Tuyển chọn từ ba phân đoạn trong Lời Chúa về “Khải tượng về công tác của Đức Chúa Trời”

1. Giăng đã làm việc bảy năm cho Jêsus, và đã dọn đường khi Jêsus đến. Trước đó, Phúc Âm về vương quốc thiên đàng do Giăng rao giảng đã được nghe thấy khắp vùng, hầu cho nó lan rộng khắp Giu-đê, và mọi người gọi Giăng là một tiên tri. Vào lúc đó, Vua Hê-rốt muốn giết Giăng, nhưng lại không dám, vì dân chúng rất kính trọng Giăng, và Hê-rốt sợ rằng nếu vua giết Giăng thì họ sẽ nổi dậy chống lại vua. Công tác được Giăng thực hiện đã bén rễ giữa những người bình thường, và người đã tạo nên những tín đồ người Do Thái. Trong bảy năm, người đã dọn đường cho Jêsus, cho đến khi Jêsus bắt đầu thực hiện chức vụ của Ngài. Và vì vậy, Giăng là người vĩ đại nhất trong tất cả các tiên tri. Jêsus chỉ bắt đầu công tác chính thức của Ngài sau khi Giăng bị cầm tù. Trước Giăng, chưa từng có một tiên tri nào dọn đường cho Đức Chúa Trời, bởi vì trước Jêsus, Đức Chúa Trời chưa bao giờ trở nên xác thịt trước đó. Và vì vậy, trong số tất cả các tiên tri cho đến Giăng, người là tiên tri duy nhất dọn đường cho Đức Chúa Trời nhập thể, và bằng cách này Giăng đã trở thành tiên tri vĩ đại nhất của Cựu và Tân Ước. Giăng đã bắt đầu rao truyền Phúc Âm của vương quốc thiên đàng bảy năm trước khi Jêsus nhận phép báp-têm. Đối với mọi người, công tác người đã làm dường như vượt trên công tác tiếp sau đó của Jêsus, tuy nhiên, người vẫn chỉ là một tiên tri mà thôi. Người đã làm việc và phán dạy không phải bên trong đền thờ, mà là ở các thị trấn và làng mạc bên ngoài đền thờ. Tất nhiên, người đã làm điều này giữa dân tộc Do Thái, đặc biệt là những người nghèo khổ. Hiếm khi Giăng tiếp xúc với những người từ giới thượng lưu của xã hội, chỉ rao truyền Phúc Âm giữa những người bình thường tại Giu-đê nhằm chuẩn bị những người phù hợp cho Đức Chúa Jêsus, và chuẩn bị những địa điểm thích hợp để Ngài làm việc. Với một tiên tri như Giăng mở đường, Đức Chúa Jêsus đã có thể bắt đầu ngay con đường thập tự giá của Ngài ngay khi Ngài đến. Khi Đức Chúa Trời trở nên xác thịt để làm công tác của Ngài, Ngài đã không phải làm công tác chọn người, và không cần phải đích thân tìm người hay địa điểm để làm việc. Ngài đã không làm những việc như thế khi Ngài đến; người thích hợp đã chuẩn bị cho Ngài trước khi Ngài đến. Giăng đã hoàn thành công tác này trước khi Jêsus bắt đầu công tác của Ngài, vì khi Đức Chúa Trời nhập thể đến để thực hiện công tác của mình, Ngài đã bắt tay làm việc ngay trên những người đã chờ đợi Ngài từ lâu. Jêsus đã đến không phải để thực hiện công tác của con người, hoặc công tác điều chỉnh thuộc bổn phận của con người. Ngài đã đến chỉ để thực hiện chức vụ mà chính Ngài phải thực hiện, và mọi thứ khác đều không liên quan đến Ngài. Khi Giăng đến, người đã không làm gì khác ngoài việc đưa ra khỏi đền thờ và giữa vòng dân Do Thái một nhóm người chấp nhận Phúc Âm của vương quốc thiên đàng, để họ có thể trở thành những đối tượng cho công tác của Đức Chúa Jêsus. Giăng đã làm việc trong bảy năm, có nghĩa là người đã rao truyền Phúc Âm trong bảy năm. Trong công tác của mình, Giăng đã không thực hiện nhiều phép lạ, vì công tác của người là dọn đường, đó là công tác chuẩn bị. Tất cả những công tác khác, công tác Jêsus sẽ làm, không liên quan đến người; người đã chỉ yêu cầu con người xưng tội của mình và ăn năn, và làm phép báp-têm cho mọi người, hầu cho họ có thể được cứu rỗi. Mặc dù người đã làm công tác mới và đã mở ra một con đường mà con người chưa từng đi trước đó, nhưng người vẫn chỉ dọn đường cho Jêsus mà thôi. Người chỉ đơn thuần là một tiên tri đã làm công tác chuẩn bị, và không có khả năng làm công tác của Jêsus. Mặc dù Jêsus không phải là người đầu tiên rao giảng Phúc Âm về vương quốc thiên đàng, và mặc dù Ngài tiếp tục trên con đường mà Giăng đã mở ra, nhưng vẫn không có ai khác có thể làm công tác của Ngài, và nó vượt lên trên công tác của Giăng. Jêsus đã không thể chuẩn bị con đường riêng của Ngài; công tác của Ngài đã được thực hiện trực tiếp nhân danh Đức Chúa Trời. Và vì vậy, cho dù Giăng đã làm việc bao nhiêu năm thì người vẫn là một tiên tri, và vẫn là một người dọn đường. Ba năm công tác do Jêsus thực hiện đã vượt qua bảy năm công tác của Giăng, vì thực chất công tác của Ngài không giống như của Giăng. Khi Jêsus bắt đầu thực hiện chức vụ của Ngài, đó cũng là lúc công tác của Giăng kết thúc, Giăng đã chuẩn bị đủ người và địa điểm cho Đức Chúa Jêsus sử dụng, và chúng đã đủ cho Đức Chúa Jêsus bắt đầu ba năm công tác. Và vì vậy, ngay khi công tác của Giăng kết thúc, Đức Chúa Jêsus đã chính thức bắt đầu công tác của riêng Ngài, và những lời Giăng đã nói bị gạt sang một bên. Đó là do công tác mà Giăng thực hiện chỉ nhằm mục đích chuyển tiếp, và những lời nói của người không phải là những lời của sự sống sẽ đưa con người đến sự tăng trưởng mới; cuối cùng, những lời nói của người chỉ có ích lợi tạm thời mà thôi.

Trích từ “Khải tượng về công tác của Đức Chúa Trời (1)” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

2. Vào thời điểm đó, một phần công tác của Jêsus phù hợp với Cựu Ước, cũng như với luật pháp của Môi-se và những lời của Đức Giê-hô-va trong Thời đại Luật pháp. Jêsus đã sử dụng tất cả những điều này để thực hiện phần công tác của Ngài. Ngài đã rao giảng cho dân chúng và dạy dỗ họ trong các nhà hội, và Ngài đã dùng những lời tiên báo của các tiên tri trong Cựu Ước để quở trách người Pha-ri-si đang thù địch với Ngài, và đã dùng những lời trong Kinh Thánh để tỏ lộ sự bất tuân của họ và qua đó lên án họ. Vì họ xem thường những gì Jêsus đã làm; đặc biệt, phần lớn công tác của Jêsus đã không dựa theo luật pháp trong Kinh Thánh, và hơn thế nữa, những gì Ngài đã dạy dỗ còn cao hơn những lời nói của chính họ, và thậm chí cao hơn những gì đã được các tiên tri trong Kinh Thánh tiên báo. Công tác của Jêsus chỉ vì sự cứu chuộc con người và sự đóng đinh trên thập tự giá. Do đó, Ngài không cần phải phán thêm lời nào nhằm chinh phục bất kỳ người nào. Phần lớn những gì Ngài đã dạy dỗ con người được rút ra từ những lời của Kinh Thánh, và ngay cả khi công tác của Ngài không vượt quá Kinh Thánh thì Ngài vẫn có thể hoàn thành công tác chịu đóng đinh. Công tác của Ngài không phải là công tác dùng lời nói, cũng không phải để chinh phục loài người, mà là nhằm cứu chuộc nhân loại. Ngài đã chỉ đóng vai trò là của lễ chuộc tội cho nhân loại, và không đóng vai trò là nguồn gốc của lời dành cho nhân loại. Ngài đã không làm công tác của dân ngoại, là công tác chinh phục con người, mà đã làm công tác chịu đóng đinh, là công tác được thực hiện giữa những người tin rằng có một Đức Chúa Trời. Mặc dù công tác của Ngài đã được thực hiện dựa trên nền tảng của Kinh Thánh, và Ngài đã dùng những điều được tiên báo bởi các tiên tri cũ để kết án người Pha-ri-si, nhưng điều này đã đủ để hoàn thành công tác chịu đóng đinh. Nếu công tác của ngày nay vẫn được thực hiện dựa trên nền tảng của những lời tiên báo của các tiên tri cũ trong Kinh Thánh, thì nó sẽ không thể chinh phục được các ngươi, vì Cựu Ước không có chứa bản ghi chép về sự bất tuân và tội lỗi của người Trung Quốc các ngươi, không có lịch sử về tội lỗi của các ngươi. Và vì vậy, nếu công tác này vẫn còn quanh quẩn trong Kinh Thánh, các ngươi sẽ không bao giờ chịu khuất phục. Kinh Thánh chỉ ghi lại một lịch sử giới hạn của dân Y-sơ-ra-ên, là điều không có khả năng chứng minh liệu các ngươi là xấu hay tốt, hoặc phán xét các ngươi. Hãy tưởng tượng rằng Ta đã phán xét các ngươi dựa theo lịch sử của dân Y-sơ-ra-ên - liệu các ngươi vẫn sẽ theo Ta như các ngươi theo ngày nay chứ? Các ngươi có biết mình khó khăn như thế nào không? Nếu không có lời nào được phán ra trong giai đoạn này, thì sẽ không thể nào hoàn thành công tác chinh phục. Bởi vì Ta đã đến không phải để chịu đóng đinh trên thập tự giá, Ta phải phán những lời tách biệt với Kinh Thánh, để các ngươi có thể được chinh phục.

