Mưu cầu lẽ thật là gì (16) Phần 1
Khoảng thời gian này chúng ta chủ yếu là thông công, mổ xẻ thực chất của các câu nói về phương diện đức hạnh, cũng như mổ xẻ những ảnh hưởng của các câu nói đó trên con người. Những câu nói về phương diện đức hạnh này chủ yếu thể hiện sự ảnh hưởng ở nhiều mức độ khác nhau của văn hóa truyền thống Trung Quốc trên con người, và những ảnh hưởng này vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Lần nhóm họp trước chúng ta đã thông công, vạch trần những câu nói nào về phương diện đức hạnh? (Thưa, lần trước Đức Chúa Trời đã thông công, vạch trần câu nói “Quân tử nhất ngôn, tứ mã nan truy”.) Lúc thông công câu nói về phương diện đức hạnh thì chúng ta đã nói đến một vấn đề về hoàn cảnh chung, chính là bất luận thời đại thay đổi như thế nào, hoàn cảnh chung của xã hội thay đổi như thế nào, thế cục chính trị các quốc gia thay đổi ra sao, thì việc Sa-tan lợi dụng các loại tà thuyết và lý lẽ sai lầm về phương diện đức hạnh trong văn hóa truyền thống để làm bại hoại nhân loại, làm bại hoại về tư tưởng, đức hạnh của con người và làm bại hoại ở những nơi sâu thẳm trong tâm hồn con người càng ngày càng rõ ràng, chất độc lưu lại của văn hóa truyền thống không vì sự thay đổi của thời đại và sự thay đổi của hoàn cảnh sống mà giảm bớt ảnh hưởng của nó đối với nhân loại. Nhiều người đến nay vẫn trích dẫn, truyền bá các câu nói của những văn hóa truyền thống này, tôn thờ văn hóa truyền thống này là quốc túy, kinh điển. Có thể thấy được, Sa-tan đã đem đủ loại câu nói về phương diện đức hạnh này cắm sâu vào tâm hồn của tất cả mọi người, khiến con người bại hoại đến một mức độ nhất định. Tại sao Sa-tan muốn bại hoại con người? Mục đích cuối cùng của nó khi làm bại hoại con người là gì? Là nhắm vào con người hay nhắm vào Đức Chúa Trời? (Thưa, chính là nhắm vào Đức Chúa Trời.) Đây là những thứ phải được hiểu rõ để nhận biết thực chất của Sa-tan, nhận biết nguồn gốc và quá trình mà Sa-tan làm bại hoại con người. Tư tưởng của con người bị Sa-tan làm bại hoại như thế nào? Tại sao sâu thẳm trong tâm hồn con người lại có những thứ đối địch với Đức Chúa Trời? Tại sao lại có những thứ đi ngược với lẽ thật? Tại sao con người lại trở nên như vậy? Con người là do Đức Chúa Trời tạo ra, tại sao con người ở khắp nơi lại chống đối Ngài, phản nghịch Ngài như Sa-tan, nguyên do là gì? Những nội dung chúng ta đã nói lúc trước có thể giải đáp những vấn đề này không? (Thưa, có thể.) Hãy nhớ lại một chút, nghiền ngẫm những nội dung thông công lần trước. (Thưa, Đức Chúa Trời đã thông công về hoàn cảnh hiện tại của chúng con, mặc dù cũng ăn và uống lời Ngài, nhưng căn bản chúng con không biết phân định những tà thuyết, lý lẽ sai lầm, tư tưởng quan điểm mà Sa-tan tiêm nhiễm cho chúng con, chúng con còn có thể làm kẻ phát ngôn cho Sa-tan, làm sai dịch cho Sa-tan mọi nơi mọi lúc. Ngoài ra, Đức Chúa Trời cũng thông công tại sao Sa-tan lại lợi dụng những tà thuyết và lý lẽ sai lầm này để mê hoặc và làm bại hoại con người, mặc dù nó làm bại hoại và hãm hại con người, nhưng mục đích thực sự của Sa-tan là nhắm vào Đức Chúa Trời, là muốn tháo bỏ và phá hoại kế hoạch quản lý của Đức Chúa Trời. Bởi vì kế hoạch quản lý của Đức Chúa Trời cuối cùng là muốn cứu rỗi, hoàn thiện một nhóm người có thể đồng tâm hợp ý với Đức Chúa Trời, Sa-tan chính là có ý đồ quấy nhiễu và cản trở những người này đi theo Đức Chúa Trời, được Đức Chúa Trời làm cho trọn vẹn và thu phục. Đức Chúa Trời nhìn thấu quỷ kế của Sa-tan, nhưng không hề ngăn cản nó mà sử dụng nó như một vật phục vụ, vật làm nền, bởi vì sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời được hình thành trên quỷ kế của Sa-tan, Ngài muốn làm công tác làm tinh sạch, cứu rỗi trên những người bị Sa-tan làm bại hoại này. Đức Chúa Trời vạch trần, mổ xẻ các câu nói của văn hóa truyền thống, khiến cho mọi người đều thấy rõ Sa-tan chính là dùng những tà thuyết và lý lẽ sai lầm này để mê hoặc con người, làm bại hoại con người, từ đó cho chúng ta học được cách phân định, không phải chỉ hiểu về mặt đạo lý rằng những tà thuyết và lý lẽ sai lầm này là sự vật, sự việc tiêu cực, mà là phải nhìn thấu quỷ kế của Sa-tan trong chuyện này là gì, sau khi nhìn thấu thì có thể đối chiếu với bản thân, phản tỉnh bản thân với lời Đức Chúa Trời, kiểm điểm xem trên người mình rốt cuộc có tư tưởng và quan điểm nào thuộc về Sa-tan, trong những ý định đằng sau hành động của mình có quỷ kế nào của Sa-tan, bộc lộ tâm tính nào của Sa-tan. Đây chính là thật sự biết mình, mà không phải chỉ dừng lại ở nhận thức về mặt đạo lý và phân định đơn giản.) Một trong những phương thức mà Sa-tan làm bại hoại con người chính là làm bại hoại tư tưởng, làm bại hoại tâm hồn của con người, bơm vào trong lòng, trong tư tưởng của họ các loại tư tưởng và quan điểm, tà thuyết và lý lẽ sai trái của Sa-tan, trong đó các câu nói về phương diện đức hạnh chính là thứ đại diện cho tinh túy trong văn hóa truyền thống Trung Quốc, chính là đại diện điển hình của văn hóa