Mưu cầu lẽ thật là gì (4) Phần 1

Chúng ta sẽ bắt đầu bằng cách ôn lại nội dung đã thông công trong buổi nhóm họp lần trước. (Thưa, trong buổi nhóm họp trước, chúng ta đã thông công về chủ đề “mưu cầu lẽ thật là gì”. Đầu tiên, chúng ta tập trung vào câu hỏi này: “Xét rằng những điều mọi người cho là tốt và đúng không phải là lẽ thật, vậy tại sao con người vẫn bám vào những thứ đó như thể chúng là lẽ thật và nghĩ rằng làm như vậy là họ đang mưu cầu lẽ thật?”. Ngài đã đưa ra ba nguyên nhân của việc này. Ngài chủ yếu phán về nguyên nhân đầu tiên, đó là chính xác thì những điều mọi người cho là tốt và đúng trong quan niệm của họ là gì.) Trong buổi nhóm họp lần trước, chúng ta chủ yếu thông công về nguyên nhân đầu tiên. Chúng ta đã nói về những điều mọi người cho là tốt và đúng trong quan niệm của họ, và chúng ta chia những điều đó thành hai loại lớn: thứ nhất là “hành vi tốt”, thứ hai là “đức hạnh tốt”. Tổng cộng, Ta đã đưa ra sáu ví dụ về loại “hành vi tốt” thứ nhất: có học vấn và hiểu lý lẽ, ôn tồn tao nhã, nho nhã lễ độ, kính già yêu trẻ, hòa nhã dễ mến và bình dị dễ gần. Chúng ta vẫn chưa thông công về loại thứ hai, “đức hạnh tốt”. Có một số vấn đề chúng ta phải ôn lại một chút sau khi thông công về chúng, tháo gỡ và làm rõ các lẽ thật cũng như các nguyên tắc trong mối thông công đó, làm cho mọi thứ hoàn toàn sáng tỏ và rõ ràng. Làm như thế sẽ giúp các ngươi hiểu được lẽ thật dễ dàng hơn. Mối thông công của chúng ta lần trước bao gồm một số phần rộng, cũng như một số ví dụ cụ thể. Trông có vẻ nhiều, nhưng thực ra chúng ta chỉ thông công về một số điều cụ thể trong những phần rộng đó, và chúng ta còn chia nhỏ những điều cụ thể đó, để mối thông công rõ ràng và dễ thấy hơn một chút. Chúng ta đã đưa ra sáu ví dụ về hành vi tốt, nhưng chưa thông công chi tiết từng cái một. Trong những ví dụ đó, có học vấn và hiểu lý lẽ là đại diện tiêu biểu của những gì mọi người cho là đúng và tốt trong quan niệm của họ. Chúng ta đã thông công thêm một chút về ví dụ này. Phần còn lại tương tự; các ngươi có thể sử dụng phương pháp tương tự để phân tích và phân định chúng.

Hôm nay, trước khi chúng ta đi vào nội dung chính của mối thông công, Ta sẽ kể cho các ngươi nghe hai câu chuyện ngắn. Các ngươi có thích nghe kể chuyện không? (Thưa, có.) Nghe kể chuyện không quá mệt mỏi và không cần quá tập trung. Nói một cách tương đối, nó không quá căng thẳng và có thể khá thú vị. Vì vậy, hãy chú ý lắng nghe, và trong khi lắng nghe nội dung câu chuyện, các ngươi cũng suy nghĩ xem tại sao Ta lại kể chúng – những tư tưởng trọng tâm, cụ thể nào chứa đựng trong đó, hay nói cách khác, con người có thể đạt được những điều thực tế nào khi nghe chúng. Được rồi – bắt đầu câu chuyện nào. Đây là những câu chuyện về Tiểu Tiêu và Tiểu Cát.

Câu chuyện về Tiểu Tiêu và Tiểu Cát

Có một thời gian, Tiểu Tiêu cảm thấy đau mắt, đồng thời mắt mờ, nhạy cảm với ánh sáng, chảy nước mắt do gió, cảm giác có vật gì đó trong mắt và các triệu chứng tương tự khác. Anh ấy dụi mắt nhưng chẳng có tác dụng mấy. Tiểu Tiêu không biết mình bị làm sao. Anh ấy nghĩ: “Trước đây mình chưa bao giờ có vấn đề gì về mắt cả, thị lực tốt mà. Sao thế nhỉ?”. Khi nhìn vào gương, đôi mắt anh trông vẫn như trước – chỉ đỏ hơn một chút và đôi khi hơi đỏ ngầu. Tiểu Tiêu thấy khó hiểu và hơi lo. Anh ấy không quá để tâm đến vấn đề này khi nó mới bắt đầu, nhưng khi các triệu chứng bắt đầu xuất hiện với tần suất ngày càng nhiều, cuối cùng anh ấy không thể chịu đựng được nữa. Anh ấy suy nghĩ một chút: “Mình nên đi khám bác sĩ hay tự tìm hiểu nhỉ? Tìm thông tin về vấn đề này sẽ rất khó, và mình có thể chẩn đoán sai vấn đề thực sự. Tốt hơn mình nên đến thẳng bác sĩ; họ chắc chắn sẽ đưa ra được chẩn đoán chính xác”. Thế là Tiểu Tiêu đi khám bác sĩ. Bác sĩ khám cho anh ấy và không tìm thấy vấn đề gì nghiêm trọng. Ông kê một số loại thuốc nhỏ mắt thông thường và khuyên Tiểu Tiêu nên chăm sóc đôi mắt của mình và đừng làm việc quá sức. Tiểu Tiêu thấy vô cùng nhẹ nhõm khi biết mắt mình không có vấn đề gì nghiêm trọng. Sau khi trở về nhà, Tiểu Tiêu sử dụng thuốc nhỏ mắt hàng ngày theo thời gian và liều lượng bác sĩ chỉ định, và trong vòng vài ngày, các triệu chứng đã thuyên giảm. Lòng Tiểu Tiêu như trút được một gánh nặng lớn: Anh ấy cảm thấy rằng nếu