Thông công về bài thánh ca “Vì yêu” (Phần 2)

Hãy xem tiếp đoạn thứ hai của bài thánh ca “Vì yêu”. “Vì yêu, Đức Chúa Trời đã trở lại trong xác thịt vào thời kỳ sau rốt, tại đất nước của con rồng lớn sắc đỏ”, tình yêu của Đức Chúa Trời phải lớn đến nhường nào? Ngươi đã khiến Đức Chúa Trời vì yêu mà chịu nhục, vì yêu và cứu rỗi con người mà nhập thể, đến đất nước của con rồng lớn sắc đỏ, nơi Ngài đối mặt với mọi sự sỉ nhục. Cách nghĩ này có đúng không? Đức Chúa Trời làm tất cả những chuyện này chỉ vì yêu sao? Ngươi chỉ đang nghĩ đến chuyện tốt mà thôi. Đức Chúa Trời làm vậy là vì kế hoạch quản lý của Ngài. Có một thực chất bên trong tâm tính của Đức Chúa Trời, đó là “Đức Chúa Trời đã phán thì sẽ giữ lời, lời đã giữ thì sẽ được hoàn thành, đã hoàn thành thì sẽ tồn tại mãi”, đây là sự bộc lộ thẩm quyền của Đức Chúa Trời chứ đâu phải là vì yêu? Các ngươi nói xem, những con người bại hoại này có đáng để Đức Chúa Trời phải chịu sự sỉ nhục lớn như vậy khi đến đất nước của con rồng lớn sắc đỏ không? (Thưa, không đáng.) Không đáng, con người còn không bằng con kiến hay giòi bọ, họ không xứng. Có phải ý của ngươi là để cho Đức Chúa Trời trở nên xác thịt, tiếp tục chịu đựng sự sỉ nhục và bách hại của Sa-tan, tiếp tục ban tặng tình yêu của Ngài cho nhân loại bại hoại này? Cách nghĩ này thật hoang đường. Trên thực tế, đây là kế hoạch quản lý của Đức Chúa Trời. Cho dù Đức Chúa Trời trở lại xác thịt và đến đất nước của con rồng lớn sắc đỏ hay là làm bất kỳ công tác nào, thì đó đều là các bước trong công tác của Ngài, công tác đến bước nào thì Đức Chúa Trời phải làm thế ấy. Vậy Đức Chúa Trời thực hiện công tác này rốt cuộc là vì điều gì? Vì kế hoạch quản lý của Đức Chúa Trời, và đối tượng mà Ngài muốn cứu rỗi trong kế hoạch quản lý của mình chính là nhân loại bại hoại. Bất kể nhìn từ góc độ nào, cho dù nhân loại bại hoại là người nước nào hay thuộc chủng tộc nào, họ cũng chỉ là đối tượng trong công tác, là vật làm nền trong kế hoạch quản lý của Đức Chúa Trời. Vật làm nền có xứng để Đức Chúa Trời ban tặng toàn bộ tình yêu của Ngài hay không? Nó không xứng, nói như vậy là sai lầm, không nên nhận định như vậy. Bởi vì Đức Chúa Trời có kế hoạch quản lý và bởi sự thật là Ngài sẽ hoàn thành công tác quản lý của Ngài, là một con người, ngươi có tư cách nhận lấy sự thật này, đây chính là một phước lành rất lớn. Nhưng ngươi vẫn không biết xấu hổ mà nói rằng: “Đức Chúa Trời làm tất cả mọi chuyện đều là vì yêu chúng ta”. Điều này là hoàn toàn sai, dẫn dắt như vậy là sai lầm, thuần túy là ăn nói vớ vẩn.

Hãy xem câu tiếp theo. “Vì yêu, Đức Chúa Trời chịu đựng sự ghét bỏ, phỉ báng, chịu bách hại và khổ sở khôn cùng”, nói vậy có đúng không? Đức Chúa Trời chịu đựng sự cự tuyệt, phỉ báng, chịu bách hại và hoạn nạn khôn cùng. Bất kể Đức Chúa Trời phải chịu đựng điều gì, thì ý niệm, mong muốn và mục tiêu trong lòng Ngài đều là để hoàn thành kế hoạch quản lý của Ngài. Đức Chúa Trời có mục tiêu lớn hơn, nhưng Ngài làm tất cả mọi chuyện không phải là để dành tặng cho nhân loại, cũng không phải để ban tặng tình yêu hay mọi thứ của Ngài cho một nhân loại vốn dĩ bại hoại, đối nghịch Ngài và xem Ngài là kẻ thù – không phải là vì lí do này. Có người nói: “Nếu Đức Chúa Trời không phải vì yêu con người mà thực hiện công tác này, Ngài chịu đựng sự cự tuyệt, phỉ báng và hoạn nạn hóa ra là vì kế hoạch quản lý của Ngài, vậy thì Đức Chúa Trời không xứng đáng với lòng yêu kính của con người”. Nói vậy có đúng không? (Thưa, không đúng.) Không đúng ở chỗ nào? Các ngươi nói xem. (Thưa, Đức Chúa Trời thực hiện những công tác này là vì kế hoạch quản lý của Ngài, nhưng thực ra trong quá trình này, con người cũng hưởng được nhiều lợi ích, hiểu được một ít lẽ thật và đạt được chút biến đổi.) Chỉ như vậy thôi sao? Các ngươi nói xem, việc Đức Chúa Trời vì kế hoạch quản lý của Ngài mà chịu đựng sự cự tuyệt và phỉ báng, nhận hết mọi bách hại và hoạn nạn, sự thật này, chuyện này là điều tích cực hay tiêu cực? (Thưa, là điều tích cực.) Đức Chúa Trời vì kế hoạch quản lý của Ngài mà nhận hết mọi sự cự tuyệt, phỉ báng và sỉ nhục; đây là điều tích cực. Các ngươi có biết vì sao lại nói rằng đây là điều tích cực không? Nội dung trong kế hoạch quản lý của Đức Chúa Trời là gì? (Thưa, đó là đánh bại Sa-tan và dẫn dắt con người thoát