truyền thống Trung Quốc. Những quan điểm và tư tưởng văn hóa truyền thống này về cơ bản có thể đại diện cho tư tưởng, thực chất của Sa-tan và những thứ trong bản tính chống đối Đức Chúa Trời của Sa-tan. Sa-tan dùng những thứ này làm bại hoại con người, hậu quả cuối cùng mà nó đạt được là gì? (Thưa, khiến con người đối địch với Đức Chúa Trời.) Đạt đến hậu quả là khiến con người đối địch với Đức Chúa Trời. Con người biến thành cái gì? (Thưa, con người trở thành miệng lưỡi, sai dịch của Sa-tan, trở thành một Sa-tan sống.) Con người trở thành miệng lưỡi, hoá thân của Sa-tan, nhân loại bại hoại thì trở thành đại diện của Sa-tan. Những tư tưởng, quan điểm, mục đích và ý định chứa đựng trong lời nói của nhân loại bại hoại, cũng như tâm tính bại hoại họ bộc lộ chính là miệng lưỡi và sự bộc lộ của Sa-tan. Điều này hoàn toàn chứng thực rằng phép tắc sinh tồn và các quan điểm, tư tưởng đối nhân xử thế của con người đều đến từ Sa-tan, đều đại diện cho thực chất bản tính của Sa-tan, hoàn toàn chứng thực rằng nhân loại bại hoại sống chính là hoá thân, hậu duệ của Sa-tan và cùng chủng loại với Sa-tan. Nhân loại bại hoại sống chính là Sa-tan sống, là ma quỷ sống, nhân loại hoá thân thành Sa-tan thì có thể đại diện cho Sa-tan rồi. Cho dù nhân loại là hậu duệ của Sa-tan cũng được, là hóa thân của Sa-tan cũng được, tóm lại đều là chủng loại của Sa-tan. Đối với Đức Chúa Trời mà nói, nhân loại như vậy chính là phủ nhận Đức Chúa Trời, phản bội Ngài, chính là kẻ thù, là thế lực đối địch với Đức Chúa Trời. Nhân loại như vậy sẽ không còn là nhân loại thọ tạo lúc ban đầu với tư tưởng còn trống rỗng, hoàn toàn không biết gì. Nhân loại sống dưới quyền thế của Sa-tan, đầy tâm tính bại hoại của Sa-tan, nhân loại sống dưới tình trạng và trạng thái này cần nhất là gì? Chính là sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Bây giờ chính là lúc Đức Chúa Trời dùng lời để cứu rỗi con người. Bối cảnh Đức Chúa Trời cứu rỗi con người là gì? Chính là việc Sa-tan đã làm bại hoại con người đến mức sâu sắc nhất, nghiêm trọng nhất, biến con người hoàn toàn trở thành hoá thân của Sa-tan, miệng lưỡi của Sa-tan, con người trở thành kẻ thù, thành phía đối lập với Đức Chúa Trời, trong bối cảnh như thế, Đức Chúa Trời bắt đầu công tác cứu rỗi nhân loại. Đây là tình hình thực tế về việc Sa-tan làm bại hoại con người, cũng là một bối cảnh thực tế để Đức Chúa Trời bày tỏ lẽ thật và làm công tác phán xét cứu rỗi con người trong những ngày sau rốt. Con người biết được những chân tướng sự thật này sẽ có lợi ích gì? Một mặt, nó làm cho con người nhận biết được thực chất của họ, thực chất của Sa-tan, nhận biết được thủ đoạn làm bại hoại con người và sự tà ác của Sa-tan, mặt khác, nó cũng có thể làm cho con người nhận biết được tôn chỉ kế hoạch quản lý của Đức Chúa Trời, cũng như sự toàn năng, thẩm quyền, sự khôn ngoan và năng lực của Đức Chúa Trời được bộc lộ trong công tác cứu rỗi nhân loại của Ngài. Ở đây ngoài việc nhận biết được thực chất, sự tà ác của Sa-tan cũng như thực chất bản tính của nhân loại bị làm cho bại hoại, chủ yếu chúng ta phải đạt được nhận thức về công tác của Đức Chúa Trời, tâm tính và thực chất của Ngài. Nhận biết thực chất của Đức Chúa Trời chủ yếu bao gồm nhận biết sự toàn năng, thẩm quyền, sự khôn ngoan, năng lực của Ngài, chủ yếu là nhận biết thực chất vài phương diện này của Đức Chúa Trời.
Nhìn từ bối cảnh Đức Chúa Trời làm công tác cứu rỗi nhân loại, nhân loại mà Ngài muốn cứu rỗi này đã không phải là nhân loại mới được tạo dựng, mà là nhân loại đã bị Sa-tan làm bại hoại mấy ngàn năm. Nơi sâu thẳm trong tâm hồn con người không phải trống trơn, tư tưởng, tâm tính con người cũng không trống trơn, mà đã sớm bị Sa-tan làm bại hoại sâu sắc. Những gì mà Đức Chúa Trời cứu rỗi là những loài thọ tạo đã bị Sa-tan làm bại hoại, dẫn dụ, kiểm soát, thao túng và chà đạp. Trên nhân loại thọ tạo như vậy mà muốn đạt được sự loại bỏ hoặc biến đổi những thứ của Sa-tan, tâm tính của Sa-tan thì khó càng thêm khó, càng có thể nói là không thể. Có nghĩa là, muốn thay đổi tư tưởng và quan điểm của con người, phải làm tinh sạch những thứ thuộc về Sa-tan ở sâu trong tâm hồn họ, biến đổi tâm tính bại hoại của họ, điều này đối với con người là không thể, như người ta có câu “Giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời”. Nhưng chính trong bối cảnh như thế này, trên nhân loại thọ tạo này mà Đức Chúa Trời muốn làm công tác cứu rỗi con người. Ðức Chúa Trời làm công tác không phải là làm dấu kỳ phép lạ, cũng không công khai hay tỏ lộ bản thể thật của mình, lại càng không phải là làm bất kỳ công tác nào có thẩm quyền và uy lực trước mặt con người, tức là trong thời kỳ sau rốt khi Đức Chúa Trời nhập thể để cứu rỗi con người, Ngài không làm dấu kỳ phép lạ, cũng không làm một công tác nào vượt quá thực tế và hiện thực, hoặc làm việc gì đó vượt quá nhân tính xác thịt. Ðức Chúa Trời không hề làm những công tác siêu nhiên này, mà Ngài dùng lời để chu cấp sự sống cho nhân loại, để vạch