IX. Sự khác nhau giữa công tác của Đức Chúa Trời và của con người

1. Công tác của riêng Đức Chúa Trời bao gồm công tác của toàn nhân loại, và nó cũng đại diện cho công tác của cả một thời đại, có nghĩa là công tác của chính Đức Chúa Trời đại diện cho mọi động lực và khuynh hướng trong công tác của Đức Thánh Linh, trong khi công tác của các sứ đồ thì đến sau công tác của riêng Đức Chúa Trời và bắt nguồn từ đó, chứ không dẫn dắt thời đại, cũng không đại diện cho những khuynh hướng công tác của Đức Thánh Linh trong toàn thời đại. Họ chỉ thực hiện công việc mà con người phải làm, hoàn toàn không có gì liên quan đến công tác quản lý. Công tác chính Đức Chúa Trời thực hiện là một công trình trong phạm vi công tác quản lý. Công việc của con người chỉ là bổn phận mà những người được tin dùng thực hiện, và nó không liên quan đến công tác quản lý. Mặc dù chúng đều là công tác của Đức Thánh Linh, do những khác biệt trong thân phận và sự đại diện của công tác, nên có những khác biệt rõ ràng về thực chất giữa công tác của chính Đức Chúa Trời và công việc của con người.

Trích từ “Công tác của Đức Chúa Trời và công việc của Con Người” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

2. Công tác của Đức Chúa Trời nhập thể bắt đầu một kỷ nguyên mới, và những ai tiếp tục công tác của Ngài là những người được Ngài sử dụng. Tất cả công việc do con người thực hiện đều nằm trong chức vụ của Đức Chúa Trời trong xác thịt, và nó không thể vượt ngoài phạm vi này. Nếu Đức Chúa Trời nhập thể không đến để thực hiện công tác của Ngài, thì con người sẽ không thể kết thúc thời đại cũ và không thể mở ra một kỷ nguyên mới. Công tác được thực hiện bởi con người chỉ đơn thuần nằm trong phạm vi bổn phận mà con người có thể làm được, và nó không đại diện cho công tác của Đức Chúa Trời. Chỉ Đức Chúa Trời nhập thể mới có thể đến và hoàn tất công tác mà Ngài nên làm, và ngoài Ngài ra, không ai có thể làm công tác này thay cho Ngài. Tất nhiên, điều mà Ta phán liên quan đến công tác của sự nhập thể.

Trích từ “Nhân loại bại hoại càng cần hơn sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời nhập thể” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

3. Đức Chúa Trời nhập thể thực chất khác với những người được Đức Chúa Trời sử dụng. Đức Chúa Trời nhập thể có khả năng làm các công tác của thần tính, trong khi những người được Đức Chúa Trời sử dụng thì không thể. Mở đầu mỗi thời đại, Thần của Đức Chúa Trời đích thân phán dạy và khởi động kỷ nguyên mới để đưa con người vào một sự khởi đầu mới. Khi Đức Chúa Trời đã phán dạy xong, cũng là lúc đánh dấu công tác của Đức Chúa Trời trong thần tính của Đức Chúa Trời được hoàn tất. Sau đó, tất cả mọi người đều theo sự dẫn dắt của những người được Đức Chúa Trời sử dụng đặng bước vào sự cảm nghiệm cuộc sống.

Trích từ “Sự khác nhau cơ bản giữa Đức Chúa Trời nhập thể và người được Đức Chúa Trời sử dụng” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

4. Công tác của Đức Chúa Trời phải do chính Đức Chúa Trời thực hiện. Chính Ngài là Đấng khởi động công tác của Ngài, và chính Ngài là Đấng kết thúc công tác của Ngài. Chính Ngài là Đấng hoạch định công tác, và chính Ngài là Đấng quản lý nó, và hơn thế nữa, chính Ngài là Đấng mang lại kết quả cho công tác. Như đã nói trong Kinh Thánh: “Ta là Đầu Tiên và Cuối Cùng; Ta là Người Gieo và Người Gặt”. Tất cả những gì liên quan đến công tác quản lý của Đức Chúa Trời đều do chính Ngài thực hiện. Ngài là Đấng Cai Trị kế hoạch quản lý sáu nghìn năm; không ai có thể làm công tác của Ngài thay cho Ngài và không ai có thể kết thúc công tác của Ngài, vì chính Ngài là Đấng nắm giữ mọi thứ trong tay Ngài. Khi đã tạo dựng nên thế giới, Ngài sẽ dẫn dắt toàn bộ thế giới sống trong ánh sáng của Ngài, và Ngài cũng sẽ kết thúc toàn bộ thời đại, quađó mang lại thành quả cho toàn bộ kế hoạch của Ngài!

Trích từ “Lẽ mầu nhiệm của sự nhập thể (1)” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

5. Công tác mà chính Đức Chúa Trời thực hiện hoàn toàn là công tác mà Ngài dự định thực hiện trong kế hoạch quản lý của chính Ngài và nó gắn liền với sự quản lý vĩ đại. Công tác được con người thực hiện bao gồm việc cung cấp kinh nghiệm cá nhân của họ. Nó bao gồm việc tìm ra một con đường trải nghiệm mới vượt ra khỏi con đường mà những người đi trước đã đặt chân, và việc hướng dẫn anh chị em của họ trong khi chịu sự hướng dẫn của Đức Thánh Linh. Những gì mà những người này cung cấp là kinh nghiệm cá nhân của họ hoặc các tác phẩm tâm linh của những con người tâm linh. Mặc dù những người này được Đức Thánh Linh sử dụng, nhưng công việc họ làm không liên quan đến công tác quản lý vĩ đại trong kế hoạch sáu nghìn năm. Họ chỉ đơn thuần là những người đã được Đức Thánh Linh dấy lên trong các thời kỳ khác nhau để dẫn dắt mọi người trong dòng chảy của Đức Thánh Linh, cho đến khi các chức năng mà họ có thể thực hiện đã chấm dứt hoặc cho đến khi cuộc sống của họ kết thúc. Công việc họ làm chỉ là chuẩn bị một con đường thích hợp cho chính Đức Chúa Trời hoặc tiếp tục một khía cạnh nhất định trong sự quản lý của chính Đức Chúa Trời trên đất. Tự bản thân họ, những người này không thể làm công tác quản lý vĩ đại hơn của Ngài, họ cũng chẳng thể mở ra những lối thoát mới, càng chẳng có ai trong số họ có thể khép lại tất cả công tác của Đức Chúa Trời từ thời đại trước. Do đó, công việc họ làm chỉ đại diện cho một tạo vật đang thực hiện chức năng của mình và không thể đại diện cho chính Đức Chúa Trời thực hiện chức vụ của Ngài được. Điều này là do công tác họ làm khác với công tác do chính Đức Chúa Trời làm. Công tác mở ra một thời đại mới không phải là điều có thể được thực hiện bởi con người thay cho Đức Chúa Trời. Nó không thể được thực hiện bởi bất kỳ ai khác ngoài bản thân Đức Chúa Trời. Tất cả các công tác do con người thực hiện bao gồm việc thực hiện nghĩa vụ của họ như một tạo vật và được thực hiện khi họ được Đức Thánh Linh cảm thúc hoặc khai sáng. Sự hướng dẫn mà những người này cung cấp hoàn toàn bao gồm việc cho con người thấy con đường thực hành trong đời sống hàng ngày và cách họ nên hành động cho hòa hợp với ý muốn của Đức Chúa Trời. Công tác của con người không bao hàm sự quản lý của Đức Chúa Trời, cũng không đại diện cho công tác của Thần. … Do đó, vì công tác của những người được Đức Thánh Linh sử dụng khác với công tác do chính Đức Chúa Trời thực hiện, nên thân phận của họ và chủ thể mà họ thay mặt hành động cũng khác nhau như thế. Điều này là do các công tác mà Đức Thánh Linh dự định thực hiện là khác nhau, và vì lý do này, những người cùng làm công tác được ban cho các thân phận và địa vị khác nhau. Những người được Đức Thánh Linh sử dụng cũng có thể làm một số công tác mới và cũng có thể loại bỏ một số công tác đã được thực hiện trong thời đại trước, nhưng những gì họ làm không thể bày tỏ tâm tính và ý muốn của Đức Chúa Trời trong thời đại mới. Họ làm việc chỉ để loại bỏ công tác của thời đại cũ, chứ không phải để làm công tác mới với mục đích trực tiếp đại diện cho tâm tính của chính Đức Chúa Trời. Do đó, cho dù họ có bãi bỏ bao nhiêu thực hành lỗi thời hoặc họ có giới thiệu bao nhiêu thực hành mới đi nữa, thì họ vẫn đại diện cho con người và những tạo vật. Tuy nhiên, khi chính Đức Chúa Trời thực hiện công tác, Ngài không công khai tuyên bố bãi bỏ các thực hành của thời đại cũ hoặc trực tiếp tuyên bố bắt đầu một thời đại mới. Ngài trực tiếp và thẳng thắn trong công tác của Ngài. Ngài quả quyết trong việc thực hiện công tác mà Ngài dự định làm; nghĩa là, Ngài trực tiếp bày tỏ công tác mà Ngài đã mang đến, trực tiếp thực hiện công tác của Ngài như dự định ban đầu, bày tỏ hữu thể và tâm tính của Ngài. Như con người thấy, tâm tính của Ngài và công tác của Ngài cũng khác với những điều ở thời đại trước. Tuy nhiên, từ góc độ của chính Đức Chúa Trời, đây chỉ đơn thuần là sự tiếp nối và phát triển xa hơn của công tác Ngài. Khi chính Đức Chúa Trời làm việc, Ngài bày tỏ lời của Ngài và trực tiếp mang đến công tác mới. Ngược lại, khi con người làm việc, đó là thông qua sự cân nhắc và nghiên cứu, hoặc đó là một sự mở mang kiến thức và sự hệ thống hóa của việc thực hành dựa trên công việc của người khác. Điều đó có nghĩa là, thực chất của công tác mà con người thực hiện là tuân theo một trật tự đã được thiết lập và “đi trên những con đường cũ trong đôi giày mới”. Điều này có nghĩa là ngay cả con đường mà những người được Đức Thánh Linh sử dụng đã đi cũng được xây dựng trên những điều đã được chính Đức Chúa Trời khởi đầu. Vì vậy, sau tất cả, con người vẫn là con người, và Đức Chúa Trời vẫn là Đức Chúa Trời.