khỏi sự trói buộc của Sa-tan.) Dùng thứ gì để đánh bại Sa-tan? Nội dung cụ thể là gì? Hạng mục công tác cụ thể là gì? Đó là cứu rỗi nhân loại. Như vậy là đâu có mơ hồ, đúng không? Đánh bại Sa-tan là một phương diện; nội dung cụ thể trong kế hoạch quản lý của Đức Chúa Trời, cũng là hạng mục cụ thể trong công tác của Ngài, chính là cứu rỗi nhân loại. Theo ngôn ngữ của con người mà nói thì cứu rỗi nhân loại là sự nghiệp chính nghĩa hay phi nghĩa? (Thưa, là sự nghiệp chính nghĩa.) Đây là sự nghiệp chính nghĩa. Đức Chúa Trời vì cứu rỗi nhân loại mà chịu đựng sự cự tuyệt và phỉ báng, nhận hết mọi đau khổ và sỉ nhục, chuyện này có sai hay không? (Thưa, không sai.) Đây chẳng phải là điều tích cực sao? Đây là ích kỷ sao? (Thưa, không phải là ích kỷ.) Vậy thì tại sao các ngươi không giải thích được rõ ràng? Một chuyện rõ ràng và hiển nhiên như vậy mà các ngươi nói không rõ ràng, lại còn giải thích và xác định một cách mù quáng, vậy chẳng phải là quá ngu muội và vô tri sao? Công tác trong kế hoạch quản lý của Đức Chúa Trời là một hạng mục lớn, và chi tiết bên trong hạng mục cụ thể này chính là cứu rỗi nhân loại. Một số người nói: “Đức Chúa Trời cứu rỗi nhân loại là để hoàn thành mong muốn và kế hoạch của Ngài, Đức Chúa Trời làm tất cả mọi chuyện là vì chính Ngài chứ không phải vì nhân loại. Đây chẳng phải là ích kỷ sao?”. Đây có phải là ích kỷ không? (Thưa, không phải.) Vì sao không phải là ích kỷ? Đức Chúa Trời làm chuyện này là tích cực và có ý nghĩa. Việc Ngài làm có giá trị và ý nghĩa vô cùng lớn đối với sự sống còn, đích đến, kết cục và trạng thái sinh tồn của toàn thể nhân loại trong thời đại tiếp theo. Xét theo những điểm này, thì Đức Chúa Trời vì hoàn thành kế hoạch quản lý của Ngài mà chịu đựng và trả giá như vậy là có ích kỷ hay không? (Thưa, không.) Kế hoạch quản lý của Đức Chúa Trời là để cứu rỗi nhân loại, tâm ý của Ngài là thiện, mỹ và là tình yêu chân thật, cho nên không thể nói việc Đức Chúa Trời thỏa mãn tâm ý của Ngài là ích kỷ. Xét từ chuyện mà Đức Chúa Trời làm và lên kế hoạch thì sẽ có thể nhìn ra thực chất của Ngài và thấy được rằng tấm lòng của Ngài là thiện mỹ. Mặc dù nhân loại này đã đọa lạc, mặc dù họ đã đi theo Sa-tan và có đầy tâm tính bại hoại của Sa-tan, đầy sự phản nghịch và chống đối Đức Chúa Trời, đầy sự báng bổ và thù hằn, nhưng Đức Chúa Trời vẫn không nề hà, không bỏ cuộc mà vẫn cứu rỗi nhân loại. Tất cả những điều này bắt nguồn từ đâu? Chúng bắt nguồn từ kế hoạch quản lý của Đức Chúa Trời và từ mong muốn của Ngài. Đây là ích kỷ sao? Nhân loại là người hưởng lợi lớn nhất và cũng là người hưởng lợi cuối cùng từ kế hoạch quản lý của Đức Chúa Trời. Các ngươi là những người duy nhất tiếp nhận và thừa hưởng những lời hứa, sự ban phước và đích đến tốt lành mà Đức Chúa Trời ban cho nhân loại. Vậy thì, các ngươi nói xem, Đức Chúa Trời có ích kỷ hay không? (Thưa, không ích kỷ.) Đức Chúa Trời không ích kỷ. Nhưng Đức Chúa Trời có làm tất cả mọi chuyện chỉ vì yêu không? (Thưa, không.) Ý nghĩa, giá trị và lẽ thật bên trong mà con người cần phải hiểu là quá sâu sắc, đâu phải chỉ vì một chút tình yêu như vậy? Tình yêu chẳng qua là một phần nhỏ trong việc biểu đạt tình cảm, là một phần được bộc lộ trong cảm xúc và tình cảm, chứ không phải toàn bộ. Nhưng trong công tác triển khai kế hoạch quản lý của Đức Chúa trời, trong quá trình Ngài cứu rỗi nhân loại, những gì thực sự bộc lộ ra chính là toàn bộ tâm tính của Đức Chúa Trời. Vậy thì tâm tính của Ngài không chỉ là tình yêu, cũng không chỉ là lòng yêu mến và thương xót, mà còn bao gồm rất nhiều phương diện như sự công chính, oai nghi, sự thịnh nộ, rủa sả, v.v.. Đương nhiên, nói một cách cụ thể thì trong thời gian Đức Chúa Trời thực hiện ba bước công tác, tâm tính và thực chất của Ngài từng bước được bộc lộ và hiện ra cho con người thấy, nhưng con người không nhận ra được mà còn nói rằng: “Đức Chúa Trời làm tất cả mọi chuyện là vì Ngài yêu chúng ta”. Quan niệm đó của con người về tình yêu, vì sao lại nghe thật khó chịu và buồn nôn như vậy? Công tác của Đức Chúa Trời có ý nghĩa đến thế, có ảnh hưởng lớn đến đích đến và kết cục của nhân loại, lại bị quy định thành một loại tình cảm nhỏ bé là tình yêu, vậy chẳng phải là bôi nhọ tâm ý của Đức Chúa Trời, bôi nhọ sự lao tâm khổ tứ cứu rỗi nhân loại của Ngài sao?

