Chức trách của lãnh đạo và người làm công (25) Tiểu mục 1

Mục 14. Kịp thời phân định, thanh trừ và khai trừ các loại kẻ ác và kẻ địch lại Đấng Christ (Phần 4)

Tiêu chuẩn và căn cứ để phân định các loại kẻ ác khác nhau

Hôm nay, chúng ta tiếp tục mối thông công về chức trách thứ 14 của lãnh đạo và người làm công: “Kịp thời phân định, thanh trừ và khai trừ các loại kẻ ác và kẻ địch lại Đấng Christ”. Vài lần trước, chúng ta đã thông công về một số nội dung mà lãnh đạo và người làm công nên phân định, cũng như những lẽ thật chính mà họ nên hiểu, khi thực hiện công tác này; nghĩa là, chúng ta đã thông công về cách phân định các loại kẻ ác. Các loại kẻ ác được định nghĩa như thế nào? Chính là những người lấy danh nghĩa tin Đức Chúa Trời mà lẻn vào nhà Đức Chúa Trời, nhưng không tiếp nhận lẽ thật, lại còn có thể gây nhiễu loạn công tác của hội thánh; tất cả những người như vậy được xếp vào loại kẻ ác. Họ là những người mà hội thánh nên thanh trừ hoặc khai trừ; nghĩa là, họ không được phép tồn tại trong hội thánh. Chúng ta dùng ba điều chính làm tiêu chuẩn để phân chia và mổ xẻ các loại kẻ ác. Ba điều này là gì? Điều đầu tiên là mục đích khi tin Đức Chúa Trời. Điều thứ hai là nhân tính – bằng cách mổ xẻ nhân tính của một người, chúng ta có thể phân định và thấy rõ liệu họ có phải là người mà hội thánh nên thanh trừ không. Điều thứ ba là gì? (Thưa, là thái độ đối với bổn phận.) Thái độ đối với bổn phận chính là điều thứ ba. Trước đây, chúng ta đã thông công về điều đầu tiên rồi. Đối với điều thứ hai – nhân tính – đã thông công được hai điểm. Điểm đầu tiên là gì? (Thưa, là thích đâm bị thóc, chọc bị gạo.) Còn điểm thứ hai? (Thưa, là thích chiếm lợi.) Xét từ nội dung của hai điểm này, có vẻ như không đủ để coi đây là biểu hiện của kẻ ác, nhưng dựa trên biểu hiện chi tiết mà Ta đã thông công trước đây thì hai loại người này đã tin Đức Chúa Trời trong nhiều năm nhưng vẫn chưa thực sự hối cải; đủ loại biểu hiện của họ đã gây ra sự nhiễu loạn và phá hoại đối với đời sống hội thánh, lối vào sự sống của dân được Đức Chúa Trời chọn, và mối quan hệ giữa những dân được Đức Chúa Trời chọn. Dựa vào các biểu hiện và chiếu theo thực chất bản tính của họ, hai loại người này nên được phân loại là kẻ ác. Lãnh đạo hội thánh và dân được Đức Chúa Trời chọn nên phân định và xác định tính chất họ, cũng như kịp thời thanh trừ họ. Làm như vậy có thích hợp không? (Thưa, có.) Hoàn toàn thích hợp. Biểu hiện của hai loại người này trong hội thánh có ảnh hưởng rất xấu; họ không hề có hứng thú với lẽ thật, cũng không hề thuận phục công tác của Đức Chúa Trời. Ở giữa anh chị em, những gì họ sống thể hiện ra dường như không khác gì người ngoại đạo; họ thường nói dối và lừa gạt người khác, làm bổn phận một cách qua loa chiếu lệ và không có chút trách nhiệm nào, cũng như không thay đổi mặc dù đã được cảnh báo nhiều lần. Họ không chỉ làm ảnh hưởng đến đời sống hội thánh mà còn gây nhiễu loạn nghiêm trọng công tác của hội thánh. Không nghi ngờ gì nữa, họ nằm trong số những người mà hội thánh nên thanh trừ hoặc khai trừ, và việc xác định tính chất họ là kẻ ác cũng như liệt họ vào hàng ngũ kẻ ác là hoàn toàn thích hợp, không hề quá đáng chút nào. Về loại đầu tiên, những người thích đâm bị thóc, chọc bị gạo, vấn đề của họ không chỉ đơn giản là nói những điều không thích hợp lắm hoặc gặp rào cản khi giao tiếp với người khác, v.v., mà còn có vấn đề về tâm tính. Ở mức độ sâu hơn, vấn đề về tâm tính là vấn đề về thực chất bản tính của họ. Ở mức độ nông hơn, đó là vấn đề về nhân tính của họ; nghĩa là, nhân tính của họ cực kỳ tồi tệ và đê tiện, khiến họ không có cách nào qua lại bình thường với người khác. Họ không những không có các biểu hiện tích cực như cung ứng, giúp đỡ, yêu thương, v.v. với người khác, mà mọi hành động và hành vi của họ chỉ gây nhiễu loạn, phá hoại, và phá huỷ. Nếu một số người từ đầu đến cuối toàn đâm bị thóc, chọc bị gạo, luôn làm như vậy dù lén lút hay công khai, gây ảnh hưởng rất xấu đến công tác của hội thánh và anh chị em, thì họ chính là những người mà hội thánh nên thanh trừ. Loại thứ hai là những người thích chiếm lợi. Bất kể trong tình huống nào, họ đều muốn chiếm lợi, mắt dán chặt vào lợi ích. Họ không chú trọng việc bước vào thực tế lẽ thật, cũng không chú trọng đến việc làm tốt bổn phận hay công tác mình đảm nhận. Họ càng không chú trọng vào việc hòa hợp bình thường với anh chị em, lấy mạnh bù yếu cho nhau và xây dựng các mối quan hệ bình thường, hoặc sống một đời sống hội thánh bình thường. Họ không chú trọng bất kỳ điều gì trong số này mà chỉ đến hội thánh và đến giữa anh chị em để kiếm lợi. Chỉ cần họ ở trong hội thánh, chỉ cần anh chị em tiếp xúc với họ, thì anh chị em sẽ cảm thấy không thoải mái. Anh chị em không chỉ cảm thấy phản cảm với hành động và hành vi của họ, mà chủ yếu là trong lòng thường cảm thấy bị quấy nhiễu và kìm kẹp ở mức độ đáng kể. “Mức độ đáng kể” có nghĩa là gì? Nghĩa là trong cuộc sống thực tế, khi bị kẻ chẳng tin hoặc kẻ ác quấy rối, một số người bị tình cảm kìm kẹp và không có cách nào thoát ra, trong khi những người khác dù thấy chướng mắt cũng không dám nói thẳng ra, mà luôn cảm thấy bị kìm kẹp và bất an trong lòng. Chẳng phải chuyện này gây ra sự nhiễu loạn nghiêm trọng cho anh chị em sao? (Thưa, phải.) Cho nên, dân được Đức Chúa Trời chọn phải phân định hai loại người này; hễ là kẻ ác thì đều nên bị hội thánh thanh trừ. Các nguyên tắc cụ thể để xử lý những người này đã được thông công trong buổi nhóm họp lần trước, nên lần này Ta sẽ không thông công chi tiết nữa. Tóm lại, hai loại người được thông công ở trên đã gây nhiễu loạn không chỉ đến đời sống hội thánh của anh chị em, mà còn đến việc làm bổn phận một cách có trật tự của anh chị em; hành vi của một vài người trong số họ thậm chí có thể khiến một vài người mới tin và chưa có nền tảng bị vấp ngã. Cho nên, xét phương thức và phương pháp họ hành động, cũng như đủ loại biểu hiện trong nhân tính của họ và mọi hậu quả xấu mà những biểu hiện này gây ra, thì hai loại người này chính là đối tượng mà hội thánh nên thanh trừ, và việc liệt họ vào hàng ngũ kẻ ác là không hề quá đáng. Mặc dù hành vi của những người thích đâm bị thóc, chọc bị gạo và những người thích chiếm lợi có thể không ngang ngược hay hung ác như những kẻ ác trong quan niệm của con người, không có những biểu hiện rõ ràng này, nhưng vì những hậu quả xấu do hành vi và nhân tính của họ gây ra, nên hội thánh phải thanh trừ họ. Đây là những biểu hiện của hai loại người này, và các nguyên tắc xử lý họ, mà chúng ta đã thông công lần trước.

