Sự thực hành cơ bản nhất của việc được nên một người trung thực (Phần 1)
Các ngươi có trải nghiệm và chiêm nghiệm gì đối với việc làm một người trung thực? (Thưa, là cảm thấy làm người trung thực thật sự rất khó.) Tại sao lại cảm thấy khó? (Thưa, con thật sự muốn làm người trung thực. Nhưng khi xem xét bản thân mỗi ngày, con thấy mình rất biết giả vờ và lời nói có nhiều phần uế tạp. Nhiều lúc lời nói của con bị cảm xúc chi phối và có những động cơ nhất định. Nhiều lúc con giở chiêu trò, nói quanh co hoặc nói những điều không đúng thực tế, những điều giả dối, những điều chỉ đúng một nửa, và đủ loại giả tạo khác, tất cả để đạt được một mục đích nào đó.) Tất cả những hành vi này đều phát xuất từ tâm tính bại hoại của con người, chúng thuộc về phần quanh co và gian trá trong con người. Tại sao người ta giở trò gian trá? Là để đạt được mục tiêu và mục đích cá nhân, nên họ dùng những thủ đoạn. Khi làm thế, họ không quang minh chính đại và họ không phải là người trung thực. Chính vào những lúc như thế người ta mới phơi bày sự thâm hiểm và quỷ quyệt, cũng như sự ác độc và đê tiện của mình. Cái khó trong việc làm người trung thực nằm ở đây: vì lòng người có những tâm tính bại hoại như thế, nên quá khó để làm người trung thực. Nhưng nếu ngươi là một người yêu mến lẽ thật, có thể tiếp nhận lẽ thật, thì làm người trung thực sẽ không phải quá khó nữa, ngươi sẽ cảm thấy làm người trung thực dễ dàng hơn nhiều. Những người đã có trải nghiệm thì biết rất rõ những trở ngại lớn nhất đối với việc làm người trung thực chính là sự thâm hiểm, gian trá, ác độc và những ý định đê hèn của con người. Chừng nào vẫn còn những tâm tính bại hoại này, thì sẽ rất khó để làm người trung thực. Tất cả các ngươi đều đang rèn luyện để làm người trung thực, nên các ngươi có đôi chút trải nghiệm về chuyện này. Các ngươi đã trải nghiệm như thế nào? (Thưa, hằng ngày, con viết ra những lời vô dụng và những lời dối trá con đã nói. Rồi con kiểm điểm và phân tích bản thân. Con thấy rằng hầu hết những lời dối trá đó đều có ý đồ đằng sau, và con nói dối vì hư vinh và thể diện. Dù con ý thức được rằng điều mình nói không hợp với lẽ thật, nhưng con vẫn không tự chủ được mà nói dối và giả vờ.) Đây chính là điểm quá khó khăn trong việc làm người trung thực. Dù ngươi ý thức được hay không cũng không quan trọng, điều mấu chốt là vì để đạt được mục đích của ngươi, vì hư vinh và thể diện của ngươi, mà cứng cổ tiếp tục nói dối, biết rằng việc mình làm là sai mà vẫn phạm, nếu ngươi nói mình không ý thức được vậy thì là ngươi đang nói dối. Mấu chốt để làm người trung thực là giải quyết được những động cơ, ý đồ và tâm tính bại hoại của ngươi. Chỉ có như thế ngươi mới giải được căn nguyên vấn đề nói dối. Để đạt được mục tiêu cá nhân, cụ thể là đạt được tư lợi, lợi dụng tình thế, để cho mình nở mày nở mặt hoặc khiến người khác tán thành, đây là những ý đồ và mục đích khi người ta nói dối. Dạng nói dối này phơi bày một tâm tính bại hoại, và đây là điều ngươi cần phân định được về việc nói dối. Vậy làm sao để giải quyết được tâm tính bại hoại này? Tất cả đều xoay quanh việc ngươi có yêu mến lẽ thật hay không. Nếu ngươi có thể tiếp nhận lẽ thật và nói năng mà không biện hộ cho mình, nếu ngươi có thể thôi quan tâm lợi ích bản thân và thay vào đó quan tâm công tác của hội thánh, ý muốn của Đức Chúa Trời và lợi ích của dân sự được Ngài chọn, thì ngươi sẽ thôi nói dối, sẽ có thể nói thẳng nói thật. Nếu ngươi không có vóc giạc này thì vẫn chưa thể nói thẳng nói thật, chứng tỏ rằng vóc giạc của ngươi quá nhỏ và ngươi không thể thực hành lẽ thật. Như vậy, làm người trung thực cần đến quá trình hiểu lẽ thật, quá trình trưởng thành về vóc giạc. Vậy thì xem ra rõ ràng không thể nào làm người trung thực nếu chưa có từ tám đến mười năm trải nghiệm. Thật ra đây chính là thời gian dành cho quá trình trưởng thành của sự sống, quá trình hiểu và đạt được lẽ thật. Có người hỏi rằng: “Việc giải quyết vấn đề nói dối và trở nên người trung thực có thể khó đến như vậy sao?”. Còn tùy ngươi đang nói về ai. Nếu là người yêu mến lẽ thật thì họ sẽ có thể từ bỏ việc nói dối trong một số chuyện nhất định. Nhưng nếu là người không yêu mến lẽ thật thì chuyện từ bỏ nói dối sẽ khó lại càng thêm khó.
