Mưu cầu lẽ thật là gì (8) Phần 1

Lần trước, chúng ta đã thông công về bốn câu trong văn hóa truyền thống về luân lý đạo đức. Nói cho Ta nghe các câu đó là gì. (“Ân trả nghĩa đền”; “Xả thân vì người”; “Phụ nữ phải đức hạnh, nhân từ và hiền thục” và “Uống nước nhớ nguồn”.) Các ngươi đã hiểu rõ những điều phải được mổ xẻ và hiểu trong từng câu chưa? Mỗi câu trong văn hóa truyền thống đều liên quan mật thiết đến đời thực của con người và cách họ cư xử. Không nghi ngờ gì nữa, những câu trong văn hóa truyền thống này có ảnh hưởng nhất định đến đời thực của con người và cách họ cư xử. Những nguyên tắc trong lời nói, hành động và cách cư xử của con người trong đời thực về cơ bản đều bắt nguồn từ những câu nói và quan điểm này trong văn hóa truyền thống. Rõ ràng, con người đã chịu sự ảnh hưởng và ăn sâu khá sâu sắc của văn hóa truyền thống. Sau khi Ta thông công xong trong buổi nhóm họp trước, các ngươi có suy ngẫm và thông công thêm với nhau không? (Chúng con đã thông công và hiểu được một chút về những câu nói luân lý đạo đức này, và chúng con đã có thể thay đổi một chút quan điểm và góc nhìn của mình về những điều kiểu như thế này, nhưng vẫn chưa hiểu thấu đáo về chúng.) Để đạt được sự hiểu biết thấu đáo, một mặt, ngươi phải hiểu dựa trên cơ sở những gì Ta đã thông công; mặt khác, ngươi phải hiểu xét trên những quan điểm của ngươi trong đời thực, cũng như những suy nghĩ và hành động phát sinh khi có chuyện xảy đến với ngươi. Chỉ nghe giảng thôi thì không bao giờ đủ. Mục đích của việc nghe giảng là để có thể nhận ra những điều tiêu cực trong đời thực, để có thể phân biệt những điều tiêu cực một cách chính xác hơn, và sau đó là để có thể lĩnh hội những điều tích cực và có được sự hiểu biết thuần khiết về chúng, để lời Đức Chúa Trời trở thành tiêu chí cho cách hành xử và cư xử trong đời thực. Một mặt, việc thực hành khả năng phân định những điều tiêu cực này có tác dụng điều chỉnh hành vi và cách cư xử của con người, trong chừng mực nào đó có thể chỉnh đốn những tư tưởng, quan điểm và thái độ sai lầm của con người đối với sự việc và sự vật; ngoài ra, trong vai trò tích cực, nó có thể giúp con người có được những đường lối, phương pháp đúng đắn cùng các nguyên tắc thực hành chính xác khi nhìn nhận con người và sự vật, cũng như trong cách cư xử và hành động của mình. Đây là mục đích và tác dụng mong muốn của việc thông công và mổ xẻ những câu nói liên quan đến luân lý đạo đức này.

Giờ chúng ta đã hai lần thông công về những câu nói liên quan đến luân lý đạo đức trong văn hóa truyền thống Trung Quốc, mà về cơ bản là những yêu cầu đối với luân lý đạo đức của con người phát sinh trong bối cảnh xã hội rộng lớn. Ở cấp độ cá nhân, những câu nói này có thể kiềm chế và điều chỉnh hành vi của con người ở một mức độ nhất định; ở góc độ rộng hơn, chúng nhằm tạo ra những đặc tính xã hội tốt đẹp, và dĩ nhiên là để những kẻ cai trị có thể cai trị người dân tốt hơn. Nếu người dân có chính kiến, có thể tự do suy nghĩ và