Sự Khác Nhau Cơ Bản Giữa Đức Chúa Trời Nhập Thể Và Người Được Đức Chúa Trời Sử Dụng

Trong rất nhiều năm, Thần của Đức Chúa Trời đã không ngừng tìm kiếm trong khi Ngài thực hiện công việc trên trần thế. Xuyên suốt các thời đại, Đức Chúa Trời đã sử dụng rất nhiều người để thực hiện công việc của Ngài. Vậy mà Thần của Đức Chúa Trời vẫn chưa có một nơi xứng đáng để dừng lại. Vì vậy Đức Chúa Trời thực hiện công việc của Ngài, di chuyển không ngừng trong những người khác nhau, và tựu chung lại Ngài sử dụng con người nhằm thực hiện việc này. Nghĩa là, trong suốt những năm tháng qua, công việc của Đức Chúa Trời chưa bao giờ ngừng lại, mà luôn được xúc tiến trong con người, từ xưa tới nay. Mặc dù Đức Chúa Trời đã phán dạy quá nhiều lời và làm quá nhiều việc, con người vẫn chưa biết đến Đức Chúa Trời, tất cả là vì Đức Chúa Trời chưa bao giờ hiện ra trướccon người và cũng vì Ngài không có một thể hữu hình. Và bởi như thế Đức Chúa Trời buộc phải hoàn tất việc này - việc khiến cho hết thảy con người đều biết tới tầm quan trọng thực sự của Đức Chúa Trời thiết thực. Để đạt được kết quả này, Đức Chúa Trời buộc phải bộc lộ Thần của Ngài một cách hữu hình trước con người và thực hiện công việc của Ngài ở giữa họ. Có nghĩa là chỉ khi Thần của Đức Chúa Trời mang hình dạng thuộc thể, mặc lấy xác thịt và bước đi một cách hiển nhiên ở giữa loài người, đồng hành cùng họ trong cuộc sống của họ, đôi khi lộ diện và đôi khi ẩn giấu bản thân Ngài, chỉ lúc đó con người mới có thể đạt được sự hiểu biết sâu sắc hơn về Ngài. Nếu Đức Chúa Trời chỉ tồn tại trong xác thịt, Ngài sẽ không thể nào hoàn tất trọn vẹn công trình của Ngài. Sau khi hoạt động trong xác thịt một thời gian, làm tròn tác vụ cần phải hoàn tất trong xác thịt, Đức Chúa Trời sẽ rời khỏi xác thịt và làm việc trong vương quốc thuộc linh trong ảnh tượng của xác thịt, cũng như điều Jêsus đã làm sau khi Ngài làm việc một thời gian trong con người bình thường và hoàn tất mọi công việc mà Ngài cần phải hoàn tất. Các ngươi có lẽ vẫn nhớ đoạn này trong “Con Đường … (5)”: “Ta nhớ Cha của Ta nói với Ta rằng: ‘Trên đất, chỉ mưu cầu làm theo ý nguyện của Cha Ngươi và hoàn tất sứ mệnh của Ngài. Không gì khác làm vướng bận Ngươi’”. Ngươi có thể nhìn thấy gì qua đoạn trên? Khi Đức Chúa Trời đến trần thế, Ngài chỉ làm công việc của Ngài trong thần tánh. Đây là điều mà Thần Linh thiên thượng đã phó thác cho Đức Chúa Trời nhập thể. Khi Ngài đến, Ngài đi khắp nơi chỉ để phán dạy, để bày tỏ lời Ngài qua những cách thức khác nhau và từ những góc độ khác nhau. Ngài chủ yếu lấy việc chu cấp và dạy bảo con người làm các mục tiêu và nguyên tắc làm việc của Ngài, và không bận lòng về những thứ như các mối quan hệ nhân sinh hay những vụn vặt trong đời sống của con người. Tác vụ chính của Ngài là phán thay cho Thần Linh. Khi Thần của Đức Chúa Trời hiện ra cách hữu hình trong xác thịt, Ngài chỉ chu cấp cho cuộc sống của con người và ban ra lẽ thật. Ngài không can dự vào công việc của con người, tức là Ngài không tham gia vào công việc của loài người. Con người không thể làm công việc của thánh thần, và Đức Chúa Trời không can dự vào công việc của con người. Trong suốt những năm tháng kể từ khi Đức Chúa Trời đến với thế gian này để làm công việc của Ngài, Ngài đã luôn thực hiện nó thông qua con người. Nhưng những con người này không thể được xem là Đức Chúa Trời nhập thể, mà chỉ là những người được Đức Chúa Trời sử dụng. Nhưng Đức Chúa Trời của hôm nay có thể phán dạy trực tiếp từ góc độ của thần tánh, phán ra lời của Thần Linh và làm công việc nhân danh Thần Linh. Tất cả những người từng được Đức Chúa Trời sử dụng qua nhiều thời đại là những ví dụ tương tự cho việc Thần của Đức Chúa Trời làm việc trong thân thể xác thịt, vậy thì tại sao họ không được gọi là Đức Chúa Trời? Nhưng Đức Chúa Trời của ngày nay cũng là Thần của Đức Chúa Trời đang làm việc trực tiếp trong xác thịt, và Chúa Jêsus cũng là Thần của Đức Chúa Trời làm việc trong xác thịt; cả hai đều được gọi là Đức Chúa Trời. Vậy điều khác nhau là gì? Qua nhiều thời đại, những người được Đức Chúa Trời sử dụng đều có khả năng tư duy và suy luận bình thường. Hết thảy họ đều biết đến những nguyên tắc ứng xử của con người. Họ mang những ý tưởng bình thường của con người, và họ được trang bị với tất cả những điều mà một con người bình thường nên có. Hầu hết họ có tài năng đặc biệt và trí thông minh bẩm sinh. Khi làm việc trên những người này, Thần của Đức Chúa Trời khai thác những tài năng của họ, chính là những món quà mà Đức Chúa Trời đã ban cho họ. Thần của Đức Chúa Trời khiến tài năng của họ được trọng dụng,sử dụng những điểm mạnh của họ vào việc phụng sự Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, bản thể của Đức Chúa Trời thì không có ý định và tư tưởng gì, không lẫn với những ý định của con người, và càng không có những gì mà con người bình thường được trang bị. Tức là, Ngài thậm chí không thông thạo những nguyên tắc ứng xử của con người. Đây chính là trạng thái khi Đức Chúa Trời của ngày nay đến với trần thế. Công việc của Ngài và lời Ngài đều không lẫn gì với những ý định hay tư tưởng của con người, mà là sự bày tỏ trực tiếp cho những ý định của Thánh Linh, và Ngài làm việc trực tiếp thay mặt Đức Chúa Trời. Điều này có nghĩa là Thánh Linh trực tiếp phán dạy, tức là thần tánh trực tiếp thực hiện công việc, mà không lẫn một chút