II. Dựa vào nhân tính

C. Phóng đãng và không chịu sự ràng buộc

Hôm nay, chúng ta tiếp tục thông công về biểu hiện của một vài loại người khác nằm trong chuyện nhân tính, bắt đầu với loại người thứ ba. Một đặc trưng chính trong nhân tính của những người này là gì? Chính là phóng đãng và không chịu sự ràng buộc. Phóng đãng và không chịu sự ràng buộc thì rất dễ hiểu về mặt nghĩa đen; có nghĩa là hành vi, cử chỉ, và lời lẽ của những người này có vẻ không có khuôn phép – họ không phải là người đàng hoàng và đứng đắn. Đây là hiểu biết tối thiểu về biểu hiện của những người thuộc loại này. Trong hội thánh, không thể tránh khỏi chuyện một vài người có những sai lệch và sai lầm trong quan điểm về việc tin Đức Chúa Trời và phương thức mưu cầu. Lời lẽ và cử chỉ của họ không có chút gì là sùng kính, biểu hiện trong cuộc sống và phẩm chất nhân tính của họ hoàn toàn không đạt đến thể thống của thánh đồ, họ cũng không có lòng kính sợ Đức Chúa Trời chút nào. Nhìn chung, lời lẽ, hành vi, và cử chỉ của họ chỉ có thể được mô tả là phóng đãng và không chịu sự ràng buộc. Tất nhiên, có rất nhiều biểu hiện cụ thể mà mọi người đều có thể nhìn thấy, cũng dễ dàng phân định. Những người này giống như những kẻ chẳng tin và người ngoại đạo; nói cụ thể là biểu hiện của họ đặc biệt phóng đãng. Trong các buổi nhóm họp, họ ăn mặc rất tùy tiện. Một số người không thèm chăm sóc cho bản thân gọn gàng trước khi ra khỏi nhà, họ đến các buổi nhóm họp trong tình trạng đầu bù tóc rối, tóc thì không chải, mặt thì không rửa. Một số người ăn mặc luộm thuộm, đi dép lê mòn rách hoặc thậm chí mặc đồ ngủ đến các buổi nhóm họp. Có những người thì sống luộm thuộm, không chú ý đến vệ sinh cá nhân, họ mặc quần áo bẩn đến các buổi nhóm họp mà cũng không thấy ngại. Họ tham gia các buổi nhóm họp một cách cực kỳ tùy tiện, như thể sang nhà hàng xóm chơi, chẳng coi trọng gì cả. Khi nhóm họp, lời lẽ và cử chỉ của họ cũng không chịu sự ràng buộc, họ nói to mà không có chút e dè nào, thậm chí khi nói đến lúc cao hứng thì kích động và múa may quay cuồng, đặc biệt phóng túng. Bất kể trước mặt bao nhiêu người, họ vẫn cười cười nói nói, khoa tay múa chân, ngồi vắt chéo chân và không coi ai ra gì; họ đặc biệt khoa trương, thậm chí là ngổ ngáo, khi nói chuyện với người khác thì không bao giờ nhìn thẳng vào mắt người ta mà chỉ liếc ngang liếc dọc. Làm như vậy chẳng phải là phóng đãng sao? (Thưa, phải.) Đặc biệt phóng túng và không có chút ràng buộc nào. Tất nhiên, người ngoại đạo cũng có thể quy những lời lẽ và cử chỉ của những người này là do không được dạy dỗ, nhưng chúng ta hiểu theo cách khác; đây không chỉ là vấn đề không được dạy dỗ. Là người trưởng thành thì phải biết rõ lời lẽ, cử chỉ và cách đối nhân xử thế như thế nào là đúng đắn và phù hợp – nhất là, phải biết làm như thế nào là phù hợp với thể thống thánh đồ, là đem lại sự gây dựng cho anh chị em, là điều mà nhân tính bình thường nên có – mà không cần được chỉ bảo. Nhất là khi sống đời sống hội thánh, tuy không cần phải ngụy trang trước mặt anh chị em, nhưng phải biết chịu sự ràng buộc. Vậy, mức độ và tiêu chuẩn cần đạt đến của sự ràng buộc này là gì? Chính là phù hợp với thể thống thánh đồ. Quần áo và cách ăn mặc phải đàng hoàng và đứng đắn, tránh ăn mặc quái dị, phải sùng kính trước mặt Đức Chúa Trời, không được khoa tay múa chân; tất nhiên, trước mặt người khác thì cũng phải sùng kính và có hình tượng giống con người, để mọi người cảm thấy thích hợp, có ích và đem lại sự xây dựng cho mọi người. Làm như vậy thì Đức Chúa Trời mới hài lòng. Những người phóng đãng và không chịu sự ràng buộc thì không hề để tâm đến việc sống thể hiện ra những khía cạnh cơ bản nhất của nhân tính. Một trong những lý do chắc chắn khiến họ không để tâm đến chính là về cơ bản thì họ không biết cách để làm một người sùng kính hoặc người có nhân cách và tôn nghiêm, đáng được tôn trọng; họ không hiểu những điều này. Cho nên, mặc dù hội thánh đã nhiều lần quy định và yêu cầu mọi người phải ăn mặc chỉnh tề, đàng hoàng và đứng đắn trong các buổi nhóm họp, không được ăn mặc quái dị, nhưng họ vẫn không coi trọng những quy tắc này, vẫn thường đến buổi nhóm họp với đôi dép lê, đầu tóc rối bù hoặc thậm chí với bộ đồ ngủ. Đây là một trong những biểu hiện của người phóng đãng và không chịu sự ràng buộc.

