Sau khi bị chẩn đoán bệnh ung thư

31/01/2022

Bởi Tần Lâm, Trung Quốc

Một ngày tháng 10 năm 2018, tôi đang lái xe đạp điện tới một buổi hội họp thì một chiếc xe hơi kéo theo một cái ống sắt bỗng lao lên từ phía sau, tông tôi và chiếc xe đạp ngã sóng soài trên đường. Tôi ngất xỉu ngay tại chỗ. Khi tỉnh lại, ngực trái của tôi đau nhói và tôi cảm thấy khó thở. Tài xế gây tai nạn đã đưa tôi tới bệnh viện để kiểm tra, và bác sĩ bảo rằng tôi bị rạn xương sườn số sáu bên trái, nhưng ông ấy cười rồi nói với tôi, “Tai nạn này có vẻ là chuyện xui xẻo, nhưng thực ra lại rất may mắn”. Ông nói tiếp, “Có một khối u trong phổi trái của chị. Sẽ không phát hiện ra nó nếu không có tai nạn này. Tôi đề nghị chị nên phẫu thuật ngay ở một bệnh viện lớn. Nếu còn chần chừ, ung thư sẽ di căn và như thế sẽ quá muộn”. Tôi bị sốc khi nghe nói vậy. Tôi bủn rủn trên ghế, không chút sức lực. Vị bác sĩ an ủi tôi, “Ổn mà. Có thể chỉ là u lành. Hiện nay chúng ta có loại thuốc tiên tiến để chữa trị loại bệnh này”. Tôi nghĩ, “Đúng rồi, sẽ không phải u ác tính đâu. Mình đã thực hiện bổn phận suốt những năm tin Đức Chúa Trời. Ngài sẽ bảo vệ mình”. Tôi cảm thấy bình tâm hơn một chút khi nghĩ như vậy. Chồng tôi cũng trấn an tôi, “Đừng lo lắng. Bệnh viện đó không có trang thiết bị tốt nhất, nên có thể chẩn đoán sai. Hãy tới bệnh viện lớn khám lại xem đã. Có thể không có gì đâu. Hơn nữa, không phải em tin Đức Chúa Trời sao? Đức Chúa Trời sẽ chăm sóc cho em nếu em có bị gì”. Lúc đó, tôi nghĩ có lẽ bác sĩ đã nhầm, Đức Chúa Trời sẽ không để tôi bị ung thư đâu.

Hai ngày sau, em trai và em gái tôi chở tôi tới bệnh viện lớn, nhưng tôi bị sốc khi biết rằng kết quả xét nghiệm xác nhận đó là khối u ác tính, và nó đang ở giai đoạn giữa. Bác sĩ đề nghị tôi nhập viện để phẫu thuật rồi hóa trị. Ông ấy nói rằng nếu tôi chần chừ để nó sang giai đoạn cuối, họ sẽ không thể làm gì được nữa. Lúc đó đơn giản là tôi không thể chấp nhận được sự thật đó. Tôi đã thực hiện bổn phận suốt bao nhiêu năm có đức tin, tôi chưa từng để chuyện gì làm chậm trễ bổn phận của mình, bất kể có phải chịu đau khổ nhường nào. Tôi luôn sẵn sàng giúp đỡ bất cứ khó khăn nào của các anh chị em. Tôi toàn tâm toàn ý hiến dâng mình cho Đức Chúa Trời, sao tôi có thể bị bệnh hiểm nghèo đến thế được? Tại sao Đức Chúa Trời không bảo vệ tôi? Càng nghĩ tới chuyện đó tôi càng cảm thấy đau khổ. Rồi tôi nghe được một bệnh nhân nói, “Tôi đã mổ hơn một năm trước, nhưng vết mổ vẫn còn đau lắm. Không những tốn tiền, mà còn khiến tôi khổ sở”. Ông ấy còn nói có một ông cụ nằm cùng khoa với ông ấy, khoảng ba ngày sau ca mổ, ra khỏi giường đi bộ bỗng dưng ngã quỵ và không thể cứu được. Nghe ông ấy nói vậy thực sự rất nản lòng và tôi cảm thấy như chút hi vọng cuối cùng đã tiêu tan. Nếu ca mổ của tôi không thành công, tôi chết đi, và tiền của chúng tôi đã cạn kiệt, thì gia đình tôi biết sống sao đây? Tôi cầu nguyện trước Đức Chúa Trời trong đau khổ, xin Ngài dẫn dắt tôi hiểu được ý muốn của Ngài. Rồi tôi nhớ tới một điều trong những lời Đức Chúa Trời: “Nếu con người nuôi những tư tưởng nhút nhát và sợ hãi, đó là vì Sa-tan đã lừa phỉnh họ, sợ chúng ta sẽ băng qua cây cầu đức tin để bước vào trong Đức Chúa Trời” (“Chương 6” của Những lời của Đấng Christ buổi ban đầu trong Lời xuất hiện trong xác thịt). Đúng thế. Chuyện sinh tử nằm trong tay Đức Chúa Trời, bất kể kết quả của ca mổ như thế nào, tôi phải có đức tin vào Đức Chúa Trời và đối mặt với nó bằng cách nương tựa nơi Ngài. Tôi đã nhập viện để phẫu thuật, và ca mổ kéo dài trong bốn tiếng đồng hồ. Khi tôi tỉnh lại, y tá vui mừng nói với tôi, “Ca mổ của chị rất thành công”. Tôi biết rõ chính là Đức Chúa Trời đã bảo vệ tôi, và tôi thầm tạ ơn Ngài. Hơn 20 ngày sau, tôi được xuất viện.