Rèn luyện bản thân trở thành người trung thực chủ yếu là chuyện giải quyết vấn đề nói dối, cũng như giải quyết tâm tính bại hoại của mình. Việc này liên quan đến một việc thực hành cốt yếu: Là khi ngươi nhận ra rằng mình đã nói dối và lừa dối ai đó, ngươi phải mở lòng với họ, phơi bày bản thân mình, nhận lỗi và xin lỗi. Việc thực hành này rất hữu ích để giải quyết chuyện nói dối. Chẳng hạn như, nếu ngươi đã lừa dối ai đó, nếu trong lời ngươi nói với họ có sự uế tạp hay ý đồ riêng, thì ngươi phải tìm gặp họ và mổ xẻ bản thân mình. Ngươi phải nói với họ rằng: “Lời tôi đã nói với anh là nói dối đấy, tôi đã nói dối để bảo vệ thể diện của mình. Nói xong lời đó, tôi cảm thấy lòng mình không yên, nên giờ tôi đến xin lỗi anh. Xin anh tha thứ cho tôi”. Người đó sẽ cảm thấy đây là một chuyện thật mới mẻ, làm sao có người nói dối rồi lại đi nhận lỗi và xin lỗi vậy. Dũng khí đó thật sự đáng ngưỡng mộ. Khi thực hành như thế, người ta được ích lợi gì? Mục đích của nó không phải để được người khác ngưỡng mộ, mà là để kiềm chế và ức chế hiệu quả việc người ta nói dối. Vậy nên, sau khi nói dối, ngươi phải thực hành việc nhận lỗi và xin lỗi với người ta. Càng rèn luyện bản thân thực hành phân tích và phơi bày bản thân, xin lỗi người khác theo cách này, thì kết quả của ngươi sẽ càng tốt hơn, ngươi sẽ ngày càng ít nói dối hơn. Phân tích và phơi bày bản thân để làm người trung thực và ức chế việc nói dối, việc thực hành này cần có dũng khí, và việc xin lỗi người khác sau khi nói dối họ lại càng cần dũng khí hơn nữa. Nếu rèn luyện việc này trong một hoặc hai năm, hoặc có thể là ba đến năm năm, bảo đảm các ngươi sẽ thấy kết quả rõ ràng, và sẽ không khó để từ bỏ việc nói dối. Loại bỏ việc nói dối là bước đầu tiên để trở nên người trung thực, và việc này không thể thành sự nếu không có ba đến năm năm nỗ lực. Sau khi vấn đề nói dối đã được giải quyết, bước thứ hai là giải quyết vấn đề gian trá và lừa lọc. Nhiều lúc người ta không cần nói dối để gian trá và lừa lọc, những việc này chỉ cần hành động là đủ. Có thể bề ngoài người ta không nói dối, nhưng vẫn chứa chấp sự gian trá và lừa lọc trong lòng. Họ sẽ biết rõ việc này hơn bất kỳ ai khác, vì họ đã suy nghĩ cặn kẽ. Sau này ngẫm lại, họ sẽ dễ dàng nhận ra điều này. Một khi đã giải quyết được vấn đề nói dối, thì vấn đề gian trá và lừa lọc là chuyện tương đối dễ giải quyết hơn. Nhưng người ta phải có lòng kính sợ Đức Chúa Trời, vì khi làm việc gian trá và lừa lọc thì con người bị ý đồ của mình chi phối. Nhìn từ bên ngoài, những người khác không thể nhận ra cũng không thể phân định được chuyện này. Chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể dò xét nó và chỉ có Ngài mới biết về nó. Do đó, người ta chỉ có thể giải quyết được vấn đề gian dối và lừa lọc bằng cách dựa vào việc cầu nguyện với Đức Chúa Trời và chấp nhận sự dò xét của Ngài. Nếu người ta không yêu mến lẽ thật cũng không có lòng kính sợ Đức Chúa Trời thì sự gian trá và lừa lọc của họ không thể nào được giải quyết. Có lẽ ngươi cầu nguyện trước Đức Chúa Trời và thú nhận lỗi lầm của mình, có lẽ ngươi thú tội và ăn năn, có lẽ ngươi phân tích tâm tính bại hoại của mình: thật lòng nói ra những gì ngươi nghĩ vào thời điểm đó, những gì ngươi đã nói, ý đồ của ngươi và cách ngươi gian dối. Đây đều là những việc tương đối dễ làm. Nhưng nếu ngươi được yêu cầu bộc lộ bản thân với người khác, có lẽ ngươi sẽ mất đi dũng khí và ý chí đó, bởi vì ngươi muốn giữ thể diện. Lúc đó sẽ rất khó để ngươi thực hành mở lòng và bộc lộ bản thân. Có lẽ ngươi có thể thừa nhận một cách đơn giản rằng thỉnh thoảng ngươi có nói năng, hành động theo những mục đích và ý đồ cá nhân, rằng trong lời nói và việc làm của ngươi có một mức độ gian dối, uế tạp, nói dối hay lừa lọc nào đó. Nhưng khi ngươi gặp chuyện và buộc phải phân tích bản