Trích từ “Lẽ mầu nhiệm của sự nhập thể (1)” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

6. Khi các đấng tiên tri và những người được Đức Thánh Linh sử dụng đó phán và làm việc, thì đây là để thực hiện bổn phận của con người, để thực hiện chức năng của một loài thọ tạo, và là điều mà con người nên làm. Tuy nhiên, những lời và công tác của Đức Chúa Trời nhập thể là để thực hiện chức vụ của Ngài. Dù mang dáng vẻ bề ngoài của một loài thọ tạo, công tác của Ngài không phải là thực hiện chức năng của Ngài mà là chức vụ của Ngài. Từ “bổn phận” được sử dụng khi nói về loài thọ tạo, trong khi “chức vụ” được sử dụng khi nói về xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể. Có một sự khác biệt về bản chất giữa hai thuật ngữ này; chúng không thể thay thế cho nhau. Công việc của con người chỉ là làm bổn phận của họ, trong khi công tác của Đức Chúa Trời là quản lý, và thực hiện chức vụ của Ngài. Do đó, dù nhiều sứ đồ đã được Đức Thánh Linh sử dụng và nhiều đấng tiên tri đã được phú cho đầy dẫy Ngài, nhưng công việc và lời của họ chỉ đơn thuần là thực hiện bổn phận của mình như những loài thọ tạo. Những lời tiên tri của họ có thể vượt lên trên con đường sự sống mà Đức Chúa Trời nhập thể đã phán, và nhân tính của họ có thể thậm chí còn vượt Đức Chúa Trời nhập thể, nhưng họ vẫn đang thực hiện bổn phận của họ, chứ không phải đang thực hiện chức vụ của họ. Bổn phận của con người nói đến chức năng của con người; nó là điều con người có thể đạt được. Tuy nhiên, chức vụ do Đức Chúa Trời nhập thể thực hiện liên quan đến sự quản lý của Ngài, và điều này không thể đạt được bởi con người. Cho dù Đức Chúa Trời nhập thể có phán dạy, làm việc, hoặc làm những phép lạ hay không, thì Ngài cũng đang thực hiện công tác vĩ đại giữa sự quản lý của Ngài, và công tác như thế con người không thể làm thay Ngài. Công việc của con người là chỉ làm bổn phận của họ như một loài thọ tạo trong một giai đoạn đã định trong công tác quản lý của Đức Chúa Trời. Không có sự quản lý của Đức Chúa Trời, tức là, nếu chức vụ của Đức Chúa Trời nhập thể không còn, thì bổn phận của một loài thọ tạo sẽ không còn. Công tác của Đức Chúa Trời trong việc thực hiện chức vụ của Ngài là để quản lý con người, trong khi việc thực hiện bổn phận của con người là làm tròn nghĩa vụ của chính họ nhằm đáp ứng các yêu cầu của Đấng Tạo Hóa và không thể nào được xem là thực hiện chức vụ của một người. Đối với bản chất vốn có của Đức Chúa Trời – đối với Thần của Ngài – công tác của Đức Chúa Trời là sự quản lý của Ngài, nhưng đối với Đức Chúa Trời nhập thể, Đấng mặc lấy dáng vẻ bề ngoài của một loài thọ tạo, thì công tác của Ngài là thực hiện chức vụ của Ngài. Bất kỳ việc gì Ngài làm là để thực hiện chức vụ của Ngài; tất cả những gì con người có thể làm là cống hiến hết sức mình trong phạm vi quản lý của Đức Chúa Trời và dưới sự dẫn dắt của Ngài.

Trích từ “Sự khác nhau giữa chức vụ của Đức Chúa Trời nhập thể và bổn phận của con người” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

7. Jêsus đại diện cho Thần của Đức Chúa Trời, và là Thần của Đức Chúa Trời hoạt động trực tiếp. Ngài đã làm công tác của thời đại mới, công tác mà chưa ai từng làm trước đó. Ngài đã mở ra một con đường mới, Ngài đã đại diện cho Đức Giê-hô-va, và Ngài đã đại diện cho chính Đức Chúa Trời. Trong khi với Phi-e-rơ, Phao-lô và Đa-vít, bất kể họ được gọi là gì, họ chỉ đại diện cho thân phận của một loài thọ tạo của Đức Chúa Trời, và đã được sai phái bởi Jêsus hoặc Đức Giê-hô-va. Vì vậy, cho dù họ đã làm bao nhiêu công tác, cho dù họ đã thực hiện những lẽ mầu nhiệm vĩ đại ra sao, họ vẫn chỉ là những loài thọ tạo của Đức Chúa Trời, và không có khả năng đại diện cho Thần của Đức Chúa Trời. Họ đã làm việc nhân danh Đức Chúa Trời hoặc sau khi được Đức Chúa Trời sai phái; hơn nữa, họ đã làm việc trong những thời đại do Jêsus hoặc Đức Giê-hô-va mở đầu, và họ đã không làm công tác nào khác. Xét cho cùng, họ đơn thuần chỉ là những loài thọ tạo của Đức Chúa Trời mà thôi.