Câu tiếp theo, “Vì yêu, Đức Chúa Trời ẩn mình và khiêm nhường, sống cùng nhân loại bại hoại”, người viết thánh ca bảo rằng đây cũng là vì yêu. Đức Chúa Trời làm vậy là vì cần thiết cho công tác của Ngài, chứ đâu phải là vì yêu? Đức Chúa Trời vì yêu con người mà sống cùng với họ, vì yêu con người mà ẩn mình và khiêm nhường, nói như vậy cũng được sao? Nhân loại phải có sức quyến rũ và đáng yêu đến mức nào thì mới có thể khiến Đức Chúa Trời vội vã và cam tâm tình nguyện sống cùng họ, lại còn trở nên xác thịt, ẩn mình và khiêm nhường? Đây có phải là sự thật không? (Thưa, không phải.) Sự thật là gì? (Thưa, Đức Chúa Trời trở nên xác thịt, ẩn mình và khiêm nhường, đến thế gian để bày tỏ lẽ thật và cứu rỗi con người, là vì kế hoạch quản lý của Ngài.) Về mặt lý luận, đó là vì kế hoạch quản lý của Đức Chúa Trời. Từ góc nhìn của con người, có vẻ như Đức Chúa Trời rất vui vẻ ẩn mình và khiêm nhường sống cùng nhân loại bại hoại, Ngài sống rất thoải mái và vui vẻ mỗi ngày, cũng rất hài lòng khi nhìn thấy mọi cử chỉ, biểu hiện và bộc lộ của nhân loại. Có chuyện như vậy hay không? (Thưa, không có.) Trên thực tế là gì? (Thưa, Đức Chúa Trời làm như vậy là vì cần thiết cho công tác của Ngài.) Bởi vì cần thiết cho công tác, đây là lý luận. Trên thực tế, Đức Chúa Trời sống cùng nhân loại thì có vui vẻ hay không? Có hạnh phúc không? Có hưởng thụ không? (Thưa, không có.) Vậy thì cảm nhận của Đức Chúa Trời phải là gì? Ví dụ như, các ngươi tin Đức Chúa Trời và cảm thấy bản thân rất ngay thẳng, nhưng nếu cho các ngươi sống chung với những thanh niên lêu lổng, du côn, lưu manh hay xã hội đen, mỗi ngày đều ăn, nói và làm nhiều chuyện giống họ, vậy thì các ngươi sẽ cảm thấy thế nào? (Thưa, chán ghét và thấy phản cảm.) Nếu để các ngươi ở cùng những tên tội phạm cưỡng dâm hay giết người thì các ngươi sẽ cảm thấy thế nào? (Thưa, ghê tởm.) Các ngươi còn biết ghê tởm, vậy thử nói xem Đức Chúa Trời sống cùng với nhân loại bại hoại thì có thể hạnh phúc hay không? Có vui vẻ không? (Thưa, không.) Không hạnh phúc hay vui vẻ, vậy thì tình yêu ở đâu ra? Nếu một chút vui vẻ, hạnh phúc, hưởng thụ cũng không có mà Ngài còn có thể yêu con người như yêu chính Ngài, yêu con người đến mức không dứt ra được, vậy chẳng phải là mâu thuẫn sao? Như vậy có phải là hơi giả tạo không? Sự thật rốt cuộc là gì? Khi Đức Chúa Trời sống cùng nhân loại bại hoại, ngoài chuyện không hạnh phúc, hưởng thụ hay vui vẻ ra, thì cảm nhận thực sự của Ngài là gì? (Thưa, đau khổ.) Đau khổ, đây là một loại cảm giác rõ ràng. Còn gì nữa? (Thưa, chán ghét.) Chán ghét, đây lại là một loại cảm giác nữa. Còn gì nữa không? (Thưa, sự căm ghét đối với tâm tính bại hoại của con người.) Sự căm ghét, ác cảm và ghê tởm. Còn có một loại cảm giác chân thực nhất nữa: khi sống cùng nhân loại bại hoại, nhất là những lúc chung sống, nói chuyện, cùng làm việc và giao du, thì đều cảm thấy một sự sỉ nhục cực độ. Ở trong trạng thái và tình trạng dai dẳng này, ngươi nói xem liệu một người bình thường còn có thể có tình yêu hay không? (Thưa, không thể.) Họ không thể có tình yêu. Trong trường hợp không có tình yêu thì họ sẽ làm gì? (Thưa, họ sẽ lánh xa.) Lánh xa, đây là một kiểu mong muốn, một loại trạng thái tâm lý, nhưng để đối mặt với sự thật thì cần phải làm gì? Có nên tìm cách thay đổi những người này không? (Thưa, có.) Đối với loài người như vậy thì phải thực hành việc cung ứng, giáo dục, chỉ trích, vạch rõ, tỉa sửa, đôi khi sửa dạy họ một chút, v.v.. Việc này là cần thiết và không thể không làm. Nhưng làm như vậy liệu có thể đạt đến hiệu quả nhanh chóng không? (Thưa, không thể.) Vậy thì phải làm sao? (Thưa, họ cần được tỉa sửa, phán xét và hành phạt trong một thời gian dài.) Công tác tỉa sửa, phán xét và hành phạt trong một thời gian dài như vậy có dễ dàng không? Đức Chúa Trời phải chịu đựng những gì? (Thưa, sự sỉ nhục và đau khổ.) Đức Chúa Trời đúng là đã rất nhẫn nại để thực hiện công tác. Sự nhẫn nại này mang đến điều gì? Chính là mang đến đau khổ. Cho nên, khi Đức Chúa Trời sống cùng nhân loại bại hoại, trong lòng Ngài không vui vẻ, cũng không có cảm giác hạnh phúc. Nếu không vui vẻ, không hạnh phúc thì trong lòng Ngài có yêu nổi con người hay không? Ngài yêu không nổi. Vậy thì Ngài thực hiện công tác như thế nào? Dựa vào cái gì để làm? Chính là làm hết trách nhiệm của Ngài. Đây chính là chức vụ khi nhập thể của Đức Chúa Trời, chính là tính chất này. Làm hết trách nhiệm chính là làm hết khả năng của mình, làm hết những gì mình đã thấy và biết, những gì nên nói và nên làm. Đây gọi là làm hết trách nhiệm. Vì sao có thể làm hết trách nhiệm như vậy? Bởi vì thân phận và thực chất của Đức Chúa Trời, bởi vì Đức Chúa Trời nhập thể có sự ủy thác và trách nhiệm này, đương nhiên là Đức Chúa Trời gánh trọng trách này đối với nhân loại. Cho nên, dù là sống cùng với loại người nào hay những con người bại hoại nào, trạng thái của Ngài cũng là như vậy. Ngươi có biết là trạng thái gì hay không? Không hạnh phúc, không vui vẻ, phải chịu đựng sự sỉ nhục, đồng thời Ngài còn phải không nề hà và hết lần này đến lần khác chịu đựng đủ loại bại hoại và phản nghịch của con người. Cùng lúc với việc chịu đựng những thứ đó, Ngài còn phải phán những gì cần phán và làm những gì cần