Hành vi tốt không có nghĩa là tâm tính của người ta đã thay đổi (Phần 1)
Hiện tại, có những người làm việc từ sáng sớm đến tối muộn, quên ăn quên ngủ trong lúc thực hiện bổn phận, họ có thể chế ngự xác thịt, chống lại những khó khăn về thể xác, thậm chí làm việc cả lúc đang bệnh. Dù họ có những điểm tích cực này, dù họ là những người tốt, người đúng đắn, nhưng trong lòng họ vẫn có những điều mà họ không thể buông bỏ: là danh lợi, địa vị và hư vinh. Nếu họ không bao giờ buông bỏ được những thứ này thì họ có phải là người mưu cầu lẽ thật hay không? Câu trả lời đã quá rõ ràng rồi. Trong việc tin Đức Chúa Trời, phần khó nhất là đạt được sự thay đổi tâm tính. Có lẽ ngươi có thể sống độc thân cả đời, không bao giờ ăn ngon mặc đẹp, thậm chí có người còn nói rằng: “Chịu khổ cả đời, tôi không sợ, cô độc cả đời, cũng không thành vấn đề, chịu đựng rồi cũng qua, tôi có Đức Chúa Trời ở bên thì những thứ đó đâu có là gì”. Khắc phục và giải quyết dạng đau khổ và khó khăn về thể xác này thì dễ. Điều gì mới không dễ khắc phục? Là những tâm tính bại hoại của con người. Những tâm tính bại hoại của con người không phải là thứ nếu kiềm chế bản thân thì có thể giải quyết được. Người ta có thể chịu đau khổ thể xác để làm tốt bổn phận, để thỏa mãn tâm ý của Đức Chúa Trời, để sau này được bước vào vương quốc, nhưng có thể chịu khổ và trả giá thì đồng nghĩa với tâm tính của người ta đã thay đổi sao? Không. Để đánh giá liệu tâm tính của người ta đã thay đổi hay chưa, đừng nhìn vào bề ngoài họ có thể chịu được bao nhiêu cái khổ hay là có bao nhiêu hành vi tốt. Cách duy nhất để đánh giá chính xác liệu tâm tính của người ta đã thay đổi hay chưa là nhìn vào xuất phát điểm, động cơ và ý định đằng sau hành động của họ, những nguyên tắc đối nhân xử thế của họ, và thái độ của họ đối với lẽ thật.
Có người sau khi tin Đức Chúa Trời thì không còn mưu cầu những trào lưu của thế gian, không còn chú trọng đến trang phục và ngoại hình, lại còn có thể chăm chỉ chịu khó, kiềm chế và chống lại xác thịt. Nhưng trong quá trình thực hiện bổn phận và đối nhân xử thế, họ hiếm khi nói lời trung thực, cũng không thích làm người trung thực, mà luôn muốn nổi bật và thể hiện bản thân. Mọi lời nói việc làm của họ đều có ý đồ. Họ vắt óc tính toán để cho người ta thấy họ tốt thế nào, để lấy lòng người ta, khiến người ta ủng hộ và tôn sùng họ, thậm chí đến mức hễ gặp chuyện là người ta sẽ hướng về họ mà tìm kiếm. Khi làm như thế là họ đang phô trương bản thân. Họ đang bộc lộ tâm tính gì đây? Là tâm tính Sa-tan. Dạng người như thế có nhiều không? Tất cả mọi người đều như thế. Nhìn bề ngoài, họ tuân giữ quy định, có thể chịu khổ một chút, và phần nào sẵn lòng dâng mình. Họ có thể buông bỏ vài thứ thế tục, có chút ý chí và sẵn lòng mưu cầu lẽ thật, cũng đã đặt được nền móng trên con đường tin Đức Chúa Trời. Chỉ là tâm tính bại hoại của họ vẫn còn y nguyên, chẳng thay đổi chút nào. Kể cả khi đã hiểu lẽ thật, họ cũng không thể đưa lẽ thật vào thực hành. Chẳng thay đổi chút nào nghĩa là như vậy. Hành động theo ý mình trong mọi chuyện là cách hành xử của những ai sống trong tâm tính Sa-tan. Khi có ý định sai trái đằng sau hành động của mình, họ không cầu nguyện với Đức Chúa Trời, không bác bỏ ý riêng của mình, không tìm kiếm các nguyên tắc lẽ thật, không tìm kiếm hay thông