trần và làm tinh sạch sự bại hoại của con người. Bởi vì chỉ dùng lời để làm công tác này, nên ở trong mắt con người lại càng là chuyện không có khả năng thành công, thậm chí ở trong mắt nhiều người, đây là chuyện đùa. Người ta cho rằng Đức Chúa Trời chỉ dựa vào lời phán, dựa vào những lời phán với nhiều hình thức khác nhau, từ nhiều góc độ khác nhau, về nhiều nội dung khác nhau để chu cấp cho con người, cho con người đạt đến sự cứu rỗi, điều này là không thể, đặc biệt là Sa-tan càng không tin rằng đây là sự thật mà Đức Chúa Trời hoàn toàn có thể làm cho trọn vẹn, càng không tin Đức Chúa Trời có năng lực này, có thẩm quyền này, có sự khôn ngoan này để có thể hoàn thành công tác này. Có thể thấy rằng Đức Chúa Trời phán lời và làm việc để cứu rỗi con người là một chuyện không có khả năng đạt được trong mắt của nhân loại thọ tạo. Nhưng bất kể sau này có thế nào đi nữa, cho đến bây giờ, câu nói “Đức Chúa Trời tốt lành cũng như lời Ngài, và lời Ngài sẽ được thành toàn, và điều mà Ngài hoàn thành sẽ kéo dài mãi mãi” đã được hoàn thành trên những người theo Đức Chúa Trời, tức là nhiều người đã nếm trước được sự thật này. Xét từ cách thức mà Đức Chúa Trời thực hiện công tác, Ngài chỉ thông qua sự chu cấp của lời, sự nuôi dưỡng, phơi bày, hình phạt, sự phán xét, trách phạt, nhắc nhở, cảnh báo v.v. của lời để làm công tác cứu rỗi nhân loại, thì đủ thấy rằng lời Đức Chúa Trời không phải là ý nghĩa đơn giản mà quan niệm của con người có thể lĩnh hội được. Ngoài câu nói cơ bản rằng lời Đức Chúa Trời là lẽ thật ra, điều mà con người có thể nhìn thấy nhiều hơn, cũng là điều mà sự thật cho thấy rõ ràng, đó là lời Đức Chúa Trời mang sự sống trong đó, lời Ngài chính là sự sống, lời Ngài có thể chu cấp sự sống cho nhân loại bại hoại và có thể chu cấp mọi nhu cầu về sự sống cho nhân loại bại hoại. Về phương diện năng lực và thẩm quyền, lời Đức Chúa Trời có thể thay đổi hiện trạng sinh tồn, quan điểm và tư tưởng của nhân loại, thay đổi tâm hồn đã bị Sa-tan làm bại hoại của họ, càng có thể thay đổi con đường, phương hướng nhân sinh mà nhân loại đã lựa chọn, thậm chí thay đổi cả nhân sinh quan, giá trị quan của nhân loại. Chỉ cần ngươi tiếp nhận lời Đức Chúa Trời, chỉ cần ngươi có thể vâng phục lời Ngài, càng có thể nói rằng chỉ cần ngươi yêu thích, mưu cầu lời Ngài, thì cho dù tố chất của ngươi như thế nào, cho dù mục tiêu mưu cầu của ngươi là gì, ý chí mưu cầu của ngươi lớn hay nhỏ, đức tin của ngươi lớn hay nhỏ, thì lời của Đức Chúa Trời nhất định có thể thay đổi con người ngươi, khiến cho nhân sinh quan, giá trị quan của ngươi phát sinh sự thay đổi, khiến cho tư tưởng và quan điểm nhìn nhận con người và sự việc của ngươi phát sinh thay đổi, cuối cùng làm cho tâm tính sự sống của ngươi phát sinh biến đổi. Cho dù đa số mọi người có tố chất kém, không có ý chí mưu cầu lẽ thật, thậm chí không sẵn lòng mưu cầu lẽ thật, nhưng bất kể như thế nào, chỉ cần nghe qua lời Đức Chúa Trời thì trong tiềm thức của con người ít nhiều đều có một vài quan điểm và cách nhìn đúng đắn đối với Sa-tan, đối với thế giới và với nhân loại từ sự dạy dỗ của Ngài. Trong tiềm thức con người đều có sự hướng tới và khao khát với những mức độ khác nhau đối với sự việc, sự vật tích cực, đối với nguyên tắc lẽ thật, với phương hướng và mục tiêu đúng đắn trong cuộc đời mà Đức Chúa Trời yêu cầu con người. Những hiện tượng phát sinh nơi con người, phát sinh giữa con người với nhau, cho dù là thỏa mãn nguyện vọng của con người hay không, cho dù là phù hợp với quan niệm của con người hay không, có đạt được tiêu chuẩn yêu cầu của Đức Chúa Trời hay không, v.v. tất cả những hiệu quả, hiện tượng đạt được nơi con người đều cho thấy rằng lời Đức Chúa Trời không chỉ có thể chu cấp sự sống cho con người, chu cấp cho nhu cầu của con người, mà quan trọng hơn là, không một thế lực nào có thể thay đổi lời Đức Chúa Trời. Tại sao có thể nói như vậy? Bởi vì lời Đức Chúa Trời có thẩm quyền, hơn nữa thẩm quyền trong lời Đức Chúa Trời không thể bị vượt qua bởi bất kỳ lý luận, triết lý, tri thức nào trên thế giới, không thể bị vượt qua bởi bất kỳ luận điệu, quan điểm hay tư tưởng nào, đây chính là ý nghĩa thực tế của việc lời Đức Chúa Trời có thẩm quyền, điều này đã được thể hiện một cách rõ ràng trên tất cả những người theo Đức Chúa Trời. Lời Đức Chúa Trời có thẩm quyền, có thể thay đổi tư tưởng và tâm hồn con người, quan trọng hơn là có thể làm tinh sạch và loại bỏ tâm tính bại hoại mà Sa-tan đã gieo sâu trong tâm hồn con người, đây chính là sức mạnh của lời Đức Chúa Trời. Đương nhiên, còn có một điểm nữa chính là con người nên nhận biết được sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời. Sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời bộc lộ khắp mọi nơi trong công tác của Ngài, và sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời có thể được nhìn thấy không chỉ trong những lời Đức Chúa Trời phán, mà còn trong cách thức, nội dung, góc độ để phán lời và thậm chí cả trong giọng điệu của