làm một cách không nề hà. Ngài phải giải thích rõ ràng những chuyện con người không hiểu, và với những người cố ý vi phạm, Ngài phải cho họ một chút sửa dạy, một chút phán xét và hình phạt. Đức Chúa Trời làm tất cả những việc này đều có liên quan đến kế hoạch quản lý và các bước công tác của Ngài. Đương nhiên là càng có liên quan đến hạng mục công tác cụ thể của Đức Chúa Trời là cứu rỗi nhân loại. Nói tóm lại là có liên quan đến trách nhiệm của chính Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời làm tất cả những điều này chính là làm hết trách nhiệm của Ngài. Tất nhiên, những gì Ngài bộc lộ trong khi làm hết trách nhiệm chính là thực chất của Ngài và cũng là tâm tính của Ngài. Vậy thì thực chất của Đức Chúa Trời nhập thể, cũng chính là thực chất của con người bình thường này, là gì? Nhất là ở bước công tác trong thời kỳ sau rốt, Ngài không biểu hiện bất cứ dấu kỳ phép lạ nào, cũng không biểu hiện bất cứ năng lực kỳ lạ nào, tất cả những gì Ngài có thể làm là cho con người biết về những lẽ thật mà họ nên có và nên hiểu. Ngài vạch rõ những tâm tính bại hoại mà chính con người không biết đến, để họ có thể biết và nhận thức được chúng, để họ đạt đến việc nhận biết thực chất và chân tướng về sự bại hoại của nhân loại, giúp con người có thể thực sự hối cải và dẫn họ bước vào con đường đúng đắn. Khi con người có thể thực sự hối cải, hiểu ra và thực hành lẽ thật, họ sẽ bước vào thực tế lẽ thật và có hy vọng được cứu rỗi. Công tác và trách nhiệm của Đức Chúa Trời nhập thể như vậy sẽ được hoàn thành. Khi con người đã đi vào con đường đúng đắn, họ sẽ chờ để tiếp nhận sự thử luyện và tinh luyện của Đức Chúa Trời, khi đó công tác của Đức Chúa Trời nhập thể sẽ kết thúc, Ngài đã làm hết trách nhiệm và hoàn thành công tác của Ngài. Khi công tác của Đức Chúa Trời nhập thể đã hoàn thành và các ngươi đã được dẫn vào con đường đúng đắn, điều này có nghĩa là chức vụ của Đức Chúa Trời đã hoàn thành, Ngài không còn bất kỳ nghĩa vụ nào đối với các ngươi nữa. Không có bất kỳ nghĩa vụ nào nghĩa là sao? Nghĩa là Ngài không còn phải ở bên cạnh những người này và chịu đựng những thứ như sự bại hoại, quan niệm, sự phản nghịch, chống đối, ghét bỏ, v.v. của họ nữa.

Cho dù là xét trên toàn bộ kế hoạch quản lý của Đức Chúa Trời hay trên một hạng mục công tác cụ thể nào đó mà Đức Chúa Trời nhập thể thực hiện, thì có hạng mục nào được làm chỉ vì yêu không? Không có. Thần của Đức Chúa Trời quan sát nhân loại từ trên trời như thế nào thì Đức Chúa Trời nhập thể trên đất cũng gần như dùng cùng một góc độ này để quan sát nhân loại. Tại sao lại nói là “gần như”? Trên đất, khi Đức Chúa Trời nhập thể quan sát nhân loại thì có thể tương đối quan tâm hơn một chút đến sự yếu đuối của con người, vì Ngài có mối quan hệ về mặt nhân tính, vì Ngài sống với nhân loại thọ tạo trong cùng một không gian, cộng thêm mối quan hệ mang thuộc tính bề ngoài do Ngài cũng là con người như nhân loại bại hoại. Do đó, Đức Chúa Trời nhập thể có thể sống với con người một cách hòa hợp hơn chút so với Đức Chúa Trời trên trời. Xét về điểm này, nếu Đức Chúa Trời không trở nên xác thịt, thì liệu những con người như các ngươi có ngồi đây ngay bây giờ không? Sẽ không thể. Tất cả là vì những yêu cầu trong công tác của Đức Chúa Trời nên Ngài mới phải trả giá đắt như vậy để thực hiện công tác, hơn nữa, Ngài còn tự mình đến làm. Nếu Đức Chúa Trời phán với con người từ trên trời, một mặt là do cách biệt không gian, con người sẽ không tiện để nghe lời Ngài. Mặt khác, độ dài và số lượng những lời phán của Đức Chúa Trời ở thời kỳ sau rốt là rất lớn, nếu Ngài phán như vậy từ trên trời thì sẽ không thích hợp, dù xét từ phương diện hay góc độ nào. Cho nên, sự lựa chọn duy nhất và tốt nhất, cũng là có lợi nhất cho nhân loại, cho kế hoạch quản lý của Đức Chúa Trời và cho công tác cứu rỗi nhân loại, chính là Đức Chúa Trời trở nên xác thịt. Đức Chúa Trời trở nên xác thịt là lựa chọn duy nhất và cũng là cách duy nhất để công tác. Chỉ Đức Chúa Trời nhập thể mới có thể thực hiện và gánh vác những công tác này, và mới có thể đạt đến những kết quả này. Ngươi hãy nhìn những lời Đức Chúa Trời đã phán trong thời kỳ sau rốt đi, xét về số lượng thì sao Ngài có thể phán nhiều lời như vậy nếu không dùng cách trở nên xác thịt? Nếu Đức Chúa Trời dùng sấm sét để phán từ trên trời, vậy thì bao nhiêu người sẽ bị đánh chết mỗi lần Ngài phán xét và định tội kẻ ác? Sẽ không có mấy người còn sống sót. Nếu Đức Chúa Trời phán từ trong gió lốc hoặc từ trong những ngọn lửa, vậy phải xảy ra bao nhiêu cơn lốc và hỏa hoạn thì Ngài mới có thể phán xong những lời này? Như vậy thì toàn thể nhân loại sẽ chịu quấy nhiễu. Mà trong ngần ấy năm, việc Đức Chúa Trời nhập thể và phán lời có ảnh hưởng gì đến cuộc sống bình thường của nhân loại không? Không ảnh hưởng chút nào cả. Hơn nữa, cả thế giới cũng không để ý và không hề bị ảnh hưởng. Như vậy là đã hoàn toàn đạt được mục đích nhập thể công tác của Đức Chúa Trời, nếu Ngài không nhập thể thì thực sự không có cách nào làm được công tác này. Công tác của Đức Chúa Trời nhập thể vốn có tính bí mật. Đức Chúa Trời không muốn cả thế giới và toàn thể nhân loại biết về chuyện này, nói cách khác là Ngài không muốn để cho những dân ngoại vốn