Sau khi về nhà tôi rất bất ngờ khi phát hiện ra rằng sau khi bỏ ống thở oxy ra thì tôi hít thở rất khó khăn. Tôi cảm thấy như mình chỉ có thể thở ra, chứ không hít vào được, và vết mổ bắt đầu rỉ nước vàng. Tôi rất đau đớn. Nếu tôi ho khi ăn hay uống, tôi phải nhờ người nhà giúp bịt vết mổ lại. Nếu nằm thẳng xuống ngủ tôi không thể thở được, nên tôi phải ngồi ngủ. Từng ngày trôi qua lê thê. Tôi tự hỏi những ngày đau khổ đó sẽ tiếp diễn bao lâu nữa, và tại sao Đức Chúa Trời không bảo vệ tôi, tại sao tôi lại phải chịu đau đớn quá nhiều. Và tôi nghĩ nếu phải dùng tới hóa trị, có lẽ sẽ càng tệ hơn nữa. Tôi yếu đuối đến nỗi đánh mất một chút đức tin vào Đức Chúa Trời. Khi đọc những lời của Ngài, tôi không thể tĩnh tâm trước Ngài, và tôi không có bất cứ điều gì để cầu nguyện với Ngài.

Một hôm, một lãnh đạo hội thánh đến thăm tôi và đọc một đoạn trong lời Đức Chúa Trời cho tôi nghe. Nó nằm ở đoạn cuối trong “Chỉ bằng cách trải qua sự tinh luyện con người mới có thể sở hữu tình yêu thật sự”, “Đối với tất cả mọi người, sự tinh luyện rất là đau đớn và rất khó chấp nhận – tuy nhiên, chính trong quá trình tinh luyện mà Đức Chúa Trời khiến con người hiểu rõ hơn về tâm tính công chính của Ngài, Ngài công khai các yêu cầu của Ngài đối với con người, ban cho nhiều sự khai sáng hơn cùng nhiều sự tỉa sửa và xử lý thực tế; qua việc so sánh giữa thực tế và lẽ thật, Ngài ban cho con người sự hiểu biết lớn lao hơn về chính bản thân và lẽ thật, và ban cho con người sự thông hiểu lớn lao hơn về ý muốn của Đức Chúa Trời, từ đó cho phép con người có một tình yêu thật hơn và thuần khiết hơn đối với Đức Chúa Trời. Đây là những mục đích của Đức Chúa Trời trong việc thực hiện sự tinh luyện. Tất cả những công tác Đức Chúa Trời làm trong con người đều có mục đích và ý nghĩa riêng; Đức Chúa Trời không làm công việc vô nghĩa, và Ngài cũng không làm công việc nào không mang lại lợi ích cho con người. Sự tinh luyện không có nghĩa là loại bỏ con người ra khuất mắt Ngài, và cũng không có nghĩa là hủy diệt họ nơi địa ngục. Thay vào đó, nó có nghĩa là làm thay đổi tâm tính của con người trong quá trình tinh luyện, thay đổi những ý định, quan điểm cũ của con người, thay đổi tình yêu con người dành cho Đức Chúa Trời và thay đổi toàn bộ cuộc đời con người. Tinh luyện là sự thử luyện thật sự của con người, là một hình thức rèn tập thực sự và chỉ trong quá trình tinh luyện thì tình yêu của con người mới có thể làm đúng chức năng vốn có của nó” (“Lời xuất hiện trong xác thịt”). Lãnh đạo đã chia sẻ thông công này: “Khi chúng ta mắc bệnh nặng, chính là vì Đức Chúa Trời cho phép. Ngài muốn làm tinh sạch và thay đổi tâm tính bại hoại, động cơ sai trái và sự uế tạp của chúng ta. Khi các tín hữu chúng ta cảm thấy khỏe mạnh, chúng ta nhiệt tình trong bổn phận của mình, nhưng khi chúng ta trở nên ốm yếu và đau khổ, chúng ta hiểu nhầm và oán trách Đức Chúa Trời. Đó chẳng phải là thái độ đổi chác với Đức Chúa Trời hay sao? Như thế sao gọi là tuân phục Ngài được?” Tôi cảm thấy rất xấu hổ khi nghe những lời Đức Chúa Trời và thông công của lãnh đạo. Không phải tôi mắc căn bệnh này vì Đức Chúa Trời muốn tôi phải chịu khổ, mà là để làm tinh sạch và biến đổi tôi. Tôi đã không học được bài học hay kiểm điểm bản thân, mà lại oán trách Đức Chúa Trời vì đã không bảo vệ tôi. Tôi thấy mình thật chẳng có lý trí gì.

