Cách mưu cầu lẽ thật (9) Phần 2

Nói đến việc buông bỏ những mưu cầu, lý tưởng và mong muốn của con người, chúng ta còn một vấn đề nữa. Có người nói: “Bây giờ Ngài nói về việc buông bỏ những mưu cầu, lý tưởng và mong muốn của con người – có phải bởi vì thời gian gần kề, ngày tận thế đã đến và những thảm họa cũng đến, và bởi vì ngày của Đức Chúa Trời đã đến, nên Ngài mới yêu cầu con người buông bỏ những mưu cầu, lý tưởng và mong muốn phải không?” Có đúng thế không? (Thưa, không.) Đáp án sẽ là phủ định: Không! Bây giờ hãy nói về lý do cụ thể. Vì đáp án là không, nên chắc chắn có một số vấn đề chi tiết ở đây cần được thông công và cần được hiểu. Chúng ta nói thế này đi, hai ngàn, hoặc thậm chí vài trăm năm trước, thì toàn bộ hoàn cảnh xã hội rất khác với ngày nay; hiện trạng của toàn nhân loại cũng khác với ngày nay. Hoàn cảnh sống của họ rất có quy luật. Thế giới không tà ác như hiện tại, xã hội con người không hỗn loạn như hiện tại, và không có bất cứ tai họa nào cả. Vậy lúc đó con người có cần buông bỏ những mưu cầu, lý tưởng và mong muốn của mình không? (Thưa, có.) Tại sao? Hãy nói lý do, và hiểu biết cụ thể của các ngươi đi. (Thưa, sau khi nhân loại bị Sa-tan làm cho bại hoại, bên trong con người có tâm tính bại hoại của Sa-tan nên khi họ mưu cầu những lý tưởng và mong muốn của mình, thật ra là vì mưu cầu danh lợi và địa vị. Vì mưu cầu danh và lợi, con người tranh đấu và chém giết lẫn nhau, tranh đấu đến mức một mất một còn, nên kết quả là họ càng bị Sa-tan làm cho bại hoại nặng nề hơn bao giờ hết, càng ngày càng không ra dáng con người, ngày càng rời xa Đức Chúa Trời. Vì thế người ta có thể thấy rằng con đường mưu cầu lý tưởng và mong muốn là sai lầm. Vậy nên, không phải vì ngày của Đức Chúa Trời đang đến gần mà Ngài mới yêu cầu con người buông bỏ những mưu cầu, lý tưởng và mong muốn; nói đúng hơn là ngay từ đầu con người không nên mưu cầu những điều đó, mà nên mưu cầu một cách đúng đắn theo lời Đức Chúa Trời.) Các ngươi có nghĩ buông bỏ những mưu cầu, lý tưởng và mong muốn của con người là một nguyên tắc thực hành không? (Thưa, có.) Buông bỏ những mưu cầu, lý tưởng và mong muốn của con người có phải là lẽ thật không? Nó có phải là yêu cầu của Đức Chúa Trời đối với con người không? (Thưa, phải.) Nó là lẽ thật, là yêu cầu của Đức Chúa Trời đối với con người. Vậy nó có phải con đường mà con người nên đi theo không? (Thưa, phải.) Vì nó là lẽ thật, là yêu cầu cụ thể của Đức Chúa Trời đối với con người, và là con đường mà con người nên đi theo, vậy nó có khác nhau theo thời gian và bối cảnh không? (Thưa, không.) Tại sao không? Vì lẽ thật, yêu cầu của Đức Chúa Trời và con đường của Đức Chúa Trời không thay đổi theo sự thay đổi của thời gian, địa điểm hay hoàn cảnh. Bất kể vào lúc nào, ở địa điểm nào và không gian nào, lẽ thật luôn là lẽ thật, và tiêu chuẩn mà Đức Chúa Trời yêu cầu đối với con người không hề thay đổi, tiêu chuẩn mà Ngài yêu cầu những ai đi theo Ngài cũng vậy. Vậy nên bất kể thời gian, địa điểm hay bối cảnh, con đường của Đức Chúa Trời dành cho những ai theo Ngài phải đi không hề thay đổi. Vậy nên, yêu cầu con người buông bỏ những mưu cầu, lý tưởng và mong muốn ở thời đại ngày nay không phải là yêu cầu được đặt ra cho con người chỉ vì thời gian gần kề, hay vì ngày tận thế đã đến; không phải vì ngày tháng chẳng còn nhiều và tai họa lại rất lớn, cũng không phải vì sợ con người sẽ rơi vào tai họa mà lại có những yêu cầu cấp thiết đối với con người, yêu cầu họ thực hiện những biện pháp hành động cực đoan hay cấp tiến để đạt được việc bước vào thực tế lẽ thật nhanh nhất. Lý do không phải như vậy. Vậy thì lý do là gì? Bất kể ở thời điểm nào, dù là mấy trăm năm hay mấy ngàn năm trước – ngay cả hiện tại – những yêu cầu của Đức Chúa Trời đối với con người ở phương diện này không thay đổi. Chỉ là mấy ngàn năm trước, thậm chí ở bất cứ thời điểm nào trước ngày hôm nay, Đức Chúa Trời đều không công khai ban bố chi tiết những lời này với nhân loại, nhưng những yêu cầu của Ngài đối với con người từ đầu đến cuối không hề thay đổi. Bắt đầu từ thời điểm nhân loại lưu giữ những bản ghi chép lần đầu tiên, yêu cầu của Đức Chúa Trời đối với họ chưa bao giờ là phải nỗ lực mưu cầu thế giới, hay thực hiện những lý tưởng và mong muốn của riêng họ trong thế giới. Yêu cầu duy nhất của Ngài đối với con người chính là lắng nghe lời Ngài, đi theo con đường của Ngài, đừng thông đồng làm bậy với thế giới, cũng đừng mưu cầu thế giới. Những chuyện của thế giới thì để con người của thế giới xử lý và hoàn thành. Chúng chẳng liên quan tới những người tin và đi theo Đức Chúa Trời. Việc duy nhất mà những người tin Đức Chúa Trời cần làm là đi theo con đường của Đức Chúa Trời và đi theo Ngài. Đi theo con đường của Đức Chúa Trời là việc mà những người tin và đi theo Đức Chúa Trời không thể thoái thác. Chuyện này không phân biệt