dùng thuốc có thể chữa khỏi thì vấn đề không thể nghiêm trọng được. Nhưng cảm giác đó không kéo dài bao lâu, một thời gian sau, các triệu chứng quay trở lại. Tiểu Tiêu đã tăng liều lượng thuốc nhỏ mắt, và mắt anh ấy cảm thấy đỡ hơn một chút, các triệu chứng cũng thuyên giảm phần nào. Nhưng vài ngày sau, mắt anh trở lại tình trạng cũ, các triệu chứng ngày càng nặng hơn và thường xuyên hơn. Tiểu Tiêu không sao hiểu được, và anh cảm thấy một làn sóng bất hạnh khác ập đến: “Làm sao bây giờ? Thuốc bác sĩ kê đang vô hiệu. Nghĩa là có vấn đề gì đó nghiêm trọng với mắt mình sao? Mình không thể bỏ qua được”. Lần này anh ấy quyết định không tái khám bác sĩ hoặc hỏi ý kiến bác sĩ về vấn đề của mắt mình nữa. Thay vào đó, anh chọn cách tự mình giải quyết vấn đề. Anh ấy lên mạng và tìm thấy đủ loại video và thông tin liên quan đến các triệu chứng của mình. Hầu hết đều nói rằng những vấn đề này là do lạm dụng mắt, rằng anh cần phải chăm sóc đôi mắt của mình, và điều quan trọng hơn nữa là phải sử dụng mắt đúng cách. Tiểu Tiêu cảm thấy lời khuyên này không hữu ích và không thể giải quyết được vấn đề của anh ấy. Vì vậy, anh tiếp tục tìm kiếm thông tin. Một ngày nọ, anh tìm thấy một nguồn thông tin cho biết các triệu chứng của anh có thể là do xuất huyết võng mạc, mà có thể là dấu hiệu báo trước của bệnh tăng nhãn áp. Các triệu chứng của anh cũng có thể phát triển thành bệnh đục thủy tinh thể. Khi Tiểu Tiêu đọc những từ “bệnh tăng nhãn áp” và “đục thủy tinh thể”, đầu anh choáng váng. Mọi thứ trở nên đen tối và anh gần như ngất đi, tim đập thình thịch trong lồng ngực. “Ôi Đức Chúa Trời ơi, chuyện gì đang xảy ra vậy? Mình thực sự sẽ bị tăng nhãn áp và đục thủy tinh thể sao? Mình nghe nói bệnh đục thủy tinh thể cần phải phẫu thuật, và nếu bị tăng nhãn áp có thể bị mù! Tiêu đời rồi, chẳng phải sao? Mình vẫn còn trẻ, nếu thực sự bị mù, mình sẽ sống phần đời còn lại ra sao như một người mù đây? Còn mong đợi gì từ đó nữa? Chẳng phải mình sẽ phải sống cả đời trong bóng tối sao?”. Khi Tiểu Tiêu nhìn vào những từ “bệnh tăng nhãn áp” và “đục thủy tinh thể” trên trang mạng, anh thấy mình không thể ngồi yên được nữa. Anh quẫn trí, và đang chìm sâu hơn vào nỗi chán nản và tuyệt vọng. Anh không biết phải làm sao hay phải đối mặt với những ngày tháng sắp tới như thế nào. Anh tràn ngập nỗi buồn và mọi thứ trước mắt anh đều chìm trong mơ hồ. Trước vấn đề này, Tiểu Tiêu hoàn toàn rơi vào tuyệt vọng. Anh mất hứng thú sống và không thể tập trung năng lượng để thực hiện bổn phận của mình. Anh không muốn quay lại bác sĩ hoặc đề cập đến vấn đề về mắt mình với người khác. Tất nhiên, anh sợ mọi người biết rằng anh sẽ tiến triển thành bệnh tăng nhãn áp hoặc đục thủy tinh thể. Và cứ như thế, Tiểu Tiêu vật vờ ngày qua ngày trong nỗi chán nản, tiêu cực và bấn loạn. Anh không dám dự đoán hay lên kế hoạch cho tương lai của mình, bởi với anh, tương lai là một điều khủng khiếp, đau lòng. Anh sống những ngày tháng trong u uất và tuyệt vọng, trong một tâm trạng não nề. Anh không muốn cầu nguyện hay đọc lời Đức Chúa Trời, và chắc chắn không muốn nói chuyện với người khác. Như thể anh đã trở thành một con người hoàn toàn khác. Vài ngày sau, Tiểu Tiêu chợt nảy ra một suy nghĩ: “Có vẻ như mình đang ở trong tình trạng thật thảm hại. Vì tương lai mình ảm đạm và thay vì bảo vệ mình, Đức Chúa Trời lại để mình mắc phải căn bệnh này, nên sao phải tiếp tục thực hiện tốt bổn phận chứ? Cuộc sống ngắn ngủi; sao mình không tận dụng cơ hội, trong khi thị lực vẫn còn tốt, để làm một số điều mình thích và tự thưởng cho mình? Sao cuộc sống của mình phải mệt mỏi như vậy? Sao phải làm tổn thương bản thân và bạc đãi bản thân như vậy?”