gì với những ý định của con người. Nói cách khác, Đức Chúa Trời nhập thể là hiện thân trực tiếp của thần tánh, không mang những tư tưởng hay ý định của con người, và không hiểu gì về những nguyên tắc ứng xử của con người. Nếu chỉ có thần tánh làm việc (tức là nếu chỉ có bản thân Đức Chúa Trời làm việc), thì sẽ chẳng có cách nào để công việc của Đức Chúa Trời được triển trai trên đất. Bởi vậy khi Đức Chúa Trời đến với trần thế, Ngài phải có một số ít người Ngài sử dụng để thực hiện công việc giữa loài người, kết hợp với công việc Đức Chúa Trời làm trong thần tánh. Nói cách khác, Ngài dùng công việc của con người để hỗ trợ cho công việc thần thánh của Ngài. Nếu không, sẽ chẳng có cách nào để con người tiếp xúc trực tiếp được với công việc thánh thần. Điều này cũng tương tự như Jêsus với các môn đồ của Ngài. Trong thời gian của Ngài ở trần thế, Jêsus đã bài bỏ các luật lệ cũ và đưa ra những nhiều răn mới. Ngài cũng phán dạy nhiều lời. Tất cả những việc này đều được làm trong thần tánh. Những người khác như là Phi-e-rơ, Phao-lô, và Giăng, tất cả đều đặt những công việc sau đó của họ trên nền tảng những lời của Jêsus. Tức là Đức Chúa Trời đã triển khai công việc của thời đại đó, mở màn Thời đại Ân điển; tức là Ngài đã mở ra một kỷ nguyên mới, bãi bỏ cái cũ, và cũng làm ứng nghiệm những lời “Đức Chúa Trời là sự Khởi đầu và sự Kết thúc”. Nói cách khác, con người phải thực hiện công việc của loài người trên nền tảng công việc của thần thánh. Sau khi Jêsus đã nói hết những gì cần nói và hoàn tất công việc của Ngài trên đất, Ngài rời khỏi con người. Sau đó, mọi người khi triển khai công việc, đã làm theo những nguyên tắc được bày tỏ trong lời Ngài, và thực hành theo những lẽ thật Ngài đã phán dạy. Đây là tất cả những người làm việc cho Jêsus. Nếu Jêsus đã đơn lẻ làm mọi công việc, thì cho dù Ngài có phán dạy bao nhiêu lời đi nữa, con người vẫn sẽ không thể tiếp xúc được với lời Ngài, bởi Ngài đã làm việc trong thần tánh và chỉ có thể nói những lời của thần tánh, và Ngài đã không thể giải thích mọi thứ đến mức độ mà những con người bình thường có thể hiểu được lời Ngài. Và như thế Ngài phải có những sứ đồ và những tiên tri đến sau Ngài để hỗ trợ công việc của Ngài. Đây là nguyên tắc mà Đức Chúa Trời nhập thể thực hiện công việc của Ngài - sử dụng xác thịt nhập thể để phán dạy và làm việc để có thể hoàn tất công việc của thần tánh, và sau đó sử dụng một vài người hoặc có thể nhiều hơn, những người hợp lòng Đức Chúa Trời, để bổ trợ công việc của Ngài. Có nghĩa là, Đức Chúa Trời sử dụng những người hợp lòng Ngài để thực hiện việc chăn dẫn và chăm tưới trong loài người để tất cả mọi người đều có thể đạt được lẽ thật.