thời gian, địa điểm hay bối cảnh. Kể cả sau này, khi nhân loại được cứu rỗi và bước vào thời đại kế tiếp, yêu cầu này vẫn sẽ không thay đổi. Nghe lời Đức Chúa Trời và đi theo con đường của Ngài là thái độ và cách thực hành cụ thể mà một người đi theo Đức Chúa Trời nên có. Chỉ có cách nghe lời Đức Chúa Trời và đi theo con đường của Ngài thì con người mới đạt được sự kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác. Vậy nên việc Đức Chúa Trời yêu cầu con người buông bỏ những mưu cầu, lý tưởng và mong muốn không nảy sinh vì thời gian, hay vì những hoàn cảnh, bối cảnh đặc thù; mà nói đúng hơn là chỉ cần con người còn tồn tại, thì dù Đức Chúa Trời không phán rõ ràng với họ, Ngài vẫn luôn dùng tiêu chuẩn và nguyên tắc này để yêu cầu họ. Bất kể bao nhiêu người có thể đạt đến, bao nhiêu người có thể thực hành lời Ngài, hay họ có thể hiểu được bao nhiêu lời Ngài, thì yêu cầu này từ Đức Chúa Trời vẫn không thay đổi. Hãy xem trong Kinh Thánh, ở đó có những ghi chép về những người đặc biệt mà Đức Chúa Trời đã chọn ở những thời điểm đặc thù, như Nô-ê, Áp-ra-ham, Y-sác, Gióp, vân vân. Những yêu cầu của Đức Chúa Trời đối với họ, con đường họ đi, những mục tiêu và phương hướng trong cuộc đời họ, cũng như những mục tiêu mưu cầu và những cách làm cụ thể của họ đối với cuộc sống và sinh tồn, đều có thể thể hiện ra những yêu cầu của Đức Chúa Trời đối với con người. Vậy những yêu cầu của Đức Chúa Trời đối với con người là gì? Trong đó bao gồm việc con người phải buông bỏ những mưu cầu, lý tưởng và mong muốn của mình, đúng không? (Thưa, đúng.) Dù là trong tâm hồn hay hình thức, họ phải tránh xa nhân loại huyên náo, phức tạp và tà ác, đồng thời tránh xa những trào lưu huyên náo, phức tạp và tà ác của họ. Trước đây có một từ không phù hợp cho lắm – “thánh hóa”. Kỳ thực ý nghĩa của từ này là yêu cầu ngươi buông bỏ những mưu cầu, lý tưởng và mong muốn, ngăn chặn ngươi trở thành một người ngoại đạo, ngăn chặn ngươi làm những việc mà những người ngoại đạo hay làm, ngăn chặn ngươi mưu cầu những gì mà người ngoại đạo mưu cầu, muốn ngươi mưu cầu những thứ mà người tin Đức Chúa Trời phải mưu cầu. Ý nghĩa của nó là như thế. Vậy thì khi có người nói: “Có phải vì thời gian gần kề, những ngày tận thế đã đến và tai họa đã giáng xuống, mà Đức Chúa Trời yêu cầu con người buông bỏ những mưu cầu, lý tưởng và mong muốn không?” Ngươi nên trả lời thế nào? Nên trả lời rằng mỗi một yêu cầu của Đức Chúa Trời đối với con người đều là lẽ thật, và là con đường mà con người nên đi theo. Chúng không thay đổi theo sự thay đổi của thời gian, địa điểm hay hoàn cảnh, vị trí địa lý hay bối cảnh xã hội. Lời Đức Chúa Trời là lẽ thật, là lẽ thật bất biến từ thời xa xưa, và muôn đời không thay đổi – mỗi yêu cầu của Đức Chúa Trời đối với con người và mỗi nguyên tắc thực hành cụ thể mà Ngài đặt ra cho họ đã có từ sau khi Ngài tạo ra nhân loại, khi họ chưa có ghi chép về thời gian. Chúng tồn tại cùng Đức Chúa Trời. Nghĩa là, từ thời khắc có con người, nhân loại đã có thể lĩnh hội những yêu cầu của Đức Chúa Trời đối với họ. Dù những yêu cầu này đề cập đến lĩnh vực nào đi nữa thì chúng đều tồn tại vĩnh viễn, và không thay đổi. Nói chung, những yêu cầu của Đức Chúa Trời đối với con người là lắng nghe lời Ngài và đi theo con đường của Ngài. Ngươi đã hiểu chưa? (Thưa, đã hiểu.) Những yêu cầu của Đức Chúa Trời hoàn toàn không liên quan tới sự phát triển của thế giới, bối cảnh xã hội của nhân loại, thời gian hoặc địa điểm, hay hoàn cảnh địa lý và không gian mà con người sinh sống. Sau khi nghe xong lời Đức Chúa Trời, việc con người tuân thủ và thực hành chúng là đúng đắn. Đức Chúa Trời không có yêu cầu nào khác đối với con người. Con người nghe hiểu và nghe rõ lời Ngài, thực hành và tuân thủ chúng là được; họ sẽ đạt được tiêu chuẩn của một loài thọ tạo hợp cách trong mắt Ngài. Ngươi đã hiểu chưa? (Thưa, đã hiểu.) Vậy nên, bất kể thời gian, hoàn cảnh, bối cảnh xã hội, hay vị trí địa lý, việc ngươi cần làm là lắng nghe lời Đức Chúa Trời, hiểu những gì Ngài phán và những yêu cầu của Ngài đối với ngươi, sau đó việc tiếp theo ngươi nên làm là nghe theo, quy phục và thực hành. Đừng bận tâm đến những chuyện như “Tai họa ở thế giới bên ngoài giờ có lớn không? Thế giới có hỗn loạn không? Giờ mình ra thế giới bên ngoài thì có nguy hiểm gì không? Mình có thể mắc phải bệnh dịch không? Mình có chết không? Mình có bị rơi vào tai họa không? Ngoài kia có nhiều cám dỗ không?” Ngươi suy nghĩ mấy chuyện đó cũng vô ích, chúng chẳng liên quan gì đến ngươi. Ngươi chỉ cần bận tâm đến việc mưu cầu lẽ thật và đi theo con đường của Đức Chúa Trời, chứ đừng bận tâm đến hoàn cảnh của thế giới bên ngoài như thế nào. Bởi vì dù hoàn cảnh của thế giới bên ngoài như thế nào đi nữa, ngươi cũng chỉ là một loài thọ tạo, và Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa. Mối quan hệ giữa