Sau đó, tôi đã đọc được đoạn này trong lời Đức Chúa Trời: “Đức Chúa Trời xem con người như là những thành viên trong gia đình, còn con người đã đối xử với Đức Chúa Trời như một người xa lạ. Tuy nhiên, sau một giai đoạn công tác của Đức Chúa Trời, con người bắt đầu hiểu được điều Ngài đang cố gắng đạt được, và họ đã biết rằng Ngài là Đức Chúa Trời thật; họ cũng bắt đầu biết được những gì họ có thể có được từ Đức Chúa Trời. Vào thời điểm này con người đã nghĩ về Đức Chúa Trời như thế nào? Họ đã xem Ngài như phao cứu sinh, và hy vọng được Ngài ban cho ân điển, các phước lành và lời hứa. Vào thời điểm này, Đức Chúa Trời đã nghĩ về con người như thế nào? Ngài đã xem họ là những mục tiêu chinh phục của Ngài. Đức Chúa Trời muốn sử dụng lời để phán xét họ, để thử họ và để giúp họ vượt qua thử luyện. Tuy nhiên, đối với con người khi đó, Đức Chúa Trời chỉ là một đối tượng mà họ có thể sử dụng để đạt được những mục đích của bản thân mình. Con người thấy rằng lẽ thật Đức Chúa Trời đưa ra có thể chinh phục và cứu rỗi họ, rằng họ đã có một cơ hội để có được những gì họ muốn từ Ngài, cũng như để đạt được những đích đến mà họ muốn. Vì điều này, một chút ít chân thành đã hình thành trong lòng họ, và họ trở nên sẵn sàng đi theo vị Đức Chúa Trời này. … Đối với tình trạng hiện nay của con người, Đức Chúa Trời có thái độ nào đối với họ? Ngài chỉ mong ban những lẽ thật này cho họ và làm cho họ thấm nhuần đường lối của Ngài, sau đó sắp đặt những tình cảnh khác nhau để thử luyện họ bằng nhiều cách khác nhau. Mục tiêu của Ngài là dùng những lời này, những lẽ thật này và công tác của Ngài và mang lại một kết cục mà nhờ đó con người có khả năng kính sợ Ngài và lánh khỏi điều ác. Hầu hết những người mà Ta thấy chỉ đơn thuần lấy lời Đức Chúa Trời và xem chúng như là những giáo lý, chỉ là những câu chữ viết trên giấy, những quy định cần phải tuân thủ. Trong lời nói và hành động của họ, hoặc trong khi đối mặt với sự thử luyện, họ không xem đường lối của Đức Chúa Trời là một đường lối họ phải tuân theo. Điều này đặc biệt đúng khi con người đối mặt với những thử luyện lớn; Ta không thấy bất kỳ người nào thực hành theo hướng kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác. Do đó, thái độ của Đức Chúa Trời đối với con người đầy những sự ghê tởm và căm ghét cực độ!” (“Cách nhận biết tâm tính của Đức Chúa Trời và các kết quả mà công tác của Ngài sẽ đạt được” trong Lời xuất hiện trong xác thịt). Những lời của Đức Chúa Trời đã phơi bày chính xác tình trạng của tôi. Tôi không phải là một tín hữu mưu cầu lẽ thật hay đạt được sự kính sợ và vâng phục Đức Chúa Trời, mà là để đạt được ân điển và phước lành của Ngài bằng sự chịu khổ và chăm chỉ của tôi. Nghĩ lại, từ khi trở thành một tín hữu, tôi đã coi Đức Chúa Trời như một bùa phép, nghĩ rằng chỉ cần tôi hiến dâng bản thân mình cho Đức Chúa Trời, Ngài sẽ bảo vệ và ban phúc cho tôi. Khi tôi còn khỏe mạnh và gia đình vẫn ổn, tôi sẵn sàng tiếp nhận bất cứ bổn phận nào mà hội thánh sắp xếp cho tôi. Tôi có thể chịu đựng bất cứ chuyện gì và tôi tràn đầy đức tin. Nhưng khi phát hiện mình bị ung thư phổi, tôi đã rơi vào tiêu cực, trách móc và hiểu nhầm Đức Chúa Trời, nghĩ rằng Ngài nên bảo vệ tôi vì tôi đã làm việc chăm chỉ, rằng tôi không nên bị bệnh nặng. Tôi đã hiểu ra mình đã lợi dụng sự hi sinh để mặc cả với Đức Chúa Trời, để chống đối Ngài. Như thế sao gọi là tôn kính được? Đức Chúa Trời đã đưa tôi vào nhà Ngài, cho tôi làm đối tượng để Ngài cứu rỗi, nhưng tôi coi Ngài như cái bè cứu sinh, chỉ muốn hưởng lợi từ Ngài. Tôi là kiểu tín hữu gì chứ? Đó chính là đổi chác với Đức Chúa Trời, lợi dụng Ngài và lừa dối Ngài. Tôi đã quá ích kỉ và hèn hạ! Suốt bao năm có đức tin, tôi đã nhận rất nhiều bình an và phước lành từ Ngài, và tôi đã tận hưởng sự chăm tưới và nuôi dưỡng từ những lời Ngài. Ngài đã ban cho tôi rất nhiều. Tôi không những không đáp lại tình yêu của Ngài, mà lúc nào cũng đòi hỏi Ngài. Khi không có được thứ mình muốn, tôi hiểu nhầm Ngài và oán trách. Tôi thực sự không có lương tâm và lý trí. Rồi tôi nhận ra rằng tôi bị bệnh để Đức Chúa Trời có thể sửa đổi quan điểm sai lầm của tôi về việc tìm kiếm phước lành trong đức tin của mình và tôi sẽ có thể mưu cầu lẽ thật, và loại bỏ những sự bại hoại và ô uế này. Đây là tình yêu của Đức Chúa Trời! Tôi cảm thấy rất tội lỗi, và không muốn làm phụ lòng những nỗ lực khó nhọc của Đức Chúa Trời nữa. Tôi đã sẵn sàng để vâng phục sự sắp đặt và an bài của Đức Chúa Trời. Khi tôi đã hiểu toàn bộ chuyện này, tôi cảm thấy bình yên hơn nhiều và tôi có thể lắng lòng để đọc những lời Đức Chúa Trời. Dần dần, tôi không còn đau nhiều nữa.