Ngài. Sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời thể hiện ở những phương diện nào? Một mặt, có thể nhìn thấy sự khôn ngoan của Ðức Chúa Trời trong mọi lời phán của Ngài, mọi cách thức phán lời của Ngài tỏ lộ sự khôn ngoan của Ngài. Mặt khác, cũng có thể nhìn thấy sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời trong mọi cách Ngài làm việc trên con người, trong những người đi theo Ngài do Ngài dẫn dắt. Vậy đương nhiên có thể nói rằng sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời một mặt được bộc lộ trong lời phán của Đức Chúa Trời, mặt khác được bộc lộ trong công tác của Ngài. Ngoài việc con người có thể nhìn thấy sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời trong lời phán của Ngài, họ còn có thể thể nghiệm và lĩnh hội sự khôn ngoan của Ngài một cách sâu sắc từ trong những hoàn cảnh, bối cảnh khác nhau của những chuyện xảy đến với con người. Lời của Đức Chúa Trời có thể khiến cho con người nhận được sự chu cấp tương ứng mọi lúc mọi nơi. Ngài có thể giúp đỡ ngươi, nâng đỡ ngươi, chu cấp cho ngươi mọi nơi mọi lúc, giúp ngươi thoát khỏi tình huống tiêu cực và trở nên mạnh mẽ, không còn yếu đuối mọi nơi mọi lúc. Ngài cũng có thể thay đổi ý niệm, cách tư duy của ngươi mọi nơi mọi lúc, khiến ngươi buông bỏ những gì bản thân cho là đúng, những gì thuộc về Sa-tan, thoát khỏi tâm tính bại hoại của chính mình, ăn năn với Đức Chúa Trời, tuân theo yêu cầu của Ngài, làm và thực hành theo lời phán của Ngài, một mặt là như vậy. Ngoài ra, đối với tất cả những người đi theo Ngài, yêu lời Ngài, yêu lẽ thật, cách thức làm việc của Đức Chúa Trời cũng rất đa dạng, có lúc thì ban ân điển, có lúc thì ban cho ánh sáng, sự mặc khải. Đương nhiên có lúc Ngài cũng sẽ dùng cách thức sửa phạt, sửa dạy để khiến con người quay đầu, khiến con người cảm thấy bị khiển trách sâu trong lòng, cảm thấy thật sự mang nợ Đức Chúa Trời, có lòng ân hận rồi nảy sinh lòng ăn năn, từ đó buông bỏ cái ác trong tay, không còn phản nghịch Ngài nữa, không còn làm theo ý mình và đi theo Sa-tan nữa, mà là thực hành theo con đường mà Đức Chúa Trời chỉ dẫn. Công tác của Đức Chúa Trời được thực hiện trên con người, chính xác mà nói là công tác của Đức Thánh Linh được thực hiện trên con người, mà trên hầu hết mọi người, Đức Thánh Linh có nhiều cách làm việc khác nhau. Đương nhiên, cho dù Đức Thánh Linh làm việc theo cách thức nào, mỗi cá nhân có thể thể nghiệm công tác của Đức Thánh Linh bằng những cách thức khác nhau ở mức độ nhiều hay ít. Xét từ điểm này, công tác của Đức Thánh Linh, công tác của Đức Chúa Trời, dù bằng nhiều cách thức hay một cách thức, đều có thể khiến người ta thể nghiệm và lĩnh hội được rằng công tác của Đức Chúa Trời là sự giúp đỡ và là điều con người cần mọi nơi mọi lúc. Đức Thánh Linh có thể làm việc và chu cấp cho con người mọi lúc mọi nơi, không bị hạn chế bởi không gian, địa lý, thời gian, không làm xáo trộn quy luật cuộc sống bình thường của con người, cũng không quấy nhiễu tâm tư con người, càng không phá vỡ bất kỳ phép tắc nào mà Đức Chúa Trời đặt ra cho con người. Đức Thánh Linh làm việc lặng lẽ trên mỗi người như vậy, một mặt dùng lời để thông báo, dạy dỗ, khai sáng và hướng dẫn rõ ràng, mặt khác dùng các cách thức công tác khác nhau mà làm việc trên con người, khiến cho họ chẳng biết tự lúc nào, rất tự nhiên mà sống dưới sự chu cấp của lời Đức Chúa Trời. Đương nhiên, cùng với công tác của Đức Chúa Trời và của Đức Thánh Linh, chẳng biết tự lúc nào, tâm tính con người đã có sự biến đổi, tư tưởng đã có sự chuyển biến và đức tin của con người đối với Đức Chúa Trời cũng dần dần tăng lên. Phải nói rằng tất cả những hiệu quả này đạt được trên con người chính là sức mạnh của lời Đức Chúa Trời, cũng là sự khôn ngoan trong công tác của Ngài. Bây giờ, đối với những người đi theo Đức Chúa Trời mà nói, Ngài dùng lời làm công tác dẫn dắt, chu cấp cho con người, bất kỳ người nào cũng có quyền được hưởng thụ, cũng có cơ hội được hưởng thụ. Nếu như số người đi theo Đức Chúa Trời tăng thêm 10 lần, 20 lần thậm chí hơn trăm lần so với hiện tại, Đức Chúa Trời vẫn có thể lo liệu và hoàn thành công tác như thế, hiệu quả đạt được vĩnh viễn cũng không thay đổi, đây chính là sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời.