Nếu khi nhập thể vào xác thịt, Đức Chúa Trời chỉ làm công việc của thần tánh mà không có thêm một vài người hợp lòng Đức Chúa Trời làm việc cùng Ngài, thì sẽ không có cách nào con người có thể hiểu được ý nguyện của Đức Chúa Trời hay tiếp xúc được với Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời phải sử dụng những con người bình thường hợp lòng Ngài để hoàn tất công việc này, để coi sóc và chăn dẫn các hội thánh, để đạt đến mức độ mà quá trình nhận thức của con người, trí não của họ, có đủ khả năng để hình dung ra. Nói cách khác, Đức Chúa Trời sử dụng một số ít người hợp lòng Ngài để “diễn dịch” công việc mà Ngài làm trong thần tánh của Ngài, để nó có thể được mở ra, nghĩa là được chuyển thể từ ngôn ngữ thánh thần sang ngôn ngữ của con người, khiến hết thảy con người có thể lĩnh hội được nó, am hiểu được nó. Nếu Đức Chúa Trời đã không làm vậy, sẽ chẳng ai có thể hiểu được ngôn ngữ thánh thần của Đức Chúa Trời, bởi những người hợp lòng Đức Chúa Trời, xét cho cùng, chỉ là thiểu số, và khả năng của con người để thấu hiểu được nó là rất kém. Đó là lý do tại sao Đức Chúa Trời chọn phương pháp này chỉ khi làm việc trong xác thịt nhập thể. Nếu chỉ có công việc thánh thần, sẽ chẳng có cách nào con người biết đến hay tiếp xúc được với Đức Chúa Trời, bởi con người không hiểu được ngôn ngữ của Đức Chúa Trời. Con người chỉ có thể hiểu được ngôn ngữ này thông qua trung gian là những người hợp lòng Đức Chúa Trời, những người diễn giải lời Ngài. Tuy nhiên, nếu chỉ có những người này làm việc giữa loài người, thì việc này chỉ có thể duy trì cuộc sống bình thường của con người, chứ không thể chuyển hóa tâm tính của con người. Công việc của Đức Chúa Trời như thế sẽ không thể có một khởi điểm mới nào; sẽ chỉ có những bài ca cũ, những lời vô vị cũ. Chỉ bằng cách thông qua trung gian của Đức Chúa Trời nhập thể, Đấng phán bảo những gì cần bảo và làm những gì cần làm suốt trong thời gian nhập thể của Ngài, mà sau đó con người làm việc và cảm nghiệm theo lời Ngài, chỉ bằng cách ấy thì khuynh hướng cuộc sống của họ mới có thể thay đổi và họ mới có thể đi cùng thời đại. Đấng làm việc trong thần tánh thì đại diện cho Đức Chúa Trời, trong khi những ai làm việc giữa con người thì là những người được sử dụng bởi Đức Chúa Trời. Có nghĩa là, Đức Chúa Trời nhập thể khác một cách cơ bản với những người được Đức Chúa Trời sử dụng. Đức Chúa Trời nhập thể có khả năng làm các công việc của thần tánh, trong khi những người được Đức Chúa Trời sử dụng thì không thể. Mở đầu mỗi thời đại, Thần của Đức Chúa Trời đích thân phán dạy để khởi động kỷ nguyên mới và đưa con người vào một sự khởi đầu mới. Khi Ngài đã phán dạy xong, cũng là lúc đánh dấu công việc của Đức Chúa Trời trong thần tánh của Ngài được hoàn tất. Sau đó, tất cả mọi người đều theo sự dẫn dắt của những người được Đức Chúa Trời sử dụng đặng bước vào cảm nghiệm cuộc sống. Cũng vì lẽ ấy, đây cũng là giai đoạn mà Đức Chúa Trời đưa con người vào thời đại mới và ban cho mọi người một khởi điểm mới. Với việc này, công việc trong xác thịt của Đức Chúa Trời kết thúc.