Trích từ “Xét về danh xưng và thân phận” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

8. Giăng chỉ làm phần đầu của công tác; phần nhiều hơn của công tác mới đã được thực hiện bởi Jêsus. Giăng cũng làm công tác mới, nhưng ông không phải là người mở ra một thời đại mới. … Mặc dù Giăng cũng đã nói: “Các ngươi phải ăn năn, vì nước thiên đàng đã đến gần”, và ông cũng đã rao giảng Phúc Âm về vương quốc thiên đàng, nhưng công việc của ông đã không được phát triển xa hơn mà chỉ đơn thuần là một sự khởi đầu. Ngược lại, Jêsus đã mở ra một thời đại mới cũng như kết thúc thời đại cũ, nhưng Ngài cũng đã thực thi luật pháp của Cựu Ước. Công tác Ngài đã làm còn vĩ đại hơn của Giăng, và hơn thế nữa, Ngài đã đến để cứu chuộc tất cả nhân loại – Ngài đã hoàn thành giai đoạn công tác đó. Về phần Giăng, ông chỉ đơn giản là chuẩn bị đường lối. Mặc dù công tác của ông vĩ đại, lời ông nói cũng nhiều, và những môn đệ đã theo ông rất đông, nhưng công tác của ông không vượt quá việc mang đến cho con người một sự khởi đầu mới. Con người không bao giờ nhận được từ ông sự sống, đường đi, hoặc những lẽ thật sâu nhiệm hơn, con người cũng không đạt được một sự hiểu biết về ý muốn của Đức Chúa Trời thông qua ông. Giăng là một tiên tri vĩ đại (Ê-li), người đã mở ra một nền tảng mới cho công tác của Jêsus và chuẩn bị những người được chọn; ông là đấng tiên phong của Thời đại Ân điển. Những vấn đề như vậy không thể chỉ được nhận thức đơn giản bằng cách quan sát vẻ ngoài con người bình thường của họ. Điều này còn đúng hơn bởi vì Giăng cũng đã làm công tác rất đáng kể và hơn nữa, ông đã được hứa bởi Đức Thánh Linh, và công tác của ông đã được Đức Thánh Linh ủng hộ. Vì là như vậy, chỉ thông qua công tác họ làm mà người ta mới có thể phân biệt được thân phận tương ứng của họ, vì không có cách nào để đánh giá thực chất của một người từ vẻ bề ngoài của họ, cũng không có bất kỳ cách nào để con người xác định được đâu là lời chứng của Đức Thánh Linh. Công tác do Giăng thực hiện và công tác do Jêsus thực hiện không giống nhau và mang bản chất khác nhau. Chính từ điều này mà người ta có thể xác định được Giăng có phải là Đức Chúa Trời hay không. Công tác của Jêsus là bắt đầu, tiếp tục, kết thúc và mang lại kết quả. Ngài đã thực hiện từng bước trong số này, trong khi công tác của Giăng không vượt quá việc tạo ra sự khởi đầu. Ban đầu, Jêsus đã rao truyền Phúc Âm và rao giảng con đường của sự ăn năn, và rồi tiếp đến làm phép báp-têm cho con người, chữa lành bệnh tật, và đuổi quỷ. Cuối cùng, Ngài đã cứu chuộc loài người khỏi tội lỗi và hoàn thành công tác của Ngài cho toàn bộ thời đại. Ngài cũng đã đi khắp nơi, rao giảng cho con người và truyền bá Phúc Âm về vương quốc thiên đàng. Về điều này, Ngài và Giăng giống nhau, sự khác biệt là Jêsus đã mở ra một thời đại mới và mang đến Thời đại Ân điển cho con người. Từ miệng Ngài thốt ra lời mà dựa trên đó con người nên thực hành và đường lối mà con người nên theo trong Thời đại Ân điển, và cuối cùng, Ngài đã hoàn thành công tác cứu chuộc. Giăng đã không bao giờ có thể thực hiện công tác này. Và do đó, chính Jêsus đã làm công tác của chính Đức Chúa Trời, Ngài chính là Đức Chúa Trời, và là Đấng trực tiếp đại diện cho Đức Chúa Trời.

Trích từ “Lẽ mầu nhiệm của sự nhập thể (1)” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

9. Lời của Đức Chúa Trời nhập thể mở ra một thời đại mới, dẫn dắt toàn bộ nhân loại, tiết lộ những mầu nhiệm, và cho con người thấy phương hướng mà họ sẽ đi trong thời đại mới. Sự khai sáng mà con người đạt được chỉ là những hướng dẫn đơn giản để thực hành hay có được kiến thức. Nó không thể dẫn dắt toàn nhân loại vào thời đại mới hay tiết lộ những mầu nhiệm của chính Đức Chúa Trời. Sau cùng, Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời, và con người là con người. Đức Chúa Trời có thực chất của Đức Chúa Trời, và con người có thực chất của con người.

Trích từ Lời tựa của Lời xuất hiện trong xác thịt

10. Những gì con người nói là những gì họ đã trải nghiệm. Đó là những gì họ đã nhìn thấy, những gì tâm trí của họ có thể đạt tới, và những gì các giác quan của họ có thể cảm nhận được. Đó là những gì họ có thể thông công. Những lời do Đức Chúa Trời nhập thể phán ra là sự bày tỏ trực tiếp của Thần và chúng bày tỏ về công tác đã được thực hiện bởi Thần, điều mà xác thịt chưa từng trải nghiệm hay nhìn thấy, thế nhưng Ngài vẫn bày tỏ hữu thể của Ngài bởi vì thực chất của xác thịt là Thần, và Ngài bày tỏ công tác của Thần. Đó là công tác đã được Thần thực hiện, mặc dù nó vượt tầm xác thịt. Sau khi nhập thể, thông qua sự bày tỏ của xác thịt, Ngài đã khiến mọi người có thể biết được hữu thể của Đức Chúa Trời, và cho mọi người thấy được tâm tính của Đức Chúa Trời và công tác Ngài đã làm. Công việc của con người cho con người sự rõ ràng hơn về những gì họ nên bước vào và những gì họ nên hiểu biết; điều đó bao gồm việc dẫn dắt con người tới sự hiểu biết và trải nghiệm lẽ thật. Công việc của con người là nhằm giữ vững con người; còn công tác của Đức Chúa Trời là nhằm mở ra những con đường mới và những kỷ nguyên mới cho nhân loại, và mặc khải cho con người những điều mà người phàm không hay tỏ, giúp họ biết được tâm tính của Ngài. Công tác của Đức Chúa Trời là dẫn dắt toàn bộ nhân loại.

Trích từ “Công tác của Đức Chúa Trời và công việc của Con Người” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

