Con đường thực hành hướng đến sự thay đổi tâm tính của một người (Phần 2)
Các ngươi có con đường để đạt được sự biến đổi tâm tính không? Biến đổi tâm tính là biến đổi những thứ gì, các ngươi có biết không? Các ngươi có thường thông công về phương diện này của lẽ thật không? Vừa rồi, chúng ta đã thông công rằng sự biến đổi tâm tính không phải là những biến đổi trong hành vi, cách hành động bên ngoài hay những biến đổi về mặt quy định, cũng không phải là những biến đổi về tính cách. Vậy thì rốt cuộc biến đổi tâm tính là gì? Các ngươi đã từng suy nghĩ về việc này chưa? Đầu tiên, chúng ta phải hiểu và biết Đức Chúa Trời muốn chúng ta biến đổi những tâm tính nào hay biến đổi thứ gì. Sự biến đổi tâm tính không phải là sự biến đổi trong hành vi hoặc tính cách, càng không phải là sự biến đổi khiến con người trở nên có tri thức hoặc có học vấn hơn. Đức Chúa Trời muốn thay đổi tư tưởng và quan điểm của mỗi người thông qua lời Ngài, khiến họ hiểu lẽ thật, để họ đạt được sự chuyển biến trong quan điểm nhìn nhận mọi việc, một phương diện là vậy. Một phương diện khác là thay đổi nguyên tắc trong cách con người hành xử, cũng chính là thay đổi nhân sinh quan của họ. Còn một phương diện nữa chính là biến đổi bản tính và tâm tính Sa-tan thâm căn cố đế mà con người bộc lộ ra. Nói chung, sự biến đổi tâm tính bao gồm ba phương diện này.
Đầu tiên chúng ta hãy nói về phương diện đầu tiên của sự thay đổi tâm tính – quan điểm con người nhìn nhận mọi việc. Tư tưởng và quan điểm của con người chính là cách họ nhìn nhận mỗi một sự việc. Con người đã bị Sa-tan làm bại hoại sâu sắc khiến cho nhiều tư tưởng và quan điểm đều sai lầm và hoang đường. Đức Chúa Trời cứu rỗi con người bằng cách, trước tiên, thay đổi quan điểm họ nhìn nhận mọi việc. Lấy một ví dụ đơn giản: Các ngươi có nhận thức như thế nào về tri thức? Có nhận thức như thế nào về khoa học? Tri thức và khoa học có phải là lẽ thật không? Chúng có thể giải quyết tâm tính bại hoại của con người và khiến họ sống thể hiện ra hình tượng con người không? Chúng có thể cứu rỗi con người ra khỏi quyền thế của Sa-tan không? Chúng có thể khiến con người đạt đến nhận thức và vâng phục Đức Chúa Trời không? Chúng có thể khiến con người đạt được sự cứu rỗi và đích đến tốt đẹp không? Mọi sự này chúng đều không đạt được. Vậy thì rốt cuộc tri thức có ích gì trong cuộc đời con người? Nó có thể mang lại điều gì cho họ? Một số người cho rằng tri thức là thứ quý giá trên thế giới này, càng có nhiều tri thức thì họ càng có địa vị, càng là con người thượng đẳng, càng là con người cao quý và có giáo dưỡng, vì vậy con người không thể không có tri thức. Một số người cho rằng nếu học tập chăm chỉ và có tri thức phong phú thì sẽ có tất cả, có địa vị, có tiền bạc, có công việc tốt và có tiền đồ. Sống trên thế giới này mà không có tri thức thì không được, nếu không có tri thức thì sẽ khiến người khác coi thường, còn sẽ bị người khác kỳ thị và không ai muốn tiếp xúc với họ, qua lại với họ. Những người không có tri thức chỉ có thể sống ở tầng lớp thấp của xã hội. Vì vậy, ngươi sùng bái tri thức và coi nó đặc biệt cao siêu và quan trọng, thậm chí còn hơn cả lẽ thật. Có người nói: “Nếu không có tri thức, liệu tôi có thể hiểu được lời Đức Chúa Trời không? Chẳng phải Ngài cũng phán thông qua tri thức và lời văn sao?”