Chẳng mấy chốc đã đến đợt hóa trị đầu tiên của tôi. Những bệnh nhân khác cùng khoa với tôi đều bị buồn nôn và nôn mửa, dù tôi cũng có chút buồn nôn, nhưng không khổ sở như họ. Họ đều ghen tị và nói tôi thật may mắn. Trong lòng tôi biết rằng đó chính là Đức Chúa Trời đã bảo vệ tôi. Nhưng sau ba đợt hóa trị, tôi ngày càng yếu hơn, thậm chí không thể đi thẳng được. Tôi ăn không ngon miệng, ăn vào làm tôi nôn mửa. Đợt thứ bốn, ngay sau khi bắt đầu truyền, tôi bắt đầu cảm thấy đau yếu cả người, bụng dạ quặn cả lên, và tôi không ngừng nôn ra mật. Mắt tôi mờ đi và tôi nhìn một hóa hai. Tôi cảm thấy thế giới như đang xoay tròn. Tôi không miêu tả nổi lúc đó mình khổ sở như thế nào nữa. Nằm không yên mà ngồi cũng không yên. Bị chóng mặt, chẳng hiểu sao tôi lại rút ống tiêm ra. Y tá trưởng đến và mắng chồng tôi, “Thuốc này không thể bị nhiễm khuẩn được. Nếu vậy, mọi thứ chúng ta đã làm sẽ trở nên vô nghĩa và còn có thể mất mạng đấy. Ai sẽ chịu trách nhiệm đây?” Nghe chị ấy nói rằng làm sai có thể phá hoại cả quá trình, tôi nghĩ, “Chúng tôi đã tiêu một đống tiền mà tôi vẫn chưa khỏi. Gia đình còn phải chăm sóc mỗi ngày – tôi đã trở thành gánh nặng cho họ, và tôi còn không biết điều trị thế này có hiệu quả không. Sống như thế này thật khổ sở”. Lúc đó tôi thực sự tuyệt vọng, thậm chí còn nghĩ tốt hơn là nên chết đi là xong chuyện. Tôi lén ra khỏi phòng khi chồng tôi không để ý và ngồi trên cửa sổ tầng 12, nghĩ, “Thà nhảy xuống và chấm dứt chuyện này thì còn tốt hơn là cứ khổ sở như thế này mãi”. Tôi òa khóc như mưa khi nghĩ vậy. Ngay lúc đó, chồng tôi bỗng xuất hiện, ôm lấy tôi, và kéo tôi xuống khỏi cửa sổ. Anh ấy nhẹ nhàng dỗ dành tôi, “Sao lại đi tin những gì người khác nói? Chẳng phải em nên tin tưởng Đức Chúa Trời mà em có đức tin hay sao?” Những lời của anh ấy khiến tôi xấu hổ. Đúng thế… là một tín hữu, sao tôi lại không biết nương tựa nơi Đức Chúa Trời chứ? Tôi nhớ tới đoạn này trong lời Đức Chúa Trời: “Quãng đời của mọi người đã được Đức Chúa Trời định trước. Nếu một căn bệnh có vẻ bên ngoài là vô phương cứu chữa, nhưng từ góc nhìn của Đức Chúa Trời, thời khắc của ngươi vẫn chưa đến và sứ mạng của ngươi vẫn chưa hoàn thành, thì Ngài sẽ không đưa ngươi đi. Nếu ngươi chưa phải chết, thì ngay cả khi ngươi không cầu nguyện hay chăm sóc bản thân, hay chú trọng tình trạng của ngươi, hoặc không coi đó là vấn đề đủ nghiêm trọng để tìm cách chữa trị, ngươi cũng không thể chết. Nếu Đức Chúa Trời đã giao phó cho ngươi một sự ủy nhiệm và sứ mạng của ngươi chưa hoàn thành, thì Ngài sẽ không để cho ngươi chết, mà sẽ giữ ngươi sống cho đến thời khắc cuối cùng” (“Chỉ bằng cách tìm kiếm lẽ thật thì con người mới có thể biết đến những việc làm của Đức Chúa Trời” trong Ghi chép về những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt). Những lời Đức Chúa Trời rất rõ ràng. Đức Chúa Trời đã tiền định tôi sẽ sống bao lâu và chết khi nào từ lâu lắm rồi. Dù bị ung thư, nếu sứ mạng Đức Chúa Trời giao cho tôi chưa được hoàn thành, Ngài sẽ không để tôi chết. Nếu tôi đã làm xong sứ mạng Ngài giao phó, thì dù không có bệnh, tôi cũng sẽ chết khi đến lúc phải chết. Đó là sự tiền định của Đức Chúa Trời. Nhưng tôi đã không hiểu sự tể trị và tiền định của Đức Chúa Trời, nên tôi đã không vâng phục khi mắc bệnh. Tôi còn sợ lãng phí tiền vào việc điều trị không hiệu quả, và muốn thoát khỏi tình cảnh này bằng cái chết. Tôi thật phản nghịch! Tôi cảm thấy đỡ hơn nhiều khi hiểu ra điều này và nghĩ: “Dù có ra sao, mình cũng sẵn sàng quy phục sự sắp đặt và an bài của Đức Chúa Trời”. Rồi sau một vài đợt hóa trị nữa, tôi đã bình phục rất nhiều, và khi tôi xuất viện, bác sĩ nói, “Ba tháng nữa đến khám nhé, nếu mọi thứ đều ổn, chị không cần phải xạ trị nữa”. Trở về nhà, tôi đã cảm thấy dần đỡ hơn và tiếp tục thực hiện bổn phận. Lần tái khám đầu tiên, bác sĩ bảo tôi đã hồi phục rất tốt và mọi thứ đều ổn. Tôi mừng đến phát khóc và cảm tạ Đức Chúa Trời trong lòng. Tôi biết mình phải thực hiện bổn phận thật tốt để đền đáp tình yêu của Đức Chúa Trời, và có thể Ngài sẽ xóa sạch căn bệnh ung thư của tôi và tôi sẽ thoát khỏi sự khổ sở đó. Sau đó tôi cảm thấy tràn đầy sinh lực khi thực hiện bổn phận và đức tin của tôi cũng lớn mạnh hơn.