công với những người khác. Họ muốn gì làm nấy, thích gì làm nấy, họ hành động khinh suất và bất chấp hậu quả. Bề ngoài có vẻ họ không làm việc ác, nhưng họ cũng không thực hành lẽ thật. Họ làm theo ý riêng trong hành động của mình và sống trong tâm tính Sa-tan. Điều này nghĩa là họ không có lòng yêu lẽ thật, không có lòng kính sợ Đức Chúa Trời và họ không phải là người sống trước Đức Chúa Trời. Thậm chí có những người cũng hiểu được lời Đức Chúa Trời và lẽ thật nói như thế nào, nhưng lại không thể đưa vào thực hành. Điều này là bởi họ không thể thắng vượt những dã tâm và dục vọng của mình. Họ biết rõ việc mình đang làm là sai, là gây nhiễu loạn và gián đoạn, là điều mà Đức Chúa Trời ghê tởm, thế mà họ vẫn ba lần bốn lượt làm như thế, trong lòng còn nghĩ rằng “Chẳng phải tin Đức Chúa Trời là để đạt được phúc lành sao? Mình mưu cầu phúc lành thì có gì sai? Tin Đức Chúa Trời mấy năm qua, mình đã chịu khổ không ít, lại còn từ bỏ công việc và tiền đồ trong thế gian để được Đức Chúa Trời khen ngợi và chúc phúc. Dựa trên mọi đau khổ mình đã chịu, Đức Chúa Trời phải ghi nhớ mình, phải chúc phúc và cho mình phúc phận”. Những lời này phù hợp với ý thích của con người. Ai tin Đức Chúa Trời cũng nghĩ như vậy, họ cảm thấy có chút lẫn tạp ý muốn đạt được phúc lành cũng không phải là vấn đề gì lớn. Nhưng nếu ngươi suy xét kỹ những lời này, liệu có lời nào hợp với lẽ thật không, có lời nào thuộc về thực tế lẽ thật không? Mọi sự từ bỏ và chịu khổ này chỉ là những hành vi tốt của con người và bị chi phối bởi ý định đạt được phúc lành, căn bản chúng không phải là thực hành lẽ thật. Nếu dùng những tiêu chuẩn đạo đức của con người để đánh giá hành vi của những người này, thì họ sẽ được xem là cần kiệm, chăm chỉ chịu khó. Nhiều lúc họ bị cuốn vào công việc đến nỗi quên ăn quên ngủ, có người còn sẵn sàng trả lại của rơi cho người bị mất, nhiệt tình giúp người, thích làm việc thiện, rộng lượng và cảm thông với người khác, không tính toán chi ly, thậm chí còn có thể đem những thứ mà họ quý nhất trao cho người khác. Tất cả những biểu hiện này được mọi người ủng hộ, và họ được công nhận là người tốt. Những người như thế có vẻ tươi đẹp rạng rỡ, khiến người ta ủng hộ, có vẻ là có đạo đức và công bằng hợp lý trong hành động. Họ biết ân trả nghĩa đền, có nghĩa khí, thậm chí đến nỗi sẵn sàng xả thân vì bất cứ người bạn nào, và thậm chí có thể chịu bất kỳ cái khổ nào, không ngần ngại lên núi đao xuống biển lửa vì những người bạn thân của mình. Dù nhiều người được ủng hộ vì là dạng người tốt này, nhưng liệu dạng người tốt này có thể thật sự tiếp nhận và thực hành lẽ thật không? Họ có thể thật sự từ bỏ tính mạng để tôn cao và làm chứng cho Đức Chúa Trời không? Không hẳn. Vậy thì họ có thể được gọi là người tốt không? Để đánh giá xem người ta có kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác hay không, có thực tế lẽ thật hay không, mà lúc nào ngươi cũng dựa vào quan niệm và tưởng tượng, đạo đức và luân lý của con người để đánh giá, thì có chính xác không? Có phù hợp với lẽ thật không? Nếu quan niệm và tưởng tượng, đạo đức và luân lý của con người là lẽ thật, thì Đức Chúa Trời đâu cần phải bày tỏ lẽ thật, Ngài cũng đâu cần làm công tác phán xét và hành phạt. Ngươi phải thấy rõ rằng thế giới và nhân loại thật tối tăm và tà ác, hoàn toàn