Trích từ “Khải tượng về công tác của Đức Chúa Trời (1)” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

3. Công tác đã được Jêsus thực hiện chỉ đơn thuần là một giai đoạn cao hơn Cựu Ước; nó đã được dùng để bắt đầu một thời đại, và để dẫn dắt thời đại đó. Tại sao Ngài đã phán rằng: “Ta đã đến không phải để phá hủy luật pháp, nhưng để làm cho trọn”? Tuy nhiên, trong công tác của Ngài có nhiều điều khác biệt với các luật lệ đã được thực hành và các điều răn đã được dân Y-sơ-ra-ên tuân theo trong Cựu Ước, vì Ngài đã không đến để vâng theo luật pháp, mà là để làm trọn nó. Quá trình làm trọn nó bao gồm nhiều điều thực tế: Công tác của Ngài thiết thực và thực tế hơn, và hơn nữa, nó sống động, và không phải là sự trung thành mù quáng vào giáo lý. Chẳng phải dân Y-sơ-ra-ên đã giữ ngày Sa-bát sao? Khi Jêsus đến, Ngài đã không tuân giữ ngày Sa-bát, vì Ngài phán rằng Con người là Chúa của ngày Sa-bát, và khi Chúa của ngày Sa-bát đến, Ngài sẽ làm như Ngài muốn. Ngài đã đến để làm trọn luật pháp của Cựu Ước và để thay đổi luật pháp. Tất cả những gì được thực hiện ngày nay đều dựa trên hiện tại, nhưng nó vẫn dựa trên nền tảng công tác của Đức Giê-hô-va trong Thời đại Luật pháp, và không vượt quá phạm vi này. Ví dụ, cẩn thận về cái lưỡi của các ngươi, và đừng phạm tội tà dâm - những điều này chẳng phải là những luật lệ của Cựu Ước sao? Ngày nay, những gì được yêu cầu ở các ngươi không chỉ bị giới hạn trong Mười Điều Răn, mà bao gồm các điều răn và luật lệ của một trật tự cao hơn so với những điều đã đến trước đây, nhưng điều này không có nghĩa là những điều đến trước đã bị bãi bỏ, vì từng giai đoạn công tác của Đức Chúa Trời được thực hiện trên nền tảng của giai đoạn trước đó. Về những điều mà Đức Giê-hô-va đã đưa ra cho Y-sơ-ra-ên, chẳng hạn như yêu cầu mọi người phải dâng tế lễ, hiếu kính cha mẹ, không thờ thần tượng, không hành hung hay rủa sả người khác, không phạm tội tà dâm, không hút thuốc hay uống rượu, và không ăn những vật chết hoặc uống huyết: chẳng phải điều này hình thành nền tảng cho thực hành của các ngươi thậm chí đến ngày nay sao? Chính trên nền tảng của quá khứ mà công tác đã được thực hiện cho đến ngày nay. Mặc dù các luật lệ của quá khứ không còn được đề cập đến và các yêu cầu mới đã được lập ra cho các ngươi, nhưng các luật lệ này, chẳng những không bị bãi bỏ, mà thay vào đó còn được nâng lên vị trí cao hơn. Nói rằng chúng đã bị bãi bỏ có nghĩa là thời đại trước đã lỗi thời, trong khi có một số điều răn mà các ngươi phải tôn trọng đời đời. Các điều răn trong quá khứ đã được đưa vào thực hành, đã trở thành bản chất của con người, và không cần phải lặp lại các điều răn không hút thuốc, không uống rượu, v.v. nữa. Dựa trên nền tảng này, các điều răn mới được đặt ra dựa theo những nhu cầu của các ngươi ngày nay, theo vóc giạc của các ngươi, và theo công tác của ngày nay. Việc ban ra các điều răn cho thời đại mới không có nghĩa là bãi bỏ các điều răn của thời đại cũ, mà là nâng chúng lên cao hơn dựa trên nền tảng này, để khiến cho những hành động của con người được trọn vẹn hơn, và phù hợp hơn với thực tế. Nếu ngày nay, các ngươi được yêu cầu chỉ tuân theo các điều răn và tuân thủ luật pháp của Cựu Ước, giống như dân Y-sơ-ra-ên, và nếu thậm chí các ngươi được yêu cầu ghi nhớ luật pháp do Đức Giê-hô-va đặt ra, thì sẽ không có khả năng nào để các ngươi có thể thay đổi. Nếu các ngươi chỉ tuân thủ một vài điều răn giới hạn hoặc ghi nhớ vô số luật lệ, thì bản chất cũ của các ngươi sẽ cứ ăn sâu, và sẽ không có cách nào để nhổ bật gốc nó. Như thế, các ngươi sẽ ngày càng trở nên suy đồi, và không một ai trong số các ngươi sẽ trở nên vâng lời. Điều đó có nghĩa là một vài điều răn đơn giản hoặc vô số luật lệ không có khả năng giúp các ngươi biết những việc làm của Đức Giê-hô-va. Các ngươi không giống như dân Y-sơ-ra-ên: Bằng cách tuân theo luật pháp và ghi nhớ các điều răn, họ đã có thể làm chứng cho những việc làm của Đức Giê-hô-va, và chỉ tận hiến cho Ngài mà thôi, nhưng các ngươi không thể đạt được điều này, và một vài điều răn của thời đại Cựu Ước không chỉ không có khả năng khiến cho các ngươi trao phó lòng mình, hoặc bảo vệ các ngươi, mà thay vào đó sẽ khiến các ngươi lơi lỏng, và sẽ kéo các ngươi xuống âm phủ. Vì công tác của Ta là công tác chinh phục, nhắm vào sự bất tuân và bản chất cũ của các ngươi. Những lời tử tế của Đức Giê-hô-va và Jêsus còn thua xa những lời phán xét gay gắt ngày nay. Nếu không có những lời lẽ gay gắt như vậy, sẽ không thể chinh phục được “các chuyên gia” như các ngươi, những người đã bất tuân trong hàng nghìn năm. Luật pháp của Cựu Ước đã mất tác dụng trên các ngươi từ lâu, và sự phán xét của ngày nay còn kinh khủng hơn nhiều so với luật pháp cũ. Điều thích hợp nhất với các ngươi là sự phán xét, chứ không phải là những hạn chế vặt vãnh của luật pháp, vì các ngươi không phải là nhân loại của thuở ban đầu, mà là nhân loại đã bị bại hoại qua hàng nghìn năm. Những gì con người phải đạt được lúc này là dựa theo tình trạng thực tế của con người ngày nay, dựa theo phẩm chất và vóc giạc thực tế của con người hiện nay, và nó không đòi hỏi ngươi phải tuân theo giáo lý. Điều này là để có thể đạt được những thay đổi trong bản chất cũ của ngươi, và để ngươi có thể gạt bỏ những quan niệm của mình sang một bên.

Trích từ “Khải tượng về công tác của Đức Chúa Trời (1)” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