Đức Chúa Trời đến trần thế không phải để hoàn thiện con người bình thường của Ngài. Ngài đến không phải để làm công việc của con người bình thường, mà chỉ để làm công việc của thần tánh trong con người bình thường. Những gì Đức Chúa Trời phán về con người bình thường thì không như những gì con người tưởng tượng về nó. Con người định nghĩa “con người bình thường” như là có vợ có chồng, có con trai con gái. Những điều này là chứng cớ cho thấy một con người là người bình thường. Nhưng Đức Chúa Trời không nhìn nhận nó cách này. Ngài nhìn nhận con người bình thường là có suy nghĩ bình thường của con người, có đời sống bình thường của con người, và được sinh ra bởi những con người bình thường. Nhưng sự bình thường của Ngài không bao gồm việc có vợ hay chồng và con cái, theo cách mà con người hiểu về sự bình thường. Có nghĩa là, đối với con người, con người bình thường mà Đức Chúa Trời nhắc đến là bản thể mà con người có thể xem như không có nhân tính, hầu như không có cảm xúc và dường như thiếu vắng những nhu cầu trần tục, cũng như Jêsus, Đấng chỉ có vẻ ngoài của một người bình thường và chỉ mượn ngoại diện của một người bình thường, nhưng trong bản chất thì không hoàn toàn sở hữu mọi thứ mà một con người bình thường vốn có. Điều này cho thấy rằng bản thể của Đức Chúa Trời nhập thể không chứa đựng hết tổng thể một con người bình thường, mà chỉ một phần những gì con người được trang bị, nhằm hỗ trợ những hoạt động sống hằng ngàyvà duy trì năng lực lý trí của con người bình thường. Nhưng những điều này không liên quan gì đến những thứ mà con người xem như người bình thường. Đây là những thứ mà Đức Chúa Trời nhập thể cần có. Tuy nhiên, vẫn có những người cứ khăng khăng rằng Đức Chúa Trời nhập thể được cho là sở hữu nhân tính bình thường chỉ khi Ngài có vợ, có con trai con gái, có một gia đình. Họ cho rằng không có những thứ này thì Ngài không phải mà một con người bình thường. Vậy thì ta hỏi ngươi: “Đức Chúa Trời có vợ không? Có thể nào Đức Chúa Trời có chồng không? Đức Chúa Trời có thể có con cái không?”. Những điều này chẳng phải ngụy biện sao? Tuy nhiên, Đức Chúa Trời chẳng thể được sinh ra từ vách đá hay rơi xuống từ trên trời. Ngài chỉ có thể được sinh ra trong một gia đình bình thường. Đó là vì sao Ngài có bố mẹ và anh chị em. Đây là những thứ mà con người bình thường của Đức Chúa Trời nhập thể phải có. Cũng như trường hợp của Jêsus vậy. Jêsus có bố, mẹ và anh chị em. Tất cả những điều này đều bình thường. Nhưng nếu Ngài có vợ và con trai con gái, thì nhân tính Ngài đã không thể là nhân tính bình thường mà Đức Chúa Trời dự định cho Đức Chúa Trời nhập thể phải có. Nếu xảy ra như vậy, thì Ngài đã không thể nào làm việc nhân danh thần tánh. Chính xác là bởi vì Ngài không có vợ con, mà lại được sinh ra bởi người bình thường trong một gia đình bình thường, cho nên Ngài mới có thể thực hiện các công việc của thần tánh. Để làm rõ hơn điểm này, những gì Đức Chúa Trời xem là một con người bình thường chính là một con người được sinh ra trong một gia đình bình thường. Chỉ có một con người như vậy mới có đủ khả năng làm công việc thánh thần. Mặt khác, nếu một người có vợ con, hoặc có chồng, thì người đó không thể nào làm được công việc thánh thần bởi vì họ chỉ mang nhân tính bình thường mà con người đòi hỏi, chứ không phải nhân tính bình thường mà Đức Chúa Trời đòi hỏi. Những gì Đức Chúa Trời nhìn nhận và những gì con người hiểu được thường khác nhau một trời một vực. Trong giai đoạn công việc này của Đức Chúa Trời, có nhiều điều đi ngược lại và quá khác biệt với những quan niệm của con người. Có thể nói rằng giai đoạn công việc này của Đức Chúa Trời chỉ bao gồm thần tánh làm việc thực tế, cùng với con người đóng vai trò hỗ trợ. Bởi vì Đức Chúa Trời đến trần thế để tự Ngài thực hiện công việc của mình hơn là để con người can dự vào, đó là lý do tại sao Ngài nhập thể chính bản thân Ngài vào xác thịt (vào một con người bình thường, không hoàn hảo) để thực hiện công việc của Ngài. Ngài tận dụng việc nhập thể này để giới thiệu đến nhân loại một thời đại mới, để nói với nhân loại về bước tiếp theo trong công việc của Ngài, và yêu cầu họ thực hành theo con đường đã được miêu tả trong lời Ngài. Với việc này, Đức Chúa Trời kết thúc công việc của Ngài trong xác thịt, và Ngài sắp sửa rời khỏi nhân loại, không còn ở trong xác thịt của con người bình thường mà rời xa con người để tiến triển phần việc khác trong công trình Ngài. Sau đó, bằng cách sử dụng những người hợp lòng Ngài, Ngài tiếp tục công việc của Ngài trên đất giữa nhóm người này, nhưng trong nhân tính của họ.