tìm kiếm các tiêu chuẩn đạo đức riêng về cách cư xử, hoặc nếu họ có thể bày tỏ quan điểm riêng của mình, sống theo ý mình, cư xử theo cách họ thấy phù hợp và có nhìn nhận riêng về sự vật, con người, xã hội và đất nước mình đang sống, thì chắc chắn đó không phải là điều tốt hay dấu hiệu tốt cho những kẻ cai trị, bởi vì nó đe dọa trực tiếp đến vị thế thống trị của họ. Tóm lại, những câu nói luân lý đạo đức này về cơ bản được đưa ra bởi những người gọi là nhà đạo đức, nhà tư tưởng và nhà giáo dục như một cách để lấy lòng và cố làm thỏa mãn những kẻ cai trị, với mục đích cho thấy rằng họ có thể sử dụng những tư tưởng và lý thuyết này, cũng như danh tiếng và uy tín của chính họ, để phục vụ những kẻ cai trị. Về cơ bản, đây là bản chất của tất cả những câu nói luân lý đạo đức mà chúng ta đã thông công này; mục đích của chúng không gì khác hơn là để ràng buộc những suy nghĩ, hành vi đạo đức và quan điểm của con người về mọi sự trong một phạm vi đạo đức được là tốt hơn, tích cực hơn và cao quý hơn một chút, nhằm giảm bớt xung đột giữa con người với nhau, mang lại sự hài hòa trong các tương tác của con người, cũng như đem lại sự thanh bình, từ đó có lợi cho sự thống trị của những kẻ cai trị đối với người dân, và hơn nữa, giúp củng cố địa vị của giai cấp thống trị cũng như duy trì sự hài hòa và ổn định của xã hội. Nhờ đó, những người đề ra các chuẩn mực luân lý đạo đức này đã đạt được tất cả những gì họ mong muốn, đó là được giai cấp thống trị đánh giá cao và giao cho những chức vụ quan trọng. Đây chính là con đường sự nghiệp họ khao khát và mong mỏi, và cho dù họ có thể không thành quan chức cấp cao, thì chí ít họ cũng sẽ được các thế hệ mai sau tưởng nhớ và đi vào lịch sử. Thử nghĩ xem – ai trong số những người đề ra những câu nói luân lý đạo đức này lại không được xã hội này tôn kính chứ? Ai trong số đó không được loài người ngưỡng mộ chứ? Thậm chí ngày nay, trong nhân dân Trung Quốc, những người được gọi là nhà tư tưởng, nhà giáo dục và nhà đạo đức này, chẳng hạn như Khổng Tử, Mạnh Tử, Lão Tử, Hàn Phi Tử, v.v. vẫn luôn được lòng dân, được đánh giá cao và tôn kính. Tất nhiên, chúng ta mới chỉ liệt kê một vài câu có hạn về luân lý đạo đức, và các ví dụ đưa ra chỉ là một số ví dụ tiêu biểu hơn. Mặc dù những câu nói luân lý đạo đức này phát xuất từ nhiều người, nhưng những tư tưởng và quan điểm được những người gọi là danh nhân này chủ trương hoàn toàn phù hợp với mong muốn của những kẻ cai trị và giai cấp thống trị, và tất cả các quan niệm về cai trị và tư tưởng cốt lõi của họ đều giống nhau: hình thành một số chuẩn mực đạo đức về cách cư xử và hành động cho con người noi theo để họ cư xử cho phải phép, ngoan ngoãn đóng góp cho xã hội và đất nước, và sống ngoan ngoãn giữa đồng loại – về cơ bản chỉ có vậy. Bất kể những câu nói luân lý đạo đức này bắt nguồn từ triều đại hay con người nào thì tư tưởng và quan điểm của chúng đều có cùng một mục đích: phục vụ giai cấp thống trị, và lừa dối, kiểm soát nhân loại.