. Đây là hai chuyện khác nhau. Tri thức mà Ta đang nói bây giờ là chỉ lịch sử, địa lý, chính trị, văn học, khoa học và công nghệ hiện đại của loài người, hoặc kỹ năng hay môn học thuộc một phương diện nào đó, v.v.. Con người cho rằng đây đều là một phần sở trường của mình, rằng con người có tri thức thì sẽ có thể đứng vững trên thế giới này, có tri thức thì có tất cả nên ai cũng coi tri thức là đặc biệt quan trọng. Tóm lại, dù con người nhìn nhận thế nào đi nữa thì đây cũng là một phương diện trong tư tưởng và quan điểm của con người. Người xưa có câu: “Đọc vạn cuốn sách, đi vạn dặm đường”, câu này có nghĩa là gì? Chính là ngươi càng đọc nhiều thì sẽ càng có nhiều tri thức và càng suôn sẻ trong mọi việc. Bất kể ở nhóm người nào, ngươi cũng sẽ được người khác đánh giá cao và sẽ có địa vị. Trong lòng mỗi người đều có tư tưởng và quan điểm như vậy. Nếu có người không lấy được bằng đại học vì hoàn cảnh gia đình không tốt thì sẽ nuối tiếc cả đời, vì thế mà hạ quyết tâm nhất định phải cho con cháu mình học nhiều hơn, lên được đại học và đạt được học vấn cao, thậm chí là ra nước ngoài để được đào tạo chuyên sâu. Đây là sự khao khát đối với tri thức của mỗi con người cũng như quan điểm, tư tưởng và cách tiếp cận của họ đối với tri thức. Vì vậy, nhiều bậc cha mẹ không tiếc công sức hoặc trả bất kỳ cái giá nào, thậm chí là khuynh gia bại sản để bồi dưỡng con cái, chu cấp cho việc học hành của chúng. Thậm chí có bậc cha mẹ dạy dỗ con cái đến mức độ nào? Mỗi đêm họ chỉ cho chúng ngủ ba tiếng, ép chúng học và đọc sách liên tục, còn bắt con cái bắt chước người xưa buộc tóc lên trần nhà, không cho chúng ngủ. Từ thời cổ đại đến ngày nay luôn có những câu chuyện và những bi kịch như vậy xảy ra, và đó chính là hậu quả của việc con người khao khát và sùng bái tri thức. Ta nói những lời này có lẽ sẽ khiến các ngươi thấy rất phản cảm, vì trong số các ngươi có những người có tri thức và trình độ học vấn rất cao. Tất nhiên, Ta không nói rằng việc các ngươi có học vấn cao là không tốt, các ngươi phải tiếp cận với việc này một cách đúng đắn. Nghĩa là, bây giờ các ngươi phải có cách tiếp cận đúng đắn với những thứ của Sa-tan, phải có cách lĩnh hội và nhận biết một cách đúng đắn. Ta không hề cấm các ngươi học tập, càng không hề cấm các ngươi bồi dưỡng con cái, cho chúng đi học đại học và lấy các loại bằng cấp, sau đó tìm được một công việc tốt. Ta không hề nói như vậy. Ta không hạn chế các ngươi, Ta chỉ đang nói lên quan điểm của mình, và vạch trần mức độ mà nhân loại bại hoại tôn sùng tri thức. Bất kể trình độ tri thức hiện tại của ngươi cao đến đâu, hay có bằng cấp và trình độ học vấn cao đến đâu, bây giờ Ta đang nói về quan điểm của nhân loại về tri thức và quan điểm của Ta về tri thức. Các ngươi có biết Đức Chúa Trời nhìn nhận như thế nào về tri thức không? Có người nói rằng Đức Chúa Trời hy vọng khoa học của nhân loại phát triển và hy vọng họ hiểu nhiều tri thức khoa học hơn, vì Ngài không muốn con người quá lạc hậu, cái gì cũng không hiểu, không biết. Điều này đúng, nhưng Đức Chúa Trời dùng những thứ này để phục vụ, chứ không phải tán thành chúng. Cho dù trong mắt con người những điều này có tốt đến đâu thì chúng cũng không phải là lẽ thật, cũng không thể thay thế lẽ thật, vì vậy Đức Chúa Trời bày tỏ lẽ thật để thay đổi con người và tâm tính của họ. Mặc dù lời Đức Chúa Trời đôi khi có thể nhắc đến những quan điểm hoặc cách nhìn nhận về phương diện tri thức như học thuyết Nho giáo hay khoa học xã hội, nhưng chỉ là nhắc đến một số thứ mang tính biểu tượng. Từ trong câu chữ của lời Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ thấy rằng Ngài ghét tri thức của loài người. Trong những thứ tri thức của loài người không chỉ là những câu chữ và đạo lý đơn giản, mà trong đó còn hàm chứa một số tư tưởng, quan điểm, đều mang những sự xằng bậy, thiên kiến của con người và chất độc của Sa-tan. Một số tri thức thậm chí có thể mê hoặc và làm bại hoại con người. Những tri thức này là chất độc và khối u của Sa-tan, và một khi con người đã tiếp nhận và nắm vững được chúng thì chất độc của Sa-tan sẽ phát triển thành khối u trong lòng họ. Khối u này sẽ lan ra toàn bộ cơ thể họ, và chắc chắn con người sẽ tử vong nếu họ không có được sự chữa trị từ lời Đức Chúa Trời và lẽ thật. Vì vậy, con người càng học và càng nắm vững nhiều tri thức thì càng khó tin vào sự tồn tại của Đức Chúa Trời. Thay vào đó, họ sẽ phủ nhận và