Đấng Tạo Hóa và loài thọ tạo sẽ không thay đổi, thân phận của ngươi sẽ không thay đổi, và thực chất của Đức Chúa Trời sẽ không thay đổi. Ngươi sẽ luôn là người phải đi theo con đường của Đức Chúa Trời, là người phải nghe lời Ngài và quy phục Ngài. Đức Chúa Trời sẽ luôn là Đấng tể trị ngươi, an bài vận mệnh của ngươi, và dẫn dắt ngươi sinh tồn. Mối quan hệ của ngươi với Ngài sẽ không thay đổi, thân phận của Ngài là bất biến và thân phận của ngươi cũng bất biến. Vì tất cả những điều trên, bất kể trong thời gian nào, thì trách nhiệm, nghĩa vụ và chức trách cao nhất của ngươi là lắng nghe lời Đức Chúa Trời, quy phục và thực hành chúng. Điều này không bao giờ sai, và là nguyên tắc cao nhất. Vậy vấn đề này đã được giải quyết chưa? (Thưa, rồi.) Nó đã được giải quyết. Ta nói như thế có rõ ràng không? Ta nói có chính xác hơn các ngươi không? (Thưa, có.) Chính xác ở đâu? (Thưa, chúng con chỉ đang nói một cách khái quát, còn Đức Chúa Trời đã mổ xẻ vấn đề này rất thấu đáo, và còn thông công rằng lời Đức Chúa Trời là lẽ thật, là con đường mà con người phải tuân thủ, và con người nên nghe lời Đức Chúa Trời và đi theo con đường của Ngài. Đức Chúa Trời đã phán điều này rất rõ ràng.) Điều Ta đang nói là một khía cạnh lẽ thật. Cụm từ “một khía cạnh lẽ thật” là một lý luận, vậy có gì ủng hộ cho lý luận này? Đó là những sự thật và nội dung cụ thể đã được nói đến trước đó. Những sự thật này đều có chứng cứ; không có một điều nào trong số chúng là bịa đặt hay tưởng tượng. Chúng đều là sự thật, hoặc là thực chất và chân tướng của hiện tượng bên ngoài của sự thật. Nếu ngươi có thể lĩnh hội và hiểu được chúng, thì chứng tỏ ngươi hiểu lẽ thật. Lý do các ngươi không thể nói ra là vì các ngươi chưa hiểu khía cạnh lẽ thật này, các ngươi cũng chưa hiểu thực chất và chân tướng đằng sau những hiện tượng này, nên các ngươi chỉ nói về những cảm nhận và hiểu biết của mình khác xa so với lẽ thật. Không phải như vậy sao? (Thưa, phải.) Như vậy vấn đề này đã được giải quyết, không cần nói thêm nữa. Về chủ đề buông bỏ những mưu cầu, lý tưởng và mong muốn nảy sinh từ những hứng thú và sở thích, có cần thiết phải thêm vấn đề này vào như một điểm bổ sung không? (Thưa, có.) Đúng là cần thiết. Mỗi khía cạnh vấn đề đều liên quan đến một vài lẽ thật, cũng tức là nó liên quan đến thực tế và chân tướng của sự thật, đồng thời phía sau chân tướng và thực chất đó luôn là sự an bài, kế hoạch, ý niệm và ý nguyện của Đức Chúa Trời. Còn gì nữa không? Đó là một số cách làm cụ thể, cũng như căn cứ, mục tiêu và bối cảnh trong những hành động của Ngài. Chân tướng chính là như vậy.

Sau khi thông công xong chủ đề buông bỏ những mưu cầu, lý tưởng và mong muốn nảy sinh từ những hứng thú và sở thích, chúng ta nên thông công chủ đề tiếp theo. Chủ đề tiếp theo là gì? Đó là con người nên buông bỏ những mưu cầu, lý tưởng và mong muốn nảy sinh từ hôn nhân. Rõ ràng chủ đề này đề cập đến mọi phương diện của vấn đề liên quan đến hôn nhân. Chủ đề này hơi rộng hơn một chút so với chủ đề hứng thú và sở thích nhỉ? Nhưng đừng sợ độ rộng của nó. Chúng ta sẽ công phá từng điểm một, từ từ hiểu và thấu triệt chủ đề này thông qua sự thông công. Cách mà chúng ta sẽ thông công về chủ đề này chính là mổ xẻ vấn đề của hôn nhân từ những góc độ và khía cạnh của thực chất vấn đề ở đây, cả tích cực và tiêu cực; những hiểu biết khác nhau của con người về hôn nhân, cả đúng và sai; những sai lầm họ phạm phải trong hôn nhân, cũng như những tư tưởng và quan điểm sai lầm khác nhau khiến vấn đề nảy sinh, cuối cùng giúp con người có thể buông bỏ những mưu cầu, lý tưởng và mong muốn nảy sinh từ hôn nhân. Cách thực hành tốt nhất và dễ dàng nhất để đạt được sự “buông bỏ” chính là: Trước hết, ngươi phải thấy rõ thực chất của vấn đề, nhìn thấu chúng, bất kể chúng là tích cực hay tiêu cực. Sau đó ngươi phải có khả năng xử lý những vấn đề này một cách chính xác và lý tính. Đây chính là mặt tích cực. Về mặt tiêu cực, ngươi phải có thể hiểu và nhìn thấu những tư tưởng, quan điểm và thái độ sai lầm mà vấn đề mang lại, hay những ảnh hưởng tiêu cực và có hại khác nhau mà chúng sản sinh trong nhân tính, rồi từ những khía cạnh này ngươi có thể buông bỏ. Nói cách khác, ngươi phải có thể hiểu và nhìn thấu được những vấn đề này, mà không bị trói buộc bởi những tư tưởng sai lầm sản sinh từ những vấn đề này, không để chúng chi phối cuộc sống của ngươi và khiến cuộc đời của ngươi phải đi một số con đường vòng, hay dẫn dắt ngươi đưa ra những lựa chọn sai lầm. Nói tóm lại, dù chúng ta thông công về mặt tích cực hay tiêu cực, thì mục đích cuối cùng là để cho con người có thể đối xử vấn đề của hôn nhân một cách lý tính, không dùng những tư tưởng và quan điểm sai lầm để hiểu và nhìn nhận nó, cũng không được có thái độ không đúng đối với nó. Đây là cách hiểu chính xác về việc thực hành “buông bỏ.” Được rồi, hãy thông công