thân, phơi bày diễn biến của mọi chuyện từ đầu đến cuối, giải thích những lời nào ngươi nói là gian dối, có ý đồ gì đằng sau chúng, suy nghĩ của ngươi thế nào và liệu ngươi có thâm hiểm hay ác độc không, ngươi chẳng muốn đi vào chi tiết hay nói một cách cụ thể những chuyện này. Có người còn nói một cách sơ lược rằng: “Chuyện là thế thôi mà. Tóm lại tôi chỉ là một người không đáng tin, thâm hiểm và gian trá”. Điều này cho thấy người ta không thể đối diện một cách đúng đắn với thực chất bại hoại của họ, sự gian dối và thâm hiểm của họ. Những người này luôn ở trong trạng thái và tình trạng lẩn tránh. Họ luôn dung thứ và nhân nhượng với bản thân, không thể chịu khổ hay trả giá để thực hành lẽ thật của việc làm người trung thực. Nhiều người đã rao giảng câu chữ giáo điều suốt nhiều năm, luôn nói rằng: “Con người tôi khá gian trá và thâm hiểm, hành động của tôi thường có sự lừa lọc và tôi không hề có chút chân thành khi đối xử với mọi người”. Nhưng sau khi kêu gào như thế suốt nhiều năm, họ vẫn gian trá như trước, vì khi phơi bày tình trạng gian dối của mình, họ chẳng bao giờ thật tâm phân tích hay ăn năn. Họ chưa bao giờ phơi bày hoàn toàn bản thân với người khác, cũng không xin lỗi sau khi nói dối hay lừa lọc người khác, lại càng không thông công về trải nghiệm và lời chứng về sự phản tỉnh và biết mình trong những buổi hội họp. Họ cũng không nói gì về cách họ biết mình và hối cải về những vấn đề đó. Những việc đó, họ tuyệt nhiên không làm, điều này chứng tỏ họ không biết mình và không thật tâm hối cải. Khi nói rằng mình là kẻ gian trá và mong muốn làm người trung thực, họ chỉ đang hô hào khẩu hiệu và rao giảng giáo điều mà thôi. Có lẽ họ làm những việc này bởi vì họ đang cố chạy theo trào lưu, thuận theo thời thế. Hoặc có thể môi trường đời sống hội thánh buộc họ phải làm chiếu lệ và ngụy tạo bản thân. Nhưng dù có thế nào, những người hô hào khẩu hiệu và rao giảng giáo điều sẽ không bao giờ thật tâm hối cải, và chắc chắn họ sẽ không thể đạt được sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời.
Mỗi lẽ thật mà Đức Chúa Trời yêu cầu con người thực hành đều yêu cầu con người phải trả giá, thực hành và trải nghiệm trong đời sống thực tế. Đức Chúa Trời không phải để con người trên môi miệng nói vài câu chữ đạo lý, chút nhận thức về bản thân, hay chứng nhận bản thân là người giả dối, thích nói dối, và là người quanh co giả dối hay giở trò lừa gạt, nói như vậy vài lần là xong. Nếu nói xong nhưng sau đó một chút cũng không thay đổi, vẫn tiếp tục nói dối, giở trò gian dối, lừa gạt, và khi gặp chuyện vẫn dùng những phương thức và thủ đoạn đó của Sa-tan để đối đãi, phương thức và thủ đoạn chưa bao giờ thay đổi, người như vậy có thể bước vào thực tế lẽ thật không? Họ sẽ có thể thay đổi tâm tính không? Không bao giờ! Ngươi phải biết phản tỉnh và nhận biết bản thân. Ngươi phải có can đảm mở lòng và bộc lộ mình trước sự hiện diện của các anh chị em, và thông công tình trạng thật của mình. Nếu ngươi không dám mở lòng hoặc mổ xẻ tâm tính bại hoại của mình, nếu ngươi không dám thừa nhận những sai lầm của mình, thì ngươi không phải là người mưu cầu lẽ thật, càng không phải là người nhận biết bản thân mình. Nếu ai cũng đều như những người trong giới tôn giáo, đều làm chứng cho bản thân rằng bản thân yêu mến, quy phục và trung thành với Đức Chúa Trời như thế nào, rằng Đức Chúa Trời yêu họ ra sao, đều muốn thông qua đó để người khác ngưỡng vọng và sùng bái họ, trong lòng mỗi người đều có một đống những tính toán, và đều bảo vệ không gian riêng tư của bản thân, như vậy còn nói gì là trải nghiệm thực sự nữa? Mọi người làm sao có trải nghiệm thực sự để cùng nhau trao đổi đây? Chia sẻ và thông công trải nghiệm là thông công sự trải nghiệm và nhận biết của ngươi đối với lời Đức Chúa Trời, đem những suy nghĩ, tình trạng, và những sự bộc lộ tâm tính bại hoại của ngươi nói ra để cho mọi người phân biệt, tiếp đó thông công lẽ thật để giải quyết vấn đề, thông công trải nghiệm như vậy mọi người mới có được lợi ích và sự thu