Một biểu hiện khác của những người phóng đãng và không chịu sự ràng buộc là họ ăn mặc rất thời thượng, trang điểm đậm và bắt mắt khi đến các buổi nhóm họp. Hai ngày trước buổi nhóm họp, họ bắt đầu trang điểm và làm đẹp, suy nghĩ xem nên trang điểm như thế nào, đeo đồ trang sức gì, chọn kiểu tóc gì, mặc trang phục nào, mang túi gì và đi giày nào. Thậm chí một số phụ nữ còn tô son, phấn mắt và phấn mũi rất bắt mắt, tệ hơn nữa, một số người còn ăn mặc và trang điểm theo cách hấp dẫn quá mức, để lộ vai và lưng, ăn mặc quái dị. Lúc nhóm họp, họ không chăm chú lắng nghe mối thông công của anh chị em, cũng không cầu nguyện, càng không tham gia thông công hoặc chia sẻ nhận thức và lời chứng trải nghiệm cá nhân của mình. Thay vào đó, họ so sánh mình với mọi người khác, quan tâm việc ai ăn mặc đẹp hơn họ, ai ăn mặc không bằng họ, ai đang mặc quần áo hiệu đặc biệt thịnh hành, ai đang mặc quần áo rẻ tiền mua ở vỉa hè, giá của chiếc vòng tay mà ai đó đang đeo, v.v., họ chỉ quan tâm đến những chuyện này, thậm chí thường xuyên so sánh một cách công khai. Xét từ cách ăn mặc cũng như lời lẽ, hành vi, và cử chỉ của những người này, rõ ràng họ tham gia vào đời sống hội thánh và tiếp xúc với anh chị em không phải để hiểu lẽ thật, càng không phải để mưu cầu lối vào sự sống nhằm đạt được sự thay đổi trong tâm tính, mà là để lợi dụng thời gian nhóm họp nhằm khoe khoang sự hưởng thụ tiền bạc và cuộc sống vật chất của họ. Một số người mặc toàn hàng hiệu tới những nơi nhóm họp để khoe khoang, buông thả hết mình vào dục vọng về thời trang và trào lưu xã hội giữa anh chị em, dụ dỗ người khác mưu cầu những trào lưu này, cũng như khiến người khác ghen tị và xem trọng họ. Mặc dù có thể thấy một số anh chị em có ánh mắt và thái độ phản cảm đối với họ, nhưng họ vẫn chẳng thèm để ý, cứ làm theo ý mình, đi giày cao gót và mang túi hiệu. Thậm chí một số người còn cố tỏ ra giàu có và nhiều tiền, dùng nước hoa kém chất lượng đến các buổi nhóm họp, nên sau khi họ bước vào phòng, mùi nước hoa, phấn má hồng và dầu dưỡng tóc hòa quyện tạo thành một mùi hăng và khó chịu. Rất nhiều người tức giận nhưng không dám nói ra, trông thấy họ là ghê tởm, còn những người thật lòng tin Đức Chúa Trời thì tránh xa họ. Cho dù trang phục và cách trang điểm của họ thiên về sang trọng hay thiên về thoải mái, thì tóm lại đặc trưng của những người này là lời lẽ, hành vi, cử chỉ, và lối sống của họ đặc biệt tự do và bừa bãi không chỉ trong các buổi nhóm họp mà còn trong sự tiếp xúc hằng ngày với anh chị em hoặc trong cuộc sống thường ngày của họ. Nói một cách chính xác, họ đặc biệt phóng túng, không chịu bất kỳ sự ràng buộc nào. Sinh hoạt không có quy luật; muốn nói gì thì nói, hành động tuỳ tiện và bừa phứa, không bao giờ nói về trải nghiệm cá nhân, hiếm khi chia sẻ nhận thức của mình về lời Đức Chúa Trời và hầu như không nói về những khó khăn gặp phải khi làm bổn phận. Họ chỉ nói về những điều gì? Trào lưu xã hội, thời trang, món ngon, cuộc sống riêng tư của những người nổi tiếng và thậm chí là các ngôi sao, cũng như những giai thoại kỳ lạ trong xã hội. Từ những sự bộc lộ tự nhiên này, không khó để thấy ra loại người này tin Đức Chúa Trời chỉ để sống qua ngày. Cuộc sống của họ tập trung hoàn toàn vào việc ăn, uống và vui chơi, thay vì vào những chuyện như sống đời sống hội thánh, làm bổn phận, hoặc mưu cầu lẽ thật. Cái gọi là “phóng đãng và không chịu sự ràng buộc” chính là nói đến chuyện lối sống của những người này, những gì họ sống thể hiện ra trong nhân tính, cũng như cách họ xử sự, cách họ đối nhân xử thế và qua lại với người khác, đều phóng đãng và không chịu sự ràng buộc. Họ thường bắt chước những cách nói thịnh hành trong xã hội; bất kể anh chị em có thích nghe hoặc có hiểu được hay không, họ vẫn cứ nói. Thậm chí, họ còn hay bắt chước lời của một số người nổi tiếng trong xã hội, cũng như ngôi sao âm nhạc và điện ảnh. Còn một số từ vựng tích cực thường mà nhà Đức Chúa Trời và anh chị em thường dùng thì họ lại chẳng bao giờ thấy hứng thú; họ chẳng bao giờ thông công về lẽ thật trong cuộc sống hằng ngày. Những gì họ sùng bái là trào lưu của thế gian; nhiều nhân vật và ngôi sao nổi tiếng là đối tượng mà họ sùng bái và bắt chước. Chẳng hạn như, họ nhanh chóng nắm bắt được một số từ ngữ và cách nói phổ biến trên mạng và áp dụng vào cuộc sống cũng như trong các cuộc trò chuyện với anh chị em. Tất nhiên, những từ ngữ này chắc chắn không phải là thứ tích cực có thể đem lại sự xây dựng cho người khác; những từ ngữ này đều là thứ tiêu cực, càng không có bất kỳ giá trị hoặc ý nghĩa nào đối với người tin Đức Chúa Trời. Những cách nói thịnh hành này thuộc về nhân loại bại hoại và tà ác, hoàn toàn đại diện cho tư tưởng và quan điểm của thế lực tà ác. Những kẻ chẳng tin trong hội thánh vốn thích trào lưu tà ác, thường để ý, tiếp nhận và sử dụng những lời nói này. Đối với những thuật ngữ và từ vựng thuộc linh của nhà Đức Chúa Trời, thì họ hoàn toàn nghe không vào, cũng không để tâm lắng nghe hoặc học hỏi. Ngược lại, họ học và vận dụng rất nhanh những thứ tiêu cực của thế giới ngoại đạo, và những thứ mà kẻ cặn bã chú ý đến. Do đó, dù xét theo cách ăn mặc bên ngoài, lời lẽ, và cử chỉ, hay là xét theo những suy nghĩ và quan điểm, cũng như thái độ đối với mọi sự mà họ bộc lộ, thì những người này rõ ràng là thứ lạc loài giữa anh chị em. Lạc loài có nghĩa là gì? Nghĩa là lời lẽ, hành vi, và cử chỉ của họ giống như của người ngoại đạo, chẳng thay đổi chút nào; họ chính là những kẻ chẳng tin. Ví dụ, có một số người hát hai bài thánh ca trên sân khấu nhà Đức Chúa Trời và được mọi người khen ngợi, thế là họ bắt đầu nghĩ mình là ngôi sao hoặc người nổi tiếng, luôn yêu cầu trang điểm đậm khi biểu diễn, khăng khăng phải để kiểu tóc của một người nổi tiếng nào đó và nhuộm tóc thành màu kỳ quái. Khi người khác nói: “Người tin Đức Chúa Trời phải ăn mặc đàng hoàng và đứng đắn; phong cách của chị không phù hợp với yêu cầu của nhà Đức Chúa Trời”, thì họ phàn nàn rằng: “Quy định của nhà đức chúa trời quá nghiêm ngặt; thật sự phiền phức! Tại sao muốn làm một ngôi sao lại khó khăn đến vậy?”