Chúng ta đã thông công khoảng tám câu về luân lý đạo đức. Bản chất của tám câu này về cơ bản là yêu cầu mọi người buông bỏ những ham muốn ích kỷ và ý muốn riêng, thay vào đó phục vụ xã hội, loài người và đất nước của chính mình, cũng như có được sự vị tha. Ví dụ: cho dù những câu nói luân lý đạo đức như “Xả thân vì người”; “Phụ nữ phải đức hạnh, nhân từ và hiền thục”, “Nghiêm khắc với mình và khoan dung với người” và đại loại như thế, được đưa ra với nhóm người nào, thì tất cả cũng đều yêu cầu con người ta phải tự kiềm chế – kiềm chế những ham muốn và hành vi vô luân của bản thân – đồng thời giữ những quan điểm tư tưởng và đạo đức thiện lành. Bất kể những câu nói này ảnh hưởng đến nhân loại ra sao, và bất kể ảnh hưởng đó là tích cực hay tiêu cực, thì nói một cách ngắn gọn, mục đích của những người gọi là nhà đạo đức này là để ràng buộc và điều chỉnh luân lý đạo đức của con người bằng cách đề ra những câu nói như vậy, để mọi người có quy tắc cơ bản trong cách cư xử và hành động, cách nhìn nhận con người và sự vật, cũng như cách nhìn nhận xã hội và đất nước. Nhìn ở khía cạnh tích cực, việc sáng tác ra những câu nói về luân lý đạo đức này trong chừng mực nào đó đã đóng một vai trò trong việc ràng buộc, điều chỉnh luân lý đạo đức của loài người. Nhưng nhìn dưới góc độ thực tế khách quan thì nó đã khiến con người ta đón nhận một số tư tưởng, quan điểm giả tạo, hợm mình, khiến những người chịu sự ảnh hưởng và ăn sâu của văn hóa truyền thống trở nên xảo quyệt hơn, quỷ quyệt hơn, giỏi giả vờ hơn và gò bó hơn trong tư duy. Do sự ảnh hưởng và ăn sâu của văn hóa truyền thống, con người đã dần coi những quan điểm và câu nói sai lầm đó của văn hóa truyền thống là những điều tích cực, và tôn thờ những danh nhân, vĩ nhân lừa dối mọi người như những vị thánh. Khi con người bị lừa dối, tâm trí họ trở nên mê muội, tê liệt và trì độn. Họ không biết nhân tính bình thường là gì, hay những người có nhân tính bình thường nên theo đuổi và tuân theo điều gì. Họ không biết con người nên sống thế nào trong thế giới này hay họ nên áp dụng phương thức hay quy tắc sinh tồn nào, càng không biết mục đích sinh tồn đúng đắn của con người là gì. Do sự ảnh hưởng, ăn sâu, thậm chí là giam hãm của văn hóa truyền thống, những điều tích cực, những yêu cầu và quy tắc từ Đức Chúa Trời đều bị dập tắt. Từ góc độ này, các câu nói luân lý đạo đức khác nhau trong văn hóa truyền thống phần lớn đã lừa dối và ảnh hưởng sâu sắc đến tư duy của con người, giam hãm suy nghĩ của họ và dẫn họ đi lạc lối, xa rời con đường đúng đắn trong cuộc sống và ngày càng xa rời những yêu cầu của Đức Chúa Trời. Nghĩa là ngươi càng chịu sự ảnh hưởng sâu sắc và sự ăn sâu lâu dài bởi các tư tưởng và quan điểm khác nhau về luân lý đạo đức trong văn hóa truyền thống, thì ngươi càng xa rời những suy nghĩ, khát vọng, mục tiêu nên theo đuổi và các quy tắc sinh tồn mà con người có nhân tính bình thường nên có, cũng như ngươi càng xa rời tiêu chuẩn Đức Chúa Trời yêu cầu ở con người. Bị những tư tưởng này từ văn hóa truyền thống tiêm nhiễm, truyền bá và ăn sâu, con người coi chúng như quy tắc, thậm chí coi chúng là lẽ thật, là tiêu chí để nhìn nhận con người và sự vật, để cư xử và hành động. Con người không còn nghĩ ngợi hay nghi ngờ liệu những điều này có đúng hay không, cũng không còn vượt ra được khỏi những câu nói khác nhau của văn hóa truyền thống về nhân, nghĩa, lễ, trí, tín để suy nghĩ về cách mình nên sống như thế nào. Con người không biết điều đó, cũng không nghĩ về nó. Tại sao họ không nghĩ về nó? Bởi vì suy nghĩ của con người đã bị lấp đầy và xâm chiếm bởi những kinh sách đạo đức