4. Vào thời điểm đó công tác của Jêsus là cứu chuộc cả nhân loại. Tội lỗi của tất cả những ai tin vào Ngài đã được tha thứ; miễn là ngươi tin vào Ngài, Ngài sẽ cứu chuộc ngươi; nếu ngươi tin vào Ngài, ngươi không còn là tội nhân nữa, ngươi đã được giải thoát khỏi tội lỗi của mình. Điều này là ý nghĩa của việc được cứu, và được xưng công chính bởi đức tin. Tuy nhiên, trong số những người tin, vẫn còn có sự nổi loạn và chống đối Đức Chúa Trời, và điều đó vẫn phải bị loại bỏ từ từ. Sự cứu rỗi không có nghĩa là con người đã được Jêsus hoàn toàn thu phục, mà có nghĩa là người đó không còn thuộc về tội lỗi nữa, họ đã được tha tội: Miễn là ngươi tin, thì ngươi sẽ không bao giờ phạm tội nữa. Vào thời điểm đó, Jêsus đã làm nhiều việc mà các môn đệ của Ngài không thể hiểu nổi, và đã phán nhiều điều mà mọi người không hiểu được. Điều này là vì, tại thời điểm đó, Ngài đã không đưa ra lời giải thích. Do đó, vài năm sau khi Ngài rời đi, Ma-thi-ơ đã lập gia phả của Ngài, và những người khác cũng đã làm nhiều việc theo ý muốn của con người. Jêsus đã không đến để hoàn thiện và thu phục con người, mà để thực hiện một giai đoạn của công tác: đưa ra Phúc Âm của vương quốc thiên đàng và hoàn thành công tác chịu đóng đinh - và vì thế một khi Jêsus đã bị đóng đinh, công tác của Ngài hoàn toàn chấm dứt. Nhưng trong giai đoạn hiện nay - công tác chinh phục - nhiều lời hơn phải được phán ra, nhiều công tác hơn phải được thực hiện, và phải có nhiều quá trình. Những sự mầu nhiệm về công tác của Jêsus và Đức Giê-hô-va cũng phải được tiết lộ, hầu cho tất cả mọi người có thể có sự hiểu biết và sự rõ ràng trong niềm tin của họ, vì đây là công tác của những ngày sau rốt, và những ngày sau rốt là kết thúc cho công tác của Đức Chúa Trời, thời điểm chấm dứt công tác này. Giai đoạn công tác này sẽ làm cho ngươi sáng tỏ về luật pháp của Đức Giê-hô-va và sự cứu chuộc của Jêsus, và chủ yếu để ngươi có thể hiểu được toàn bộ công tác của kế hoạch quản lý sáu nghìn năm của Đức Chúa Trời, và đánh giá cao tất cả ý nghĩa và thực chất của kế hoạch quản lý sáu nghìn năm, hiểu được mục đích của tất cả công tác đã được Jêsus thực hiện và những lời Ngài đã phán, và thậm chí lòng tin mù quáng cùng sự sùng bái Kinh Thánh của ngươi. Tất cả điều này sẽ cho phép ngươi nhận thức được. Ngươi sẽ hiểu được cả công tác được thực hiện bởi Jêsus lẫn công tác của Đức Chúa Trời ngày nay; ngươi sẽ hiểu và trông thấy mọi lẽ thật, sự sống và đường đi. Trong giai đoạn công tác do Jêsus thực hiện, tại sao Jêsus lại rời đi mà không kết thúc công tác của Đức Chúa Trời? Bởi vì giai đoạn công tác của Jêsus không phải là công tác kết thúc. Khi Ngài bị đóng đinh trên thập tự giá, những lời của Ngài cũng chấm dứt; sau khi Ngài bị đóng đinh, công tác của Ngài đã hoàn thành trọn vẹn. Giai đoạn hiện nay thì khác: Chỉ sau khi những lời được phán ra đến cuối cùng và toàn bộ công tác của Đức Chúa Trời kết thúc thì công tác của Ngài mới hoàn thành. Trong giai đoạn công tác của Jêsus, đã có rất nhiều lời vẫn chưa được phán ra, hoặc chưa được phán rõ ràng đầy đủ. Tuy nhiên, Jêsus đã không quan tâm đến những gì Ngài phán hoặc không phán, vì chức vụ của Ngài không phải là một chức vụ của lời phán, và vì vậy sau khi Ngài đã bị đóng đinh trên thập tự giá thì Ngài đã rời đi. Giai đoạn công tác đó chủ yếu là để chịu đóng đinh, và khác với giai đoạn ngày nay. Giai đoạn công tác này chủ yếu là để hoàn thành, làm sáng tỏ, và đưa tất cả công tác đến một kết thúc. Nếu những lời không được phán ra đến cùng, sẽ không có cách nào để kết thúc công tác này, vì trong giai đoạn công tác này tất cả công tác đều được kết thúc và hoàn thành bằng cách sử dụng những lời phán. Vào thời điểm đó, Jêsus đã làm nhiều việc mà con người không thể hiểu được. Ngài đã lặng lẽ rời đi, và ngày nay vẫn còn nhiều người không hiểu lời của Ngài, sự hiểu biết của họ là sai lầm nhưng vẫn được họ tin là đúng, những người không biết rằng mình sai. Cuối cùng, giai đoạn hiện tại này sẽ đưa công tác của Đức Chúa Trời đến một kết thúc hoàn chỉnh, và sẽ đưa ra sự chấm dứt của nó. Tất cả sẽ được hiểu và biết về kế hoạch quản lý của Đức Chúa Trời. Những quan niệm bên trong con người, những ý định của họ, sự hiểu biết sai lầm của họ, những quan niệm của họ đối với công tác của Đức Giê-hô-va và Jêsus, những quan điểm của họ về dân ngoại, và những sự sai lệch và lỗi lầm khác của họ sẽ được sửa chữa. Và con người sẽ hiểu mọi con đường đúng đắn của sự sống, tất cả những công tác được Đức Chúa Trời thực hiện, và toàn bộ lẽ thật. Khi điều đó xảy ra, giai đoạn công tác này sẽ kết thúc.

Trích từ “Khải tượng về công tác của Đức Chúa Trời (2)” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

5. Công tác của Đức Giê-hô-va là sự sáng tạo thế giới, đó là sự khởi đầu; giai đoạn công tác này là kết thúc của công tác, và nó là sự chấm dứt. Vào lúc bắt đầu, công tác của Đức Chúa Trời đã được thực hiện giữa những người được chọn của Y-sơ-ra-ên, và đó là buổi bình minh của một kỷ nguyên mới ở nơi thánh khiết nhất trong mọi nơi. Giai đoạn cuối cùng của công tác được thực hiện ở nơi ô uế nhất của mọi quốc gia, để phán xét thế gian và kết thúc thời đại. Trong giai đoạn đầu tiên, công tác của Đức Chúa Trời đã được thực hiện ở nơi sáng sủa nhất trong mọi nơi, và giai đoạn cuối cùng được thực hiện ở nơi tối tăm nhất trong mọi nơi, và sự tối tăm này sẽ bị xua tan, ánh sáng phát ra, và tất cả mọi người đều được chinh phục. Khi con người ở nơi ô uế và đen tối nhất trong mọi nơi này đã được chinh phục, và toàn thể dân chúng đã công nhận rằng có một Đức Chúa Trời, là Chúa thật, và mọi người đã bị thuyết phục hoàn toàn, thì thực tế này sẽ được dùng để thực hiện công tác chinh phục khắp toàn thể vũ trụ. Giai đoạn công tác này mang tính tượng trưng: Một khi công tác của thời đại này đã được hoàn thành, công tác quản lý 6.000 năm sẽ hoàn toàn kết thúc. Một khi những người trong nơi tối tăm nhất trong mọi nơi đã được chinh phục, hiển nhiên nó cũng sẽ như thế ở mọi nơi khác. Như vậy, chỉ có công tác chinh phục ở Trung Quốc mang chủ nghĩa tượng trưng có ý nghĩa. Trung Quốc tiêu biểu cho mọi lực lượng tối tăm, và người dân Trung Quốc đại diện cho tất cả những ai thuộc về xác thịt, thuộc về Sa-tan, thuộc về thịt và huyết. Chính người dân Trung Quốc là những người đã bị bại hoại nhất bởi con rồng lớn sắc đỏ, là những người có sự chống đối mạnh mẽ nhất đối với Đức Chúa Trời, nhân tính của họ là hèn hạ và ô uế nhất, và vì vậy họ là nguyên mẫu của cả loài người bại hoại. Điều này không có nghĩa là các quốc gia khác không có vấn đề gì cả; các quan niệm của con người đều giống nhau, và mặc dù người dân của các quốc gia này có thể có phẩm chất tốt, nhưng nếu họ không biết Đức Chúa Trời, thì chắc chắn họ chống đối Ngài. Tại sao người Do Thái cũng đã chống đối và thách thức Đức Chúa Trời? Tại sao những người Pha-ri-si cũng đã chống đối Ngài? Tại sao Giu-đa phản bội Jêsus? Vào thời điểm đó, nhiều môn đệ đã không biết Jêsus. Tại sao sau khi Jêsus đã bị đóng đinh và sống lại, mọi người vẫn không tin Ngài? Chẳng phải sự bất tuân của con người thảy đều giống nhau sao? Nó chỉ đơn thuần là người dân Trung Quốc được lấy làm gương, và khi được chinh phục thì họ sẽ trở thành một kiểu mẫu và hình mẫu, và sẽ là sự tham khảo cho những người khác. Tại sao Ta đã luôn phán rằng các ngươi là một sự bổ trợ cho kế hoạch quản lý của Ta? Chính ở người dân Trung Quốc mà sự bại hoại, ô uế, bất chính, chống đối và nổi loạn được thể hiện trọn vẹn nhất và được biểu lộ dưới mọi hình thức khác nhau của chúng. Một mặt, họ có phẩm chất kém, và mặt khác, đời sống và tư duy của họ lạc hậu, và những thói quen, môi trường xã hội, gia đình sinh ra họ - tất cả đều nghèo nàn và lạc hậu nhất. Vóc giạc của họ cũng thấp kém. Công tác ở nơi này mang tính tượng trưng, và sau khi công tác kiểm tra này đã được thực hiện trọn vẹn, công tác tiếp theo của Ngài sẽ tiến triển tốt hơn nhiều. Nếu bước công tác này có thể được hoàn thành, thì công tác tiếp theo chắc chắn sẽ tiến triển. Một khi bước công tác này đã được hoàn thành, thành công lớn sẽ đạt được trọn vẹn, và công tác chinh phục khắp toàn thể vũ trụ sẽ hoàn toàn kết thúc. Trên thực tế, một khi công tác giữa các ngươi đã thành công, điều này sẽ tương đương với thành công khắp toàn thể vũ trụ. Đây là ý nghĩa của lý do Ta bắt các ngươi hành động như một kiểu mẫu và hình mẫu. Sự nổi loạn, chống đối, ô uế, bất chính - tất cả đều được tìm thấy ở những người này, và ở họ đại diện cho mọi sự nổi loạn của loài người. Họ thực sự đáng chú ý. Do đó, họ được xem là mẫu mực của sự chinh phục, và một khi họ đã được chinh phục thì họ sẽ tự nhiên trở thành một kiểu mẫu và hình mẫu cho những người khác.

Trích từ “Khải tượng về công tác của Đức Chúa Trời (2)” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