Lời Đức Chúa Trời bày tỏ mọi khía cạnh của lẽ thật, chu cấp cho nhu cầu của toàn thể nhân loại. Ngài đứng ở những góc độ khác nhau, vận dụng những cách công tác khác nhau trên con người ở những thời điểm và hoàn cảnh khác nhau, dẫn dắt con người mà họ không hề hay biết, đạt được hiệu quả khác nhau trên mỗi người. Cho dù hiện tại ngươi cho rằng, “Tôi không hiểu được bao nhiêu về công tác của Đức Chúa Trời, hiện tại tôi vẫn cứ rất yếu đuối, đức tin vào Đức Chúa Trời vẫn nhỏ như vậy, nhận thức của tôi về Ngài cũng không tăng thêm gì, thái độ thực hiện bổn phận của tôi hiện tại dường như vẫn cứ thờ ơ giống như trước kia, cảm giác mình không có tiến bộ gì lớn lắm”, nhưng có một điều chắc chắn, đó là bất kể ngươi yếu đuối như thế nào, bất kể ngươi cảm thấy mình còn cách xa những yêu cầu của Ngài đến đâu, thì lời Ngài, công tác của Ngài đã nắm được lòng ngươi. Cho dù ngươi không cảm thấy hứng thú cho lắm với việc mưu cầu lẽ thật, cho dù ngươi không coi trọng ý nghĩa của sự cứu rỗi, thì lẽ thật và nội dung của lời Ngài vẫn mang cho ngươi hy vọng, trong sâu thẳm nội tâm ngươi có kỳ vọng đối với công tác của Đức Chúa Trời, đối với sự thật mà Ngài muốn làm cho trọn vẹn. Bất kể đức tin hiện tại của ngươi lớn bao nhiêu, vóc giạc hiện tại của ngươi như thế nào, thì việc ngươi có kỳ vọng là điều chắc chắn. Việc đó nói lên điều gì? Nói lên rằng lời Đức Chúa Trời là điều mà nhân loại cần, lời Đức Chúa Trời chu cấp cho nhu cầu của con người, đã nắm giữ lòng ngươi và trong sâu thẳm nội tâm ngươi không biết từ lúc nào đã có sự tiếp nhận lời Ngài ở một mức độ nhất định. Đương nhiên, sự thật này nhắm vào một vài người không hứng thú mấy với lẽ thật, vẫn còn tương đối mù mờ, chưa rõ ràng về công tác và sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời, còn đối với những người thật lòng tin Đức Chúa Trời, có thể mưu cầu lẽ thật thì họ không chỉ đạt được hiệu quả này, mà còn đạt được nhận thức về Đức Chúa Trời và đạt đến việc làm chứng cho Ngài. Từ những sự thật hoặc dấu hiệu này, có thể thấy được rằng lời và công tác của Đức Chúa Trời bao hàm năng lực, thẩm quyền và sự khôn ngoan của Ngài. Điều này càng chứng thực một chuyện khác, rằng nhân loại là Đức Chúa Trời tạo ra, nhân loại có thể xa rời ánh mặt trời, nước, không khí, nhưng nhân loại không thể xa rời Ngài, xa rời lời Ngài và sự chu cấp của Ngài. Chỉ có sự dẫn dắt, chu cấp, nuôi dưỡng của Đức Chúa Trời và mọi lẽ thật được Ngài bày tỏ mới có thể mang lại hy vọng, ánh sáng cho nhân loại, mang đến cho nhân loại mục tiêu, phương hướng để tồn tại, và những người này đã nhìn thấy điều đó. Từ việc vạch trần, mổ xẻ tình huống thực tế của việc Sa-tan làm bại hoại nhân loại về phương diện đức hạnh, con người có thể thấy được Đức Chúa Trời làm công tác cứu rỗi con người trong bối cảnh như thế nào. Ngoài việc nhận biết tình hình và tình huống thực tế là công tác của Đức Chúa Trời đang nằm trong bối cảnh thế nào, càng nên nhận biết được Đức Chúa Trời làm công tác cứu rỗi nhân loại khó khăn đến mức nào, dựa vào việc nhận ra điều đó khó khăn ra sao để biết được năng lực, thẩm quyền và sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời. Nghĩa là trong công tác cứu rỗi nhân loại, Đức Chúa Trời không hề vội vàng cứu rỗi nhân loại ngay từ đầu khi Sa-tan làm bại hoại con người, không phải 4.000 năm trước, cũng không phải 6.000 năm trước đã vội vã cứu rỗi nhân loại, mà là từng bước từng bước thông qua việc nhân loại bị con rắn dụ dỗ, bị Sa-tan làm bại hoại, đạt tới tội ác trầm trọng, lại trải qua đại hồng thủy hủy diệt thế giới, sau đó lại thông qua luật pháp từng bước từng bước dẫn dắt nhân loại. Trong quá trình Sa-tan từng bước làm bại hoại con người thêm sâu sắc, Đức Chúa Trời lại làm công tác mang lấy hình tượng thân xác tội lỗi và chịu đóng đinh lên thập tự giá để cứu chuộc nhân loại. Đến thời điểm sau rốt, khi nhân loại bị Sa-tan làm bại hoại đến mức thân thể tan nát và hoàn toàn có thể đại diện cho Sa-tan thì Đức Chúa Trời chính thức công khai bày tỏ lời Ngài với nhân loại, bày tỏ tiếng lòng của Ngài, bày tỏ quan điểm, thái độ của Ngài đối với các loại người, sự vật, sự việc, bày tỏ mọi lẽ thật mà nhân loại cần. Trong bối cảnh đó, Đức Chúa Trời bắt đầu chính thức chu cấp cho những nhu cầu của nhân loại, thay vì chu cấp mọi lẽ thật cho nhân loại lúc họ còn hoàn toàn vô tri. Vừa may trong tình hình nhân loại đã bị Sa-tan làm bại hoại đến mức sâu sắc, không còn chỗ cứu vãn nữa thì Đức Chúa Trời đã đến, đến để phán lời, đến để công tác, đi giữa con người để bày tỏ những lời Ngài muốn bày tỏ, đồng thời chỉ dùng sự chu cấp lời Ngài để thực hiện sự thật mà Ngài muốn làm cho trọn vẹn. Trong nhân loại thọ tạo không có một ai có năng lực tương đối nào dám thách thức công tác này, bởi vì nhìn từ góc độ con người, đây là một công tác khá khó khăn, một công tác không thể làm trọn vẹn được, thế mà chính trong bối cảnh này Đức Chúa Trời đã đúng lúc triển khai công tác dùng lời để hoàn thành mọi việc trong kế hoạch quản lý 6.000 năm của Ngài, đó là một công tác to lớn và trước nay chưa từng có, càng là một công tác xưa nay chưa từng thấy, là một công tác kéo dài. Bất kể một người nói bao nhiêu lời, bất kể nội dung và thực chất của lời đó là gì, không một con người nào có khả năng biến những gì mình muốn thành tựu trong lời nói thành sự thật, chỉ có lời Đức Chúa Trời mới có thể ứng nghiệm, và cũng chỉ có lời Đức Chúa Trời mới có thể được hoàn thành chiếu theo những gì Ngài yêu cầu và kế hoạch trong ý niệm của Ngài, đây cũng là thẩm quyền của Đức Chúa Trời. Đây có phải là những điều mà con người nên nhận biết không? (Thưa, phải.) Vậy ý nghĩa của việc nhận biết những điều này là gì? Ai nói thử Ta xem. (Thưa, một mặt, đó là có thể nhận biết