11. Các đấng tiên tri của Cựu Uớc đã phán những lời tiên tri, và tương tự, Jêsus cũng vậy. Tại sao lại như vậy? Sự khác biệt ở đây dựa trên bản chất công việc. Để phân biệt vấn đề này, ngươi không thể xem xét bản chất của xác thịt, ngươi cũng không nên xem xét độ sâu hay nông trong lời họ. Luôn luôn, ngươi trước tiên phải xem xét công tác của họ và những hiệu quả mà công tác của họ đạt được trong con người. Những lời tiên tri đã được các đấng tiên tri phán ra thời đó đã không chu cấp sự sống của con người, và những linh hứng mà những người như I-sai-a và Đa-ni-ên đã nhận được chỉ đơn thuần là những lời tiên tri, và không phải là con đường sự sống. Nếu không vì sự mặc khải trực tiếp của Đức Giê-hô-va, thì không ai có thể làm việc đó, điều không thể đối với người phàm. Jêsus cũng phán rất nhiều lời, nhưng những lời đó là con đường sự sống mà từ đó con người có thể tìm ra cách để thực hành. Điều đó có nghĩa là, thứ nhất, Ngài đã có thể chu cấp sự sống của con người, bởi Jêsus là sự sống; thứ hai, Ngài đã có thể đảo ngược hướng đi sai trật của con người; thứ ba, công tác của Ngài có thể kế tục công tác của Đức Giê-hô-va để xúc tiến thời đại; thứ tư, Ngài đã có thể nắm bắt được những nhu cầu bên trong con người và hiểu được con người thiếu những gì; thứ năm, Ngài có thể mở ra một thời đại mới và kết thúc thời đại cũ. Đó là lý do vì sao Ngài được gọi là Đức Chúa Trời và Đấng Christ; Ngài không những khác với I-sai-a mà còn khác với tất cả các đấng tiên tri khác. Hãy lấy I-sai-a để so sánh về công việc của các đấng tiên tri. Thứ nhất, ông không thể chu cấp sự sống của con người; thứ nhì, ông không thể mở ra một thời đại mới. Ông đã làm việc dưới sự dẫn dắt của Đức Giê-hô-va và không mở ra một thời đại mới. Thứ ba, những lời ông đã phán ra vượt tầm của ông. Ông đã nhận lãnh những sự mặc khải trực tiếp từ Thần của Đức Chúa Trời, và những người khác sẽ không thể hiểu được, dù cho đã nghe thấy chúng. Vài điều này thôi cũng đủ để chứng minh rằng những lời nói của ông không hơn gì những lời tiên tri, không hơn gì một khía cạnh công tác được làm thay cho Đức Giê-hô-va. Tuy nhiên, ông không thể hoàn toàn đại diện cho Đức Giê-hô-va. Ông là tôi tớ của Đức Giê-hô-va, một công cụ trong công tác của Đức Giê-hô-va. Ông chỉ làm công tác trong Thời đại Luật pháp và trong phạm vi công tác của Đức Giê-hô-va; ông đã không làm công tác vượt quá Thời đại Luật pháp. Ngược lại, công tác của Jêsus thì khác. Ngài đã vượt quá phạm vi công tác của Đức Giê-hô-va; Ngài đã làm việc như Đức Chúa Trời nhập thể và trải qua sự đóng đinh trên thập tự để cứu chuộc cả nhân loại. Điều đó có nghĩa là, Ngài đã thực hiện công tác mới ngoài công tác đã được thực hiện bởi Đức Giê-hô-va. Đây là sự mở ra một thời đại mới. Thêm nữa, Ngài đã có thể phán về những điều con người không thể đạt được. Công tác của Ngài là công tác trong phạm vi sự quản lý của Đức Chúa Trời và liên quan đến toàn thể nhân loại. Ngài đã làm việc không chỉ trong một vài người, công tác của Ngài cũng không có nghĩa là dẫn dắt một số người có giới hạn. … Từ công tác của Ngài, có thể thấy được rằng, thứ nhất, Ngài có thể mở ra một thời đại mới; thứ hai, Ngài có thể chu cấp sự sống của con người và chỉ cho con người con đường để đi theo. Điều này đủ để chứng minh rằng Ngài là chính Đức Chúa Trời. Ít nhất là, công tác Ngài làm hoàn toàn có thể đại diện cho Thần của Đức Chúa Trời, và từ công tác đó có thể thấy rằng Thần của Đức Chúa Trời ở trong Ngài. Vì công tác do Đức Chúa Trời nhập thể thực hiện chủ yếu là mở ra một thời đại mới, dẫn dắt công tác mới, và mở ra một cõi mới, chỉ những điều này thôi cũng đủ để chứng minh rằng Ngài là chính Đức Chúa Trời. Vì thế, điều này phân biệt Ngài với I-sai-a, Đa-ni-ên, và những nhà tiên tri vĩ đại khác.

Trích từ “Sự khác nhau giữa chức vụ của Đức Chúa Trời nhập thể và bổn phận của con người” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

12. Các ngươi phải biết phân biệt giữa công việc của Đức Chúa Trời và công việc của con người. Ngươi có thể thấy gì trong công việc của con người? Có nhiều yếu tố về kinh nghiệm của con người trong công việc của họ; những gì con người bày tỏ là những gì về họ. Công tác của chính Đức Chúa Trời cũng bày tỏ Ngài là gì, nhưng hữu thể của Ngài thì khác với của con người. Hữu thể của con người đại diện cho kinh nghiệm và cuộc sống của con người (những gì con người trải nghiệm hoặc gặp phải trong cuộc sống, hoặc những triết lý sống mà họ có), và những người sống ở các môi trường khác nhau thì bày tỏ những hữu thể khác nhau. Liệu rằng ngươi có kinh nghiệm xã hội hay không, và ngươi thực sự đang sống và trải nghiệm thế nào trong gia đình của ngươi, đều có thể thấy được trong những gì ngươi bày tỏ, trong khi đó ngươi không thể thấy được trong công tác của Đức Chúa Trời nhập thể liệu rằng Ngài có các kinh nghiệm xã hội hay không. Ngài nhận thức rõ về bản chất của con người, và có thể tỏ lộ đủ loại thói quen thuộc về đủ loại người. Ngài thậm chí còn giỏi hơn trong việc vạch trần những tâm tính bại hoại và hành vi nổi loạn của con người. Ngài không sống giữa những con người trần tục, nhưng Ngài nhận thức được về bản tính của người phàm và mọi điều bại hoại của con người trần tục. Đây là hữu thể của Ngài. Mặc dù Ngài không ứng phó với thế giới, Ngài vẫn biết các qui tắc để ứng phó với thế giới, vì Ngài hoàn toàn hiểu bản tính của con người. Ngài biết về công tác của Thần mà mắt người thường không thể thấy và tai người thường không thể nghe, cả ngày nay và trong quá khứ. Điều này bao gồm cả sự khôn ngoan mà không phải là một triết lý sống và điều kỳ diệu mà con người cảm thấy khó hiểu thấu. Đây là hữu thể của Ngài, cởi mở với con người và cũng ẩn giấu khỏi con người. Những gì Ngài bày tỏ không phải hữu thể của một con người phi thường, mà là những thuộc tính vốn có và hữu thể của Thần. Ngài không đi du hành thế giới nhưng biết mọi thứ về nó. Ngài tiếp xúc với những “dã nhân” chẳng có chút kiến thức hay sự thông sáng nào, nhưng Ngài bày tỏ lời cao hơn kiến thức và trên tầm những vĩ nhân. Ngài sống giữa một nhóm người đần độn và trơ lì, những kẻ chẳng có nhân tính và chẳng hiểu về tập tục và đời sống của con người, nhưng Ngài có thể yêu cầu nhân loại sống trọn nhân tính bình thường, đồng thời vạch trần nhân tính thấp hèn của nhân loại. Tất cả những điều này là hữu thể của Ngài, cao cả hơn hữu thể của bất cứ con người bằng xương bằng thịt nào. Đối với Ngài, chẳng cần thiết phải trải nghiệm một đời sống xã hội phức tạp, cồng kềnh và bẩn thỉu mới có thể làm công tác mà Ngài cần làm và vạch trần được triệt để bản chất của nhân loại sa ngã. Một đời sống xã hội bẩn thỉu không bù đắp được xác thịt Ngài. Công việc và lời Ngài chỉ vạch trần sự bất tuân của con người và không cung cấp cho con người kinh nghiệm và các bài học để ứng phó với thế giới. Ngài chẳng cần phải dò xét xã hội hay gia đình của con người khi Ngài cung cấp cho con người sự sống. Phơi bày và phán xét con người không phải là sự bày tỏ những kinh nghiệm của xác thịt Ngài; đó là sự tỏ lộ của Ngài về sự bất chính của con người sau khi đã biết về sự bất tuân của con người trong một thời gian dài và ghê tởm sự bại hoại của loài người. Công việc Ngài làm đều nhằm phơi bày tâm tính của con người và bày tỏ hữu thể của Ngài. Chỉ có Ngài mới có thể làm công tác này, đây không phải là thứ mà một con người bằng xương bằng thịt có thể đạt được. Từ công tác của Ngài, con người không thể biết Ngài thuộc loại người nào. Con người cũng không thể phân loại Ngài như một con người thọ tạo dựa trên công tác của Ngài. Hữu thể của Ngài cũng khiến Ngài không thể được phân loại như một con người thọ tạo. Con người chỉ có thể xem Ngài như một đối tượng phi nhân loại, nhưng không biết xếp Ngài vào tiêu chí nào, vì vậy con người buộc phải xếp Ngài vào cùng tiêu chí với Đức Chúa Trời. Con người không vô lý khi làm như vậy, bởi Đức Chúa Trời đã làm nhiều việc giữa mọi người mà con người không thể làm.