6. Không có gì mang tính tượng trưng hơn giai đoạn đầu tiên được thực hiện ở Y-sơ-ra-ên: Người Y-sơ-ra-ên là những người thánh khiết nhất và ít bại hoại nhất trong mọi dân tộc, và vì vậy, buổi bình minh của kỷ nguyên mới ở vùng đất này cực kỳ có ý nghĩa. Có thể nói rằng tổ tiên của loài người đã đến từ Y-sơ-ra-ên, và rằng Y-sơ-ra-ên là nơi sinh ra công tác của Đức Chúa Trời. Ban đầu, những người này là những người thánh khiết nhất, và tất cả họ đều đã thờ phượng Đức Giê-hô-va, và công tác của Đức Chúa Trời qua họ đã có thể mang lại những kết quả tốt nhất. Toàn bộ Kinh Thánh ghi lại công tác của hai thời đại: Một là công tác của Thời đại Luật pháp, và một là công tác của Thời đại Ân điển. Cựu Ước ghi lại những lời của Đức Giê-hô-va dành cho dân Y-sơ-ra-ên và công tác của Ngài tại Y-sơ-ra-ên; Tân Ước ghi lại công tác của Jêsus tại Giu-đê. Nhưng tại sao Kinh Thánh lại không có chứa bất kỳ tên Trung Quốc nào? Bởi vì hai phần đầu tiên của công tác của Đức Chúa Trời đã được thực hiện ở Y-sơ-ra-ên, bởi vì người dân Y-sơ-ra-ên là những người được chọn - có nghĩa là họ là những người đầu tiên đã chấp nhận công tác của Đức Giê-hô-va. Họ là những người ít bại hoại nhất trong toàn thể nhân loại, và ban đầu, họ đã có ý định tìm kiếm Đức Chúa Trời và tôn kính Ngài. Họ đã vâng theo lời của Đức Giê-hô-va, luôn hầu việc trong đền thờ, và mặc áo choàng hoặc đội mũ của thầy tế lễ. Họ là những người đầu tiên thờ phượng Đức Chúa Trời và là đối tượng ban đầu cho công tác của Ngài. Những người này đã là một kiểu mẫu và hình mẫu cho toàn thể nhân loại. Họ là những kiểu mẫu và hình mẫu của sự thánh khiết và công chính. Những người như Gióp, Áp-ra-ham, Lót, hoặc Phi-e-rơ và Ti-mô-thê - tất cả họ đều là người Y-sơ-ra-ên, và là những hình mẫu và kiểu mẫu thánh khiết nhất. Y-sơ-ra-ên là quốc gia đầu tiên thờ phượng Đức Chúa Trời giữa nhân loại, và người công chính đã đến từ nơi đây nhiều hơn bất kỳ nơi nào khác. Đức Chúa Trời đã làm việc qua họ để Ngài có thể quản lý loài người trên khắp vùng đất trong tương lai tốt hơn. Những thành tựu của họ và sự công chính trong sự thờ phượng Đức Giê-hô-va của họ đã được ghi lại, hầu cho chúng có thể làm những hình mẫu và kiểu mẫu cho những người ngoài Y-sơ-ra-ên trong Thời đại Ân điển; và những hành động của họ đã duy trì vài nghìn năm công tác, cho đến tận ngày nay.

Trích từ “Khải tượng về công tác của Đức Chúa Trời (2)” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

7. Thời đại Ân điển bắt đầu với danh của Jêsus. Khi Jêsus bắt đầu thực hiện chức vụ của Ngài, Đức Thánh Linh đã bắt đầu xác chứng cho danh của Jêsus, và danh của Đức Giê-hô-va đã không còn được nhắc đến nữa; thay vào đó, Đức Thánh Linh đã đảm nhận công tác mới chủ yếu dưới danh của Jêsus. Những người tin vào Ngài đã đưa ra chứng ngôn cho Chúa Jêsus Christ, và công tác họ làm cũng là vì Chúa Jêsus Christ. Sự kết thúc của Thời đại Luật pháp trong Cựu Ước có nghĩa là công tác chủ yếu được thực hiện dưới danh của Đức Giê-hô-va đã chấm dứt. Do đó, danh của Đức Chúa Trời không còn là Giê-hô-va nữa; thay vào đó, Ngài đã được gọi là Jêsus, và từ đây Đức Thánh Linh đã bắt đầu công tác chủ yếu dưới danh của Jêsus. Vì vậy, ngày nay người nào vẫn ăn uống lời của Đức Giê-hô-va, và vẫn làm mọi việc theo công tác của Thời đại Luật pháp - chẳng phải ngươi đang mù quáng tuân thủ những quy định ở đây sao? Chẳng phải ngươi bị mắc kẹt trong quá khứ sao? Các ngươi biết rằng những ngày sau rốt đã đến. Có thể nào khi Jêsus đến, Ngài vẫn sẽ được gọi là Jêsus? Đức Giê-hô-va đã bảo dân Y-sơ-ra-ên rằng một Đấng Mê-si-a sẽ đến, nhưng khi Ngài đến, Ngài đã không được gọi là Đấng Mê-si-a mà là Jêsus. Jêsus đã phán rằng Ngài sẽ trở lại, và rằng Ngài sẽ đến như Ngài đã rời đi. Đây là những lời của Jêsus, nhưng ngươi có nhìn thấy cách mà Jêsus đã rời đi không? Jêsus đã cưỡi trên một đám mây trắng rời đi, nhưng có thể nào Ngài sẽ đích thân trở lại giữa con người trên một đám mây trắng không? Nếu vậy, chẳng phải Ngài vẫn sẽ được gọi là Jêsus sao? Khi Jêsus trở lại, lúc đó thời đại đã thay đổi, vậy có thể nào Ngài vẫn được gọi là Jêsus? Phải chăng Đức Chúa Trời chỉ có thể được biết đến với danh của Jêsus? Chẳng lẽ Ngài không thể được gọi bằng một danh mới trong một thời đại mới sao? Hình ảnh của một con người và một danh xưng cụ thể có thể đại diện toàn bộ cho Đức Chúa Trời sao? Trong từng thời đại, Đức Chúa Trời làm công tác mới và được gọi bằng một danh mới; làm sao Ngài có thể làm cùng một công tác trong các thời đại khác nhau? Làm sao Ngài có thể bám lấy cái cũ? Danh của Jêsus đã được dùng cho công tác cứu chuộc, vậy nên Ngài vẫn sẽ được gọi cùng một danh đó khi Ngài trở lại trong những ngày sau rốt sao? Ngài vẫn sẽ làm công tác cứu chuộc sao? Tại sao Đức Giê-hô-va và Jêsus là một, nhưng Họ lại được gọi bằng những danh xưng khác nhau trong các thời đại khác nhau? Chẳng phải vì thời đại của Họ khác nhau sao? Liệu một danh xưng riêng lẻ có thể đại diện cho toàn bộ Đức Chúa Trời sao? Như vậy, Đức Chúa Trời phải được gọi bằng một danh xưng khác trong một thời đại khác, và phải dùng danh xưng để thay đổi thời đại và đại diện cho thời đại. Vì không danh xưng nào có thể đại diện đầy đủ cho chính Đức Chúa Trời, và mỗi danh xưng chỉ có thể đại diện cho khía cạnh tạm thời của tâm tính Chúa trong một thời đại nhất định; tất cả những gì nó cần làm là đại diện cho công tác của Ngài. Do đó, Đức Chúa Trời có thể chọn bất kỳ danh xưng nào phù hợp với tâm tính của Ngài để đại diện cho toàn bộ thời đại. Bất kể đó là thời đại của Đức Giê-hô-va hay thời đại của Jêsus, từng thời đại được đại diện bằng một danh xưng. Vào cuối Thời đại Ân điển, thời đại cuối cùng đã đến, và Jêsus đã đến. Làm sao Ngài vẫn có thể được gọi là Jêsus? Làm sao Ngài vẫn có thể mang hình dạng của Jêsus giữa con người? Ngươi đã quên rằng Jêsus không hơn gì hình ảnh của một người Na-xa-rét sao? Ngươi đã quên rằng Jêsus chỉ là Đấng Cứu Chuộc của nhân loại sao? Làm sao Ngài có thể đảm nhận công tác chinh phục và hoàn thiện con người trong những ngày sau rốt?

Trích từ “Khải tượng về công tác của Đức Chúa Trời (3)” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

8. Mỗi lần Đức Chúa Trời đến thế gian, Ngài thay đổi danh xưng, giới tính, hình ảnh và công tác của mình; Ngài không lặp lại công tác của mình. Ngài là một Đức Chúa Trời luôn mới và không bao giờ cũ. Khi Ngài đến trước đây, Ngài đã được gọi là Jêsus; có thể nào lần này Ngài vẫn được gọi là Jêsus khi Ngài tái lâm? Khi Ngài đến trước đây, Ngài là người nam; có thể nào Ngài lại là người nam lần nữa? Công tác của Ngài khi Ngài đến trong Thời đại Ân điển là bị đóng đinh trên thập tự giá; khi Ngài tái lâm, có thể nào Ngài vẫn cứu chuộc loài người khỏi tội lỗi? Có thể nào Ngài lại bị đóng đinh trên thập tự giá một lần nữa? Chẳng phải điều đó sẽ lặp lại công tác của Ngài sao? Chẳng lẽ ngươi không biết rằng Đức Chúa Trời luôn mới và không bao giờ cũ sao? Có những người nói rằng Đức Chúa Trời là bất biến. Điều đó là chính xác, nhưng nó chỉ về sự bất biến của tâm tính Đức Chúa Trời và bản chất của Ngài. Những thay đổi trong danh xưng và công tác của Ngài không chứng minh rằng bản chất của Ngài đã thay đổi; nói cách khác, Chúa sẽ luôn là Đức Chúa Trời, và điều này sẽ không bao giờ thay đổi. Nếu ngươi nói rằng công tác của Đức Chúa Trời là không thay đổi, thì liệu Ngài sẽ có thể hoàn thành kế hoạch quản lý sáu nghìn năm của mình không? Ngươi chỉ biết rằng Đức Chúa Trời mãi mãi không thay đổi, nhưng ngươi có biết rằng Chúa luôn mới và không bao giờ cũ không? Nếu công tác của Chúa không thay đổi, thì Ngài có thể dẫn dắt loài người đến tận ngày nay không? Nếu Đức Chúa Trời là bất biến, vậy thì tại sao Ngài đã thực hiện công tác của hai thời đại rồi? Công tác của Ngài không bao giờ ngừng tiến về phía trước, điều đó có nghĩa là tâm tính của Ngài dần dần được tiết lộ cho con người, và những gì được tiết lộ là tâm tính vốn có của Ngài. Ban đầu, tâm tính của Đức Chúa Trời đã bị ẩn giấu khỏi con người, Ngài đã không bao giờ công khai tiết lộ tâm tính của mình cho con người, và con người đơn giản là đã không có kiến thức về Ngài. Bởi vì điều này, Ngài dùng công tác của Ngài để dần dần tiết lộ tâm tính của Ngài cho con người, nhưng làm việc theo cách này không có nghĩa là tâm tính của Chúa thay đổi trong mỗi thời đại. Không phải là tâm tính của Đức Chúa Trời liên tục thay đổi bởi vì ý muốn của Ngài luôn thay đổi. Mà đúng hơn là bởi vì những thời đại công tác của Ngài là khác nhau, Đức Chúa Trời mang toàn bộ bản chất vốn có của Ngài, và từng bước tiết lộ nó cho con người, hầu cho con người có thể biết Ngài. Nhưng điều này không thể là bằng chứng cho thấy ban đầu Đức Chúa Trời không có tâm tính riêng biệt nào hoặc tâm tính của Ngài đã dần thay đổi qua các thời đại - cách hiểu như thế sẽ là sai lầm. Đức Chúa Trời tiết lộ cho con người về tâm tính vốn có và riêng biệt của Ngài - Ngài là gì - qua các thời đại; công tác của một thời đại riêng lẻ không thể bày tỏ toàn bộ tâm tính của Đức Chúa Trời. Và vì vậy, những lời “Đức Chúa Trời luôn mới và không bao giờ cũ” là chỉ về công tác của Ngài, và những lời “Đức Chúa Trời là bất biến” chỉ về Đức Chúa Trời vốn có gì và là gì. Dù sao đi nữa, ngươi không thể thực hiện công tác của sáu nghìn năm xoay quanh một điểm duy nhất, hoặc giới hạn nó bằng những lời vô hiệu lực. Đó là sự ngu ngốc của con người. Đức Chúa Trời không đơn giản như con người tưởng tượng, và công tác của Ngài không thể nán lại trong bất kỳ thời đại nào. Chẳng hạn, Đức Giê-hô-va không thể luôn luôn đại diện cho danh của Đức Chúa Trời; Chúa còn có thể làm công tác của Ngài dưới danh của Jêsus. Đây là một dấu hiệu cho thấy công tác của Đức Chúa Trời luôn chuyển động tiến lên phía trước.