không được Ngài chọn đó biết đến. Ngài chỉ có thể bày tỏ những lời này trong trạng thái ẩn mình, cho nên dùng cách trở nên xác thịt là có ý nghĩa nhất, cũng là cách khôn ngoan nhất. Chỉ khi Đức Chúa Trời trở nên xác thịt thì mới có thể ẩn mình. Đức Chúa Trời nhập thể sống trong cùng một không gian với nhân loại, dùng ngôn ngữ của nhân loại, dùng phương pháp và hình thức mà nhân loại có thể tiếp nhận để cung ứng lẽ thật cho họ. Đây là sự khôn ngoan và toàn năng của Đức Chúa Trời. Chỉ Đức Chúa Trời mới có thể làm được, nhân loại không làm được như vậy. Những điều này đều liên quan đến kế hoạch quản lý vĩ đại của Đức Chúa Trời. Nếu con người đem kế hoạch quản lý vĩ đại như vậy của Đức Chúa Trời, mô tả một cách phiến diện thành chỉ vì yêu, thì như vậy là đơn giản hóa quá mức, trái ngược với sự thật và thực sự không thể biện minh được. Tóm lại, lần này Đức Chúa Trời trở nên xác thịt, bất kể nội dung công tác là gì, thì hình thức này đã gây ra một sự chấn động và ảnh hưởng không nhỏ trên toàn thế giới và giữa toàn thể nhân loại, qua đó cho thấy đây là một sự kiện to lớn. Sự thật và hình thức của việc Đức Chúa Trời trở nên xác thịt tự nó đã là một chuyện gây tranh luận trên toàn thế giới và toàn bộ giới tôn giáo. Đây là một sự kiện mà nhân loại căm thù, định tội và cự tuyệt, cũng là sự kiện mà nhân loại khó hiểu thấu và khó tưởng tượng được nhất. Việc Đức Chúa Trời có thể công tác như vậy cho thấy sự khôn ngoan, quyền năng, sự toàn năng và thẩm quyền của Ngài; căn bản không phải chỉ vì một chút tình yêu nhỏ nhặt như vậy, cũng không phải vì chút chuyện hay lý do nhỏ nhặt như hạt vừng nào đó. Nói cách khác, một chuyện lớn có thể làm chấn động toàn bộ giới tôn giáo, toàn bộ giới chính trị, toàn thể nhân loại và thậm chí là toàn bộ vũ trụ, chuyện lớn đó không nảy sinh từ tình yêu mà nảy sinh do kế hoạch quản lý của Đức Chúa Trời để cứu rỗi nhân loại, và do mong muốn của Ngài. Đây là khải tượng vĩ đại nhất về bước thứ ba trong công tác của Đức Chúa Trời, là khải tượng vĩ đại nhất mà con người nên hiểu, biết và lĩnh hội. Nếu ngươi chỉ quy định cho khải tượng này rằng: “Đây là vì tình yêu của Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời yêu chúng ta. Hãy nhìn xem, Đức Chúa Trời đã trở nên xác thịt và bị đóng đinh vì yêu chúng ta một lần, lần này Ngài lại trở nên xác thịt và đến yêu chúng ta lần nữa”, đây chẳng phải là sai lầm nghiêm trọng sao? Một khải tượng vĩ đại như vậy về công tác của Đức Chúa Trời, mà ngươi lại quy định rằng đó là vì yêu, thì thật quá ư nông cạn. Ngươi không biết Đức Chúa Trời thì thôi, mau che miệng lại, đừng nói hoặc phát biểu quan điểm bừa bãi. Trước đây Ta đã nói với các ngươi, hễ có liên quan đến tâm tính, thực chất của Đức Chúa Trời và khải tượng về công tác của Ngài, thì con người không nên tùy ý luận đoán, đưa ra kết luận hoặc quy định. Không hiểu thì nói không hiểu. Nếu hiểu được một ít thì hãy nhanh chóng nói rằng: “Tôi chỉ hiểu được chút đó thôi, không dám quy định bừa bãi, không biết có đúng hay không”. Phải thêm chú thích, chú giải này phía sau, đừng nói bừa bãi. Nếu nói bừa bãi, thì ở phạm vi nhỏ, ngươi có thể gây ảnh hưởng sai trái đến người khác, khiến họ hiểu sai và lầm đường lạc lối. Ở phạm vi lớn hơn, ngươi có thể xúc phạm tâm tính của Đức Chúa Trời. Kế hoạch quản lý của Đức Chúa Trời và công tác cứu rỗi nhân loại vĩ đại như vậy, mà ngươi lại nhận định là bởi vì yêu và được thực hiện vì yêu, đây chẳng phải là ăn nói vớ vẩn sao? Người nói ra lời này có nên bị vả miệng không? (Thưa, có.) Tại sao nên bị vả miệng? Bởi vì đây là ăn nói lung tung, cắt câu lấy nghĩa. Đây chẳng phải là do tâm tính kiêu ngạo gây ra sao? Chẳng phải ngươi mới tin Đức Chúa Trời được vài ngày thôi sao? Ngươi đã gặp qua Đức Chúa Trời hay chưa? Ngươi hiểu tâm tính của Ngài không? Đến cả lẽ thật về khải tượng trong kế hoạch quản lý của Đức Chúa Trời mà ngươi cũng không giải thích được một cách rõ ràng và thấu đáo, vậy mà còn dám quy định thực chất và tâm tính của Đức Chúa Trời. Đây chẳng phải là to gan lớn mật sao? Ngươi dám dùng từ “tình yêu” để quy định một chuyện lớn như vậy, điều này xúc phạm tâm tính của Đức Chúa Trời. Xúc phạm tâm tính của Đức Chúa Trời có phải là một vi phạm lớn hay không? Đó là vi phạm lớn. Có người nói: “Tôi cũng đâu có biết, đâu có hiểu”. Đúng rồi. Chính vì ngươi không hiểu, không biết, vì vô tri và ngu muội, nên ngươi mới không nên nói bừa bãi. Một con người bình thường như ngươi có thể đưa ra phán xét hay kết luận tùy tiện về những chuyện của Đức Chúa Trời hay không? Toàn thể nhân loại kết hợp lại với nhau cũng chẳng thể giải thích được chuyện của Đức Chúa Trời một cách rõ ràng, vậy mà một mình ngươi lại muốn quy định tâm tính, công tác và thực chất của Đức Chúa Trời chỉ bằng đôi ba câu. Đây chẳng phải là xúc phạm tâm tính của Đức Chúa Trời sao? (Thưa, phải.) Vậy thì có một vấn đề nghiêm trọng với bài thánh ca này. Nó không chỉ chứa đầy những lời hồ đồ, trống rỗng, ngông cuồng, mà quan trọng nhất là còn có thể khiến con người lầm đường lạc lối, mê hoặc và khiến họ mắc bẫy trong những quan niệm của mình. Bài thánh ca này gây ra hậu quả nghiêm trọng như vậy, thì có thể được giữ lại hay không? Tuyệt đối không thể, nó phải bị xóa bỏ.