Sau lần tái khám thứ hai, bác sĩ bảo tôi rằng có vẻ không ổn, ung thư đã di căn lên phía sau đầu tôi. Tôi không thể tin đây là sự thật. Tôi lập tức bủn rủn cả người và nước mắt giàn giụa. Sao ung thư lại di căn được chứ? Tôi đã nhận thức bản thân nhờ căn bệnh đó, tôi đã sửa đổi quan điểm mưu cầu của mình, và tôi đã dốc hết sức vào bổn phận của mình. Sao Đức Chúa Trời không chữa khỏi bệnh ung thư cho tôi? Tôi cảm thấy rất tội lỗi khi nảy ra những suy nghĩ đó. Đó chẳng phải lại là trách móc Đức Chúa Trời hay sao? Nên tôi đã tĩnh tâm và suy ngẫm về lý do mình không ngừng trách móc Đức Chúa Trời ngay khi bác sĩ nói bệnh ung thư của tôi đã tái phát. Căn nguyên của vấn đề là gì? Một hôm tôi được xem một đoạn phim đọc những lời Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời Toàn Năng phán: “Trước tiên, khi con người bắt đầu tin vào Đức Chúa Trời, ai trong số họ không có mục đích, động cơ, và tham vọng riêng? Mặc dù một phần trong họ tin vào sự hiện hữu của Đức Chúa Trời và đã nhìn thấy sự hiện hữu của Đức Chúa Trời, nhưng niềm tin của họ nơi Đức Chúa Trời vẫn chứa đựng những động cơ đó, và mục tiêu sau cùng của họ trong việc tin vào Đức Chúa Trời là nhận những phúc lành của Ngài và những điều họ muốn. … Mỗi người đều liên tục thực hiện những sự tính toán như thế trong lòng họ, và họ đưa ra những yêu cầu đối với Đức Chúa Trời, những yêu cầu mang động cơ, tham vọng, và tâm lý đổi chác của họ. Nói vậy nghĩa là, trong lòng mình, con người liên tục kiểm tra Đức Chúa Trời, liên tục đặt ra những kế hoạch về Đức Chúa Trời, liên tục tranh luận về trường hợp kết cuộc cá nhân của riêng mình với Đức Chúa Trời, và cố gắng moi ra một câu tuyên bố từ Đức Chúa Trời, xem liệu Đức Chúa Trời có thể ban cho họ điều họ muốn hay không. Cùng với việc theo đuổi Đức Chúa Trời, con người không đối đãi với Đức Chúa Trời như một Đức Chúa Trời. Con người luôn cố gắng thỏa thuận với Đức Chúa Trời, không ngừng đòi hỏi ở Ngài, và thậm chí thúc ép Ngài trong mọi bước, được đằng chân lân đằng đầu. Cùng với việc cố gắng thỏa thuận với Đức Chúa Trời, con người cũng tranh luận với Ngài, và thậm chí có những người mà khi những thử luyện xảy đến với họ hay họ thấy mình trong những tình huống nhất định, thường trở nên yếu đuối, thụ động, bê trễ trong công việc, và đầy than oán về Đức Chúa Trời. Từ khi con người mới bắt đầu tin Đức Chúa Trời, họ đã xem Đức Chúa Trời là một nguồn cung dồi dào, là một con dao gấp đa năng, và họ coi chính mình là chủ nợ lớn nhất của Đức Chúa Trời, như thể việc cố gắng lấy được những phúc lành và lời hứa từ Đức Chúa Trời là quyền và nghĩa vụ vốn có của họ, trong khi trách nhiệm của Đức Chúa Trời là bảo vệ, chăm sóc cho con người, và chu cấp cho họ. Đó là sự hiểu biết cơ bản về ‘niềm tin nơi Đức Chúa Trời’ của tất cả những ai tin Đức Chúa Trời, và đó là sự hiểu biết sâu sắc nhất của họ về khái niệm niềm tin nơi Đức Chúa Trời. Từ bản tính và thực chất của con người cho đến sự theo đuổi chủ quan của họ, không điều gì liên quan đến sự kính sợ Đức Chúa Trời. Mục tiêu của con người trong việc tin vào Đức Chúa Trời không thể liên quan gì đến sự thờ phượng Đức Chúa Trời. Nói vậy nghĩa là, con người chưa bao giờ xem xét hay hiểu rằng niềm tin nơi Đức Chúa Trời đòi hỏi kính sợ và thờ phượng Đức Chúa Trời. Với tình trạng như vậy, thực chất của con người thật rõ ràng. Đó là thực chất gì? Đó là lòng người hiểm độc, nuôi sự phản bội và lừa dối, không yêu sự công lý, công chính và những điều tích cực, nó đê tiện và tham lam. Lòng người không thể khép kín hơn với Đức Chúa Trời; họ chưa hề dâng nó cho Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời chưa bao giờ thấy tấm lòng thật của con người, Ngài cũng chưa bao giờ được con người thờ phượng” (“Công tác của Đức Chúa Trời, tâm tính của Đức Chúa Trời, và chính Đức Chúa Trời II” trong Lời xuất hiện trong xác thịt). Tôi chính là loại người mà Đức Chúa Trời mô tả, trong đức tin của mình luôn có động cơ có được phước lành, tính toán làm sao để được Đức Chúa Trời ban phước lành, bình an. Tôi chưa từng suy nghĩ về việc thực hành lẽ thật và vâng phục Đức Chúa Trời. Gia đình tôi được Đức Chúa Trời ban ân điển từ khi tôi trở thành một tín hữu, và tôi rất vui mừng khi tìm thấy được một chỗ dựa. Tôi hăng say thực hiện bổn phận, hi vọng được Đức Chúa Trời ban phước lành nhiều hơn. Nhưng tôi lại than trách sau khi bị ung thư, nghĩ rằng tôi đã cho đi rất nhiều trong bổn phận, nên Đức Chúa Trời phải ban cho tôi sức khỏe tốt. Khi bác sĩ nói bệnh ung thư của tôi đã di căn, tôi lại bắt đầu đưa ra những đòi hỏi vô lý với Đức Chúa Trời. Tôi cảm thấy vì tôi đã tiếp tục thực hiện bổn phận kể cả khi bị bệnh, Đức Chúa Trời phải loại bỏ bệnh tật cho tôi. Tôi đã nhận ra mình không đối xử đúng mực với Đức Chúa Trời, mà tôi cư xử như kiểu Ngài mắc nợ tôi. Tôi không ngừng đòi hỏi nơi Ngài. Tôi đã làm việc và hi sinh một chút, nhưng tôi không chân thành cố gắng làm Ngài hài lòng. Tôi chỉ dựng lên tấm bình phong giả dối để lừa dối Đức Chúa Trời, lấy lòng Ngài để Ngài làm những gì tôi muốn. Những chất độc của Sa-tan như “Người không vì mình trời tru đất diệt” và “Không có lợi, dậy sớm làm gì” là những châm ngôn cuộc sống của tôi. Tôi muốn phước lành to lớn cho một đóng góp nhỏ bé. Tôi tin vào Đức Chúa Trời nhưng không thực sự trao lòng mình cho Ngài. Tôi vốn dĩ rất ích kỉ và xảo quyệt. Tôi là một người trơ trẽn, tham lam và nhỏ mọn! Tôi nghĩ đến việc Đức Chúa Trời trở nên xác thịt để cứu rỗi chúng ta, chịu đựng sự truy lùng và bách hại của Đảng Cộng Sản, và những sự hiểu nhầm, oán trách, phản nghịch và chống đối của các tín hữu chúng ta. Ngài phải chịu sự nhục nhã vô cùng, trong khi vẫn âm thầm tiếp tục bày tỏ lẽ thật để làm tinh sạch và cứu rỗi chúng ta mà không đòi hỏi điều gì. Tình yêu của Đức Chúa Trời quá đỗi vị tha! Tôi biết rằng Đức Chúa Trời đã ở bên tôi suốt thời gian bị bệnh. Bất cứ khi nào tôi tuyệt vọng và đau đớn, Ngài dùng những lời của Ngài để dẫn dắt, chỉ dẫn tôi. Thực chất của Đức Chúa Trời thật tốt đẹp, và tình yêu của Ngài cho tôi thật phi thường. Rồi tôi cảm thấy như mình thực sự không có chút lương tâm nào, và mọi việc tôi làm quá gây tổn thương cho Đức Chúa Trời. Tôi còn nghĩ tới Phao-lô, việc ông chịu đau khổ và trả giá để truyền bá Phúc Âm, nhưng ông chỉ muốn được đội mũ miện, được ban thưởng. Ông còn nói phải dành riêng cho ông một mũ miện của sự công chính. Ý của ông là nếu ông không được ban phước lành, tức là Đức Chúa Trời không công chính. Phao-lô có đức tin, nhưng không biết mình, và tâm tính của ông không bao giờ thay đổi. Cuối cùng ông đã bị Đức Chúa Trời trừng phạt. Quan điểm của tôi về việc mưu cầu cũng y hệt như của Phao-lô. Tôi tưởng rằng tin vào Đức Chúa Trời vì phước lành là lẽ đương nhiên, và khi không có được thì tôi oán trách Đức Chúa Trời. Tôi đã đi trên con đường chống đối Đức Chúa Trời. Tôi biết rằng mình phải sửa đổi việc mưu cầu của mình nếu không tôi sẽ bị Đức Chúa Trời loại bỏ, giống như Phao-lô. Tôi liền quỳ trước Đức Chúa Trời và cầu nguyện, “Lạy Đức Chúa Trời, con đã sai. Con sẵn sàng từ bỏ quan điểm mưu cầu sai lầm của mình, và dù có chuyện gì xảy ra với bệnh ung thư, con cũng sẽ quy phục sự sắp đặt của Ngài”. Sau đó, tôi đọc những lời Đức Chúa Trời mỗi ngày và tĩnh tâm trước Ngài. Tình trạng của tôi cải thiện đều đặn.