. Sau khi hát xong hai bài thánh ca, họ tự cho mình là ngôi sao ghê gớm lắm, mỗi khi rảnh rỗi đều nghĩ: “Những ngôi sao ngoại đạo dùng bao nhiêu ngón tay để cầm micrô khi hát? Họ bước bao nhiêu bước để lên sân khấu? Tại sao mình hát hay như vậy mà không được tặng hoa? Các ngôi sao trên thế giới đều có người quản lý và trợ lý; họ không cần tự mình xử lý hoặc đối phó với mấy chuyện xoàng xĩnh, trợ lý của họ làm hết. Còn mình làm ca sĩ trong nhà đức chúa trời, thì phải xử lý mọi chuyện vụn vặt của cuộc sống như lấy thức ăn, mặc quần áo, và mua đồ. Nhà đức chúa trời quá bảo thủ rồi!”. Trong lòng, họ luôn cảm thấy sống trong nhà Đức Chúa Trời chẳng vui, đặc biệt ấm ức, luôn không cam tâm và trong lòng chất chứa oán trách. Những người như vậy có thể yêu thích lẽ thật không? Họ sẽ thực hành lẽ thật sao? Tại sao họ không tự phản tỉnh? Quan điểm của họ về mọi thứ rất méo mó, giống như quan điểm của người ngoại đạo; sao họ không thể nhận ra vậy? Nhà Đức Chúa Trời không ngăn cản họ trở thành ngôi sao, nhưng những quan điểm và cách làm theo kiểu kẻ chẳng tin của họ mà làm trong nhà Đức Chúa Trời thì có ổn không? Về cơ bản là không thể nào ổn được. Lời lẽ và cử chỉ bình thường của họ khiến hầu hết mọi người cảm thấy khinh thường. Bởi vì những người này “suy nghĩ cởi mở” và đặc biệt phóng túng, nên họ nói gì, làm gì cũng đều phóng đãng và không chịu sự ràng buộc, đều bộc lộ tâm tính của Sa-tan.

Nhà Đức Chúa Trời nhiều lần nhấn mạnh rằng anh chị em nên phân rõ ranh giới giữa nam và nữ, không được vướng mắc với người khác giới. Tuy nhiên, một số người phóng đãng và không chịu sự ràng buộc thì không hề nghe theo lời khuyên này, họ còn muốn lén lút tán tỉnh hoặc hẹn hò với người khác, gây nhiễu loạn đời sống hội thánh. Họ thích tiếp xúc với người khác giới, thậm chí tìm lý do hoặc lấy cớ để tiếp xúc và trêu đùa với người khác giới. Khi thấy người khác giới nào hấp dẫn hoặc nói chuyện hợp ý, họ bắt đầu hở ra là lôi lôi kéo kéo, liếc mắt đưa tình, kéo quần áo và giật tóc, thậm chí ném bóng tuyết vào quần áo người đó vào mùa đông; họ đùa giỡn với nhau như chó mèo chơi đùa, không có chừng mực hay liêm sỉ, không cảm thấy xấu hổ. Có một số người nói: “Sao có thể gọi là chơi đùa được? Họ đang thể hiện tình cảm; đó gọi là tình tứ, lãng mạn”. Nếu muốn lãng mạn thì ngươi chọn nhầm nơi rồi. Hội thánh là nơi anh chị em làm bổn phận, là nơi thờ phượng Đức Chúa Trời, không phải nơi liếc mắt đưa tình. Ngươi liếc mắt đưa tình công khai như vậy trước mặt mọi người khiến hầu hết mọi người thấy phản cảm và ghê tởm. Điều quan trọng là làm vậy không đem lại sự xây dựng cho người khác, ngươi cũng đánh mất nhân cách và tôn nghiêm của mình. Ngươi bao nhiêu tuổi rồi? Ngươi không phân biệt được tay phải với tay trái sao? Ngươi không hiểu sự khác biệt giữa nam và nữ là gì sao? Thế mà ngươi vẫn liếc mắt đưa tình! Trẻ con bảy hoặc tám tuổi chơi đùa là chuyện bình thường; ở độ tuổi đó có hành động và sở thích như vậy là bình thường, nhưng người lớn mà vẫn còn biểu hiện như vậy thì chẳng phải là ấu trĩ sao? Nói một cách đơn giản, thì làm như vậy là ấu trĩ. Xét về thực chất thì đây là gì? (Thưa, là phóng túng và phóng đãng.) Quá phóng đãng rồi! Tin Đức Chúa Trời thì phải biết xấu hổ. Ngay cả trong những người ngoại đạo cũng có rất ít người phóng đãng như vậy. Những người phóng đãng như vậy thật phù phiếm và hèn hạ! Họ ném bóng tuyết vào quần áo của người khác giới để gây kích thích, không chỉ đuổi bắt và chơi đùa, mà còn đá vào mông người khác giới. Có người vạch trần rằng việc họ làm là quá phóng đãng và không phân biệt ranh giới giữa nam và nữ, thì họ đáp trả: “Chúng tôi vì quá thân thiết nên mới chơi đùa như vậy; mọi người nên hiểu cho.” Họ phóng túng đến mức độ như vậy, không chỉ phóng túng bản thân mà còn dụ dỗ người khác cùng phóng túng với họ. Họ là thứ gì vậy? Các ngươi nói xem, những người như vậy có nên được ở lại trong hội thánh không? (Thưa, không nên.) Ở gần loại người này sẽ khiến mọi người luôn không thoải mái và gượng gạo. Khi gặp người khác, họ không chào hỏi theo cách thông thường, mà đến đấm người đó và nói: “Mấy năm nay anh ở chỗ quái nào thế? Tôi nghĩ anh đã bốc hơi rồi! Dạo này anh thế nào?”. Ngay cả cách họ chào hỏi cũng man rợ và ngổ ngáo, không chỉ nói năng man rợ mà còn dùng tay chân, chẳng phải có chút giống côn đồ hoặc kẻ cướp sao? Các ngươi có thích những người như vậy không? (Thưa, không thích.) Có thoải mái khi bị trêu chọc và đùa giỡn không? (Thưa, không thoải mái.) Ngươi không thoải mái nhưng không thể nói ra; chỉ có thể chịu đựng, lần sau thấy họ thì tránh xa. Tóm lại, phẩm chất nhân tính của loại người này như thế nào? (Thưa, không tốt.) Bất kể nhìn nhận theo mặt nào – dù là lời lẽ và cử chỉ, cách hành xử, cách họ đối nhân xử thế, cách nhìn nhận của họ về các trào lưu ngoại đạo, hoặc cách họ tin Đức Chúa Trời cũng như cách họ đối đãi với Đức Chúa Trời và với lời Ngài – không khó để thấy rằng những người này không hề có chút sùng kính hay lòng kính sợ Đức Chúa Trời nào. Người ta cũng không thấy được họ có bất kỳ sự chân thành nào trong việc mưu cầu hoặc tiếp nhận lẽ thật khi tin Đức Chúa Trời. Thứ mà mọi người thấy là sự phóng đãng và không chịu sự ràng buộc của họ, việc họ liên tục bắt chước các ngôi sao và thần tượng, cũng như việc họ không có ý định xoay chuyển dù được thông công lẽ thật như thế nào. Những đặc trưng về nhân tính của họ quy kết lại là gì? Là phóng đãng và không chịu sự ràng buộc. Cho nên, chúng ta có thể khẳng định rằng họ là những người ngoại đạo trà trộn vào nhà Đức Chúa Trời; họ là kẻ chẳng tin.