Trích từ “Công tác của Đức Chúa Trời và công việc của Con Người” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

13. Khi Đức Chúa Trời đến trần thế, Đức Chúa Trời chỉ làm công tác của Đức Chúa Trời trong thần tính, là điều mà Thần trên trời đã phó thác cho Đức Chúa Trời nhập thể. Khi Đức Chúa Trời đến, Đức Chúa Trời chỉ phán dạy khắp các vùng đất, để bày tỏ lời Đức Chúa Trời bằng những phương cách khác nhau và từ những góc độ khác nhau. Đức Chúa Trời chủ yếu lấy việc chu cấp và dạy bảo con người làm các mục tiêu và nguyên tắc làm việc của Đức Chúa Trời, và không bận lòng về những thứ như các mối quan hệ nhân sinh hay những vụn vặt trong đời sống của con người. Chức vụ chính của Đức Chúa Trời là phán thay cho Thần. Nghĩa là, khi Thần của Đức Chúa Trời hiện ra một cách hữu hình trong xác thịt, Đức Chúa Trời chỉ chu cấp cho cuộc sống của con người và ban ra lẽ thật. Đức Chúa Trời không can dự vào công việc của con người, tức là Ngài không tham gia vào công việc của loài người. Con người không thể làm công tác thần thánh, và Đức Chúa Trời không tham gia vào công việc của con người.

Trích từ “Sự khác nhau cơ bản giữa Đức Chúa Trời nhập thể và người được Đức Chúa Trời sử dụng” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

14. Sa-tan chỉ có thể bị đánh bại hoàn toàn nếu Đức Chúa Trời trong xác thịt phán xét sự bại hoại của nhân loại. Giống như con người sở hữu nhân tính bình thường, Đức Chúa Trời trong xác thịt có thể trực tiếp phán xét sự bất chính của con người; đây là dấu hiệu của sự thánh khiết vốn có của Ngài, và của sự phi thường của Ngài. Chỉ có Đức Chúa Trời mới có đủ tư cách và ở vị trí để phán xét con người, bởi vì Ngài sở hữu lẽ thật và sự công chính, và vì thế Ngài có thể phán xét con người. Những ai không có lẽ thật và sự công chính thì không phù hợp để phán xét những người khác.

Trích từ “Nhân loại bại hoại càng cần hơn sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời nhập thể” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

15. Công tác được thực hiện bởi con người chỉ đại diện cho một phạm vi giới hạn, và khi Đức Chúa Trời thực hiện công tác của Ngài thì Ngài không phán với một người nhất định nào, mà phán với toàn thể nhân loại, và tất cả những ai chấp nhận những lời của Ngài. Kết cục mà Ngài tuyên bố là kết cục của cả nhân loại, không chỉ là kết cục của một người nào đó. Ngài không đối xử đặc biệt đối với bất kỳ ai, mà Ngài cũng không khiển trách bất kỳ ai, Ngài làm việc và phán với toàn thể nhân loại.

Trích từ “Nhân loại bại hoại càng cần hơn sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời nhập thể” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

16. Công tác của Đức Chúa Trời không có các quy tắc và không chịu các ràng buộc về thời gian hay địa lý. Ngài có thể bày tỏ Ngài là gì bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu. Ngài làm việc khi Ngài muốn. Công việc của con người có những điều kiện và bối cảnh; nếu không có chúng, họ sẽ không thể làm việc và không thể bày tỏ kiến thức của họ về Đức Chúa Trời hay trải nghiệm của họ về lẽ thật. Để biết được liệu một việc gì đó là công việc của chính Đức Chúa Trời hay công việc của con người, ngươi chỉ cần so sánh những khác biệt giữa hai công việc.

Trích từ “Công tác của Đức Chúa Trời và công việc của Con Người” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

17. Công việc của con người nằm trong một phạm vi và bị hạn chế. Một người chỉ có thể làm công việc của một giai đoạn nhất định, và không thể làm công việc của cả một thời đại – nếu không, anh ta sẽ dẫn dắt con người vào giữa các phép tắc. Công việc của con người chỉ có thể áp dụng cho một thời gian hoặc một giai đoạn cụ thể. Đó là bởi trải nghiệm của con người có phạm vi của nó. Không thể so sánh công việc của con người với công tác của Đức Chúa Trời. Lối thực hành và kiến thức của con người về lẽ thật đều khả dụng trong một phạm vi nhất định. Ngươi không thể nói rằng con đường mà con người đang bước đi hoàn toàn là ý muốn của Đức Thánh Linh, bởi vì con người chỉ có thể được khai sáng bởi Đức Thánh Linh, và không thể hoàn toàn được đầy dẫy Đức Thánh Linh. Những thứ mà con người có thể trải nghiệm đều nằm trong phạm vi nhân tính bình thường và không thể vượt khỏi giới hạn của những tư tưởng trong tâm trí con người bình thường. Tất cả những người có thể sống trọn hiện thực của lẽ thật đều trải nghiệm nội trong phạm vi này.

Trích từ “Công tác của Đức Chúa Trời và công việc của Con Người” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

18. Phạm vi lẽ thật mà con người trải nghiệm khác nhau giữa người này với người khác, phù hợp với những điều kiện của mỗi người. Theo cách này, kiến thức về cùng một lẽ thật, khi được bày tỏ bởi những người khác nhau thì không giống nhau. Điều này có nghĩa là, kinh nghiệm của con người luôn có những hạn chế và không thể đại diện trọn vẹn cho ý chí của Đức Thánh Linh, công việc của con người cũng không thể được hiểu như là công tác của Đức Chúa Trời, cho dù những gì con người bày tỏ rất gần với ý muốn của Đức Chúa Trời, và cho dù trải nghiệm của con người rất gần với công việc hoàn thiện mà Đức Thánh Linh thực hiện. Con người chỉ có thể là tôi tớ của Đức Chúa Trời, thực hiện các công việc mà Đức Chúa Trời tín thác cho họ. Con người chỉ có thể bày tỏ kiến thức được Đức Thánh Linh khai sáng và những lẽ thật đạt được từ những trải nghiệm cá nhân của họ. Con người không đủ tư cách và không đáp ứng các điều kiện để làm phương tiện bày tỏ của Đức Thánh Linh. Họ không được quyền nói rằng công việc của họ là công tác của Đức Chúa Trời. Con người có các nguyên tắc làm việc của con người, và hết thảy mọi người đều có các kinh nghiệm khác nhau và sở hữu các điều kiện khác nhau. Công việc của con người bao gồm toàn bộ các trải nghiệm của họ dưới sự khai sáng của Đức Thánh Linh. Những kinh nghiệm này chỉ có thể đại diện cho hữu thể của con người và không đại diện cho hữu thể của Đức Chúa Trời hay ý chí của Đức Thánh Linh. Do đó, con đường mà con người đi không thể được cho là con đường mà Đức Thánh Linh đi, bởi vì công việc của con người không thể đại diện cho công tác của Đức Chúa Trời, và công việc cũng như kinh nghiệm của con người không phải là toàn bộ ý chí của Đức Thánh Linh.