Rồi một ngày tháng 12 năm 2019, bệnh viện báo rằng tôi nên đến để xạ trị. Những bệnh nhân khác nói rằng xạ trị còn tệ hơn, nó đốt cháy da thịt và tóc rụng sạch, cộng thêm nôn mửa, chóng mặt, và ăn không ngon miệng. Tôi rất sợ khi nghe vậy. Tôi không muốn lại trải qua toàn bộ những chuyện đó. Tôi nghĩ rằng nếu Đức Chúa Trời loại bỏ bệnh ung thư của tôi, tôi sẽ không phải dùng tới xạ trị. Rồi tôi nhận ra mình lại đang đòi hỏi Đức Chúa Trời, nên tôi cầu nguyện Đức Chúa Trời, từ bỏ ý định của mình. Rồi tôi đọc một đoạn trong lời Đức Chúa Trời, một đoạn trong “Công tác của Đức Chúa Trời, tâm tính của Đức Chúa Trời, và chính Đức Chúa Trời II”, “Gióp đã không nói chuyện đổi chác với Đức Chúa Trời, và đã không yêu cầu hay đòi hỏi gì ở Đức Chúa Trời. Sự ngợi khen danh Đức Chúa Trời của ông là vì quyền năng và thẩm quyền vĩ đại của Đức Chúa Trời trong việc cai trị muôn vật, và nó không lệ thuộc vào việc ông đạt được những phúc lành hay bị tai họa giáng xuống. Ông đã tin rằng bất kể Đức Chúa Trời ban phúc cho con người hay giáng thảm họa xuống họ, thì quyền năng và thẩm quyền của Đức Chúa Trời sẽ không thay đổi, và như thế, bất kể những hoàn cảnh của một người, thì danh Đức Chúa Trời nên được ngợi khen. Việc con người được Đức Chúa Trời ban phúc lành là bởi quyền tối thượng của Đức Chúa Trời, và khi tai họa xảy đến với con người, đó cũng là vì quyền tối thượng của Đức Chúa Trời. Quyền năng và thẩm quyền của Đức Chúa Trời thống trị và sắp đặt mọi thứ về con người; những sự thất thường trong vận may của con người là biểu hiện cho quyền năng và thẩm quyền của Đức Chúa Trời, và bất kể quan điểm của một người, danh Đức Chúa Trời phải được ngợi khen. Đây là điều Gióp đã trải nghiệm và bắt đầu biết đến trong những năm tháng của cuộc đời ông. Tất cả những ý nghĩ và hành động của Gióp đều đến tai Đức Chúa Trời và đến trước Đức Chúa Trời, cũng như được Đức Chúa Trời xem trọng. Đức Chúa Trời trân trọng kiến thức này của Gióp, và trân quý Gióp vì có tấm lòng như vậy. Tấm lòng này luôn chờ đợi lệnh truyền của Đức Chúa Trời, ở mọi nơi, và bất kể thời gian hay nơi chốn, nó cũng chào đón bất cứ điều gì xảy đến với ông. Gióp đã không yêu cầu gì ở Đức Chúa Trời. Điều ông yêu cầu chính mình là chờ đợi, chấp nhận, đối diện, và vâng phục tất cả những sự sắp đặt đến từ Đức Chúa Trời; Gióp tin đây là bổn phận của ông, và đó chính là điều Đức Chúa Trời muốn” (“Lời xuất hiện trong xác thịt”). Tôi rất xúc động khi suy ngẫm những lời Đức Chúa Trời. Gióp có sự tôn kính chân thật với Đức Chúa Trời. Dù ông nhận được phước lành hay tai họa từ Đức Chúa Trời, ông cũng vâng phục sự tể trị và an bài của Ngài mà không đòi hỏi hay yêu cầu gì. Ông trải qua sự thử luyện – cả người ông nổi đầy lở loét, ông đau đớn tột cùng, nhưng ông nguyền rủa ngày mình được sinh ra thay vì trách móc Đức Chúa Trời, đứng ra làm chứng cho Đức Chúa Trời và hạ nhục Sa-tan. Tôi muốn noi theo gương của Gióp và làm chứng để làm Đức Chúa Trời hài lòng. Bất kể tôi có chịu đau đớn thế nào khi xạ trị, dù tôi đỡ hơn hay bệnh nặng hơn, tôi sẵn sàng quy phục những gì Đức Chúa Trời sắp đặt, và tôi sẽ không oán trách cho dù có phải chết.