Người phóng đãng và không chịu sự ràng buộc khi nói chuyện thì dùng từ giống như thổ phỉ và lưu manh ngoại đạo; họ đặc biệt thích bắt chước cách nói và phong cách của các ngôi sao và nhân vật phản diện trong xã hội, hầu hết lời nói của họ đều có tính vô lại, khiến người ta cảm thấy giống như lời nói của lưu manh, côn đồ. Ví dụ, một người ngoại đạo đến, sau khi gõ cửa thì thốt ra vài lời kỳ quái, anh chị em nghe thấy liền bảo: “Có gì đó không đúng; tại sao người này có vẻ giống do thám hay đặc vụ vậy?”. Mặc dù lúc đó họ không thể chắc chắn, nhưng hầu hết mọi người đều cảm thấy bất an trong lòng. Tuy nhiên, người phóng đãng và không chịu sự ràng buộc lại nói một cách rất hùng hồn, còn có cả khí thế, rằng: “Do thám hả? Chẳng sợ! Tại sao phải sợ? Nếu sợ thì anh không cần ra ngoài. Để tôi đi xem có chuyện gì”. Hãy xem họ can đảm và có khí phách làm sao. Các ngươi có nói như vậy không? (Thưa, không. Đây không phải là lời của người bình thường, mà giống lời của thổ phỉ.) Thổ phỉ nói khác với người bình thường; họ đặc biệt ngang ngược. Người thuộc loại nào thì học ngôn ngữ thuộc loại đó; người trong xã hội chuyên môn sử dụng ngôn ngữ thịnh hành trong xã hội, kẻ thổ phỉ và lưu manh thì thích nói tiếng lóng của họ, kẻ chẳng tin thì giống như người ngoại đạo, toàn nói lời mà người ngoại đạo nói. Những người tốt, đàng hoàng và đứng đắn mà nghe lời nói của người ngoại đạo thì cảm thấy ghê tởm và chán ghét; chẳng ai cố gắng học theo loại lời nói đó. Một số kẻ chẳng tin, ngay cả khi đã tin Đức Chúa Trời mười hoặc hai mươi năm, vẫn nói lời lẽ của người ngoại đạo, họ chuyên môn tìm những lời như vậy mà nói, thậm chí khi nói còn bắt chước cử chỉ, ánh mắt, thần thái cũng như điệu bộ của người ngoại đạo. Liệu những người như vậy có thể khiến anh chị em trong hội thánh vừa mắt không? (Thưa, không.) Hầu hết anh chị em đều không thấy vừa mắt và trong lòng không thoải mái khi nhìn thấy họ. Các ngươi nói xem, Đức Chúa Trời cảm thấy như thế nào về họ? (Thưa, thấy chán ghét.) Câu trả lời rất rõ ràng: chán ghét. Xét từ cách họ sống thể hiện ra, điều họ mưu cầu, cũng như những con người, sự việc và sự vật mà họ sùng bái trong lòng, thì nhân tính của họ không đàng hoàng, đứng đắn, còn lâu mới đạt đến sự sùng kính và phù hợp với thể thống thánh đồ. Rất hiếm khi nghe từ miệng họ những lời mà người tin Đức Chúa Trời hoặc các thánh đồ nên nói, những lời đem lại sự xây dựng cho người khác cũng như những lời có nhân cách và tôn nghiêm; rất khó để nghe được những lời này. Bởi vì những gì họ sùng bái, khao khát, và mưu cầu trong lòng căn bản chẳng ăn nhập gì với những gì các thánh đồ nên mưu cầu và khao khát, cho nên rất khó để ràng buộc những gì họ sống thể hiện ra bên ngoài, cũng như lời lẽ và cử chỉ bên ngoài của họ. Nếu yêu cầu họ chịu sự ràng buộc, không phóng đãng hay phóng túng, cũng như trở nên đàng hoàng và đứng đắn thì họ sẽ rất khó đạt đến. Chưa nói đến việc sống như một người có nhân tính và lý trí, hiểu lẽ thật và bước vào thực tế lẽ thật, ngay cả bảo họ làm một người bình thường, phù hợp với thể thống thánh đồ, có nhân cách và tôn nghiêm, biết khuôn phép và bề ngoài có vẻ có lý tính, thì họ cũng không đạt đến được. Trước đây, có một người về nông thôn để rao truyền phúc âm. Khi thấy một số anh chị em có điều kiện gia đình nghèo khó và sống trong những ngôi nhà tồi tàn, anh ta đã mỉa mai và chế giễu rằng: “Ngôi nhà này đổ nát như vậy rồi, không thích hợp cho người ở; làm chuồng lợn thì còn được. Mau dọn ra ngoài thôi!”. Người ta đáp lại: “Dọn ra thì dễ, nhưng ai sẽ cho chúng tôi ngôi nhà khác để ở?”. Anh ta nói mà không nghĩ đến hậu quả, chỉ theo ý mình, nghĩ gì nói nấy mà không cân nhắc xem nó sẽ ảnh hưởng thế nào đến người khác. Đây chính là tính vô lại. Khi người ta nói: “Khi chúng tôi dọn ra, ai sẽ cho chúng tôi ngôi nhà để ở? Anh có nhà không?”, thì anh ta không nói được gì cả. Khi thấy người ta gặp khó khăn, ngươi phải có thể giải quyết được khó khăn của họ thì mới nói chứ. Ngươi không giải quyết được khó khăn của người ta, lại còn nói năng bừa bãi, vậy sẽ dẫn đến hậu quả gì? Đây là vấn đề nói năng thẳng thắn và bộc trực quá mức sao? Hoàn toàn không phải. Đây là tính vô lại quá nghiêm trọng; phóng đãng và không chịu sự ràng buộc. Loại người này hoàn toàn không hiểu cái gì là nhân cách, tôn nghiêm, sự cảm thông, bao dung, bảo vệ, tôn trọng, thấu hiểu, đồng cảm, thương xót, quan tâm, giúp đỡ, v.v.. Những thứ thiết yếu trong nhân tính bình thường này là những gì con người đều nên có. Họ chẳng những không có những điều này, mà khi tiếp xúc người khác, khi thấy người gặp khó khăn, họ còn có thể cười nhạo, chế giễu, châm biếm, và chê cười. Họ không những không thể thông hiểu hoặc giúp đỡ người khác, mà còn có thể mang lại nỗi buồn đau, bất lực, đau khổ, và thậm chí là phiền phức cho người khác. Đối với những người có tính vô lại nghiêm trọng như vậy, hầu hết mọi người đều thấy rõ ràng, còn phải chịu đựng họ hết lần này đến lần khác. Các ngươi nói xem, những người như vậy có thể thực sự hối cải không? Ta thấy là không dễ đâu. Xét từ thực chất bản tính của họ, họ không phải là người yêu mến lẽ thật, vậy làm sao họ có thể tiếp nhận sự tỉa sửa và sửa dạy đây? Khi mô tả loại người này, người ngoại đạo có những từ ngữ như “việc ta ta làm” hoặc “đường ta ta đi, ai nói mặc kệ” – đây là loại logic vô lý gì vậy? Những cái được gọi là danh ngôn và thành ngữ này thường được coi là những điều tích cực trong xã hội này, như vậy là có chút bóp méo sự thật và đảo ngược trắng đen. Biểu hiện trong nhân tính của những người phóng đãng và không chịu sự ràng buộc về cơ bản là những điều này.