hoạch lớn. Đây mới là đời sống hội thánh thực sự. Nếu ngươi chỉ nói suông về việc có nhận biết nào đó về lời Đức Chúa Trời và bài hát nào đó, thông công tùy ý một chút là xong, cũng không kết hợp vấn đề và tình trạng thực sự của bản thân, thông công như vậy sẽ không đạt được lợi ích gì. Nếu mọi người đều chỉ nói nhận biết trên đạo lý hay lý thuyết, một chút nhận biết về trải nghiệm thực tế cũng không có, thông công lẽ thật đều tránh nói về đời sống riêng, những vấn đề thực tế đang tồn tại, và thế giới nội tâm cá nhân của mình, như vậy giữa người với người làm sao có sự giao tiếp thực sự được? Làm sao có thể có bất kỳ sự tin cậy thực sự nào được? Không có! Cũng giống như một người vợ không bao giờ nói lời trong lòng với chồng mình, vậy hai người họ có phải là tri kỷ của nhau không? Họ có hiểu lòng nhau không? (Thưa, không thể.) Giả sử hai vợ chồng cả ngày nói với nhau: “Anh yêu em”, “Em yêu anh”. Họ chỉ nói vậy, nhưng trong lòng họ nghĩ gì, có yêu cầu gì đối với đối phương, hoặc bản thân có vấn đề gì, họ chưa bao giờ bộc lộ hay nói cho đối phương, cũng không có những lời tri kỷ, hai người ở với nhau chỉ nói những lời lẽ lịch sự, đây có phải là vợ chồng thật sự không? Chắc chắn là không! Cũng như thế, nếu anh chị em có thể là tri kỷ của nhau, giúp đỡ lẫn nhau, và chu cấp cho nhau, thì mỗi người phải nói về những trải nghiệm thực sự của chính mình. Nếu ngươi không nói gì về những trải nghiệm thực sự của chính mình, nếu ngươi chỉ giảng câu chữ đạo lý dễ hiểu, chỉ giảng một chút giáo lý về việc tin Đức Chúa Trời và những lời lẽ tầm thường, và không hề cởi mở về những gì trong lòng ngươi – thì ngươi không phải là một người trung thực, và ngươi không có khả năng làm một người trung thực. Cũng giống như một cặp vợ chồng sống với nhau vài năm, dung hòa với nhau, cũng có lúc xung đột. Tuy nhiên, nếu cả hai đều có nhân tính bình thường, và ngươi luôn nói với anh ta những chuyện trong lòng, anh ta với ngươi cũng vậy, bất kể những khó khăn nào ngươi đối mặt trong cuộc sống và trong công việc, lòng ngươi đang nghĩ gì hay định giải quyết ra sao, hay là những ý tưởng và kế hoạch ngươi vạch ra cho tương lai của con cái mình, ngươi đều nói hết mọi thứ này với bạn đời của mình, thì như thế, chẳng phải hai người các ngươi sẽ cảm thấy đặc biệt như tri kỷ của nhau sao? Nhưng nếu anh ta không bao giờ nói với ngươi những suy nghĩ trong lòng mà chỉ đơn thuần mang tiền lương về nhà, và nếu ngươi không bao giờ nói với anh ta về những ý nghĩ của mình và đôi bên chưa bao giờ nói những lời tri kỷ, thì chẳng phải có một khoảng cách tình cảm giữa hai người các ngươi sao? Chắc chắn là có, bởi các ngươi không hiểu những ý nghĩ và dự tính của nhau. Cuối cùng, ngươi không thể nói bạn đời mình là loại người gì, anh ta cũng không thể nói ngươi là loại người gì. Ngươi sẽ không hiểu những nhu cầu của anh ta, anh ta cũng không hiểu những yêu cầu của ngươi. Nếu người ta không giao tiếp với nhau bằng lời nói hay tinh thần, thì không thể có tri kỷ giữa họ, và họ không thể cung ứng cho nhau hay giúp đỡ nhau. Các ngươi không phải đã trải nghiệm điều này rồi sao? Nếu bạn của ngươi tâm sự mọi thứ với ngươi, nói ra tất cả những gì họ nghĩ và bất kể niềm vui nỗi khổ nào họ có, thì khi đó chẳng phải ngươi cảm thấy như một người bạn tri âm với họ sao? Lý do anh ta sẵn lòng nói với ngươi những điều này là vì ngươi cũng đã tâm sự những suy nghĩ trong lòng mình với anh ta. Các ngươi đặc biệt hợp nhau, vậy nên ngươi mới qua lại một cách hòa hợp với anh ta và giúp đỡ lẫn nhau. Không có dạng giao tiếp và trao đổi này giữa các anh chị em trong hội thánh, họ sẽ không thể qua lại một cách hòa thuận, và không thể nào cộng tác tốt trong khi thực hiện bổn phận. Chính vì thế mà việc thông công lẽ thật cần có sự giao tiếp trong tâm linh và nói ra lòng mình. Đây là một trong những nguyên tắc phải có để làm người trung thực.
Khi nghe nói rằng để làm người trung thực thì phải nói thật và nói bằng tấm lòng, và nếu nói dối hoặc lừa lọc thì phải mở lòng, phơi bày bản thân và nhận lỗi của mình, thì họ sẽ bảo: “Khó để trung thực lắm. Tôi phải nói hết những gì tôi nghĩ cho người khác sao? Thông công những điều tích cực là chưa đủ à? Tôi đâu cần nói cho người khác khía cạnh tăm tối hoặc bại hoại của tôi, phải không?”. Nếu ngươi không bộc lộ bản thân trước người khác, không mổ xẻ bản thân, thì ngươi sẽ không bao giờ nhận biết bản thân. Ngươi sẽ không bao giờ nhận ra mình là loại gì, và người khác sẽ không bao giờ tín nhiệm ngươi. Đây là sự thật. Nếu ngươi muốn người khác tín nhiệm ngươi thì trước hết ngươi phải trung thực. Để làm người trung thực, trước hết ngươi phải bộc lộ lòng mình để mọi người thấy được lòng ngươi, thấy được mọi điều ngươi suy nghĩ và nhìn ra bộ mặt thực của ngươi. Ngươi không được cố ngụy trang hay che đậy bản thân. Chỉ khi đó người khác mới tín nhiệm ngươi và xem ngươi là một người trung thực. Đây là việc thực hành căn bản nhất và là tiền đề để làm người trung thực. Nếu ngươi luôn ngụy trang, luôn tỏ ra mình thánh khiết, cao thượng, vĩ đại, có nhân cách cao, nếu ngươi không để người khác thấy sự bại hoại và thiếu sót của ngươi, nếu ngươi trưng ra hình tượng giả tạo để người ta tin ngươi là người chính trực, vĩ đại, biết hy sinh bản thân, công chính và không ích kỷ, làm như vậy chẳng phải là gian trá và lừa lọc sao? Qua thời gian, chẳng lẽ người ta sẽ không thể nhìn thấu ngươi sao? Cho nên đừng ngụy trang hay che đậy bản thân. Thay vào đó, hãy bộc lộ lòng ngươi cho người khác thấy. Nếu ngươi có thể bộc lộ lòng mình cho người khác thấy, nếu ngươi có thể bộc lộ cho người khác mọi suy nghĩ và kế hoạch của ngươi, cả tích cực lẫn tiêu cực, vậy chẳng phải là trung thực sao? Nếu ngươi có thể bộc lộ bản thân cho người khác thấy, vậy thì Đức Chúa Trời cũng sẽ thấy ngươi. Ngài sẽ phán: “Nếu ngươi đã bộc lộ bản thân cho người khác thấy, thì chắc chắn ngươi trung thực trước Ta”. Nhưng nếu ngươi chỉ bộc lộ bản thân cho Đức Chúa Trời thấy, và luôn giả vờ mình vĩ đại, cao thượng và không vụ lợi lúc ở bên họ, vậy Đức Chúa Trời sẽ nghĩ sao về ngươi? Ngài sẽ phán gì? Ngài sẽ phán: “Ngươi hoàn toàn là một con người gian trá. Ngươi hoàn toàn là một tên ngụy quân tử và tiểu nhân, ngươi không phải là một người trung thực”. Rồi Đức Chúa Trời sẽ lên án ngươi. Nếu ngươi muốn làm người trung thực, vậy thì bất kể là ngươi ở trước mặt Đức Chúa Trời hay những người khác, ngươi cũng phải có thể nói ra một cách cởi mở và đơn thuần về tình trạng nội tâm và lời lẽ trong lòng ngươi. Điều này có dễ đạt được không? Nó cần đến một thời gian rèn luyện, đồng thời cần thường xuyên cầu nguyện và dựa vào Đức Chúa Trời. Ngươi phải rèn luyện bản thân đơn thuần và cởi mở nói lên những lời trong lòng ngươi về mọi việc. Rèn luyện như thế này, ngươi có thể tiến bộ. Nếu gặp phải khó khăn lớn, ngươi phải cầu nguyện với Đức Chúa Trời và tìm kiếm lẽ thật, ngươi cần đấu tranh trong lòng và thắng vượt xác thịt cho đến khi ngươi có thể thực hành lẽ thật. Khi rèn luyện bản thân theo cách này từng chút một, dần dần lòng ngươi sẽ cởi mở. Ngươi sẽ ngày càng trở nên đơn thuần, và hiệu quả trong lời nói và việc làm của ngươi sẽ khác trước. Những lời nói dối và lừa lọc của ngươi sẽ ngày càng ít đi, ngươi sẽ có thể sống trước Đức Chúa Trời. Rồi về căn bản, ngươi sẽ trở nên một người trung thực.
Sau khi toàn thể nhân loại bị Sa-tan làm cho bại hoại thì họ đều sống trong tâm tính Sa-tan. Như Sa-tan, người ta ngụy trang và che đậy bản thân mọi mặt, gặp chuyện gì và làm việc gì cũng gian trá và giở thủ đoạn. Có người còn giở trò gian trá trong những hoạt động rất bình thường như mua sắm. Chẳng hạn như, họ mua một bộ đồ thời trang nhất, và mặc dù rất yêu thích nó nhưng lại không dám mặc nó đến hội thánh vì sợ các anh chị em bàn tán về mình và chê mình phù phiếm. Thế nên, họ mặc nó lúc không gặp người khác. Đây là biểu hiện gì? Đây là sự bộc lộ của tâm tính gian trá và lừa lọc. Tại sao người ta mua một bộ đồ thời trang mà lại không dám mặc chúng trước mặt các anh chị em chứ? Trong lòng, họ thích những thứ thời