Trích từ “Khải tượng về công tác của Đức Chúa Trời (3)” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

9. Chúa luôn là Đức Chúa Trời, và sẽ không bao giờ trở thành Sa-tan; Sa-tan luôn là Satan, và sẽ không bao giờ trở thành Đức Chúa Trời. Sự khôn ngoan của Chúa, sự kỳ diệu của Chúa, sự công chính của Chúa và sự oai nghi của Chúa sẽ không bao giờ thay đổi. Bản chất của Ngài cùng những gì Ngài có và Ngài là gì sẽ không bao giờ thay đổi. Tuy nhiên, đối với công tác của Ngài, nó luôn tiến triển về phía trước, luôn đi sâu hơn, vì Ngài luôn mới và không bao giờ cũ. Trong mỗi thời đại, Đức Chúa Trời lấy một danh mới, trong mỗi thời đại Ngài làm công tác mới, và trong mỗi thời đại Ngài cho phép các loài thọ tạo của Ngài thấy được ý muốn mới và tâm tính mới của Ngài. Nếu trong một thời đại mới, mọi người không nhìn thấy sự bày tỏ tâm tính mới của Chúa, chẳng phải họ sẽ đóng đinh Ngài trên thập tự giá mãi mãi sao? Và bằng cách làm như vậy, chẳng phải họ sẽ định nghĩa Đức Chúa Trời sao?

Trích từ “Khải tượng về công tác của Đức Chúa Trời (3)” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

10. Trong công tác kết thúc thời đại cuối cùng của Đức Chúa Trời, tâm tính của Ngài là một tâm tính trừng phạt và phán xét, qua đó Ngài tiết lộ tất cả mọi điều bất chính, để công khai phán xét tất cả mọi người, và hoàn thiện những ai yêu mến Ngài với một tấm lòng chân thành. Chỉ một tâm tính như vậy mới có thể chấm dứt thời đại. Những ngày sau rốt đã đến rồi. Mọi thứ trong công cuộc sáng thế sẽ được phân chia theo loại của chúng, và được chia thành các loại khác nhau dựa trên bản chất của chúng. Đây là thời điểm Đức Chúa Trời tiết lộ kết quả của loài người và đích đến của họ. Nếu mọi người không trải qua sự trừng phạt và phán xét, thì sẽ không có cách nào phơi bày sự bất tuân và bất chính của họ. Chỉ thông qua sự trừng phạt và phán xét thì kết quả của cả công cuộc sáng thế mới có thể được tiết lộ. Con người chỉ thể hiện bản chất thật của mình khi bị trừng phạt và phán xét. Điều ác sẽ được đặt với điều ác, điều thiện với điều thiện, và toàn thể nhân loại sẽ được phân chia theo loại của họ. Thông qua sự trừng phạt và phán xét, kết quả của cả công cuộc sáng thế sẽ được tiết lộ, hầu cho điều ác có thể bị trừng phạt và điều thiện được ban thưởng, và tất cả mọi người đều khuất phục của sự thống trị của Đức Chúa Trời. Tất cả công tác này phải đạt được thông qua sự trừng phạt và phán xét công chính. Bởi vì sự bại hoại của con người đã lên đến đỉnh điểm của nó và sự bất tuân của họ trở nên cực kỳ nghiêm trọng, chỉ có tâm tính công chính của Đức Chúa Trời, tâm tính chủ yếu được pha trộn bởi sự trừng phạt và phán xét và được tiết lộ trong những ngày sau rốt, mới có thể biến đổi hoàn toàn và làm cho con người trọn vẹn. Chỉ có tâm tính này mới có thể vạch trần điều ác và qua đó trừng phạt nghiêm khắc tất cả những kẻ bất chính. Do đó, một tâm tính như vậy được thấm nhuần ý nghĩa của thời đại, sự tiết lộ và biểu lộ về tâm tính của Ngài được thể hiện rõ cho công tác của mỗi thời đại mới. Không phải là Đức Chúa Trời tiết lộ tâm tính của Ngài một cách tùy tiện và vô nghĩa. Giả sử, khi tiết lộ kết quả của con người trong những ngày sau rốt, Chúa vẫn ban cho con người lòng thương xót cùng tình yêu vô hạn và tiếp tục yêu thương họ, không bắt con người phải chịu sự phán xét công chính mà chỉ cho họ thấy sự khoan dung, nhịn nhục, tha tội, và tha thứ con người cho dù tội lỗi của họ nghiêm trọng đến mức nào, mà không có chút sự phán xét công chính nào: vậy thì khi nào tất cả sự quản lý của Đức Chúa Trời sẽ kết thúc? Khi nào thì một tâm tính như vậy có thể dẫn mọi người vào đích đến thích hợp của loài người? Lấy ví dụ, một thẩm phán luôn yêu thương, một thẩm phán với khuôn mặt nhân từ và một tấm lòng nhu mì. Người yêu mến mọi người bất kể những tội ác mà họ có thể đã gây ra, người yêu thương và nhẫn nại với họ bất kể họ là ai. Trong trường hợp đó, khi nào người mới có thể đạt được một lời phán quyết công bình? Trong những ngày sau rốt, chỉ có sự phán xét công chính mới có thể phân chia con người theo loại của họ và đưa con người vào một lĩnh vực mới. Theo cách này, toàn bộ thời đại được kết thúc nhờ tâm tính công chính của Chúa về sự phán xét và trừng phạt.

Trích từ “Khải tượng về công tác của Đức Chúa Trời (3)” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