không có lẽ thật, thấy rõ rằng nhân loại bại hoại cần sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Ngươi phải thấy rõ rằng chỉ có Đức Chúa Trời mới là lẽ thật, chỉ có lời Ngài mới có thể làm tinh sạch con người, chỉ có Ngài mới có thể cứu rỗi nhân loại, và dù cho hành vi của người ta có tốt đến đâu đi nữa, nó cũng không phải là thực tế lẽ thật và càng không phải là lẽ thật. Dù những hành vi tốt này đã trở nên phổ biến và được công nhận trong nhân gian, nhưng chúng không phải và sẽ không bao giờ là lẽ thật, chúng không thể làm thay đổi bất kỳ điều gì. Với một người xả thân vì bạn bè, lên núi đao xuống biển lửa vì bạn bè, thì ngươi có thể khiến người đó tiếp nhận Đức Chúa Trời và lẽ thật được không? Tuyệt đối không thể, vì người đó là người vô thần. Với một người đầy quan niệm và tưởng tượng về Đức Chúa Trời, ngươi có thể khiến người đó đạt đến thực sự thuận phục Đức Chúa Trời được không? Tuyệt đối không thể, vì khi người ta đầy quan niệm thì rất khó để tiếp nhận và thuận phục lẽ thật. Cho dù người ta có nhiều hành vi tốt đến đâu đi chăng nữa, liệu họ có thể thật sự thuận phục Đức Chúa Trời không? Liệu họ có thể thật sự yêu kính Ngài không? Liệu họ có thể tôn cao và làm chứng cho Ngài không? Họ tuyệt đối không thể. Ngươi có thể bảo đảm rằng bất kỳ ai truyền đạo và làm công tác cho Chúa thì đều có thể trở thành người thật sự yêu kính Đức Chúa Trời sao? Tuyệt đối không thể. Do đó, bất kể người ta có bao nhiêu hành vi tốt đi chăng nữa, nó cũng không có nghĩa là họ đã thật sự hối cải và thay đổi, càng không có nghĩa là tâm tính sự sống của họ đã thay đổi.
Các ngươi phải học cách phân định đâu là hành vi tốt của con người, đâu là thực hành lẽ thật và có sự thay đổi tâm tính. Sự thay đổi tâm tính liên quan đến thực hành lẽ thật, lắng nghe lời Đức Chúa Trời, thuận phục Ngài và sống theo lời Ngài. Vậy con người phải làm gì để thực hành và sống theo lời Đức Chúa Trời? Giả sử có hai người là bạn tri kỷ của nhau, từng giúp đỡ và hỗ trợ nhau, cùng nhau vượt qua hoạn nạn, có thể hy sinh mạng sống để cứu nhau. Đó có phải là thực hành lẽ thật không? Đó là nghĩa khí, là xả thân vì người khác, là hành vi tốt của con người, nhưng tuyệt đối không phải là thực hành lẽ thật. Thực hành lẽ thật là thực hành theo lời và yêu cầu của Đức Chúa Trời, là thuận phục và làm thỏa mãn Đức Chúa Trời. Hành vi tốt của con người chỉ là để thỏa mãn các mối quan hệ xác thịt và bảo vệ mối quan hệ tình cảm. Vì vậy, nghĩa khí, bảo vệ mối quan hệ, giúp đỡ và hỗ trợ, khoan dung lẫn nhau và làm hài lòng nhau, đây đều là những việc cá nhân và không liên quan chút gì đến thực hành lẽ thật. Vậy Đức Chúa Trời yêu cầu con người phải đối xử với người khác như thế nào? (Thưa, Đức Chúa Trời yêu cầu con người phải đối xử với nhau theo nguyên tắc. Nếu người khác làm điều gì sai trái, không phù hợp với các nguyên tắc lẽ thật, thì không được nghe theo họ, ngay cả khi đó là cha mẹ của chính mình. Và phải giữ vững các nguyên tắc lẽ thật, bảo vệ lợi ích của nhà Đức Chúa Trời.) (Thưa, Đức Chúa Trời yêu cầu các anh chị em phải giúp đỡ và hỗ trợ lẫn nhau. Nếu thấy người khác có vấn đề, phải có thể chỉ ra, thông công về vấn đề đó và cùng nhau tìm kiếm các nguyên tắc lẽ thật để giải quyết. Như vậy mới là thực sự giúp đỡ họ.) Nghĩa là bất kể hai người có nền tảng quan