Đức Chúa Trời nhập thể không thể ở cùng con người mãi mãi bởi vì Đức Chúa Trời có nhiều việc khác để làm. Ngài không thể bị trói buộc trong xác thịt; Ngài phải thoát xác thịt để làm những công việc Ngài cần phải làm, mặc dù Ngài làm việc đó trong ảnh tượng của xác thịt. Khi Đức Chúa Trời đến với trần thế, Ngài không đợi cho đến khi Ngài đạt tới hình thái mà một con người bình thường cần phải đạt được trước khi chết và rời khỏi nhân loại. Bất kể xác thịt của Ngài bao nhiêu tuổi, khi công việc của ngài hoàn tất, Ngài đi và rời khỏi con người. Không có gì gọi là tuổi tác đối với Ngài, Ngài không đong đếm ngày tháng của Ngài theo quãng đời của con người; thay vào đó, Ngài kết thúc cuộc sống của Ngài trong xác thịt theo các bước trong công việc của Ngài. Có lẽ có nhiều người cảm nhận rằng Đức Chúa Trời khi đến trong xác thịt phải phát triển đến một giai đoạn nhất định, trở thành người lớn, rồi già đi, và chỉ rời đi khi thể xác không còn. Đây chỉ là tưởng tượng của con người; Đức Chúa Trời không hoạt động theo như vậy. Ngài đến trong xác thịt chỉ để thực hiện công việc Ngài dự định làm, chứ không phải để sống một cuộc đời của con người bình thường như là được bố mẹ sinh ra, lớn lên, lập gia đình và bắt đầu sự nghiệp, có con cái, hoặc trải qua những thăng trầm trong cuộc sống - tất cả những hoạt động của một con người bình thường. Khi Đức Chúa Trời đến với trần thế, đấy là Thần của Đức Chúa Trời đặt vào trong xác thịt, nhập thể vào xác thịt, nhưng Đức Chúa Trời không sống cuộc sống của một con người bình thường. Ngài chỉ đến để hoàn tất một phần trong kế hoạch quản lý của Ngài. Sau đó Ngài sẽ rời khỏi nhân loại. Khi Ngài nhập thể xác thịt, Thần của Đức Chúa Trời không hoàn thiện nhân tính bình thường của xác thịt. Thay vào đó, vào một thời điểm mà Đức Chúa Trời đã định trước, thần tánh sẽ làm việc trực tiếp. Rồi thì, sau khi làm tất cả mọi việc Ngài cần phải làm và hoàn tất mọi tác vụ của Ngài, công việc của Thần của Đức Chúa Trời ở giai đoạn này được hoàn tất, cũng là thời điểm mà cuộc sống của Đức Chúa Trời nhập thể kết thúc, bất kể là thân xác trần tục của Ngài đã sống hết tuổi thọ của mình hay chưa. Điều đó có nghĩa là, cho dù thân xác trần tục đang ở giai đoạn nào của sự sống, nó đã sống bao lâu trên đất, mọi thứ đều được quyết định bởi công việc của Thần Linh. Chẳng có gì can hệ tới việc con người nhìn nhận gì về nhân tính bình thường. Hãy lấy Jêsus làm ví dụ. Ngài đã sống trong xác thịt trong 33 năm rưỡi. Nếu xét về quãng đời của thân xác con người, Ngài đáng lẽ đã không chết ở tuổi đó, Ngài đáng lẽ đã không rời đi. Nhưng điều này chẳng nằm trong sự quan tâm của Thần của Đức Chúa Trời. Công việc của Ngài được hoàn tất, tại thời điểm đó thân xác đã được mang đi, tan biến cùng Thần Linh. Đây là nguyên tắc mà Đức Chúa Trời làm việc trong xác thịt. Và như vậy, nói một cách chính xác, Đức Chúa Trời nhập thể không có nhân tính bình thường. Nhắc lại, Ngài đến với trần thế không phải để sống cuộc sống của một con người bình thường. Ngài không phải xây dựng một cuộc sống con người bình thường trước rồi mới bắt đầu làm việc. Thay vào đó, miễn là Ngài được sinh ra trong một gia đình con