một chút về sự khôn ngoan trong công tác của Đức Chúa Trời, hiểu rằng công tác của Đức Chúa Trời không được thực hiện trên những người không có tư tưởng và chưa từng trải qua việc bị Sa-tan làm bại hoại, mà là dựa vào sự phục vụ của Sa-tan để làm công tác cứu rỗi trên những người bị Sa-tan làm bại hoại sâu sắc, công tác như vậy đối với con người rất khó khăn, nhưng lời Đức Chúa Trời thực sự đạt được hiệu quả trên con người. Ngoài ra, bình thường trong quá trình trải nghiệm, chúng con thường bị kìm kẹp bởi tâm tính bại hoại, dù không muốn mà cứ bộc lộ sự bại hoại, không thực hành được lẽ thật, có lúc cũng tiêu cực và thậm chí là mất đi đức tin, nhưng sau khi nghe Đức Chúa Trời thông công xong thì con người sẽ có đức tin vào lời Đức Chúa Trời, nhận ra rằng con người chỉ cần yêu thích lẽ thật, tiếp nhận lẽ thật thì tâm tính bại hoại đều có thể biến đổi, điều này không phải là không biến đổi được. Trừ phi thực chất của con người là không yêu thích lẽ thật, không tiếp nhận lẽ thật, vậy tâm tính bại hoại của kẻ đó sẽ không có cách nào biến đổi.) Nói như vậy hoàn toàn thích hợp và chính xác.
Lời Đức Chúa Trời có thể hoàn thành tất cả, thay đổi tất cả, đồng thời, lời Đức Chúa Trời còn có một hiệu quả có thể thấy được trên con người, đó là vạn vật hết thảy đều phải qua đi, duy chỉ có lời Đức Chúa Trời là vĩnh viễn không qua đi, lời Ngài sẽ trường tồn như Ngài. Ngươi nhìn thấy gì từ điểm này? (Thưa, nhìn thấy thẩm quyền của Đức Chúa Trời.) Nhìn thấy thẩm quyền, sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời, và nhìn thấy được năng lực hiển thị rõ trong lời Ngài. Bởi vì lời Đức Chúa Trời đại diện cho sự sống, thực chất và tâm tính của Ngài, nên những lời này có thể trường tồn như Đức Chúa Trời. Lời này nói cho người ta biết điều gì? Đó là đối với nhân loại mà nói, lời Ngài quá đỗi quan trọng. Cho dù ngươi đạt được cái gì cũng không phải bảo bối, dù là có được thỏi vàng hay là có được kho báu quý hiếm trên đời cũng đều không phải là bảo bối, dù ngươi có được thuốc trường sinh bất lão cũng không có giá trị gì, dù ngươi tu luyện thành công đến độ bay lên trời cũng chưa chắc là có thể trường tồn, bởi vì ngươi là loài thọ tạo, tất cả đều nằm trong sự tiền định của Đức Chúa Trời, không ai có thể thoát khỏi sự chủ tể của Ngài. Vạn vật hết thảy đều phải qua đi, duy chỉ có lời Đức Chúa Trời là vĩnh viễn không qua đi, lời Ngài sẽ trường tồn như Ngài. Con người biết những thứ này có tác dụng gì? Nếu ngươi không mưu cầu lẽ thật, không yêu thích lẽ thật, không yêu thích sự công chính và công bằng của Đức Chúa Trời thì ngươi có thể sẽ không có hứng thú với những lời này, cũng không có hứng thú với sự thật này. Nhưng nếu ngươi yêu thích sự công chính và công bằng của Đức Chúa Trời, yêu thích lẽ thật, yêu thích sự vật, sự việc tích cực thì ngươi sẽ nảy sinh hứng thú sâu sắc đối với những lời này, từ đó khắc ghi sự thật này và những lời này thật sâu trong lòng mình. Những lời này nói như thế nào? Vạn vật hết thảy đều phải qua đi, duy chỉ có lời Đức Chúa Trời là vĩnh viễn không qua đi, lời Ngài sẽ trường tồn như Ngài. Lời này các ngươi phải ghi nhớ trong lòng, không có việc gì thì lấy ra nghiền ngẫm. Lời này quá quan trọng, từ trong lời này các ngươi có được gì? Các ngươi nói xem. (Thưa, con lĩnh hội được một điều. Lời của Ngài nói: “Vạn vật hết thảy đều phải qua đi, duy chỉ có lời Đức Chúa Trời là vĩnh viễn không qua đi”, có lúc hoàn cảnh bên ngoài nảy sinh biến đổi, khi con người gặp phải những hoàn cảnh này, trạng thái của con người sẽ biến đổi, ý chí đi theo Đức Chúa Trời cũng sẽ biến đổi, khó tránh khỏi tiêu cực và yếu đuối. Nhưng nghĩ đến những lời này của Đức Chúa Trời, nghĩ đến lời hứa ban đầu của Đức Chúa Trời đối với chúng con, rằng Ngài muốn có được một nhóm người đồng tâm hợp ý với Ngài, thì trong lòng chúng con sẽ có sức mạnh, có đức tin, chúng con sẽ không bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh bên ngoài, sẽ có đức tin đi theo Đức Chúa Trời và thực hiện bổn phận của mình.) Lời này nói cho các ngươi biết một con đường thực hành, con đường thực hành này như thế nào? Chính là ngươi đừng mưu cầu, đừng trân quý bất kỳ thứ gì trong thế giới vật chất, chúng là hư không, là danh lợi địa vị, hưởng thụ vật chất trước mắt, dung nhan mỹ miều của nữ nhân, thân phận địa vị của nam nhân, vân vân, tất cả những thứ này đều là tạm thời, là thoáng qua, trân quý những thứ này đều vô dụng. Đều vô dụng là ý gì? Chính là những thứ này chỉ có thể thỏa mãn nhu cầu, sở thích, dục vọng hoặc là tâm trạng, tình cảm, v.v., những thứ nhất thời của xác thịt ngươi, nhưng tuyệt đối không thể thỏa mãn nhu cầu tâm hồn của ngươi. Khi tâm hồn ngươi đói khát, trống rỗng thì bất kỳ thứ nào trong thế giới vật chất cũng không thể thỏa mãn nhu cầu của tâm hồn ngươi, đều không thể lấp đầy sự trống rỗng trong sâu thẳm nội tâm ngươi, cho nên ngươi mưu cầu những thứ này thì đều vô dụng. Vậy thì điều gì có thể thỏa mãn ngươi, có thể lấp đầy sự trống rỗng trong sâu thẳm