. Vì vậy, trừ những lúc ăn, ngủ, làm việc, Tiểu Tiêu dành phần lớn thời gian trên mạng, chơi game, xem video, cày các chương trình, và thậm chí còn mang theo điện thoại để chơi game liên tục khi ra ngoài. Cả ngày anh chìm đắm trong thế giới Internet. Đương nhiên khi anh làm như vậy, cơn đau trong mắt ngày càng nhức nhối, và các triệu chứng cũng trở nên nghiêm trọng hơn. Khi không chịu được nữa, anh dùng một chút thuốc nhỏ mắt để làm giảm triệu chứng, và khi đỡ hơn một chút, anh lại đắm mình vào Internet, xem những thứ mình thích. Đây là cách anh ấy xoa dịu nỗi sợ hãi và kinh hoàng sâu thẳm trong lòng mình, và đây là cách anh ấy giết thời gian cho qua ngày đoạn tháng. Mỗi khi mắt bị đau và các triệu chứng trở nên tồi tệ hơn, Tiểu Tiêu sẽ vô thức nhìn những người xung quanh và thầm nghĩ: “Những người khác cũng sử dụng đôi mắt của họ giống như mình. Tại sao mắt họ không đỏ hoe, chảy nước mắt liên tục và cảm thấy như có cái gì mắc kẹt trong đó? Tại sao mình lại là người mắc căn bệnh này? Chẳng phải Đức Chúa Trời thiên vị sao? Mình đã dâng mình rất nhiều cho Đức Chúa Trời; tại sao Ngài không bảo vệ mình? Đức Chúa Trời thật bất công! Tại sao những người khác đủ may mắn để có được sự bảo vệ của Đức Chúa Trời, còn mình thì không? Tại sao tất cả những điều xui xẻo luôn rơi vào mình?”. Càng nghĩ, Tiểu Tiêu càng trở nên tức giận và khó chịu, và càng nổi giận, anh càng muốn sử dụng những trò tiêu khiển và giải trí trực tuyến để xua tan nỗi đắng cay và tức giận của mình. Anh muốn hết bệnh ở mắt càng sớm càng tốt, nhưng càng muốn thoát khỏi nỗi cay đắng và tức giận, anh càng có ít niềm vui và bình an, và anh càng cảm thấy xui xẻo hơn, cho dù anh có trở nên đắm chìm vào Internet đến đâu. Và trong thâm tâm, anh phàn nàn về việc Đức Chúa Trời bất công. Ngày lại ngày cứ thế trôi qua. Vấn đề của mắt Tiểu Tiêu không cải thiện chút nào, và tâm trạng anh ngày càng tồi tệ. Trong bối cảnh đó, Tiểu Tiêu càng cảm thấy bất lực và kém may mắn. Cuộc sống của Tiểu Tiêu tiếp diễn như vậy. Không ai có thể giúp anh, và anh không tìm kiếm sự giúp đỡ của ai. Anh chỉ trải qua từng ngày trong sự mơ hồ, chán nản và bất lực.

Đó là câu chuyện về Tiểu Tiêu. Chuyện đến đây là hết. Tiếp theo là câu chuyện về Tiểu Cát.

Trong khi thực hiện bổn phận của mình, Tiểu Cát gặp phải vấn đề tương tự như Tiểu Tiêu. Thị lực của anh bị mờ đi, và mắt anh thường xuyên cảm thấy sưng và đau. Nó thường đi kèm với cảm giác có gì đó mắc kẹt trong mắt, và sau khi dụi không thấy đỡ hơn chút nào. Anh ấy nghĩ: “Sao thế này? Mắt mình từng rất tốt; trước đây mình chưa phải đi bác sĩ nhãn khoa bao giờ. Gần đây chúng bị làm sao vậy? Chẳng lẽ mắt mình có vấn đề?”. Khi anh nhìn vào gương, đôi mắt trông không có gì khác trước. Anh chỉ cảm thấy nóng rát trong mắt, và khi anh chớp mắt mạnh, chúng thậm chí còn đau hơn, sưng lên, và bắt đầu chảy nước. Tiểu Cát cảm thấy có điều gì đó không ổn với mắt mình, và anh nghĩ: “Vấn đề về mắt là một vấn đề hệ trọng. Mình không thể bỏ qua được. Mặc dù vậy, mình không cảm thấy quá tệ, và nó chưa ảnh hưởng đến cuộc sống hay bổn phận của mình. Gần đây công việc của hội thánh bận lắm, đi khám bác sĩ sẽ ảnh hưởng đến bổn phận của mình. Mình sẽ chỉ tìm kiếm thông tin về nó khi có thời gian rảnh vậy”. Sau khi đưa ra quyết định này, Tiểu Cát đã tìm kiếm các thông tin liên quan khi anh có chút thời gian rảnh rang khỏi bổn phận, và anh biết rằng mắt mình không có vấn đề gì nghiêm trọng – sự khó chịu là do lạm dụng mắt trong thời gian dài. Với việc sử dụng, chăm sóc mắt đúng cách và chút luyện mắt phù hợp, mắt anh sẽ trở lại bình thường. Tiểu Cát đã rất vui khi đọc được điều đó. “Đó không phải là vấn đề nghiêm trọng, nên không cần quá lo lắng về nó. Nguồn này nói rằng mình phải sử dụng và luyện mắt đúng cách – vì vậy, mình chỉ việc tìm hiểu cách sử dụng mắt đúng cách và những bài tập mắt nào nên thực hiện để đưa chúng trở lại bình thường”. Sau đó, anh tìm kiếm thêm thông tin liên quan và từ đó, anh chọn ra một vài phương pháp và cách tiếp cận phù hợp với tình hình của mình. Kể từ đó, ngoài cuộc sống bình thường và thực hiện bổn phận, Tiểu Cát còn có một công việc mới là chăm sóc đôi mắt của mình. Hàng ngày, anh thực hành các kỹ thuật chăm sóc mắt mà mình học được. Khi tập thử, anh cảm nhận xem liệu chúng có làm giảm các triệu chứng mắt anh biểu hiện hay không. Sau một thời gian thử nghiệm và tập thử, Tiểu Cát cảm thấy một số phương pháp có thể hiệu quả, trong khi số khác chỉ tốt trên lý thuyết chứ không phải trong thực tế – ít nhất chúng không thể giải quyết vấn đề của anh. Và vì vậy, dựa trên những phát hiện của mình trong giai đoạn đầu đó, Tiểu Cát đã chọn một số phương pháp và kỹ thuật duy trì sức khỏe đôi mắt có hiệu quả với mình. Anh đã thực hành sử dụng mắt và chăm sóc mắt đúng cách hàng ngày, bất cứ khi nào điều đó không làm chậm trễ bổn phận của mình. Sau một thời gian, mắt của Tiểu