hệ như thế nào, thì cách đối đãi với nhau đều phải dựa trên cơ sở là nguyên tắc lẽ thật, nếu không thì đều không được tính là thực hành lẽ thật. Ví dụ như, một người làm việc gì đó gây tổn hại đến công tác của hội thánh, mọi người đều phơi bày và phản đối, nhưng có một người nói: “Mặc dù anh ấy đã làm sai, nhưng các người đâu cần phải phơi bày anh ấy! Tôi là bạn của anh ấy, trước hết, tôi phải hiểu cho anh ấy; phải bao dung và giúp đỡ anh ấy. Tôi không thể phơi bày anh ấy như các người được. Tôi phải an ủi anh ấy, không làm anh ấy đau lòng, và tôi sẽ bảo anh ấy rằng lỗi lầm đó không có gì to tát. Ai mà phơi bày và làm anh ấy khổ sở nữa thì tôi không bỏ qua đâu. Các người chẳng ai thân thiết với anh ấy bằng tôi. Chúng tôi là bạn tốt. Bất kỳ lúc nào tôi cũng sẽ bảo vệ anh ấy”. Đây có phải là thực hành lẽ thật không? (Không, đây là làm theo triết lý xử thế.) Tâm lý của người này cũng dựa trên một nền tảng lý luận khác, anh ta tin rằng “Bạn tôi đã giúp tôi trong lúc cuộc đời tôi khó khăn nhất, đau khổ nhất. Mọi người đều bỏ rơi tôi, chỉ có anh ấy là để mắt đến và giúp đỡ tôi. Bây giờ anh ấy đang gặp rắc rối, đến lượt tôi phải giúp anh ấy, tôi cảm thấy làm như vậy mới là có lương tâm và có nhân tính. Các người tin Đức Chúa Trời nhưng thậm chí không có một chút lương tâm nào, vậy còn là con người sao? Chẳng phải nếu thế thì đức tin nơi Đức Chúa Trời và việc thực hành lẽ thật của các người chỉ là những lời sáo rỗng sao?”. Những lời này nghe có vẻ đúng. Những người bình thường thì không phân định được chúng, ngay cả người nói ra những lời đó cũng không phân định được, anh ta nghĩ rằng xuất phát điểm cho hành động của mình phù hợp với lẽ thật. Nhưng những hành động của anh ta có đúng không? Thực ra là không đúng. Phân định kỹ hơn thì thấy từng lời anh ta nói đều bắt nguồn từ đạo đức, luân lý làm người và lương tâm. Nếu ai đó đánh giá anh ta dựa trên đạo đức con người và tam cương ngũ thường, thì anh ta là người có lương tâm và chính trực. Có thể bảo vệ bạn mình như thế khiến anh ta là một người tốt. Nhưng có ai biết đằng sau “người tốt” này ẩn giấu tâm tính và thực chất gì không? Anh ta không phải là người thật lòng tin Đức Chúa Trời. Trước hết, khi có chuyện xảy ra, anh ta không nhìn nhận sự việc theo lời Đức Chúa Trời, không tìm kiếm lẽ thật trong lời Đức Chúa Trời, mà lại nhìn nhận sự việc theo luân lý, đạo đức và châm ngôn sống của người ngoại đạo. Anh ta coi những tà thuyết và lý luận sai lầm của Sa-tan là lẽ thật, gạt lời Đức Chúa Trời sang một bên, phớt lờ những gì lời Đức Chúa Trời phán. Làm thế là anh ta đang coi thường lẽ thật. Điều này cho thấy anh ta không phải là người yêu lẽ thật. Anh ta thay thế lẽ thật bằng những châm ngôn sống của Sa-tan cùng những quan niệm, đạo đức và luân lý của con người, đồng thời hành động theo triết lý của Sa-tan. Anh ta lại còn tự tin nói rằng đây là thực hành lẽ thật và thỏa mãn tâm ý của Đức Chúa Trời, rằng làm như vậy mới là chính nghĩa. Chẳng phải anh ta chỉ đang sử dụng chiêu bài chính nghĩa này để đi ngược lại lẽ thật sao? Trong cách người ta đối nhân xử thế, đây chẳng phải là tình huống phổ biến hay sao? Khi ngươi luôn nói câu chữ và đạo lý, trong lòng ngươi ý thức được rằng mình thiếu lẽ thật, rằng thông công lẽ thật mới có giá trị, và trong lòng ngươi cũng biết rằng trong