người bình thường, thì Ngài có thể thực hiện công việc thánh thần, công việc không chút tì vết nào bởi những ý định của con người, không thuộc về xác thịt, chắc chắn không theo những cách thức của xã hội hay liên quan đến những suy nghĩ hoặc quan niệm của con người, và hơn nữa, không liên hệ gì với những triết lý sống của con người. Đây là công việc mà Đức Chúa Trời nhập thể dự định làm, và đó cũng là ý nghĩa thực tế của việc nhập thể của Ngài. Đức Chúa Trời đến trong xác thịt chủ yếu là để thực hiện một giai đoạn công việc cần phải làm trong xác thịt, không phải trải qua những qui trình vặt vãnh khác, còn về những trải nghiệm của một con người bình thường thì Ngài không có. Công việc Đức Chúa Trời nhập thể cần phải làm không bao gồm những trải nghiệm của con người bình thường. Vì vậy, Đức Chúa Trời đến trong xác thịt chỉ để hoàn tất công việc Ngài cần phải hoàn tất trong xác thịt. Những thứ còn lại chẳng liên quan gì đến Ngài. Ngài không trải qua những qui trình vặt vãnh. Một khi công việc của Ngài được hoàn tất, thì ý nghĩa việc nhập thể của Ngài cũng kết thúc. Hoàn tất giai đoạn này tức là công việc Ngài cần thực hiện trong xác thịt đã khép lại, và tác vụ của xác thịt Ngài cũng hoàn thành. Nhưng Ngài không thể cứ làm việc mãi trong xác thịt cách vô hạn. Ngài phải tiếp tục đến một nơi khác để làm việc, một nơi ngoài xác thịt. Chỉ có cách này công việc của Ngài mới có thể được toàn vẹn hơn, mở rộng hơn. Đức Chúa Trời làm việc theo kế hoạch ban đầu của Ngài. Những việc gì Ngài cần làm và những gì Ngài đã hoàn tất, Ngài nắm rõ như lòng bàn tay. Đức Chúa Trời dẫn dắt mọi cá nhân bước theo con đường mà Ngài đã định trước. Không ai có thể tránh khỏi điều này. Chỉ những ai theo sự chỉ dạy của Thần của Đức Chúa Trời mới có thể đến được chốn nghỉ ngơi. Cũng có thể rằng, giai đoạn công việc sau này sẽ không phải là Đức Chúa Trời phán bảo trong xác thịt để dẫn dắt con người, mà một Thánh Linh có thể hữu hình sẽ hướng dẫn cuộc sống của con người. Chỉ đến lúc ấy con người mới có thể thực sự chạm đến Đức Chúa Trời, dõi theo Đức Chúa Trời, và bước trọn vẹn hơn vào thực tại mà Đức Chúa Trời đòi hỏi, để có thể trở nên toàn vẹn bởi Đức Chúa Trời thiết thực. Đây là công việc mà Đức Chúa Trời dự định hoàn tất, điều mà Ngài đã lên kế hoạch từ rất lâu. Từ việc này, hết thảy các ngươi đều phải nhìn thấy con đường mà các ngươi nên đi theo!

Trước: Bảy Tiếng Sấm Rền - Tiên Đoán Rằng Phúc Âm Của Vương Quốc Sẽ Truyền Bá Khắp Vũ Trụ

Tiếp theo: Trong đức tin, người ta phải tập trung vào thực tại - việc tham gia vào nghi thức tôn giáo không phải là đức tin

Bạn có muốn biết cách gột bỏ xiềng xích tội lỗi và được làm tinh sạch? Hãy liên hệ chúng tôi để tìm được lối đi đúng đắn.
Liên hệ với chúng tôi
Liên hệ với chúng tôi qua Messenger

Nội dung liên quan

Ba điều răn

Là một người tin vào Đức Chúa Trời, ngươi nên trung thành với không ai khác ngoài Ngài trong mọi việc, và có thể tuân theo ý Ngài trong mọi...

Cài đặt

  • Văn bản
  • Chủ đề

Màu Đồng nhất

Chủ đề

Phông

Kích cỡ Phông

Khoảng cách Dòng

Khoảng cách Dòng

Chiều rộng Trang

Mục lục

Tìm kiếm

  • Tìm kiếm văn bản này
  • Tìm kiếm cuốn sách này