rao giảng về nhân, nghĩa, lễ, trí, tín này. Mặc dù nhiều người tin vào Đức Chúa Trời thật và đọc Kinh Thánh, nhưng họ vẫn nhầm lẫn lời Đức Chúa Trời và lẽ thật với nhiều câu nói luân lý đạo đức bắt nguồn từ nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Một số người thậm chí còn coi nhiều câu nói này trong văn hóa truyền thống là kinh sách về những điều tích cực và mạo nhận chúng là lẽ thật, rao giảng và quảng bá chúng như lẽ thật, thậm chí đi xa đến độ trích dẫn chúng như một cách để dạy dỗ người khác. Đây là một vấn đề rất nghiêm trọng; đó là điều Đức Chúa Trời không muốn thấy, điều khiến Ngài ghê tởm. Vậy có phải tất cả những ai chấp nhận công tác của Đức Chúa Trời trong thời kỳ sau rốt đều có thể nhìn thấu và phân biệt rõ những điều của văn hóa truyền thống không? Không hẳn. Chắc chắn có một số người vẫn còn khá sùng bái và tán thành những điều thuộc về văn hóa truyền thống. Nếu những độc tố của Sa-tan này không được loại bỏ triệt để, thì con người sẽ khó hiểu và đạt được lẽ thật. Dân sự được Đức Chúa Trời chọn phải nhìn thấu một thực tế: lời Đức Chúa Trời là lời Đức Chúa Trời, lẽ thật là lẽ thật, và lời của con người là lời của con người. Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín là lời của con người, văn hóa truyền thống là lời của con người. Lời của con người không bao giờ là lẽ thật, cũng sẽ không bao giờ trở thành lẽ thật được. Đây là sự thật. Cho dù con người có đồng tình với nhân, nghĩa, lễ, trí, tín đến mức nào trong suy nghĩ và quan điểm của họ, thì những điều đó cũng không thể thay thế lời Đức Chúa Trời; cho dù những giá trị đó đã được kiểm chứng và xác nhận là đúng đắn đến đâu, thì trải qua hàng nghìn năm tồn tại của con người, chúng cũng không thể trở thành lời Đức Chúa Trời hoặc thay thế lời Ngài được, chứ đừng nói đến nhầm lẫn với lời Đức Chúa Trời. Ngay cả khi những câu nói về nhân, nghĩa, lễ, trí, tín có phù hợp với lương tâm và lý trí của con người, thì chúng cũng không phải là lời Đức Chúa Trời, không thể thay thế lời Ngài, càng không thể được gọi là lẽ thật. Những câu nói và yêu cầu về nhân, nghĩa, lễ, trí, tín trong văn hóa truyền thống chỉ phục vụ cho xã hội và giai cấp thống trị. Những câu nói và yêu cầu này chỉ nhằm mục đích kiềm chế và điều chỉnh hành vi của mọi người nhằm đạt được những đặc tính xã hội tốt hơn, có lợi cho sự ổn định quyền lực của giai cấp thống trị. Đương nhiên, cho dù ngươi có tuân thủ tốt các giá trị nhân, nghĩa, lễ, trí, tín đến đâu, ngươi cũng sẽ không thể hiểu được lẽ thật, sẽ không thể vâng lời Đức Chúa Trời, và cuối cùng ngươi cũng sẽ không trở thành một loài thọ tạo đủ tư cách được. Cho dù ngươi có tuân thủ tốt những điều này đến đâu, nếu ngươi không hiểu lẽ thật, ngươi vẫn không thể thực hiện được bổn phận của mình theo tiêu chuẩn có thể chấp nhận được. Thế thì ngươi sẽ là gì trong mắt Đức Chúa Trời? Ngươi vẫn sẽ là một người ngoại đạo và thuộc về Sa-tan. Liệu một người được cho là có phẩm chất đạo đức phi phàm và luân thường đạo lý cao thượng thì có lương tâm và lý trí của nhân tính bình thường không? Họ có thể thực sự chấp nhận lẽ thật không? Họ có thể tin vào Đức Chúa Trời và đi theo Ngài không? Tuyệt đối không! Bởi vì những gì họ tôn thờ là Sa-tan, ma quỷ, thánh giả và thánh nhân giả. Sâu trong thâm tâm và xương tủy, họ chán ghét lẽ thật và căm ghét lẽ thật. Vì vậy, họ chắc chắn là những kẻ chống đối Đức Chúa Trời và là kẻ thù của Ngài. Những người tôn thờ ác quỷ Sa-tan là những kẻ kiêu ngạo, tự phụ và ngu dại nhất – họ là những kẻ thoái hóa của loài người, những kẻ xương tủy chứa đầy độc tố của Sa-tan, đầy những dị giáo và ngụy biện