chống lại Ngài, vì tri thức đều là thứ con người có thể nhìn thấy và chạm vào, và hầu hết đều liên quan đến những thứ trong cuộc sống của họ. Con người có thể học tập rất nhiều tri thức ở trường nhưng lại không hề thấy rõ nguồn gốc của tri thức và mối liên hệ của nó với cõi thuộc linh. Hầu hết tri thức mà con người học và nắm vững đều đi ngược lại lẽ thật trong lời Đức Chúa Trời, đặc biệt là thuyết duy vật và thuyết tiến hóa, chúng đều thuộc về tà thuyết phi lý của chủ nghĩa vô thần. Không còn nghi ngờ gì nữa, chúng đều là những học thuyết sai lầm chống lại Đức Chúa Trời. Cũng giống như khi ngươi đọc sách lịch sử, tác phẩm của các tác giả nổi tiếng, tiểu sử của những vĩ nhân, hoặc khi ngươi học một ngành khoa học công nghệ về một phương diện nào đó, ngươi sẽ đạt được điều gì? Ví dụ, nếu học vật lý, ngươi sẽ nắm bắt được một số nguyên lý vật lý, học thuyết Newton hoặc các học thuyết khác. Khi con người học nằm lòng những thứ này thì sẽ bị chúng khống chế và chúng sẽ làm chủ tư tưởng của ngươi. Khi đọc lời của Đức Chúa Trời, ngươi sẽ cảm thấy: “Sao trong lời Đức Chúa Trời không nhắc đến trọng lực của trái đất? Sao lại không nhắc đến những thứ ngoài không gian? Mặt trăng có không khí không, hay có bao nhiêu oxy trên trái đất, tại sao Đức Chúa Trời lại không phán về những việc này? Đức Chúa Trời nên tiết lộ những điều này, vì đó mới là những điều cần được tiết lộ và cho nhân loại biết”. Nếu trong lòng ngươi có kiểu suy nghĩ như vậy, thì ngươi sẽ coi lẽ thật và lời Đức Chúa Trời là thứ yếu và đặt những tri thức và lý luận mình học được lên vị trí chủ yếu. Ngươi sẽ đối xử với lời của Đức Chúa Trời như vậy. Bất luận nói như thế nào, những thứ tri thức này sẽ cho con người có những cảm giác sai lầm và khiến họ rời xa Đức Chúa Trời. Bất kể các ngươi có tin hay không, bất kể hôm nay các ngươi có thể tiếp nhận hay không, rồi sẽ có một ngày các ngươi thừa nhận sự thật này. Tri thức sẽ dẫn con người đến diệt vong, xuống địa ngục, chuyện này các ngươi có thể nhìn thấu không? Có một số người có thể không muốn tiếp nhận lời nói này, bởi vì trong số các ngươi có một số người rất có tri thức và có trình độ học vấn cao. Ta không châm biếm cũng không chế giễu các ngươi, Ta chỉ nói lên một sự thật. Ta không yêu cầu các ngươi tiếp nhận nó ngay lập tức, mà chính là khiến các ngươi từ từ có nhận thức về phương diện này. Thứ tri thức này khiến ngươi sử dụng trí óc và tư duy của mình để phân tích và tiếp cận mọi việc Đức Chúa Trời làm. Chúng sẽ trở thành vật cản trở và chướng ngại cho việc ngươi nhận biết Đức Chúa Trời và trải nghiệm công tác của Ngài, từ đó sẽ dẫn đến việc ngươi rời xa và chống đối Đức Chúa Trời. Nhưng nếu bây giờ đã có tri thức rồi thì phải làm như thế nào? Ngươi phải phân biệt tri thức nào là thực dụng và tri thức nào có nguồn gốc từ Sa-tan, là thuộc về các tà thuyết và luận điệu hoang đường. Nếu như những thứ ngươi tiếp nhận đều là tri thức của thuyết vô thần và những tri thức xằng bậy, chúng sẽ cản trở đức tin nơi Đức Chúa Trời của ngươi, gây nhiễu loạn cho mối quan hệ bình thường của ngươi với Ngài, gây nhiễu loạn cho sự tiếp nhận lẽ thật của ngươi, và cản trở lối vào sự sống của ngươi. Ngươi nên có nhận thức như vậy thì mới đúng. Các ngươi nên tiếp nhận một cách đúng đắn về chủ đề này. Ta biết rằng một số anh chị em có trình độ học vấn khá cao, và Ta không công kích, cũng không chế giễu hay bài xích các ngươi. Hôm nay đột nhiên nói đến chủ đề này, Ta nói lên mấy câu như vậy chỉ là để nhắc nhở các ngươi, chứ không phải cố ý gây khó khăn cho những ai trong các ngươi có trình độ học vấn cao hoặc có chút tri thức và trình độ văn hóa, hoặc là để làm cho các ngươi trở nên tiêu cực hay chán nản, Ta không có ý này. Chắc các ngươi có thể tiếp nhận một cách đúng đắn chứ? (Vâng, chúng con có thể.) Nếu được như vậy thì Ta yên tâm và có thể thở phào nhẹ nhõm rồi.