thượng và chạy theo trào lưu của thế gian như những người ngoại đạo. Họ sợ các anh chị em nhìn thấu họ, thấy họ phù phiếm thế nào, thấy họ không phải là người đoan trang và ngay thẳng. Trong lòng, họ mưu cầu những thứ thời thượng và khó lòng buông bỏ chúng, nên họ chỉ có thể mặc chúng ở nhà, sợ các anh chị em thấy chúng. Nếu những thứ họ thích không thể để lộ ra, vậy tại sao họ không thể từ bỏ chúng? Đây không phải là họ bị tâm tính Sa-tan khống chế sao? Họ liên tục nói câu chữ giáo điều, có vẻ hiểu lẽ thật, nhưng họ không thể đưa lẽ thật vào thực hành. Đây là người sống theo tâm tính Sa-tan. Nếu người ta luôn giở trò dối trá trong lời nói và việc làm, không để người khác thấy chân tướng của mình, luôn trưng ra hình tượng một người ngoan đạo trước mặt người khác, vậy thì họ có khác gì những người Pha-ri-si chứ? Họ muốn sống cuộc đời một con điếm nhưng lại tạo hình tượng trinh sạch. Họ biết mình không thể mặc những bộ đồ lố lăng này ra ngoài, vậy họ còn mua nó làm gì? Thế chẳng phải là phí phạm tiền bạc sao? Lý do chỉ là vì họ thích thứ đồ như vậy và lòng họ hướng về bộ đồ đó, nên họ cảm thấy phải mua nó. Nhưng khi mua rồi, họ chẳng thể mặc nó ra ngoài. Sau vài năm, họ hối tiếc vì đã mua nó và đột nhiên nhận ra rằng: “Sao mà tôi có thể ngu xuẩn như thế chứ, sao tôi lại làm việc đáng ghê tởm vậy chứ?”. Kể cả họ cũng ghê tởm việc họ làm. Nhưng họ không thể kiểm soát hành động của mình, vì họ không thể buông bỏ những thứ họ thích và mưu cầu. Nên họ dùng chiến thuật sống hai mặt và chọn cách lừa dối để tự thỏa mãn. Nếu họ bộc lộ tâm tính gian trá trong những chuyện nhỏ nhặt như vậy, liệu họ có thể thực hành lẽ thật trong những chuyện lớn lao hơn không? Không thể nào. Rõ ràng, bản tính của họ là gian dối, và gian dối là điểm yếu chí mạng của họ. Có một đứa bé sáu hay bảy tuổi, có một lần gia đình nó ăn đồ ngon. Khi một đứa bé khác hỏi xem đó là món gì, nó chớp mắt rồi bảo, “Tớ quên rồi”, trong khi thật ra nó chẳng muốn kể cho người khác. Vừa ăn xong một lúc thì đã có thể quên sao? Đứa bé sáu, bảy tuổi đã có thể nói dối rồi. Đấy là việc người lớn dạy nó làm sao? Hay đó là tác động của môi trường sống trong gia đình? Không, đây là bản tính con người, là di truyền, con người sinh ra vốn đã có tâm tính gian trá. Thật ra, bất kể đứa bé đó đã ăn món ngon gì thì cũng là chuyện bình thường. Cha mẹ làm cho nó ăn, nó đâu có trộm đồ ăn của ai. Nếu đứa bé này có thể nói dối trong tình huống như vậy, trong lúc không cần thiết phải nói dối chút nào, vậy thì trong những việc khác, chẳng phải nó càng dễ nói dối hơn sao? Chuyện này nói lên vấn đề gì? Đây không phải là vấn đề bản tính của nó sao? Đứa bé đó giờ đã lớn rồi, và nói dối đã trở thành bản tính của nó. Nó thật sự là một người gian trá, người ta có thể thấy thế từ khi nó còn rất nhỏ. Những người gian trá không kìm nổi việc nói dối và lừa lọc người khác, những lời nói dối và chiêu trò của họ có thể bộc phát ở mọi nơi mọi lúc. Họ không cần học ai, cũng không cần ai xúi giục, họ sinh ra đã có khả năng làm như thế rồi. Nếu đứa bé đó có thể nói dối để lừa người khi còn nhỏ tuổi đến vậy, thì có thể nào việc nói dối của nó thật sự là vi phạm nhất thời hay không? Chắc chắn là không. Điều này cho thấy về thực chất bản tính, nó là người gian dối. Vấn đề đơn giản này chẳng phải là dễ phân định sao? Nếu ai đó nói dối từ nhỏ, nói dối thường xuyên, thậm chí nói dối và gạt người vì những chuyện đơn giản vốn không cần phải làm thế, và nếu nói dối đã trở thành bản tính của họ, vậy thì sẽ không dễ để họ thay đổi. Họ là một người gian dối đích thực rồi. Tại sao lại nói người gian dối không thể được cứu rỗi? Bởi vì khả năng cao là họ không tiếp nhận lẽ thật, nên họ không thể được làm tinh sạch và biến đổi. Những ai có thể tiếp nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời thì lại khác. Họ vốn dĩ đã là người tương đối chân thật, và nếu họ có nói dối một chút thì liền đỏ mặt và bất an. Người như thế dễ trở thành người trung thực hơn. Nếu ngươi bảo họ nói dối hay lừa gạt, họ sẽ thấy việc đó rất khó làm. Khi nói dối, họ không thể nói cho suôn, và ai cũng có thể nhận ra ngay. Đây là những người tương đối đơn thuần, và nếu có thể tiếp nhận lẽ thật thì họ có khả năng đạt được sự cứu rỗi hơn. Dạng người này chỉ nói dối trong những hoàn cảnh đặc biệt, khi họ bất đắc dĩ. Nhìn chung, họ luôn có thể nói thật. Miễn là họ mưu cầu lẽ thật thì họ sẽ có thể rũ bỏ khía cạnh bại hoại này trong vài năm nỗ lực, rồi sẽ không khó để họ trở nên người trung thực.