Trích từ “Công tác của Đức Chúa Trời và công việc của Con Người” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

19. Công việc của con người có xu hướng rơi vào những phép tắc, cách thức làm việc của họ dễ bị gò bó vào một phạm vi hạn chế, và không thể dẫn dắt con người đến một đường lối tự do. Hầu hết các môn đệ sống trong một phạm vi giới hạn, và cách trải nghiệm của họ cũng bị hạn chế trong phạm vi đó. Kinh nghiệm của con người luôn bị hạn chế; phương pháp làm việc của họ cũng bị giới hạn vào một số kiểu và không thể so sánh với công tác của Đức Thánh Linh hay công tác của chính Đức Chúa Trời. Điều này là bởi kinh nghiệm của con người rốt cuộc cũng bị hạn chế. Dù Đức Chúa Trời thực hiện công tác của Ngài như thế nào đi nữa, nó cũng không bị bó buộc bởi các phép tắc; cho dù nó được thực hiện như thế nào đi nữa cũng không bị giới hạn vào một phương pháp nào. Không có bất cứ phép tắc nào cho công tác của Đức Chúa Trời – mọi công tác của Ngài đều được giải phóng và tự do. Cho dù con người có theo Ngài bao lâu thì họ cũng không thể chắt lọc được bất cứ quy luật nào chi phối cách làm việc của Đức Chúa Trời. Mặc dù công tác của Ngài có nguyên tắc, nhưng nó luôn được thực hiện theo những cách mới và luôn có những phát triển mới, và nó vượt quá tầm với của con người. Trong một thời kỳ, Đức Chúa Trời có thể có vài kiểu công tác khác nhau và những cách dẫn dắt con người khác nhau, khiến con người luôn có được những lối vào và những thay đổi mới mẻ. Ngươi không thể nhận thấy được các quy luậttrong công tác của Ngài bởi vì Ngài luôn làm việc theo những cách mới và chỉ có như vậy mà những môn đệ của Đức Chúa Trời mới không trở nên bị bó buộc bởi các phép tắc. Công tác của chính Đức Chúa Trời luôn tránh những quan niệm của con người và ngược lại với chúng. Chỉ những ai đi theo và theo đuổi Ngài với tấm lòng chân thật mới có thể chuyển hóa được tâm tính của họ và có thể sống cách tự do, không phải chịu bất kỳ các phép tắc nào, hay bị bó buộc bởi bất kỳ các quan niệm tôn giáo nào. Công việc của con người đưa ra các đòi hỏi cho con người dựa trên kinh nghiệm của chính họ và những gì bản thân họ có thể đạt được. Tiêu chuẩn cho những yêu cầu này được giới hạn trong một phạm vi nhất định, và các phương cách thực hành cũng rất hạn chế. Những môn đệ vì vậy mà sống nội trong phạm vi giới hạn này một cách vô thức; qua thời gian, những điều này trở thành những phép tắc và nghi thức.

Trích từ “Công tác của Đức Chúa Trời và công việc của Con Người” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

20. Khi con người làm việc, họ tìm kiếm và mò mẫm, luôn bắt chước và cân nhắc dựa trên nền tảng do người khác đặt ra để dấn tới sâu hơn. Công tác của Đức Chúa Trời là sự cung cấp bản thể của Ngàilà gì, và Ngài thực hiện công tác mà chính Ngài phải làm. Ngài không cung cấp lương thực cho hội thánh bằng cách sử dụng kiến thức từ công tác của bất cứ con người nào. Thay vào đó, Ngài thực hiện công tác hiện tại dựa trên tình trạng của con người. Do đó, làm việc bằng cách này tự do hơn công tác mà con người làm gấp hàng nghìn lần. Đối với con người, thậm chí dường như Đức Chúa Trời không tuân theo bổn phận của Ngài và làm việc theo cách Ngài thích – nhưng mọi công tác Ngài làm là mới. Tuy nhiên, ngươi nên biết rằng công tác của Đức Chúa Trời nhập thể không bao giờ dựa trên cảm giác.

Trích từ “Sự thực hành (5)” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

21. Công việc của con người biểu thị kinh nghiệm và nhân tính của họ. Những gì con người cung cấp và công việc mà họ thực hiện đại diện cho họ. Mọi sự thấu suốt, lý luận, lô-gic và óc tưởng tượng phong phú của con người đều được chứa đựng trong công việc của họ. Kinh nghiệm của con người đặc biệt có thể biểu thị công việc của họ, và những kinh nghiệm của một người trở thành những hợp phần trong công việc của họ. Công việc của con người có thể bày tỏ kinh nghiệm của họ. … và công tác của Đức Thánh Linh thường thay đổi theo tình trạng của con người. Ngài làm việc theo kinh nghiệm của con người và không áp đặt họ, mà chỉ đưa ra những yêu cầu cho con người theo quá trình trải nghiệm bình thường của họ. Điều này có nghĩa là sự thông công của con người khác với lời Đức Chúa Trời. Những gì mọi người thông công truyền tải những điều thông sáng và kinh nghiệm cá nhân của họ, bày tỏ những điều thông sáng và kinh nghiệm của họ trên cơ sở công tác của Đức Chúa Trời. Trách nhiệm của họ là phải tìm ra được, sau khi Đức Chúa Trời làm việc hay phán dạy, những gì trong đó mà họ phải thực hành hay bước vào, và sau đó truyền đạt lại cho các môn đệ. Do đó, công việc của con người đại diện cho sự bước vào và thực hành của họ. Dĩ nhiên, những công việc như thế này bị pha trộn với những bài học và kinh nghiệm của con người, hoặc một số tư tưởng của họ. … Những gì con người bày tỏ là những gì họ nhìn thấy, cảm nghiệm và có thể tưởng tượng và có thể đạt được theo suy nghĩ của con người, cho dù đó có là học thuyết hay những quan niệm. Công việc của con người không thể vượt quá phạm vi kinh nghiệm của con người, những gì họ thấy, hay những gì họ có thể tưởng tượng hay nhận thức được bất kể quy mô của công việc đó thế nào. Tất cả những gì Đức Chúa Trời bày tỏ là những gì về chính Ngài, và điều này không thể đạt được bởi con người – nghĩa là vượt quá tầm suy nghĩ của con người. Ngài bày tỏ công tác dẫn dắt toàn nhân loại của Ngài, và điều này không liên quan đến các chi tiết trong kinh nghiệm của con người, mà thay vào đó là liên quan đến kế hoạch quản lý của riêng Ngài. Những gì con người bày tỏ là kinh nghiệm của họ, trong khi những gì Đức Chúa Trời bày tỏ là hữu thể của Ngài, đó là tâm tính cố hữu của Ngài, vượt ra khỏi tầm với của con người. Kinh nghiệm của con người là sự thông sáng và kiến thức lĩnh hội được dựa trên sự bày tỏ của Đức Chúa Trời về hữu thể của Ngài. Sự thông sáng và kiến thức như thế gọi là hữu thể của con người, và cơ sở cho sự bày tỏ chúng là tâm tính và tố chất cố hữu của con người; đây là lí do vì sao chúng cũng được gọi là hữu thể của con người.