Cát thực sự cảm thấy ngày càng ổn hơn; các triệu chứng trước đây của anh – đỏ, đau nhức, cảm giác bỏng rát, v.v. – từ từ bắt đầu thuyên giảm và xuất hiện ngày càng ít hơn. Tiểu Cát cảm thấy rất may mắn. “Tạ ơn Đức Chúa Trời vì sự dẫn dắt của Ngài. Đây là ân điển và sự hướng dẫn của Ngài”. Dù mắt đã biểu hiện ít vấn đề hơn và các triệu chứng ngày càng bớt nghiêm trọng, nhưng Tiểu Cát vẫn tiếp tục thực hành các phương pháp chăm sóc mắt đó và sử dụng mắt đúng cách không hề lơ là. Và sau một thời gian, mắt anh đã hoàn toàn trở lại bình thường. Từ trải nghiệm này, Tiểu Cát đã học được một số cách giữ cho mắt mình khỏe mạnh, đồng thời cũng học được cách sử dụng mắt đúng cách và cách sống đúng đắn. Anh ấy đã bổ sung thêm một số thường thức tích cực vào kho tàng của mình trong cuộc sống. Tiểu Cát vui lắm. Anh cảm thấy mặc dù mình đã trải qua một số thăng trầm và có chút trải nghiệm khác thường, nhưng cuối cùng anh đã có được một số kinh nghiệm sống quý giá từ đó. Bất cứ khi nào ai đó xung quanh nói mắt họ bị đau, sưng và nhức, Tiểu Cát sẽ chân tình kể cho họ nghe về kinh nghiệm của mình cũng như các phương pháp và kỹ thuật mình đã áp dụng. Với sự giúp đỡ của Tiểu Cát, những người gặp phải các triệu chứng của vấn đề về mắt cũng đã học được những cách thức và phương pháp sử dụng mắt đúng cách và giữ cho đôi mắt khỏe mạnh. Tiểu Cát rất vui, và anh đã giúp ích rất nhiều cho mọi người xung quanh. Và thế là trong thời gian đó, Tiểu Cát và những người khác đã thu được một số thường thức mọi người nên có trong cuộc sống làm người của mình. Mọi người cùng nhau làm việc và thực hiện bổn phận một cách vui vẻ, hân hoan. Tiểu Cát không đầu hàng trước sự tiêu cực hay bất lực vì vấn đề của mắt mình, cũng không bao giờ phàn nàn về sự kém may mắn của mình. Mặc dù anh đã thấy một số lời đáng báo động khi tìm kiếm thông tin giống như Tiểu Tiêu, nhưng anh không quá bận tâm đến chúng. Thay vào đó, anh đã giải quyết vấn đề của mình một cách tích cực và đúng đắn. Khi điều tương tự xảy ra với Tiểu Tiêu, anh ấy đã nhiều lần rơi vào sự chán nản, bất lực và bấn loạn. Ngược lại, Tiểu Cát không những tránh rơi vào sự chán nản và bấn loạn, mà còn không bị chìm đắm trong nỗi oán trách Đức Chúa Trời – thậm chí anh còn thu hoạch được từ những sự việc này một thái độ sống có lợi hơn, chủ động và tích cực hơn. Anh đã tự giúp chính mình, và giúp những người khác.

Đây là những câu chuyện về Tiểu Tiêu và Tiểu Cát. Bây giờ các ngươi đã nghe cả hai câu chuyện về họ. Các ngươi có hiểu không? Các ngươi thích ai: Tiểu Tiêu hay Tiểu Cát? (Thưa, Tiểu Cát.) Vậy Tiểu Tiêu có vấn đề gì? (Thưa, khi gặp chuyện, anh ấy không thể đối mặt với chúng một cách đúng đắn. Anh ấy tiêu cực và kháng cự.) Tiêu cực và kháng cự là tự hủy hoại mình. Khi sự việc xảy đến với người khác, họ có thể tìm kiếm lẽ thật để giải quyết, nhưng khi điều gì đó xảy đến với Tiểu Tiêu, anh ấy không thể tìm kiếm lẽ thật, anh ấy đã chọn cách tiêu cực và kháng cự. Anh ấy đang tự chuốc lấy sự hủy hoại chính mình. Ngày nay, thông tin có thể tiến bộ, nhưng trong thế giới Sa-tan này đầy dẫy dối trá và lừa lọc. Thế gian này đầy dối trá và lừa lọc. Khi đối mặt với bất kỳ vấn đề hay loại thông tin nào trong thế giới hỗn loạn này, con người phải có sự khôn ngoan, phải thông minh, tinh ý, và phải biết phân định. Họ phải sàng lọc kỹ các loại thông tin khác nhau từ một lập trường đúng đắn. Con người không được dễ dàng tin vào bất kỳ tuyên bố nào, và nhất định không được dễ dàng chấp nhận bất kỳ loại thông tin nào. Trong thế giới của Sa-tan, ai cũng nói dối, và những kẻ nói dối không bao giờ phải chịu trách nhiệm. Họ nói dối, thế là xong. Trên đời này, chẳng ai lên án lời nói dối; chẳng ai lên án thủ đoạn. Lòng người khó dò lường, và đằng sau mỗi kẻ nói dối đều có ý định và mục đích. Chẳng hạn, ngươi đi bác sĩ và ông ấy nói: “Bệnh của cậu phải điều trị gấp. Nếu không có thể phát triển thành ung thư đấy!”. Nếu ngươi nhát gan, ngươi sẽ sợ hãi: “Chết rồi! Nó có thể phát triển thành ung thư! Phải điều trị ngay thôi!”