tiếp về những mưu cầu, lý tưởng và mong muốn nảy sinh từ hôn nhân. Trước hết, hãy xem định nghĩa về hôn nhân, khái niệm hôn nhân là gì. Đa số các ngươi chưa bước vào hôn nhân, đúng không? Ta thấy đa số các ngươi là người trưởng thành. Người trưởng thành nghĩa là gì? Nghĩa là ngươi đã đạt đến hoặc vượt quá độ tuổi kết hôn. Dù đang ở trong hay quá độ tuổi đó, mỗi người đều có những quan điểm, định nghĩa và khái niệm tương đối tiểu tư sản về hôn nhân, dù đúng hay sai. Vậy trước hết hãy nghiên cứu thảo luận xem hôn nhân thực ra là gì. Đầu tiên, các ngươi nói xem: Hôn nhân rốt cuộc là gì? Nếu muốn bàn về người đủ tư cách để nói hôn nhân là gì thì nên bắt đầu từ người đã kết hôn trước. Những người đã kết hôn nói xong, chúng ta có thể chuyển sang những người chưa kết hôn. Các ngươi có thể nói lên cách nhìn nhận của mình về hôn nhân, và chúng ta sẽ lắng nghe cách hiểu và định nghĩa của các ngươi về hôn nhân. Có gì cứ nói nấy, dù là lời dễ nghe hay khó nghe – những than phiền hay những kỳ vọng ở hôn nhân, đều được cả. (Thưa, trước khi kết hôn, ai cũng có những kỳ vọng. Có người kết hôn để có thể sống một cuộc sống sung túc, có người thì mưu cầu một cuộc hôn nhân mỹ mãn, tìm kiếm một bạch mã hoàng tử, ảo tưởng sẽ được sống một cuộc sống hạnh phúc. Cũng có người muốn lợi dụng hôn nhân để đạt được những mục đích cá nhân.) Vậy theo quan điểm của ngươi, hôn nhân rốt cuộc là gì? Là giao dịch à? Là trò chơi à? Hay là cái gì? Trong những tình huống ngươi đề cập đó, có một số là vì sống cuộc sống tốt, đó là một kiểu giao dịch. Còn gì nữa? (Thưa, con cảm thấy đối với con, hôn nhân là thứ con hướng tới và khát khao.) Còn ai muốn nói nữa không? Người đã kết hôn biết những gì về hôn nhân? Nhất là những người đã kết hôn được mười hoặc hai mươi năm – các ngươi có cảm nhận thế nào về hôn nhân? Các ngươi không thường xuyên có đầy những cảm nghĩ về hôn nhân sao? Một mặt, ngươi thể nghiệm hôn nhân của mình, mặt khác, ngươi cũng đứng ngoài quan sát những cuộc hôn nhân của những người khác; đồng thời ngươi cũng đã thưởng thức những cuộc hôn nhân của những người mà ngươi thấy trong sách báo, văn học và phim ảnh. Vậy từ những khía cạnh đó, ngươi nghĩ hôn nhân là gì? Ngươi sẽ định nghĩa nó thế nào? Ngươi hiểu thế nào về nó? Ngươi định nghĩa hôn nhân như thế nào? Những người đã kết hôn, những người đã kết hôn vài năm – nhất là những người đã nuôi nấng con cái – cảm nhận của các ngươi về hôn nhân là gì? Nói đi. (Thưa, con có thể bổ sung một chút. Con đã xem nhiều chương trình truyền hình từ khi còn nhỏ. Trong lòng con luôn hướng tới một cuộc sống hôn nhân mỹ mãn, nhưng sau khi kết hôn, con phát hiện nó không như con tưởng tượng. Sau khi kết hôn, điều đầu tiên con phải làm là nỗ lực làm việc vì cuộc sống của gia đình này, thực sự rất vất vả. Chuyện nữa là, vì tính cách của con và chồng không hợp nhau, đồng thời những thứ mà chúng con hướng tới và mưu cầu cũng khác nhau – nhất là sự khác nhau giữa con đường mà chúng con mưu cầu – chúng con có rất nhiều khác biệt trong cuộc sống, thậm chí còn cãi nhau. Cuộc sống rất khổ sở. Lúc này, con cảm thấy kiểu cuộc sống hôn nhân mà con từng hướng tới khi còn nhỏ thật ra không thực tế chút nào, mà chỉ là một mong muốn tốt đẹp mà thôi nhưng cuộc sống thực tế không phải như thế. Đây là những lĩnh hội của con về hôn nhân.) Vậy nên cách hiểu về hôn nhân của ngươi là nó cay đắng, phải thế không? (Thưa, phải.) Vậy là tất cả những gì ngươi có thể nhớ đến, tất cả những gì tồn tại trong ký ức của ngươi đều là đau khổ, mệt mỏi, cay đắng và không thể chịu nổi khi nhìn lại; ngươi cảm thấy thất vọng, rồi sau đó không còn kỳ vọng gì tốt hơn nữa về hôn nhân. Ngươi nghĩ rằng hôn nhân không như ý nguyện của ngươi, không tốt đẹp, cũng không lãng mạn. Ngươi hiểu hôn nhân như một bi kịch – có phải ý ngươi đại khái là vậy không? (Thưa, phải.) Trong cuộc hôn nhân của ngươi, dù là trong những việc ngươi có thể đạt được hay không sẵn lòng đạt được, ngươi vẫn sống đặc biệt mệt mỏi và khổ sở về mọi mặt, phải thế không? (Thưa, phải.) Hôn nhân là cay đắng, đó là một kiểu cảm giác, một cảm giác mà con người có thể nhận thức được hoặc cảm nhận được. Hiện tại trên thế giới, có rất nhiều câu nói về hôn nhân và gia đình bất kể dưới hình thức nào. Có rất nhiều trong phim ảnh và sách báo, trong xã hội thì có những chuyên gia về hôn nhân và những chuyên gia về giới tính, họ sẽ phân tích và mổ xẻ đủ mọi kiểu hôn nhân, cũng xử lý và giải quyết những mâu thuẫn nảy sinh trong đủ mọi kiểu hôn nhân đó, để hòa giải chúng. Cuối cùng, trong xã hội đã phổ biến một vài câu nói về hôn nhân. Các ngươi tán đồng hay đồng cảm với câu nói phổ biến nào về hôn nhân trong xã hội? (Thưa Đức Chúa Trời, người trong xã hội thường nói rằng kết hôn như bước xuống mồ. Con cảm thấy sau khi kết hôn, lập gia đình và có con, con người có những trách nhiệm, họ phải làm việc không ngừng nghỉ để nuôi gia đình sống qua ngày, thêm vào đó là sự bất hòa khi hai người sống chung, và đủ mọi kiểu vấn đề và khó khăn đều nảy sinh.) Câu đó cụ thể là gì? “Hôn nhân là nấm mồ.” Có một số câu nói nào phổ biến và nổi tiếng ở Trung Quốc không? Câu “Hôn nhân là nấm mồ” khá phổ biến nhỉ? (Thưa, đúng.) Còn gì nữa? “Hôn nhân như tòa thành bị vây hãm – người ngoài thành thì muốn vào, người trong thành thì muốn ra.” Còn gì nữa? “Hôn nhân không tình yêu là vô đạo đức.” Họ nghĩ rằng hôn nhân là biểu tượng của tình yêu, và hôn nhân không tình yêu là vô đạo đức. Họ dùng tình yêu lãng mạn để đánh giá tiêu chuẩn đạo đức. Đó có phải những định nghĩa và khái niệm về hôn nhân của những người đã kết hôn không? (Thưa, phải.) Nói tóm lại, những ai đã kết hôn đều đầy đau khổ. Dùng một câu để mô tả thì chính là: “Hôn nhân là nấm mồ.” Có đơn giản thế không? Những người đã kết hôn nói xong rồi, giờ chúng ta nghe xem những người chưa kết hôn hoặc độc thân nói thế nào. Ai muốn nói ra cách hiểu của mình về hôn nhân không? Kể cả có hơi ấu trĩ, hay những ảo tưởng không phù hợp với thực tế, đều được cả. (Thưa Đức Chúa Trời, con cảm thấy hôn nhân là hai người kết đôi cùng nhau chung sống qua ngày, là cuộc sống gạo, củi, dầu, muối, tương, dấm, trà.) Ngươi đã từng kết hôn chưa? Ngươi có trải nghiệm cá nhân nào không? (Thưa, không.) Gạo, củi, dầu, muối, tương, dấm, trà, kết đôi cùng nhau chung sống qua ngày, ngươi thực sự nghĩ thế à? Nó thực tế không? (Thưa, trong lý tưởng của con, hôn nhân không như thế, nhưng đó là những điều con thấy trong cuộc hôn nhân của bố mẹ con.) Cuộc hôn nhân của bố mẹ ngươi như vậy, nhưng cuộc hôn nhân lý tưởng của ngươi thì không. Cách hiểu và sự mưu cầu của ngươi khi nói đến hôn nhân là gì? (Thưa, khi còn nhỏ, con chỉ hiểu là phải tìm một người con ngưỡng mộ trong lòng rồi sống một cách hạnh phúc và lãng mạn với người đó.) Ngươi muốn sống với anh ta, nắm tay nhau cùng già đi, phải thế không? (Thưa, phải.) Đây là cách hiểu cụ thể của ngươi về hôn nhân, chỉ liên quan đến ngươi, chứ không phải do ngươi nhìn từ người khác. Những gì ngươi thấy trong cuộc hôn nhân của người khác chỉ là diện mạo bên ngoài, và vì ngươi chưa từng thể nghiệm nó, nên ngươi không biết đó là chân tướng sự thật hay chỉ là vẻ ngoài của sự thật; thứ mà ngươi nghĩ là thật sẽ chỉ vĩnh viễn ở trong tư tưởng và quan điểm của ngươi thôi. Một phương diện trong hiểu biết của giới trẻ về hôn nhân là sống một cách lãng mạn bên người mình yêu, nắm tay nhau cùng già đi, và sống cả đời cùng nhau. Các ngươi còn có cách hiểu nào khác về hôn nhân không? (Thưa, không có.)

Có người nói: “Hôn nhân chính là tìm được một người yêu thương mình, không quan trọng họ lãng mạn hay không, và bạn cũng không cần phải yêu họ quá nhiều. Ít nhất họ yêu bạn, trong lòng họ có bạn, có chung những mưu cầu, lý tưởng, tính cách, hứng thú và sở thích với bạn, để hai người có thể tâm đầu ý hợp và sống cùng nhau.” Người khác lại nói: “Tìm một người yêu mình và mình cũng yêu người đó để chung sống. Như thế mới hạnh phúc.” Lại có những người khác hiểu về hôn nhân như thế này: “Nhất định phải tìm được người có thực lực kinh tế để không phải lo lắng về cơm ăn áo mặc suốt phần đời còn lại, và nhờ đó cuộc sống vật chất sẽ đầy đủ sung túc, không phải chịu cảnh nghèo khó. Bất kể tuổi tác hay ngoại hình, bất kể tính cách hay gu thưởng thức của họ, chỉ cần họ có tiền là được. Chỉ cần họ có thể cho mình tiền tiêu và có thể thỏa mãn nhu cầu vật chất của mình là được rồi. Sống với kiểu người này sẽ mang lại hạnh phúc, xác thịt sẽ sống thoải mái. Đây chính là hôn nhân.” Đây là một số yêu cầu và định nghĩa mà con người dành cho hôn nhân. Đa số mọi người hiểu hôn nhân là tìm được người yêu trong mộng, ý trung nhân, một bạch mã hoàng tử, sống cùng họ và có thể tâm đầu ý hợp. Ví dụ, có người tưởng tượng bạch mã hoàng tử của họ là một minh tinh hay người nổi tiếng, người có tiền, danh tiếng và giàu có. Họ nghĩ rằng sống với người như thế mới là một cuộc hôn nhân có thể diện và tốt đẹp, một cuộc hôn nhân hoàn hảo, và chỉ cuộc sống như thế mới hạnh phúc. Có người tưởng tượng nửa kia của mình là người có địa vị. Có người tưởng tượng nửa kia của mình là người xinh đẹp. Có người tưởng tượng nửa kia của mình là người mà gia đình có bối cảnh, có thế lực và giàu có, một người khá giả. Có người tưởng tượng nửa kia của mình là một người có tham vọng và thực lực trong sự nghiệp. Có người tưởng tượng nửa kia của mình là một tài năng hiếm có. Có người tưởng tượng nửa kia của mình là người có những đặc điểm tính cách nào đó. Tất cả những điều này và hơn thế nữa, là những yêu cầu của người ta đối với hôn nhân, đương nhiên, chúng chỉ là những tưởng tượng, quan niệm và quan điểm của họ về hôn nhân thôi. Nói tóm lại, những người đã từng kết hôn nói rằng hôn nhân là nấm mồ, rằng