Sau đợt điều trị đầu tiên, tôi cảm thấy hơi buồn nôn, nhưng tôi vẫn có thể tiếp tục cuộc sống bình thường, ăn uống và đi lại. Những bệnh nhân khác rất bất ngờ, một người nói, “Thật phi thường. Chúng ta đều điều trị giống nhau, vậy sao chị lại có vẻ không bị ảnh hưởng gì cả?” Tôi thầm tạ ơn Đức Chúa Trời khi nghe vậy. Sau 45 ngày xạ trị, bác sĩ nhìn kết quả xét nghiệm của tôi và nói một cách đầy bất ngờ, “Có vẻ như bệnh ung thư của chị đã biến mất hoàn toàn. Tôi có nhìn nhầm không chứ?” Ông ấy gọi trưởng khoa tới xem. Một số bác sĩ khác cũng xem, và họ đều rất kinh ngạc. Không còn chút dấu vết nào của bệnh ung thư hay thậm chí khối u nào. Hôm sau họ bảo tôi có thể xuất viện để hồi phục tại nhà. Tôi rất xúc động, nước mắt giàn giụa đến nỗi không nhìn thấy gì. Đây rõ ràng là phép màu từ Đức Chúa Trời. Tôi cũng thấy việc sinh tử của tôi thực sự nằm trong tay Đức Chúa Trời.