Tiêu chuẩn mà Đức Chúa Trời yêu cầu nơi người trung thực là gì? Những yêu cầu của Đức Chúa Trời được đưa ra như thế nào trong chương “Ba điều răn” của lời Đức Chúa Trời? (“Trung thực có nghĩa là trao tấm lòng của ngươi cho Đức Chúa Trời, thành thật với Đức Chúa Trời trong mọi việc, cởi mở với Ngài trong mọi việc, không bao giờ che giấu sự thật, không cố dối trên lừa dưới, và không làm những điều chỉ để cầu cạnh ân huệ từ Đức Chúa Trời. Tóm lại, trung thực nghĩa là không có uế tạp trong lời nói và việc làm, và không lừa dối Đức Chúa Trời lẫn con người. … Nếu lời nói của ngươi đầy những lý do và những lời biện minh vô giá trị, thì Ta nói rằng ngươi là một kẻ không muốn đưa lẽ thật vào thực hành. Nếu ngươi có nhiều bí mật mà ngươi không muốn chia sẻ, nếu ngươi rất không thích tiết lộ bí mật của mình – những khó khăn của ngươi – trước người khác để tìm kiếm con đường của sự sáng, thì Ta nói rằng ngươi là kẻ sẽ không có được sự cứu rỗi một cách dễ dàng, và là kẻ sẽ không dễ dàng thoát ra khỏi bóng tối” (Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời).) Trong này có một câu đặc biệt quan trọng. Các ngươi có biết là câu gì không? (Đức Chúa Trời phán: “Nếu ngươi có nhiều bí mật mà ngươi không muốn chia sẻ, nếu ngươi rất không thích tiết lộ bí mật của mình – những khó khăn của ngươi – trước người khác để tìm kiếm con đường của sự sáng, thì Ta nói rằng ngươi là kẻ sẽ không có được sự cứu rỗi một cách dễ dàng, và là kẻ sẽ không dễ dàng thoát ra khỏi bóng tối”.) Đúng rồi, là câu đó. Đức Chúa Trời phán: “Nếu ngươi có nhiều tâm sự mà ngươi ngại chia sẻ với người khác”. Người ta làm nhiều việc mà họ không dám nói ra, và họ có quá nhiều mặt đen tối. Trong hành động thường nhật của họ, chẳng có gì căn cứ vào lời Đức Chúa Trời, và họ không phản bội xác thịt. Họ muốn gì làm nấy, kể cả khi đã tin Đức Chúa Trời nhiều năm, họ vẫn không bước vào thực tế lẽ thật. “Nếu ngươi rất không thích tiết lộ bí mật của mình – những khó khăn của ngươi – trước người khác để tìm kiếm con đường của sự sáng, thì Ta nói rằng ngươi là kẻ sẽ không có được sự cứu rỗi một cách dễ dàng, và là kẻ sẽ không dễ dàng thoát ra khỏi bóng tối”. Ở đây Đức Chúa Trời đã chỉ cho con người một con đường thực hành. Nếu ngươi không thực hành theo cách này mà chỉ đơn thuần hô các khẩu hiệu và giảng đạo lý, thì ngươi là kẻ sẽ khó được cứu rỗi. Điều này quả thực liên quan đến sự cứu rỗi. Được cứu rỗi là rất quan trọng đối với mỗi một con người. Đức Chúa Trời đã đề cập đến việc “khó được cứu rỗi” ở chỗ nào khác chưa? Ở chỗ khác, Ngài hiếm khi đề cập đến việc khó được cứu rỗi, nhưng Ngài có nhắc đến việc đó khi nói về sự trung thực: nếu ngươi không phải là người trung thực, thì ngươi là kẻ rất khó để cứu rỗi. Khó được cứu rỗi có nghĩa là nếu ngươi không tiếp nhận lẽ thật thì rất khó để ngươi được cứu rỗi. Ngươi sẽ không đi được lên con đường hướng tới sự cứu rỗi, và vì vậy ngươi không thể nào được cứu rỗi. Đức Chúa Trời nói câu này là để cho mọi người một đường lui; nghĩa là, ngươi không dễ được cứu rỗi, nhưng nếu ngươi đưa lời Đức Chúa Trời vào thực hành, thì ngươi sẽ có hy vọng đạt được sự cứu rỗi. Nói ngược lại thì chính là ý này. Nếu ngươi không thực hành theo lời Đức Chúa Trời và không bao giờ mổ xẻ những bí mật và khó khăn của mình, không bao giờ cởi mở khi thông công với người khác, không bao giờ thông công, phân tích hay thổ lộ sự bại hoại và những điểm yếu chí mạng của mình với người khác, vậy thì ngươi không thể được cứu rỗi. Và tại sao vậy? Nếu ngươi không bộc lộ bản thân