bước vào hôn nhân là bước xuống mồ, hay bước vào thảm họa; những người chưa kết hôn thì tưởng tượng hôn nhân đặc biệt tốt đẹp và lãng mạn, đồng thời họ đầy khao khát và kỳ vọng. Nhưng dù là người đã kết hôn hay là chưa, không ai có thể nói thực sự rõ ràng về hiểu biết hay lĩnh hội của mình về hôn nhân, hay định nghĩa và khái niệm thật sự của hôn nhân là gì, đúng không? (Thưa, đúng.) Những người đã đích thân trải nghiệm hôn nhân nói: “Hôn nhân là nấm mồ, đầy đau khổ.” Người chưa kết hôn nói: “Cách hiểu của anh về hôn nhân không chính xác. Anh nói hôn nhân không tốt là vì anh quá ích kỷ. Anh không cho đi nhiều trong cuộc hôn nhân của anh. Vì anh có nhiều vấn đề và tật xấu, nên cuộc hôn nhân của anh trở thành một mớ hỗn độn. Chính tay anh đã phá hủy và làm hỏng cuộc hôn nhân của mình.” Cũng có những người đã kết hôn nói với những người độc thân chưa bước vào hôn nhân rằng: “Cô là đứa trẻ dốt nát, cô biết cái gì chứ? Cô có biết kết hôn là thế nào không? Kết hôn không phải là chuyện của một người, cũng không phải chuyện của hai người – mà là chuyện của hai gia đình, hay thậm chí hai gia tộc. Có rất nhiều vấn đề trong đó không hề đơn giản, không hề đơn thuần. Ngay cả trong thế giới của hai người, nơi chỉ có chuyện của hai cá nhân cũng không hề đơn giản. Dù cách hiểu hay ảo tưởng của cô về hôn nhân tốt đẹp thế nào đi nữa thì theo thời gian cũng sẽ bị những thứ vụn vặt như gạo, củi, dầu, muối, tương, dấm, trà mài mòn cho đến khi màu sắc và hương vị của nó phai nhạt. Cô chưa kết hôn thì biết gì chứ? Cô chưa từng kết hôn, chưa từng trải qua một cuộc hôn nhân, vậy thì cô chưa đủ tư cách để đánh giá hay nói này nói nọ về hôn nhân. Cách hiểu của cô về hôn nhân chỉ là sự tưởng tượng, chỉ đến từ một phía – căn bản không phù hợp với thực tế!” Dù ai nói thì cũng có một lý do khách quan cả, nhưng nếu nói xong xuôi rồi, thì xét cho cùng, hôn nhân là gì? Nên đứng từ góc độ nào nhìn nhận hôn nhân mới là chính xác nhất, khách quan nhất và phù hợp với lẽ thật nhất? Người ta nên nhìn nhận nó thế nào? Dù là người đã trải qua hôn nhân hay người chưa trải qua hôn nhân, thì một mặt, cách hiểu của họ về hôn nhân chứa đầy sự tưởng tượng của riêng họ, mặt khác, nhân loại bại hoại tràn đầy một số thứ dễ xúc động đối với vai trò của họ trong hôn nhân. Vì nhân loại bại hoại không hiểu những nguyên tắc mà họ phải tuân thủ trong những hoàn cảnh khác nhau, và không hiểu vai trò của họ trong hôn nhân hay nghĩa vụ và trách nhiệm mà họ nên thực hiện, cho nên có một số câu nói của họ về hôn nhân không tránh khỏi có một chút dễ xúc động, bị trộn lẫn với sự tư lợi và nóng nảy của cá nhân, vân vân. Đương nhiên bất kể một người đã kết hôn hay chưa, nếu họ không nhìn hôn nhân từ góc độ của lẽ thật, và nếu họ không có sự đón nhận và hiểu biết thuần khiết về nó từ Đức Chúa Trời, thì ngoại trừ mọi sự lĩnh hội thực tế về hôn nhân, cách hiểu của họ về hôn nhân đang bị ảnh hưởng bởi xã hội và nhân loại tà ác ở mức độ rất lớn. Nó còn bị ảnh hưởng bởi nếp sống, trào lưu và dư luận của xã hội cũng như những câu nói đầy sai lầm, cố chấp – và có thể nói cụ thể là vô nhân đạo – về hôn nhân của những người thuộc mọi trình độ và tầng lớp xã hội. Vì những lời người khác nói, mà một mặt người ta sẽ vô thức bị ảnh hưởng và chi phối bởi những tư tưởng và quan điểm này, mặt khác họ sẽ vô thức tiếp nhận những thái độ và cách nhìn nhận hôn nhân này, cũng như những cách xử lý đối với hôn nhân và thái độ đối với cuộc sống của những người đang sống trong hôn nhân. Ban đầu người ta chưa có cách hiểu tích cực về hôn nhân, cũng không có nhận thức và tri thức tích cực, chính xác về nó. Hơn nữa, cả xã hội và nhân loại tà ác tiêm nhiễm những tư tưởng, quan điểm tiêu cực và sai lầm về hôn nhân vào trong họ. Vì vậy, những tư tưởng và quan điểm về hôn nhân của con người trở nên lệch lạc và thậm chí tà ác. Chỉ cần ngươi sống và tồn tại trong xã hội này, có mắt để nhìn, có tai để nghe, và có suy nghĩ để suy xét vấn đề, thì ngươi sẽ tiếp nhận những tư tưởng và quan điểm sai lầm này ở các mức độ khác nhau, dẫn đến cách hiểu và nhận thức không đúng đắn và cố chấp về hôn nhân. Ví dụ, một trăm năm trước, con người không hiểu ái tình là gì, và cách hiểu của họ về hôn nhân rất đơn giản. Đến tuổi kết hôn, có người làm mai giới thiệu, có cha mẹ lo liệu, rồi sau đó sẽ tổ chức hôn lễ với một người khác giới, bước vào hôn nhân, rồi hai người sẽ sống với nhau qua từng ngày. Cứ như vậy họ sẽ bầu bạn với nhau suốt đời này, cùng nhau đi hết con đường. Hôn nhân đơn giản như thế đấy. Đó là chuyện giữa hai cá nhân – hai người từ hai gia đình khác nhau sống cùng nhau, bầu bạn với nhau, chăm sóc nhau, sống trọn đời cùng nhau. Đơn giản thế thôi. Nhưng đến một thời kỳ, người ta bắt đầu đề xuất cái họ gọi là ái tình, và ái tình được bổ sung vào nội dung của hôn nhân, cho đến tận ngày nay. Hai chữ “ái