Bất kể những người phóng đãng và không chịu sự ràng buộc này có gây ảnh hưởng đến đời sống hội thánh, các mối quan hệ bình thường giữa anh chị em, hay việc làm bổn phận bình thường của dân được Đức Chúa Trời chọn hay không, tóm lại, chỉ cần biểu hiện và sự bộc lộ về nhân tính của họ gây ra ảnh hưởng và hậu quả xấu, gây nhiễu loạn anh chị em, thì những vấn đề như vậy nên được giải quyết, những người như vậy nên được xử lý thích đáng, không được buông lỏng mặc kệ họ. Đối với những trường hợp nhẹ, chúng ta có thể giúp đỡ và hỗ trợ họ, hoặc tỉa sửa và cảnh cáo họ. Đối với những trường hợp nghiêm trọng, nếu hành vi và cử chỉ của họ đặc biệt phóng đãng, giống như của người ngoại đạo hoặc kẻ chẳng tin, không có chút thể thống thánh đồ nào, thì lãnh đạo và người làm công trong hội thánh nên đưa ra những phương án giải quyết tương ứng để xử lý những người này. Nếu điều kiện cho phép, chỉ cần đa số anh chị em đồng ý, thì nên thanh trừ những người này; ít nhất, không nên cho phép họ ở lại hội thánh toàn thời gian để làm bổn phận. “Đối với những trường hợp nhẹ” là nói đến điều gì? Nghĩa là một số người mới tin Đức Chúa Trời, họ vốn là người ngoại đạo, chưa từng tin theo Cơ Đốc giáo và không hiểu tin Đức Chúa Trời có nghĩa là gì. Lời lẽ và cử chỉ của họ cho thấy tập tính của người ngoại đạo. Tuy nhiên, thông qua việc đọc lời Đức Chúa Trời, thông công lẽ thật, và sống đời sống hội thánh, họ dần dần xoay chuyển và thay đổi, trở nên giống như những người tin Đức Chúa Trời, có chút hình tượng giống con người. Không nên quy những người này vào hàng ngũ kẻ ác, mà nên quy vào đối tượng có thể được giúp đỡ. Loại thứ hai là những người trẻ tuổi khoảng hai mươi tuổi. Mặc dù đã tin Đức Chúa Trời ba đến năm năm, nhưng vì tuổi đời còn trẻ nên họ vẫn ham chơi, không ổn định lắm, lời nói và cử chỉ bề ngoài của họ có chút ấu trĩ – cách nói, hành vi, cách làm, đủ thứ của họ đều giống như trẻ con. Với những người này, chúng ta nên giúp đỡ và hỗ trợ họ bằng tình yêu thương, cho họ đủ thời gian để thay đổi dần dần, không cần yêu cầu quá nghiêm ngặt. Tất nhiên, nếu người trưởng thành đã tin Đức Chúa Trời nhiều năm, nhưng lời lẽ, cử chỉ, hành vi, và biểu hiện của họ vẫn phóng đãng và không chịu sự ràng buộc như những người ngoại đạo, dạy mãi không sửa, thì phải tiếp cận theo cách khác; phải xử lý họ theo quy định của nhà Đức Chúa Trời. Nếu lời lẽ, cử chỉ, và sự bộc lộ về nhân tính của người này gây nhiễu loạn đa số mọi người và gây ra ảnh hưởng xấu trong hội thánh, khiến nhiều người nhìn thấy thì thấy ác cảm, không muốn nghe họ nói, không muốn nhìn thấy biểu cảm của họ khi nói, cũng không muốn nhìn thấy cách họ ăn mặc, và họ mà không đến nhóm họp thì hầu hết mọi người đều thấy vui vẻ hơn và có trạng thái tốt hơn, chỉ cần những người này tham gia đời sống hội thánh, gia nhập vào giữa anh chị em, thì đa số mọi người sẽ cảm thấy không thoải mái và ác cảm, như thể có con rệp đang quấy rối họ, thì những người như vậy chắc chắn là kẻ ác. Nghĩa là, bất cứ khi nào họ sống đời sống hội thánh và làm bổn phận cùng anh chị em, thì đa số mọi người đều bị gây nhiễu loạn và cảm thấy đặc biệt ác cảm. Trong những trường hợp như vậy, thì nên xử lý loại người này càng sớm càng tốt, không nên để mặc họ làm gì tùy thích hay tiếp tục chú ý quan sát họ. Ít nhất, nên thanh lọc họ khỏi hội thánh toàn thời gian và gửi họ đến một hội thánh bình thường để họ hối cải. Tại sao lại xử lý như vậy? (Thưa, vì họ đã gây ra sự nhiễu loạn và hậu quả xấu cho hầu hết mọi người, gây nhiễu loạn đời sống hội thánh.) Bởi vì hậu quả và ảnh hưởng do những biểu hiện của họ gây ra quá tồi tệ! Dựa trên điều này, lãnh đạo và người làm công, cũng như dân được Đức Chúa Trời chọn, không nên nhắm mắt làm ngơ và một mực dung túng cho hành vi của họ. Lãnh đạo và người làm công không xử lý ngay cả khi những người như vậy gây nhiễu loạn cho phần lớn mọi người, như vậy là không thích hợp; những người này nên bị thanh lọc khỏi hội thánh theo quy định của nhà Đức Chúa Trời. Như vậy là lựa chọn sáng suốt nhất.