Thông công nhiều như vậy, các ngươi bây giờ cũng thấy được rằng muốn đạt được sự biến đổi tâm tính không phải là một vấn đề đơn giản, không phải con người chỉ cần hiểu các đạo lý hay tuân thủ các quy định là có thể đạt được. Trước tiên, ngươi phải đạt được sự nhận biết bản thân, có thể phản tỉnh và đào bới xem trong lòng ngươi còn những tư tưởng và quan điểm phủ nhận và chống đối Đức Chúa Trời nào, hay là còn tồn tại những thứ gì mà Đức Chúa Trời ghê tởm và không thích. Đối với vấn đề về bản tính Sa-tan của mình hay các loại tâm tính Sa-tan mà ngươi thường bộc lộ, rốt cuộc ngươi có nhận biết chúng được không, có thể mổ xẻ chúng một cách chân thực không? Nhân loại bại hoại đều có tâm tính Sa-tan, và đều có rất nhiều tư tưởng và quan điểm sai lầm, hơn nữa chúng còn thâm căn cố đế. Con người ai cũng giống nhau, bên trong họ đều có một số thứ bại hoại đối địch với lẽ thật, và mỗi một thứ đó đều chống đối Đức Chúa Trời, không có thứ nào là phù hợp với lẽ thật. Hầu hết con người đều thừa nhận những vấn đề này. Khi nãy, Ta nói đến cách nhận biết tri thức của con người và tại sao lại nói rằng tri thức của con người có rất nhiều thứ vô lý và sai lầm. Có một số người có thể cảm thấy khó chịu khi nghe những lời như vậy, giống như ngươi bị chọc vào chỗ đau vậy, nhưng Ta không thể không nói. Bởi vì rất nhiều quan điểm sai lầm của các ngươi đều bắt nguồn từ tri thức, những thứ tri thức sai lầm và vô lý này sản sinh ra những tư tưởng và quan điểm sai lầm, đồng thời còn cắm rễ sâu trong lòng người. Nếu không giải quyết những quan điểm sai lầm này, các ngươi sẽ rất khó chấp nhận lẽ thật, càng không dễ dàng gì để thực hành lẽ thật. Do đó, Ta hy vọng ngươi có thể tiếp nhận lời Đức Chúa Trời và tất cả những lẽ thật mà Ngài bày tỏ. Ngay cả khi lòng ngươi không muốn thì ngươi vẫn nên học hỏi và thử tiếp nhận. Như thế, lòng các ngươi sẽ ngày càng gần gũi với lòng của Đức Chúa Trời và các ngươi sẽ càng ngày càng gần hơn với những yêu cầu của Ngài. Nếu không thực tế trải nghiệm lời Đức Chúa Trời, không thực hành lẽ thật như vậy thì đức tin nơi Đức Chúa Trời của các ngươi sẽ luôn chỉ là khẩu hiệu, và các ngươi sẽ không thể bước vào thực tế lẽ thật, có phải như vậy không? Hôm nay Ta đã nói một chút cách nhìn về tri thức khiến các ngươi cảm thấy rất ngượng nghịu. Nếu trong lòng các ngươi cảm thấy khó chịu thì cho Ta xin lỗi, nhưng các ngươi vẫn phải đối mặt với những thực tế này, không thể trốn tránh thực tế. Nếu trốn tránh chúng thì khi nào ngươi mới có thể biết được những điều tồn tại trong tư tưởng và quan điểm của mình là đúng hay sai? Ngươi sẽ không thể biết được. Rồi sẽ có một ngày ngươi phải đối mặt với những sự thật này, như những người ngoại đạo thường nói: “Cô vợ xấu cuối cùng cũng phải gặp nhà chồng” vậy. Bây giờ ngươi đã tin Đức Chúa Trời, nếu ngươi muốn tiếp nhận hình phạt và phán xét của Ngài, nếu muốn có lối vào sự sống, đạt được sự biến đổi tâm tính và được cứu rỗi, thì ngươi phải đối mặt với những sự thật này, rút ra cho mình những bài học, và phải chịu một chút dằn vặt và đau khổ. Ngươi muốn cầu nguyện với Đức Chúa Trời trong lòng nhưng lại không có lời lẽ thích hợp, không nói nên lời, và lần sau gặp chuyện giống như vậy, ngươi sẽ lại cảm thấy khó chịu ba bốn ngày, lại không nói nên lời. Nhưng lần sau nữa khi gặp chuyện, ngươi sẽ bất giác phát hiện trong tư tưởng và quan điểm của mình thật sự tồn tại một vài thứ chống lại Đức Chúa Trời, và ngươi sẽ có thể gật đầu và thừa nhận đối với lời Đức Chúa Trời. Ngươi có thể thừa nhận một cách chân thành và thật sự rằng mọi điều Đức Chúa Trời phán đều chân thực, không có chút giả dối nào, rằng Đức Chúa Trời đúng thật là hiểu rõ nhân loại nhất, và hiểu rõ những thứ tồn tại trong lòng mỗi một người nhất. Đợi đến một ngày khi trải nghiệm được đến mức độ này, thì ngươi sẽ đi trên con đường đúng đắn trong đức tin nơi Đức Chúa Trời, và con đường đúng đắn của sự biến đổi tâm tính sự sống. Vì khi đó, ngươi không còn chống đối với mỗi một câu Đức Chúa Trời phán, nghe thấy cũng không khó chịu