. Và kết quả là ngươi càng cố gắng chữa trị, nó càng trở nặng, và cuối cùng ngươi phải nhập viện. Thực ra bác sĩ nói bệnh của ngươi có thể phát triển thành ung thư, nghĩa là chưa phải là ung thư, vậy mà ngươi lại hiểu nhầm nó nghĩa là phải chữa gấp như thể bị ung thư. Làm thế chẳng phải ngươi đang tự chuốc lấy cái chết sao? Nếu ngươi coi nó như ung thư, thì càng cố gắng chữa trị, ngươi càng nhanh chết. Rồi liệu ngươi có thể sống lâu hơn nhiều nữa không? (Thưa, không.) Căn bệnh ngươi mắc phải thực ra không phải là ung thư, vậy tại sao bác sĩ lại nói với ngươi rằng nếu ngươi không điều trị, nó sẽ phát triển thành ung thư? Ông ấy nói thế để lừa lấy tiền của ngươi, để khiến ngươi điều trị như thể nó là một căn bệnh hiểm nghèo. Nếu ngươi biết đó là bệnh nhẹ, ngươi sẽ không cố gắng chữa trị, và ông ấy sẽ không thể moi được tiền của ngươi. Nhiều bác sĩ khi gặp bệnh nhân là vồ lấy, như con quỷ vồ người, và tóm chặt, không buông tha. Đây là một cách tiếp cận phổ biến của hầu hết bác sĩ với bệnh nhân. Họ bắt đầu bằng cách cho ngươi biết họ nổi tiếng đến đâu, giỏi y học ra sao, đã chữa khỏi cho bao nhiêu người, đã chữa khỏi những bệnh gì và đã hành nghề y được bao lâu. Họ làm cho ngươi tin tưởng họ, ngồi thụp xuống và chấp nhận cách điều trị của họ. Sau đó, họ nói với ngươi rằng ngươi sắp mắc một căn bệnh hiểm nghèo và nếu không điều trị, ngươi có thể chết. Ai rồi cũng phải chết, nhưng thứ giết chết ngươi có thực sự là căn bệnh này không? Không hẳn. Sự sống chết của mỗi người đều nằm trong tay Đức Chúa Trời. Chính Ngài định đoạt điều đó, chứ không phải bác sĩ. Các bác sĩ thường sử dụng mánh khóe này để lừa mọi người. Những người nhát gan, sợ chết tìm lời khuyên chữa bệnh khắp nơi và để bác sĩ tuyên bố về sức khỏe của mình. Nếu bác sĩ nói rằng họ có nguy cơ bị ung thư, họ sẽ tin và vội vàng để bác sĩ điều trị, nhằm xua tan nguy cơ chết vì ung thư. Chẳng phải họ chỉ đang hù dọa chính mình sao? (Thưa, phải.) Bây giờ chúng ta không nói về bác sĩ nữa và tiếp tục nói về Tiểu Tiêu và Tiểu Cát. Quan điểm, góc nhìn và lập trường của họ về mọi thứ xảy ra xung quanh mình quá khác biệt. Tiểu Tiêu hoàn toàn là một mớ tiêu cực, trong khi Tiểu Cát có thể tiếp cận mọi chuyện xảy đến với mình một cách đúng đắn. Anh ấy có lý trí và phán đoán của nhân tính bình thường và anh ấy đối mặt với mọi thứ một cách tích cực. Anh ấy cũng tiếp tục thực hiện bổn phận của mình. Hai người họ quá khác biệt. Khi gặp chuyện, Tiểu Tiêu ấn định tình hình là vô vọng và hành động bất cần. Anh ta không tìm kiếm phương pháp và cách thức thích hợp để giải quyết, và anh ta cũng không biết phân định, hồ đồ, ngu ngốc, cứng đầu và ương ngạnh – lại còn khá hiểm độc nữa. Khi anh ta trở bệnh, khi gặp một số khó khăn, hoặc khi điều gì đó tồi tệ xảy đến với mình, anh ta mong điều đó cũng sẽ xảy đến với mọi người khác. Anh ta ghét Đức Chúa Trời vì đã không bảo vệ anh ta, và anh ta muốn trút giận. Nhưng anh ta không dám trút giận lên người khác, nên anh ta trút cơn thịnh nộ và giận dữ lên chính mình. Đây chẳng phải là một tâm tính hung ác sao? (Thưa, phải.) Oán giận, thù hận và đố kỵ khi một việc nhỏ nào đó không theo ý mình – đó chính là hung ác. Khi Tiểu Cát gặp chuyện, anh ấy có lý trí và phán đoán của nhân tính bình thường. Anh ấy có sự khôn ngoan và anh ấy đưa ra những lựa chọn mà một người có nhân tính bình thường sẽ làm. Mặc dù Tiểu Cát cũng mắc bệnh y như Tiểu Tiêu, nhưng vấn đề của anh ấy cuối cùng đã được giải quyết, trong khi Tiểu Tiêu không bao giờ có thể giải quyết được vấn đề của mình, và nó dần dần xấu đi cũng như ngày càng trầm trọng hơn. Vấn đề của Tiểu Tiêu là một vấn đề nghiêm trọng, và nó không chỉ đơn thuần là bệnh tật của xác thịt – anh ta đã phơi bày tâm tính ẩn sâu trong lòng mình; anh ta đã phơi bày sự ngoan cố, ương ngạnh, ngu ngốc và hiểm độc của chính mình. Đó là sự khác biệt giữa hai người họ. Nếu các ngươi đã biết và hiểu chi tiết hơn về cách sống của hai người này, cũng như thái độ và phương pháp giải quyết mọi việc của họ, thì các ngươi có thể tiếp tục thông công về điều đó sau này, tự soi mình vào đó và rút ra bài học từ đó. Tất nhiên, các ngươi nên bước vào mọi thứ một cách tích cực, giống như Tiểu Cát. Các ngươi nên có thái độ đúng đắn với cuộc sống, và cố gắng nhìn nhận con người và sự vật, cư xử và hành động hoàn toàn theo lời Đức Chúa Trời, lấy lẽ thật làm tiêu chí, để trở thành người mưu cầu lẽ thật. Các ngươi không được như Tiểu Tiêu. Chẳng phải vậy sao? (Thưa, phải.) Đó là cách các ngươi nên mưu cầu và thực hành.