Trước đây, hội thánh đã từng xử lý những người phóng đãng và không chịu sự ràng buộc chưa? (Thưa, đã từng.) Khi những người như vậy bị xử lý, có người đã khóc và nói rằng: “Tôi không cố ý. Tôi chỉ thỉnh thoảng có biểu hiện như vậy thôi; tôi không phải là loại người đó. Xin hãy cho tôi một cơ hội nữa! Nếu không để tôi làm bổn phận, tôi về nhà rồi thì sẽ không có cách nào tin đức chúa trời, mọi người ở nhà tôi đều là người ngoại đạo”. Họ nói rất dễ nghe và có vẻ thực sự khổ sở, nói rằng mình không sẵn lòng rời xa Đức Chúa Trời và cầu xin nhà Đức Chúa Trời cho họ một cơ hội khác để hối cải. Cho họ thêm một cơ hội nữa cũng được thôi, nhưng điều quan trọng là họ có thể thay đổi hay không. Nếu thấy rõ rằng người này không có chút nhân tính nào, không có lương tâm hay lý trí, về cơ bản họ là thứ không có tâm và không có linh, thì không nên cho họ cơ hội khác; làm như vậy cũng vô ích. Tuy nhiên, nếu thấy bản chất của người này tốt, chỉ là nhân tính của họ chưa chín chắn do tuổi còn trẻ, và họ chắc chắn sẽ thay đổi trong vài năm nữa, thì phải cho họ cơ hội để hối cải và tuyệt đối không được thanh trừ họ khỏi hội thánh; không thể huỷ hoại bất kỳ người tốt nào. Có những người sinh ra đã là kẻ chẳng tin, bẩm sinh đã là thứ phóng đãng, vô tri và ngu muội, bẩm sinh trong nhân tính đã không có khái niệm liêm sỉ, không biết xấu hổ là gì. Người bình thường mà làm chuyện không lịch sự ở nơi công cộng thì cảm thấy hối hận và xấu hổ khi gặp người khác. Hơn nữa, khi họ muốn làm những chuyện như vậy, họ có thể suy xét đến cảm xúc và cách nhìn của anh chị em, cũng như nhân cách và tôn nghiêm của chính mình, nên họ sẽ không làm như vậy; có lẽ họ chỉ làm ầm ĩ ở nhà với con cái hoặc anh chị em của mình. Khi ra ngoài và tiếp xúc với người ngoài, người ta phải biết thế nào là liêm sỉ, thể diện, khuôn phép, và tôn nghiêm. Một người ngay cả những khái niệm này cũng không hiểu, dù có được ngươi giúp đỡ, liệu họ có thể thay đổi được không? Cho dù bây giờ họ chịu sự ràng buộc, nhưng họ có thể chịu được bao lâu? Chẳng bao lâu sau, họ lại ngựa quen đường cũ. Bởi vì nhân tính của loại người này không có tôn nghiêm và liêm sỉ, không hiểu khuôn phép, thể diện, hay thể thống thánh đồ là gì, và nhân tính của họ bẩm sinh đã không có những thứ này, nên ngươi không có cách nào giúp đỡ họ được. Người không ai giúp đỡ nổi là người không có cách nào thay đổi, không thể giáo dục hay cảm hoá được. Dạng người như vậy phải bị thanh lọc càng nhanh càng tốt, càng sớm càng tốt, để họ khỏi gây nhiễu loạn giữa anh chị em, khỏi làm mất mặt ở đây. Nhà của Đức Chúa Trời không cần bất kỳ ai chỉ để cho đủ số lượng. Nếu Đức Chúa Trời không cứu rỗi người nào, thì họ đến cho đủ số lượng cũng vô ích. Những người không được Đức Chúa Trời công nhận thì nên bị thanh trừ – người không nên cho ở lại nhà Đức Chúa Trời thì nên bị thanh lọc nhanh chóng, đừng để vì một người họ mà ảnh hưởng đến nhiều người khác, như vậy thì không công bằng với đa số mọi người. Nếu các ngươi nhìn thấu thực chất của loại người phóng đãng và không chịu sự ràng buộc, thì ngươi nên xử lý và thanh trừ họ càng sớm càng tốt, không thể một mực dung túng họ. Một số người nói: “Thỉnh thoảng họ làm bổn phận cũng có kết quả. Phương diện công tác đó vẫn cần họ. Họ cũng có chút tình yêu thương và có thể trả giá một chút”. Trong số những người còn lại trong nhà Đức Chúa Trời, ai không thể trả giá một chút chứ? Ai làm bổn phận mà không thể đạt được một vài kết quả chứ? Nếu ai cũng có thể đạt được một vài kết quả, thì tại sao chúng ta không chọn những người tốt, đàng hoàng và đứng đắn để làm bổn phận? Tại sao phải khăng khăng giữ cái loại vô lại, thổ phỉ và bộp chộp trong hội thánh toàn thời gian để họ gây nhiễu loạn? Tại sao phải khăng khăng giữ những kẻ chẳng tin sống như người ngoại đạo để họ đem sức lực phục vụ trong nhà Đức Chúa Trời? Nhà Đức Chúa Trời không thiếu người đem sức lực phục vụ; nhà Đức Chúa Trời chỉ muốn những người trung thực yêu thích lẽ thật, những người chính trực, và những người có thể mưu cầu lẽ thật, dâng mình cho Đức Chúa Trời.

