sự phàn nàn nào. Ngài đã định đoạt rằng con sẽ được sinh ra trong đất nước này và giữa dân tộc này, và tất cả những gì con nên làm là hoàn toàn tuân phục dưới sự thống trị của Ngài bởi vì mọi thứ đều nằm trong những điều Ngài đã định đoạt. Con không suy nghĩ về địa vị; xét cho cùng, con chỉ là một vật thọ tạo. Nếu Ngài đặt con vào vực sâu không đáy, vào hồ lửa và diêm sinh, thì con không là gì ngoài một vật thọ tạo. Nếu Ngài sử dụng con, thì con là một vật thọ tạo. Nếu Ngài hoàn thiện con, thì con vẫn là một vật thọ tạo. Nếu Ngài không hoàn thiện con, thì con sẽ vẫn yêu mến Ngài bởi vì con không hơn gì một vật thọ tạo. Con không gì hơn là một sinh vật cực nhỏ được tạo ra bởi Đấng Tạo Hóa của muôn loài thọ tạo, chỉ là một người trong số tất cả những người được tạo ra. Chính Ngài đã tạo ra con, và giờ đây một lần nữa Ngài lại đặt con trong tay Ngài để Ngài tùy ý sử dụng. Con sẵn sàng làm công cụ của Ngài và vật làm nền của Ngài bởi vì mọi thứ đều là những điều Ngài đã định đoạt. Không ai có thể thay đổi nó. Muôn vật và mọi sự đều trong tay Ngài’. Đến khi ngươi không còn suy nghĩ về địa vị nữa, thì ngươi sẽ thoát khỏi nó. Chỉ sau đó ngươi mới có thể tìm kiếm một cách tự tin và dạn dĩ, và chỉ sau đó lòng ngươi mới có thể thoát khỏi bất kỳ sự ràng buộc nào” (“Tại sao ngươi không sẵn sàng là một vật làm nền?” trong Lời xuất hiện trong xác thịt). Sau khi đọc lời Đức Chúa Trời, tôi hiểu rằng nếu một người có địa vị cao, thì đó là do Đức Chúa Trời đã nâng họ lên, còn nếu ai đó có địa vị thấp, thì đó là do Đức Chúa Trời đã định sẵn. Dù Ngài đối xử với mọi người như thế nào hay đặt chúng ta ở đâu, chúng ta cũng phải luôn vâng phục, thực hiện tốt bổn phận và không được phàn nàn. Đây là điều hợp lý và là điều mà một loài thọ tạo nên làm. Khi hiểu được điều này, tôi đã sẵn lòng vâng phục và thực hành lẽ thật, và từ đó trở đi, tôi đã cống hiến hết mình cho công việc canh gác. Tôi đứng canh chừng cẩn thận để các lãnh đạo và chấp sự có thể tổ chức họp yên ổn. Sau đó, người lãnh đạo đã bảo tôi đứng gác thêm vài lần nữa nhưng tôi không còn nghĩ đến chuyện địa vị thấp hay cao. Tôi chỉ cảm thấy tự do và an bình.

Trong những năm đó, Đức Chúa Trời đã liên tục sắp đặt các tình huống để vạch trần tôi và Ngài đã dùng lời của mình để phán xét và hành phạt tôi để tôi thực sự thấy được mình đã bị Sa-tan làm bại hoại trầm trọng như thế nào và khao khát địa vị của mình lớn ra sao. Tôi cũng nhận ra rõ ràng rằng địa vị là thứ mà Sa-tan đã dùng để trói buộc mọi người: Càng theo đuổi địa vị, Sa-tan càng hại ta và đùa giỡn với ta, và ta càng bất tuân cũng như chống đối Đức Chúa Trời. Tôi cũng hiểu mọi người nên theo đuổi điều gì khi tin vào Đức Chúa Trời để được cứu rỗi. Tôi từng có khao khát địa vị và tham vọng lớn như vậy, mà nay đã có thể thay đổi được như thế, tuân theo sự sắp đặt và an bài của Đức Chúa Trời, và ngoan ngoãn thực hiện bổn phận, tất cả đều là nhờ sự phán xét và hình phạt của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đã nỗ lực thay cho cả phần tôi và từ tận đáy lòng tôi tạ ơn Đức Chúa Trời Toàn Năng vì đã cứu rỗi tôi!

Bạn có mong muốn làm trinh nữ khôn ngoan lắng nghe tiếng Đức Chúa Trời để nghênh đón Chúa không

Nội dung liên quan

Sự thử luyện của dòng dõi Mô-áp

Bởi Chuyên Nhất, Trung Quốc Đức Chúa Trời Toàn Năng phán: “Mọi công tác được thực hiện ngày hôm nay là để con người có thể được làm cho...

Tinh thần tôi được giải phóng

Bởi Di Bổ, Tây Ban Nha “Trong đời mình, nếu con người muốn được làm cho thanh sạch và có được những đổi thay trong tâm tính của mình, nếu...

Tôi không còn sợ trách nhiệm nữa

Bởi Trình Nặc, Trung Quốc Một ngày tháng Mười một năm 2020, một lãnh đạo dự buổi họp của nhóm chúng tôi và sau khi kết thúc buổi họp, anh...

Liên hệ với chúng tôi qua Messenger