nữa, và trong lòng ngươi sẽ có thể tiếp nhận mỗi một sự thật mà Đức Chúa Trời phơi bày mà không thấy ác cảm, và không trốn chạy nữa. Ngươi sẽ đối mặt với chúng một cách bình thường, và điều này chứng tỏ rằng ngươi đã bước vào lời Đức Chúa Trời. Hôm nay chúng ta đã có một khởi đầu nhỏ, cũng đã làm một thử nghiệm nhỏ. Trong lòng các ngươi có một chút khó chịu, bầu không khí có hơi ngượng nghịu một chút, nhưng nó không thành vấn đề. Ta không lấy làm phiền lòng, và Ta hy vọng các ngươi cũng không lấy làm phiền lòng, bởi vì những lời phán xét của Đức Chúa Trời còn nghiêm khắc hơn những lời này nhiều. Nếu Đức Chúa Trời thực sự muốn phán xét các ngươi, lời Ngài sẽ nghiêm khắc hơn nhiều. Nếu Đức Chúa Trời nhìn thấy một nhân loại bại hoại, không có nhân tính bình thường, bất chấp lý lẽ, một nhân loại mở to mắt mà phủ nhận, lên án và chống đối Đức Chúa Trời, thì liệu thái độ khi nói chuyện của Ngài có tốt không? Liệu thái độ của Đức Chúa Trời khi vạch trần con người có tốt không? Chắc chắn là không tốt rồi. Những lời phán của Đức Chúa Trời chắc chắn sẽ khá nghiêm khắc, hơn nữa còn sâu sắc và nói trúng tim đen! Nếu các ngươi có thể tiếp nhận một chút sự thật ít ỏi mà chúng ta đã thông công hôm nay, thì chứng tỏ các ngươi đã có một khởi đầu tốt đẹp trong việc tiếp nhận lời Đức Chúa Trời cũng như hình phạt và phán xét của Ngài. Ở phương diện đầu tiên, chúng ta đã nói về vấn đề tư tưởng và quan điểm, và đã lấy một ví dụ nhỏ, nói về chủ đề thuộc phương diện tri thức mà mọi người đều biết. Ta không thông công nhiều về chủ đề này vì sợ một số người không thoải mái trong lòng. Để tôn trọng cảm xúc của họ, Ta chỉ nói qua một chút, chứ không nói một cách quá hoàn thiện và quá thấu đáo. Ta hy vọng các ngươi có thể từ từ nghiền ngẫm trong quá trình trải nghiệm, từ từ tìm kiếm phương diện này của lẽ thật và thể nghiệm những gì tri thức sẽ mang lại cho con người. Cũng có khả năng sau này chúng ta sẽ vẫn còn thông công về chủ đề này, hy vọng khi đó các ngươi sẽ không cảm thấy khó chịu trong lòng và sẽ không nghĩ rằng “Đây có phải là đang làm khó dễ tôi không? Đây có phải là đang nhằm vào tôi không?”, sẽ không có những tâm tư hay ý niệm này nữa. Tạm thời chúng ta sẽ thông công về phương diện đầu tiên đến đây thôi.
Tiếp theo chúng ta sẽ thông công về phương diện thứ hai của sự biến đổi tâm tính – nhân sinh quan. Nhân sinh quan của các ngươi là gì? Nguyên tắc sinh tồn của các ngươi là gì? Các ngươi có chút nhận thức nào không? Có nguyên tắc không? Trong lòng ngươi có chút ý niệm nào không? Ví dụ như, ngươi dự định trở thành loại người như thế nào? Nhân sinh quan, hướng đi của cuộc đời ngươi là gì? (Thưa, đó là mưu cầu trở thành người được Đức Chúa Trời ưa thích.) (Thưa, đó là theo Đức Chúa Trời đến cuối đời.) (Thưa, đó là mưu cầu nhận biết Đức Chúa Trời.) (Thưa, đó là thoát khỏi tâm tính bại hoại của mình và được Đức Chúa Trời cứu rỗi.) Những điều các ngươi nói đều hay lắm, chứng tỏ rằng trong lòng mỗi người các ngươi đều ngầm cố gắng mưu cầu lẽ thật và đều đang quyết tâm theo Đức Chúa Trời để đạt được lẽ thật. Trong lòng các ngươi đều có mục tiêu và phương hướng đúng đắn cho việc làm người, chứng tỏ rằng, trong đức tin nơi Đức Chúa Trời của mình, trong lòng các ngươi không trống rỗng và không phải chỉ đang sống cho qua ngày. Trong khoảng thời gian này, các ngươi đã có tiến bộ, và đây chính là sự biến đổi. Ít nhất thì các ngươi sẽ không giống như những người ngoại đạo mà nói rằng “Người sống trên đời chỉ cần ăn mặc”, các ngươi sẽ không nói được lời này. Nếu nghe ai đó nói những điều như vậy, các ngươi sẽ thấy phản cảm, khinh ghét và loại bỏ họ. Bất luận bây giờ các ngươi đã bước vào lẽ thật đến mức độ nào, thì các ngươi cũng phải có ý chí và đi theo Đức Chúa Trời cho tốt. Các ngươi nên hiểu trong lòng rằng, “Vì Đức Chúa Trời đã tiết lộ cho chúng ta tôn chỉ và những điều huyền bí trong kế hoạch quản lý của Ngài, cũng như ý định cứu rỗi con người của Ngài, và vì chúng ta đã nhìn thấy những lời hứa và phước lành của Ngài, nên nếu chúng ta vẫn thụ động và không quan tâm đến ý muốn của Đức Chúa Trời, chúng ta thật là có lỗi với Ngài và mắc nợ Ngài rất nhiều!”