Xem tiếp nào: “Vì yêu, Đức Chúa Trời bày tỏ lẽ thật để mang đến con đường sự sống đời đời”, lời quy định này nghe có buồn nôn không? (Thưa, có.) Đọc tiếp: “Vì yêu, Đức Chúa Trời phán xét và vạch rõ bản tính Sa-tan của nhân loại bằng những lời phán”. Các ngươi nói xem, khi Đức Chúa Trời bày tỏ những lời nghiêm khắc để vạch rõ tâm tính bại hoại của con người, rốt cuộc là vì Đức Chúa Trời yêu con người, hay là vì Ngài chán ghét và hận con người? (Thưa, bởi vì Đức Chúa Trời chán ghét và hận con người.) Đức Chúa Trời chán ghét con người, vậy đây là tâm tính gì của Ngài? (Thưa, sự công chính, thánh khiết.) Đúng vậy, đây không phải là vì yêu. Con người quy định như vậy không phải là đã định vị và lý giải sai lầm sao? Có nhận thức thực tế nào về lẽ thật trong những lời này hay không? Đây là nhận thức lệch lạc và phiến diện, một cách giải thích sai lầm, nhận định trong câu này không đúng. Chúng ta xem tiếp nào, “Vì yêu, Đức Chúa Trời thử luyện, tinh luyện và tỉa sửa để làm tinh sạch sự bại hoại của chúng con”. Đây có phải là cùng một vấn đề như câu ở trên không? (Thưa, phải.) Vấn đề là như nhau. Chúng ta xem tiếp nào, “Lạy Đức Chúa Trời! Những gì bộc lộ từ công tác và lời phán của Ngài đều là tình yêu”. Đây chẳng phải là lại quy định nữa sao? Đức Chúa Trời bày tỏ những gì? Sự thánh khiết, đáng yêu và tâm tính công chính của Ngài. Đức Chúa Trời có sự thịnh nộ, oai nghi, cũng có lòng thương xót và yêu mến, vậy sao có thể nói tất cả đều là vì yêu? Sự quy định này thật quá buồn nôn và võ đoán! Đây chẳng phải là do kiêu ngạo gây ra sao? Những gì người viết thánh ca giải thích và tổng kết không có chút liên quan nào đến thực chất tâm tính được bộc lộ qua những lời nói và lời phán của Đức Chúa Trời. Họ còn nói rằng “Tất cả đều là tình yêu”, điều này chẳng những không liên quan mà còn lệch lạc và sai lầm, nhận định như vậy là hoàn toàn sai. Tình yêu là một loại tình cảm, cũng có thể là một loại hành động và hành vi, nhưng nó không phải là thực chất chủ yếu của Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời không yêu con người một cách bừa bãi. Chẳng lẽ tình yêu của Đức Chúa Trời tràn lan đến nỗi không còn chỗ chứa, đến mức Ngài yêu cả Sa-tan, nhân loại bại hoại và kẻ thù của Ngài? Là vậy sao? Tình yêu của Đức Chúa Trời đâu phải là không có nguyên tắc; tình yêu của Ngài có nguyên tắc. Đức Chúa Trời yêu thích những điều tích cực, căm ghét những điều tiêu cực và tà ác. Các ngươi nói xem, Đức Chúa Trời có yêu những người thật lòng tin Ngài không? Ngài có yêu những người thực hiện bổn phận của mình một cách trung thành không? Ngài có yêu những người thuận phục Ngài không? Đức Chúa Trời có yêu những người thông qua việc tiếp nhận sự phán xét và hình phạt của Ngài, mà có sự hối cải thực sự, thuận phục thực sự và trong lòng thực sự yêu kính Đức Chúa Trời không? Nếu con người hiểu lẽ thật và căm ghét tâm tính bại hoại của bản thân, thì “sự căm ghét” của họ chính là điều tích cực, vậy Đức Chúa Trời có yêu họ không? (Thưa, Ngài yêu họ.) Ai có thể tiếp nhận lẽ thật thì chính là người tích cực, và ai có thể thuận phục Đức Chúa Trời còn tích cực hơn nữa. Đức Chúa Trời yêu thích những người tích cực, Ngài căm ghét ma quỷ và Sa-tan. Những ai mà Đức Chúa Trời rủa sả và trừng phạt đều là kẻ ác, những ai được Đức Chúa Trời yêu thích đều là người trung thực, là người mưu cầu lẽ thật. Cho nên, tình yêu của Đức Chúa Trời là có nguyên tắc chứ không phải không có nguyên tắc. Đối với một số người, Đức Chúa Trời chỉ có lòng thương xót, điều này không có nghĩa là Ngài yêu họ. Những chuyện này phải được hiểu rõ ràng, không thể quy định tình yêu của Đức Chúa Trời một cách mù quáng. Nói bừa bãi về tình yêu của Đức Chúa Trời và quy định nó một cách mù quáng thì chắc chắn là đang luận đoán và báng bổ Đức Chúa Trời.