thế giới tăm tối và tà ác này, chỉ có những ai đạt được lẽ thật thì mới sống có hy vọng và giá trị. Thế mà khi có chuyện lớn xảy đến đòi buộc ngươi phải đối diện và đưa ra lựa chọn, ngươi lại cảm thấy rằng những triết lý của Sa-tan, đạo đức và luân lý mới là lẽ thật, mới hữu dụng. Vào những lúc như thế, lẽ thật trong lời Đức Chúa Trời mà trong ngươi vốn sẵn lòng mưu cầu, lại không hữu dụng. Đây là vấn đề gì vậy? Nếu ngươi có thể thừa nhận rằng lời Đức Chúa Trời là lẽ thật, vậy tại sao ngươi không thể đưa vào thực hành? Tại sao ngươi không dám thực hành lẽ thật? Ngươi sợ điều gì chứ? Ngươi sợ bị người khác phỉ báng và phán xét, sợ mất đi tiền đồ trong thế gian, sợ tổn hại lợi ích bản thân. Vào thời điểm then chốt như thế mà ngươi không thực hành lẽ thật, trở thành kẻ đào ngũ và phủ nhận giá trị của lẽ thật trong lời Đức Chúa Trời, điều này đủ để chứng tỏ rằng ngươi không phải là người yêu lẽ thật, thay vào đó ngươi yêu các triết lý, tà thuyết và lý luận sai lầm của Sa-tan, rằng ngươi mưu cầu tiền đồ trong thế gian là lợi ích xác thịt, danh dự và địa vị của mình. Thế mà ngươi dám nhận là yêu lẽ thật, đúng là giả hình. Tất cả những điều này đủ để chứng minh rằng trong khi tin Đức Chúa Trời, ngươi chưa hề tiếp nhận lẽ thật, chưa hề đưa lẽ thật vào thực hành. Nếu thế, ngươi có lòng kính sợ Đức Chúa Trời không? Trong lòng ngươi có chỗ cho Đức Chúa Trời không? Ngươi thường thừa nhận rằng lời Đức Chúa Trời là lẽ thật, thế mà khi có chuyện xảy đến, trong lòng ngươi lại không có Đức Chúa Trời và ngươi tôn mình cao hơn tất cả, ngươi xem những mối quan hệ của con người, các triết lý xử thế, luân lý và tam cương ngũ thường, những tiêu chuẩn cho lương tâm và đạo đức, là lẽ thật. Những điều vốn thuộc về Sa-tan này đã trở thành cái thay thế cho lẽ thật trong lòng ngươi, vậy chẳng phải ngươi đã sa đọa rồi sao? Giờ ngươi đã hoàn toàn phản bội Đức Chúa Trời và đã hoàn toàn rơi vào trong tăm tối.
Nhiều người quá bận rộn suốt nhiều năm tin Đức Chúa Trời, vậy tại sao họ lại không có thực tế lẽ thật? Thực ra, căn nguyên vấn đề là do những người này không yêu lẽ thật. Nếu ngươi bảo họ rằng họ không yêu lẽ thật, họ sẽ cảm thấy oan ức, nhưng trong thực tế, họ cảm thấy oan ức thì có hợp lý không? Không. Bất kể người ta đã nghe bao nhiêu bài giảng, đã hiểu bao nhiêu đạo lý, nhưng khi đến lúc cần thực hành lẽ thật, họ lại không thực hành lẽ thật, không căn cứ theo nguyên tắc lẽ thật mà hành động, xử lý mọi chuyện hay là đối xử với con người, sự việc, sự vật quanh mình, luôn có chủ trương riêng của mình. Có người khi thưa chuyện với Ta, thì luôn nói rằng: “Nghe con nói đi, để con bày tỏ quan điểm của mình, đây là quan điểm của con, ý con là vậy”, rồi còn: “Con muốn làm như thế này, Ngài có thể nghe con nói không?”. Ngươi chưa nói, Ta đã biết ý của ngươi rồi, ngươi không cần phải luôn nói về ý của mình, nó không phải là lẽ thật, và ngươi có nói cho rõ ràng cũng đâu khiến nó thành lẽ thật. Nếu ngươi tin rằng mình bẩm sinh đã có lẽ thật, vậy tại sao ngươi vẫn tin Đức Chúa Trời? Nếu ngươi có thể thông suốt mọi lẽ thật mà Đức Chúa Trời bày tỏ, như thể lẽ thật nào ngươi cũng hiểu, tự thân ngươi chính là lẽ thật và ngươi có thể giải quyết mọi vấn đề, vậy thì tại sao ngươi còn tin Đức Chúa Trời chứ? Có người nói: “Tại sao chuyện gì Ngài nói cũng đúng, luôn được ra quyết định? Tại sao Ngài không nghe con nói?”