. Có được tấm lòng như vậy chứng tỏ tinh thần của các ngươi đã thức tỉnh và bắt đầu biến đổi. Dù sao đi nữa, cứ nhìn vào sự cố gắng để thực hiện bổn phận của các ngươi, thì sẽ thấy tất cả các ngươi đều đang nỗ lực mưu cầu theo phương hướng và mục tiêu mà Đức Chúa Trời yêu cầu, và như thế là đúng. Bất kể quan điểm mà các ngươi mưu cầu có khác biệt gì thì chúng đều khá thực tế và không phải là tưởng tượng hay nói suông. Các ngươi nói xem, mưu cầu trở thành một người thực sự vâng phục và thờ phượng Đức Chúa Trời có phải là quan điểm mà chúng ta nên có không? Không còn chống đối Đức Chúa Trời, không còn khiến Ngài ghê tởm, nổi nóng với chúng ta hay nổi những cơn thịnh nộ không dứt lên người chúng ta, khiến trong lòng Đức Chúa Trời được an ủi, làm một người thờ phượng Đức Chúa Trời thật sự, giống như Áp-ra-ham vậy, đây có phải là nhân sinh quan mà chúng ta nên có hay không? Đây đúng là nhân sinh quan mà con người nên có. Khi nhân sinh quan và tư tưởng như thế bén rễ trong lòng ngươi và ngươi mưu cầu theo phương hướng đó, thì những thử thách và cám dỗ của tiền tài, địa vị, danh lợi của thế gian đối với ngươi không phải sẽ ít đi một chút hay sao? Khi ngươi nỗ lực, thực hành và trải nghiệm theo hướng này, thì bất giác, lời Đức Chúa Trời sẽ trở thành phương châm của sự sống trong lòng ngươi và làm nền tảng cho sự sinh tồn của ngươi. Bất giác, lời Đức Chúa Trời sẽ trở thành sự sống của ngươi, trở thành con đường của cuộc đời bên trong ngươi. Khi đó, chẳng phải mọi thứ trên đời đều không còn quan trọng đối với ngươi sao? Vì vậy, nhân sinh quan của ngươi là gì cũng rất quan trọng. Ngươi mưu cầu đức tin nơi Đức Chúa Trời theo phương hướng nào? Đó có phải là phương hướng đúng đắn không? Đó có phải là con đường đúng đắn không? Ngươi còn cách những yêu cầu của Đức Chúa Trời bao xa? Nếu mưu cầu dựa trên những yêu cầu của Đức Chúa Trời thì phương hướng đó là đúng. Cho dù ngươi có đi lạc lối một chút, yếu đuối một chút hoặc có một số thất bại cũng được, đều không sao cả. Đức Chúa Trời sẽ không ghi nhớ và sẽ luôn giúp đỡ ngươi cho đến khi sự sống của ngươi trưởng thành. Ngươi nghĩ Đức Chúa Trời thích loại người nào? Đức Chúa Trời thích những người mưu cầu lẽ thật, có ý chí và trung thực. Ngài không sợ ngươi ngu dốt, yếu đuối, cũng không sợ ngươi không khôn ngoan, Ngài chỉ ghê tởm việc ngươi không mưu cầu lẽ thật, việc ngươi hiểu lẽ thật mà không thực hành, hoặc việc ngươi sống mà không đọc lời Ngài, giống như súc sinh không có linh hồn, không có mục tiêu và phương hướng mưu cầu cho cuộc đời. Đức Chúa Trời ghê tởm thái độ như vậy của ngươi trong đức tin ở Ngài. Do đó, để đạt được sự biến đổi tâm tính trong đức tin nơi Đức Chúa Trời, có nhân sinh quan như thế nào cũng rất quan trọng. Có một số người nói: “Mục tiêu cuộc đời tôi là trở thành một người thật có ích cho Đức Chúa Trời, một người có thể phụng sự Ngài”. Mưu cầu như vậy có tốt không? Tốt thì tốt đấy, nhưng vóc giạc của con người có hạn, tố chất và điều kiện của con người cũng khác nhau, mục tiêu mà ngươi mưu cầu này là đúng, nhưng nó chưa chắc phù hợp với ngươi. Nhân sinh quan mà con người nên có chính là có thể làm một người thờ phượng Đức Chúa Trời có lẽ thật, có nhân tính, có lương tâm và lý trí, cũng chính là làm một con người chân chính. Đây là mưu cầu chính đáng nhất. Có người nói: “Bây giờ chúng ta không phải là con người chân chính sao?”. Nhìn bề ngoài thì là con người, có mũi, có mắt, có hình dáng con người, nhưng xét về thực chất thì ngươi vẫn chưa đạt được đến mức là một con người chân chính. Các ngươi vẫn còn thiếu sót quá nhiều và hiểu quá ít lẽ thật. Để trở thành một con người chân chính, một người có lẽ thật và có nhân tính, một người kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác, trở thành một người làm theo ý chỉ của Ngài và thờ phượng Ngài, thì ngươi bắt buộc phải mưu cầu và đạt được lẽ thật. Đây là chuyện thuộc phương diện thực hành cá nhân.