Tôi đã trải qua sự tinh luyện của bệnh tật, chịu đau khổ rất nhiều, và khóc cạn nước mắt và tôi đã có những hiểu nhầm và than trách Đức Chúa Trời. Nhưng nhờ căn bệnh này mà tôi đã hiểu sự tìm kiếm phước lành của mình đã làm ô uế đức tin như thế nào và tôi đã có một chút vâng phục đối với Đức Chúa Trời. Tôi cũng thấy được những việc làm kì diệu của Đức Chúa Trời và sự cứu rỗi của Ngài dành cho tôi, nhờ căn bệnh của mình mà tôi đã cảm nghiệm được tình yêu và phước lành của Đức Chúa Trời. Tôi rất biết ơn Đức Chúa Trời! Dù phía trước có là phước lành hay tai họa, tôi sẵn sàng giao bản thân mình vào tay Đức Chúa Trời và tuân theo mọi sự sắp đặt của Ngài, để thực hiện bổn phận của một loài thọ tạo, để đền đáp tình yêu của Đức Chúa Trời.

Hồi chuông thời sau hết báo động đã vang lên, đại thảm họa đã ập xuống, bạn có muốn cùng gia đình nghênh đón được Thiên Chúa, và có cơ hội nhận được sự che chở của Thiên Chúa không?

Nội dung liên quan

Biết mình nhờ sự phán xét

Bởi Tống Vũ, Hà Lan “Trong đời mình, nếu con người muốn được làm cho thanh sạch và có được những đổi thay trong tâm tính của mình, nếu họ...

Liên hệ với chúng tôi qua Messenger