tình” hay ý nghĩa và tư tưởng của nó không còn là thứ mà sâu trong tâm hồn người ta cảm thấy ngại ngùng hay khó khăn khi nói về nó nữa. Trái lại, nó tồn tại một cách rất tự nhiên trong tư tưởng của con người, và mọi người bàn luận một cách tự nhiên, đến mức những người chưa thành niên cũng bàn luận về cái gọi là ái tình. Vậy nên những kiểu tư tưởng, quan điểm và câu nói này vô hình trung tạo thành một loại ảnh hưởng lên mọi người, từ đàn ông đến phụ nữ, từ già đến trẻ. Loại ảnh hưởng này khiến cho cách hiểu của mọi người về hôn nhân trở nên quá lố – nói một cách chính xác hơn là cố chấp. Mọi người bắt đầu đùa giỡn với ái tình. “Ái” nghĩa là gì? Ái là một loại tình cảm. Còn “tình” nghĩa là gì? Nghĩa là tình dục. Hôn nhân không còn đơn giản là hai người cùng nhau kết đôi sống qua ngày nữa; trái lại, nó trở thành một thứ đồ chơi cho tình cảm và tình dục. Có đúng thế không? (Thưa, đúng.) Nhân loại hiểu hôn nhân thành sự kết hợp của tình dục và tình cảm, vậy những cuộc hôn nhân của họ có tốt đẹp không? Đàn ông và phụ nữ không sống qua ngày cho thật tốt, họ cũng không làm tròn trách nhiệm của mình, đều không sống qua ngày một cách thực tế. Họ thường nói về ái, về tình, về tình cảm hay tình dục. Các ngươi có nghĩ họ có thể sống êm đềm và ổn định không? (Thưa, không.) Có người nào có thể vượt qua được những cám dỗ và thăm dò này không? Không ai có thể vượt qua được những cám dỗ và thăm dò này. Trong xã hội, giữa người với người tràn đầy tình dục và tình cảm. Đây là thứ họ gọi là ái tình, và đây là cách hiểu của những người đương thời về hôn nhân; đây là sự đánh giá cao nhất, gu thưởng thức cao nhất họ đối với hôn nhân. Vậy nên, tình trạng hôn nhân của những người đương thời đã thay đổi hoàn toàn, rối tinh rối mù và vô cùng lộn xộn. Hôn nhân không còn đơn giản là chuyện của một nam và một nữ; trái lại nó trở thành chuyện của tất cả mọi người, cả nam lẫn nữ, chơi đùa với tình cảm và tình dục – hoàn toàn sa đọa. Dưới sự dụ dỗ của những trào lưu tà ác, hoặc dưới sự tiêm nhiễm của những tư tưởng tà ác, mà cách hiểu và cách nhìn của con người về hôn nhân trở nên méo mó, biến thái và tà ác. Thêm vào đó, những phim ảnh và chương trình TV của xã hội, cũng như văn học và các tác phẩm nghệ thuật, liên tục đưa ra những giải thích và cách nói tà ác và vô đạo đức hơn về hôn nhân. Các đạo diễn, biên kịch và diễn viên đều diễn dịch về hôn nhân như là mớ rối tinh rối mù. Tình trạng này chỉ toàn sự tà ác và tình dục, khiến cho những cuộc hôn nhân hợp pháp bị rơi vào hỗn loạn. Vậy nên, kể từ khi có ái tình, việc ly hôn ngày càng trở nên phổ biến trong xã hội loài người, ngày càng nhiều vụ ngoại tình, ngày càng nhiều đứa trẻ buộc phải chịu sự tổn thương do cha mẹ ly hôn, buộc phải sống với những bà mẹ hoặc ông bố đơn thân, cứ thế trải qua thời kỳ thơ ấu và thanh thiếu niên của mình, hoặc lớn lên trong tình trạng hôn nhân không hợp pháp của cha mẹ. Lý do cho toàn bộ những bi kịch hôn nhân khác nhau, những cuộc hôn nhân sai trái và bất thường này chính là quan điểm về hôn nhân mà xã hội khởi xướng đều cố chấp, tà ác và vô đạo đức, thậm chí đánh mất luân lý đạo đức. Vì nhân loại không có cách hiểu chính xác về những điều tích cực hay chính đáng, nên người ta sẽ vô thức tiếp nhận những tư tưởng và quan điểm mà xã hội khởi xướng, bất kể chúng bất thường thế nào. Những thứ này như một bệnh dịch, lan ra khắp cơ thể, ăn mòn tâm tư và ý niệm của ngươi, ăn mòn những phần đúng đắn trong nhân tính của ngươi. Lương tâm và lý trí của nhân tính bình thường của ngươi sẽ mau chóng trở nên lu mờ, không rõ nét hoặc yếu ớt; sau đó những tư tưởng và quan điểm lệch lạc, tà ác và đánh mất luân lý đạo đức đến từ Sa-tan này chiếm thế thượng phong và vai trò chủ đạo trong sâu thẳm tư tưởng và tâm hồn của ngươi, cả trong thế giới tinh thần của ngươi nữa. Sau khi những điều này chiếm thế thượng phong và vai trò chủ đạo, cách nhìn của ngươi về các vấn đề như hôn nhân mau chóng trở nên méo mó và lệch lạc, đánh mất luân lý, đánh mất đạo đức, thậm chí trở nên tà ác, nhưng bản thân ngươi không hề hay biết, và ngươi nghĩ nó là chính đáng: “Ai cũng nghĩ như vậy, sao con lại không nên chứ? Ai cũng nghĩ như vậy là chính đáng, nên con nghĩ như vậy thì có gì sai? Nếu không ai ngần ngại nói về ái tình, thì con cũng nên như thế. Lần đầu con có hơi rụt rè, có hơi ngại ngùng, và con không biết mở miệng thế nào. Sau khi nói về nó một vài lần thì con đã ổn hơn. Nghe nhiều hơn và nói nhiều hơn về nó đã biến nó thành của con.” Đúng thế, ngươi đang nói và đang nghe, và chuyện này trở thành của ngươi, nhưng cách hiểu chân chính và nguyên thủy nhất về hôn nhân không thể đứng vững trong sâu thẳm tư tưởng của ngươi, nên ngươi đánh mất lương tâm và lý trí mà người bình thường nên có. Lý do ngươi đánh mất là gì? Là vì ngươi đã tiếp nhận quan điểm hôn nhân gọi là “ái tình”. Quan