Chúng ta xem tiếp nào: “Lạy Đức Chúa Trời! Tình yêu của Ngài không chỉ là lòng yêu mến và thương xót, mà hơn thế còn là hình phạt và sự phán xét”, nói như vậy có đúng không? (Thưa, về mặt lý luận thì đúng, nhưng không thực tế.) Về mặt lý luận thì không có vấn đề gì, nhưng liên kết điều này với tình yêu của Đức Chúa Trời là rất miễn cưỡng. Lời này không nên coi là sai, nhưng cũng không nên coi là đúng, nó là lời thừa, không cần ngươi phải nói. Câu tiếp theo: “Lạy Đức Chúa Trời! Sự phán xét và hình phạt của Ngài là tình yêu chân thực nhất, là sự cứu rỗi lớn lao nhất”, các ngươi nói xem, lời này thì sao? (Thưa, lời này không đúng, nó coi sự phán xét và hình phạt của Đức Chúa Trời là sự cứu rỗi lớn lao nhất, nhưng thực ra, sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời không chỉ có sự phán xét và hình phạt.) Đức Chúa Trời nhập thể bị đóng đinh vào thập tự giá, vì toàn thể nhân loại mà chuộc tội và gánh tội, đây chẳng phải là tình yêu chân thực nhất, là sự cứu rỗi lớn lao nhất sao? (Thưa, đúng vậy.) Vậy thì, so với sự phán xét và hình phạt, cái nào là “nhất”? Thực ra, nếu phân tích một cách chặt chẽ thì lời này không chuẩn xác, không xác đáng và quy định quá cứng nhắc, không nên nói những lời như vậy. Không nên bảo rằng mọi việc Đức Chúa Trời làm đều là tình yêu. Nếu nói mọi việc Đức Chúa Trời làm đều có tác dụng tích cực lên con người, đều là sự cứu rỗi và lòng thương xót con người, thì như vậy là đúng, bởi vì tất cả đều là vì nhân loại. Còn nếu nói sự phán xét và hình phạt của Đức Chúa Trời là “nhất” và đặt chúng ở cấp cao nhất, thì vậy là không đúng. Cái gì “nhất” phải là cái duy nhất, không thể so sánh. Sự phán xét và hình phạt của Đức Chúa Trời không thể nói là “nhất” nếu so sánh với những công tác khác của Ngài. Trước đây có người đã viết một bài thánh ca, trong đó có một câu như thế này, “Con yêu kính tâm tính công chính của Đức Chúa Trời hơn cả lòng yêu mến và thương xót của Ngài”. Những lời này có đúng không? (Thưa, không đúng.) Tại sao lại không đúng? (Thưa, vì họ phân chia cấp bậc giữa sự công chính, thánh khiết, lòng yêu mến và thương xót của Đức Chúa Trời.) Thực ra, lời này là đúng, đây là trải nghiệm chân thực của con người sau khi trải qua sự phán xét và hình phạt của Đức Chúa Trời. Bối cảnh của trải nghiệm chân thực này là gì? Bên trong có một câu chuyện, chính là: khi con người hưởng thụ lòng yêu mến và thương xót của Đức Chúa Trời thì họ chỉ có thể đạt được ân điển, chứ không bao giờ nhận biết được tâm tính bại hoại của mình và không bao giờ thoát khỏi chúng. Chỉ khi con người trải nghiệm hình phạt và sự phán xét của Đức Chúa Trời, chịu rất nhiều đau khổ của sự thử luyện và tinh luyện thì mới có thể thoát khỏi những tâm tính bại hoại này. Cho nên, con người đã nảy sinh nhận thức này trên cơ sở và trong bối cảnh như vậy; nhận thức này là chuẩn xác, phù hợp với sự thật, chứ không phải một thứ lô-gích dựa trên lý luận. Bài thánh ca này có tính xây dựng đối với các ngươi nhưng các ngươi lại nhìn không ra, thật sự là thiếu phân định. Sự thiếu phân định này chứng thực điều gì? Nguyên nhân của sự thiếu phân định là gì? Đó là do các ngươi không hiểu lẽ thật. Trong bài thánh ca “Vì yêu” này toàn là những lời hồ đồ và không thực tế, Ta không thích nó và Ta tuyệt đối sẽ không hát dù chỉ một câu. Còn các ngươi lại hát rất hăng hái, rất trôi chảy, vóc giạc của các ngươi thật quá nhỏ bé! Các ngươi không thể nhìn thấu được bất cứ điều gì, cũng không hiểu những lẽ thật mà con người nên bước vào, vậy mà còn muốn bình luận về thực chất của Đức Chúa Trời và kế hoạch quản lý của Ngài. Đây chẳng phải là không có lý trí sao? Người không có lý trí mà còn dám nói bừa bãi, đây chính là không lo làm việc chính đáng, không thiết thực một chút nào.