Trích từ “Công tác của Đức Chúa Trời và công việc của Con Người” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

22. Công việc trong tâm trí con người thì quá dễ để con người đạt được. Các mục sư và lãnh đạo trong giới tôn giáo chẳng hạn, họ dựa vào tài năng và chức vụ để làm công việc của họ. Những người theo họ trong thời gian dài sẽ bị nhiễm bởi những tài năng của họ và chịu ảnh hưởng bởi một số thứ thuộc về hữu thể của họ. Họ tập trung vào tài năng, khả năng, và tri thức của con người, và họ chú ý đến vào những thứ siêu nhiên và nhiều giáo lý cao xa hão huyền (dĩ nhiên, những giáo lý cao xa này là không thể đạt được). Họ không tập trung vào việc thay đổi tâm tính con người, mà thay vào đó tập trung vào huấn luyện con người để giảng đạo và làm việc, nâng cao kiến thức và các giáo lý tôn giáo phong phú của họ. Họ không tập trung vào việc tâm tính của con người đã thay đổi bao nhiêu, hay con người hiểu được bao nhiêu về lẽ thật. Họ không liên hệ bản thân họ với thực chất của con người, càng không cố gắng để biết được các trạng thái bình thường và bất thường của con người. Họ không phản đối các quan niệm của con người hay tỏ lộ các quan niệm của họ, càng không tỉa sửa mọi người vì những khiếm khuyết hay sự bại hoại của họ. Hầu hết những người theo họ phục vụ vì tài năng tự nhiên của họ, và những gì họ đưa ra là những quan niệm tôn giáo và lí thuyết thần học, những điều hoàn toàn không thực tế và hoàn toàn không thể trao sự sống cho con người. Thực ra, thực chất công việc của họ là nuôi dưỡng tài năng, nuôi dưỡng một người từ không có gì trở thành một cử nhân trường dòng tài năng, để sau đó lại tiếp tục làm việc và lãnh đạo. Ngươi có thể nhận ra được bất kỳ quy luật nào trong sáu ngàn năm công việc của Đức Chúa Trời không? Có nhiều phép tắc và hạn chế trong công việc mà con người thực hiện, và bộ óc con người thì quá giáo điều. Vì vậy, những gì con người bày tỏ là kiến thức và những nhận thức trong phạm vi kinh nghiệm của họ. Con người không thể bày tỏ bất cứ thứ gì ngoài thứ này. Kinh nghiệm và kiến thức của con người không tăng lên nhờ những tài năng bẩm sinh hay bản năng của họ, mà tăng lên bởi sự hướng dẫn và sự chăn dắt trực tiếp của Đức Chúa Trời. Con người chỉ có khả năng nhận lãnh sự chăn dắt này, và không có khả năng bày tỏ trực tiếp được những gì thuộc về thần tính. Con người không thể là nguồn cung, họ chỉ có thể là một chiếc bình để nhận lãnh nước từ nguồn cung. Đây là bản năng của con người, là khả năng mà một người cần có khi là một con người. Nếu một người đánh mất khả năng nhận lãnh lời Đức Chúa Trời và đánh mất bản năng con người, thì người đó cũng mất đi điều quý giá nhất, và mất đi bổn phận của loài người thọ tạo. Nếu một người không có kiến thức hay kinh nghiệm gì về lời Đức Chúa Trời hay công tác của Ngài, thì người đó đánh mất bổn phận của họ, bổn phận họ phải thực hiện với tư cách một loài thọ tạo, và đánh mất phẩm giá của một loài thọ tạo.

Trích từ “Công tác của Đức Chúa Trời và công việc của Con Người” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

23. Suy cho cùng, công tác của Đức Chúa Trời khác với công tác của con người và, hơn nữa, làm sao những sự bày tỏ của Ngài có thể giống như của họ được? Đức Chúa Trời có tâm tính riêng của Ngài, trong khi con người có những bổn phận mà họ phải hoàn thành. Tâm tính của Đức Chúa Trời được bày tỏ trong công tác của Ngài, trong khi bổn phận của con người được biểu hiện trong những trải nghiệm của con người và được thể hiện trong những sự mưu cầu của con người. Do vậy, thông qua công tác được thực hiện, việc liệu một điều gì đó là sự bày tỏ của Đức Chúa Trời hay sự bày tỏ của con người trở nên rõ ràng. Điều này không cần chính Đức Chúa Trời phải giải thích, cũng không cần con người cố gắng làm chứng; hơn nữa, điều này không cần chính Đức Chúa Trời phải áp chế bất kỳ ai. Toàn bộ điều này đến như một sự mặc khải tự nhiên, không bị ép buộc và cũng không phải là điều mà con người có thể xen vào. Bổn phận của con người có thể được biết đến thông qua những trải nghiệm của họ, và không yêu cầu mọi người làm bất cứ công tác thực nghiệm nào thêm. Toàn bộ thực chất của con người có thể được bộc lộ khi họ thực hiện bổn phận của mình, trong khi Đức Chúa Trời có thể bày tỏ tâm tính vốn có của Ngài trong lúc thực hiện công tác của Ngài. Nếu đó là công tác của con người, thì nó không thể bị che đậy. Nếu đó là công tác của Đức Chúa Trời, thì tâm tính của Đức Chúa Trời thậm chí càng không thể bị che giấu bởi bất kỳ ai, càng không bị kiểm soát bởi con người. Không thể nói một con người nào là Đức Chúa Trời, và công tác cũng như những lời của họ cũng không thể được coi là thánh khiết hay bất biến. Có thể nói Đức Chúa Trời là con người bởi Ngài mặc lấy xác thịt, nhưng không thể coi công tác của Ngài là công tác hay bổn phận của con người. Hơn nữa, những lời phán của Đức Chúa Trời và những bức thư của Phao-lô không thể được đánh đồng, và sự phán xét, hình phạt của Đức Chúa Trời không thể được nói đến ngang hàng với những lời hướng dẫn của con người. Do vậy, có những nguyên tắc phân biệt công tác của Đức Chúa Trời với công tác của con người. Những điều này được phân biệt theo thực chất của chúng, chứ không phải bởi phạm vi công tác hay tính hiệu quả nhất thời. Về chủ đề này, hầu hết mọi người đều nhầm lẫn về nguyên tắc.

Trích từ “Ngươi đứng ở đâu trong mười ba thư tín?” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

24. Bởi suy cho cùng, con người là con người, và họ chỉ có thể nhìn vào mọi thứ từ tầm cao và góc nhìn của một con người. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời nhập thể thì hoàn toàn khác với một con người bại hoại. Cho dù xác thịt nhập thể của Đức Chúa Trời có tầm thường, bình thường, hay thấp hèn như thế nào, hay thậm chí con người coi khinh Ngài như thế nào đi nữa, thì những ý nghĩ và thái độ của Ngài đối với nhân loại cũng là những điều không người nào có thể sở hữu, không người nào có thể bắt chước. Ngài sẽ luôn quan sát nhân loại từ góc độ của thần tính, từ tầm cao của vị trí của Ngài là Đấng Tạo Hóa. Ngài sẽ luôn nhìn nhân loại thông qua thực chất và tư duy của Đức Chúa Trời. Ngài tuyệt đối không thể nhìn nhân loại từ tầm thấp của một người bình thường, hay từ góc độ của một người bại hoại. Khi con người nhìn vào nhân loại, họ nhìn với tầm nhìn của con người, và họ dùng những điều như kiến thức của con người, những phép tắc và lý thuyết của con người để làm thước đo của họ. Điều này nằm trong phạm vi những gì con người có thể nhìn thấy với mắt họ và phạm vi mà những người bại hoại có thể đạt được. Khi Đức Chúa Trời nhìn vào nhân loại, Ngài nhìn với tầm nhìn của thần, và Ngài dùng thực chất của Ngài, dùng việc Ngài có gì và là gì như một thước đo. Phạm vi này bao gồm những điều mà con người không thể thấy, và đây là điểm mà Đức Chúa Trời nhập thể và con người bại hoại khác nhau hoàn toàn. Sự khác biệt này được quyết định bởi thực chất khác nhau của con người và Đức Chúa Trời – chính những thực chất khác biệt này quyết định thân phận và địa vị của họ cũng như góc độ và tầm cao nơi họ nhìn sự việc.