11. Công tác của Đức Chúa Trời xuyên suốt mọi sự quản lý của Ngài là hoàn toàn rõ ràng: Thời đại Ân điển là Thời đại Ân điển, và những ngày sau rốt là những ngày sau rốt. Có những khác biệt rõ rệt giữa từng thời đại, vì trong từng thời đại Đức Chúa Trời làm công tác đại diện cho thời đại đó. Để công tác những ngày sau rốt được hoàn thành, phải có sự thiêu đốt, sự phán xét, sự trừng phạt, cơn thịnh nộ, và sự hủy diệt để kết thúc thời đại. Những ngày sau rốt chỉ về thời đại cuối cùng. Trong thời đại cuối cùng, chẳng phải Đức Chúa Trời sẽ kết thúc thời đại sao? Để kết thúc thời đại, Đức Chúa Trời phải mang sự trừng phạt và phán xét theo với Ngài. Chỉ bằng cách này thì Ngài mới có thể kết thúc thời đại. Mục đích của Jêsus là để con người có thể tiếp tục tồn tại, sống tiếp, và để họ có thể tồn tại theo cách tốt hơn. Ngài đã cứu con người khỏi tội lỗi hầu cho họ không còn rơi vào sự suy đồi và không còn sống trong âm phủ và địa ngục nữa, và bằng cách cứu con người khỏi âm phủ và địa ngục, Ngài đã cho phép họ tiếp tục sống. Giờ đây, những ngày sau rốt đã đến. Ngài sẽ tiêu diệt con người và hủy diệt hoàn toàn loài người, nghĩa là Ngài sẽ biến đổi sự phản nghịch loài người. Vì lý do này, với tâm tính thương xót và yêu thương của quá khứ, sẽ là không thể để Đức Chúa Trời chấm dứt thời đại hoặc đưa kế hoạch quản lý sáu nghìn năm của Ngài đến kết quả. Mỗi thời đại đều là một đại diện đặc biệt cho tâm tính của Đức Chúa Trời, và mỗi thời đại đều chứa đựng công tác phải được Đức Chúa Trời thực hiện. Vì vậy, công tác được chính Đức Chúa Trời thực hiện trong mỗi thời đại chứa đựng sự bày tỏ tâm tính thật của Ngài, và cả danh xưng của Ngài lẫn công tác mà Ngài làm đều thay đổi cùng với thời đại; tất cả chúng đều mới. Trong Thời đại Luật pháp, công tác hướng dẫn nhân loại đã được thực hiện dưới danh của Đức Giê-hô-va, và giai đoạn đầu tiên của công tác đã được bắt đầu trên trái đất. Ở giai đoạn này, công tác bao gồm việc xây dựng đền thờ và bàn thờ, dùng luật pháp để hướng dẫn dân Y-sơ-ra-ên và làm việc ở giữa họ. Bằng cách hướng dẫn dân Y-sơ-ra-ên, Ngài đã khởi đầu một cơ sở cho công tác của Ngài trên đất. Từ cơ sở này, Ngài đã mở rộng công tác của mình ra ngoài Y-sơ-ra-ên, nghĩa là, bắt đầu từ Y-sơ-ra-ên, Ngài đã mở rộng công tác của mình ra bên ngoài, hầu cho các thế hệ sau dần dần biết rằng Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, chính Đức Giê-hô-va đã dựng nên trời đất và muôn vật, và chính Đức Giê-hô-va là Đấng đã dựng nên mọi sinh vật. Ngài đã lan truyền công tác của mình qua người dân Y-sơ-ra-ên vượt ra ngoài họ. Vùng đất Y-sơ-ra-ên là thánh địa đầu tiên cho công tác của Đức Giê-hô-va trên đất, và chính tại vùng đất của Y-sơ-ra-ên mà Đức Chúa Trời lần đầu tiên làm việc trên trái đất. Đó là công tác của Thời đại Luật pháp. Đối với công tác của Thời đại Ân điển, Jêsus là Đức Chúa Trời đã cứu rỗi con người. Điều Ngài có và là chính là ân điển, tình yêu, lòng thương xót, sự nhẫn nại, sự nhịn nhục, sự khiêm nhường, sự quan tâm và lòng khoan dung, cùng rất nhiều công tác mà Ngài đã làm là để cứu chuộc con người. Đối với tâm tính của Ngài, đó là lòng thương xót và tình yêu, và vì Ngài thương xót và yêu thương, nên Ngài đã phải chịu đóng đinh trên thập tự giá vì con người, để chứng tỏ rằng Đức Chúa Trời yêu thương con người như chính Ngài, nhiều đến nỗi Ngài đã phó dâng toàn bộ bản thân mình. Sa-tan đã nói rằng: “Vì Ngài yêu con người, thì Ngài phải yêu họ đến cùng: Ngài phải bị đóng đinh trên thập tự giá, để giải thoát con người khỏi thập tự giá, khỏi tội lỗi, và Ngài sẽ phó chính thân mình để đổi lấy cả nhân loại.” Sa-tan đã đánh cuộc như sau: “Vì Ngài là một Đức Chúa Trời yêu thương và thương xót, Ngài phải yêu con người đến cùng: vậy thì Ngài nên phó chính thân mình trên thập tự giá.” Jêsus đã đáp rằng: “Miễn là vì nhân loại, Ta sẵn sàng hy sinh mọi thứ của Ta.” Và rồi Ngài đã đi lên thập tự giá mà không một chút vị kỷ, và đã cứu chuộc toàn thể nhân loại. Trong Thời đại Ân điển, danh của Đức Chúa Trời là Jêsus, có nghĩa là, Chúa là một Đức Chúa Trời đã cứu con người, và Ngài là một Đức Chúa Trời thương xót và yêu thương. Đức Chúa Trời đã ở với con người. Tình yêu của Ngài, lòng thương xót và sự cứu rỗi của Ngài đã đồng hành với mỗi một con người. Chỉ bằng cách chấp nhận danh của Jêsus và sự hiện diện của Ngài thì con người mới có thể đạt được sự bình an và niềm vui, để nhận được phước lành của Ngài, những ân điển rộng lớn và vô lượng của Ngài, và sự cứu rỗi của Ngài. Qua sự chịu đóng đinh của Jêsus, tất cả những ai theo Ngài đều đã nhận được sự cứu rỗi và được tha tội mình. Trong Thời đại Ân điển, Jêsus là danh của Đức Chúa Trời. Nói cách khác, công tác của Thời đại Ân điển đã được thực hiện chủ yếu dưới danh của Jêsus. Trong thời đại Ân điển, Đức Chúa Trời đã được gọi là Jêsus. Ngài đã thực hiện một giai đoạn công tác mới ngoài Cựu Ước, và công tác của Ngài đã kết thúc bằng việc chịu đóng đinh. Đây là toàn bộ công tác của Ngài. Do đó, trong Thời đại Luật pháp, Đức Giê-hô-va là danh của Đức Chúa Trời, và trong Thời đại Ân điển, danh của Jêsus đã đại diện cho Đức Chúa Trời. Trong những ngày sau rốt, danh của Ngài là Đức Chúa Trời Toàn Năng - Đấng Toàn Năng, Đấng dùng quyền năng của Ngài để hướng dẫn con người, chinh phục con người và thu phục con người, và cuối cùng sẽ kết thúc thời đại. Trong mỗi thời đại, ở mỗi giai đoạn công tác của Đức Chúa Trời, tâm tính của Ngài đều rõ ràng.

Trích từ “Khải tượng về công tác của Đức Chúa Trời (3)” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

12. Ban đầu, việc hướng dẫn con người trong Thời đại Luật pháp của Cựu Ước giống như việc hướng dẫn cuộc đời của một đứa trẻ. Nhân loại đầu tiên là những người mới được sinh ra bởi Đức Giê-hô-va; họ là dân Y-sơ-ra-ên. Họ đã không hiểu cách tôn kính Đức Chúa Trời hoặc cách sống trên trái đất. Nghĩa là, Đức Giê-hô-va đã dựng nên loài người, nghĩa là Ngài đã dựng nên A-đam và Ê-va, nhưng Ngài không ban cho họ khả năng để hiểu cách tôn kính Đức Giê-hô-va hoặc tuân theo luật pháp của Đức Giê-hô-va trên đất. Nếu không có sự hướng dẫn trực tiếp của Đức Giê-hô-va, không ai có thể biết điều này một cách trực tiếp, vì ban đầu con người đã không sở hữu những khả năng như thế. Con người đã chỉ biết rằng Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, nhưng về cách tôn kính Ngài, loại hành vi nào có thể được gọi là tôn kính Ngài, người ta phải tôn kính Ngài với loại tâm trí nào, hoặc phải dâng lên điều gì trong sự tôn kính Ngài: con người hoàn toàn không biết gì. Con người chỉ biết cách tận hưởng những gì có thể được tận hưởng trong số muôn vật mà Đức Giê-hô-va đã dựng nên, nhưng còn về loại đời sống trên đất nào xứng đáng là một loài thọ tạo của Đức Chúa Trời thì họ lại không có bất kỳ ý niệm gì. Nếu không có ai chỉ dẫn họ, không có ai hướng dẫn họ một cách cá nhân, nhân loại này sẽ không bao giờ sống một cuộc đời phù hợp thích đáng với con người, mà sẽ chỉ bị Sa-tan lén lút giam cầm. Đức Giê-hô-va đã dựng nên loài người, nghĩa là Ngài đã dựng nên tổ tiên của loài người, Ê-va và A-đam, nhưng Ngài đã không ban cho họ thêm bất kỳ trí tuệ hay sự khôn ngoan nào nữa. Mặc dù họ đã sống trên trái đất, nhưng họ hầu như không hiểu gì cả. Và vì vậy, công tác của Đức Giê-hô-va trong việc dựng nên loài người chỉ mới hoàn thành được một nửa, và còn lâu mới hoàn tất. Ngài đã chỉ dựng nên một mô hình con người từ đất sét và ban cho nó hơi thở của Ngài, nhưng không ban cho con người đủ sự sẵn sàng để tôn kính Ngài. Ban đầu, con người đã không có ý định tôn kính Ngài hay kính sợ Ngài. Con người chỉ biết cách lắng nghe lời Ngài nhưng lại không biết gì về kiến thức cơ bản cho cuộc sống trên trái đất và những quy tắc đúng đắn của đời sống con người. Và vì vậy, mặc dù Đức Giê-hô-va đã dựng nên người nam và người nữ và đã hoàn thành dự án bảy ngày, nhưng Ngài không thể hoàn tất việc dựng nên con người, vì con người chỉ là một vỏ trấu và thiếu thực tế về việc làm người. Con người chỉ biết rằng chính Đức Giê-hô-va đã dựng nên loài người, nhưng họ không có ý niệm về việc làm thế nào để tuân theo những lời hoặc luật pháp của Đức Giê-hô-va. Và như vậy, sau khi loài người ra đời, công tác của Đức Giê-hô-va còn lâu mới kết thúc. Ngài vẫn phải hướng dẫn đầy đủ để loài người đến trước Ngài, hầu cho họ có thể sống cùng nhau trên đất và tôn kính Ngài, và hầu cho với sự hướng dẫn của Ngài, họ có thể bước vào đúng đường của một đời sống con người bình thường trên đất. Chỉ bằng cách này thì công tác đã được chỉ đạo chủ yếu dưới danh của Đức Giê-hô-va mới hoàn tất trọn vẹn; nghĩa là, chỉ bằng cách này thì công tác dựng nên thế giới của Đức Giê-hô-va mới hoàn toàn kết thúc. Và vì vậy, khi đã dựng nên loài người, Ngài phải hướng dẫn cuộc sống của loài người trên đất trong vài nghìn năm, để loài người có thể tuân theo các sắc lệnh và luật pháp của Ngài, và dự phần vào mọi hoạt động của một đời sống con người bình thường trên đất. Chỉ khi đó thì công tác của Đức Giê-hô-va mới hoàn tất trọn vẹn. Ngài đã đảm nhận công tác này sau khi dựng nên loài người và đã tiếp tục nó cho đến thời đại của Gia-cốp, lúc đó Ngài đã biến mười hai con trai của Gia-cốp thành mười hai chi phái của Y-sơ-ra-ên. Từ thời điểm đó trở đi, tất cả người dân Y-sơ-ra-ên đã trở thành loài người chính thức được Ngài lãnh đạo trên trái đất, và Y-sơ-ra-ên đã trở thành địa điểm đặc biệt trên trái đất, nơi Ngài làm công tác của mình. Đức Giê-hô-va đã biến những người này thành nhóm người đầu tiên mà qua đó Ngài chính thức thực hiện công tác của mình trên trái đất, và Ngài đã biến toàn bộ vùng đất Y-sơ-ra-ên thành điểm khởi đầu cho công tác của Ngài, dùng họ như là sự khởi đầu của công tác thậm chí vĩ đại hơn, hầu cho tất cả mọi người được sinh ra bởi Ngài trên trái đất sẽ biết cách tôn kính Ngài và sống trên đất. Và vì vậy, những việc làm của dân Y-sơ-ra-ên đã trở thành một gương mẫu được người dân của các quốc gia dân ngoại noi theo, và những gì được phán giữa dân Y-sơ-ra-ên đã trở thành những lời được người dân của các quốc gia dân ngoại lắng nghe. Vì họ là những người đầu tiên nhận được luật pháp và điều răn của Đức Giê-hô-va, và họ cũng là những người đầu tiên biết cách tôn kính những đường lối của Đức Giê-hô-va. Họ là tổ tiên của loài người, là những người biết đường lối của Đức Giê-hô-va, cũng là những đại diện của loài người được Đức Giê-hô-va lựa chọn. Khi Thời đại Ân điển đến, Đức Giê-hô-va đã không còn hướng dẫn con người theo cách này nữa. Con người đã phạm tội và đắm chìm vào tội lỗi, và vì thế Ngài đã bắt đầu giải cứu con người khỏi tội lỗi. Bằng cách này, Ngài đã quở trách con người cho đến khi con người được giải thoát hoàn toàn khỏi tội lỗi. Trong những ngày sau rốt, con người đã chìm sâu vào một mức độ suy đồi đến nỗi công tác của giai đoạn này chỉ có thể được thực hiện thông qua sự phán xét và trừng phạt. Chỉ bằng cách này thì công tác mới có thể được hoàn thành. Đây đã là công tác của nhiều thời đại. Qua việc sử dụng danh của Đức Chúa Trời, công tác của Chúa, và những hình ảnh khác nhau của Chúa để phân chia thời đại này với thời đại khác và làm quá trình chuyển đổi giữa chúng, danh của Chúa và công tác của Ngài đại diện cho thời đại của Ngài và đại diện cho công tác của Ngài trong mỗi thời đại.