hoặc tự mổ xẻ mình theo cách này, thì ngươi sẽ không căm ghét tâm tính bại hoại của mình và do đó tâm tính bại hoại của ngươi sẽ không bao giờ thay đổi. Và nếu ngươi không thể thay đổi, thì còn nói gì đến việc được cứu rỗi nữa? Lời Đức Chúa Trời thể hiện rõ như thế, và chúng thể hiện ý muốn của Đức Chúa Trời. Tại sao Đức Chúa Trời luôn nhấn mạnh rằng người ta phải trung thực? Bởi vì trung thực là điều rất quan trọng, nó can hệ trực tiếp đến việc người ta có thể quy phục Đức Chúa Trời và có đạt được sự cứu rỗi không. Có người nói rằng: “Tôi kiêu ngạo và tự cho mình là đúng, thường nổi giận và bộc lộ sự bại hoại”. Người khác lại nói: “Tôi rất phù phiếm, ham hư vinh, và thích người ta tâng bốc tôi”. Đây đều là những thứ bề ngoài con người có thể nhìn thấy, và chúng không phải là vấn đề lớn. Ngươi đừng lúc nào cũng nói như vậy. Bất kể tâm tính hay tính cách của ngươi như thế nào, miễn là ngươi có thể làm người trung thực như Đức Chúa Trời yêu cầu, thì ngươi có thể được cứu rỗi. Vậy các ngươi nói đi, làm người trung thực có quan trọng không? Đây là điều quan trọng nhất, chính vì thế mà Đức Chúa Trời nói về việc trung thực trong chương “Ba điều răn” của lời Ngài. Trong các chương khác, Ngài thường xuyên nhắc rằng người tin Ngài phải có đời sống thuộc linh bình thường và đời sống hội thánh chính đáng, Ngài còn mô tả về cách họ phải sống thể hiện ra nhân tính bình thường. Lời của Ngài nói về những vấn đề này rất bao quát, không bàn quá chi tiết hay quá cụ thể. Nhưng khi nói về sự trung thực, Đức Chúa Trời chỉ ra con đường để người ta đi theo. Ngài dạy người ta cách thực hành, và Ngài phán vô cùng chi tiết và rõ ràng. Đức Chúa Trời phán: “Nếu ngươi có nhiều bí mật mà ngươi không muốn chia sẻ, nếu ngươi rất không thích tiết lộ bí mật của mình – những khó khăn của ngươi – trước người khác để tìm kiếm con đường của sự sáng, thì Ta nói rằng ngươi là kẻ sẽ không có được sự cứu rỗi một cách dễ dàng”. Sự trung thực liên quan đến việc đạt được cứu rỗi. Vậy các ngươi nói, tại sao Đức Chúa Trời lại yêu cầu người ta phải trung thực? Điều này liên quan đến lẽ thật về việc làm người. Đức Chúa Trời cứu rỗi những người trung thực, và những người Ngài muốn đưa vào vương quốc của Ngài đều là người trung thực. Nếu ngươi có thể nói dối và lừa lọc, nếu ngươi giả dối, quanh co, và nham hiểm, thì ngươi không phải là người trung thực. Nếu ngươi không phải là người trung thực, vậy thì không có chuyện Đức Chúa Trời sẽ cứu rỗi ngươi, và ngươi cũng không thể được cứu rỗi. Ngươi nói rằng mình đang rất ngoan đạo, rằng ngươi không kiêu ngạo và tự cho mình là đúng, rằng ngươi có thể trả giá trong khi thực hiện bổn phận, hoặc có thể loan truyền phúc âm và đạt được nhiều người. Nhưng ngươi không trung thực, ngươi vẫn gian trá và chẳng thay đổi chút nào, vậy ngươi có thể được cứu rỗi không? Tuyệt đối là không. Và bởi vậy những lời này của Đức Chúa Trời nhắc nhở mỗi một người rằng: Để được cứu rỗi, trước hết họ phải trung thực theo như lời và yêu cầu của Đức Chúa Trời. Họ phải mở lòng, bộc lộ tâm tính bại hoại, những ý định và bí mật của mình, đồng thời tìm kiếm con đường sự sáng. “Tìm kiếm con đường sự sáng” nghĩa là gì? Nghĩa là tìm kiếm lẽ thật để giải quyết tâm tính bại hoại của mình. Khi ngươi mở lòng bộc lộ những sự bại hoại, những mục đích và ý định ẩn sau hành động của ngươi, thì ngươi cũng phân tích bản thân, sau đó ngươi tìm kiếm thế này: “Tại sao tôi lại làm như vậy? Có căn cứ nào trong lời Đức Chúa Trời cho việc này không? Làm vậy có phù hợp với lẽ thật không? Khi làm như thế, tôi có biết làm sai mà vẫn cố làm không? Tôi có đang lừa dối Đức Chúa Trời không? Nếu đang lừa dối Đức Chúa Trời thì tôi không được làm thế, tôi phải nhìn xem Đức Chúa Trời yêu cầu những gì, xem Ngài phán những gì và tìm xem các nguyên tắc lẽ thật là gì”. Tìm kiếm lẽ thật nghĩa là như vậy, bước đi trong sự sáng nghĩa là như vậy. Khi người ta có thể thường xuyên thực hành như thế này, thì họ có thể thật sự thay đổi và từ đó họ có thể đạt được sự cứu rỗi.