Hầu hết những người hiện đang làm bổn phận đều đã tin Đức Chúa Trời hơn năm hoặc sáu năm, và đủ loại người đã bị tỏ lộ hoàn toàn trong khi làm bổn phận – hễ là kẻ chẳng tin, người hồ đồ, lãnh đạo giả, kẻ ác, và kẻ địch lại Đấng Christ thì đều bị tỏ lộ. Rất nhiều dân được Đức Chúa Trời chọn đã thấy rõ rằng hầu hết những người này là loại người dạy mãi không sửa, và đã gây ra sự nhiễu loạn và gián đoạn nghiêm trọng cho công tác của nhà Đức Chúa Trời. Đã đến lúc buộc phải thanh lọc những kẻ chẳng tin, kẻ ác và kẻ địch lại Đấng Christ này. Không thanh lọc họ thì sẽ ảnh hưởng đến sự vận hành trong công tác của hội thánh và việc mở rộng phúc âm vương quốc của Đức Chúa Trời. Không thanh lọc họ thì sẽ ảnh hưởng đến lối vào sự sống của dân được Đức Chúa Trời chọn; đời sống hội thánh sẽ tiếp tục bị gây nhiễu loạn và bất an. Cho nên, lãnh đạo và người làm công các cấp của hội thánh nên bắt đầu thanh lọc hội thánh theo tâm ý của Đức Chúa Trời và dựa vào lời Đức Chúa Trời. Ta thấy khá nhiều người chẳng có nhân tính gì cả. Trong các buổi nhóm họp, một số người làm đủ thứ trò quỷ quái, ngồi không ra ngồi, đứng không ra đứng. Họ để sẵn nước trà, điện thoại di động, kem dưỡng da và nước hoa một bên. Có vài người thích trông xinh đẹp thì liên tục soi gương và dặm lại lớp trang điểm, còn có người thì luôn uống nước, lướt điện thoại để đọc tin tức hoặc xem video ngoại đạo, khi nói năng và trò chuyện với mọi người thì ngồi vắt chéo chân, uốn người thành hai khúc, trông như con rắn, ngay cả hình dạng đàng hoàng cũng không có. Ta còn nghe nói có những người ban đêm về phòng ngủ thì nằm thẳng lên giường mà không cởi giày, ngủ mãi đến sáng. Sáng sớm mở mắt ra, họ không cầu nguyện hay tĩnh nguyện, mà việc đầu tiên là xem tin tức trên điện thoại di động. Đến giờ ăn mà thấy món ngon hoặc khi thấy thịt, thì họ sẽ ăn ngấu nghiến, không quan tâm người khác có được ăn hay không, chỉ cần họ no bụng là được, ăn xong lại đi ngủ ngay. Họ làm gì cũng chẳng có hình tượng giống con người, họ phóng đãng và không chịu sự ràng buộc hệt như người ngoại đạo, không có chút khuôn phép nào, cũng không nghe lời hay thuận phục gì, thật giống như súc sinh. Các ngươi nói xem, liệu loại người có tính vô lại nghiêm trọng như vậy có thể được cứu rỗi không? (Thưa, không.) Vậy họ tin Đức Chúa Trời còn có ý nghĩa gì không? Tố chất của họ kém đến nỗi không với tới được lẽ thật, vậy họ đọc lời Đức Chúa Trời thì có hiểu hay không? Họ không có chút khuôn phép làm người nào, thì khi đem sức lực phục vụ, liệu họ có đạt tiêu chuẩn hay không? Họ không có lương tâm và lý trí, thì khi nghe giảng đạo và thông công về lẽ thật, liệu họ có thể tiếp nhận hay không? (Thưa, không.) Loại người có biểu hiện như vậy căn bản không có chút nhân tính nào, còn nói gì đến chuyện đạt được lẽ thật chứ? Người không có nhân tính là súc sinh, là ma quỷ, là người chết không có linh, họ nghe mà không hiểu được lẽ thật, cũng không xứng để nghe lẽ thật. Bắt họ hiểu lẽ thật và đạt được lẽ thật giống như bắt vịt leo sào, bắt bò trèo cây – họ chẳng thể nào làm nổi! Trước đây, khi nói về những loại người là súc sinh, thì thường thêm từ “cẩu” trước từ “súc sinh”, gọi là “cẩu súc sinh”. Sau này, thông qua việc nuôi chó và tiếp xúc gần gũi với chó, Ta phát hiện ra rằng chó có những điều tốt nhất mà con người không có: Chúng biết khuôn phép, biết nghe lời và biết xấu hổ. Ngươi giới hạn phạm vi hoạt động của chúng, thì chúng sẽ chỉ hoạt động trong phạm vi đó, ngươi cấm nó đến chỗ nào thì chẳng bao giờ nó đến chỗ đó, không có ngoại lệ. Nếu vô tình vượt qua ranh giới, chúng sẽ nhanh chóng rút lui, vẫy đuôi liên tục, cầu xin sự tha thứ và nhận sai. Liệu con người có đạt đến điều này không? (Thưa, không.) Con người không đạt đến được. Mặc dù chó có thể không hiểu nhiều như con người, nhưng chúng hiểu một điều: “Đây là địa bàn của chủ nhân, và là nhà của chủ nhân. Chủ nhân cho mình đi đâu thì mình đi đó, chủ nhân không cho mình tới chỗ nào thì mình không tới chỗ đó”. Dù không bị đánh, chúng cũng không tới chỗ đó; chúng biết xấu hổ. Ngay cả chó cũng biết liêm sỉ, tại sao con người lại không? Xếp những người không có liêm sỉ vào hàng ngũ súc sinh thì có quá đáng không? (Thưa, không quá đáng.) Không quá đáng chút nào; hầu hết mọi người còn không có những điểm mạnh của loài chó. Từ nay về sau, khi nói một số người là súc sinh, chúng ta không thể gọi họ là “cẩu súc sinh” nữa; làm như vậy sẽ sỉ nhục loài chó, vì những người này, loại súc sinh này, thậm chí còn tệ hơn cả chó. Cho nên, một khi những người này gây nhiễu loạn đời sống hội thánh hoặc việc làm bổn phận của anh chị em, thì phải nhanh chóng thanh trừ họ – làm như vậy là hợp tình hợp lý, không hề quá đáng. Làm như vậy không phải là không có tình yêu thương, mà là làm việc theo nguyên tắc. Ngay cả khi những người phóng đãng và không chịu sự ràng buộc này làm bổn phận có chút kết quả, thì họ có thể được cứu rỗi không? Họ có phải là người tiếp nhận lẽ thật không? Ngay cả hành vi của mình mà họ còn không ràng buộc nổi, thì nói gì đến chuyện tiếp nhận lẽ thật chứ? Ngay cả nhân cách và tôn nghiêm của mình mà còn không giữ được, thì họ còn có thể bước vào thực tế lẽ thật sao? Đây là chuyện bất khả thi. Cho nên, xử lý những người này theo cách như vậy là không hề quá đáng, hoàn toàn là làm theo nguyên tắc và hoàn toàn vì mục đích bảo vệ dân được Đức Chúa Trời chọn khỏi sự nhiễu loạn mà Sa-tan gây ra. Tóm lại, khi phát hiện những người này thì nên xử lý họ tương ứng theo một số nguyên tắc Ta vừa nêu. Với loại người thực sự phóng đãng và không chịu sự ràng buộc, thực sự phóng túng xác thịt và không có thể thống thánh đồ nào, chúng ta xếp họ vào hạng người ngoại đạo và kẻ chẳng tin, thì có quá đáng không? (Thưa, không.) Vì họ bị xếp vào hạng người ngoại đạo và kẻ chẳng tin, nên việc đưa họ vào hàng ngũ những loại kẻ ác mà hội thánh nên thanh trừ đương nhiên cũng không hề quá đáng. Người thậm chí không thể ràng buộc hành vi và cử chỉ của mình thì đương nhiên càng không thể tiếp nhận lẽ thật. Người không thể tiếp nhận lẽ thật chẳng phải là kẻ thù của lẽ thật sao? (Thưa, phải.) Phân loại những người là kẻ thù của lẽ thật là kẻ ác thì có quá đáng không? (Thưa, không quá đáng.) Không hề quá đáng. Cho nên, các nguyên tắc để xử lý họ là hoàn toàn thích hợp.