Trích từ “Khải tượng về công tác của Đức Chúa Trời (3)” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

13. Có thể nào danh của Jêsus - “Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta” - đại diện cho toàn bộ tâm tính của Đức Chúa Trời không? Có thể nào nó hoàn toàn nói rõ Đức Chúa Trời không? Nếu con người nói rằng Đức Chúa Trời chỉ có thể được gọi là Jêsus và không thể có bất kỳ danh nào khác bởi vì Đức Chúa Trời không thể thay đổi tâm tính của Ngài, thì những lời này quả thật là báng bổ! Ngươi có tin rằng danh Jêsus, Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta, một mình có thể đại diện cho toàn bộ Đức Chúa Trời không? Đức Chúa Trời có thể được gọi bằng nhiều danh xưng, nhưng trong số nhiều danh xưng này, không danh nào có thể tóm lược mọi thứ về Đức Chúa Trời, không danh nào có thể đại diện đầy đủ cho Chúa. Và vì vậy, Đức Chúa Trời có rất nhiều danh xưng, nhưng nhiều danh xưng này không thể nói rõ đầy đủ tâm tính của Chúa, vì tâm tính của Chúa rất phong phú đến nỗi nó đơn giản vượt quá khả năng hiểu biết về Ngài của con người. Dùng ngôn ngữ của loài người, con người không có cách nào để tóm lược Đức Chúa Trời hoàn toàn. Nhân loại chỉ có một vốn từ vựng hạn chế để tóm lược mọi điều họ biết về tâm tính của Đức Chúa Trời: vĩ đại, đáng tôn vinh, tuyệt vời, không thể dò lường, tối cao, thánh khiết, công chính, khôn ngoan, v.v. Quá nhiều từ! Vốn từ vựng hạn chế này không có khả năng mô tả chút ít điều mà con người đã chứng kiến về tâm tính của Đức Chúa Trời. Theo thời gian, nhiều người khác đã thêm vào những từ mà họ nghĩ có thể mô tả sự sốt sắng trong lòng họ tốt hơn: Đức Chúa Trời quá tuyệt vời! Chúa quá thánh khiết! Chúa quá đáng mến! Ngày nay, những câu nói như thế này của con người đã đạt đến đỉnh điểm của chúng, nhưng con người vẫn không có khả năng bày tỏ rõ chính mình. Và vì vậy, đối với con người, Đức Chúa Trời có rất nhiều danh xưng, nhưng Ngài không có một danh xưng, và điều này là do Đức Chúa Trời quá phong phú, và ngôn ngữ của con người quá nghèo nàn. Một từ hoặc danh xưng cụ thể không có khả năng đại diện cho toàn bộ Đức Chúa Trời, vậy ngươi có nghĩ danh của Ngài có thể cố định không? Đức Chúa Trời rất vĩ đại và rất thánh khiết nhưng ngươi sẽ không cho phép Ngài thay đổi danh của Ngài trong từng thời đại mới sao? Do đó, trong mỗi thời đại mà Đức Chúa Trời đích thân làm công tác riêng của mình, Ngài dùng một danh xưng phù hợp với thời đại để tóm lược công tác mà Ngài dự định làm. Ngài dùng danh xưng đặc biệt này, danh xưng có ý nghĩa về thời gian, để đại diện cho tâm tính của Ngài trong thời đại đó. Đây là Đức Chúa Trời dùng ngôn ngữ của loài người để bày tỏ tâm tính của chính Ngài. Mặc dù vậy, nhiều người đã có những trải nghiệm thuộc linh và đã đích thân nhìn thấy Đức Chúa Trời nhưng vẫn cảm thấy rằng một danh xưng cụ thể này không có khả năng đại diện toàn bộ cho Chúa - than ôi, dành vậy thôi - vì vậy con người không còn gọi Chúa bằng bất kỳ danh xưng nào, mà chỉ đơn giản gọi Ngài là “Đức Chúa Trời”. Như thể tấm lòng của con người đầy tình yêu nhưng cũng đầy mâu thuẫn, vì con người không biết cách nào để giải thích Đức Chúa Trời. Chúa là gì là điều quá phong phú, đơn giản là không có cách nào để mô tả điều đó. Không có một danh riêng lẻ nào có thể tóm tắt tâm tính của Đức Chúa Trời, và không có một danh riêng lẻ nào có thể mô tả tất cả Chúa có gì và là gì. Nếu ai đó hỏi Ta rằng: “Chính xác thì Ngài dùng danh nào?” Ta sẽ bảo họ rằng: “Chúa là Đức Chúa Trời!” Chẳng phải đó là danh xưng tốt nhất dành cho Đức Chúa Trời sao? Chẳng phải đó là sự tóm lược tốt nhất cho tâm tính của Đức Chúa Trời sao? Như vậy, tại sao các ngươi lại dành quá nhiều nỗ lực để tìm kiếm danh của Đức Chúa Trời? Tại sao các ngươi phải vắt óc suy nghĩ, không ăn không ngủ, tất cả chỉ vì một danh xưng? Sẽ đến ngày Đức Chúa Trời không được gọi là Đức Giê-hô-va, Jêsus hoặc Đấng Mê-si-a - Ngài sẽ đơn giản là Đấng Tạo Hóa. Vào thời điểm đó, mọi danh xưng mà Ngài đã mang lấy trên trái đất sẽ chấm dứt, vì công tác của Ngài trên trái đất sẽ chấm dứt, sau đó những danh xưng của Ngài sẽ không còn nữa. Khi mọi thứ chịu sự thống trị của Đấng Tạo Hóa, Ngài còn cần một danh xưng rất phù hợp nhưng không trọn vẹn làm gì nữa? Giờ đây ngươi vẫn đang tìm kiếm danh của Đức Chúa Trời sao? Ngươi vẫn dám nói rằng Đức Chúa Trời chỉ được gọi là Đức Giê-hô-va sao? Ngươi vẫn dám nói rằng Đức Chúa Trời chỉ có thể được gọi là Jêsus sao? Ngươi có thể gánh lấy tội báng bổ Đức Chúa Trời không? Ngươi nên biết rằng Đức Chúa Trời ban đầu không có danh xưng. Ngài đã chỉ lấy một, hoặc hai, hoặc nhiều danh xưng vì Ngài có công tác phải làm và phải quản lý nhân loại. Bất kỳ danh xưng nào mà Ngài được gọi - chẳng phải chính Ngài đã tự do lựa chọn danh đó sao? Ngài có cần ngươi - một trong những loải thọ tạo của Ngài - quyết định điều đó không? Danh xưng mà bởi đó Đức Chúa Trời được gọi là một danh xưng phù hợp với những gì con người có khả năng hiểu rõ, với ngôn ngữ của loài người, nhưng danh xưng này không phải là điều mà con người có thể bao hàm. Ngươi chỉ có thể nói rằng có một Chúa trên thiên đàng, rằng Ngài được gọi là Đức Chúa Trời, rằng Ngài chính là Đức Chúa Trời có quyền năng vĩ đại, quá khôn ngoan, quá cao quý, quá kỳ diệu, quá mầu nhiệm và quá toàn năng, và sau đó ngươi không thể nói thêm gì nữa; một chút này là tất cả những gì ngươi có thể biết. Như vậy, danh đơn thuần của Jêsus có thể đại diện cho chính Đức Chúa Trời không? Khi những ngày sau rốt đến, mặc dù vẫn là Đức Chúa Trời làm công tác của Ngài, nhưng danh của Ngài phải thay đổi, vì đó là một thời đại khác.