nội tâm ngươi? Khi ngươi đọc lời Đức Chúa Trời và hiểu được lẽ thật, sâu thẳm nội tâm ngươi sẽ được bồi đắp, ngươi cũng sẽ hưởng thụ được sự bình an và niềm vui, trong lòng cảm thấy thỏa mãn, vững vàng. Nếu ngươi cứ tiếp tục mưu cầu như vậy, khi lời Ngài trở thành sự sống của ngươi, thì sự sống này sẽ không ai có thể lấy đi, không ai có thể phá hoại. Không ai có thể lấy đi hay phá hoại sự sống này, thì ngươi cảm thấy được gì trên người mình? Ngươi sẽ không còn cảm thấy trống rỗng, không còn cảm thấy mờ mịt, sợ hãi, bất an khi sống trong thế gian này nữa, bởi vì bên trong ngươi có lời Đức Chúa Trời, có lời Ngài đang dẫn đường cho ngươi, chu cấp cho ngươi, khiến ngươi sống có mục tiêu, có phương hướng, mỗi ngày sống đều có ý nghĩa, có giá trị, đó là điều mà con người thực sự cảm nhận được. Vậy làm sao để đạt được hiệu quả tích cực của việc con người thực sự cảm nhận được này? (Thưa, con người thực hành lời Đức Chúa Trời thì lời Ngài đạt được hiệu quả này trên con người.) Đúng rồi, sau khi con người tiếp nhận lời Ngài làm sự sống thì hiệu quả này sẽ đạt được trên con người, sự sống, cách sống của con người thay đổi, quan điểm và phương thức nhìn nhận con người, sự việc của họ khác đi, sự mưu cầu của họ cũng sẽ khác đi, họ không còn mưu cầu những hưởng thụ xác thịt, đãi ngộ vật chất hay danh lợi địa vị nữa. Việc mưu cầu những sở thích của xác thịt chỉ có thể làm cho người ta cảm giác ngày càng buồn tẻ, trống rỗng, bất an và đau khổ, nhưng sau khi lời Ngài chiếm hữu nội tâm con người, bên trong con người sẽ có lẽ thật làm sự sống, thực chất và sự sống trong con người sẽ thay đổi, cảm giác của con người sẽ khác đi, tình cảm, sở thích, hỉ nộ ai lạc, mục tiêu cuộc đời, phương hướng mưu cầu, phép tắc sinh tồn hoàn toàn khác đi. Sự mưu cầu của con người cũng sẽ thay đổi, họ có thể mưu cầu lẽ thật, mưu cầu nhận biết Đức Chúa Trời, có thể sống theo cách sống mà Ngài yêu cầu. Người như vậy không phải đối mặt với sự thối nát, cái chết, bị hủy diệt, mà họ sẽ có sự sống chân chính, sự sống này sẽ không bị thối nát. Không thối nát nghĩa là sao? Chính là sự sống như vậy ở trong con người sẽ không biến mất, không thối lui, không ố màu, không biến chất, con người sẽ không còn phải đối mặt với việc bị hủy diệt như lúc trước. Như vậy, hiện trạng và tương lai sinh tồn của con người không phải là sẽ thay đổi sao? Rất rõ ràng, tương lai sinh tồn của con người sẽ nảy sinh thay đổi. Sinh mệnh con người sở dĩ sẽ phai màu, tàn lụi, mục nát, sẽ có hồi kết, sẽ bị hủy diệt, đó là vì cái gì? Chính là bởi vì con người không có lời Đức Chúa Trời làm sự sống, cho dù con người có sống 100 năm, 200 năm, 300 năm hay 1.000 năm thì phép tắc sinh tồn, quan điểm sinh tồn và ý nghĩa sinh tồn của họ cũng không thay đổi. Con người sinh tồn như vậy rốt cuộc là vì điều gì? Hoàn toàn là để thỏa mãn xác thịt con người. Xác thịt con người mưu cầu điều gì? Những thứ tiền bạc, danh lợi, hưởng thụ vật chất, mà những thứ này đối với Đức Chúa Trời mà nói là hoàn toàn trái ngược với lẽ thật, là những thứ mà Ngài ghê tởm, cho nên Ngài có thời hạn trong việc cho phép con người mưu cầu hưởng thụ những thứ này. Đời người đến 60, 70 năm hoặc 80, 90 năm là đến tận cùng rồi, mỗi lần đến tận cùng thì sẽ có một vòng luân hồi mới, tuổi thọ của con người phát xuất từ đó. Nếu như Đức Chúa Trời không tiền định thời hạn này, con người sống thời gian dài thì chính bản thân có phải cũng thấy mất kiên nhẫn không? Con người lúc 20 tuổi, mỗi ngày đều cảm thấy mới mẻ, tốt đẹp, hạnh phúc; sống đến 40 tuổi thì sẽ cảm thấy một ngày ba bữa, ăn ba bữa rồi đi ngủ, sống như vậy không có ý nghĩa; sống đến 60 tuổi thì sẽ cảm thấy cái gì cũng nhìn thấu, có chút phúc cũng hưởng qua rồi, có chút tội cũng chịu qua rồi. Họ cảm thấy cái gì cũng không có ý nghĩa, mỗi ngày mặt trời lên thì làm việc, mặt trời lặn thì nghỉ ngơi, chớp mắt là một ngày đã trôi qua, mọi phương diện chức năng cơ thể đều bắt đầu suy giảm, so với lúc 20 tuổi hoàn toàn không giống nhau, lúc này con người sắp đến điểm tận cùng của cuộc đời. Con người sắp đến điểm tận cùng của cuộc đời không có nghĩa là linh hồn đã đến điểm tận cùng, mà là họ sắp đến điểm tận cùng của xác thịt. Người bình thường sống đến 60 mấy 70 tuổi hoặc 70 mấy 80 tuổi là hết, tuổi thọ dài lắm cũng chỉ sống đến hơn 100 tuổi. Có câu “Sống quá thọ thì thắt cổ – chán sống rồi”, khi con người sống quá thọ thì họ trở nên sống thiếu kiên nhẫn, đến nỗi không muốn sống nữa, cảm thấy không có ý nghĩa. Tại sao họ lại cảm thấy không có ý nghĩa? Ở đây có một tình hình thực tế, chính là con người sống trong thân xác, một ngày ba bữa với những việc vặt trong cuộc sống, mỗi ngày đều lặp lại những ngày giống nhau, làm những việc giống nhau, trải qua cuộc sống giống nhau. Con người sống đến một mức độ nhất định thì sẽ nhìn thấu những chuyện này, họ cảm thấy nên xem thì cũng đã xem qua, nên nếm thì cũng đã nếm qua, nên thể nghiệm thì cũng đã thể nghiệm qua, cuộc đời cứ như vậy, không có hy vọng gì, không có mong đợi gì. Họ cảm thấy con người sống thật trống rỗng, những ngày tháng của con người cũng sắp kết thúc rồi, có phải là như vậy hay không? (Thưa, phải.) Chuyện là như vậy.