điểm hôn nhân gọi là “ái tình” này đã chiếm đoạt cách hiểu nguyên thủy nhất và ý thức trách nhiệm trong nhân tính bình thường của ngươi đối với hôn nhân. Ngươi mau chóng dốc sức thực hành cách hiểu về ái tình của riêng ngươi. Ngươi liên tục tìm kiếm người tâm đầu ý hợp với mình, người yêu thương ngươi hay người mà ngươi yêu thương, đồng thời ngươi mưu cầu ái tình bằng mọi cách, không nề hà phiền phức và thậm chí còn bất cần liêm sỉ, đến mức dâng hiến sinh lực cả đời vì ái tình – như vậy thì ngươi xong đời rồi. Trong quá trình mưu cầu ái tình, giả dụ một người phụ nữ tìm được người mình ngưỡng mộ trong lòng, và cô ấy cho rằng: “Chúng ta yêu nhau như vậy thì hãy kết hôn thôi.” Sau khi kết hôn, cô ấy sống với người đó một thời gian, phát hiện anh ta có một số tật xấu, và cô ấy lại cho rằng: “Anh ta không thích mình lắm, mình cũng không thích anh ta lắm. Hai chúng ta không hợp nhau, nên ái tình của chúng ta là một sai lầm. Được rồi, ly hôn thôi.” Sau khi ly hôn, cô ấy đem theo một đứa con khoảng hai đến ba tuổi và chuẩn bị tìm một người khác, trong lòng nghĩ rằng: “Vì cuộc hôn nhân trước của mình không có tình yêu nên mình cần chắc chắn rằng cuộc hôn nhân tiếp theo phải có ái tình đích thực. Lần này phải chắc chắn, nên mình cần dành thời gian quan sát cẩn thận.” Sau một thời gian, cô ấy gặp một người khác, “À, đây là người yêu trong mộng của mình, người mà mình tưởng tượng mình sẽ thích. Anh ấy thích mình và mình cũng thích anh ấy. Anh ấy không thể rời xa mình và mình cũng không thể rời xa anh ấy; chúng mình như hai thỏi nam châm hút lấy nhau, lúc nào cũng muốn ở bên nhau. Chúng mình yêu nhau, vậy thì kết hôn thôi.” Thế là cô ấy lại kết hôn một lần nữa. Kết hôn xong cô ấy có thêm một đứa con nữa, và sau hai hoặc ba năm, cô ấy nghĩ: “Người này có rất nhiều tật xấu; anh ta vừa lười biếng vừa tham ăn, thích khoe khoang khoác lác, lại còn thích buôn chuyện. Anh ta không làm tròn trách nhiệm, không đưa tiền kiếm được cho gia đình, lại còn rượu chè cờ bạc suốt ngày. Đây không phải là người mình muốn yêu. Người mình yêu không phải như thế này. Ly hôn thôi!” Cô ấy lại ly hôn và đem theo hai đứa con. Sau khi ly hôn, cô ấy bắt đầu suy nghĩ: Ái tình là gì? Cô ấy không trả lời được. Có người có tới tận hai hay ba cuộc hôn nhân thất bại, và cuối cùng họ nói gì? “Mình không tin vào ái tình, mình tin vào nhân tính.” Ngươi thấy đấy, họ đi tới đi lui cũng không biết mình nên tin vào điều gì. Họ không biết hôn nhân là gì; họ tiếp nhận những tư tưởng và quan điểm sai lầm, rồi dùng những tư tưởng và quan điểm này như tiêu chí của mình. Họ dốc sức thực hành những tư tưởng và quan điểm này, đồng thời họ cũng liên tục hủy hoại cuộc hôn nhân, hủy hoại bản thân, và hủy hoại người khác; họ làm tổn thương thế hệ tiếp theo và chính họ ở nhiều mức độ khác nhau về cả thể xác và tâm hồn. Những điều này đều là một phần lý do vì sao con người cảm thấy đau khổ và bơ vơ về hôn nhân, vì sao họ không có bất cứ cảm tình nào với hôn nhân. Ta vừa thông công về những cách nhìn và định nghĩa khác nhau của con người về hôn nhân, cũng như hiện trạng hôn nhân của loài người do những quan điểm sai lầm của con người hiện đại đối với hôn nhân; nói tóm lại, hiện trạng hôn nhân của con người hiện đại tốt hay xấu? (Thưa, xấu.) Nó không có triển vọng, không lạc quan, và càng ngày càng lộn xộn. Từ Đông sang Tây, từ Nam ra Bắc, hôn nhân của con người ở trong tình trạng rối tinh rối mù và hỗn loạn. Con người của thế hệ hiện tại – những người dưới độ tuổi bốn mươi hoặc năm mươi – đều chứng kiến sự bất hạnh trong những cuộc hôn nhân của những thế hệ trước và thế hệ sau, cũng như những cách nhìn của các thế hệ này về hôn nhân, và những trải nghiệm hôn nhân thất bại của họ. Đương nhiên, nhiều người dưới độ tuổi bốn mươi là nạn nhân của đủ mọi kiểu hôn nhân bất hạnh; có một số người là mẹ đơn thân, số khác là cha đơn thân, dĩ nhiên số lượng cha đơn thân tương đối ít hơn một chút. Có người lớn lên với mẹ đẻ và cha dượng, có người lớn lên với cha đẻ và mẹ kế, người khác thì lớn lên với anh chị em khác mẹ hoặc cha. Những người khác thì có cha mẹ ly hôn rồi tái hôn, và những người cha người mẹ đó không cần họ nữa, nên họ trở thành trẻ mồ côi, trở thành người trưởng thành sau vài năm lăn lộn trong xã hội; rồi họ trở thành cha dượng hoặc mẹ kế, hoặc họ trở thành một người mẹ hoặc bố đơn thân. Đây là hiện trạng của hôn nhân hiện đại. Nhân loại quản lý hôn nhân tới mức độ này có phải là kết quả của việc bị Sa-tan làm cho bại hoại không? (Thưa, phải.) Hình thức cần có của sự sinh tồn và sinh sôi cơ bản nhất của nhân loại đã bị phá nát khủng khiếp và biến thành một đống hỗn độn. Ngươi nghĩ nhân loại sống thế nào? Chứng kiến cuộc sống của mỗi gia đình thật phiền lòng, thực sự trông quá thê thảm. Đừng nói thêm về chuyện này nữa; càng nói càng cảm thấy phiền lòng, đúng không?