Trích từ “Khải tượng về công tác của Đức Chúa Trời (3)” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

14. Khi Jêsus đến để làm công tác của Ngài, đó là dưới sự chỉ dẫn của Đức Thánh Linh; Ngài đã làm những gì Đức Thánh Linh muốn, và điều đó không theo Thời đại Luật pháp trong Cựu Ước hoặc theo công tác của Đức Giê-hô-va. Mặc dù công tác mà Jêsus đã đến để làm không tuân theo luật pháp của Đức Giê-hô-va hoặc các điều răn của Đức Giê-hô-va, nhưng nguồn gốc của Họ là một và như nhau. Công tác mà Jêsus đã làm đại diện cho danh của Jêsus, và nó đại diện cho Thời đại Ân điển; còn công tác được thực hiện bởi Đức Giê-hô-va, nó đại diện cho Đức Giê-hô-va, và nó đại diện cho Thời đại Luật pháp. Công tác của Họ là công tác của một Thần trong hai thời đại khác nhau. Công tác mà Jêsus đã làm chỉ có thể đại diện cho Thời đại Ân điển, và công tác mà Đức Giê-hô-va đã làm chỉ có thể đại diện cho Thời đại Luật pháp trong Cựu Ước. Đức Giê-hô-va đã chỉ hướng dẫn người dân của Y-sơ-ra-ên và của Ê-díp-tô, cùng mọi quốc gia ngoài Y-sơ-ra-ên. Công tác của Jêsus trong Thời đại Ân điển của Tân Ước là công tác của Đức Chúa Trời dưới danh của Jêsus khi Ngài hướng dẫn thời đại. Nếu ngươi nói rằng công tác của Jêsus dựa trên công tác của Đức Giê-hô-va, rằng Ngài đã không khởi xướng bất kỳ công tác mới nào, và rằng mọi thứ Ngài đã làm là theo lời của Đức Giê-hô-va, theo công tác của Đức Giê-hô-va và các lời tiên tri của Ê-sai, thì Jêsus sẽ không phải là Đức Chúa Trời trở nên xác thịt. Nếu Ngài đã tiến hành công tác của mình theo cách này, Ngài sẽ là một sứ đồ hoặc một người làm công tác của Thời đại Luật pháp. Nếu đúng như ngươi nói, thì Jêsus đã không thể mở ra một thời đại, và Ngài cũng không thể làm bất kỳ công tác nào khác. Tương tự, Đức Thánh Linh phải chủ yếu thực hiện công tác của Ngài qua Đức Giê-hô-va, và nếu không qua Đức Giê-hô-va, Đức Thánh Linh không thể thực hiện bất kỳ công tác mới nào. Thật sai lầm khi con người hiểu công tác của Jêsus theo cách này. Nếu con người tin rằng công tác do Jêsus thực hiện là theo lời của Đức Giê-hô-va và những lời tiên tri của Ê-sai, thì Jêsus là Đức Chúa Trời nhập thể, hay Ngài là một trong các tiên tri? Theo quan điểm này, sẽ không có Thời đại Ân điển, và Jêsus sẽ không phải là sự nhập thể của Đức Chúa Trời, vì công tác mà Ngài đã làm không thể đại diện cho Thời đại Ân điển mà chỉ có thể đại diện cho Thời đại Luật pháp trong Cựu Ước. Chỉ có thể có một thời đại mới khi Jêsus đến để làm công tác mới, để khởi động một thời đại mới, để vượt qua công tác đã làm trước đó ở Y-sơ-ra-ên, và để thực hiện công tác của Ngài không phù hợp với công tác do Đức Giê-hô-va thực hiện ở Y-sơ-ra-ên, hoặc với các quy tắc cũ của Ngài, hoặc phù hợp với bất kỳ quy định nào, mà đúng hơn là để làm công tác mới mà Ngài phải làm. Chính Đức Chúa Trời đến để mở ra một thời đại, và chính Chúa đến để kết thúc một thời đại. Con người không có khả năng làm công tác bắt đầu một thời đại và kết thúc thời đại. Nếu Jêsus không chấm dứt công tác của Đức Giê-hô-va sau khi Ngài đến, thì đó sẽ là bằng chứng cho thấy Ngài chỉ đơn thuần là một con người và không có khả năng đại diện cho Đức Chúa Trời. Chính bởi vì Jêsus đã đến và kết thúc công tác của Đức Giê-hô-va, tiếp tục từ công tác của Đức Giê-hô-va bằng cách bắt đầu công tác của riêng mình, công tác mới, điều đó chứng tỏ rằng đây là một thời đại mới, và rằng Jêsus chính là Đức Chúa Trời. Họ đã thực hiện hai giai đoạn công tác khác nhau. Một giai đoạn đã được thực hiện trong đền thờ, và giai đoạn kia đã được tiến hành bên ngoài đền thờ. Một giai đoạn là để dẫn dắt đời sống của con người theo luật pháp, và giai đoạn kia là để dâng lên một của lễ chuộc tội. Hai giai đoạn công tác này khác nhau rõ rệt; điều này phân chia thời đại mới với thời đại cũ, và hoàn toàn chính xác khi nói rằng chúng là hai thời đại khác nhau. Địa điểm công tác của Họ khác nhau, nội dung công tác của Họ khác nhau, và mục tiêu công tác của Họ khác nhau. Như vậy, chúng có thể được chia thành hai thời đại: Tân Ước và Cựu Ước, nghĩa là thời đại mới và thời đại cũ. Khi Jêsus đến, Ngài đã không đi vào đền thờ, điều đó chứng tỏ rằng thời đại của Đức Giê-hô-va đã chấm dứt. Ngài đã không bước vào đền thờ bởi vì công tác của Đức Giê-hô-va trong đền thờ đã hoàn thành, không cần được thực hiện lại, và thực hiện lại sẽ là lặp lại nó. Chỉ bằng cách rời khỏi đền thờ, bắt đầu một công tác mới và mở ra một con đường mới bên ngoài đền thờ, Ngài mới có thể đưa công tác của Đức Chúa Trời lên đỉnh điểm của nó. Nếu Ngài không ra khỏi đền thờ để làm công tác của Ngài, thì công tác của Đức Chúa Trời sẽ bị ứ đọng trên các nền móng của đền thờ, và sẽ không bao giờ có bất kỳ thay đổi mới nào. Và vì vậy, khi Jêsus đến, Ngài đã không bước vào đền thờ, và đã không làm công tác của Ngài trong đền thờ. Ngài đã làm công tác của Ngài bên ngoài đền thờ, và dẫn dắt các môn đồ bắt tay vào công tác của Ngài một cách tự do. Đức Chúa Trời rời khỏi đền thờ để làm công tác của Ngài có nghĩa là Chúa đã có một kế hoạch mới. Công tác của Ngài đã được tiến hành bên ngoài đền thờ, và đó phải là công tác mới không bị ràng buộc trong cách thức thực hiện của nó. Ngay khi Jêsus đến, Ngài đã kết thúc công tác của Đức Giê-hô-va trong thời đại Cựu Ước. Mặc dù Họ đã được gọi bằng hai danh xưng khác nhau, nhưng đó là cùng một Thần hoàn tất cả hai giai đoạn công tác, và công tác được thực hiện là liên tục. Vì danh xưng khác nhau và nội dung của công tác khác nhau, nên thời đại cũng khác nhau. Khi Đức Giê-hô-va đến, đó là thời đại của Đức Giê-hô-va, và khi Jêsus đến, đó là thời đại của Jêsus. Và như vậy, với từng lần hiện đến, Đức Chúa Trời đều được gọi bằng một danh xưng, Ngài đại diện cho một thời đại, và Ngài mở ra một con đường mới; và trên từng con đường mới, Ngài mang một danh xưng mới, điều này cho thấy rằng Đức Chúa Trời luôn mới và không bao giờ cũ, và rằng công tác của Ngài không bao giờ ngừng tiến triển về phía trước. Lịch sử luôn tiến về phía trước, và công tác của Đức Chúa Trời luôn tiến về phía trước. Để kế hoạch quản lý sáu nghìn năm của Ngài đi đến hồi kết, nó phải tiếp tục tiến triển về phía trước. Mỗi ngày Ngài phải làm công tác mới, mỗi năm Ngài phải làm công tác mới; Ngài phải mở ra những con đường mới, phải khởi động những thời đại mới, bắt đầu công tác mới và vĩ đại hơn, và cùng với những điều này, mang theo những danh xưng mới và công tác mới.

Trích từ “Khải tượng về công tác của Đức Chúa Trời (3)” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

15. Từ công tác của Đức Giê-hô-va đến công tác của Jêsus, và từ công tác của Jêsus đến giai đoạn hiện tại này, ba giai đoạn này bao trùm trong một chuỗi liên tục toàn bộ của sự quản lý Đức Chúa Trời, và tất cả đều là công tác của một Thần. Kể từ công cuộc sáng thế, Đức Chúa Trời đã luôn làm công tác quản lý loài người. Ngài là Khởi đầu và Kết thúc, Ngài là Đầu tiên và Cuối cùng, Ngài là Đấng bắt đầu một thời đại và là Đấng kết thúc thời đại. Ba giai đoạn công tác, trong các thời đại khác nhau và các địa điểm khác nhau, rõ ràng là công tác của một Thần. Tất cả những ai phân tách ba giai đoạn này đều đứng đối lập với Đức Chúa Trời. Giờ đây, các ngươi phải hiểu rằng mọi công tác từ giai đoạn đầu tiên cho đến ngày nay đều là công tác của một Đức Chúa Trời, công tác của một Thần. Điều này là chắc chắn.

Trích từ “Khải tượng về công tác của Đức Chúa Trời (3)” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

Trước: Tất cả những ai không biết Đức Chúa Trời đều là những người chống đối Đức Chúa Trời

Tiếp theo: Tuyển chọn từ bốn phân đoạn trong Lời Chúa về “Xét về Kinh Thánh”

Bạn có muốn biết cách gột bỏ xiềng xích tội lỗi và được làm tinh sạch? Hãy liên hệ chúng tôi để tìm được lối đi đúng đắn.
Liên hệ với chúng tôi
Liên hệ với chúng tôi qua Messenger

Nội dung liên quan

Cài đặt

  • Văn bản
  • Chủ đề

Màu Đồng nhất

Chủ đề

Phông

Kích cỡ Phông

Khoảng cách Dòng

Khoảng cách Dòng

Chiều rộng Trang

Mục lục

Tìm kiếm

  • Tìm kiếm văn bản này
  • Tìm kiếm cuốn sách này