Bây giờ, chúng ta sẽ nhìn lại những gì đã thông công trong buổi nhóm họp lần trước. Chúng ta đã nói về khía cạnh đầu tiên của những điều mọi người cho là đúng và tốt – những hành vi tốt – và chúng ta đã liệt kê sáu ví dụ về hành vi tốt. Tất cả đều là những thứ được thúc đẩy bởi văn hóa truyền thống, và là những hành vi tốt đẹp con người ưa thích trong đời thực. Nói Ta nghe chúng là gì? (Thưa, đó là có học vấn và hiểu lý lẽ, ôn tồn tao nhã, nho nhã lễ độ, kính già yêu trẻ, hòa nhã dễ mến và bình dị dễ gần.) Chúng ta chưa đưa ra ví dụ nào khác. Có thể có một số khác biệt giữa sáu hành vi tốt tiêu biểu do văn hóa truyền thống Trung Quốc đưa ra so với văn hóa truyền thống của các quốc gia khác, nhưng chúng ta sẽ không liệt kê ở đây. Lần trước chúng ta đã thông công và phân tích một số nội dung cụ thể của sáu hành vi tốt này. Nhìn chung, những hành vi tốt bên ngoài này không đại diện cho những điều tích cực bên trong nhân tính, và càng không thể hiện tâm tính của một người đã thay đổi – chúng chắc chắn không chứng tỏ rằng một người đã hiểu lẽ thật và sống bày tỏ ra thực tế lẽ thật. Chúng chỉ là những hành vi bên ngoài con người có thể thấy được. Nói một cách đơn giản, chúng là những biểu hiện bên ngoài của con người. Những biểu hiện bên ngoài và những bộc phát bên ngoài chỉ là hình thức diễn ra khi mọi người tương tác, hòa hợp với nhau và sống với nhau. “Hình thức” đề cập đến điều gì? Nó đề cập đến những thứ bề nổi nhất khiến mọi người cảm thấy thoải mái khi nhìn thấy. Chúng không đại diện chút nào cho thực chất của con người, không đại diện cho suy nghĩ và quan điểm của họ, cũng như thái độ của họ đối với những điều tích cực, càng không đại diện cho thái độ của con người đối với lẽ thật. Những yêu cầu và tiêu chuẩn đánh giá mà nhân loại đặt ra đối với hành vi bên ngoài chỉ là những hình thức con người có thể lĩnh hội và làm được. Chúng không liên quan gì đến thực chất của con người. Dù những người hòa nhã dễ mến hay bình dị dễ gần bề ngoài có vẻ như thế nào, và dù người khác có ưa thích, tôn trọng, kính trọng và tôn sùng những hành vi bên ngoài họ thể hiện ra sao, điều đó cũng không có nghĩa là họ có nhân tính, không có nghĩa là thực chất bản tính của họ tốt, hoặc yêu thích những điều tích cực, hoặc có ý thức về sự công chính, và tất nhiên càng không có nghĩa là họ là người có thể mưu cầu lẽ thật. Tất cả những hành vi tốt đẹp được nhân loại đúc kết chẳng qua chỉ là một số biểu hiện bên ngoài và những điều nên được sống thể hiện ra mà nhân loại cổ xúy để phân biệt mình với các dạng sống khác. Ví dụ: có học vấn và hiểu lý lẽ, ôn tồn tao nhã, nho nhã lễ độ – những hành vi tốt này chỉ thể hiện rằng một người bên ngoài cư xử khá tốt, lịch sự, có học thức và có văn hóa, không như động vật không tuân theo phép tắc nào. Con người lau miệng bằng tay hoặc khăn ăn sau khi ăn uống, vệ sinh cá nhân một chút. Nếu ngươi cố lau miệng cho chó sau khi nó ăn uống, nó sẽ không vui vẻ gì. Động vật không hiểu những điều như vậy. Vậy thì tại sao con người lại hiểu những điều như vậy? Bởi vì con người là “động vật bậc cao” nên họ sẽ hiểu những điều này. Vì vậy, những hành vi tốt này chỉ là những gì con người sử dụng để điều chỉnh hành vi của nhóm sinh vật nhân loại, và chúng không có tác dụng gì khác hơn là để phân biệt loài người với các dạng sống thấp hơn. Chúng không liên quan gì đến cách hành xử, việc mưu cầu lẽ thật, hay việc thờ phượng Đức Chúa Trời. Điều này có nghĩa là mặc dù bề ngoài ngươi có thể sống theo các tiêu chuẩn và yêu cầu như có học vấn và hiểu lý lẽ, ôn tồn tao nhã, v.v., mặc dù ngươi có thể có những hành vi tốt này, nhưng điều đó không có nghĩa là ngươi là người có nhân tính, hoặc là người sở hữu lẽ thật, hoặc là người kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác. Điều đó không có bất kỳ ý nghĩa nào như vậy. Ngược lại, nó chỉ có nghĩa là sau khi trải qua hệ thống giáo dục hành vi và các chuẩn mực xã giao, thì lời nói, nét mặt, cử chỉ, v.v. của ngươi đã trở nên có quy củ hơn một chút. Nó cho thấy ngươi tốt hơn động vật và có một chút hình tượng giống con người – nhưng nó không cho thấy ngươi là người mưu cầu lẽ thật. Thậm chí có thể nói rằng nó không liên quan gì đến việc mưu cầu lẽ thật. Việc ngươi sở hữu những hành vi tốt này hoàn toàn không có nghĩa là ngươi có những điều kiện phù hợp để mưu cầu lẽ thật, càng không có nghĩa là ngươi đã bước vào thực tế lẽ thật và đạt được lẽ thật. Nó hoàn toàn không thể hiện được những điều đó.