Vừa rồi Ta nói đến “Vạn vật hết thảy đều phải qua đi, duy chỉ có lời Đức Chúa Trời là vĩnh viễn không qua đi, lời Ngài sẽ trường tồn như Ngài”, những lời này nói cho con người biết một sự thật, đó là lời Đức Chúa Trời đối với con người mà nói là vô cùng quan trọng, nó cũng cho con người biết mục tiêu và phương hướng thực hành, rằng cho dù họ mưu cầu bất kỳ thứ gì cũng không thể thay thế việc con người đạt được một câu nói của Đức Chúa Trời. Đó là bởi vì vạn vật hết thảy đều phải qua đi, đều phải theo thời gian trôi qua mà ố màu, tàn lụi, phai nhạt, duy chỉ có lời Đức Chúa Trời là vĩnh viễn không qua đi. Cho nên, nếu ngươi có được lời Ngài, đi vào thực tế của lời Ngài thì ngươi sẽ hiểu được lẽ thật, đi vào thực tế lẽ thật, vậy thì con người ngươi sẽ trở nên có giá trị nhờ lời Ngài, nhờ lẽ thật, và thực chất của ngươi sẽ khác với trước đây. Có một số người nói: “Thực chất khác đi thì sao?”. Đây đâu phải là sự khác nhau bình thường, mà là sự khác nhau rất lớn, bởi vì nếu ngươi có lời Đức Chúa Trời làm sự sống thì ngươi sẽ giống như lời Ngài, sẽ không qua đi, cũng sẽ giống như Đức Chúa Trời mà có sự sống trường tồn vĩnh cửu, có sau này, có tương lai và có đích đến vĩnh viễn trường tồn. Vậy nhìn vào những chuyện sau này, lời Đức Chúa Trời có quan trọng với con người không? (Thưa, quan trọng.) Thật quá quan trọng! Sau khi hiểu được tầm quan trọng của lời Ngài, ngươi nên mưu cầu như thế nào? Mưu cầu điều gì thì có giá trị, có ý nghĩa? Ngươi nên mưu cầu khi thực hiện bổn phận thì dốc thêm sức, chịu thêm khổ, trả thêm giá, bôn ba hơn, hay là học nhiều kỹ thuật hơn, trang bị nhiều đạo lý hơn, giảng đạo nhiều hơn đây? (Thưa, đều không phải.) Vậy mưu cầu điều gì là hữu dụng nhất? Trong lòng các ngươi đều biết quá rõ ràng như một tấm gương sáng rồi, chính là mưu cầu lời Đức Chúa Trời thì có giá trị nhất và có ý nghĩa nhất. “Vạn vật hết thảy đều phải qua đi, duy chỉ có lời Đức Chúa Trời là vĩnh viễn không qua đi, lời Ngài sẽ trường tồn như Ngài”, câu nói này phải được ghi nhớ trong lòng, đến bất kỳ lúc nào cũng không được quên, không được vứt bỏ. Khi ngươi tiêu cực, yếu đuối, khi ngươi cảm thấy bản thân không có hy vọng, khi ngươi rơi vào hoàn cảnh khó khăn, bị cách chức, bị tỉa sửa, gặp bất lợi, thất bại, khi ngươi bị chỉ trích, bị lên án, hoặc khi ngươi đang thăng quan tiến chức thuận lợi, được đánh giá cao, được khen ngợi ở khắp mọi nơi, v.v., bất kể vào lúc nào, bất kể trong bối cảnh nào, ngươi đều phải suy nghĩ một chút về câu nói này. Hãy để nó đưa ngươi đến trước mặt Đức Chúa Trời, tìm kiếm sự chu cấp của lời Ngài cho ngươi ngay lúc đó, hãy để lời Ngài giúp ngươi thoát khỏi khốn cảnh, giải quyết những khó khăn của ngươi, giải quyết những nghi hoặc sâu thẳm trong nội tâm ngươi, xoay chuyển con đường sai lầm mà ngươi đang đi, cũng như giải quyết những vi phạm của ngươi, giải quyết sự cương ngạnh, phản nghịch của ngươi, v.v.. Hãy để lời Ngài giải quyết mọi vấn đề mà ngươi đang phải đối mặt. Câu nói này đối với các ngươi quá hữu dụng! Khi ngươi quên đi trách nhiệm, bổn phận của mình là gì, quên đi nguyên tắc mình nên tuân thủ là gì, quên đi lập trường, góc độ và thân phận địa vị mà mình nên giữ là gì, thì hãy nghĩ đến câu nói này, nó sẽ đưa ngươi đến trước mặt Đức Chúa Trời, bước vào lời Ngài. Nó cũng sẽ dẫn dắt ngươi hiểu tâm ý của Đức Chúa Trời vào thời điểm đó là gì, sẽ cho ngươi đứng ở lập trường, quan điểm, góc độ đúng đắn để nhìn nhận bản thân, nhìn nhận người khác, nhìn nhận sự việc, hoàn cảnh xảy ra trước mắt. Như vậy, dưới sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời, dưới sự chu cấp, khai sáng và giúp đỡ của lời Ngài, không có vấn đề gì có thể làm khó ngươi, không có vấn đề gì có thể cản trở ngươi mưu cầu lẽ thật, cản trở bước tiến của ngươi. Đây có phải là con đường thực hành hay không? (Thưa, phải.) Bài học mà bây giờ các ngươi nên học nhất không phải là khi gặp chuyện thì phàn nàn, oán trách, tuân thủ quy định, hoặc tìm kiếm cách thức và phương pháp của con người, mà là đến trước mặt Đức Chúa Trời để tìm kiếm lẽ thật, tìm kiếm sự giúp đỡ của Ngài, để lời Ngài chu cấp cho ngươi và giải quyết mọi khó khăn của ngươi, đó là bài học mà các ngươi nên học. Về việc nhận biết Đức Chúa Trời đã triển khai công tác quan trọng nhất trong kế hoạch quản lý của Ngài dưới bối cảnh con người bị Sa-tan làm bại hoại sâu sắc, chủ đề này chỉ thông công đến đây, cuối cùng vẫn là quy kết về lời Đức Chúa Trời. Dù thông công như thế nào, cuối cùng Ta vẫn hy vọng con người có thể đi vào thực tế lẽ thật của lời Đức Chúa Trời, chứ không phải thỏa mãn với việc biết giảng câu chữ và đạo lý, cũng không phải mỗi ngày học lý luận thần học hoặc làm nghi thức tôn giáo. Bước vào thực tế lời Đức Chúa Trời đối với con người mà nói là một bài học cấp thiết nhất để con người bước vào sự sống.