của Sa-tan. Ngay khi họ thấy lời Đức Chúa Trời và lẽ thật, mắt họ đỏ ngầu và họ phừng phừng giận dữ, lộ ra bộ mặt gớm ghiếc của ma quỷ. Vì vậy, bất cứ ai tôn sùng văn hóa truyền thống và mù quáng tin vào những ngụy biện truyền thống như nhân, nghĩa, lễ, trí, tín đều chán ghét lẽ thật và căm ghét lẽ thật. Họ hoàn toàn không có ý thức của nhân tính bình thường, và họ sẽ không bao giờ chấp nhận lẽ thật. Những thứ thuộc về văn hóa truyền thống và những câu nói luân lý đạo đức liên quan đến nhân, nghĩa, lễ, trí, tín hoàn toàn không phù hợp với lẽ thật hay lời Đức Chúa Trời. Cho dù con người có đưa những giá trị này vào thực hành cẩn thận đến mức nào hay duy trì chúng tốt ra sao, thì điều đó cũng không tương đương với việc sống thể hiện ra nhân tính bình thường. Điều này là do con người có tâm tính bại hoại. Đó là thực tế của vấn đề. Họ chứa đầy đủ loại giáo lý của Sa-tan, và “Người không vì mình, trời tru đất diệt” đã trở thành bản tính và thực chất của con người. Bất kể ngươi có khiến chúng nghe có vẻ hay ho ra sao, ngôn từ của ngươi cao siêu ra sao, hay lý thuyết của ngươi vĩ đại đến đâu, thì những câu nói của văn hóa truyền thống về luân lý đạo đức này đều không thể đưa vào thực hành được. Ngay cả khi ngươi tuân thủ từng quy tắc được áp đặt dựa trên các giá trị nhân, nghĩa, lễ, trí, tín trong văn hóa truyền thống, thì ngươi cũng chỉ là cư xử tốt bề ngoài. Nhưng khi nói đến việc tin vào Đức Chúa Trời, đi theo Ngài và thực hiện bổn phận của mình, vâng lời Đức Chúa Trời, cũng như thái độ và quan điểm của ngươi đối với Ngài và lẽ thật, thì những giá trị văn hóa truyền thống này không có tác dụng gì cả. Chúng không thể kiềm chế sự dấy loạn của ngươi, không thể đảo ngược quan niệm của ngươi về Đức Chúa Trời, cũng không thể sửa chữa những tâm tính bại hoại của con người, huống gì giải quyết vấn đề con người bất cẩn và chiếu lệ trong việc thực hiện bổn phận của mình. Những giá trị này hoàn toàn không giúp ích gì trong việc hạn chế hành vi bại hoại của con người dưới bất kỳ hình thức nào, và về cơ bản chúng không thể khiến con người sống thể hiện ra nhân tính bình thường.

Hầu hết mọi người khi mới bắt đầu tin vào Đức Chúa Trời đều nghĩ rằng đức tin rất đơn giản. Họ nghĩ rằng tin vào Đức Chúa Trời và đi theo Đức Chúa Trời nghĩa là học cách kiên nhẫn và khoan dung, sẵn lòng làm từ thiện, sẵn lòng giúp đỡ người khác, có chừng mực trong lời nói và hành động của mình, không quá kiêu ngạo hay quá khắt khe với người khác. Họ cảm thấy rằng nếu cư xử theo cách này thì Đức Chúa Trời sẽ hài lòng, và rằng họ sẽ không bị tỉa sửa và xử lý trong khi thực hiện bổn phận của mình. Nếu phục vụ với tư cách là một lãnh đạo hay người làm công, họ tin rằng mình sẽ không bị thay thế hay đào thải. Họ tin rằng mình chắc chắn sẽ được cứu rỗi. Tin vào Đức Chúa Trời có thực sự là một vấn đề đơn giản như vậy không? (Không.) Không ít người có quan điểm này, nhưng cuối cùng, những tư tưởng, quan điểm và cách họ hành xử trong cuộc sống đều dẫn đến thất bại. Cuối cùng, một số người không biết gì khá hơn đã tổng kết lại trong một câu: “Tôi là một con người thất bại!”