Xem tiếp nào. “Chúng con phải làm chứng cho tình yêu thánh khiết và công chính của Ngài, Ngài xứng đáng được ca ngợi đời đời”. Đức Chúa Trời xứng đáng được ca ngợi đời đời, điều này đương nhiên đúng, nhưng con người chỉ biết Đức Chúa Trời như vậy thì có thể xem là ca ngợi Ngài không? Nếu Đức Chúa Trời không yêu thương con người, nếu Ngài chán ghét và căm ghét họ đến cực điểm mà con người vẫn có thể yêu kính và ca ngợi Ngài, thì người này còn có chút vóc giạc và chút nhận thức thực sự về Ngài. Trong câu “Chúng con phải làm chứng cho tình yêu thánh khiết và công chính của Ngài, Ngài xứng đáng được ca ngợi đời đời”, tính từ nằm phía trước “tình yêu của Đức Chúa Trời” là gì? “Thánh khiết” và “công chính”. Ngươi xem, người viết bài thánh ca này nghĩ tình yêu của Đức Chúa Trời to lớn biết bao, họ dùng thực chất của Đức Chúa Trời để định nghĩa tình yêu của Ngài, nói rằng tình yêu của Đức Chúa Trời là tình yêu công chính và thánh khiết. Điều này còn cần ngươi phải nói sao? Con người không sẵn lòng hưởng thụ thứ tình yêu thông thường, cũng không hưởng thụ một tình yêu mang tính thương xót hay trân trọng con người, họ chỉ muốn hưởng thụ tình yêu thánh khiết và công chính, như vậy thì họ mới ca ngợi Đức Chúa Trời và nói rằng Ngài xứng đáng được ca ngợi đời đời. Lời này có đúng không? Cho dù từ sự thật hay từ suy luận lô-gích, lời này sai hoàn toàn, nói xằng nói xiên, là một mớ từ ngữ hỗn độn mà một người mắc bệnh thần kinh thốt ra nhằm mê hoặc con người. Ngươi cho rằng đây là thế gian ư? Ở thế gian, có đủ loại tà linh và lũ quỷ bẩn thỉu, đủ loại nhân vật, đủ loại tiểu nhân đê tiện, chỉ cần có chút kỹ năng, biết ăn nói và da mặt đủ dày thì chúng đều dám trèo lên vũ đài để biểu diễn. Nhưng trong nhà Đức Chúa Trời thì lẽ thật nắm quyền, phải đuổi những tên tiểu quỷ này khỏi vũ đài và thanh lọc chúng ra khỏi hội thánh. Các tà thuyết và luận điệu sai trái của chúng đều phải được mổ xẻ, để mọi người có thể công khai phân định và nhận định chúng. Bây giờ nhìn lại, tình yêu của Đức Chúa Trời là gì? Nếu nói đó là sự công chính và thánh khiết thì có đúng không? (Thưa, không đúng, tình yêu của Đức Chúa Trời không chỉ có những điều này.) Vậy tình yêu của Đức Chúa Trời là gì? (Thưa, còn có sự phán xét và hình phạt, sự oai nghi và thịnh nộ, những điều này đều là tình yêu của Đức Chúa Trời.) Tình yêu của Đức Chúa Trời là tình yêu của Đức Chúa Trời, và thực chất của Đức Chúa Trời là thực chất của Đức Chúa Trời. Tình yêu của Đức Chúa Trời nằm trong tâm tư và ý niệm của Đức Chúa Trời, trong tình cảm, trong thực chất và trong việc làm của Ngài. Ngươi có thể giải thích được điều đó một cách rõ ràng không? Thế mà ngươi lại nói tình yêu của Đức Chúa Trời là sự công chính và thánh khiết, dám quy định như vậy, ngươi cũng quá to gan rồi đấy! Ngươi quy định như vậy để ca ngợi Đức Chúa Trời, Ngài có tiếp nhận không? (Thưa, Ngài không tiếp nhận.) Tại sao lại không tiếp nhận? (Thưa, bởi vì đây là sự báng bổ đối với Ngài.) Đức Chúa Trời thấy buồn nôn, ngươi như vậy là ăn nói vớ vẩn, nói xằng nói xiên! Ngươi có ca ngợi mù quáng cũng vô ích, Đức Chúa Trời không thích như vậy. Nhu cầu được nhân loại ca ngợi của Đức Chúa Trời không lớn đến thế. Ngài không có dục vọng đó, đâu phải Ngài cần sự ca ngợi của con người mới có thể sống thoải mái hay mới có sự tự tin. Đức Chúa Trời có cần không? (Thưa, Ngài không cần.) Đức Chúa Trời thực hiện công tác là để cứu rỗi nhân loại, ban cho nhân loại một đích đến tốt đẹp, Ngài vì sự sinh tồn của nhân loại ở thời đại tiếp theo mà làm một số công tác, nhưng mục đích không phải là để đạt được sự ca ngợi của con người. Việc nhân loại ca ngợi Đức Chúa Trời chẳng qua là một trong những kết quả đạt được từ công tác của Ngài, nhưng nếu con người hiểu lầm Đức Chúa Trời và ca ngợi Ngài một cách mù quáng, thì Ngài sẽ không cho phép và không tiếp nhận đâu. Vậy mà con người còn ảo tưởng, cảm thấy sự ca ngợi của họ là quan trọng biết bao đối với Đức Chúa Trời, như vậy chẳng phải là lý giải sai lầm sao? Vì nhân loại có chút ca ngợi và làm chứng như thế cho Đức Chúa Trời, nên họ nghĩ rằng Ngài sẽ rất cảm động, nhưng thực ra Ngài không hề cảm động chút nào. Đây chẳng phải là điều Đức Chúa Trời xứng đáng có sao? Đây là chuyện hết sức bình thường.

Chúng ta xem tiếp nào: “Vì yêu, Đức Chúa Trời điều động sự phục vụ của con người, sự việc, sự vật, giúp chúng con đạt được lẽ thật và sự sống”, lời này có đúng không? (Thưa, không đúng.) Không đúng chỗ nào? Có phải là do hai chữ “Vì yêu” ở đầu câu không? Tất cả đều là vì hai chữ này, hai chữ này rất có thể khiến con người lạc lối, mê hoặc họ, khiến tâm tư họ hỗn loạn và không phân biệt được thị phi đúng sai. Sau này, đừng nên lạm dụng hai chữ “vì yêu” nữa. Đoạn lời phía sau hai chữ này, “Đức Chúa Trời điều động sự phục vụ của con người, sự việc, sự vật, giúp chúng con đạt được lẽ thật và sự sống”, câu này là đúng. Trong công tác của Đức Chúa Trời có nội dung như vậy, nhưng nếu nhận định rằng đây là tình yêu của Đức Chúa Trời thì quá sai lầm. Đây là quyền năng, thẩm quyền và sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời chứ không phải là vì tình yêu. Nói chính xác hơn thì không chỉ là vì tình yêu của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời có quyền năng điều động tất cả con người, sự việc, sự vật phục vụ cho nhân loại mà Ngài muốn cứu rỗi. Đức Chúa Trời điều động vạn sự vạn vật để phục vụ cho nhân loại mà Ngài muốn cứu rỗi và phục vụ cho công tác quản lý của Ngài. Người được hưởng lợi cuối cùng chính là nhân loại – họ đạt được lẽ thật và sự sống. Nếu ngươi nói rằng đó chỉ là vì yêu, thì sự khôn ngoan, thẩm quyền và quyền năng của Đức Chúa Trời không còn tồn tại nữa sao? Nói đó chỉ vì yêu là không đúng, cho nên phương hướng và định vị của những lời này cũng đều sai. Bảo chúng đều sai nghĩa là sao? Nghĩa là chúng không phù hợp với lẽ thật, được nói một cách lệch lạc, không phải là thực tế lẽ thật, cũng không phải là khía cạnh thực tế lẽ thật mà con người trải nghiệm.