Bất cứ ai từng nuôi chó hoặc mèo như thú cưng đều sẽ cảm thấy có điều gì đó đáng yêu ở chúng. Vài con mèo và chó thực sự có chút lễ độ. Khi một số con mèo muốn vào phòng của chủ, chúng sẽ kêu meo meo vài lần ở cửa trước khi bước vào. Chúng sẽ không vào nếu chủ không nói gì, mà chỉ vào khi chủ nói: “Vào đi”. Ngay cả những con mèo cũng có thể thực hành loại phép xã giao này, chúng biết xin phép trước khi vào phòng của chủ. Đó chẳng phải là một loại hành vi tốt sao? Nếu ngay cả động vật cũng có thể có loại hành vi tốt này, thì hành vi tốt con người sở hữu có thể khiến họ cao hơn bao nhiêu so với động vật? Đây là mức độ thường thức tối thiểu con người phải có – không cần phải dạy, đó là một điều hết sức bình thường. Mọi người có thể cảm thấy loại hành vi tốt này tương đối phù hợp, và nó có thể khiến họ cảm thấy phần nào thoải mái hơn, nhưng việc sống bày tỏ ra những hành vi tốt này có thể hiện phẩm chất hay thực chất con người của họ không? (Thưa, không.) Nó không thể hiện những điều đó. Chúng chỉ đơn thuần là các phép tắc và phương pháp một người nên có trong hành động của mình – chúng không liên quan gì đến phẩm chất và thực chất con người họ. Lấy ví dụ chó và mèo – chúng có điểm gì chung? Khi người ta cho chúng ăn gì đó, chúng bày tỏ sự thân mật và lòng biết ơn. Chúng sở hữu loại hành vi này, và chúng có thể thể hiện loại hành vi này. Điều khác biệt ở chúng là một con chuyên bắt chuột, con kia chuyên giữ nhà. Mèo có thể bỏ chủ mọi lúc, mọi nơi; khi có gì thú vị, mèo sẽ quên chủ và không để tâm đến chủ. Chó sẽ không bao giờ rời xa chủ; nếu nó xác định ngươi là chủ của nó, thì ngay cả khi nó đổi chủ, nó vẫn sẽ nhận ra ngươi và coi ngươi là chủ. Đó là sự khác biệt giữa mèo và chó về mặt phẩm chất đạo đức trong hành vi và thực chất của chúng. Bây giờ nói về con người. Trong số những hành vi con người tin là tốt, như có học vấn và hiểu lý lẽ, nho nhã lễ độ, bình dị dễ gần, v.v., mặc dù có một số hành vi vượt lên trên hành vi của các loài khác – nghĩa là những gì con người có thể làm vượt quá khả năng của các loài khác – nhưng đây chỉ là các hành vi và phép tắc bên ngoài, chúng chỉ đơn giản là các cách tiếp cận nhằm điều chỉnh hành vi của con người và phân biệt họ với các dạng sống khác. Sở hữu những hành vi tốt này có thể khiến con người cảm thấy mình khác biệt hoặc cao hơn các dạng sống khác, nhưng thực tế là ở một số khía cạnh, con người cư xử tệ hơn động vật. Ví dụ như kính già yêu trẻ. Trong vương quốc động vật, sói làm điều này tốt hơn con người. Trong một bầy sói, những con sói trưởng thành sẽ chăm sóc sói con, bất kể nó thuộc về ai. Chúng sẽ không bắt nạt hoặc làm hại nó. Điều này con người không làm được, và theo cách này, loài người còn tệ hơn bầy sói. Nhân loại kính già yêu trẻ kiểu gì? Con người có thực sự có khả năng làm được điều này không? Hầu hết con người không có khả năng “yêu trẻ”, con người không có loại hành vi tốt đó, đồng nghĩa với họ không có loại nhân tính đó. Ví dụ: Khi một đứa trẻ đi cùng cha mẹ nó, người ta sẽ khá hòa nhã dễ mến và bình dị dễ gần khi nói chuyện với đứa trẻ đó – nhưng khi cha mẹ nó không ở đó, thì phương diện ma quỷ của mọi người bộc lộ. Nếu đứa trẻ nói chuyện với họ, họ sẽ phớt lờ nó, hoặc thậm chí thấy khó chịu với đứa trẻ và ngược đãi nó. Thật xấu xa làm sao! Ở nhiều nước trên thế giới, nạn buôn bán trẻ em không phải là hiếm – đó là một vấn nạn toàn cầu. Nếu con người thậm chí còn không có hành vi tốt kính già yêu trẻ, và không cảm thấy lương tâm day dứt khi bắt nạt trẻ em, thì nói Ta nghe, đó là loại nhân tính gì? Họ vẫn giả vờ kính già yêu trẻ, nhưng đó chỉ là bề ngoài. Tại sao Ta đưa ra ví dụ này? Bởi vì mặc dù nhân loại đã đưa ra những hành vi tốt này và đề ra những yêu cầu và tiêu chuẩn này cho hành vi của con người, nhưng bất kể con người có khả năng đạt được chúng hay có bao nhiêu hành vi tốt đi chăng nữa, thì thực chất bại hoại của họ cũng không bao giờ có thể thay đổi được. Tiêu chí cho cách nhìn nhận con người và sự vật, cũng như cho cách cư xử và hành động của con người hoàn toàn phát sinh từ những suy nghĩ và quan điểm của nhân loại bại hoại, và được quyết định bởi những tâm tính bại hoại. Mặc dù những yêu cầu và tiêu chuẩn nhân loại đưa ra được công nhận là những tiêu chuẩn cao đẹp, nhưng con người có khả năng đạt được không? (Thưa, không.) Đó là vấn đề. Ngay cả khi một người hành động bề ngoài tốt hơn một chút, và được khen thưởng, công nhận vì điều đó, thì nó cũng bị nhiễm sự giả tạo và mánh khóe, bởi vì như mọi người đều thừa nhận, làm một chút việc tốt thì dễ – làm việc tốt cả đời mới khó. Nếu họ thực sự là người tốt, tại sao làm việc tốt lại khó khăn với họ như vậy? Vì vậy, không ai có thể sống theo những tiêu chuẩn gọi là “tốt đẹp” và được công nhận của nhân loại. Tất cả chỉ là khoe khoang, ngụy tạo và hư cấu. Ngay cả khi người ta có thể đáp ứng một vài tiêu chuẩn bên ngoài và có chút hành vi tốt – chẳng hạn như có