. Họ nghĩ rằng cư xử như một con người nghĩa là tuân theo các giá trị nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Nhưng đó có thể gọi là cư xử như một con người được không? Đó không phải là cư xử như một con người; đó là cách cư xử của ma quỷ. Đối với những người nói rằng: “Tôi là một con người thất bại”, Ta sẽ hỏi, ngươi đã cư xử như một con người chưa? Ngươi thậm chí còn chưa cố gắng cư xử như một con người, vậy thì sao có thể nói: “Tôi là một con người thất bại” chứ? Đây là sự thất bại của các giá trị văn hóa truyền thống, như nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, trong việc phát huy được chức năng của nó đối với con người, chứ không phải là sự thất bại trong việc cư xử như một con người. Khi mọi người thực hiện bổn phận trong nhà Đức Chúa Trời, những thứ như nhân, nghĩa, lễ, trí, tín hoàn toàn vô dụng và vô ích. Cuối cùng, tự lúc nào không hay, mọi người kết luận: “Ồ, nhân, nghĩa, lễ, trí, tín thật vô dụng! Mình từng nghĩ việc cư xử rất đơn giản, và việc tin vào Đức Chúa Trời cũng rất đơn giản, chứ không phức tạp như thế. Chỉ đến bây giờ mình mới nhận ra mình đã quá đơn giản hóa đức tin nơi Đức Chúa Trời”. Sau khi nghe giảng một thời gian dài, cuối cùng họ cũng nhận ra rằng con người không hiểu lẽ thật là không được. Nếu con người không hiểu một phạm trù nào đó của lẽ thật, thì họ có khả năng phạm sai lầm trong phạm trù đó và bị xử lý, thất bại, bị phán xét và hành phạt. Những điều mà trước đây họ tưởng là đúng đắn, tốt đẹp, tích cực và cao quý trở nên tầm thường và vô giá trị khi đối mặt với lẽ thật. Tất cả những câu nói khác nhau về nhân, nghĩa, lễ, trí, tín đều có ảnh hưởng nào đó đến suy nghĩ và quan điểm của con người, cũng như đến đường lối và phương cách họ hành xử. Nếu công tác quản lý cứu rỗi nhân loại của Đức Chúa Trời không tham gia vào và nhân loại tiếp tục sống như hiện nay, sống dưới quyền của Sa-tan, thì nhân, nghĩa, lễ, trí, tín – những điều tương đối tích cực, sẽ đóng một vai trò tích cực nho nhỏ trong tư duy của con người, trong đặc tính và môi trường xã hội. Chí ít, những điều đó không xúi giục con người hành ác, giết người và phóng hỏa, hay cưỡng hiếp và cướp bóc. Tuy nhiên, trong công tác cứu rỗi con người của Đức Chúa Trời, không một điều nào trong số những điều này – nhân, nghĩa, lễ, trí, tín – liên quan đến lẽ thật, con đường hay sự sống mà Đức Chúa Trời muốn ban cho nhân loại. Và không chỉ vậy: nhìn vào những tư tưởng khác nhau mà các giá trị nhân, nghĩa, lễ, trí, tín chủ trương, các yêu cầu chúng đặt ra đối với luân lý đạo đức con người, cũng như những ảnh hưởng và ràng buộc của chúng đối với luân lý đạo đức con người, không một thứ nào trong đấy đóng vai trò hướng dẫn con người trở về với Đức Chúa Trời hay dẫn họ đi vào con đường đúng đắn trong đời sống. Thay vào đó, chúng đã trở thành những trở ngại lớn ngăn con người mưu cầu và chấp nhận lẽ thật. Những câu nói về luân lý đạo đức mà chúng ta đã thông công và mổ xẻ trước đây – nhặt được của rơi đừng tham bỏ túi; lấy việc giúp người làm niềm vui; nghiêm khắc với mình và khoan dung với người; lấy đức báo oán; ân trả nghĩa đền; xả thân vì người; phụ nữ phải đức hạnh, nhân từ và hiền thục; uống nước nhớ nguồn – về cơ bản, chúng ta đã thông công rõ những điều này, và chí ít mọi người đều đã hiểu được ý nghĩa chung của chúng. Thực tế là dù những câu nói như vậy liên quan đến bất kể khía cạnh nào của luân lý đạo đức, chúng cũng đều hạn chế suy nghĩ của con người. Nếu ngươi không thể phân biệt được những điều như vậy, không thể hiểu rõ thực chất của những câu nói này, và không xoay chuyển những quan điểm sai lầm này, thì ngươi sẽ không thể buông bỏ được những câu nói luân lý đạo đức này, cũng như không thể tự mình thoát khỏi ảnh hưởng của chúng. Nếu không thể buông bỏ những thứ này, ngươi sẽ khó mà chấp nhận được lẽ thật từ Đức Chúa Trời, các tiêu chuẩn trong lời Đức Chúa Trời cùng những yêu cầu cụ thể của Đấng Tạo Hóa đối với luân lý đạo đức của con người, cũng như sẽ khó tuân theo và thực hành lời Đức Chúa Trời như các nguyên tắc và tiêu chí của lẽ thật. Đây chẳng phải là một vấn đề nghiêm trọng sao?