Phương diện thứ ba của sự biến đổi tâm tính là bản tính Sa-tan. Đây là thứ cần chúng ta nhận biết và nắm rõ nhất, là phương diện quan trọng nhất liên quan đến sự biến đổi tâm tính. Bản tính Sa-tan là tâm tính bại hoại và thực chất bại hoại của con người. Các chủ đề về phương diện này chiếm nhiều chương trong lời Đức Chúa Trời, và lời Ngài vạch trần về phương diện này là nhiều nhất. Hơn nữa, lời Đức Chúa Trời về phương diện này cũng nghiêm khắc nhất, với nhiều cách thức khác nhau, có khi thì trực tiếp vạch trần và phán xét, có khi thì sẽ dùng một số cách thức để phán một cách uyển chuyển hơn vì sợ con người không tiếp nhận nổi. Nhưng cho dù được nói ra như thế nào, dùng cách thức hay giọng điệu nào đi nữa, thì nhìn chung, những gì Đức Chúa Trời tiết lộ là thực chất của con người, sự thật là vậy. Về bản tính Sa-tan, trong lời Đức Chúa Trời có nói đến phương diện điển hình nhất, và Đức Chúa Trời đã dùng hai chương để vạch trần những chuyện thuộc phương diện này. Thực chất mang tính đại diện trong bản tính Sa-tan là gì, các ngươi có biết không? (Thưa, là bản tính phản bội.) Chính là bản tính phản bội được tiết lộ trong lời Đức Chúa Trời “Một vấn đề rất nghiêm trọng: Sự phản bội (1)” và “Một vấn đề rất nghiêm trọng: Sự phản bội (2)”, đây là đại diện điển hình của bản tính Sa-tan. Những phương diện còn lại như sự tự cho mình là đúng, sự kiêu ngạo và giả dối, hay sự tà ác và chống đối của con người đều được đề cập một chút trong mỗi chương, chứ không có một chương nào chỉ có một chủ đề để đặc biệt trình bày về phương diện lẽ thật này. Chỉ có chủ đề “sự phản bội” là Đức Chúa Trời phán trong hai chương. Từ điều này có thể thấy trong mắt Đức Chúa Trời, Ngài xem sự phản bội của con người là rất nghiêm trọng, nó trực tiếp xúc phạm tâm tính của Ngài, và đó là điều Ngài ghét nhất, cũng là điều Ngài nguyền rủa. Đức Chúa Trời mổ xẻ và tiếp cận thực chất sự phản bội của con người như thế nào? Chắc chắn là Đức Chúa Trời không thích sự phản bội của con người. Ngài khinh thường, ghê tởm nó, và ghê tởm những kẻ phản bội Ngài. Sự phản bội là một phương diện điển hình của bản tính Sa-tan. Căn nguyên bản tính phản bội của con người đến từ đâu? Nó đến từ Sa-tan. Do đó, chúng ta cũng phải nhận biết phương diện tâm tính này. Căn nguyên của sự phản bội đến từ Sa-tan, và bản tính Sa-tan chính là sự phản bội. Tâm tính mà con người bộc lộ ra khi hành động, trong mắt Đức Chúa Trời, Ngài đều xem đó là sự phản bội. Tại sao Đức Chúa Trời lại phán về vấn đề này bằng một chương lớn như vậy? Chính là vì sự phản bội của con người là mỗi phút mỗi giây, bất kể địa điểm hay thời gian, và bất kể con người có biểu hiện và hành vi như thế nào, thứ thâm căn cố đế đó trong bản tính con người là chống lại Đức Chúa Trời. Có một số người nói rằng: “Tôi không muốn chọi lại hay chống đối Đức Chúa Trời!”. Nhưng ngươi không làm được như vậy, vì bên trong ngươi có bản tính phản bội. Có bản tính phản bội thì ngươi sẽ không thể vâng phục Đức Chúa Trời, không thể theo Ngài đến cùng, và không thể hoàn toàn tiếp nhận lời Đức Chúa Trời làm sự sống của mình. Nên nhận biết vấn đề về sự phản bội như thế nào? Cho dù ngươi đã tin Đức Chúa Trời được bao lâu, đã ăn uống bao nhiêu lời Ngài, hay có bao nhiêu nhận thức về Ngài, chỉ cần bản tính của ngươi là phản bội Đức Chúa Trời, và ngươi không tiếp nhận lời Ngài và coi nó là sự sống của mình, và ngươi không bước vào phương diện lẽ thật trong lời Ngài, thì thực chất của ngươi mãi mãi vẫn là phản bội Đức Chúa Trời. Cũng có nghĩa là, ngươi không có biến đổi về mặt tâm tính thì ngươi chính là kẻ phản bội Đức Chúa Trời. Có một số người nói rằng: “Tôi có thể tiếp nhận lời Đức Chúa Trời. Những gì Đức Chúa Trời phán, tôi có thể hiểu được và sẵn sàng tiếp nhận, vậy sao có thể nói tôi là kẻ phản bội Đức Chúa Trời chứ?”