học vấn và hiểu lý lẽ, ôn tồn tao nhã, nho nhã lễ độ, kính già yêu trẻ, hòa nhã dễ mến và bình dị dễ gần – dù con người có thể thực hiện và có một vài hành vi tốt trong số này, nhưng chỉ là trong một thời gian ngắn, nhất thời, hoặc trong bối cảnh nhất thời nào đó. Họ chỉ có những biểu hiện này khi cần. Ngay khi điều gì đó chạm đến địa vị, thể diện, tiền tài, quyền lợi hay thậm chí là vận mệnh và tiền đồ của họ, thì bản tính và ác tướng của họ sẽ bộc phát. Họ sẽ không còn tỏ ra có học vấn và hiểu lý lẽ, ôn tồn tao nhã, nho nhã lễ độ, kính già yêu trẻ, hòa nhã dễ mến hoặc bình dị dễ gần nữa. Thay vào đó, họ sẽ âm mưu đấu đá, anh lừa tôi gạt, gài tội và giết hại nhau. Những điều như vậy xảy ra quá thường xuyên – vì lợi ích, địa vị hoặc quyền lực của mình, bạn bè, người thân, thậm chí cả cha con sẽ cố tàn sát nhau cho đến khi chỉ còn lại một người. Tình cảnh khốn khổ tồn tại giữa con người là điều dễ thấy. Đó là lý do tại sao có học vấn và hiểu lý lẽ, ôn tồn tao nhã, nho nhã lễ độ, kính già yêu trẻ, hòa nhã dễ mến và bình dị dễ gần chỉ có thể gọi là sản phẩm của bối cảnh nhất thời. Không ai có thể thực sự sống trọn chúng cả – ngay cả những thánh nhân và danh nhân được người Trung Quốc tôn thờ cũng không thể làm được những điều này. Vì vậy, hết thảy những giáo lý và lý thuyết này đều vô lý. Tất cả chúng đều hoàn toàn vô nghĩa. Người mưu cầu lẽ thật có thể giải quyết những vấn đề đụng chạm đến lợi ích cá nhân của họ theo lời Đức Chúa Trời, lấy lẽ thật làm tiêu chí, đồng thời có khả năng thực hành lẽ thật và quy phục Đức Chúa Trời. Bằng cách này, thực tế lẽ thật họ sở hữu vượt qua các tiêu chuẩn về hành vi tốt được nhân loại thừa nhận. Những người không mưu cầu lẽ thật không thể vượt qua rào cản tư lợi, và như vậy không thể đưa lẽ thật vào thực hành. Họ thậm chí không thể tuân giữ các phép tắc như hành vi tốt. Vậy thì đâu là căn cứ và tiêu chí cho cách nhìn nhận con người và sự vật, cũng như cách cư xử và hành động của họ? Chắc chắn chúng chỉ là những quy tắc và đạo lý, chúng là những triết lý và phép tắc của Sa-tan, chứ không phải lẽ thật trong lời Đức Chúa Trời. Đó là bởi vì những người đó không chấp nhận lẽ thật, và họ chỉ tìm kiếm tư lợi, nên đương nhiên họ không thể đưa lẽ thật vào thực hành. Họ thậm chí không thể duy trì những hành vi tốt – họ cố gắng diễn, nhưng không thể cứ ngụy trang mãi. Qua đây, họ bộc lộ bản chất thật của mình. Vì tư lợi, họ sẽ tranh, đoạt, cướp, họ sẽ âm mưu, thủ đoạn, giở trò gian trá, họ sẽ trừng trị người khác, thậm chí giết người. Họ có thể làm tất cả những việc hung ác này – chẳng phải qua đó bản tính của họ phơi bày sao? Và khi bản tính của họ phơi bày, người khác có thể dễ dàng nhìn thấy những ý định và căn cứ cho lời nói và hành động của họ; người khác có thể nói rằng những người đó đang sống hoàn toàn theo triết lý của Sa-tan, rằng căn cứ cho cách nhìn nhận con người và sự vật, cho cách cư xử và hành động của họ, là những triết lý của Sa-tan. Ví dụ: “Người không vì mình, trời tru đất diệt”, “Có tiền là có tất cả”, “Núi xanh còn có đó, lo gì không có củi”, “Hẹp hòi không phải quân tử, không độc không là trượng phu”, “Ngươi bất nhân thì ta bất nghĩa”, “Gậy ông đập lưng ông”, v.v. – những câu nói về logic và phép tắc của Sa-tan này ngự trị trong con người. Khi con người sống theo những điều này, thì những hành vi tốt như có học vấn và hiểu lý lẽ, ôn tồn tao nhã, nho nhã lễ độ, kính già yêu trẻ, v.v. trở thành những chiếc mặt nạ con người dùng để ngụy trang bản thân, chúng trở thành những bộ mặt giả. Tại sao chúng trở thành những bộ mặt giả? Bởi vì nền tảng và phép tắc mà con người thực sự sống theo là những thứ Sa-tan đã khắc sâu vào con người, chứ không phải lẽ thật. Và do đó, lương tâm và đức hạnh sơ đẳng nhất của con người không có tác dụng gì đối với một kẻ không yêu lẽ thật. Khi gặp phải chuyện liên quan đến lợi ích của họ, con người thật của họ sẽ bộc lộ, và lúc đó mọi người sẽ nhìn thấy bộ mặt thật của họ. Người ta sẽ kinh ngạc thốt lên: “Nhưng chẳng phải bình thường họ rất nhẹ nhàng, nho nhã lễ độ và nhã nhặn sao? Tại sao khi có chuyện xảy đến với họ, họ dường như biến thành một người hoàn toàn khác?”. Trên thực tế, người đó không thay đổi; chỉ là tới lúc đó con người thật của họ mới tỏ lộ và phơi bày. Khi mọi thứ không chạm đến lợi ích của họ và trước khi họ sẵn sàng ăn thua đủ, mọi thứ họ làm đều là mánh khóe và ngụy trang. Các phép tắc và cơ sở sinh tồn của họ mà họ tỏ lộ khi lợi ích của mình bị ảnh hưởng hoặc đe dọa, và khi họ ngừng ngụy trang, là bản tính, thực chất và con người thật của họ. Vì vậy, bất kể một người có loại hành vi tốt nào – bất kể hành vi bên ngoài của họ có vẻ hoàn hảo như thế nào đối với người khác – thì điều đó cũng không có nghĩa họ là người mưu cầu lẽ thật và yêu những điều tích cực. Ít nhất, điều đó không có nghĩa là họ có nhân tính bình thường, và càng không có nghĩa là họ đáng tin cậy hoặc đáng để tiếp xúc.