Trích từ “Công tác của Đức Chúa Trời, tâm tính của Đức Chúa Trời, và chính Đức Chúa Trời III” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

25. Có thể kinh nghiệm của một người trong công việc của họ là đặc biệt dày dạn, hay sức tưởng tượng và lý luận của anh ta đặc biệt giỏi, và nhân tính của anh ta đặc biệt tốt; những thuộc tính như thế chỉ khiến con người ngưỡng mộ, chứ không gợi lên ở họ sự kính sợ hay sợ hãi. Con người chỉ ngưỡng mộ những người có thể làm việc tốt, người có kinh nghiệm đặc biệt sâu sắc và có thể thực hành lẽ thật, nhưng họ không bao giờ có thể gợi lên niềm kính sợ, mà chỉ có ngưỡng mộ và ghen tỵ. Nhưng những người đã trải nghiệm công tác của Đức Chúa Trời thì không ngưỡng mộ Ngài; thay vào đó họ cảm thấy rằng công tác của Ngài là vượt khỏi tầm của con người và không thể hiểu thấu đối với con người, và rằng nó thật tươi mới và kỳ diệu. Khi con người trải nghiệm công tác của Đức Chúa Trời, hiểu biết đầu tiên của họ về Ngài là Ngài thật không thể hiểu thấu, khôn ngoan và kỳ diệu, và họ vô thức tôn kính Ngài và cảm thấy sự mầu nhiệm trong công tác Ngài làm, điều vượt khỏi tầm của tâm trí con người. Con người chỉ mong muốn có thể đáp ứng các yêu cầu của Ngài, thỏa các ước muốn của Ngài; họ không mong muốn vượt qua Ngài bởi vì công tác mà Ngài làm vượt khỏi suy nghĩ và tưởng tượng của con người, và không thể được con người thực hiện thay Ngài. Ngay cả bản thân con người còn không biết được những khiếm khuyết của chính họ, thế mà Đức Chúa Trời đã mở ra một con đường mới và đã đến để đưa con người vào một thế giới mới hơn và đẹp hơn, và vì vậy mà nhân loại đã có được bước tiến mới và có được một khởi đầu mới. Những gì con người cảm nhận về Ngài không phải là sự ngưỡng mộ, mà đúng hơn, không chỉ là sự ngưỡng mộ. Cảm nghiệm sâu sắc nhất của họ là sự kính sợ và tình yêu thương, cảm giác của họ là Đức Chúa Trời thật sự kỳ diệu. Ngài làm những việc con người không thể làm và nói những điều con người không thể nói. Những người đã trải nghiệm công tác của Ngài luôn có một cảm xúc không thể tả. Những người có những trải nghiệm đủ sâu thì có thể hiểu tình yêu của Đức Chúa Trời; họ có thể cảm nhận được sự đáng yêu của Ngài, cảm nhận rằng công tác của Ngài thật quá trí tuệ, quá kỳ diệu, và do đó có một sức mạnh vô hạn được tạo ra giữa họ. Đó không phải là sự sợ hãi hay một tình yêu và sự tôn kính thảng hoặc, mà là một ý thức sâu sắc về lòng ắc trẩn của Đức Chúa Trời dành cho con người và sự bao dung của Ngài. Tuy nhiên, những người đã trải qua hình phạt và phán xét của Ngài thì cảm nhận được sự oai nghi của Ngài và rằng Ngài không dung thứ cho bất kỳ sự xúc phạm nào. Thậm chí những người đã trải nghiệm nhiều công tác của Ngài cũng không thể hiểu thấu Ngài; tất cả những ai thực sự tôn kính Ngài đều biết rằng công tác của Ngài không hợp với những quan niệm của con người mà luôn đi ngược lại các quan niệm của họ. Ngài không cần con người phải ngưỡng mộ Ngài tuyệt đối hay tỏ vẻ vâng phục với Ngài, mà thay vào đó họ phải có lòng tôn kính thực sự và sự vâng phục thực sự. Trong rất nhiều công tác của Ngài, bất cứ ai có kinh nghiệm thực sự đều cảm thấy tôn kính đối với Ngài, điều còn cao hơn cả sự ngưỡng mộ. Con người đã thấy được tâm tính của Ngài qua công tác hành phạt và phán xét của Ngài, và họ vì vậy mà tôn kính Ngài trong lòng họ. Đức Chúa Trời là để được tôn kính và vâng phục, bởi hữu thể và tâm tính của Ngài không giống như của một loài thọ tạo, và cao cả hơn của một loài thọ tạo. Đức Chúa Trời là tự hữu và bất diệt, Ngài không phải là một loài thọ tạo, và chỉ có Đức Chúa Trời mới xứng đáng với sự tôn kính và vâng phục; con người không đủ tư cách cho điều này. Như vậy, hết thảy những người đã trải nghiệm công tác của Ngài và thực sự biết Ngài đều cảm thấy sự tôn kính đối với Ngài. Tuy nhiên, những ai không từ bỏ các quan niệm của họ về Ngài – những ai đơn giản không xem Ngài là Đức Chúa Trời – thì không có bất kỳ sự tôn kính nào đối với Ngài, và mặc dù họ theo Ngài, họ không được chinh phục; họ là những kẻ bất tuân từ trong bản chất. Những gì Ngài muốn đạt được bằng cách làm việc như vậy là để cho muôn loài thọ tạo đều có lòng tôn kính Đấng Tạo Hóa, thờ phượng Ngài, và vâng phục vô điều kiện trước sự thống trị của Ngài. Đây là kết quả cuối cùng mà mọi công tác của Ngài đều nhằm đạt được.

Trích từ “Công tác của Đức Chúa Trời và công việc của Con Người” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

26. Nếu con người làm công tác này, thì sẽ rất hạn chế: Nó có thể đưa con người đến một điểm nào đó, nhưng nó không thể đem con người tới được đích đến đời đời. Con người không thể quyết định vận mệnh của con người, hơn nữa, họ cũng không thể đảm bảo cho những triển vọng và đích đến trong tương lai của con người. Tuy nhiên, công tác do Đức Chúa Trời thực hiện thì lại khác. Vì Ngài đã tạo dựng con người, nên Ngài dẫn dắt họ; vì Ngài cứu con người, nên Ngài sẽ cứu họ triệt để, và sẽ hoàn toàn thu phục họ; vì Ngài dẫn dắt con người, nên Ngài sẽ đem họ đến một đích đến thích hợp; và vì Ngài đã tạo dựng và quản lý con người, nên Ngài phải có trách nhiệm về số phận và triển vọng của con người. Đây chính là công tác do Đấng Tạo Hóa thực hiện.

Trích từ “Khôi phục lại đời sống bình thường của con người và đưa họ đến một đích đến tuyệt vời” trong Lời xuất hiện trong xác thịt

Trước: VIII. Chỉ có một Đức Chúa Trời duy nhất: thuyết Ba Ngôi không tồn tại

Tiếp theo: X. Cách phân biệt những kẻ chăn chiên giả, kẻ địch lại Đấng Christ và christ giả

Bạn có muốn biết cách gột bỏ xiềng xích tội lỗi và được làm tinh sạch? Hãy liên hệ chúng tôi để tìm được lối đi đúng đắn.
Liên hệ với chúng tôi
Liên hệ với chúng tôi qua Messenger

Nội dung liên quan

Cài đặt

  • Văn bản
  • Chủ đề

Màu Đồng nhất

Chủ đề

Phông

Kích cỡ Phông

Khoảng cách Dòng

Khoảng cách Dòng

Chiều rộng Trang

Mục lục

Tìm kiếm

  • Tìm kiếm văn bản này
  • Tìm kiếm cuốn sách này