. Sẵn sàng tiếp nhận không có nghĩa là ngươi có thể sống thể hiện ra lời Đức Chúa Trời, càng không có nghĩa là ngươi đã được lời Ngài làm cho trọn vẹn. Phương diện lẽ thật về bản tính phản bội của con người khá sâu sắc, nếu muốn đạt tới mức hiểu phương diện này của lẽ thật thì các ngươi có thể sẽ cần trải nghiệm một khoảng thời gian nữa. Trong mắt Đức Chúa Trời, mỗi một điều mà những người tin Ngài làm đều trái ngược với lẽ thật, không phù hợp với lời Đức Chúa Trời và đối địch với Ngài. Có khả năng các ngươi sẽ lại không tiếp nhận nổi lời phán này và nói rằng: “Chúng tôi phụng sự Đức Chúa Trời, thờ phượng Đức Chúa Trời, thực hiện bổn phận trong nhà Đức Chúa Trời. Chúng tôi đã làm rất nhiều việc, tất cả đều làm theo lời Đức Chúa Trời, theo yêu cầu của Ngài và sự sắp xếp công tác. Sao lại có thể nói rằng chúng tôi chống đối và phản bội Đức Chúa Trời? Sao Ngài luôn đả kích sự tích cực của chúng tôi? Chúng tôi không dễ dàng gì mới từ bỏ gia đình và sự nghiệp và hạ quyết tâm đi theo Đức Chúa Trời, sao Ngài lại nói về chúng tôi như vậy chứ?”. Mục đích nói như vậy là để mỗi người đều nhận thức được rằng, không phải có chút hành vi tốt, có chút từ bỏ hoặc chịu chút khó khăn thì bản tính phản bội trong con người sẽ biến đổi, không phải như vậy! Chịu khổ là cần thiết, việc thực hiện bổn phận cũng như vậy, nhưng việc ngươi có thể chịu khổ hoặc có thể thực hiện bổn phận không có nghĩa là tâm tính bại hoại trong ngươi không còn tồn tại nữa. Đó là vì tâm tính sự sống trong mỗi con người không có sự biến đổi thực sự, và mọi người còn lâu mới thỏa mãn được ý muốn của Đức Chúa Trời và đáp ứng những yêu cầu của Ngài. Những thứ uế tạp trong đức tin của con người nơi Đức Chúa Trời quá nhiều, và tâm tính bại hoại của họ cũng bộc lộ quá nhiều. Có nhiều người sau khi làm lãnh đạo và chấp sự, mặc dù đang phụng sự Đức Chúa Trời nhưng lại chống đối Ngài, điều này có nghĩa là gì? Nghĩa là họ cố tình đi ngược lại lời Đức Chúa Trời và không thực hành theo ý muốn của Ngài. Họ cố tình đi ngược lại lẽ thật, khăng khăng hành động theo ý mình, để đạt được mưu đồ và mục đích của riêng mình, phản bội Đức Chúa Trời và thành lập vương quốc độc lập của riêng họ, nơi mà tiếng nói của họ có quyền quyết định. Phụng sự Đức Chúa Trời nhưng lại chống đối Ngài nghĩa là như vậy. Bây giờ ngươi đã hiểu rồi chứ?
Chúng ta thông công về chủ đề “sự phản bội” đến đây thôi. Vẫn còn một vấn đề cốt yếu, đặc trưng của bản tính Sa-tan chính là sự kiêu ngạo và tự đại. Sự kiêu ngạo của con người cũng được bộc lộ và biểu hiện ở khắp mọi nơi, và dù có muốn cũng không thể kiềm chế được. Nó được bộc lộ và bộc phát hết lần này đến lần khác, bản thân con người cũng không thể làm gì được. Bộc phát xong thì lại hối hận, và sau khi hối hận, họ sẽ hạ quyết tâm không bộc phát nữa, không bộc lộ nữa, nhưng họ vẫn không thể khống chế được. Tại sao lại như thế? Đó là bởi vì tâm tính của con người không có biến đổi và tâm tính bại hoại của họ vẫn còn đó. Tâm tính bại hoại sẽ không bao giờ tự động biến mất bên trong con người, và khi gặp chuyện, tâm tính bại hoại sẽ tự nhiên bộc lộ ra. Tất cả đều do tâm tính kiêu ngạo và tự đại của con người dẫn đến. Đợi đến khi hiểu lẽ thật nhiều hơn, ngươi sẽ có thể thực hành lẽ thật và nắm bắt các nguyên tắc lẽ thật. Khi sự hiểu biết của ngươi về lẽ thật ngày càng thực tế hơn, có nhận thức về Đức Chúa Trời và tiến gần hơn đến những yêu cầu của Ngài, khi quan điểm nhìn nhận sự việc của ngươi đã biến đổi, thì tâm tính kiêu ngạo của ngươi sẽ dần dần giảm bớt, dần dần biến mất và tâm tính sự sống của ngươi sẽ bắt đầu biến đổi. Khi đó, vấn đề phản bội của con người mới coi như đã được giải quyết triệt để, đây mới chính là người thực sự đạt được sự cứu rỗi.
Mùa thu năm 2007