. Nói năng kiểu gì vậy? Lắng nghe ngươi nói quá nhiều năm rồi, Ta chẳng hề nghe được một lời nào đúng đắn hay phù hợp với lẽ thật, vậy tại sao Ta phải nghe ngươi? Ta muốn nghe một vài ý kiến tương đối đúng đắn từ con người. Nó sẽ khiến Ta đỡ phải hao tâm tổn sức, nhưng Ta chẳng nghe được điều gì như thế cả. Ta chỉ nghe toàn những lý luận sai lầm và những lời phản nghịch, những lời oán trách và tiêu cực đều là những lời đi ngược lại lẽ thật, vậy tại sao Ta phải nghe? Nếu để mọi người đều nghe theo ngươi, họ sẽ phản nghịch Đức Chúa Trời, chống đối Đức Chúa Trời, đối địch với Trời và đi theo Sa-tan, cuối cùng bị diệt vong hết thảy. Nếu ngươi nghe lời Ta, suy ngẫm lời Ta, ngươi sẽ hiểu lẽ thật, sẽ có thể đến trước mặt Đức Chúa Trời và bước lên con đường được cứu rỗi. Chỉ có lời Đức Chúa Trời mới có thể cứu rỗi con người, và chỉ có hiểu lẽ thật, thực hành lẽ thật và đạt đến thuận phục Đức Chúa Trời thì người ta mới có thể được Đức Chúa Trời cứu rỗi. Không dễ để người ta tiếp nhận lẽ thật. Khi ở cùng một số người, Ta cũng muốn nghe xem các anh chị em gần đây đã bước vào lẽ thật như thế nào, đã có tiến bộ gì trong việc phân định con người, sự việc và sự vật, đã có tiến bộ gì trong việc đưa lẽ thật vào thực hành, tình trạng của họ như thế nào, họ có xoay chuyển và thay đổi những tình trạng sai lầm của mình hay không, họ nhận thức được bao nhiêu về những tâm tính bại hoại của mình, họ biết mình được bao nhiêu từ những sự bộc lộ tâm tính bại hoại của mình, họ đã tiêu trừ được bao nhiêu hiểu lầm về Đức Chúa Trời và nhận thức của họ về Đức Chúa Trời đã tăng được bao nhiêu. Ta muốn nghe về những trải nghiệm và nhận thức đó, nhưng tiếc là hầu hết mọi người đều không thể nói được những lời chứng trải nghiệm kiểu này. Họ không có thực tế lẽ thật, chỉ nói toàn câu chữ và đạo lý sáo rỗng, những lời lẽ lệch lạc và cố chấp, những lời oán trách, nếu không thì cũng là những lời phô trương bản thân, giành công và đòi thưởng. Các ngươi nói xem, Ta cảm thấy thế nào khi nghe những lời đó? Chúng có khiến tâm trạng Ta vui vẻ không? (Thưa, không.) Rất hiếm khi người ta nói điều gì về trải nghiệm thực tế và thấu suốt thực tế, những lời khiến người ta nghe xong thì cảm thấy tâm trạng khá lên, chẳng có những lời như vậy. Nếu không nói về giành công và đòi thưởng, thì lại nói những lời lẽ không thích đáng, rỗng tuếch. Ngươi có cần nói với Ta về những đạo lý rỗng tuếch đó không? Ngươi khó lòng mê hoặc nổi những kẻ vô tri bằng những đạo lý đó, vậy thì nói chúng với Ta chẳng phải là không có lý trí sao? Khi thưa chuyện với Ta, có một số người luôn nói về những đạo lý thuộc linh giả tạo, và khi bàn luận chuyện gì đó, họ luôn nói: “Mọi sự đều nằm trong tay Đức Chúa Trời, đều do Ngài tiền định”. Họ cho rằng nói về những chuyện bên ngoài thì không có chất thuộc linh, chỉ có biết cách nói về các đạo lý thuộc linh thì mới có chất thuộc linh. Khi Ta nói một vài lời thực tế với họ, nói với họ về những chuyện cụ thể trong cuộc sống, thì họ không tiếp thu, họ chỉ muốn nghe những bài giảng cao ngất và các đạo lý thuộc linh cao vời. Những người như thế liệu có thực tế không? Họ không những không có thực tế mà còn hoàn toàn không có chút lý trí nào. Họ đích thực là những kẻ kiêu ngạo và vô tri.